1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình

49 632 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 559,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo của BCH T.Ư Đảng khóa IX về các văn kiện ĐH X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Về giáo dục và đào tạo, chúng ta phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là q

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay xu thế công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đang và sẽ đặt cho chúng ta một loạt vấn đề nổi cộm, đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của cả cộng đồng Con người phải luôn có tri thức để phù hợp nền kinh tế tri thức Vì vậy,

để phát triển xã hội thì nhân tố quan trọng nhất của quốc gia là nguồn nhân lực

có trình độ khoa học kỹ thuật cao, tương lai của đất nước phụ thuộc vào nguồn nhân lực này

Giáo dục giữ một vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho mọi quốc gia Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”

Báo cáo của BCH T.Ư Đảng khóa IX về các văn kiện ĐH X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Về giáo dục và đào tạo, chúng ta phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Những biện pháp cụ thể là: đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình

xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học Phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và

hệ thống hướng nghiệp, dạy nghề Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học; gắn đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ với sử dụng, trực tiếp

Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 For Evaluation Only.

Trang 2

phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục; thực hiện phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện miễn giảm việc đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi”

Như vậy, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta đã có Vì vậy ngay từ lúc này cần thiết hơn bao giờ hết là phải cải cách đổi mới nền giáo dục nước ta một cách toàn diện và triệt để Ngành giáo dục mạnh là “cái gốc rễ”, “cốt lõi” của mọi vấn đề, từ đó để tạo ra được động lực phát triển đất nước toàn diện Do đó, Đảng và Nhà nước ta phải “cải cách giáo dục toàn diện về mọi mặt giống như công cuộc đổi mới đất nước mà Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986” đã đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàng và lạc hậu Giáo dục cũng vậy, xem đây là một trong sự đột phá để đưa đất nước phát triển mạnh

mẽ, như Singapo đã làm

Để thực hiện được những điều nêu trên thì các nhà quản lý giáo dục phải

có sự năng động sáng tạo trong công tác quản lý giáo dục Chất lượng giáo dục được nhiều người quan tâm, nhưng khái niệm này rất khó định nghĩa và

có thể nói chất lượng giáo dục có thể đo bằng năng lực thực tiễn của người học được ứng dụng cụ thể qua việc làm của mình, đóng góp sức lao động và

sự sáng tạo trong sản xuất và xã hội Có nhiều yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục, các yếu tố đó bao gồm: đội ngũ GV, cơ sở vật chất, nội dung chương trình, kế họach đào tạo…, nhưng đội ngũ GV quyết định trực tiếp đến chất lượng giáo dục Quá trình dạy học sẽ đạt kết quả tốt nếu người GV nắm được các qui luật vận động của nó và tìm ra các mối quan hệ giữa các nhân tố

Trang 3

Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 8 về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hội nghị BCH Trung ương II đã đưa ra những định hướng

và mục tiêu cơ bản cho công tác Giáo dục – Đào tạo và Khoa học công nghệ Các trường Trung học chuyên nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo kỹ thuật viên, công nhân lành nghề có đầy đủ phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cao có, năng động, sáng tạo,… đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật, góp phần thúc đẩy nhanh chóng

sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Việc nâng cao chất lượng đào tạo và tạo thế phát triển bền vững, lâu dài của từng trường là một việc hết sức cấp bách và cần thiết

Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II (Broadcasting College II - viết tắt là BC2) thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam Trường đứng chân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - nơi có hoạt động báo chí được đánh giá là đa dạng

và sôi động nhất của cả nước Sau hơn ba thập kỷ xây dựng và trưởng thành

(Trường được thành lập từ năm 1977), Trường đang tiếp tục khẳng định sứ mạng là một cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, kỹ thuật phát thanh -

truyền hình hàng đầu của các tỉnh, thành phía Nam Trường cũng đồng thời là đầu mối quan trọng trong các hoạt động liên kết, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cơ quan báo chí phát thanh - truyền hình, đào tạo đội ngũ công nghệ kỹ thuật điện tử, truyền thông và tin học ứng dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, kinh tế v.v… thuộc địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

Điện tử Viễn thông là ngành sử dụng những công nghệ tiên tiến để tạo nên các thiết bị giúp cho việc truy suất thông tin Công việc của những người học ngành này gắn liền với những phòng thí nghiệm, phòng kỹ thuật và máy móc hiện đại Trước sự đòi hỏi cấp thiết của xã hội, Linh kiện điện tử là kiến thức bước đầu và căn bản của ngành điện tử Môn học này yêu cầu SV phải

Trang 4

hiểu thấu đáo ý nghĩa về mặt lý thuyết thì SV mới có thể ứng dụng lý thuyết này sang thực hành Hiện nay khi tham gia giảng dạy môn học, các GV đều tham khảo nội dung môn học qua các giáo trình tham khảo khác, chưa có giáo trình của Trường và đa số SV gặp khó khăn trong quá trình học tập Điều này được phần lớn đội ngũ GV giảng dạy môn này cũng như Nhà trường rất quan tâm và đang tìm giải pháp để khắc phục Trong quá trình giảng dạy, người nghiên cứu định hướng tìm biện pháp khắc phục điều này bằng cách: xây dựng giáo trình bám sát nội dung chương trình môn học

Với yêu cầu cấp bách và thiết thực như vậy người nghiên cứu chọn đề

tài: “Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình” làm đề tài luận văn của

mình

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình dành cho sinh viên trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II Tài liệu phù hợp với đối tượng học, điều kiện cơ sở vật chất của trường và được cập nhật sự phát triển khoa học…góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Trường nói riêng và cho xã hội nói chung

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đề cương môn học Linh kiện điện tử

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

− Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp dạy học trong đào tạo môn Linh kiện điện tử

− Cơ sở lý luận, cơ sở khoa học của việc lựa chọn phương pháp giảng dạy môn học

Trang 5

− Khảo sát thực trạng giảng dạy môn Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II tại Thành phố Hồ Chí Minh

− Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình dành cho sinh viên trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II

5 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Do thời gian có hạn, người nghiên cứu chỉ tập trung Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình dành cho sinh viên trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu đã lựa chọn và phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

6.1 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu và tổng hợp:

Sưu tầm, dịch thuật phân tích và tổng hợp các nội dung liên quan đến đề tài theo hướng tiếp cận công nghệ hiện đại

6.2 Phương pháp khảo sát hiện trạng, tổng kết kinh nghiệm:

Dùng phương pháp trực tiếp phỏng vấn, sử dụng phiếu khảo sát nhằm mục đích thăm dò ý kiến GV, SV và các cơ sở sản xuất về nội dung, thái độ, niềm say mê khi tiếp cận môn học

6.3 Phương pháp thực nghiệm:

Tiến hành thực nghiệm về việc giảng dạy theo giáo trình cho môn Linh

kiện điện tử

Trang 6

7 DỰ KIẾN KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI VÀ YÊU CẦU KHOA HỌC ĐỐI VỚI SẢN PHẨM TẠO RA:

Kết quả đề tài bao gồm:

− Bảng báo cáo tổng hợp đề tài

− Tài liệu tham khảo tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình dành cho sinh viên trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II

Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm tạo ra:

− Tựa đề tài liệu đúng với tên môn học trong chương trình

− Tài liệu có giới thiệu hệ thống các chữ viết tắt, phụ lục, mục lục

− Hình thức trình bày lôi cuốn người học

− Câu từ sử dụng đơn giản, giải thích từ ngữ chuyên môn, cách trình bày dễ theo dõi, dễ hiểu

− Đảm bảo tính chân thực khoa học, chuẩn mực về ngôn ngữ, thuật ngữ khoa học và ngữ pháp

− Tài liệu có cấu trúc phù hợp; có hệ thống các ví dụ minh họa bằng hình ảnh, hình vẽ, bảng biểu…

− Giáo trình đảm bảo tính cập nhật kiến thức công nghệ, kỹ thuật tiên

tiến

8 KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VÀ DỰ KIẾN LỢI ÍCH MANG LẠI:

Kết quả nghiên cứu này thành công, sẽ mang lại cho gíao viên và sinh viên tài liệu hữu ích trong quá trình giảng dạy và học tập Tài liệu tham khảo này sẽ được xem là tài liệu tham khảo chính cho môn học

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ:

1.1.1 Xu thế và định hướng phát triển đào tạo nghề ở

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 Chiến lược xác định những con số cụ thể cho các ngành nghề được cho là cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao Theo tính toán của Chính phủ, hiện nay nhân lực chất lượng cao lĩnh vực Công nghệ

thông tin (CNTT) đang dừng ở con số 180.000 người Sau 4 năm nữa, con số

này phải tăng lên 350.000 người Và năm 2020, nhân lực chất lượng cao lĩnh vực này cần phải có là 550.000 người

Lĩnh vực Khoa học - Công nghệ đứng thứ tư với chỉ tiêu đến năm 2015

cần có 60.000 người, và đến năm 2020 tăng lên 80.000 người

Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 là chiến lược tổng hợp quốc gia để định hướng làm cơ sở cho việc lập, trình duyệt và triển khai thực hiện các quy hoạch, chương trình và đề án phát triển nhân lực của các ngành, chuyên ngành, tổ chức và các địa phương

Chiến lược cũng nêu những giải pháp đột phá để phát triển và sử dụng nhân lực

Trang 8

Trong đó nhấn mạnh, mỗi bộ ngành, địa phương phải xây dựng quy

hoạch phát triển nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung

của mình Việc sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực phải dựa vào năng lực

thực và kết quả, hiệu quả công việc Khắc phục tâm lí và hiện tượng quá coi

trọng và đề cao "bằng cấp" hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực

Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020

1 Tỷ lệ lao động qua đào tạo (%) 40,0 55,0 75,0

2.Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề (%) 25,0 40,0 55,0

3 Số sinh viên ĐH, CĐ trên 10.000

Trang 9

Việc tiếp tục phát triển hệ thống giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề định hướng theo nhu cầu được coi là một nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình cải cách (hiện đại hoá, phát triển, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, hỗ trợ tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo) Chính phủ Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng

tỷ lệ lao động đã qua đào tạo từ 26% vào năm 2010 lên 50% vào năm 2020 (Chiến lược của Bộ LĐTBXH) Việc Luật Giáo dục được thông qua vào năm

2005 và Luật Dạy nghề được thông qua vào năm 2006 đã tạo cơ sở vững chắc cho việc tiếp tục xây dựng các quy định và chức năng điều hành của Chính phủ trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cũng như vai trò của nền

kinh tế

1.1.2 Vai trò của các trường đào tạo nghề:

Trước thực tế khoa học ngày càng phát triển với tốc độ nhanh chóng kéo theo sự biến động của thị trường lao động, việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ, đồng thời các ngành nghề mới xuất hiện…Những yếu tố này đòi hỏi chuyên môn hoá cao hơn về trình độ khoa học kỹ thuật Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 8 về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hội nghị BCH Trung ương II đã đưa ra những định hướng và mục tiêu cơ bản cho công tác Giáo dục – Đào tạo và Khoa học công nghệ Các trường Trung học chuyên nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo kỹ thuật viên, công nhân lành nghề có đầy đủ phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cao, năng động, sáng tạo,… đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học

kỹ thuật, góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Việc nâng cao chất lượng đào tạo và tạo thế phát triển bền vững, lâu dài của từng trường là một việc hết sức cấp bách và cần thiết

1.1.3 Đào tạo theo yêu cầu sản xuất:

Các tiến bộ của công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ sinh học, tự động hóa…, đã thúc đẩy một số nước trước đây chậm phát triển đã rút ngắn

Trang 10

khoảng cách với các nước đã phát triển Nền kinh tế chuyển tiếp từ nông nghiệp sang chủ yếu là công nghiệp, nền kinh tế tri thức này đòi hỏi người lao động một loạt những kỹ năng mới, họ cần có trình độ học vấn cao hơn, có khả năng suy nghĩ độc lập và linh hoạt, và nhất là có khả năng học tập suốt đời

Trước những yêu cầu này, giáo dục đào tạo phải đảm bảo tỉ lệ cơ cấu nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chất lượng theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giáo dục – đào tạo với kinh tế – xã hội

Hệ thống đào tạo nghề đang từng bước đoi mới, nhưng cũng chưa bắt kịp với cơ chế thị trường theo quan hệ cung cầu Số lượng và chất lượng đào tạo lao động kỹ thuật chưa đáp ứng được cho doanh nghiệp và xã hội Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho đào tạo kỹ năng nghề vừa thiếu vừa lạc hậu, chỉ đáp ứng một phần cơ bản so với quy trình công nghệ mới sử dụng hiện nay

Các nhà quản lý đào tạo đã có những ý kiến cho thấy mối quan hệ giữa đào tạo và sản xuất không thể tách rời:

− “Nền kinh tế phát triển, chính trị xã hội ổn định, sự nghiệp giáo dục và đào tạo có những tiến bộ đáng kể, đã hình thành thị trường sức lao động, thị trường việc làm với quy mô ngày càng lớn.”[1]

− “Thực hiện nguyên lý đào tạo với sản xuất, quá trình đào tạo phải gắn với cơ sở sản xuất, để một mặt tận dụng trang thiết bị, công nghệ sẳn

có, mặt khác giúp cho SV làm quen với vị trí lao động sau này Gắn đào tạo (đầu vào) với việc làm (đầu ra), từ thị trường việc làm hình

Trang 11

thành thị trường sức lao động và qua đó xác định thị trường đào tạo nhân lực [2]

Các trường Chuyên nghiệp và Dạy nghề phải luôn tiếp cận với sản xuất, nhà trường và doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình đào tạo Mối quan hệ chặt chẽ này đem lại những lợi điểm sau:

− SV sẽ học những kỹ năng cơ bản ở trường, rèn luyện kỹ năng chuyên sâu tại xí nghiệp Người học vừa giải quyết tay nghề thực tiễn, vừa áp dụng lý thuyết đã học vào thực tế

− Tạo điều kiện hứng thú cho người học, vừa giải quyết khâu thực tập khi SV ra trường, vừa đào tạo nâng cao trình độ cho công nhân khi cơ quan sở tại có yêu cầu

− Do tiếp cận nhiều nơi sản xuất, nhà máy… nên nhà trường có thể nhận định, nắm bắt nhu cầu thực tế từng ngành nghề trong từng giai đoạn, từng thời kỳ Từ đó xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo cho phù hợp với yêu cầu đổi mới của công nghệ sản xuất, tạo sự cân bằng nhu cầu lao động trong xã hội, tránh lãng phí lớn một lương lao động đã qua đào tạo

1.1.4 Sản xuất tác động đào tạo:

Đào tạo cung cấp nguồn nhân lực phục vụ sản xuất, ngược lại sản xuất cũng phải có nghĩa vụ đối với đào tạo như đóng góp ngân sách nhà nước, trực tiếp tham gia vào việc xây dựng cơ sở vật chất trang bị cho đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường trong việc tiếp nhận SV thực tập “Trường dạy nghề gắn với xí nghiệp đã trở thành một nguyên tắc để thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành “[3-6 ]

Mối quan hệ giữa đào tạo và sản xuất là mối quan hệ mật thiết, chịu tác động lẫn nhau, không thể tách rời

Trang 12

Sơ đồ 1.2 Quan hệ giữa đào tạo với sản xuất

1.2 NHỮNG YẾU TỐ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY:

Chất lượng giáo dục được quyết định bởi các yếu tố:

− Đội ngũ giáo viên

− Qui trình quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

Các yếu tố này tương tác lẫn nhau, nó là các yếu tố thành phần trong chỉnh thể có tính hệ thống của giáo dục

1.2.1 Đội ngũ giáo viên:

Trong mối tương quan giữa các yếu tố nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục thì đội ngũ GV góp phần rất quan trọng nhất Ông cha ta đã nói “ không thầy đố mày làm nên” Câu nói này khẳng định vai trò to lớn và không thể

Trang 13

thiếu được của người thầy đối với sự phát triển và thành đạt của con người Bất cứ người nào trong xã hội nói chung và hoạt động lao động nói riêng, đều được gia đình nuôi nấng và cần đến sự dạy bảo của thầy.[4]

Trong thời đại ngày nay của cuộc cách mạng tri thức, các tiến bộ của công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ sinh học, tự động hóa … Khi kiến thức trở nên quan trọng thì đòi hỏi chất lượng giáo dục ngày càng cao Nền giáo dục hiện đại cùng với các phương tiện thông tin đại chúng đã xóa đi sự độc tôn về nguồn tri thức xuất phát từ người thầy Vai trò, vị trí và chức năng của người GV không chỉ được coi là người truyền thụ kiến thức, được coi là chính thống có sẵn mà là người tổ chức, thiết kế, dạy cho SV cách học, cách thu nhận và xử lý thông tin, cách tự rèn luyện … có như vậy, khi ra trường người học sinh có thể đáp ứng được nhu cầu trong xã hội

Đội ngũ GV ở các trường Chuyên nghiệp và Dạy nghề còn thiếu, cần được chuẩn hóa theo qui định Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của GV chưa có chuyển biến đáng kể Trong quá trình giảng dạy còn nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy nghề, đặc biệt còn yếu về phương pháp dạy học, thiếu kinh nghiệm thực tế sản xuất, chậm được bổ sung tri thức mới về sư phạm, khoa học – công nghệ, ngoại ngữ

Chất lượng giáo dục đào tạo là vấn đề quan trọng hàng đầu, mang tính sống còn của một nhà trường Ở trường, chức năng cơ bản của người GV là dạy học, nhưng khả năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm không đạt yêu cầu thì dù chương trình đào tạo hay, thiết bị máy móc hiện đại…cũng khó

có thể sử dụng với hiệu quả cao

Như vậy muốn nâng cao chất lượng đào tạo, giải pháp ưu tiên là quan tâm đến đội ngũ làm công tác đào tạo, quan tâm đến SV sinh viên

Trang 14

1.2.2 Sinh viên:

Số lượng HS phổ thông hàng năm tập trung vào các trường cao đẳng, đại học cao hơn các trường dạy nghề cho thấy sự thiếu định hướng phân luồng đào tạo

Hiện nay tâm lý của các gia đình và SV thường quan niệm rằng vào đại học là con đường vinh quang nhất, nhưng vẫn không ít bậc phụ huynh thừa nhận rằng: không biết con mình có tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp đại học hay không.Trong khi đó, theo nhận định chung của các nhà tuyển dụng lao động là còn thiếu những người lao động kỹ thuật lành nghề, thừa lao động

có bằng đại học Nói chung, hiện nay vẫn còn tâm lý chuộng tấm bằng đại học, chưa coi trọng việc học lấy một nghề

Số lượng SV vào học nghề gần đây tuy có tăng, nhưng hiệu quả chưa cao do nhiều nguyên nhân như: điều kiện kinh tế gia đình khó khăn mới vào học vì không thể vào học các ngành nghề “thời thượng“ khác, né tránh nghĩa

vụ quân sự, chưa có động cơ học tập Theo ý kiến của các nhà tuyển dụng, một số ngành nghề trong đó có điện, điện tử đang trong tình trạng thừa lao động Hiện nay các đơn vị sản xuất liên doanh tại thành phố Hồ Chí Minh đã trang bị công nghệ, kỹ thuật hiện đại, những công việc chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực hệ thống máy với các thiết bị điều khiển theo chương trình số

NC, CNC, tự động điều khiển PLC, khí nén, thủy lực ngày càng phát triển, cho nên nội dung kiến thức và kỹ năng hiện đại cần được nhanh chóng cập nhật để phù hợp với trình độ sản xuất khu vực, hội nhập thế giới Các nhà tuyển dụng đánh giá rằng, số lượng đào tạo ra không đủ cho nhu cầu, nhưng các tiêu chí quan trọng nhất để tuyển dụng: trình độ chuyên môn, sức khoẻ, trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản, có kỷ luật, đạo đức, trình độ ngoại ngữ

và tin học

Trang 15

Như vậy đối tượng học nghề có ý nghĩa rất quan trọng Nhằm đạt những tiêu chí trên, nhà trường cần phải có kế hoạch đào tạo sao cho trong quá trình học tập, người công nhân đạt được kỹ năng chuẩn mực chính xác hình thành nhân cách Nội hàm phẩm chất bao gồm: sẵn sàng nhận nhiệm vụ, lao động với chất lượng và hiệu suất cao, có tác phong công nghiệp, mở rộng tính khả năng hòa đồng, khả năng hợp tác

1.2.3 Nội dung chương trình, mục tiêu đào tạo nghề

1.2.3.1Xác định mục tiêu:

Mỗi chương trình đào tạo đều phải có mục tiêu đào tạo chung, mục tiêu chung sẽ định hướng việc xây dựng chương trình đào tạo với các môn học và một lịch trình giảng dạy cụ thể Nó là những yêu cầu về sự thay đổi nhận thức,

kỹ năng, tình cảm mà SV có được từ một chương trình học, môn học Từ mục tiêu chung đó giúp ta xác định môn học và từng bài học một cách chính xác, không ngoài chương trình đã qui định

Mục tiêu môn học là cụ thể hóa mục tiêu đào tạo chung, đó là những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phẩm chất thái độ nghề nghiệp cần được hình thành ở SV Đối với một môn học, có thể xác định mục tiêu chung cho toàn bộ môn học Tiếp đó là sự cụ thể hóa hơn trong các tiêu chí, mục tiêu từng bài học Mục tiêu môn học phải cụ thể, chi tiết, có thể mô tả đo đếm được quá các thay đổi hành vi người học trong các lĩnh vực về nhận thức, kỹ năng và thái độ Các mục tiêu càng cụ thể, chúng càng dễ dàng được dùng để đánh giá quá trình học tập của SV

Xác định mục tiêu có vai trò rất quan trọng và cần thiết, nó quyết định việc chọn lựa nội dung, PPGD và phương thức đánh giá môn học

Việc xác định rõ ràng các mục tiêu cần đạt có những lợi điểm sau:[5]

− Làm cho việc kiểm tra đơn giản hơn và việc đánh giá được công bằng

Trang 16

− Làm cho mục tiêu môn học, nội dung môn học, qui trình đánh giá vừa nhất quán vừa chặt chẽ với nhau

− Mục tiêu giúp giáo viên xác định hoạt động giảng dạy và tài liệu học tâp nào có hiệu quả

− Dễ dàng đối chiếu kết quả đào tạo giữa nội dung giáo viên truyền đạt

và kiến thức học sinh tiếp thu được

− Cải tiến mối quan hệ trong ban giảng huấn, giữa GV với nhân viên phục vụ

− Khuyến khích SV tự đánh giá

− Hỗ trợ hiệu quả việc học của SV và giảm bớt lo lắng vì có hướng dẫn

và xác định rõ các ưu tiên trong giảng dạy [3 ]

Phương pháp dạy học = Phương pháp dạy + Phương pháp học

Trong đó: Phương pháp dạy mang tính chủ đạo

Phương pháp dạy = Phương pháp khoa học + Phương pháp sư phạm

Phương pháp khoa học quyết định phương pháp sư phạm

Trang 17

thì trò sẽ phải tích cực làm việc nhóm, vv…Người thầy sẽ phải chịu trách nhiệm rất lớn về kết quả học tập của trò

Như vậy, người thầy có phương pháp dạy tốt, đảm bảo tính khoa học và

sư phạm thì chắc chắn hiệu quả dạy và học sẽ được nâng cao Trong nền giáo dục hiện đại người GV không chỉ được coi là người truyền thụ những kiến thức chính thống có sẵn mà phải là người đề xướng, thiết kế nội dung và phương pháp dạy nhằm làm thay đổi những thị hiếu hứng thú người học, là người giúp cho SV biết cách học, cách tự rèn luyện

Nếu chúng ta chỉ hiểu hiệu quả đào tạo theo một hướng là : người thầy

có phương pháp dạy tốt thì học trò sẽ học giỏi Hiểu như vậy đồng nghĩa với cách hiểu phiến diện, cục bộ mà ta đã quên mất nhiệm vụ của người học trò Người học không thể tiếp thu bài một cách thụ động, thầy dạy sao thì học vậy,

mà người học phải trang bị cho mình một cách học riêng (tức phương pháp học) không phụ thuộc hoàn toàn vào thầy

Giữa phương pháp dạy và phương pháp học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hình thành nên phương pháp dạy học Muốn có chất lượng đào tạo cao thì phải đổi mới cả hai phương pháp dạy và học, lấy người học làm vị trí trung tâm trong quá trình dạy học

Phương pháp học = Phương pháp tiếp thu + Phương pháp tự học + Phương pháp nghiên cứu

Để chất lượng SV ngày càng được nâng cao, điều này đòi hỏi người GV phải có PPGD hợp lý Song khi thực hiện thì PPGD phải gắn liền phương tiện dạy học hợp lý Do đó việc đổi mới PPGD cổ điển như hiện nay bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin chỉ là yếu tố quyết định việc lựa chọn PPGD mới, việc này không có nghĩa là CNTT sẽ thay thế tất cả các phương pháp và phương tiện trước đây

Trang 18

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là người thầy phải tìm ra cái gì đó hoàn toàn mới, mà là phải biết vận dụng một cách sáng tạo cách tổ chức họat động nhận thức cho SV nhằm đạt mục tiêu đào tạo Lúc này người đóng vai trò chủ đạo, sáng tạo, đưa những tri thức mình lĩnh hội vào thực tiễn Như vậy việc đổi mới là kết hợp các phương pháp, các phương tiện, các công nghệ cho phù hợp đối tượng, phù hợp với nội dung giảng dạy, điều này người thầy sẽ giúp SV nhanh chóng hiểu bài và nhớ lâu hơn vì người thầy đã phát huy tất cả các giác quan và sự tập trung của SV Như vậy trong quá trình học,

SV dễ dàng nhận biết mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng từ những khái niệm, định luật

1.2.4.2 Cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học

Theo PTS Bùi Ngọc Oánh, việc lựa chọn các phương pháp là do GV gắn

bó hình thức, tổ chức trang bị… Để lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp, ta phải dựa vào các căn cứ các yêu cầu sau: nội dung bài giảng, thời gian lên lớp, đặc điểm đối tượng, hoàn cảnh đặc điểm GV

Việc lựa chọn phương pháp tùy thuộc vào tài năng GV, quan điểm đó là nghệ thuật dạy học

Ngày nay việc lựa chọn PPGD người ta thường kết hợp nhiều phương pháp dạy học, và sử dụng phương tiện hiện đại cùng với phương pháp truyền thống

Theo Davies, hiệu quả làm việc của GV là GV phải biết quản lý thời gian, lựa chọn phương pháp và thiết bị phù hợp, biết áp dụng thế mạnh của mình vào đâu và cách nào để có hiệu quả tốt nhất, ấn định đúng những điều ưu tiên giảng dạy Sau đó kết hợp tất cả lại với nhau bằng cách lấy những quyết định có hiệu quả Khi GV quyết định về một phương pháp nào đó thì tất cả những điểm kể trên đã xét tới rồi, đôi khi GV có thể dạy nhanh hơn bằng phương pháp thuyết trình hơn là bằng phương pháp cho người học làm việc

Trang 19

một mình Vấn đề là khi nào phải quyết định, khi nào GV phải cung cấp thông tin mà SV đòi hỏi, khi nào GV để SV tự tìm hiểu lấy thông tin Nói chung có thể sử dụng ba tiêu chuẩn cơ bản để lựa chọn PPGD thích hợp:

− Loại mục đích cần thực hiện

− Nhu cầu kinh tế hóa kinh nghiệm học tập để củng cố động cơ học tập

− Khả năng của người học để thực hiện nhiệm vụ học tập

GV cần phải khéo léo thành thạo để cân đối điều kiện này với điều kiện khác Khi lựa chọn các PPGD cần chú ý các yếu tố sau:

− Mục đích dạy học

− Tính chất của tài liệu học, nội dung học

− Thời gian đào tạo

− Nghề đào tạo môn học

− Mục đích sư phạm

− Trình độ phát triển của người học

− Sử dụng các phương tiện dạy học

− Yếu tố chủ quan của người dạy

Hiện nay chất lượng đào tạo chưa cao có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là chưa phát huy được tính tích cực của SV, chưa biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo PPGD ảnh hưởng nhiều đến phương pháp học tập, theo một ý nghĩa khác, người học nhìn người dạy để tìm

ra cách học cho chính mình Làm thế nào qua PPGD để nâng cao tính sáng tạo, chủ động nơi SV PPGD phải giúp SV xác định kiến thức, kỹ năng cần thiết cho ngành nghề của mình Đa số GV ở các trường dạy nghề vẫn còn sử dụng phương pháp truyền thống “Phấn trắng, bảng đen“, “Thầy đọc, trò chép“,

Trang 20

việc rèn luyện kỹ năng tay nghề là do người học theo dõi, bắt chước làm theo toàn bộ quá trình thao tác mẫu của thầy Với phương pháp ấy chẳng những biến SV thành thụ động, học vẹt mà còn mất nhiều thời gian, tiền của mà chất lượng đào tạo không cao

Đổi mới PPGD là một trong những yếu tố nâng cao hiệu quả việc dạy học, do đó cần nhanh chóng ứng dụng các PPGD tích cực nhằm nâng cao tính chủ động và sáng tạo của SV, phục vụ ngày càng tốt hơn cao hơn việc hình thành và phát triển nhân cách con người

1.2.5 Tổ chức kiểm tra và quản lý chuyên môn :

1.2.5.1 Tăng cường công tác quản lý chuyên môn:

Sự quản lý chặt chẽ đòi hỏi phải có trong trường học, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo mà nhiệm vụ trực tiếp là ban nghề, tổ bộ môn Việc kiểm tra đánh giá phải được tiến hành thường xuyên và định kỳ về công tác chuyên môn, để đánh giá một cách khoa học, khách quan, chính xác, khả năng, chất lượng giảng dạy

Thanh tra công tác chuyên môn của GV bao gồm: việc chấp hành các quy chế, quy định ở tất cả các khâu trong quá trình giảng dạy trên lớp và hướng dẫn thực hành như: biên soạn tài liệu, chuẩn bị giáo án, thực hiện chương trình, nội dung và thời gian của các môn học, kết quả giảng dạy; việc

tổ chức kiểm tra, thi, chấm bài và tác phong sư phạm của GV [7]

Việc kiểm tra đánh giá là cơ sở để uốn nắn những hạn chế, thiếu sót, cổ

vũ động viên phong trào dạy tốt trong tập thể sư phạm của trường, từ đó dần dần nâng cao chất lượng đào tạo

1.2.5.2 Kiểm tra công tác thi học kỳ, thi tốt nghiệp :

Vấn đề thi, kiểm tra đánh giá chất lượng một khóa học, môn học là quy định bắt buộc trong quá trình đào tạo Người thầy giảng dạy phải tham gia vào

Trang 21

việc kiểm tra, thi của SV, chỉ khi người thầy biết đến kết quả học tập của SV, tiến bộ hay thụt lùi thì người thầy mới có ý thức cải tiến PPGD, tự đánh giá lại công tác quản lý Đổi mới hình thức lẫn nội dung kiểm tra thi để đánh giá đúng năng lực của SV để lực lượng công nhân lành nghề có kiến thức chuyên môn và kỹ năng đáp ứng yêu cầu xã hội

1.3 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TRONG ĐÀO TẠO MÔN KỸ THUẬT 1.3.1 Khái niệm về quá trình dạy học:

Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của thầy và trò, hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Quá trình dạy giữ vai trò chủ đạo, chi phối quá trình học Trong mối quan hệ này người thầy luôn đóng vai trò chủ đạo với chức năng cơ bản là tổ chức, hướng dẫn, chủ đạo toàn bộ quá trình dạy-học và người học có vị trí trung tâm tham gia quá trình tích cực chủ động và sáng tạo vào quá trình học tập

Quá trình dạy học là hệ thống bao gồm các nhân tố cơ bản như mục đích, nhiệm vụ dạy học, chương trình, nội dung phương pháp, hoạt động của

Trang 22

1.3.2 Quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong đào tạo nghề:

Quá trình hình thành kỹ năng là quá trình nhận thức do đó nó cũng tuân theo con đường nhận thức mà Lênin đã chỉ ra: sơ đồ sau thể hiện sự tóm lược

con đường đó như sau:

Sơ đồ 1-3: Quá trình hình thành kỹ năng nghề nghiệp

a Kỹ năng:

Kỹ năng là khả năng cuả con người thực hiện công việc một cách có hiệu quả về chất lượng trong một thời gian thích hợp, trong những đđiều kiện nhất đđịnh Người công nhân có kỹ năng tốt là người có thao tác nghề thành thạo, thực hiện một nhiệm vụ xác định trong thời gian ấn định trước với chất lượng đảm bảo

Thực tế giảng dạy cho thấy, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, tức là nắm đuợc những hiểu biết lý thuyết cơ bản liên quan đến nghề Kỹ năng biểu hiện trình độ tư duy, năng lực và kỹ thuật hành động Kỹ năng là phải biết phân tích những hoạt động phức tạp thành hoạt đong cơ bản mục đích là thu được kết quả Để

Trang 23

có kỹ năng trong lao động cần phải phân tích mục đích, cách thức thực hiện và phải kiên trì luyện tập theo một qui trình nhất định

− Một cách chung nhất, kỹ năng thường đđược phân ra:

− Kỹ năng đđơn giản và kỹ năng phức tạp

− Kỹ năng chung (đặt kế hoạch hoạt đđộng, tổ chức về kiểm tra các hoạt đđộng đđiều chỉnh về điều khiển hoạt đđộng…) về kỹ năng chuyên biệt (gắn với những lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp nhất định …)

b Kỹ xảo:

Trong quá trình tập luyện hình thành các thao tác thành thạo, mỗi hành động được thực hiện một cách hoàn hảo, các thao tác hoàn toàn tự động hóa, không cần sự hiện diện của ý thức, đó là kỹ xảo

Hình thành kỹ xảo là một quá trình gồm bốn giai đoạn: giai đoạn làm quen, giai đoạn làm thử, giai đoạn cơ bản, giai đoạn rèn luyện Giai đọan đầu người hoạt động hiểu được mục đích của hành động, nhưng chưa nắm rỏ cách thức thực hiện, nên hành động còn nhiều sai lầm Giai đoạn thử tiếp theo, đã biết cách hành động nhưng chưa chính xác, còn nhiều thao tác thừa Đến giai đoạn rèn luyện, các thao tác thừa đã giảm, hành động được thực hiện một cách nhuần nhuyễn, đều đặn tự động hoá hoàn toàn Lúc này tay nghề của người công nhân đạt đến mức độ kỹ xảo

Kỹ xảo cũng thường phân ra:

− Kỹ xảo trí óc, biểu hiện khả năng nhạy cảm cuả hoạt động trí óc

− Kỹ xảo cảm giác (tri giác) là khả năng cảm nhận cuả con người trong quá trình luyện tập đạt đđến mức tự đđộng hóa, trong đó bộ máy phân tích giữ vai trị chủ đđạo

Trang 24

− Kỹ xảo vận động, thể hiện ở sự thuần thục các động tác cơ bắp trong một dạng hoạt đđộng não bộ, nhờ bộ nhờ máy phân tích hoạt động trong cơ thể Nó được đặc trưng bởi độ chính xác (không có các động tác sai thừa); độ bền vững - ổn đđịnh; tốc đđộ thực hiện; nhịp đđộ; sự phối hợp tính mềm dẻo thể hiện không chỉ ở sự khéo léo của cơ bắp

mà còn ở sự nhịp nhàng hoạt động của trí óc (tư duy) Kỹ xảo này mang tính chất nghề nghiệp

Thực chất quá trình dạy thực hành là quá trình dạy kỹ năng, hình thành

kỹ xảo cho SV, yêu cầu họ thực hiện hệ thống bài thực hành dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV Bài thực hành qui định trong chương trình gồm ba phần chính:

Î Hướng dẫn ban đầu:

Thời gian thực hiện bài hướng dẫn ban đầu từ 45 đến 60 phút, GV phải chuẩn bị nơi làm việc, các nguyên vật liệu, dụng cụ…Nội dung phần hướng dẫn ban đầu gồm: xác định mục tiêu bài thực hành, giúp SV nắm đuợc các bước thực hiện công việc sắp làm, các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được khi thực hiện và bản chất của phần này là GV sử dụng các dụng cụ, phương tiện trực quan để làm mẫu diễn trình các thao tác, động tác, trên cơ sở đó SV nhận thức được các kỹ năng bằng cách quan sát

Î Hướng dẫn thường xuyên:

Giai đoạn này SV tự mình thực hiện công việc, làm lại các thao tác đã được quan sát trước đó, thực hiện theo qui trình hoàn chỉnh, tự kiểm tra công tác luyện tập Công việc của GV ở giai đoạn này là quan sát theo dõi công việc luyện tập của SV nhằm ngăn ngừa những sai lầm xảy ra, uốn nắn lại các thao tác Tuy nhiên GV không được làm thay cho SV, làm mất tính tự lực của

SV, đồng thời khơi gợi cho SV tìm ra những thiếu sót, nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Ngày đăng: 18/03/2015, 10:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Đại thành (1997), Hệ thống đào tạo nghề ở Việt nam hiện nay, báo cáo hội thảo “Đào tạo nghề với phát triển kinh tế và thị trường lao động”do Bộ Công nghiệp và tổ chức Hỗ trợ phát triển quốc tế Đức (DSE) tổ chức tháng 10/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống đào tạo nghề ở Việt nam hiện nay", báo cáo hội thảo “Đào tạo nghề với phát triển kinh tế và thị trường lao động
Tác giả: Nguyễn Đại thành
Năm: 1997
3. Nguyễn Minh Đường (2000), Một số xu thế dạy nghề trước ngưỡng cữa thế kỷ 21, tham luân hội thảo về đào tạo nguồn nhân lực tại ĐHSPKT 10/2000, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu thế dạy nghề trước ngưỡng cữa thế kỷ 21
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 2000
4. PGS.TS. Trần Khánh Đức, Cơ sở lý luận và các biện pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh, (Kỷ yếu hội thảo Tích cực hoá người học trong đào tạo nghề), ĐHSPKT - TP.HCM 06/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và các biện pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh, (
5. Phạm Văn Lập, Phát triển chương trình đào tạo một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chương trình đào tạo một số vấn đề lý luận và thực tiễn
6. Lê Vinh (1999), Giáo dục chuyên nghiệp và lý luận dạy học kỹ thuật, Đại học SPKT Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục chuyên nghiệp và lý luận dạy học kỹ thuật
Tác giả: Lê Vinh
Năm: 1999
7. TS. Võ Thị Xuân, Tích cực hoá dạy học - Bản chất và cách áp dụng, Kỷ yếu hội thảo “Tích cực hoá người học trong đào tạo nghề”, ĐHSPKT- TP.HCM, 06/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hoá dạy học - Bản chất và cách áp dụng", Kỷ yếu hội thảo “Tích cực hoá người học trong đào tạo nghề
9. Walter Luwall – Hors Schmitt, Nguyễn Đức Trí dịch từ tiếng Đức (1981), Lý luận thực hành nghề, nhà xuất bản Công nhân kỹ thuật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận thực hành nghề
Tác giả: Walter Luwall – Hors Schmitt, Nguyễn Đức Trí dịch từ tiếng Đức
Nhà XB: nhà xuất bản Công nhân kỹ thuật
Năm: 1981
13. Prentice Hall, 1995. Microelectronic Devices and Circuits14. Fonstad, C. G. . New York, NY:McGraw-Hill, 1994. ISBN: 0070214964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microelectronic Devices and Circuits
15. Sedra, A. S., and K. C. Smith. Microelectronic Circuits. 4th ed. New York, NY: Oxford University Press, 1998. ISBN: 0195116631 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microelectronic Circuits
17. Pierret, R. F. Semiconductor Device Fundamentals. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall, 1995. ISBN: 0201543931 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pierret, R. F. "Semiconductor Device Fundamentals
18. Sze S.M. Physics of Semiconductor Devices, 3nd Edition, Wiley, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sze S.M
8. Roger Harris, Hugh Guthrie, Barry Hostast, David Lendberg (1997), Compertrency based Education and training, Publishing Adebaide, Australia Khác
10. Thái Duy Tuyên, Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại, NXB Giáo dục, 1999 Khác
11. Howe, R. T., and C. G. Sodini. Microelectronics: An Integrated Approach. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall, 1997. ISBN: 0135885183 Khác
12. P. W. Tuinenga, SPICE, A Guide to Circuit Simulation & Analysis using PSpice Khác
16. Trần Thị Cầm, Giáo trình Cấu kiện điện tử và quang điện tử, Học viện CNBCVT, 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trọng và đề cao "bằng cấp" hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực... - Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình
r ọng và đề cao "bằng cấp" hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực (Trang 8)
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giáo dục – đào tạo với kinh tế – xã hội. - Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giáo dục – đào tạo với kinh tế – xã hội (Trang 10)
Sơ đồ 1-3: Quá trình hình thành kỹ năng nghề nghiệp - Xây dựng tài liệu tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình
Sơ đồ 1 3: Quá trình hình thành kỹ năng nghề nghiệp (Trang 22)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w