Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài. Ở chương này tác giả đưa ra các nội dung về tính cấp thiết hay tầm quan trọng của đề tài cũng như tên đề tài, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài : “Kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng”. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất. Nội dung chính của chương trình bày: những khái niệm chung về chi phí, chi phí sản xuất, các chuẩn mực liên quan tới đề tài, việc phân loại chi phí sản xuất, đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí, kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất theo chế độ kế toán hiện hành, và tổng quan tình hình nghiên cứu của những công trình năm trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng. Chương này tác giả nói về các phương pháp sử dụng để nghiên cứu luận văn, tổng quan về lịch sử hình thành của Công ty, tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán, hình thức kế toán mà Công ty áp dụng cũng như chính sách kế toán của đơn vị và thực trạng kế toán nghiệp vụ chi phí sản xuất gạch hai lỗ. Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng. Qua quá trình tìm hiểu, bên cạnh những thành tựu đạt được tác giả đã đưa ra những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục ở hiện tại và trong tương lai của công tác kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty. Từ đó có cơ sở đưa ra những kết luận và những đề xuất kiến nghị để khắc phục những hạn chế còn tồn tại đã nêu ở trên.
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Tình hình thế giới quý một năm 2011, bên cạnh những thuận lợi, còn tồn tại nhiều khó khăn lớn như: giá xăng dầu, nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, biến động chính trị ở Bắc Phi, Trung Đông và mới đây là động đất, sóng thần ở Nhật Bản…Trong khi đó, với điều kiện hội nhập sâu, Việt Nam không thể tránh khỏi ảnh hưởng, trong nước vẫn phải thắt chặt chính sách tài khóa, tiền tệ và giảm đầu
tư công Do đó sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn Bởi vậy sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp rất cao, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển tất yếu phải quan tâm tới vấn đề chi phí sản xuất, để có thể quản lý tốt chi phí, tiết kiệm chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm
Ngoài ra kế toán chi phí sản xuất là một phần hành kế toán rất quan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp, nó phục vụ công tác tính giá thành và giúp những người quản lý trong doanh nghiệp phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí trong từng thời kỳ để từ đó có thể kiểm tra, giám đốc nhằm quản lý chặt chẽ các khoản chi phí đã bỏ ra kịp thời
Mặc dù chuẩn mực kế toán Việt Nam và chế độ kế toán ra đời là hành lang pháp lý quan trọng cho việc hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất Nhưng quá trình vận dụng các chuẩn mực và chế độ kế toán còn nảy sinh một số vấn đề như: nhiều doanh nghiệp chưa xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí, phân biệt chi phí trả trước ngắn hạn và chi phí trả trước dài hạn quy định trong chế độ chưa rõ ràng nên nhiều doanh nghiệp còn lúng túng, do trình độ của một số kế toán còn hạn chế khiến hạch toán chi phí sản xuất chung chưa đúng quy định gây ảnh hưởng tới việc tính đúng và đủ chi phí sản xuất…nên đòi hỏi phải có
sự hoàn thiện để phù hợp hơn nữa với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và thông
lệ quốc tế Như vậy mới tạo điều kiện cho sự phát triển của doanh nghiệp để xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh hơn
Qua quá trình thực tập và kết quả điều tra sơ bộ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng tác giả nhận thấy công tác kế toán chi phí sản xuất tại doanh
Trang 2nghiệp vẫn chưa hiệu quả,chưa đáp ứng nhu cầu quản lý của doanh nghiệp và nó là vấn đề mà đơn vị rất quan tâm.
1.2.Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên, nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất cũng như mục đích kinh doanh của các công ty và thực tế tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng tác giả đã lựa
chọn đề tài: “ Kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cho mình.
Nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng tác giả đã chọn sản phẩm gạch hai lỗ là sản phẩm chính - chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu tiêu thụ của Công ty để nghiên cứu sâu cho đề tài của mình
1.3.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu được xem xét gồm ba mục tiêu là:
Mục tiêu lý luận: Qua việc nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất giúp các ban ngành xây dựng chuẩn mực và chế độ thấy được những bất cập để hoàn thiện hơn nữa các văn bản này, đưa ra đường lối chính sách đúng đắn nhất Ngoài ra việc nghiên cứu lý luận nói chung lý luận kế toán chi phí sản xuất nói riêng tạo ra nền tảng để nghiên cứu thực tế tại Công ty
Mục tiêu thực tiễn: Giúp cho Công ty thấy được sự vận dụng chế độ kế toán
đã đúng chưa? Và những tồn tại trong công tác kế toán chi phí sản xuất để đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này tạo điều kiện cho đơn vị thực hiện được mục tiêu của mình
Qua quá trình làm luận văn tác giả có thể trau dồi và học hỏi nghiên cứu vận dụng những lý luận đã học vào trong thực tế, kỹ năng điều tra và khảo sát,…Bên cạnh đó cũng mong muốn luận văn có thể là tài liệu giúp cho sinh viên các khóa sau tham khảo phục vụ quá trình học tập và nghiên cứu
1.4.Phạm vi nghiên cứu
Trang 3Mặc dù nói đến kế toán chi phí là người ta nghĩ ngay tới mối quan hệ giữa kế toán chi phí gắn với tính giá thành sản phẩm nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
kế toán chi phí sản xuất một sản phẩm cụ thể là gạch hai lỗ Đề tài dừng ở mức nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung và kế toán tổng hợp chi phí của sản phẩm gạch hai lỗ chứ không đề cập tới việc tính giá thành của sản phẩm này
Không gian nghiên cứu: tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Địa chỉ: xã Phương Đình, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Về thời gian nghiên cứu là: bắt đầu từ ngày 10/01/2011 đến ngày 20/05/2011 Tài liệu dùng để nghiên cứu trong luận văn là tháng 10 năm 2010
1.5.Kết cấu luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm có bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Ở chương này tác giả đưa ra các nội dung về tính cấp thiết hay tầm quan trọng của đề tài cũng như tên đề tài, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài : “Kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng”
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản
xuất tại các doanh nghiệp sản xuất
Nội dung chính của chương trình bày: những khái niệm chung về chi phí, chi phí sản xuất, các chuẩn mực liên quan tới đề tài, việc phân loại chi phí sản xuất, đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí, kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất theo chế độ kế toán hiện hành, và tổng quan tình hình nghiên cứu của những công trình năm trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng kế
toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Chương này tác giả nói về các phương pháp sử dụng để nghiên cứu luận văn, tổng quan về lịch sử hình thành của Công ty, tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế
Trang 4toán, hình thức kế toán mà Công ty áp dụng cũng như chính sách kế toán của đơn vị
và thực trạng kế toán nghiệp vụ chi phí sản xuất gạch hai lỗ
Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi
phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Qua quá trình tìm hiểu, bên cạnh những thành tựu đạt được tác giả đã đưa ra những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục ở hiện tại và trong tương lai của công tác kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Từ đó có cơ sở đưa ra những kết luận
và những đề xuất kiến nghị để khắc phục những hạn chế còn tồn tại đã nêu ở trên
Trang 5CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2.1.Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về kế toán chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất
2.1.1.Khái niệm chi phí
Theo quan điểm của kinh tế chính trị chi phí là một phạm trù kinh tế quan
trọng gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa
Còn theo quan điểm của các khối ngành kinh tế chi phí: Là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và các hao phí lao động cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định (tính theo tháng, quý, năm)
Trong chuẩn mực chung, chuẩn mực kế toán Việt Nam – VAS số 01 theo
quyết định số 165/2002/QĐ-BTC thì chi phí lại được định nghĩa như sau:
Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
2.1.2.Khái niệm chi phí sản xuất
Theo quan điểm của kế toán Pháp, chi phí sản xuất là tất cả tiền mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để mua các yếu tố của quá trình sản xuất trong một thời gian nhất định, gồm tiền mua vật tư, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất, thù lao cho người lao động và các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất
Tại Việt Nam, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi
ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (Giáo trình kế toán tài chính trường Đại học Thương Mại)
Trong đó chi phí về lao động sống như: tiền lương, tiền bảo hiểm…chi phí lao động vật hóa bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, khấu hao tài sản cố định Đối với doanh nghiệp sản xuất, không phải tất cả các khoản chi phí chi ra đều
là chi phí sản xuất Ngoài những chi phí sản xuất có tính chất sản xuất còn phát sinh những chi phí không có tính chất sản xuất như chi phí phục vụ cho việc tiêu thụ sản
Trang 6phẩm, cho các hoạt động mang tính chất sự nghiệp…Chi phí ngoài sản xuất là các khoản chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh không được tính vào giá thành sản phẩm.
Từ những khái niệm trên cho thấy khái niệm chi phí sản xuất hẹp hơn khái niệm chi phí Chi phí tính cho tất cả các yếu tố đầu vào trong kỳ kinh doanh gồm cả chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
2.2.Một số lý thuyết về vấn đề nghiên cứu
2.2.1.Quy định kế toán chi phí sản xuất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam
Nghiên cứu nội dung kế toán chi phí sản xuất sử dụng những chuẩn mực kế toán như sau:
2.2.1.1.Chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực chung
Trong nội dung của chuẩn mực số 01- Chuẩn mực chung, Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác Trong đó:
Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền, Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị
Về ghi nhận chi phí :
Chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy
Các chi phí được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí
Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được trong nhiều kỳ kế toán có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định một cách gián tiếp thì các chi phí liên
Trang 7quan được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ
Một khoản chi phí được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau
2.2.1.2 Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho
Theo VAS số 02 - Hàng tồn kho được tính theo giá gốc Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại
Trong đó:
Chi phí mua của hàng tồn kho bao gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ (-) khỏi chi phí mua
Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm
Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng, và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng sản xuất
Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp
Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất
Trang 8- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường Khoản chi phí sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ
Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh
Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng một khoảng thời gian mà chi phí chế biến của mỗi loại sản phẩm không được phản ánh một cách tách biệt, thì chi phí chế biến được phân bổ cho các loại sản phẩm theo tiêu thức phù hợp và nhất quán giữa các kỳ kế toán
2.2.1.3.Chuẩn mực kế toán số 03-Tài sản cố định hữu hình
Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng nguyên giá của tài sản nếu các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó Các chi phí phát sinh không thảo mãn điều kiện trên phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ
Chi phí về sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình nhằm khôi phục hoặc duy trì khả năng đem lại lợi ích kinh tế của tài sản theo trạng thái hoạt động tiêu chuẩn ban đầu được tính vào chi phí trong sản xuất kinh doanh trong kỳ
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác
Trang 92.2.1.4.Chuẩn mực kế toán số 04 - Tài sản cố định vô hình
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Thời gian tính khấu hao của TSCĐ vô hình tối đa là 20 năm Việc trích khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng
2.2.1.5.Chuẩn mực kế toán số 16 - Chi phí đi vay
Chi phí đi vay phải được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi phát sinh, trừ khi những chi phí ấy được vốn hóa khi có đủ các điều kiện: các chi phí cho việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bắt đầu phát sinh, các chi phí đi vay phát sinh, các hoạt động cần thiết trong việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đang được tiến hành
Việc vốn hóa chi phí đi vay sẽ được tạm ngừng lại trong các giai đoạn mà quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bị gián đoạn, trừ khi sự gián đoạn ấy là cần thiết Việc vốn hóa chi phí đi vay sẽ chấm dứt khi các hoạt động chủ yếu cần thiết cho việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đã hoàn thành Chi phí đi vay phát sinh sau đó sẽ ghi nhận là chí phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phát sinh
2.2.2.Kế toán chi phí sản xuất theo chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo QĐ
số 15/2006 - QĐ –BTC ngày 20/03/ 2006
2.2.2.1.Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có nội dung kinh tế, mục đích, công dụng khác nhau Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý người ta tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo những tiêu thức thích hợp
Phân loại chi phí là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm theo những đặc trưng nhất định Xét về mặt lý luận cũng như thực tế, có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau, tuy nhiên lựa chọn tiêu thức phân loại chi phí nào là phải dựa vào yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán Ta có thể tiến hành phân loại chi phí xuất kinh doanh theo một số tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
Trang 10* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Theo quy định hiện hành thì toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ…sử dụng vào sản xuất kinh doanh
- Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền lương và phụ cấp có tính chất lương mà
doanh nghiệp phải trả cho người lao động, các khoản trích theo lương tính theo tỷ lệ quy định trên tổng tiền lương
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao trong kỳ
của các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền chi cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài các khoản chi phí đã kể trên
Cách phân loại này rất cần thiết cho công tác kế toán, nó có ưu điểm là cho biết được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ
để làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài chính phần: “Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố” phục vụ cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp và phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí trong doanh nghiệp
* Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế của chi phí
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào công dụng kinh tế của chi phí, địa điểm phát sinh cũng như mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành các loại sau:
Chi phí sản xuất kinh doanh gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu…sử dụng trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các công việc lao vụ, dịch vụ
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả
và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ, trích trước tiền lương nghỉ phép trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định Không tính vào
Trang 11khoản này khoản tiền lương phụ cấp và các khoản trích trên tiền lương của nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý doanh nghiệp hay nhân viên khác.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí được sử dụng ở các phân xưởng, bộ phận
kinh doanh như: Tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc, nhân viên phân xưởng; chi phí tài sản cố định thuộc phạm vi phân xưởng; chi phí vât liệu, công cụ dụng cụ; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất kinh doanh gồm:
- Chi phí bán hàng: Bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ như: chi phí tiền lương, phụ cấp trả cho công nhân bán hàng, tiếp thị, vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, các chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các chi phí cho bộ máy quản lý doanh
nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như: khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lý, chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp…Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức; là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục; là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành và định mức cho kỳ sau
* Phân loại theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất một loại
sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định và hoàn toàn có thể hạch toán , quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc lao vụ, dịch
vụ đó
Trang 12- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc
lao vụ, dịch vụ, nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối tượng bằng cách phân bổ gián tiếp
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với kế toán tập hợp và phân bổ chi phí chính xác cho các đối tượng
2.2.2.2.Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
* Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí hoặc đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng )
Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể tiến hành ở nhiều địa điểm khác nhau, ở từng địa điểm lại có thể sản xuất, chế biến nhiều loại sản phẩm theo những quy trình công nghệ khác nhau Do đó, chi phí sản xuất cũng có thể phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí phải căn cứ vào các yếu tố: Tính chất, đặc điểm sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất; đặc điểm tổ chức sản xuất; loại hình sản xuất; yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
Tuỳ thuộc vào các yếu tố trên mà đối tượng tập hợp chi phí có thể là toàn bộ quy trình công nghệ, từng phân xưởng, tổ đội sản xuất, từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, từng bộ phận, nhóm sản phẩm hay chi tiết sản phẩm Khi đã xác định được đúng đối tượng tập hợp chi phí thì từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và sổ chi tiết phải theo đúng đối tượng đã lựa chọn
Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý sản xuất, hạch toán kế toán và tính giá thành sản phẩm một cách nhanh chóng và chính xác trong các doanh nghiệp
* Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
Tùy theo từng loại chi phí và điều kiện cụ thể, kế toán có thể vận dụng hai phương pháp tập hợp chi phí sản xuất sau:
- Phương pháp trực tiếp: phương pháp này áp dụng trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán, chi phí sản xuất riêng biệt
Trang 13Do đó, có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng riêng biệt.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí, không tổ chức ghi chép riêng cho từng đối tượng được Như vậy phải tập hợp chung cho nhiều đối tượng, sau đó lựa chọn tiêu chiểu phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng kế toán chi phí
Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng được tiến hành theo hai bước:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
Hệ số phân bổ = Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Bước 2:Xác định chi phí phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
C i = T i * H ( i = 1,n)
Trong đó: H: Hệ số phân bổ
C i: Chi phí phân bổ cho đối tượng i
T i: Tiêu thức phân bổ cho đối tượng i
2.2.2.3.Kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất quy định trong chế độ
kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC
Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ…sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ
• Chứng từ sử dụng:
Căn cứ vào phiếu xuất kho; các chứng từ liên quan để xác định giá vốn nguyên vật liệu dùng để sản xuất sản phẩm như: Hóa đơn giá trị gia tăng, hóa đơn bán hàng; bảng phân bổ nguyên vật liệu; phiếu nhập kho vật tư không xuất dùng hết…
• Tài khoản sử dụng:
Trang 14Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp Kết cấu và nội dung của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt
động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ hạch toán
Bên Có: Trị giá vốn nguyên vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho; kết
chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường; kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ
• Trình tự hạch toán:
Trường hợp doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp KKTX:
Khi xuất kho nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ, căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán ghi: Nợ TK 621, đồng thời ghi Có TK 152 Trường hợp mua nguyên vật liệu sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ, không qua kho thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, kế toán căn cứ vào HĐBH hay HĐGTGT ghi sổ theo định khoản: Nợ TK 621 (giá mua chưa có thuế GTGT), Nợ
TK 133, đồng thời ghi Có TK 111, 112, 141, 331 (Tổng giá thanh toán) Trường hợp không có hóa đơn thuế GTGT, hoặc thuế GTGT không được khấu trừ, hoặc doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, kế toán ghi sổ theo định khoản: Nợ TK 621(giá mua có thuế GTGT), đồng thời ghi Có TK 111, 112, 141, 331 (Tổng giá thanh toán) Cuối kỳ có nguyên vật liệu sử dụng chưa hết, không nhập lại kho căn cứ vào phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ, kế toán ghi giảm chi phí nguyên vật liệu bằng bút toán: (ghi số âm) Nợ TK 621, đồng thời ghi Có TK 152 Sang đầu kỳ sau kế toán ghi tăng chi phí nguyên vật liệu bằng bút toán thường: Nợ
TK 621, đồng thời ghi Có TK 152 Nếu cuối kỳ có nguyên vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho, kế toán căn cứ phiếu nhập kho, ghi: Nợ TK 152, đồng thời ghi Có
TK 621 Cuối kỳ, căn cứ tài liệu tính toán xác định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho các đối tượng, kế toán kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho các đối tượng, kế toán ghi: Nợ TK 154, Nợ TK 632 ( phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường), đồng thời ghi Có TK 621
Trang 15Trường hợp doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp KKĐK:
Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán ghi: Nợ TK 631, Nợ
TK 632 (phần chi phí nguyên vật liệu vượt trên mức bình thường), đồng thời ghi Có TK 621
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ thuộc danh sách quản lý của doanh nghiệp và lao động thuê ngoài theo từng loại công việc, như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương
• Chứng từ sử dụng:
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp kế toán sử dụng các chứng từ sau:Bảng chấm công, bảng thanh toán lương, bảng phân bổ tiền lương và BHXH…
kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường
Tài khoản 622 không có số dư cuối kỳ
• Phương pháp kế toán các nghiệp vụ chủ yếu:
Căn cứ bảng phân bổ tiền lương trong kỳ kế toán phản ánh số tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp và các khoản khác có tính chất lương phải trả cho công nhân sản xuất trong kỳ, ghi: Nợ TK 622, đồng thời ghi Có TK 334 Trường hợp doanh nghiệp có thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất, căn cứ kế hoạch trích trước tiền lương công nhân nghỉ phép, kế toán ghi: Nợ TK 622, đồng thời ghi Có TK 335 Căn cứ bảng phân bổ tiền lương, trích BHXH, BHYT, KPCĐ kế toán ghi: Nợ TK 622, đồng thời ghi Có TK 338 Cuối kỳ tính toán kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng chịu chi phí để tính giá thành sản phẩm, kế toán ghi: Nợ TK 154, Nợ TK 632
Trang 16(phần chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường), đồng thời ghi Có TK 622.
Kế toán chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến việc phục vụ, quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí về tiền công phải trả nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ dùng cho quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ…
• Chứng từ kế toán:
Kế toán chi phí sản xuất chung sử dụng các chứng từ sau: phiếu chi, giấy báo nợ ngân hàng, bảng phân bổ công cụ dụng cụ, nguyên vật liệu, bảng phân bổ khao TSCĐ, hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng, bảng phân bổ tiền lương và BHXH…
• Tài khoản sử dụng:
Kế toán sử dụng TK 627 – Chi phí sản xuất chung, để tập hợp và phân bổ
chi phí sản xuất chung Kết cấu cơ bản của tài khoản này là:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ.
Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung; chi phí sản xuất chung
được phân bổ, kết chuyển vào chi phí chế biến cho các đối tượng chịu chi phí; chi phí sản xuất chung không được phân bổ, kết chuyển vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
TK 627 không có số dư cuối kỳ và được mở 06 tài khoản cấp 2 như sau:+ TK 6271 : Chi phí nhân viên phân xưởng
+ TK 6272 : Chi phí vật liệu
+ TK 6273 : Chi phí công cụ, dụng cụ sản xuất
+ TK 6274 : Chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6277 : Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 6278 : Chi phí bằng tiền khác
• Trình tự hạch toán:
Trang 17Căn cứ Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên
phân xưởng, kế toán ghi: Nợ TK 627 (6271), đồng thời ghi Có TK 334, Có TK 338
Dựa vào bảng phân bổ vật liệu và các chứng từ có liên quan khác (nếu có), kế toán
ghi nhận chi phí nguyên vật liệu dùng chung cho phân xưởng như sau: Nợ TK 627
(6272), đồng thời ghi Có TK 152 Ghi nhận công cụ dụng cụ dùng cho cả phân xưởng căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ và các chứng từ có liên quan
khác (nếu có), kế toán ghi: Nợ TK 627 (6273), đồng thời ghi Có TK 153 (Công cụ
dụng cụ phân bổ một lần), Có TK 142, 242 (Công cụ dụng cụ được phân bổ làm nhiều lần) Tập hợp chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho toàn phân xưởng, căn cứ bảng
tính và phân bổ khấu hao TSCĐ, kế toán ghi: Nợ TK 627 (6274), đồng thời ghi Có
TK 214 Để tập hợp chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chung cho cả phân xưởng, căn cứ vào các chứng từ gốc, các tài liệu có liên quan, kế toán ghi: Nợ TK 627 (6277),
đồng thời ghi Có TK 111, 112, 141, 331 Đối với chi phí khác bằng tiền phát sinh trong toàn phân xưởng, căn cứ vào phiếu chi, giấy báo nợ của ngân hàng , kế toán
ghi: Nợ TK 627 (6278), đồng thời ghi Có TK 111, 112, 141 Cuối kỳ, sau khi chi
phí sản xuất chung đã được tập hợp theo từng phân xưởng, đội sản xuất, chi tiết theo điều khoản chi phí và theo cho phí cố định, chi phí biến đổi, kế toán tiến hành tính toán, phân bổ vào chi phí chế biến tính cho từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất
Tiêu chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất, kế toán có thể lựa chọn các tiêu chuẩn sau:
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Dự toán hoặc định mức chi phí sản xuất chung
+ Tổng chi phí sản xuất cơ bản (bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp)
Căn cứ vào kết quả tính toán phân bổ, kế toán kết chuyển phần chi phí sản xuất chung phân bổ vào chi phí chế biến sản phẩm và ghi: Nợ TK 154, đồng thời ghi Có TK 627 Phần chi phí sản xuất chung không phân bổ vào chi phí chế biến
Trang 18sản phẩm, được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, kế toán ghi: Nợ
TK 632, đồng thời ghi Có TK 627
Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất:
• Tài khoản sử dụng:
- Kế toán sử dụng TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để tổng hợp
chi phí sản xuất TK 154 có kết cấu và nội dung như sau:
Bên nợ: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí
sản xuất chung kết chuyển cuối kỳ
Bên có: Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được,
giá thành thực tế của sản phẩm đã chế tạo xong chuyển đi bán hoặc nhập kho
Số dư bên Nợ: Chi phí sản xuất, kinh doanh còn dở dang cuối kỳ.
- Đối với doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp KKĐK để tổng
hợp chi phí sản xuất kế toán sử dụng TK 631 – Giá thành sản xuất Kết cấu và nội
dung của tài khoản này được phản ánh như sau:
Bên Nợ: Chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ dở dang đầu kỳ, chi phí sản
xuất kinh doanh dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có: Giá thành sản phẩm nhập kho, dịch vụ hoàn thành; Chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang cuối kỳ kết chuyển
Tài khoản 631 không có số dư cuối kỳ
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản có liên quan khác như TK 632, TK 155…
• Trình tự hạch toán:
Trường hợp doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp KKTX:
Cuối kỳ, kế toán kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công liệu trực tiếp, chi phí sản xuất chung kế toán ghi: Nợ TK 154, đồng thời ghi Có TK 621, TK 622, TK 627 Ghi nhận giá trị sản phẩm, dịch vụ sản xuất hoàn thành, căn cứ tài liệu tính giá thành và các chứng từ liên quan, kế toán ghi: Nợ TK
155, 157, 632, đồng thời ghi Có TK 154 Ghi nhận giá trị, chi phí sản xuất sản phẩm hỏng không tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành; giá trị phế liệu, căn cứ
Trang 19tài liệu tính giá thành và các chứng từ liên quan, kế toán ghi: Nợ TK 138, 152,
334, 811 , đồng thời ghi Có TK 154
Trường hợp doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp KKĐK:
Cuối kỳ căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế, xác định trị giá thực tế chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang và thực hiện việc kết chuyển, ghi: Nợ TK 154, đồng thời ghi Có TK 631 Đầu kỳ kế toán kết chuyển chi phí thực tế sản xuất kinh doanh
dở dang, ghi: Nợ TK 631, đồng thời ghi Có TK 154
Sổ kế toán:
Theo quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC doanh nghiệp được áp dụng một trong năm hình thức kế toán sau:
Trình tự ghi sổ trong kế toán chi phí sản xuất theo hình thức nhật ký – sổ cái (sơ đồ số 2.2)
TK 154, TK 631, TK621, TK622, TK627
Trang 20Trình tự ghi sổ trong kế toán chi phí sản xuất theo hình thức chứng từ - ghi
sổ (sơ đồ số 2.3)
• Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ:
Kế toán sử dụng bảng kê số 4 – tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng để tổng hợp số phát sinh bên Nợ của TK 621,627 Bảng phân bổ số 1 – bảng phân bổ tiền lương và BHXH để tập hợp và phân bổ tiền lương thực tế phải trả, BHXH, BHYT và KPCĐ phải trích nộp trong tháng cho các đối tượng sử dụng lao động Sau đó căn cứ vào bảng phân bổ số 1 kế toán ghi bảng kê số 4 và các sổ kế toán có liên quan, bảng kê số 6 để phản ánh chi phí trả trước và chi phí phải trả Căn cứ vào
số liệu tổng hợp trên các bảng kê kế toán ghi vào nhật ký chứng từ số 7
Trình tự ghi sổ trong kế toán chi phí sản xuất theo hình thức nhật ký chứng
từ (sơ đồ số 2.4)
• Hình thức kế toán trên máy vi tính:
Phần mềm kế toán được thiết kế theo hình thức kế toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán máy đó nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay
Trình tự ghi sổ trong kế toán chi phí sản xuất theo hình thức kế toán trên máy vi tính (sơ đồ số 2.5)
2.3.Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Đề tài kế toán chi phí sản xuất được rất nhiều đối tượng quan tâm và nghiên cứu cho thấy đây là đề tài hay và cấp thiết, nhưng mỗi công trình nghiên cứu lại có tính cá biệt riêng của nó Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo những công trình sau:
Bài viết: “Xây dựng và phân tích chi phí định mức” của Tiến sỹ Nguyễn
Thị Lành – Đại học Duy Tân trên tạp chí kế toán Nội dung của bài viết đã đưa ra công dụng của chi phí định mức, nguyên tắc xây dựng định mức tiêu chuẩn, phương pháp xác định chi phí định mức, cách xây dựng định mức cho các loại chi phí sản xuất, và phân tích định mức chi phí đó Từ việc nghiên cứu làm căn cứ xem xét việc xây dựng định mức của các doanh nghiệp đã đúng đắn và hợp lý chưa? Để có thể
Trang 21làm căn cứ đưa ra kiến nghị đề xuất định mức chi phí mới hoàn thiện hơn Ngoài ra
ở bài viết: “Vận dụng phương pháp Phân loại chi phí nhằm góp phần kiểm soát hoạt động trong các DN” của Thạc sỹ Nguyễn Thị Ngọc Lan (Tạp chí nghiên cứu
Khoa học Kiểm toán) chỉ ra thực trạng việc phân loại chi phí ở các doanh nghiệp hiện nay
Bên cạnh việc tham khảo các bài báo tạp chí tác giả còn tham khảo luận văn của trường Đại học Thương Mại là:
Luận văn: “Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm Thuốc thú y tại Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông Thôn” của sinh viên Trần Thị Bình K41D6
trường Đại học Thương Mại Luận văn đưa ra tồn tại về việc lập mã số chi tiết cho chi phí nguyên vật liệu của từng nhóm sản phẩm, không trích trước tiền lương nghỉ phép cho công nhân, gộp BHXH và BHYT vào chung TK 3383, không trích lập KPCĐ và không phân bổ chi phí sửa chữa TSCĐ mà đưa luôn tất cả vào kỳ hạch toán Qua đó bài viết đề xuất giải pháp khả thi để hoàn thiện cho hệ thống kế toán của Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông Thôn
2.4.Phân định nội dung nghiên cứu của đề tài
Tham khảo các công trình khoa học năm trước, cũng như các quy định kế toán chi phí sản xuất của Nhà nước giúp tác giả hiểu hơn về công tác này theo các nghiên cứu khác nhau và là cơ sở nghiên cứu thực trạng tại doanh nghiệp về phân loại chi phí sản xuất, đối tượng tập hợp chi phí, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ…
Qua đó, tác giả xem xét việc tuân thủ chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán của Công ty như thế nào? Để tìm ra những mặt mạnh giúp Công ty phát huy và những hạn chế còn tồn tại nhằm để xuất giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất ở Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Trang 23CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT GẠCH HAI LỖ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN THẠCH BÀN ĐAN PHƯỢNG 3.1.Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
3.1.1.Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Có nhiều phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp Khi tiến hành thu thập dữ liệu
để làm luận văn, tác giả đã sử dụng phối kết hợp nhiều phương pháp với nhau để đạt được hiệu quả như mong muốn Sau đây là các phương pháp sử dụng:
3.1.1.1.Phương pháp điều tra trắc nghiệm
Để tiến hành điều tra tác giả đã thiết kế mẫu điều tra, sau đó phát ra 5 phiếu cho nhân viên kế toán, thủ kho, văn phòng và thu về đủ 5 phiếu Mẫu phiếu điều tra được thiết kế dưới dạng các câu hỏi trắc nghiệm ngắn gọn, dể hiểu, dễ trả lời Nội dung của phiếu điều tra xoay quanh vấn đề về kế toán chi phí sản xuất và công tác
kế toán nói chung của Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Bảng số 3.1: Mẫu phiếu điều tra trắc nghiệm
3.1.1.2.Phương pháp điều tra phỏng vấn
Tác giả sẽ đến gặp trực tiếp kế toán trưởng, thủ kho và chánh văn phòng để điều tra phỏng vấn theo một bảng câu hỏi với những câu hỏi mở đã soạn sẵn
Áp dụng khi phải thu thập nhiều dữ liệu; khi muốn thăm dò ý kiến đối tượng qua các câu hỏi ngắn gọn và có thể trả lời nhanh và cụ thể…Kỹ năng đặt câu hỏi phải khéo léo, tinh tế; không để cho quan điểm riêng của mình ảnh hưởng đến câu trả lời của người được phỏng vấn; phải có kỹ năng giao tiếp tốt Trong quá trình phỏng vấn tiến hành ghi chép các nội dung quan trọng để tiến hành phân tích và tập hợp thông tin Thông qua phương pháp điều tra này giúp tác giả có được kết quả cụ thể và một lần nữa thu thập thông tin chính xác hơn
3.1.1.3.Phương pháp quan sát
Trong thời gian thực tập tại Công ty tác giả quan sát thực tế quá trình làm việc của kế toán như việc luân chuyển chứng từ, cách thức nhập số liệu vào phần mềm kế toán phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh…Tác giả còn xuống xưởng sản xuất để tham quan quy trình sản xuất tại Công ty để có hình dung rõ hơn về tình
Trang 24hình sản xuất tại các bộ phận Phương pháp này thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập.
3.1.2.Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Để thu thập dữ liệu thứ cấp cho luận văn tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để nghiên cứu: 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính và các tài liệu của Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng Bên cạnh đó tác giả còn tham khảo các công trình nghiên cứu của các sinh viên khóa trước, tạp chí kế toán và kiểm toán trên báo và internet…Phương pháp này giúp tác giả có cái nhìn toàn thể và nghiên cứu sâu vấn đề hơn
3.1.3.Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Số liệu sau khi thu thập được sẽ tổng hợp lại để tiến hành xử lý và phân tích Tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu sau:
3.1.3.2.Phương pháp tổng hợp dữ liệu
Sử dụng phương pháp này nhằm tổng hợp các dữ liệu mà tác giả đã thu thập được ở các phương pháp trên Để từ đó có căn cứ đưa ra các nhận xét và ý kiến đề xuất cho đơn vị
3.1.3.3.Phương pháp toán học
Các công thức toán học được sử dụng để tính toán việc phân bổ chi phí sản xuất và tập hợp chi phí sản xuất tại Công ty
Trang 253.2.Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung của Công ty
Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng nói riêng luôn chịu ảnh của rất nhiều yếu tố từ môi trường bên trong và bên ngoài, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải biết kết hợp hài hoà giữa các nhân tố Môi trường bên trong bao gồm các nhân tố chủ quan của doanh nghiệp còn môi trường bên ngoài bao gồm các nhân tố khách quan của doanh nghiệp
3.2.1.Các yếu tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài sẽ ảnh hưởng tới doanh nghiệp đó là các nhân tố từ phía Nhà nước, khoa học công nghệ
• Đối với Nhà nước:
Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ, chuẩn mực là hành lang pháp lý
để quản lý và giám sát hoạt động của các doanh nghiệp Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng không nằm ngoài sự quản lý đó, Công ty hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và thực hiện các quy định trong chuẩn mực kế toán cũng như chế độ
kế toán Việt Nam, thường xuyên cập nhật sự thay đổi trong các quy định của Nhà nước để điều chỉnh nhằm thực hiện tốt công tác kế toán nói chung, công tác kế toán chi phí sản xuất nói riêng
• Đối với khoa học công nghệ:
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã tạo điều kiện cho Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng có thể ứng dụng để quản lý tốt công tác
kế toán, đơn vị sử dụng phần mềm “ FAST ACCOUNTING ” phần mềm này giúp cho kế toán giảm bớt khối lượng công việc, giúp cho việc quản lý hiệu quả hơn, kịp thời cung cấp số liệu cho các nhà quản lý
3.2.2.Các nhân tố bên trong
Người làm công tác kế toán tại công ty phải qua đào tạo chuyên môn Về kỹ năng, người làm công tác kế toán phải biến các kiến thức được học trên lý thuyết để vận dụng thành thạo trong công việc và các thao tác đó phải được tiến hành một cách khoa học, phải rèn luyện và có khả năng tư duy cao Về thái độ phẩm chất của
Trang 26người kế toán phải trung thực, cẩn thận, tỷ mỉ và luôn phải tuân thủ theo đúng chế
độ quy định của Nhà nước Người làm kế toán nếu đáp ứng được các yêu cầu trên thì công tác kế toán nói chung cũng như công tác kế toán chi phí sản xuất nói riêng không ngừng được hoàn thiện Số lượng nhân viên kế toán hợp lý, nhiệm vụ được phân công rõ ràng thì công việc của các kế toán sẽ được đảm bảo, tránh tình trạng chồng chéo, người làm nhiều việc và người làm ít việc
Đội ngũ nhân viên kế toán tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng trẻ, năng động, có chuyên môn, đặc biệt công việc tập hợp chi phí và tính toán phân bổ chi phí do nhân viên kế toán có kinh nghiệm đảm nhận nên nhìn chung công tác chi phí sản xuất ở Công ty được thực hiện tốt
Các chính sách của Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng cũng tác động trực tiếp tới việc quản lý, thực hiện công việc của kế toán chi phí sản xuất như: chính sách trả lương của công ty, xây dựng định mức nguyên vật liệu, quy định về việc khen thưởng cho cán bộ công nhân viên,…
Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Công ty Cổ phần Thạch Bàn là một đơn vị trực thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng Với chủ trương của Nhà nước hiện nay là đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng đã có những bước đi đúng hướng của mình, Thạch Bàn là một trong những đơn vị được chọn cổ phần hóa
Căn cứ theo công văn số 1994/VB ngày 27/09/2001 của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Hà Tây do chủ tịch Doãn Thuật ký “ Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch Bàn 2 ”
đã được xây dựng Và hoàn thành ngày 26/02/2002, Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch Bàn 2 là công ty con của Công ty Thạch Bàn Công suất thiết kế của Công ty
là 40 triệu viên gạch ngói QTC/năm Công ty có diện tích là 88.182 m2 và đặt trụ sở tại trung tâm giống cây trồng cũ của huyện Đan Phượng nay đã ngừng hoạt động Với vị trí thuận lợi cách Quốc lộ 32 là 2,5 km; cách Thị xã Sơn Tây 32 km và là cửa ngõ Thủ Đô Hà Nội địa hình bằng phẳng giao thông thuận tiện; tạo điều kiện cho việc bán hàng, và vận chuyển nguyên vật liệu
Trang 27Hiện nay công ty đổi tên là: Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
Địa chỉ : Xã Phương Đình, Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 04.33886581 – 04.33887704 Fax: 04.33886581
Email: tbsc2@thachban.com.vn
Mã số doanh nghiệp: 0500416912
Tổng số cán bộ, công nhân viên: 250 người
Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty:
+ Sản xuất và mua bán các sản phẩm gốm, sứ, vật liệu xây dựng;
+ Chuyển giao công nghệ các nhà máy gạch, ngói Tuynel;
+ Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp;
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 030300034 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Tây cấp lần đầu ngày 04/02/2002 Công ty đăng ký mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng và phát triển nông thôn Đan Phượng số hiệu tài khoản giao dịch số 421101000257
Từ khi thành lập đến nay Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng luôn tự hoàn thiện và ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thị trường góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng là một công ty con của Công ty Thạch Bàn Tuy nhiên Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng hoàn toàn độc lập về kinh tế và địa lý so với Công ty mẹ Về mô hình tổ chức quản lý của công
ty cũng được chia ra làm nhiều phòng, ban chức năng và không khác xa nhiều so với công ty mẹ
Trang 28Sơ đồ số 3.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Hội đồng quản trịGiám đốcPhó giám đốc
Phân
xưởng
sản xuất
Phòng KHKTVT– cơ điện
Văn phòng Phòng TC-
KT
Phòng kinh doanh
BP trực ca cơ khí sửa chữa + điện
Tổ ủi
BP kho vật tư phụ,
TP, đất + than
BP nghiệp vụ
Đội bảo vệ
BP nhà ăn
& phục vụ
Bp quản lý KTT & nhà trẻ
Tổ thị trường
BP viết hoá đơn
BP tiêu thụ TT
BP xe tảiCửa hàng
Tổng đại lý
Hệ thống đại lý
Trang 29Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban như sau:
- Hội đồng quản trị: Có nhiệm vụ chỉ đạo ở tầm vĩ mô Lập đề ra các kế hoạch chiến lược có tính chất lâu dài cho sự phát triển của Công ty
- Giám đốc: Điều hành toàn bộ Công ty Là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc hoạt động của Công ty Phụ trách công tác đối ngoại của Công ty
- Phó giám đốc: Cùng giám đốc đề ra những phương hướng hoạt động của Công ty, tham mưu cho giám đốc trong việc điều hành Công ty Đồng thời, phó giám đốc còn là người phụ trách chung về công tác điều hành sản xuất
- Văn phòng Công ty: Đây là nơi quản lý rất nhiều các công việc của Công ty như: Quản trị hành chính, tổ chức nhân sự, an ninh – quân sự, vệ sinh…
Trên cơ sở là các công việc đã nêu ở trên, văn phòng đã có sự phân công chức năng rõ rệt cho từng cán bộ công nhân viên để đảm bảo xử lý công việc nhanh
và chính xác nhất
- Phòng kế hoạch kỹ thuật vật tư - cơ điện: Phụ trách thí nghiệm, kỹ thuật sản xuất, an toàn lao động, vệ sinh sản xuất Có nhiệm vụ về công tác kế hoạch kỹ thuật, xây dựng và kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu về nhập kho dự trữ vật tư và công cụ phục vụ sản xuất kinh doanh Cung cấp nhiên liệu cho máy móc hoạt động
và sửa chữa máy móc khi có sự cố về kỹ thuật
- Phòng tài chính kế toán: Phòng có chức năng, phân loại và tổng hợp các hoạt động của Công ty, quản lý nguồn vốn, kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn và các hoạt động khác Lập chứng từ, phân loại và tập hợp chứng từ theo từng loại nghiệp vụ Phòng tài chính kế toán phải lập báo cáo tài chính và kế hoạch tài chính theo từng tháng, quý, năm
- Phòng kinh doanh: Phụ trách việc tiêu thụ sản phẩm, quản lý bán hàng, nghiên cứu thị trường
- Phân xưởng sản xuất : Là phòng điều hành trực tiếp công việc sản xuất của các tổ sản xuất
Trang 30Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất gạch của Công ty:
Toàn bộ nhà máy là một quy trình phức tạp, chế biến liên tục bao gồm nhiều công đoạn khác nhau Tuy nhiên, giữa các công đoạn có mối liên quan chặt chẽ với nhau và cùng tuân thủ về quy tắc kỹ thuật, vật liệu, tiêu chuẩn Đây là một quy trình sản xuất khép kín với những công nghệ hiện đại
Nhiên liệu từ lúc về bãi chứa để phong hoá và ngâm ủ Đất sét sau khi được phong hoá, ủ 03 tháng thì độ ẩm giảm xuống còn 16% Đất sét được máy ủi đưa vào
từ bãi chứa và máy cấp nhiên liệu hoặc kho chứa đất có mái che để sử dụng cho ngày mưa Sau đó đất và than được băng tải chuyển tới máy cán thô, máy cán mịn
và máy nhào hai trục có lưới lọc Tiếp đó, được đưa tới máy cán tinh rồi được chuyển tới máy nhào đùn liên hợp có hút chân không để tạo hình
Bán thành phẩm của các loại sản phẩm gạch được phơi khác nhau tuỳ theo từng loại sản phẩm và thời tiết Sau đó các loại bán thành phẩm này được chuyển vào lò nung với nhiệt độ cao nhất là 980°-1080°C Sản phẩm sau khi ra lò được phân loại
và xếp thành từng loại riêng biệt trên kho thành phẩm
Trang 31Sơ đồ sô 3.2: Quy trình công nghệ sản xuất gạch
Đặc điểm tổ chức công tác kế toán
Mặc dù là công ty con nhưng Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng hạch toán độc lập so với công ty mẹ Xuất phát từ đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất, Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng đã áp dụng hình thức tổ chức kế toán tập trung Vì vậy, toàn bộ công tác tập trung trên phòng kế toán, ở bộ phận điều hành có nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ thống kê, tập hợp số liệu gửi lên phòng kế toán, để nhân viên kế toán tập hợp thống kê cập nhật vào phần mềm kế toán và cuối kỳ lập báo cáo tài chính kế toán
Máy ủi đảo
mịn Phơi đảo gạch mộc
Xếp goòng
Sấy nung sản phẩm
Phân loại sản phẩm Kho nhập vật liệu đất sét
Kho thành phẩm
Trang 32Phòng tài chính kế toán gồm 4 người: Kế toán trưởng, hai kế toán viên và thủ quỹ Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán được biểu diễn qua sơ đồ:
Sơ đồ số 3.3: Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty
Chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ kế toán
- Kế toán trưởng: Là người cung cấp thông tin về tình hình tài chính của công
ty phục vụ cho việc chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp giám đốc trong việc
tổ chức công tác hạch toán kinh doanh, thực hiện nghiêm túc pháp lệnh kế toán, thống kê, đồng thời là người tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ khoa học hợp lý, phù hợp với Công ty Phân công lao động kế toán phát huy được khả năng chuyên môn tạo nên sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa các bộ phận Lập báo cào tài chính gửi cho giám đốc và các đối tượng bên ngoài quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Kế toán viên: Hỗ trợ đắc lực kế toán trưởng trong công tác kế toán Ngoài ra
có nhiệm vụ làm công tác kế toán tiêu thụ, kế toán vốn bằng tiền, kế toán tiền lương
và các khoản trích theo lương… nhằm cung cấp cho kế toán trưởng các số liệu cần
Kế toán tiền lương
và các khoản trích theo lương
Kế toán TSCĐ, CCDC
Kế toán chi phí và giá thành sản phẩm
Trang 33thiết để lập lên báo cáo tài chính một cách chính xác và cụ thể Ngoài ra có thể tham mưu với kế toán trưởng trong việc tổ chức bộ máy kế toán trong toàn Công ty.
- Thủ quỹ: Chịu hoàn toàn trách nhiệm trong việc quản lý tiền mặt, tiền mặt ngoại tệ, séc và các giấy tờ có giá trị khác Cuối tháng thủ quỹ phải lập biên bản kiểm
kê số tiền tồn quỹ có xác nhận của kế toán trưởng và Giám đốc
Chính sách kế toán của Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
- Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số: 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính
- Niên độ kế toán được bắt đầu từ ngày 01/01 kết thúc ngày 31/12 năm dương lịch
- Đơn vị tiền tệ sử dụng là Việt Nam đồng (VNĐ)
- Nguyên tắc chuyển đổi ngoại tệ: Theo tỷ giá thanh toán liên ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm ghi sổ
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Phương pháp kê khai thường xuyên
- Phương pháp tính giá hàng xuất kho: Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp tính thuế GTGT: Theo phương pháp khấu trừ
- Tài sản cố định được khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng
- Hình thức kế toán: Hình thức kế toán được sử dụng là hình thức kế toán trên máy
vi tính Công ty đã đưa vào sử dụng phần mềm kế toán “FAST ACCOUNTING” giúp cho quá trình hạch toán đơn giản hơn Hiện nay, Công ty lựa chọn hình thức sổ nhật ký chung để hệ thống và lưu giữ toàn bộ nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh trong đơn vị
3.3.Kết quả điều tra trắc nghiệm và kết quả tổng hợp đánh giá của các chuyên gia về kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
3.3.1.Kết quả phỏng vấn
Trang 34Tác giả đã tiến hành điều tra phỏng vấn trực tiếp Ông Nguyễn Kim Cương –
kế toán trưởng, Ông Ngô Ngọc Đỉnh – chánh văn phòng và Bà Lê Thị Đoàn – thủ kho, kết quả thu được những nhận xét sau:
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là cả quy trình công nghệ của nhóm sản phẩm, và Công ty sử dụng phương pháp gián tiếp để tập hợp chi phí sản xuất Toàn
bộ quy trình sản xuất của nhà máy là phức tạp kiểu chế biến liên tục nhiều công đoạn khác nhau nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ của nhóm sản phẩm Công nhân sản xuất trực tiếp được nhận lương theo sản phẩm họ làm ra, theo hình thức trả lương này khuyến khích giúp tăng năng suất lao động
Qua quá trình phỏng vấn trực tiếp tác giả đã thấy một số điểm mà doanh nghiệp chưa thực hiện đúng với quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán:
Công ty chưa thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép cho công nhân sản xuất trực tiếp mà lại hạch toán thẳng vào chi phí phải trả cho công nhân viên trong tháng Và không thiết lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho Trong khi phát sinh các nghiệp vụ làm giảm giá hàng tồn kho thì kế toán hạch toán thẳng vào chi phí bán hàng Điều này là bất hợp lý với chuẩn mực kế toán số 02 – chuẩn mực hàng tồn kho về việc trích lập dự phòng
Khi xuất dùng thừa nguyên vật liệu cho các bộ phận, thủ kho không nhập nguyên vật liệu lại vào kho mà lại giao cho các bộ phận đó quản lý Và không tiến hành thực hiện bút toán nhập nguyên vật liệu lại vào kho
Việc luân chuyển chứng từ giữa thủ kho với phòng kế toán tài chính còn chậm, ảnh hưởng tới công việc của cả hai bên
Bảng tổng hợp kết quả điều tra phỏng vấn (bảng số 3.2)
3.3.2.Tổng hợp kết quả điều tra
Sau khi phát ra 05 phiếu điều tra đã thu đủ cả 05 phiếu, thông tin trên mỗi phiếu đầy đủ theo đúng yêu cầu Kết quả tổng hợp của phiếu điều tra giúp tác giả hiểu rõ hơn về tổ chức công tác kế toán và phần hành kế toán chi phí sản xuất ở Công ty
Tác giả trình bày bảng tổng hợp phiếu điều tra bảng số 3.3
Trang 353.4.Thực trạng kế toán chi phí sản xuất gạch hai lỗ tại Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng
3.4.1.Đặc điểm kế toán chi phí sản xuất tại Công ty
3.4.1.1.Sản phẩm sản xuất
Hiện nay, Công ty sản xuất sản phẩm chính là gạch hai lỗ Bên cạnh đó còn
có các sản phẩm khác như: gạch sáu lỗ, gạch đặc, gạch hoa chanh và các loại ngói
3.4.1.2.Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Với đặc thù tổ chức sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục, gồm nhiều công đoạn sản xuất kế tiếp nhau, nửa thành phẩm giai đoạn trước trở thành nguyên liệu cho giai đoạn kế tiếp Quá trình sản xuất được tổ chức ở dưới các tổ sản xuất, mỗi tổ sản xuất thực hiện một công đoạn của quy trình sản xuất Do đó, căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm tại Công ty, kế toán đã xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là cả quy trình công nghệ của nhóm sản phẩm (toàn bộ doanh nghiệp)
3.4.1.3.Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Nguyên vật liệu đầu vào để sản xuất các loại gạch, ngói là như nhau (đất, than, điện), cùng sử dụng một dây truyền công nghệ Do vậy, việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Công ty sử dụng tập hợp chung cho cả quy trình công nghệ, sau đó kế toán sử dụng phương pháp gián tiếp để phân bổ chi phí sản xuất cho từng sản phẩm theo các tiêu thức khác nhau
3.4.1.4.Phân loại chi phí sản xuất
Để thuận lợi cho công tác quản lý và tập hợp chi phí sản xuất ở nhà máy, chi phí sản xuất của Công ty được chia thành ba khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
3.4.2.Phương pháp kế toán chi phí sản xuất
3.4.2.1.Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 36Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất gạch, ngói là những chi phí về nguyên vật liệu chính, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm Nguyên vật liệu trực tiếp sản xuất gạch hai lỗ ở Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng bao gồm:
Vật liệu chính: đất, thanNhiên liệu: điện
Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán của Công ty sử dụng phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT, bảng phân bổ chi phí nguyên vật liệu chính
và vật tư phụ…
Kế toán sử dụng tài khoản 621 – Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Kế toán không theo dõi chi tiết tài khoản này
Nguyên vật liệu chính xuất kho cho phân xưởng sản xuất là nguyên vật liệu xuất từ kho vật tư của nhà máy giao cho phân xưởng sản xuất Khi xuất kho nguyên vật liệu chính (đất, than) cho bộ phận sản xuất, kế toán căn cứ vào giấy đề nghị xuất kho đã được duyệt do bộ phận điều hành chuyển lên, kế toán nhập vào phiếu xuất
kho trong phần mềm trình bày trong phụ lục số 3.1 Khi mới nhập vào phiếu xuất
kho trong phần mềm thì chưa có đơn giá, kế toán chỉ mới nhập số lượng Sau đó, căn cứ vào việc chạy giá của vật tư theo tháng (phương pháp tính giá xuất kho là phương pháp bình quân gia quyền) được thực hiện trong phần mềm FAST Kế toán
sẽ có đơn giá xuất kho cho các vật tư Cụ thể phiếu xuất kho được in ra như sau:
Phiếu xuất kho đất số 01 phụ lục số 3.2
Từ phiếu xuất kho đó kế toán in ra làm ba liên:
Liên 1: Kế toán giữ
Liên 2: Giao cho thủ kho để ghi vào thẻ kho
Liên 3: Giao cho người nhận vật tư mà cụ thể ở đây là giao cho Ông Nguyễn Văn Chuẩn giữ để theo dõi bộ phận sử dụng
Bút toán định khoản cho phiếu xuất kho số 01 là:
Nợ TK 621: 223.716.938 đồng
Có TK 152 ( TK 1521 – Chi phí nguyên vật liệu chính): 223.716.938 đồng
Trang 37Tương tự ta cũng có định khoản cho phiếu xuất kho số 02, 03 khi xuất kho than sử dụng cho sản xuất gạch và sử dụng cho lò nung như sau:
Nợ Tk 621: 418.152.639 đồng
Có Tk 152 ( TK 1521): 418.152.639 đồng
Căn cứ vào hóa đơn giá trị gia tăng tiền điện (phụ lục số 3.3), kế toán cập
nhật vào hóa đơn mua hàng dịch vụ trong phần mềm, toàn bộ tiền điện kế toán hạch toán hết vào Tk 621 – Chi phí nguyên liệu, vật liệu chính
Ví dụ : Tiền điện trong tháng 10 khi phát sinh có bút toán:
Nợ Tk 621: 101.393.025 đồng
Nợ Tk 133: 10.139.303 đồng
Có Tk 331: 111.532.328 đồngSau đó cuối tháng, phòng kế hoạch kỹ thuật - vật tư cơ điện căn cứ vào công
tơ điện của từng bộ phận để phân bổ tiền điện cho từng bộ phận sử dụng (khu tập thể, bộ phận quản lý phân xưởng, bộ phận quản lý doanh nghiệp) và gửi lại cho kế toán để ghi giảm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Nợ Tk 3388: 2.850.686 đồng
Nợ TK 6272: 607.294 đồng
Nợ TK 6428: 1.997.998 đồng
Có Tk 621: 5.455.978 đồngCuối tháng, sau khi chạy bút toán kết chuyển chi phí tự động sẽ có bút toán:
Phụ lục số 3.5: Bảng phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (đất, than và điện) của tháng 10/2010.
Trang 38Tiêu thức để phân bổ chi phí nguyên vật liệu chính (đất, than, điện) kế toán
căn cứ vào định mức nguyên vật liệu chính (phụ lục số 3.6) mà Công ty đã đăng ký
với cơ quan thuế
x
Đơn giá NVL chính
Ví dụ : Để hiểu rõ hơn tác giả sẽ phân bổ chi phí nguyên vật liệu đất cho sản
phẩm gạch hai lỗ loại (210x100x60) trong tháng 10 năm 2010 như sau:
3.4.2.2.Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp được tiến hành như sau: Trên cơ sở phiếu nhập kho thành phẩm và bán thành phẩm của từng tháng, kế toán lập bảng thanh lý kết quả sản xuất thông qua phòng kế hoạch kỹ thuật và phòng tài chính kế toán Công
ty để duyệt quỹ lương theo định mức đã xây dựng Kế toán thu thập các chứng từ gốc như bảng chấm công, giấy nghỉ phép, nghỉ ốm để làm căn cứ để tính lương cho công nhân Hàng tháng, kế toán tiền lương tập hợp lương cơ bản, lương thực tế, các khoản trích theo lương Hệ số lương cơ bản được tính theo thời gian làm việc và
Trang 39chức danh của từng người Kế toán căn cứ vào đó để tập hợp toàn bộ hệ số lương cơ
bản và tiến hành tính lương cơ bản của công nhân sản xuất Lương thực tế được tính
theo định mức khoán, tập hợp lên từ các tổ sản xuất
Cuối tháng, căn cứ vào bảng chấm công, biên bản họp bình xét lương, phiếu
nhập kho thành phẩm (đã có ký nhận của các cá nhân có liên quan), giấy nghỉ phép,
nghỉ ốm…kế toán tập hợp tính ra số tiền lương theo sản phẩm và tiền lương chế độ
của công nhân sản xuất trực tiếp ở từng tổ theo công thức sau:
Lương chế độ của
tổ n = Lương cơ bản x Hệ số lương bình quân tổ n x Số ngày nghỉ chế độ (**)
26 ngày
Đồng thời kế toán tính ra các khoản phụ cấp cho công nhân viên như sau:
+ Tiền làm thêm vào ngày lễ, chủ nhật được tính với đơn giá 150% đơn giá
hàng ngày
+ Tiền ăn ca: được tính cho công nhân viên là 8.000đ/ ngày
Căn cứ vào bảng chấm công (mẫu của tổ bốc xếp phụ lục số 3.7) kèm theo
biên bản bình xét lương (mẫu của tổ bốc xếp phụ lục số 3.8), từ đó kế toán lập bảng
thanh toán lương (mẫu của tổ bốc xếp phụ lục số 3.9), cùng với phiếu nhập kho
thành phẩm Kế toán tính toán tiền lương theo sản phẩm của từng tổ cách tính dựa
vào các công thức (*) ta có phụ lục số 3.9’, sau đó sẽ dựa vào tiêu thức đơn giá tiền
lương sản phẩm của từng tổ để phân bổ tiền lương sản phẩm cho từng tổ Dựa vào
công thức (**) ta sẽ có lương chế độ của các tổ, bộ phận
Lương SP phân bổ = ∑ Lương sản phẩm của Công ty
∑ Đơn giá tiền lương SP của Công ty
∑ Lương sản phẩm của Công ty = ∑ Sản lượng hoàn thành SPi x Đơn giá Spi(*)
Trang 40Minh họa cho cách tính trên ta có bảng phân bổ lương cho từng bộ phận
tháng 10/2010 (phụ lục số 3.10).
Dựa vào số liệu trên phụ lục số 3.10 kế toán sẽ tổng hợp được tiền lương sản phẩm và lương chế độ của công nhân trực tiếp tháng 10 để vào phiếu kế toán, bút toán:
Nợ TK 622: 500.789.955 đồng
Có TK 334: 500.789.955 đồng
Các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất trực tiếp được tính trên
cơ sở số tiền lương cơ bản (880.000 đồng) và lương thực tế Với tỷ lệ trích theo quy định: BHXH (16%), BHYT (3%), BHTN (1%), KPCĐ (2%)
Tháng 10, khi trích BHXH, BHYT, BHTN trên tiền lương cơ bản, KPCĐ trích trên tiền lương thực tế của công nhân sản xuất trực tiếp, kế toán sẽ nhập vào
phiếu phiếu kế toán (phụ lục số 3.11), ta có bút toán tương ứng:
Nợ Tk 154: 560.961.145 đồng
Có TK 622: 560.961.145 đồng
Sau đó, phần mềm kế toán sẽ tự động chuyển số liệu vào sổ cái Tk 622 phụ lục số 3.12
Căn cứ bảng phân bổ lương và các khoản trích theo lương của các bộ phận
(phụ lục số 3.10), có tổng số tiền chi phí tiền lương của công trực tiếp sản xuất, để