1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng

169 720 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hợp tác kinh tế quốc tế, khu vực, Sáng kiến Hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng đã chính thức được khởi xướng vào năm 1992 bởi Ngân hàng Phát t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

Nguyễn Ngọc Hà

VAI TRÒ CỦA NHẬT BẢN TRONG HỢP TÁC KINH TẾ

TIỂU VÙNG MÊ CÔNG MỞ RỘNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội, 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

Nguyễn Ngọc Hà

VAI TRÒ CỦA NHẬT BẢN TRONG HỢP TÁC KINH TẾ

TIỂU VÙNG MÊ CÔNG MỞ RỘNG

Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT

Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN DUY DŨNG

Hà Nội, 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt i

Danh mục các bảng iii

Danh mục các hình vẽ, đồ thị v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng và quan điểm của Nhật Bản 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Hợp tác & hội nhập kinh tế khu vực trong bối cảnh mới 7

1.1.2 Lý thuyết “Đàn nhạn bay” của Akamatsu 11

1.1.3 Lý thuyết “Chu kỳ rượt đuổi sản phẩm” của Kojima Kiyoshi 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Sự cần thiết của việc ra đời và phát triển GMS 20

1.2.1.1 Bối cảnh quốc tế mới 20

1.2.1.2 Vai trò của GMS đối với các nước thành viên 25

1.2.1.3 Tác động của GMS trong tiến trình liên kết khu vực Đông Á 31

1.2.2 Quan điểm và chính sách của Nhật Bản trong hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng 33

1.2.2.1 Lợi ích của Nhật Bản 33

1.2.2.2 Chính sách của Nhật Bản 36

1.2.2.3 Định hướng chung trong hợp tác giữa Nhật Bản và GMS 39

1.2.3 Hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng: thành tựu và hạn chế 39 1.2.3.1 Thành tựu trong hợp tác GMS 40

1.2.3.2 Hạn chế trong hợp tác GMS 43

Chương 2 Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác song phương và với toàn bộ Tiểu vùng Mê Công mở rộng 45

Trang 4

2.1 Hỗ trợ xây dựng chiến lược và chính sách phát triển GMS 45

2.1.1 Chiến lược phát triển chung của GMS 45

2.1.2 Hỗ trợ cải cách luật pháp 48

2.2 Hỗ trợ nguồn vốn phát triển GMS 53

2.2.1 Cung cấp ODA song phương cho các thành viên GMS 53

2.2.1.1 Việt Nam 54

2.2.1.2 Campuchia 55

2.2.1.3 Lào 57

2.2.1.4 Myanmar 59

2.2.1.5 Thái Lan 60

2.2.2 Đồng tài chính trong các dự án ADB – GMS 61

2.2.2.1 GMS – ADB 61

2.2.2.2 Hỗ trợ của Nhật Bản đối với GMS 63

2.2.3 Những lĩnh vực chủ yếu được coi trọng 66

2.2.3.1 Liên kết vùng 66

2.2.3.2 Phát triển nguồn nhân lực 70

2.2.3.3 Bảo vệ môi trường 74

2.3 Thúc đẩy tăng cường hợp tác kinh tế trong GMS 76

2.3.1 Trao đổi thương mại 76

2.3.2 Đầu tư 80

2.3.3 Du lịch 85

2.4 Đánh giá chung về hoạt động hỗ trợ của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế GMS 89

2.4.1 Rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế giữa các thành viên trong GMS với các nước khác trong ASEAN 90

2.4.2 Tăng khả năng duy trì phát triển bền vững cho các nước GMS 94

Trang 5

Chương 3 Triển vọng và một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy hợp tác kinh

tế Nhật Bản với Tiểu vùng Mê Công mở rộng 96

3.1 Triển vọng hợp tác của Nhật Bản với GMS 96

3.1.1 Định hướng hợp tác giữa Nhật Bản và các nước GMS 96

3.1.1.1 Định hướng của Nhật Bản trong hợp tác với GMS 96

3.1.1.2 Quan điểm của các thành viên GMS trong hợp tác với Nhật Bản 101 3.1.2 Triển vọng trong hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng 101

3.1.3 Dự báo triển vọng hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản và GMS 106

3.1.3.1 Các yếu tố tác động 106

3.1.3.2 Sự hoàn thiện thể chế GMS và hợp tác Nhật Bản – GMS 110

3.2 Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hợp tác giữa Nhật Bản và GMS .111

3.2.1 Nâng cao tính liên kết, phối hợp, đồng bộ trong định hướng, triển khai giữa các nước GMS 111

3.2.2 Tăng tính hiệu quả trong sử dụng các nguồn tài chính từ Nhật Bản 112 3.2.3 Tích cực thực hiện đúng lộ trình cam kết thương mại giữa Nhật Bản và các nước GMS 114

3.2.4 Khuyến khích thu hút đầu tư các Tập đoàn lớn của Nhật Bản trong các lĩnh vực công nghệ cao 115

3.3 Các gợi mở chính sách cho Việt Nam trong đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản phạm vi GMS 117

3.3.1 Cơ hội và thách thức của Việt Nam trong hợp tác Nhật Bản – GMS 117 3.3.1.1 Cơ hội 117

3.3.1.2 Thách thức 119

3.3.2 Vị trí của Việt Nam trong quan hệ hợp tác Nhật Bản – GMS 121

3.3.2.1 Vị trí địa – chính trị, địa – kinh tế trong khu vực 121

3.3.2.2 Quan hệ hợp tác Việt Nam và Nhật Bản ngày càng tốt đẹp 125

Trang 6

3.3.3 Các gợi mở cho Việt Nam 128

KẾT LUẬN 133

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

Trang 7

i

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1 ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á

2 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

3 CBTA Hiệp định khung về tạo thuận lợi cho vận chuyển

người và hàng hoá

4 CLMV Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam

6 EWEC Hành lang kinh tế Đông Tây

7 FTA Hiệp định tự do hoá thương mại

8 GMS Tiểu vùng Mê Công mở rộng

9 JBIC Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản

10 JETRO Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản

11 JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

Trang 8

ii

12 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

13 TTF Kế hoạch hành động tạo thuận lợi cho vận tải và

thương mại

14 UNESCAP Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vực Châu Á – Thái

Bình Dương của Liên Hợp Quốc

15 WB Ngân hàng thế giới

Trang 9

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 ODA Nhật Bản vào Campuchia giai đoạn

2 Bảng 2.2 Những mục tiêu và vấn đề chính trong viện

3 Bảng 2.3 ODA Nhật Bản cho Lào giai đoạn 2004-2008 58

4 Bảng 2.4 ODA Nhật Bản cho Myanmar giai đoạn 2004

5 Bảng 2.5 ODA Nhật Bản cho Thái Lan giai đoạn 2004

6 Bảng 2.6 Nguồn vốn phân bổ cho các lĩnh vực hợp tác 63

7 Bảng 2.7 Phân bổ vốn theo nhà tài trợ đối với các dự án

8 Bảng 2.8 Đồng tài trợ cho các dự án hỗ trợ kỹ thuật

trong GMS, giai đoạn 1992 - 2009 65

9 Bảng 2.9 Các dự án thực hiện bằng nguồn vốn của Nhật 67

10 Bảng 2.10 Khách du lịch Nhật Bản tới GMS 87

11 Bảng 2.11 Tỷ trọng của thương mại trong GDP năm

Trang 10

iv

12 Bảng 2.12 Chỉ số tự do kinh tế của các nước ASEAN

13 Bảng 3.1 Hỗ trợ hợp tác phát triển của Nhật Bản cho

Trang 11

v

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1 Hình 1.1 Khía cạnh nội bộ ngành của mô hình “Đàn

2 Hình 1.2 Khía cạnh liên ngành và quốc tế của mô hình

3 Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển của mô hình CPC 17

4 Hình 1.4 Thương mại của ASEAN giai đoạn 1990 -

62

7 Hình 2.2 Tỷ trọng kim ngạch của các đối tác thương

8 Hình 2.3 Xuất khẩu của Nhật Bản tới các nước CLMV 78

9 Hình 2.4 Nhập khẩu của Nhật Bản từ các nước CLMV 79

10 Hình 2.5 Du lịch quốc tế đến GMS giai đoạn 2000 -

Trang 12

vi

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) là một vùng lãnh thổ rộng lớn với diện tích khoảng 2,6 triệu km2, dân số hơn 300 triệu người, gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam và 2 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc Với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và các điều kiện thuận lợi, đặc biệt là tính tương đồng trong văn hoá, GMS chính là khu vực hội tụ đầy đủ các yếu tố tiềm năng để hợp tác cùng phát triển

Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hợp tác kinh tế quốc tế, khu vực, Sáng kiến Hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng đã chính thức được khởi xướng vào năm 1992 bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á – ADB, nhằm xây dựng nên một tiểu vùng thịnh vượng, hội nhập thành công và đoàn kết Cho đến nay, hợp tác GMS đã, đang ngày một phát triển theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trên nhiều lĩnh vực bao gồm: (i) Giao thông vận tải; (ii) Năng lượng; (iii) Môi trường; (iv) Du lịch; (v) Bưu chính viễn thông; (vi) Thương mại; (vii) Đầu tư; (viii) Phát triển nguồn nhân lực; (ix) Nông nghiệp và phát triển nông thôn;…

Với vị trí chiến lược và vai trò to lớn trong hợp tác và phát triển khu vực, GMS nhận được rất nhiều sự quan tâm của các tổ chức quốc tế như ADB,

WB, IMF, UNESCAP… và nhiều nước trên toàn thế giới như Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, các nước Bắc Âu… Điều này được thể hiện rất rõ qua các số liệu về sự huy động vốn vào Hợp tác GMS trong 18 năm qua: đạt gần

200 dự án hợp tác kỹ thuật được triển khai với tổng nguồn vốn đầu tư hơn 223 triệu USD và 47 dự án cho vay với tổng vốn là gần 11 tỷ USD

Một trong những đối tác có ảnh hưởng rất lớn ngay từ khi khởi động Hợp tác GMS đó chính là Nhật Bản Bởi lẽ, Nhật Bản không chỉ dừng lại trong

Trang 14

Với mục tiêu làm rõ hoạt động của GMS, nhất là vai trò của Nhật Bản trong việc thúc đẩy hợp tác GMS và đưa ra các khuyến nghị, gợi mở chính sách nhằm tranh thủ sự hỗ trợ của Nhật Bản một cách có hiệu quả, tôi đã chọn

đề tài “Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công

mở rộng” cho luận văn thạc sỹ

Sáng kiến Hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng chính thức được khởi xướng vào năm 1992 và cho đến nay được đánh giá là một trong những dự án hợp tác khu vực đạt được nhiều thành công Sự ra đời và phát triển của GMS

đã nhận được sự quan tâm không chỉ dừng lại ở các cấp lãnh đạo của các nước trong vùng, các đối tác lớn của khu vực và thế giới mà còn của các nhà

nghiên cứu, các học giả trong và ngoài nước

Có rất công trình nghiên cứu ở nước ngoài về GMS, từ nghiên cứu tổng thể đến nghiên cứu từng lĩnh vực hợp tác và các dự án then chốt trong nhiệm

vụ kết nối GMS “Trade Facilitation Handbook for the Greater Mekong Subregion” của UNESCAP năm 2002, “Sustainale development strategies in the Greater Mekong Subregion: Status, Needs and Directions” Cielito F.Habito và Ella S.Antonio nghiên cứu vào năm 2007, “Energy sector in the Greater Mekong Subregion” do ADB phát hành năm 2008, đã làm rõ những

tiềm năng, cơ hội và nội dung hợp tác trong khu vực, đồng thời gợi ý các định hướng, chính sách thúc đẩy phát triển hợp tác trong các lĩnh vực đó trong tổng thể hợp tác kinh tế GMS Nghiên cứu về vai trò của chính sách thương mại và

Trang 15

3

đầu tư vào khai thác công nghệ thông tin và truyền thông cho sự phát triển

của tiểu vùng GMS là nghiên cứu của ESCAPE năm 2004 “Trade and investment policies for the development of the information and communication technology sector of the Greater Mekong Subregion”

“Border area development in the GMS: Turning the periphery into the center

of growth” năm 2009 của Toshihiro Kudo thuộc Viện Kinh tế phát triển Nhật

Bản nghiên cứu về vai trò, vị trí, ý nghĩa kinh tế của khu vực biên giới và các

khu công nghiệp đặc biệt “Strategy and action plan for the Greater Mekong Subregion East – West economic corridor” do ADB phát hành năm 2010

nghiên cứu về tầm quan trọng và giá trị kinh tế - xã hội khi Hành lang kinh tế Đông – Tây được hoàn thành và sự thay đổi trong các chiến lược và kế hoạch hành động qua hai giai đoạn từ khi bắt đầu sáng kiến đến năm 1998 – 2001,

2001 – 2008 và triển vọng Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn đóng góp rất nhiều sáng kiến có giá trị thông qua các buổi hội thảo quốc tế về GMS như: Hội thảo quốc tế do ADB tổ chức tại Nhật Bản, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc…

Trên phương diện nghiên cứu về các thành tố tạo nên sự gắn kết hợp tác kinh tế giữa các nước GMS và đi sâu vào các nội dung hợp tác cụ thể, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thu được nhiều kết quả có giá trị, thể hiện qua các công trình như: Đề tài nghiên cứu của Viện nghiên cứu Thương mại, Bộ

Thương mại năm 2005 “Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại của Việt Nam với các nước Tiểu vùng Mê Công” nghiên cứu chủ yếu về lĩnh vực thương mại GMS “Hợp tác GMS trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các hành lang kinh tế: Trường hợp hành lang kinh tế Đông Tây và Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng” của TS Nguyễn Thị Hồng Nhung, nghiên

cứu tập trung vào hai hành lang kinh tế quan trọng của Hợp tác kinh tế GMS

“Trung Quốc với việc tham gia Hợp tác Tiểu Vùng Mê Công mở rộng” của

Trang 16

4

PGS TS Đỗ Tiến Sâm chủ yếu đề cập tới quá trình tham gia và vai trò của Trung Quốc vào hợp tác kinh tế GMS Ngoài ra, còn có các báo, tạp chí, tài liệu, tham luận của Hội thảo về Hành lang kinh tế Côn Minh – Hải Phòng tại Lào Cai năm 2005, Hội thảo trong nước về GMS và hành lang kinh tế Đông –

Tây tại Đà Nẵng 2008, Hội thảo khoa học quốc tế “Nhật Bản và các nước Tiểu vùng Mê Công – Mối quan hệ lịch sử” tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010… đã bàn luận khá nhiều về chủ đề này

Về nghiên cứu tổng thể GMS, một số công trình tiêu biểu như: Nguyễn

Trần Quế với cuốn sách “Hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê Công mở rộng – Hiện tại và tương lai” xuất bản năm 2007 Luận án Tiến sĩ của Hoàng Viết Khang “Hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng: Hiện trạng, Định hướng và Giải pháp” năm 2009, xem xét một cách toàn diện về Hợp tác kinh tế GMS,

xác định rõ định hướng và đưa ra các giải pháp chủ yếu thúc đẩy hợp tác kinh

tế GMS đồng thời gợi mở một số chính sách cho Việt Nam nói riêng; và

những tài liệu được cung cấp trong buổi Hội thảo “GMS: Những vấn đề cần nghiên cứu và hợp tác” tại Hội An, tháng 9/2004

Mặc dù hợp tác GMS đã được quan tâm và đầu tư nghiên cứu từ tổng thể đến từng nội dung trong hợp tác kinh tế, thậm chí đề cập đến cả vai trò của một số nước trong hợp tác GMS, song cho đến nay ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về vai trò của Nhật Bản trong việc hỗ trợ phát triển hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng trong khi Nhật Bản

đã và đang là đối tác lớn, hỗ trợ tích cực để phát triển khu vực này Vì thế, việc đi sâu tìm hiểu phân tích nội dung này là hết sức cần thiết, không chỉ ở khía cạnh lý luận hợp tác tiểu vùng mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với các

nước, nhất là với Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

Mục đích nghiên cứu:

Trang 17

5

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích và đánh giá vai trò của Nhật Bản trong hợp tác GMS, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản và các thành viên trong GMS, và gợi ý cho Việt Nam từ nay đến 2022

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể nghiên cứu như sau:

- Làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về hợp tác tiểu vùng nói chung, GMS nói riêng

- Phân tích thực trạng hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản và các thành viên trong GMS từ năm 1992 cho đến nay và đánh giá vai trò của Nhật Bản

- Dự báo triển vọng phát triển về sự hợp tác giữa Nhật Bản và GMS đến năm 2022 và nêu lên các khuyến nghị nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế GMS nói chung, Việt Nam nói riêng

Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu các quan điểm, chính sách và thực trạng và vai trò của Nhật Bản trong hợp tác GMS

Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu thực trạng hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản trong sự

hỗ trợ, đẩy mạnh phát triển hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng trong giai đoạn từ năm 1992 cho đến nay Bên cạnh đó, các chính sách và tác động của các lĩnh vực khác như chính trị, an ninh sẽ được đề cập ở những mức độ cần thiết để làm rõ vai trò của Nhật Bản trong hợp tác GMS

Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, tổng hợp, phân tích thống kê, so sánh, phương pháp liên ngành khoa học

xã hội Các tư liệu và dữ liệu sử dụng cho luận văn chủ yếu là những tư liệu

Trang 18

6

của các ấn phẩm đã được công bố, cũng như các bài tham luận trong các cuộc hội thảo về GMS

Luận văn có những đóng góp cụ thể như sau:

- Góp phần hệ thống hoá một số nội dung lý luận và thực tiễn về hợp tác khu vực, đồng thời làm rõ các quan điểm, chính sách và vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng

- Nêu lên các khuyến nghị nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Nhật Bản và các nước thành viên của GMS hiện nay và trong thời gian tới

Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng và quan điểm của Nhật Bản

Chương 2 Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác song phương và với toàn

bộ Tiểu vùng Mê Công mở rộng

Chương 3 Triển vọng và một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy hợp tác kinh

tế Nhật Bản và Tiểu vùng Mê Công mở rộng

Trang 19

1.1.1 Hợp tác & hội nhập kinh tế khu vực trong bối cảnh mới

Hợp tác kinh tế khu vực là quá trình mà hai hay nhiều nước theo đuổi mục đích chung hoặc mục tiêu phát triển chung thông qua các hoạt động chung, phối hợp và đồng bộ Hợp tác kinh tế khu vực nói chung bao gồm các hoạt động hợp tác theo từng nội dung cụ thể với các chương trình và dự án hợp tác kinh tế trong vùng

Chương trình hợp tác kinh tế khu vực hoặc khung khổ hợp tác kinh tế khu vực là tập hợp các tầm nhìn, mục tiêu, chiến lược và các nguyên tắc định hướng cho các hành vi và hoạt động của các quốc gia tham gia chương trình hoặc khung khổ hợp tác đó

Dự án hợp tác kinh tế khu vực là dự án bao gồm hai hay nhiều quốc gia mong muốn thực hiện nhằm đạt được mục đích phát triển chung thông qua các hoạt động chung hoặc cùng phối hợp vì mục tiêu, kết quả chung

Hội nhập kinh tế khu vực là quá trình các nước trong khu vực thực hiện

mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá thương mại, đầu tư; các nền kinh tế khu vực được kết nối với nhau một cách chặt chẽ thông qua việc di chuyển các nguồn lực

Hội nhập kinh tế khu vực được dẫn dắt bởi thị trường (thị trường lớn hơn

và trao đổi nhiều hơn, tăng cường thương mại có thể không cần đến thỏa thuận thương mại) và được dẫn dắt bởi chính sách thông qua các thỏa thuận hợp tác như AFTA, ASEAN+, FTA (các nước đồng ý dỡ bỏ hàng rào thuế quan đối với hàng hoá và dịch vụ…)

Trang 20

8

Hội nhập kinh tế quốc tế là sự kết nối các nền kinh tế khác nhau, với nhiều đặc trưng khác nhau, hình thành từng bước hệ thống kinh tế liên kết quốc gia với mức độ khác nhau Đó là quá trình gắn nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hoá

và mở cửa ở các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Như vậy, thực chất của hội nhập là chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá

Hội nhập kinh tế quốc tế thường có hai nội dung chính: Một là, ký kết và

tham gia các định chế và các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết

đối với từng thành viên của các định chế, tổ chức đó Hai là, tiến hành những

cải cách ở trong từng nước để có thể thực hiện các quy định, cam kết quốc tế

về hội nhập kinh tế như mở cửa thị trường, giảm và tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với quá trình

mở cửa và tự do hoá kinh tế, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chúng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình hội nhập, xây dựng các thể chế tương thích

Trường phái lý thuyết thể chế, xem hội nhập như là một quá trình hướng tới và sản phẩm cuối cùng là sự thống nhất về chính trị giữa các quốc gia riêng lẻ Chủ nghĩa liên bang quan niệm hội nhập là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình Sản phẩm đó là sự hình thành một nhà nước liên bang, siêu quốc gia Những người theo quan điểm này thường chú ý đến khía cạnh pháp luật, thể chế Chẳng hạn, theo Joshua S Goldstain, hội nhập quốc tế là một quá trình theo đó các thể chế siêu quốc tế sẽ dần thay thế cho các thể chế quốc gia, tức là chuyển dần dần chủ quyền quốc gia sang cho các thể chế khu vực hoặc toàn cầu

Trang 21

9

Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, hội nhập là một quá trình kết hợp giữa các quốc gia riêng rẽ vào một chỉnh thể nhất định, đó cũng là quá trình thiết lập các cấu trúc mới và thể chế hoá các quan hệ giữa các quốc gia Hội nhập

là một trạng thái của một chỉnh thể mới với cơ cấu, luật lệ riêng hình thành thể chế liên quốc gia Theo đó, khi tham gia vào một chủ thể nào đó, các quốc gia phải chấp nhận nhường một phần chủ quyền và thực thi các luật lệ, thể chế, chuẩn mực của chỉnh thể đó

Hình thức và mức độ hội nhập được thực hiện với các mức độ khác nhau trên các phạm vi đơn phương, song phương, đa phương Ở cấp độ đơn phương, mỗi nước tự mình thực hiện những biện pháp mở cửa, tự do hoá trong những lĩnh vực nhất định có mục tiêu cụ thể chứ không nhất thiết phải tuân thủ những quy định của các định chế, tổ chức kinh tế quốc tế mà họ tham gia Như vậy, mỗi nước tự tìm con đường riêng để tự thích nghi với môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tạo ra môi trường kinh tế và thể chế phù hợp với quá trình hội nhập song phương và đa phương mà đất nước đã và

sẽ cam kết

Hội nhập bao gồm 5 cấp độ:

- Khu vực thương mại ưu đãi (PTA): các bên tham gia thoả thuận có

chính sách thuế quan ưu đãi một phần cho nhau;

- Khu vực thương mại tự do (FTA): các thành viên dỡ bỏ hầu hết các

hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với nhau nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan riêng của mỗi bên đối với các nước ngoài FTA;

- Liên minh thuế quan (CU): các khu vực thương mại tự do mà các thành

viên áp dụng chung chính sách thuế quan đối với các nước không phải thành viên;

Trang 22

10

- Thị trường chung (CM): các nước tham gia hình thành Liên minh thuế

quan đồng thời cho phép sự dịch chuyển tự do của các nhân tố sản xuất

là vốn và lao động;

- Liên minh kinh tế (EC): thị trường chung với các chính sách hài hoà

cao kết hợp với các thể chế chung toàn khu vực để điều phối và thực hiện các biện pháp chính sách kinh tế và hội nhập

Hội nhập toàn cầu và khu vực là xu thế hiện thực khách quan, là quá trình mà hầu hết các khu vực, tiểu khu vực và các quốc gia trên thế giới đều tham gia Do vậy, các nước tiểu vùng GMS cần phải chủ động hội nhập toàn cầu và khu vực nhằm tận dụng các cơ hội to lớn để phát triển Tuy nhiên các nước sẽ phải đương đầu với các thách thức của quá trình này mang lại Hội nhập tiểu vùng GMS thực chất là một khâu trong quá trình hội nhập toàn cầu

và khu vực Hội nhập tiểu vùng GMS không mâu thuẫn với hội nhập toàn cầu

và khu vực mà chỉ bổ sung những gì còn thiếu, giúp giải quyết những gì mà hội nhập toàn cầu và khu vực chưa làm được cho tiểu vùng GMS Đa phần các nước GMS là các nền kinh tế đang phát triển, nghèo nàn, lạc hậu, rất dễ bị ảnh hưởng xấu do không khắc phục được các thách thức của hội nhập mang lại Hội nhập tiểu vùng GMS là hết sức cần thiết vì GMS phối hợp các nỗ lực của các nước nghèo lại với nhau để tăng thêm sức mạnh, nâng cao lợi thế cạnh tranh, phát huy được lợi thế so sánh, tận dụng vốn, công nghệ, kỹ thuật

và kỹ năng quản lý do hội nhập mang lại, đồng thời tạo thêm sức mạnh để đối phó với các thách thức do hội nhập tạo ra, giải quyết các nội dung mang tính đặc thù của GMS Do vậy, các nước GMS phải lựa chọn hình thức và mức độ phù hợp với nền kinh tế của mình đồng thời hình thành chiến lược hội nhập hữu hiệu để tham gia hội nhập ở tất cả các cấp độ nhằm khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế xã hội của từng nước và của cả tiểu vùng GMS

Trang 23

11

1.1.2 Lý thuyết “Đàn nhạn bay” của Akamatsu

Với mô hình “ Đàn nhạn bay”, Akamatsu đã trở thành lý thuyết gia nổi tiếng của Nhật Bản những năm 1930 Bằng việc mô tả quá trình công nghiệp hóa của Nhật Bản và các nước Đông Á, ông đã xây dựng nên mô hình phát triển của khu vực giống như đàn nhạn bay Trong đội hình đó, Nhật Bản đi đầu, tiếp đó là các nền kinh tế mới (NIEs), Đông Nam Á và Trung Quốc Dù ban đầu nghiên cứu của ông ở ngành công nghiệp và coi như liên kết trong nội bộ ngành, song những năm 1940, ông bổ sung thêm tính liên ngành và đặc biệt là tính khu vực và quốc tế của sự liên kết này Điều này cho thấy, ông đã nhận ra tính cần thiết của sự hợp tác không chỉ trong nội bộ ngành, giữa các ngành trong một nước mà mô hình này đã hình thành và tạo nên hiệu ứng mới trong khu vực

Theo Akamatsu, mô hình “Đàn nhạn bay” “… biểu thị sự phát triển sau khi nền kinh tế của nước kém phát triển thiết lập mối quan hệ kinh tế với những nước phát triển” 1

Ở khía cạnh nội ngành, đây là loại hình chủ yếu, ban đầu của mô hình

“Đàn nhạn bay” Akamatsu cho rằng giai đoạn đầu tiên là sản xuất hàng hoá, chủ yếu là hàng tiêu dùng, được nhập khẩu từ bên ngoài Giai đoạn thứ hai, sản xuất trong nước được thực hiện sau khi tiến hành nhập khẩu những nguồn tài nguyên thiên nhiên và máy móc, công cụ để sản xuất Thứ ba là giai đoạn công nghiệp hoá nhằm xuất khẩu khi mà một hệ thống sản xuất bản địa được hình thành

Ban đầu việc nhập khẩu các sản phẩm nước ngoài dẫn đến sự nổi lên của nhu cầu trong nước đối với những sản phẩm đó, vì vậy mà khuyến khích nội địa sản xuất Khi một nền công nghiệp non trẻ trong nước được phát triển đầy

1

Akamatsu Kaname (1962) A historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries In:

The Developing Economies, Tokyo, Preliminary Issue No 1, pp 3-25

Trang 24

12

đủ để sản xuất từ những sản phẩm bán cơ khí thành những sản phẩm cơ khí thì sự thay đổi của những sản phẩm nhập khẩu từ bán cơ khí thành cơ khí cũng diễn ra, như sự tăng lên về khối lượng của những nguồn tài nguyên thiên nhiên được nhập khẩu Khi sản xuất trong nước hoàn toàn vượt quá nhu cầu nội địa, xuất khẩu bắt đầu và sau đó tăng lên

Hình 1.1: Khía cạnh nội bộ ngành của mô hình “Đàn nhạn bay”

Nguồn: Shigehisa Kasahara, The flying geese paradigm: A critical study of its application to East Asia regional development, April 2004

Quần áo sợi bông Máy móc và thiết bị

Trang 25

13

Một ví dụ khác về tầm quan trọng của liên kết nhu cầu trong mô hình của Akamatsu là sự nổi lên của ngành công nghiệp tư liệu sản xuất Khi nhu cầu hàng tiêu dùng nội địa tăng, máy móc cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó sẽ được nhập khẩu từ nước ngoài, nhưng dần sau đó máy móc sẽ được sản xuất trong nước Lý do cho sự nổi lên của việc sản xuất hàng hoá tư liệu sản xuất đều bắt nguồn từ chính nhu cầu nội địa của họ

Khi loại hình cơ bản có thể được áp dụng nhằm hình thành và phát triển,

các ngành công nghiệp trong nước đang phát triển đã đưa đến khía cạnh liên

ngành, Akamatsu đã nhận thức rõ tầm quan trọng của yếu tố nước ngoài ảnh

hưởng đến phát triển kinh tế, đặc biệt là công nghệ và kiến thức nước ngoài giúp sản xuất trong nước Thay vì sử dụng một yếu tố trong sản xuất, Akamatsu thường sử dụng thuật ngữ “seisan shudan” - nguồn lực sản xuất để

đề cập đến cả những tư liệu sản xuất vật chất và phi vật chất, đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của chúng trong cơ cấu công nghiệp của một nền kinh tế nói chung Sự phát triển của nguồn lực sản xuất dẫn đến sự xuất hiện tiếp theo của các ngành công nghiệp và các sản phẩm khác nhau, phản ánh khía cạnh liên ngành của mô hình “Đàn nhạn bay”

Khía cạnh quốc tế của mô hình này, các phép ẩn dụ nhạn bay vẫn có ý

nghĩa và được sử dụng một cách phổ biến cho đến tận ngày nay Akamatsu viết rằng “các nước trên thế giới tạo thành một đàn nhạn bay từ nước phát triển tới nước kém phát triển hơn”

Trong khi các quốc gia đi theo cố gắng đạt được sự đồng nhất với cấu trúc kinh tế của các nước phát triển, thì các quốc gia dẫn đầu lại luôn muốn duy trì tính không đồng nhất thông qua đổi mới công nghệ Do đó, Akamatsu chỉ ra rằng mô hình “Đàn nhạn bay” không phải là đặt ra một quá trình ổn định của sự phát triển Các nước không phải duy trì một tốc độ giống nhau, nhưng có thể tiềm ẩn cùng một lúc và tiến bộ ở những thời điểm khác nhau

Trang 26

14

Khi các nước phát triển quá độ hoặc tăng tốc sự tiến bộ kinh tế của mình, cũng sẽ ảnh hưởng tới các nước kém phát triển hơn Xem xét khía cạnh liên kết chính là cơ cấu thứ bậc - đặc điểm nổi bật nhất của mô hình này

Hình 1.2: Khía cạnh liên ngành và quốc tế của mô hình “Đàn nhạn bay”

Nguồn: Shigehisa Kasahara, The flying geese paradigm: A critical study of its application to East Asia regional development, April 2004.

Đối với một nước cụ thể

Trang 27

Triết lý phát triển theo mô hình “Đàn nhạn bay” mà Akamatsu khởi xướng đã được thực tế của Đông Á minh chứng một cách khá thuyết phục Sự gia tăng các mối quan hệ của Nhật Bản với các nước không chỉ là điều kiện thuận lợi để các nước trong khu vực phát triển mà còn tạo nên một mạng lưới phân công lao động sâu rộng trong vùng Chính mạng lưới sản phẩm (production network) khu vực được tạo lập đã làm gia tăng sự phụ thuộc và hợp tác của các nền kinh tế Trong điều kiện liên kết đó, mô hình “Nhật Bản hoá” càng trở nên rõ nét hơn với việc Nhật Bản có ảnh hưởng khá sâu sắc đối với các nước không chỉ ở khía cạnh sản xuất sản phẩm, tiêu dùng hàng hoá

mà cả phong cách quản lý, văn hoá doanh nghiệp… Mô hình phát triển kinh

tế của Nhật Bản đã là hình mẫu để nhiều nước học tập tham khảo Đi đôi với

Trang 28

16

kinh tế là sự gia tăng liên kết hợp tác an ninh, chính trị và mở rộng giao lưu văn hoá

1.1.3 Lý thuyết “Chu kỳ rượt đuổi sản phẩm” của Kojima Kiyoshi

Bằng cách tiếp cận từ khía cạnh phân công lao động quốc tế và sự kết

hợp mô hình “Đàn nhạn bay’’ của Akamatsu và “Chu kỳ sản phẩm” của

Vernon, năm 1973, Kojima đã đưa ra thuyết “Chu kỳ rượt đuổi sản phẩm” (CPC) Theo đó mô hình CPC gồm 5 giai đoạn: nhập khẩu-sản xuất-xuất khẩu -chín muồi-tái nhập khẩu Đây là một quá trình rượt đuổi liên tục và chính phủ có vai trò rất lớn Đồng thời, những lợi thế của của quá trình này không những sẽ được tạo ra mà còn có khả năng tạo lập những lợi thế mới Những lợi thế đó đặt trong mối quan hệ hợp tác quốc tế sẽ cho phép tạo ra sự phân công mới và để làm được điều đó hợp tác giữa các nước là hết sức cần thiết

Lý thuyết “Chu kỳ rượt đuổi sản phẩm” của Kojima đã đối lập các tiếp cận vi mô trong tư tưởng của Akamatsu và kết hợp những ý tưởng của Akamatsu với quan điểm kinh tế vĩ mô của lý thuyết “Tỷ lệ yếu tố sản xuất” Đồng thời, đưa vấn đề đầu tư nước ngoài vào mô hình “Đàn nhạn bay”, mở rộng những mô tả ban đầu về mô hình “Đàn nhạn bay” của Akamatsu, thêm vào giai đoạn kết hợp sản xuất và xuất khẩu giảm với sự gia tăng sản xuất ở nước ngoài và nhập khẩu ngược trở lại từ những nước đi sau, kém phát triển hơn

Kojima diễn giải một cách rõ ràng lý thuyết “Chu kỳ rượt đuổi sản phẩm” của ông như một sự phân tích năng động về phân công lao động quốc

tế Những quyết định đầu tư, theo Kojima, nên dựa trên lợi thế so sánh tương

đối có triển vọng trong giai đoạn phát triển tiên tiến hơn, hơn là dựa trên lợi thế so sánh tương đối hiện tại của chúng Do đó, ông cho rằng, “Heckscher-

Ohlin-Samuelson cho các yếu tố sản xuất dịch chuyển giữa các nước là sự

Trang 29

17

tham khảo tốt nhất đối với cách thức tư duy “tương đối”, phân tích đầu tư

quốc tế phải tính đến những tác động luôn thay đổi và không bị hạn chế trong

khuôn khổ định lý H-O-S bất biến” Tuy nhiên, sự phát triển năng động này

đúng hơn là kết quả của sự kết nối và tương tác lẫn nhau giữa nhập khẩu và

sản xuất trong nước và theo như quan điểm ban đầu của Akamatsu, do có sự

chuyên môn hoá của các nước tham gia thị trường thế giới hoặc vùng

Hình 1.3: Các giai đoạn phát triển của mô hình CPC

Nguồn: Ippei Yamazawa, Flying wild-geese in the Pacific: Patterns of industrial

development among Asian countries, November 1990

B

C

A

M/D 0,5

V

IV III

Trang 30

18

Phần A minh hoạ các giai đoạn phát triển trong mô hình CPC của một ngành công nghiệp nhất định với 4 đường cong: nhập khẩu (M), cung nội địa (S), cầu nội địa (D) và xuất khẩu (X) của một ngành công nghiệp hiện đại Trong đó, D = S + M – X Khi sản xuất trong nước chưa phát triển thì D ≈ M Phần B mô tả sự thay đổi của hai tỷ lệ quan trọng trong quá trình phát triển của CPC, nhập khẩu/cầu (M/D) và xuất khẩu/sản xuất (X/S), chúng thường được sử dụng như những chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của một ngành công nghiệp Khi M/D = 1, sản phẩm được nhập khẩu hoàn toàn

Khi X/S > 0, sản xuất trong nước bắt đầu được xuất khẩu Trên sơ đồ này, xuất khẩu chỉ bắt đầu sau khi nhập khẩu kết thúc nhưng trên thực tế xuất khẩu và nhập khẩu về cùng một loại sản phẩm có thể xảy ra đồng thời Có nghĩa là trong khi việc nhập khẩu các sản phẩm có chất lượng cao và kỹ thuật tinh vi hơn vẫn đang diễn ra thì xuất khẩu các sản phẩm với chất lượng thấp hơn đã có thể bắt đầu

Đồ thị C mô tả CPC bằng đường cong của tỷ lệ Cung/Cầu (S/D), 5 giai đoạn phát triển: giới thiệu, thay thế nhập khẩu, xuất khẩu, bão hoà và nhập khẩu trở lại, được phân biệt bởi các giá trị cụ thể của S/D Những đặc điểm chính của 5 giai đoạn sẽ tiếp tục

Tại giai đoạn giới thiệu, một sản phẩm mới được đưa ra thông qua việc nhập khẩu từ nước phát triển và nhu cầu nội địa bắt đầu tăng dần lên Cung trong nước bắt đầu thông qua việc bắt chước hoặc vay mượn công nghệ Tuy nhiên lúc này sản phẩm nội địa không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu bởi chất lượng thấp hơn mà chi phí sản xuất thì lại cao hơn

Trong giai đoạn thay thế nhập khẩu, cầu nội địa tăng nhanh và nhập khẩu

có dấu hiệu giảm Công nghệ sản xuất bắt đầu được tiêu chuẩn hoá và sản xuất trên quy mô lớn hơn được thiết lập, vì vậy mà cung trong nước thay thế nhập khẩu bằng việc cải thiện chất lượng và giá rẻ hơn

Trang 31

19

Trong giai đoạn xuất khẩu, khi sản xuất trong nước đã hoàn toàn đáp ứng nhu cầu nội địa và có dư thừa thì sản phẩm bắt đầu được xuất khẩu ra nước ngoài Tuy nhiên, cầu nội địa giảm, xuất khẩu tăng và duy trì tăng sản xuất vì

có sự cải thiện hơn nữa về kỹ thuật, năng suất, giá thành và cùng với việc khám phá ra các thị trường xuất khẩu mới

Trong giai đoạn bão hoà, cả cầu nội địa và xuất khẩu giảm, làm giảm mở rộng sản xuất Xuất khẩu bắt đầu giảm khi phải đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới của những sản phẩm tương tự của các nước theo sau

Cuối cùng là giai đoạn nhập khẩu trở lại, sản phẩm của các nước theo sau

rẻ hơn với chất lượng tốt, bắt đầu được nhập khẩu và thay thế sản phẩm nội địa, cuối cùng dẫn đến sự suy giảm sản xuất nội địa

Về sau nhiều học giả Nhật Bản như: Shinohara M, Yamazawa I, Ryutaro Komiya đã viết nhiều cuốn sách để cụ thể hóa quan điểm của Kojima, minh chứng và lý giải sự phát triển của các nước đang diễn ra Có thể đồng tình với đánh giá rằng “Theo quan điểm của các học giả Nhật Bản từ những năm

1970, mô hình CPC là đặc trưng điển hình cho sự phát triển của các nền kinh

tế Đông Á” với 5 giai đoạn: nhập khẩu, sản xuất, xuất khẩu, chín muồi và tái nhập khẩu đã được khái quát từ thực tế phát triển kinh tế của Nhật Bản

và các nước Đông Á đã được người ta gọi nó dưới một cái tên mới là “Mô hình Đông Á” Có thể coi các quan điểm của Akamatsu và Kojima là những người đầu tiên mô hình hoá sự phát triển kinh tế Đông Á và cũng là những học giả nhấn mạnh sự cần thiết liên kết kinh tế khu vực này Dù là những quan điểm của các nhà lý luận kinh tế song đây cũng chính là cơ sở lý thuyết quan trọng về liên kết Đông Á mà sau này Nhật Bản đã vận dụng

Trang 32

20

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Sự cần thiết của việc ra đời và phát triển GMS

1.2.1.1 Bối cảnh quốc tế mới

Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, thế giới bước sang thời kỳ mới với diện mạo mới Đây là kết quả của sự thay đổi cục diện chính trị toàn cầu và xu thế toàn cầu hoá kinh tế mạnh mẽ Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới từ “hai cực” trở thành thế giới của “nhất siêu đa cường” và tương quan lực lượng giữa các nước lớn có nhiều thay đổi đã khiến cho các quốc gia đều nhận thấy sự cần thiết phải thể chế hoá các quan hệ quốc tế trong khu vực và trên thế giới Đồng thời, tiến trình hội nhập liên tục của các chủ thể kinh tế lớn nhỏ, với vật dẫn là quá trình chuyên môn hoá và phân công lao động sâu rộng đến từng khâu nhỏ nhất của hoạt động tái sản xuất Quá trình này dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc trong quan hệ kinh tế quốc tế dưới tác động đồng thời của các chủ thể: quốc gia, khu vực, các tổ chức kinh tế quốc tế và các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) Vì vậy, việc liên kết các quốc gia có cùng vị trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế và sự tương đồng về văn hoá, hình thành một

“siêu nhà nước” như EU, hay tạo dựng các khu vực mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA, hay ở phạm vi nhỏ hơn là hợp tác kinh tế tiểu khu vực SREZ điển hình là các tam giác tăng trưởng ở ASEAN và Tiểu vùng Mê Công mở rộng, đang thành một hướng đi chủ đạo của các nước

a) Sự thay đổi cục diện chính trị và an ninh quốc tế

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, các quốc gia đều có một mục tiêu chủ đạo là đảm bảo an ninh nhằm chống lại sự can thiệp, lật đổ từ bên ngoài, do

đó việc thỏa hiệp giữa các quốc gia là rất khó khăn Nhưng sau khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, cục diện thế giới thay đổi với xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển Và khu vực Đông Nam Á cũng không nằm ngoài xu thế này

Trang 33

21

Sau 30 năm chiến tranh xâm lược và nội chiến, các nước trong vùng đã

có những bước chuyển dần sang giai đoạn ổn định chính trị, với mục tiêu hàng đầu là phát triển kinh tế Và dù theo những ngả đường phát triển khác nhau, các nước trong GMS đều nỗ lực kiến tạo môi trường chính trị thuận lợi, coi trọng mở cửa hợp tác và xác định cơ sở hợp tác là duy trì hoà bình và ổn định khu vực Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch – tập trung sang nền kinh tế thị trường ở một số nước như Việt Nam và Lào đã đạt được những kết quả tích cực Thái Lan, Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia đều là thành viên chính thức của ASEAN, đều có lợi ích chung trong hợp tác phát triển tiểu vùng Trung Quốc cũng là nước đối thoại của ASEAN, là thành viên của Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) và đang đặt trọng tâm nỗ lực phát triển vùng Tây Nam (Trung Quốc)

Môi trường khu vực trong xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác tiến triển

mở ra nhiều cơ hội và triển vọng to lớn thúc đẩy hợp tác tiểu vùng Những lợi ích chung là nền tảng phát triển những mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đặc biệt là hợp tác phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và phòng chống ma tuý…

Sự ổn định khu vực là điều kiện cần thiết cho các nước tiến hành các hoạt động hợp tác khu vực và tiểu khu vực

b) Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá ngày càng gia tăng mạnh mẽ

Hội nhập kinh tế thế giới đã và đang thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá

Dưới tác động của thành tựu cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại như công nghệ thông tin, viễn thông với vai trò truyền dẫn, kết nối các quan

hệ kinh tế, như công nghệ nano, công nghệ gen giúp con người có thể thực hiện những điều mà trước đây không thể… Cùng với sự chi phối mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia trong chiến lược hoạt động của chúng như chiến lược cắm nhánh – mở rộng sản xuất toàn cầu, tạo điều kiện cho các

Trang 34

sự trở thành xu thế nổi trội trong nền kinh tế thế giới

Các dòng hàng hoá, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân lực… ngày càng được lưu thông trên toàn cầu một cách tự do hơn Sự liên kết của các nước trên thế giới tạo thành các luồng phân phối lưu thông, các nguồn lực kinh tế toàn cầu, nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập với nhau Chỉ trong thập kỷ 90, tốc độ tăng trưởng bình quân của thương mại quốc tế đã đạt 6,25%, cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng kinh tế trong cùng thời

kỳ Và tỷ lệ xuất nhẩu thế giới trên GDP tăng dần qua các năm từ năm 1985 –

2008, chỉ có năm 2009 do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu thì thương mại thế giới giảm nhanh hơn GDP

Trong lịch sử kinh tế thế giới, thì làn sóng hội nhập kinh tế khu vực được bùng nổ với nhiều biểu hiện mới về quy mô, mức độ và phạm vi tự do hoá sau khi WTO chính thức ra đời vào năm 1995 Tính đến tháng 1 năm 2005 có 312 hiệp định thương mại khu vực RTA được các nước thành viên thông báo tới GATT/WTO, trong đó 170 RTA còn hiệu lực Đến tháng 12 năm 2006, đã có thêm 55 RTA được thông báo, nâng tổng số RTA được thông báo và còn hiệu lực lên 214 Tính trung bình mỗi năm trong hệ thống WTO có 11 RTA hình thành, so với con số trung bình dưới 3 RTA trong hơn bốn thập kỷ hiệu lực của GATT (1947 – 1994) là đã gấp hơn 3 lần Tính đến tháng 8 năm 2009,

Trang 35

một trong những yếu tố khách quan có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề cần thiết phải hợp tác khu vực, tiểu khu vực và hợp tác song phương

Khung khổ pháp lý của GATT/WTO hiện nay chưa đủ để điều tiết một loạt vấn đề mới trong quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay như hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thương mại dịch vụ, dịch chuyển lao động hay các vấn đề thương mại mới Vòng đàm phán Đôha hiện đang bế tắc vì nội dung vòng đàm phán đã được mở rộng sang những lĩnh vực phi thuế quan và ngoài phạm vi thương mại thuần tuý nêu trên Các nước phát triển và đang phát triển không nhất trí được với nhau về: vấn đề trợ cấp nông sản, tiêu chuẩn lao động và môi trường Trong nhóm các nền kinh tế phát triển, mà tiêu biểu là

Mỹ và EU, cũng bất đồng về chương trình nghị sự của Vòng đàm phán Đôha, đặc biệt trong trong “các vấn đề Singapore”, gồm (1) Minh bạch trong mua sắm chính phủ, (2) Thuận lợi hoá thương mại, (3) Chính sách đầu tư và (4) Chính sách cạnh tranh

Thực tiễn thành công trong hội nhập kinh tế khu vực của EU trong suốt nửa sau thế kỷ XX

Cộng đồng Châu Âu (EC) mà sau này là Liên minh Châu Âu (EU) – là một ví dụ thực tiễn điển hình, đầy thuyết phục về hội nhập kinh tế khu vực trong nền kinh tế thế giới – đã thành công trong liên kết kinh tế khu vực thông qua hình thành các hiệp định thương mại tự do khu vực và phát triển thành liên minh thuế quan, rồi liên minh kinh tế và chính trị Bắt đầu vào năm 1948,

2

TS Bùi Trường Giang, Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á, 2010,

tr 98-99

Trang 36

Hơn 50 năm qua, EU đã không ngừng phát triển, đóng một vai trò quan trọng trong hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị và an ninh đối với thế giới nói chung và cho từng nước thành viên nói riêng, chiếm khoảng 1/3 tổng GDP toàn thế giới Trong hoạt động thương mại và đầu tư, EU luôn giữ vị trí đứng đầu trong các nền kinh tế thế giới, kể cả năm 2009 – năm mà nền kinh tế

EU rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng bởi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu bắt đầu tại Mỹ vào tháng 8 năm 2008 thì thị phần thương mại trên thế giới của EU vẫn chiếm tới 18,7%; đầu tư trực tiếp nước ngoài vào và ra của EU tương ứng là 761,1 tỷ € và 774,1 tỷ € Đồng EURO của EU ngày càng có sức mạnh trong nền kinh tế, được sử dụng phổ biến hơn trong giao dịch quốc tế và là đồng tiền dữ trự ngoại hối của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Đông Âu Trong những năm qua, cùng với quá trình nhất thể hóa và những bước tiến tới một liên minh chính trị đã và đang đem lại cho EU một sức mạnh kinh tế và chính trị rất lớn trên thế giới

EU ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu EU là một trung tâm kinh tế hùng mạnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ổn định Năm 1998, trong khi cơn bão tài chính tiền tệ làm nghiêng ngả nền kinh tế thế giới thì EU – khu vực ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng - vẫn tiếp tục phát triển Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2008

đã làm cho nền kinh tế Châu Âu thực sự bước vào giai đoạn suy thoái sâu Nhưng sự kết hợp các biện pháp chung và biện pháp riêng của từng quốc gia

Trang 37

25

thành viên, thì tính đến nay EU đã thoát khỏi khủng hoảng và có những dấu hiệu tích cực dựa vào sự hồi phục của nền kinh tế toàn cầu, tuy nhiên khả năng phục hồi còn yếu Tóm lại, sự ổn định của kinh tế EU được xem là một trong các nhân tố chính giúp cho nền kinh tế thế giới tránh được nguy cơ suy thoái toàn cầu

1.2.1.2 Vai trò của GMS đối với các nước thành viên

Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) là khu vực bao gồm lãnh thổ của các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, lấy dòng Mê Công làm yếu tố chính để hình thành hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng Đến năm 2005, GMS bổ sung thêm tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc, tạo thành khu vực kết nối 6 thành viên GMS

Hợp tác kinh tế GMS được hình thành dựa vào các yếu tố sau: Các nước GMS có đường biên giới liền kề, có nhiều nét tương đồng thể hiện ở chỗ xuất phát điểm phát triển kinh tế, xã hội thấp; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển; thiếu vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại, thiếu cán bộ được đào tạo tốt; thị trường rộng lớn, tiềm năng phát triển nhiều; bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là yêu cầu chung của các quốc gia tiểu vùng Vai trò thứ nhất mà hợp tác kinh tế GMS mang lại cho tất cả các thành viên đó chính là tận dụng lợi thế của từng thành viên, phát huy và kết hợp với nhau, hợp tác cùng có lợi nhằm phát triển kinh tế từ phạm vi địa phương, quốc gia, khu vực và liên khu vực Thông qua việc triển khai các dự án trong

9 lĩnh vực hợp tác cơ bản của GMS, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hợp tác

và phát triển kinh tế lâu dài, từ xây dựng cơ sở hạ tầng cứng đến cơ sở hạ tầng mềm như xây dựng các hành lang kinh tế bên cạnh việc ký kết các Hiệp định Giao thông vùng biên (Hỗ trợ thực hiện Kế hoạch hành động tạo thuận lợi cho vận tải và thương mại TTF trong GMS đã được ADB phê duyệt vào 26/11/2010 nhằm mục đích cải thiện quản lý biên giới, thủ tục quá cảnh, mở

Trang 38

là những người dân sống phụ thuộc vào sông Mê Công và cốt lõi là hướng tới

sự phát triển kinh tế bền vững của các thành viên nói chung Vai trò này có nhiều nét tương đồng với nhiệm vụ của Uỷ hội Sông Mê Công – MRC

Trong quá trình ngày càng lớn mạnh của tiểu vùng, sự phát triển và thịnh vượng trong khối hợp tác sẽ là một trong những điều kiện tốt giúp các nước cùng chia sẻ các thách thức của môi trường kinh tế - chính trị, tăng khả năng đối phó với các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và toàn cầu Nói tóm lại, hợp tác khu vực nói chung và hợp tác GMS nói riêng chính

là một trong những giải pháp cần thiết cho bài toán về phát triển kinh tế của các nước trong vùng

a) Campuchia

Sáng kiến hợp tác GMS giúp cho Campuchia tăng cường vị thế của mình

ở trong khu vực và trên trường quốc tế Campuchia tiếp cận hợp tác kinh tế một cách rất cẩn trọng, chú ý nhiều tới duy trì chủ quyền quốc gia, coi hợp tác kinh tế GMS là cơ hội cùng các nước hợp tác một cách bình đẳng để giải quyết các vấn đề cản trở tới thương mại và hợp tác kinh tế nói chung Họ coi hợp tác kinh tế GMS là phương cách để hợp thức hoá thương mại qua biên giới và tăng cường kiểm soát chủ quyền quốc gia, ủng hộ các nỗ lực cải thiện mạng lưới giao thông, xúc tiến du lịch và phát triển nguồn nhân lực

Tư tưởng của Campuchia tại Hội nghị thượng đỉnh GMS lần thứ nhất tại Phnôm Pênh là chủ chương thực hiện hoá sáng kiến hợp tác kinh tế GMS nhấn mạnh vấn đề phát triển nguồn nhân lực thông qua sáng kiến hình thành

Trang 39

Thứ nhất, hợp tác phát triển GMS được coi là cây cầu nối liền Trung Quốc với lục địa Đông Nam Á và vùng biển Ấn Độ Dương, phù hợp với chiến lược “Đại khai phá miền Tây” và “Một trục hai cánh” của Trung Quốc Thứ 2, hợp tác GMS giúp Trung Quốc, khai thác nguồn nguyên liệu và năng lượng, mở rộng thị trường giúp cho sự “cất cánh” của nền kinh tế Trung Quốc

Tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Trung Quốc trong suốt thời kỳ cải cách cho tới nay đã đạt mức kỷ lục Nếu như năm 1978, GDP của Trung Quốc mới chỉ chiếm 1% tổng sản lượng thế giới, thì đến năm 2009 đạt 12,375%, và GNI đạt 3.881 tỷ USD, vượt Đức để giữ vị trí thứ ba sau Mỹ và Nhật Bản Trung Quốc khôi phục mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm

2008 và tốc độ tăng trưởng GDP đạt 10,3% vào năm 2010, sau khi giảm xuống 9,1% vào năm 2009 3

Mặc dù tốc độ sản xuất năng lượng của Trung Quốc tăng trung bình hàng năm 8% với tổng sản lượng bằng ½ sản lượng của toàn khu vực Châu Á –

3

IMF, World Economic Outlook: Recovery, Risk, and Rebalancing, 2010

Trang 40

28

Thái Bình Dương, nhưng phần trăm nhập khẩu năng lượng cũng không ngừng tăng qua các năm: nếu năm 2002 với 0,9% thì đến năm 2007 đã đạt tới 7,2% Với vị trí địa lý gần gũi và tiềm năng dầu khí, các nước ASEAN nói chung và các nước GMS nói riêng có vai trò đặc biệt trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc Trữ lượng dầu thô của Việt Nam đứng thứ 3 trong ASEAN, sau Inđônêxia và Malaysia Gần đây Thái Lan đã phát hiện ra nguồn dầu thô với trữ lượng được đánh giá lên tới 500 triệu tới 1 tỷ thùng, với 1,27

tỷ m3

khí đốt Myanmar mới phát hiện trữ lượng dầu thô lên tới 3,7 tỷ thùng, khí đốt là 14,42 triệu m3 Rõ ràng, đây là nguồn cung cấp năng lượng rất quan trọng trong khu vực Vì thế, hợp tác trong khuôn khổ GMS sẽ thúc đẩy hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc và các quốc gia trong tiểu vùng

Đồng thời các nước còn lại trong GMS là những nước láng giềng của khu vực Đông Nam Trung Quốc và là thị trường đầy tiềm năng cho khu vực này Đây là những nền kinh tế đang trải qua một giai đoạn tăng trưởng và phát triển mới kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Dung lượng thị trường ngày một tăng, so với năm 1990, dân số của 5 quốc gia này tăng thêm 32,6% vào năm 2009 với tổng số dân là 232,5 triệu người Ngoại trừ Myanmar, các nước trong tiểu vùng đều đạt tốc độ tăng trưởng trung bình xấp

xỉ 7% hoặc cao hơn Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia vẫn có trình độ phát triển thấp và chưa vượt qua ranh giới mốc nghèo Do đó, đối với Trung Quốc nói chung và hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây nói riêng, đây là những thị trường thích hợp để mở rộng thị trường, một yếu tố không thể thiếu đối với phát triển kinh tế

Thứ ba, tham gia hợp tác GMS là một trong những bước đi cụ thể trong việc tăng cường quan hệ hợp tác Trung Quốc – ASEAN, đồng thời là một bộ phận trong chiến lược đa phương hoá quan hệ hợp tác kinh tế, ngăn chặn những rủi ro đối với nền kinh tế Trung Quốc

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình (2008), “Sức mạnh – cơ sở quan trọng tạo lập chính sách Đông Á – Thái Bình Dương của Nhật Bản”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 150(10), Tr 36-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh – cơ sở quan trọng tạo lập chính sách Đông Á – Thái Bình Dương của Nhật Bản”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Năm: 2008
2. Đề tài cấp bộ (2005), Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại của Việt Nam với các nước Tiểu vùng Mê Công, Viện nghiên cứu Thương mại, Bộ Thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại của Việt Nam với các nước Tiểu vùng Mê Công
Tác giả: Đề tài cấp bộ
Năm: 2005
3. Hoàng Thị Minh Hoa, Nguyễn Văn Sơn (2009), “Đóng góp của Nhật Bản trong giải quyết các vấn đề lớn ở khu vực Đông Nam Á những năm 1990”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 153(1), Tr 10- 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp của Nhật Bản trong giải quyết các vấn đề lớn ở khu vực Đông Nam Á những năm 1990”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa, Nguyễn Văn Sơn
Năm: 2009
4. Hội thảo khoa học quốc tế (10/2010), Nhật Bản và các nước Tiểu vùng Mê Công – Mối quan hệ lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản và các nước Tiểu vùng Mê Công – Mối quan hệ lịch sử
5. Hội thảo khoa học quốc tế (11/2010), Xây dựng đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản: Nội dung và Lộ trình, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Trung tâm giao lưu văn hoá Nhật Bản tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản: Nội dung và Lộ trình
6. Đào Việt Hưng (2008), “Mục tiêu của Trung Quốc trong hợp tác GMS”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 150(10), Tr 41-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu của Trung Quốc trong hợp tác GMS”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Đào Việt Hưng
Năm: 2008
7. Hoàng Viết Khang (2009), Hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng: Hiện trạng, Định hướng và Giải pháp, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng: Hiện trạng, Định hướng và Giải pháp
Tác giả: Hoàng Viết Khang
Năm: 2009
8. Phạm Quý Long (2007), “Liên kết Đông Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản: Ý tưởng và hành động”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 132(4), Tr 29-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết Đông Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản: Ý tưởng và hành động”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Phạm Quý Long
Năm: 2007
9. Trần Quang Minh (2007), Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Quang Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2007
10. Nguyễn Quế Nga (2009), “An ninh lương thực ở Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng dưới tác động của biến đổi khí hậu”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 153(1), Tr 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh lương thực ở Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng dưới tác động của biến đổi khí hậu”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Nguyễn Quế Nga
Năm: 2009
11. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2006), Hợp tác GMS trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các hành lang kinh tế: Trường hợp hành lang kinh tế Đông – Tây và Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác GMS trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các hành lang kinh tế: Trường hợp hành lang kinh tế Đông – Tây và Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Năm: 2006
12. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2008), “Những cơ hội và thách thức đối với các nước GMS trong bối cảnh mới của liên kết kinh tế khu vực Đông Á”, Nghiên cứu Trung Quốc, (4), Tr 52-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ hội và thách thức đối với các nước GMS trong bối cảnh mới của liên kết kinh tế khu vực Đông Á”, "Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Năm: 2008
13. Nguyễn Trần Quế (2007), Hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê công mở rộng – Hiện tại và tương lai, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê công mở rộng – Hiện tại và tương lai
Tác giả: Nguyễn Trần Quế
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
14. Phạm Thái Quốc, Trần Văn Duy (2007), “Hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 136(8), Tr 69-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Phạm Thái Quốc, Trần Văn Duy
Năm: 2007
15. Nguyễn Xuân Thắng (2007), “Hợp tác Việt – Lào trong bối cảnh quốc tế mới”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, 135(7), Tr 49-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác Việt – Lào trong bối cảnh quốc tế mới”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Năm: 2007
16. Nguyễn Xuân Thiên (2006), Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở các nước ASEAN và một số gợi ý đối với Việt Nam, Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, (24), Tr 12-16.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
Tác giả: Nguyễn Xuân Thiên
Năm: 2006
1. ADB (2007), Midterm review of the Greater Mekong Subregion strategic framework (2002 – 2012), Philippines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Midterm review of the Greater Mekong Subregion strategic framework (2002 – 2012)
Tác giả: ADB
Năm: 2007
3. ADB (2010), The Greater Mekong Subregional economic cooperation program strategic framework 2012-2022: Background Paper, 16 th GMS Ministerial Conference Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Greater Mekong Subregional economic cooperation program strategic framework 2012-2022: Background Paper
Tác giả: ADB
Năm: 2010
6. ADB (2010), Connecting Greater Mekong Subregion Railways, A Strategy Framework Sách, tạp chí
Tiêu đề: Connecting Greater Mekong Subregion Railways
Tác giả: ADB
Năm: 2010
8. Economic Review (2010), The 2011 Outlook for Japan’s economy, Bank of Tokyo – Mitsubishi UFJ, Vol 5 (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 2011 Outlook for Japan’s economy, Bank of Tokyo – Mitsubishi UFJ
Tác giả: Economic Review
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

12  Bảng 2.12  Chỉ  số  tự  do  kinh  tế  của  các  nước  ASEAN - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
12 Bảng 2.12 Chỉ số tự do kinh tế của các nước ASEAN (Trang 10)
Hình 1.1: Khía cạnh nội bộ ngành của mô hình “Đàn nhạn bay” - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Hình 1.1 Khía cạnh nội bộ ngành của mô hình “Đàn nhạn bay” (Trang 24)
Hình 1.2: Khía cạnh liên ngành và quốc tế của mô hình “Đàn nhạn bay” - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Hình 1.2 Khía cạnh liên ngành và quốc tế của mô hình “Đàn nhạn bay” (Trang 26)
Hình 1.3: Các giai đoạn phát triển của mô hình CPC - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển của mô hình CPC (Trang 29)
Hình 1.4. Thương mại của ASEAN giai đoạn 1990 - 2009 - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Hình 1.4. Thương mại của ASEAN giai đoạn 1990 - 2009 (Trang 44)
Hình 1.5: Thương mại nội vùng các nước GMS giai đoạn 1992 - 2008 - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Hình 1.5 Thương mại nội vùng các nước GMS giai đoạn 1992 - 2008 (Trang 52)
Bảng 2.1. ODA Nhật Bản vào Campuchia giai đoạn 2004 - 2008 - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Bảng 2.1. ODA Nhật Bản vào Campuchia giai đoạn 2004 - 2008 (Trang 68)
Bảng 2.3: ODA Nhật Bản cho Lào giai đoạn 2004 - 2008 - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Bảng 2.3 ODA Nhật Bản cho Lào giai đoạn 2004 - 2008 (Trang 70)
Bảng 2.4. ODA Nhật Bản vào Myanmar - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Bảng 2.4. ODA Nhật Bản vào Myanmar (Trang 71)
Bảng 2.5. Viện trợ ODA của Nhật Bản vào Thái Lan - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Bảng 2.5. Viện trợ ODA của Nhật Bản vào Thái Lan (Trang 72)
Hình 2.1: Vốn Quỹ phát triển Châu Á (ADF) và Vốn vay thông thường  (OCR) trong hợp tác GMS, phân theo quốc gia, giai đoạn 1992 – 2009 - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Hình 2.1 Vốn Quỹ phát triển Châu Á (ADF) và Vốn vay thông thường (OCR) trong hợp tác GMS, phân theo quốc gia, giai đoạn 1992 – 2009 (Trang 74)
Bảng 2.6: Nguồn vốn phân bổ cho các lĩnh vực hợp tác  Lĩnh vực  Tài chính  Tỷ lệ %  Thứ tự - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Bảng 2.6 Nguồn vốn phân bổ cho các lĩnh vực hợp tác Lĩnh vực Tài chính Tỷ lệ % Thứ tự (Trang 75)
Bảng 2.7: Phân bổ vốn theo nhà tài trợ đối với các dự án cho vay - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Bảng 2.7 Phân bổ vốn theo nhà tài trợ đối với các dự án cho vay (Trang 76)
Bảng 2.9: Các dự án thực hiện bằng nguồn vốn của Nhật - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Bảng 2.9 Các dự án thực hiện bằng nguồn vốn của Nhật (Trang 79)
Hình 2.2: Tỷ trọng kim ngạch của các đối tác thương mại chính   của Nhật Bản - Vai trò của Nhật Bản trong hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng
Hình 2.2 Tỷ trọng kim ngạch của các đối tác thương mại chính của Nhật Bản (Trang 89)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w