********************************** Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu,bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận độngtheo cơ ch
Trang 1Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
**********************************
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu,bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận độngtheo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hộichủ nghĩa (XHCN) thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (Năm 1986) và ngàycàng được hoàn thiện.Thực tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tếtheo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chứngminh rằng: “Kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả,
từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tưduy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và
Trang 2kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam” Kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đây là một điểm đột phá lý luận, một môhình thực tiễn đang trong quá trình thử nghiệm, là sự phủ định con đườngxây dựng chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp Đương nhiên, đókhông phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tuy rằng nó có thểhọc hỏi nhiều điều từ nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại Nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất kinh tế khác vớinền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Bản chất đó được quy định bởi cácquan hệ kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Bàn
về bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam chính là bàn về bản chất của những thành phần kinh tế của nền kinh tếquốc dân trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Trên tinh thần đó, sau khi học tập môn Kinh tế chính trị, để có nhậnthức và hành động đúng về thời kỳ quá độ ở Việt Nam sau khi ra trường,
em chọn đề tài: “Những giải pháp cho tiến trình quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu làm đề án
môn Kinh tế chính trị
NỘI DUNG CƠ BẢN
I Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên CNXH
Trang 31 Thời kỳ quá độ lên CNXH
1.1 Thời kỳ quá độ lên CNXH là gì ?
1.2 Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
1.3 Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở VN
2.Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH.
Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên CNXH
Khẳng định của Lênin về quá độ lên CNXH ở các nước kém phát triển Thực tiễn Cách mạng tháng 10 Nga
3.Các hình thức quá độ lên CNXH
4.Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
4.1.Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
4.2.Vậy quá độ lên CNXH ở Việt Nam nghĩa là gì ?
4.3.Khả năng quá độ lên CNXH của nước ta
II.Quá trình nhận thức về con đường quá độ lên CNXH
1.Quá trình nhận thức của chúng ta
2.Nhiệm vụ -nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH,bỏ qua CNTB ở nước ta
III.Những giải pháp cho con đường quá độ lên CNXH ở nước ta
3.1.Giải pháp cho việc phát triển lực lượng sản xuất ,công nghiệp hoá ,hiệnđại hoá đất nước
3.2.Giải pháp cho việc xây dựng ,phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuấttheo định hướng XHCN
3.3.Giải pháp cho việc mở rộng ,nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
I Lý luận chung về quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
1/Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
1.1 Thời kỳ quá độ lên CNXH là gì?
Trang 4Trong xã hội đó là thời kỳ chuyển tiếp từ xã hội này sang xã hội kia,
đặc trưng nổi bật của thời kỳ này là sự tồn tại đan xen, tác động lớn laogiữa những nhân tố vừa của xã hội mới vừa của xã hội cũ Bản chất của
thời kỳ quá độ là chuyên chính vô sản! Nghĩa là giai đoạn giai cấp vô sản
sau khi giành được chính quyền sẽ tước đoạt toàn bộ tư liệu sản xuất từ giaicấp tư sản, xóa bỏ triệt để tàn dư phong kiến, tích lũy cơ sở vật chất để xâydựng xã hội chủ nghĩa bằng những biện pháp chuyên chính vô sản! (Bảnchất là dùng bộ máy chính quyền cưỡng bức).Thời kỳ quá độ chính là sựkhác biệt giữa học thuyết của C.Mác và của V.Lênin, có thể khẳng địnhthời kỳ quá độ không có trong học thuyết C.Mác!
Là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội tư bản đến trước tư bản lên xãhội chủ nghĩa, được bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao độnggiành được chính quyền nhà nước đến kết thúc khi xã hội chủ nghĩa vớinhững đặc trưng cơ bản của nó đã được xác lập
Đây là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để diễn ratrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là bởi vì : Trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội, kết cấu xã hội còn đan xen nhiều giai cấp, tầng líp xã hội;
cơ sở kinh tế quá độ còn nhiều thành phần vận hành theo cơ chế sản xuấthàng hóa, quan hệ thị trường, vẫn tồn tại những quan hệ kinh tế cụ thể nhưthuê mướn lao động…cá nhân người này vẫn có thể còn bóc lột những cánhân khác Đó chỉ là những quan hệ bóc lột cụ thể chứ không phải xem xéttrên cả một chế độ xã hội, giai cấp này bóc lột các giai cấp tầng líp khác.Chính vì vậy thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ đòi hỏi phải cảibiến cách mạng một cách sâu sắc, toàn diện, triệt để không chỉ trên lĩnh vựckinh tế và tất cả mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội v.v…Lênin đã có quan điểm khoa học xuất phát từ thực tiễn lịch sử về các kiểuquá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là kiểu quá độ đặc biệt của các nước đãqua chủ nghĩa tư bản ở mức trung bình Lênin còn có nhiều quan điểm cụ
Trang 5thể về “quá độ bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN” của nhiều nước vốn từnước nông nghiệp lạc hậu – các nước “tiền tư bản”…lên CNXH.Đó là kiểuquá độ “đặc biệt của đặc biệt” (tất nhiên là phải trải qua rất nhiều khó khăn,phức tạp, lâu dài, chủ yếu vì chưa qua “trường học dân chủ tư sản” và chưa
có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại).Nhưng trong thời đại đế quốc chủnghĩa, thời đại của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới thì hàng trămnước đó vẫn có thể thực hiện kiểu quá độ “đặc biệt của đặc biệt”đó Nhữngnước thuộc địa kiểu “quá độ bỏ qua”, đương nhiên phải có Đảng cộng sảnlãnh đạo nhân dân giành chính quyền, có đường lối xây dựng bảo vệ đấtnước theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa; tận dụng được những thành quả củacác nước xã hội chủ nghĩa, của CNTB và của cả nhân loại để quá độ lênchủ nghĩa xã hội.Theo Lênin, ở những nước này cần chú trọng khắc phụcnhững biểu hiện của tính tiểu tư sản, tiểu nông trong Đảng cộng sản, trongquần chúng; chống lại mọi kẻ phá hoại…để từng bước quá độ lên chủnghĩa xã hội; phải trải qua và sử dụng rất nhiều “những bước quá độ nhỏ”,
“những hình thức trung gian quá độ’, đan xen giữa “các thành phần”, “cácmảnh”…của cả CNTB lẫn CNXH, v.v Do đó, ở các nước “quá độ bỏ qua”
dù “quá độ rút ngắn” thì cũng không thể chủ quan nóng vội, “đốt cháy giaiđoạn”…mà phải vận dụng những quy luật đúng đắn, những quy luật kháchquan, những tiền đề và điều kiện cụ thể…để giành thắng lợi từng bước, trêntất cả các lĩnh vực của xã hội Chính Lênin và Đảng cộng sản Nga Xôviếtsau một thời gian áp dụng “chính sách cộng sản thời chiến” (trưng thulương thực…do yêu cầu phục vụ chiến tranh bảo vệ tổ quốc) đã bãi bỏchính sách này khi nước Nga bước vào thời kỳ quá độ, xây dựng chủ nghĩa
xã hội Đó là thời kỳ thực hiện “chính sách kinh tế mới” (NEP) với kinh tếhàng hóa 5 thành phần và tự do lưu thông hàng hóa trên thị trường nhiềuloại sản phẩm Đó là một đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ và cả củachủ nghĩa xã hội.Việc xóa bỏ một cách nóng vội những đặc trưng trên, sa
Trang 6vào bệnh chủ quan duy ý chí trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XX của cácnước XHCN là trái với quan điểm của Lênin về nền kinh tế quá độ lênCNXH
1.2 Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là những nhân
tố của xã hội mới và tàn dư của xã hội cũ tồn tại đan xen lẫn nhau , đấutranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị , kinh tế , văn hóa ,
xã hội, tư tưởng , tập quán trong xã hội Về mặt kinh tế , đây là thời kỳ baogồm những mảng, những phần, những bộ phận của Chủ nghĩa tư bản vàChủ nghĩa xã hội xen kẽ nhau tác động với nhau, lồng vào nhau, nghĩa làthời kỳ tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, do đó tồn tạinhiều thành phần kinh tế, cả thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa lẫn thànhphần kinh tế tư bản chủ nghĩa , thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏcùng tồn tại phát triển , vừa hợp tác thống nhất nhưng vừa mâu thuẫn vàcạnh tranh gay gắt với nhau
Thời kỳ này bắt đầu từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền vàkết thúc khi xây dựng xong về cơ bản cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủnghĩa xã hội
1.3.Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta :
Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Namtạm thời chia hai miền: miền Nam tiếp tục cách mạng dân téc dân chủ nhândân; miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội – hậu phươnglớn của cách mạng miền Nam…Đảng ta đã xác định rõ: đặc điểm lớn nhấtcủa miền Bắc, xét về kinh tế, là từ nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu,quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.Những thành tựu của miền Bắc trong những năm chống Mỹ cứu nước đãthực sự xứng đáng là hậu phương lớn của miền Nam và có vai trò quyết
Trang 7định nhất đến toàn bộ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước: giảiphóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc.
Vận dụng những quan điểm cơ bản mà V.I Lênin đã nêu ra về đặc điểm
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở “những nước tiểu nông”, Đảng ta và
nhân dân ta đã có những thành quả bước đầu trong xây dựng chủ nghĩa xãhội, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc Nhưng khoảng thời gian 1975 –
1985, chóng ta đã phạm một số sai lầm, trong đó có biểu hiện chủ quan,
nóng vội, giản đơn, nhất là về quản lý kinh tế: đó là quá chú trọng hai thành
phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và tập thể một cách hình thức, thực hiệnquá lâu cơ chế tập trung quan liêu, hành chính bao cấp của nhà nước; nhậnthức chưa đúng đắn quan điểm của V.I Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềnền kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần kinh tế đan xen nhau…trong thời
kỳ quá độ, do đó đã biến chế độ sở hữu toàn dân và tập thể trở nên trừutượng, hình thức bề ngoài – nhiều tư liệu sản xuất chung của xã hội, nhất làđất đai, trở nên không có chủ cụ thể…Đó là một trong những nguyên nhânlàm triệt tiêu các động lực, các tiềm năng của toàn dân ta, của đất nước ta
và không phát huy hết nội lực, không tranh thủ được sự hợp tác quốc tế.Vìvậy, kinh tế, xã hội lâm vào trì trệ, khủng hoảng…
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đánh dấu sự mở đầu chínhthức công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng
ta xác định đúng đắn, bắt đầu từ đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh
tế Đổi mới toàn diện, nhưng có trọng điểm đúng trên cơ sở ổn định, phát
triển kinh tế, cải thiện từng bước đời sống nhân dân, đồng thời và từngbước đổi mới hệ thống chính trị…để phát triển đất nước đúng định hướng
xã hội chủ nghĩa Chúng ta đã có nhận thức ngày càng rõ hơn về “thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, có thể thấy rõ những bước cụ thể hoá về phát
triển “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa” Đường lối đổi mới của Đảng ta
Trang 8đã khẳng định đó là “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” Đến Đại hội IXĐảng ta có nhận thức càng rõ ràng hơn nữa: “bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất vàkiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa nhữngthành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt
về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xâydựng nền kinh tế hiện đại”
2 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể ra đời từ trong lòng xã hội tưbản chủ nghĩa do cả hai cùng dùa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Nhưng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không thể ra đời từ trong lòngchế độ tư bản chủ nghĩa bởi nó dùa trên chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa chỉ ra đời sau khi cáchmạng vô sản thành công, giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt tayvào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của phương thứcsản xuất cộng sản chủ nghĩa Cuộc cách mạng vô sản khác với các cuộccách mạng trước đó ở chỗ các cuộc cách mạng trước đó giành được chínhquyền là kết thúc cuộc cách mạng vì nó dùa trên chế độ tư hữu về tư liệusản xuất , còn cuộc cách mạng vô sản thì việc giành được chính quyền mớichỉ là bước khởi đầu còn vấn đề cơ bản hơn là giai cấp vô sản phải phải xâydựng một xã hội mới cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả về
cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng, cả về tồn tại xã hội lẫn ý thức xãhội
Không những thế, công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội phải thông quaquá trình đấu tranh gian khổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao độngnhằm giành lấy chính quyền Nhà nước và sử dụng bộ máy Nhà nước củamình để cải tạo xã hội cò , xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa , quá trình đó cần phải có thời gian , một thời kỳ lâu dài
Trang 9Vì thế thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi nước đilên Chủ nghĩa xã hội Nã do đặc điểm của sự ra đời phương thức sản xuất
xã hội chủ nghĩa và đặc điểm của cuộc cách mạng vô sản quy định Xã hội
Tư bản chủ nghĩa càng phát triển mạnh bao nhiêu thì mâu thuẫn trong lòng
nó càng gay gắt hơn bấy nhiêu , vì thế sự mâu thuẫn đó đã tạo ra những tiền
đề vật chất làm cơ sở cho sù thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xãhội trên phạm vi toàn thế giới
V.I.Lênin đã khẳng định rằng ở các nước kém phát triển cũng có khảnăng tiến lên Chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện thích hợp Trên thực
tế ,thắng lợi của cách mạng tháng 10 - Nga , sau đó là thắng lợi của mộtloạt các nước cộng hoà ở Trung á , Mông Cổ , Trung Quốc , Việt Nam
đã chứng minh khẳng định này là hoàn toàn đúng đắn
3.Các hình thức quá độ lên CNXH:
+ Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
+ Quá độ gián tiếp từ xã hội trước TB lên CNXH bá qua chế độ TBCN
Độ dài về mặt thời gian của thời kỳ quá độ lên CNXH tùy thuộc vào haiyếu tố cơ bản:
+Điểm xuất phát (thực trạng): ở trình độ kinh tế xã hội nào
+ý chí quyết tâm sự nỗ lực và trí thông minh của nhân dân, dân téc thựchiện bước quá độ đó
3.1 Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
Loại hình này phản ánh quy luật phát triển tuần tự của xã hội loài người
Đó là loại hình quá độ đối với các nước đã trải qua giai đoạn phát triển tưbản chủ nghĩa Với các nước này , do đã trải qua giai đoạn phát triển tưbản chủ nghĩa ,nên đã có sẵn tiền đề về cơ sở vật chất kỹ thuật Vì thế côngcuộc quá độ , chỉ còn là biến những tiền đề Êy thành cơ sở vật chất của chủnghĩa xã hội, thiết lập một quan hệ sản xuất mới , mét Nhà nước mới , mét
xã hội mới – xã hội chủ nghĩa
Trang 103.2 Quá độ từ các hình thái kinh tế- xã hội trước chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội :
Loại hình này phản ánh quy luật phát triển nhảy vọt của xã hội loàingười Với các nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu , kém phát triển ,còng có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển Tuy nhiên để có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội thì các nước này cần phảithực hiện từng bước quá độ và phải có những điều kiện phù hợp
Để có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội , các nước này cần phải có sự giúp
đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến đang xây dựng Chủ nghĩa xã hội
cả về vốn , kỹ thuật công nghệ lẫn kinh nghiệm xây dựng Chủ nghĩa xã hội,đồng thời nước này cũng phải hình thành được các tổ chức Đảng cáchmạng và cộng sản , phải giành được chính quyền về tay mình , xây dựngđược các tổ chức nhà nước mà bản chất là Xô Viết nông dân và Xô Viếtnhững người lao động
Lênin khẳng định rằng ở một nước kém phát triển có thể và cần phải tạo
ra những điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội bắt đầu bằngmột cuộc cách mạng thiết lập chính quyền liên minh công nông và phải tiếnlên Chủ nghĩa xã hội qua các bước quá độ , không được nhảy vọt cũng nhưnóng vội
4.Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủnghĩa xã hội cũng đều phải trải qua , ngay cả đối với các nước đã có nềnkinh tế rất phát triển Đối với nước ta , một nước nông nghiệp lạc hậu đilên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì lại càng phải trảiqua một thời kỳ quá độ lâu dài
4.1.Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội củanước ta
Trang 11Từ khi Thực dân Pháp xâm lược cho đến năm 1930 , các phong trào cứunước của nhân dân ta ,những phong trào theo lập trường tiểu tư sản và tưsản , đều lần lượt thất bại Nhưng từ năm 1930 trở đi ,dưới ngọn cờ lãnhđạo của Đảng Cộng Sản theo con đường chủ nghĩa xã hội , nhân dân ta đãthu được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác Đầu tiên là chiến thắngThực dân Pháp xâm lược , sau đến đế quốc Mỹ , và tiếp tục đưa đất nướctiến lên theo con đường mới con đường xã hội chủ nghĩa Hai cuộc khángchiến trường kỳ chống giặc xâm lược đã khiến nhân dân ta phải hy sinh rấtnhiều cả về người và của Cuộc đấu tranh đó chính là cuộc đấu tranh chốnglại chủ nghĩa tư bản Vì vậy sau khi giành chiến thắng , chóng ta không thểtiến theo con đường tư bản chủ nghĩa Bởi, nhân dân ta đã phải chịu quánhiều đau thương , đó cũng là do chủ nghĩa tư bản gây ra Tiến theo conđường chủ nghĩa xã hội là phù hợp với đông đảo nguyện vọng của quầnchúng nhân dân
Hơn thế nữa trong hoàn cảnh toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Thực tiễn đã khẳng định chủnghĩa tư bản đã lỗi thời về mặt lịch sử Vì thế sớm hay muộn nó cũng phảiđược thay thế bằng hình thái kinh tế mới xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giaiđoạn đầu là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa Cho dù chủ nghĩa tư bản đã
cố gắng để thích nghi với tình hình mới, nhưng càng cố gắng thì nó càngkhông thể vượt qua khỏi những mâu thuẫn ngày càng gay gắt Vì thế chủnghĩa tư bản không phải là tương lai của nhân loại Thời đại ngày nay làthời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Quá trình cải biến
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa là vì sự nghiệp cao cả làgiải phóng con người , vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người , vìtiến bộ chung của loài người Đi theo dòng chảy của thời đại cũng tức là đitheo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử Mà thực tế lịch sử đã cho thấyrằng, trên thế giới , đã có nhiều nước phát triển theo con đường tư bản chủ
Trang 12nghĩa , nhưng kết quả là chỉ có một số nước có nền kinh tế phát triển cònlại đa số các nước thì Châu Phi đói , Châu á nghèo , Châu Mỹ La Tinh nợnần chồng chất
Điều đó cho thấy sự lùa chọn con đường độc lập dân téc và chủ nghĩa xãhội của nhân dân ta như vậy là sự lùa chọn của chính lịch sử dân téc lại vừaphù hợp với xu thế của thời đại Vì thế việc chúng ta quá độ lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan và hoàntoàn đúng đắn
4.2.Vậy quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nghĩa là gì ?
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nghĩa là rút ngắn mộtcách đáng kể quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội Việc bỏ qua chế độ tư bảnchủ nghĩa không phải là xoá bỏ kinh tế tư nhân nói chung và kinh tế tưnhân tư bản nói riêng , mà là bỏ qua sự thống trị của kinh tế tư bản tưnhân , của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa , của kiến trúc thượng tầng tưbản chủ nghĩa Việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội không phải là việc có thểlàm một cách nhanh chóng mà cần phải có cả một quá trình lâu dài vớinhiều bước quá độ Trong quá trình đó , chóng ta phải biết tiếp thu , nhậnthức và tận dụng những thành tựu khoa học – kỹ thuật – công nghệ của thờiđại để phát triển nền kinh tế của nước nhà
Không những thế , chóng ta phải biết phát huy những truyền thống quýbáu của dân téc , tranh thủ tối đa mọi điều kiện thuận lợi từ bên ngoài Nói chung , thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình hết sứckhó khăn phức tạp , đòi hỏi chúng ta phải biết phát huy được sức mạnhtổng hợp của mọi thành phần kinh tế , tận dụng tối đa thành tựu khoa họccủa nhân loại thì mới có thể thực hiện được chặng đường quá độ
4.3.Khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản ở nước
ta
Trang 13Chóng ta có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn pháttriển tư bản chủ nghĩa bởi chúng ta có đầy đủ điều kiện thuận lợi cả vềkhách quan lẫn chủ quan
Về khách quan , đất nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiệncuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại trên thế giới phát triển hết sứcmạnh mẽ ,nó làm cho lực lượng sản xuất ngày càng mang tính quốc tế hoácao ,vì vậy các quốc gia phụ thuộc vào nhau ngày càng lớn Điều đó chophép chúng ta có thể tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài ,đặc biệt làvốn , khoa học công nghệ , kinh nghiệm quản lý để phát triển nhanh nềnkinh tế trong nước
Về chủ quan, sau chặng đường gian lao chống giặc ngoại xâm , chóng ta
đã giành được chính quyền về tay giai cấp vô sản , do Đảng Cộng Sản - đạidiện của Đảng Mác xit lãnh đạo ,chúng ta đã thiết lập được liên minh giaicấp công nông Có nghĩa là chúng ta đã có đầy đủ điều kiện để tiến hànhquá độ lên chủ nghĩa xã hội
II Quá trình nhận thức về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1 Quá trình nhận thức về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta
Việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ,tiến thẳng lên chủnghĩa xã hội ở nước ta nghĩa là rút ngắn một cách đáng kể quá trình đi lênchủ nghĩa xã hội Tuy nhiên chúng ta cần phải biết tiếp thu ,nhận thức ,vậndụng những thành khoa học –kỹ thuật tiên tiến để phát triển nền kinh tế ,biết tranh thủ tối đa mọi điều kiện thuận lợi Chóng ta phải biết tận dụngsức mạnh tổng hợp của mọi thành kinh tế trong nước để phát triển kinh tếnước nhà
Trang 14Với nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu nh nước ta , thời kỳ quá
độ phải trải qua rất nhiều chặng đường , đó là :
1.1.Bước đầu hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâmlược 1954, Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta chuyển sanggiai đoạn mới của cách mạng : đó là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩađưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội , đồng thời tiếp tục hoàn thànhcách mạng dân téc dân chủ nhân dân để giải phóng miền Nam , thống nhấtđất nước Đường lối chung của Đảng trong thời kỳ này là đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn , truyền thống phấn đấu anh dũng
và lao động cần cù của nhân dân ta , đồng thời tăng cường đoàn kết với cácnước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu để đưa miền Bắc tiếnnhanh , tiến mạnh ,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội , xây dựng cuộcsống Êm no ,hạnh phóc ở miền Bắc và củng cố miền Nam thành cơ sởvững mạnh cho cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà , góp phầntăng cường phe xã hội chủ nghĩa Thực hiện đường lối cách mạng do Đạihội Đảng lần thứ III nêu ra miền Bắc đã có những bước tiến và phát triểnnhanh các lĩnh vực kinh tế và xã hội ,cơ sở vật chất trong côngnghiệp ,nông nghiệp và kết cấu hạ tầng được xây dựng ,phát triển tương đốinhanh Những thành tựu đó đã giúp miền Bắc trở thành hậu phương vữngchắc, căn cứ địa cách mạng của cả nước
1.2.Quá trình bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng xã hội chủnghĩa của Đảng , nã bắt đầu từ sau Đại hội III đến Đại hôi IV:
Trong thời kỳ này , Đảng ta đã đề ra nhiều việc cần phải làm
Phải ra sức tăng cường chuyên chính vô sản , phát huy cao độ vai tròlãnh đạo của Đảng ,vai trò tổ chức của và quản lý của Nhà nước và tinhthần làm chủ tập thể của quần chúng lao động nhằm thực hiện thắng lợi ba
Trang 15cuộc cách mạng ,trong đó cách mạng kỹ thuật là then chốt ,là phươnghướng cơ bản có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đảng nêu ra mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là phải xây dựng chế độ làmchủ tập thể xã hội chủ nghĩa –chế độ mới, nền sản xuất lớn xã hội chủnghĩa –nền kinh tế mới , nền văn hoá mới , con người mới xã hội chủnghĩa Cần phải nhận thức về vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuấttrong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa rõ hơn ,đồng thời phải thấy rõhơn sự cần thiết phải gắn liền nhiệm vụ xây dựng kinh tế với xây dựng vănhoá và con người mới Điều đáng chú ý là việc phát huy quyền làm chủ củanhân dân lao động được nhấn mạnh , xem đó là động lực to lớn trong sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tất cả đều thể hiện mongmuốn và cố gắng của Đảng ta trong việc tìm tòi sáng tạo con đường đi lênchủ nghĩa xã hội , mét mô hình của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.3.Cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc đối mới do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo
Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất , cả nước cùng quá
độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện những điều kiện không thuận lợi dotình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp
Cùng lúc đó , mô hình kinh tế tập trung quan liêu ,bao cấp bộc lé mộtcách toàn diện mặt tiêu cực của nã , hậu quả nó mang lại là một tổn thất lớnđối với chúng ta
Với những khó khăn đó Đảng ta đã phân tích tình hình và nguyên nhân ,tìm ra các giải pháp , từ đó thực hiện đổi mới
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện từđổi mới kinh tế là chủ yếu, phải đi đến đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội, từđổi mới tư duy, nhận thức, tư tưởng đến đổi mới hoạt động thực tiễn củaĐảng, nhà nước và các tầng líp nhân dân Chúng ta phải vượt qua mô hìnhchủ nghĩa xã hội cũ để xác lập mô hình mới về chủ nghĩa xã hội của nước