1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

140 697 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán là một kênh quan trọng trong việc thu hút các nguồn vốn để đầu tư dài hạn vào các khu vực kinh tế có hiệu quả thông qua các công cụ cổ p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -*** -

PHÙNG NAM THÁI

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Phạm Văn Dũng

Hà Nội - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 2

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 2

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài 7

7 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 8

1.1 Khái luận về thị trường chứng khoán 8

1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 8

1.1.2 Cấu trúc của thị trường chứng khoán 10

1.1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán 13

1.1.4 Những khuyết tật của thị trường chứng khoán 16

1.2 Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán và những nhân tố tác động 22

1.2.1 Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán 22

1.2.2 Những nhân tố tác động đến vai trò của nhà nước đối với thị trường chứng khoán 29

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường chứng khoán và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 33

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường chứng khoán 33

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 41

2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 41

2.1.1 Tình hình đấu giá, đấu thầu qua thị trường chứng khoán 42

2.1.2 Tình hình phát hành và niêm yết chứng khoán 44

2.1.3 Tình hình giao dịch chứng khoán 47

Trang 3

2.1.4 Tình hình hoạt động của các tổ chức kinh doanh và dịch vụ chứng khoán

50

2.2 Thực trạng vai trò của nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam 52 2.2.1 Tạo lập các tiền đề cho việc thành lập thị trường chứng khoán 52

2.2.2 Tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán 57

2.2.3 Quản lý và tổ chức thanh tra, giám sát các hoạt động trên thị trường chứng khoán 79

2.3 Đánh giá vai trò của nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam 84

2.3.1 Những thành công 84

2.3.2 Những hạn chế 86

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 94

3.1 Cơ hội và thách thức đối với thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 94

3.1.1 Cơ hội 94

3.1.2 Thách thức 98

3.2 Quan điểm về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 103

3.3 Những giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 108

3.3.1 Xây dựng và hoàn thiện các chính sách, pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế 108

3.3.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực quản lý và giám sát thị trường 110

3.3.3 Nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho thị trường 113

3.3.4 Tăng cung và kích cầu cho thị trường chứng khoán 117

3.3.5 Thành lập và phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm 122

3.3.6 Thu hẹp hoạt động của thị trường tự do, tăng cường tính minh bạch của thị trường 124

3.3.7 Xây dựng công cụ phòng vệ và quản lý rủi ro trên thị trường chứng khoán 126

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

PHỤ LỤC 134

Trang 4

1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

2

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Giá trị vốn hóa thị trường qua các năm 44

Bảng 2.2: Chỉ số Vn-index và Hnx-Index qua các năm 48

Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình giao dịch cổ phiếu 49

Bảng 2.4: Tình hình giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài năm 2008 49

Bảng 2.5: Số lượng Công ty Quản lý quỹ, Công ty chứng khoán 50

Bảng 2.6: Số lượng tài khoản của nhà đầu tư 51

Bảng 2.7: Tình hình xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Tình hình đấu giá, đấu thầu qua các năm 42

Hình 2.2: Số lượng công ty niêm yết qua các năm 46

Hình 2.3: Số lượng Công ty quản lý quỹ từ năm 2003-2008 52

Trang 6

3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán là một kênh quan trọng trong việc thu hút các nguồn vốn để đầu tư dài hạn vào các khu vực kinh tế có hiệu quả thông qua các công cụ cổ phiếu, trái phiếu; tạo điều kiện luân chuyển vốn đầu tư trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển; tạo ra sự minh bạch hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng quản trị của các công ty niêm yết trên thị trường Việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán sẽ góp phần chuyển đổi cơ cấu hệ thống tài chính từ một hệ thống chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng (tài chính gián tiếp) sang hệ thống tài chính trực tiếp với sự có mặt của các loại cổ phiếu, trái phiếu

sẽ làm cho hệ thống này năng động hơn, hiệu quả hơn

Sau hơn 9 năm chính thức hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ngày càng hoàn thiện và phát triển không ngừng, đáp ứng được yêu cầu và thay đổi của thực tiễn trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc

tế mang lại nhiều cơ hội để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, tuy nhiên cũng từ hội nhập sẽ phát sinh không ít thách thức khó khăn, đặc biệt với thị trường chứng khoán Trong thời gian vừa qua, xuất phát từ cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ bùng nổ, cuộc khủng hoảng tài chính đã diễn ra trên toàn thế giới với mức độ khác nhau và có tác động rất lớn đến các nước mới nổi như Việt Nam trên nhiều phương diện Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã suy giảm trong năm 2008 chỉ còn 6,23% và được dự báo sẽ tiếp tục giảm mạnh trong năm

2009, trong khi các dấu hiệu đáy của cuộc khủng hoảng vẫn chưa thực sự rõ nét Sự tụt giảm chỉ số chứng khoán thế giới hơn 45% trong năm 2008 cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động rất mạnh tới thị trường chứng khoán thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Thị trường chứng khoán là một thể chế kinh tế bậc cao và văn minh trong nền kinh tế thị trường, có tác động mạnh và ảnh hưởng trên bình diện quốc gia, khu vực

và toàn thế giới nên vấn đề hội nhập sẽ mở ra những cơ hội to lớn và đồng thời nó cũng đồng nghĩa với những thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt Thị trường

Trang 7

4

chứng khoán Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém, có những biến động khó lường trước những vấn đề kinh tế quốc tế Vì vậy nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, kiểm soát và định hướng để thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh và bền vững

Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Vai trò của nhà nước đối với

sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam" cho luận văn thạc sỹ của mình

lý luận và thực tiễn để nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh thị trường tài chính Việt Nam Bên cạnh đó còn có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu

về thị trường chứng khoán Việt Nam, điển hình như:

- Bộ Tài chính, UBCKNN (1997), Một số vấn đề về phát triển cơ sở hạ tầng

và quản lý thị trường chứng khoán Đề tài đã đưa ra một số vấn đề lý luận và giải

pháp để xây dựng các yếu tố cần thiết nhằm tạo lập và vận hành thị trường chứng khoán

- Bộ Tài chính, UBCKNN (1999), Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam – Mô hình tổ chức, quản lý và giám sát Đề tài nghiên cứu về mô hình tổ chức quản lý thị

trường chứng khoán trên cơ sở kinh nghiệm của các nước trên thế giới nhằm xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán

- Nguyễn Ngọc Bích (2008), Thị trường chứng khoán Việt Nam: Bàn tay thiếu ngón, Báo Tuổi trẻ online Bài viết đã chỉ ra một số hạn chế của thị trường chứng

khoán Việt Nam, đặc biệt là vai trò của nhà nước đối với cơ chế mua bán, định giá

cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

Trang 8

5

- Nguyễn Sơn (1998), Lựa chọn mô hình và các bước đi thích hợp để thành lập thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế Từ những vấn đề lý

luận và kinh nghiệm thực tiễn của các nước, luận án đã chỉ ra mô hình và các bước

đi thích hợp để thành lập thị trường chứng khoán ở Việt Nam

- Đoàn Thu Thủy (2004), Giải pháp hoàn thiện và phát triển thị trường trái phiếu chính phủ ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Hà Nội Thị trường trái phiếu chính

phủ là một bộ phận của thị trường chứng khoán Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường trái phiếu chính phủ - một kênh huy động vốn rất quan trọng của chính phủ để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước

- Đoàn Thanh Tùng (2004), Thúc đẩy phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng tại Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, TP Hồ Chí Minh Luận án đã đánh giá thực

trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện, thúc đẩy phát hành chứng khoán nhằm thu hút vốn của các nhà đầu tư

- ThS Nguyễn Quang Việt (2007), Thực hiện pháp luật chứng khoán Việt Nam và những vấn đề pháp lý đặt ra, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp bộ, Ủy ban

chứng khoán nhà nước Đề tài đã chỉ ra những thành công và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về chứng khoán và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán trong điều kiện mới

Trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, vai trò của nhà nước rất quan trọng trong việc tận dụng cơ hội và hạn chế những rủi ro nhằm phát triển thị trường chứng khoán bền vững Tuy nhiên trong các công trình nghiên cứu khoa học và các bài viết về thị trường chứng khoán Việt Nam, chưa có công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam Vì vậy tác giả nhận thấy nghiên cứu về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam là cần thiết và đây là đề tài nghiên cứu không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

Trang 9

tế

Nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán

- Phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam; phân tích, đánh giá

cơ chế điều tiết, điều hành của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Nghiên cứu về vai trò của nhà nước với tư cách là một bộ phận

của kiến trúc thượng tầng, tác động tới các quan hệ kinh tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phạm vi: Vai trò của nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển thị trường

chứng khoán chính thức từ năm 2000 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

để thực hiện đề tài nghiên cứu

Luận văn cũng sử dụng các công cụ phân tích kinh tế như: số liệu và chỉ số, biểu đồ, đồ thị trong việc phân tích và thể hiện nội dung đề tài

Trang 10

7

6 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế về vai trò của nhà nước đối với thị trường chứng khoán, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận văn gồm có 3 chương :

Chương 1: Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế

Chương 2: Thực trạng vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 11

8

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

1.1 Khái luận về thị trường chứng khoán

1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán, xét về mặt lịch sử đã được hình thành cách đây nhiều thế kỷ Phiên chợ đầu tiên của TTCK diễn ra vào năm 1453 tại nước Bỉ và TTCK phát triển khá mạnh vào nửa cuối thế kỷ XIX, trải qua nhiều thăng trầm và biến động Sau những thời kỳ huy hoàng cũng như những cuộc khủng hoảng, TTCK

đã trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của các quốc gia vận hành theo cơ chế thị trường Ngày nay, TTCK đã phát triển mạnh

mẽ ở hầu hết các nước công nghiệp Châu Âu, Châu Mỹ, các nước đã và đang phát triển ở khắp các châu lục và ngày càng khẳng định vai trò to lớn trong việc huy động các nguồn lực xã hội để phát triển kinh tế

Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “TTCK là một thị trường mà ở nơi đó người

ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời” [30]

Đây là một quan điểm rất phổ biến khi nhắc tới thị trường chứng khoán Quan điểm

thứ hai: “TTCK là một thể chế tài chính bậc cao, hoạt động thông qua các công cụ

là cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác và qua đó, cho phép các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính và chính phủ huy động tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi

để đầu tư phát triển kinh tế” [20] Sự khác biệt giữa hai quan niệm trên xuất phát từ

cách phân loại thị trường chứng khoán là thị trường chứng khoán sơ cấp và thứ cấp

Quan điểm thứ ba: “TTCK và thị trường vốn là một, chỉ là tên gọi khác của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản”[20] Xét về mặt nội dung, thị trường vốn

biểu hiện các quan hệ bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán Thị trường chứng khoán biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể Do đó các thị

Trang 12

9

trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản ánh mối quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản Quan điểm thứ tư lại cho rằng

“TTCK được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một” [10]

Như vậy theo quan điểm này, thị trường chứng khoán và thị trường vốn là khác nhau Thị trường chứng khoán thực chất chỉ là một bộ phận của thị trường vốn Có thể thấy sự khác biệt giữa hai quan điểm xuất phát từ cách hiểu về thị trường vốn, là một bộ phận của thị trường tài chính

Ngoài những quan niệm trên còn có một số quan niệm khác như: “TTCK trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp” [18]; hoặc là: “TTCK là một cấu trúc xã hội đặc biệt của sự vận hành vốn trong nền kinh tế thị trường Sự ra đời của TTCK là cách thức mà xã hội giải quyết mâu thuẫn giữa tính xã hội của việc sử dụng vốn và tính tư nhân, tập thể của việc sở hữu vốn” [30] Xét về bản chất, đây là

nơi người ta luân chuyển, mua bán một loại hàng hoá mà việc mua bán đó đồng nghĩa với việc làm dịch chuyển đồng vốn Thông qua việc mua bán chứng khoán, người ta đã thực hiện việc mua bán, trao đổi quyền sở hữu, sử dụng các khoản vốn,

vì vậy đây cũng chính là nơi giải quyết các mối quan hệ cung – cầu vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

Với những quan điểm khác nhau về TTCK ở trên cho thấy bản thân TTCK là một thực thể phức tạp với nhiều mối quan hệ và đặc trưng khác nhau Hơn nữa TTCK là một hiện tượng kinh tế tồn tại khách quan có sự phát sinh phát triển theo quy luật vốn có của nó TTCK không giống với các thị trường các hàng hóa thông thường khác vì hàng hóa của TTCK là một loại hàng hóa đặc biệt, là quyền sở hữu

về tư bản TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ Các chứng khoán mua bán trên thị trường chứng khoán có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên TTCK theo giá cả thị trường, do đó bề ngoài nó được coi như một tư bản hàng hóa Có thể nói, thị trường

Trang 13

10

chứng khoán là nơi mua bán các quyền sở hữu về tư bản, là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa

Từ sự phân tích ở trên, theo quan điểm của luận văn, thị trường chứng khoán

là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là môi trường trong đó cho phép chuyển hóa trực tiếp từ quyền sở hữu tư bản thành quyền sử dụng tư bản và tạo

ra mối liên hệ chặt chẽ giữa hai quyền đó thông qua sự vận động của các chứng khoán dưới tác động của các quy luật thị trường [22]

1.1.2 Cấu trúc của thị trường chứng khoán

Cấu trúc của TTCK có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Tuy nhiên thông thường ta có thể xem xét ba cách thức cơ bản sau :

* Phân loại theo hàng hóa:

Theo các loại hàng hóa được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn suất

Thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hóa được mua bán tại đó là các trái phiếu Trái phiếu là công cụ nợ : nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức hoàn trả cả gốc và lãi Người cho vay sẽ không chịu trách nhiệm về kết quả sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải hoàn trả cho trái chủ theo các cam kết đã được xác định trong hợp đồng vay Trái phiếu có thể là trung hạn hay dài hạn

Khác với thị trường nợ, thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình Cổ đông có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản của công ty khi tài sản này được đem bán Cổ phiếu có thời hạn đáo hạn là không xác định Thị trường các công cụ dẫn suất là nơi các chứng khoán phái sinh được mua

và bán Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi Thị trường này ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài chính Nó cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng thời cũng là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà đầu tư

Trang 14

11

* Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn:

Theo cách thức này, thị trường được phân chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp I là thị trường phát hành các chứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên Tại thị trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành Thị trường sơ cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là chuyển nguồn vốn nhàn rỗi, nguồn tiết kiệm ngắn hạn vào đầu tư trung và dài hạn Việc mua bán lần đầu các chứng khoán mới phát hành kéo theo sự tăng lên thực sự của quy mô đầu tư, là nơi mà các nhà phát hành chứng khoán thực sự thu được nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư Các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu thu hút nguồn vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh Nhà nước phát hành trái phiếu để bổ sung ngân sách nhà nước, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế

Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp II là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời Hoạt động mua-bán này không làm tăng quy mô vốn nhưng nó đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành, tạo điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý, làm tăng hiệu quả quản lý doanh nghiệp Nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn, thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên cơ sở dó làm giảm chi phí cho các nhà phát hành trong việc huy động và sử dụng vốn Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, được xem là thị trường định giá các công ty, được xác định bởi cung và cầu chứng khoán Thông qua việc xác định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho các nhà phát hành cũng như các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp Thông qua cơ chế bàn tay vô hình, vốn sẽ được luân chuyển tới những công ty nào làm ăn có hiệu quả nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội

Về bản chất, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ nội tại, biện chứng Thị trường sơ cấp là cơ sở, tiền đề, có vai trò cung cấp hàng hóa cho thị

Trang 15

12

trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là động lực để phát triển thị trường sơ cấp, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán, tạo điều kiện cho chứng khoán dễ dàng lưu thông và dễ phát hành

* Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường:

Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách sau: thị trường tập trung và thị trường phi tập trung

Thị trường tập trung hay tại Sở giao dịch chứng khoán: các giao dịch được tập trung tại một điểm, các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch Chứng khoán được mua bán ở đây phải là chứng khoán được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và phải được lưu

ký để tạo thuận lợi, đảm bảo an toàn và tiết kiệm chi phí cho việc giao dịch Việc mua bán chứng khoán tại Sở giao dịch phải thực hiện qua trung gian là các công ty chứng khoán thành viên của Sở Sở giao dịch chứng khoán được quản lý một cách chặt chẽ bởi Ủy ban chứng khoán quốc gia, các giao dịch chịu sự điều tiết của Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán Hiện nay, trên thế giới có gần 20 SGDCK danh tiếng như NewYork (Mỹ), Tokyo (Nhật Bản), London (Anh), Pari (Pháp)… với nhiều SGD liên hoàn hệ thống và khống chế, chi phối 80% lượng chứng khoán giao dịch quốc gia như SGDCK Tokyo, hoặc hơn 95% như SGDCK Milan và Pari Khác với thị trường tập trung, thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) được tổ chức dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng giữa các công ty chứng khoán với nhau thông qua hệ thống điện thoại hoặc internet và các thiết bị đầu cuối Các nhà kinh doanh chứng khoán có thể trực tiếp thương lượng về giá cả cũng như thời gian thanh toán của những chứng khoán

mà họ muốn giao dịch mà không cần thông qua các công ty tài chính trung gian Ở thị trường này, các nhà kinh doanh đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường Họ có một danh mục chứng khoán và sẵn sàng mua bán chứng khoán với bất cứ ai có nhu cầu

và chấp nhận giá của họ Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC thường được hiểu là của những công ty không hội đủ các yêu cầu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung Ngày nay, có nhiều công ty có đủ điều kiện niêm yết trên SGDCK nhưng không muốn niêm yết vì những điều kiện ràng buộc của SGDCK, không

Trang 16

13

mang lại lợi ích cho công ty

Trên thị trường tập trung, tại SGDCK, giá cả chứng khoán được hình thành thông qua quy trình đấu giá cạnh tranh và công khai hóa mọi thông tin liên quan đến hoạt động của các chủ thể phát hành, nên dễ dàng lường đoán hơn sự biến động về giá cả của các chứng khoán trong tương lai để đưa ra quyết định mua, bán có độ tin cậy cao hơn ở thị trường OTC

1.1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán

Trên cơ sở khái niệm, cấu trúc và đặc điểm của thị trường chứng khoán đã phân tích ở trên, có thể nói thị trường chứng khoán có vai trò rất quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế, đó là :

- Thứ nhất, mở rộng quy mô huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

TTCK có vai trò là phương tiện huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh

tế Trừ một số trường hợp, đại đa số các công ty, doanh nghiệp đều rất cần vốn Thông thường các doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng, nhưng phải thực hiện luật thế chấp để ngân hàng có thể thu hồi vốn vay Thực tế, các ngân hàng cũng không thể cho vay những khoản tiền quá lớn để tránh rủi ro có thể xảy ra Các công

ty thường vay vốn trên TTCK bằng cách phát hành trái phiếu có mệnh giá nhất định nào đó Công ty vay vốn sẽ phải trả tiền lãi và tiền vốn hàng năm cho người mua trái phiếu Tất nhiên, để lôi cuốn người có tiền dư thừa, lãi suất trái phiếu phải cao hơn tiền gửi ngân hàng Nhà nước cũng có thể vay tiền trên TTCK để thực hiện các

dự án lớn Như vậy, TTCK giúp tài trợ vốn cho nhà nước, doanh nghiệp thông qua

cơ chế cung cấp hàng loạt công cụ lựa chọn để huy động vốn với giá rẻ theo cơ chế định giá cạnh tranh, trực tiếp của thị trường

- Thứ hai, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Đối với các nhà đầu tư muốn thu lời trực tiếp từ vốn tiền tệ của mình, TTCK cung cấp một môi trường đầu tư lý tưởng Nhờ sự phong phú về tính chất, thời hạn,

độ rủi ro, các loại hàng hóa lưu thông trên TTCK có thể đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư với mục đích, năng lực tài chính và sở thích khác nhau Có thể nói, TTCK góp phần không nhỏ làm tăng mức tiết kiệm quốc gia

Thông qua TTCK, các nhà đầu tư có thể đầu tư trực tiếp vào các tổ chức sản

Trang 17

14

xuất, kinh doanh dưới nhiều hình thái để thu lợi nhuận Các nhà đầu tư có nhiều phương án lựa chọn để đầu tư thông qua TTCK, họ được hưởng lợi nhuận xứng đáng tương ứng với mức rủi ro mà họ phải chịu nếu họ chọn công cụ đầu tư rủi ro cao nhưng đem lại lợi nhuận cao Mặt khác, thị trường là phương tiện thuận lợi để

di chuyển đầu tư, luân chuyển vốn đầu tư, nhờ đó, các nhà đầu tư có thể tham gia thị trường hoặc rút vốn khỏi thị trường một cách nhanh chóng, khi cần Những điều kiện thuận lợi này là tác nhân kích thích và khuyến khích đầu tư vào TTCK, làm cho mọi nguồn tiết kiệm dù lớn hay nhỏ đều dễ dàng đưa vào đầu tư

- Thứ ba, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Do nhu cầu chuyển nhượng cổ phần, từ đó phát sinh nhu cầu phải thiết lập một nơi để người có chứng khoán có thể bán cho người muốn mua chứng khoán Đây là vai trò đầu tiên của TTCK Chứng khoán thông qua thị trường có khả năng được mua bán, chuyển đổi nhanh chóng Nếu ai muốn bán cổ phần trong một công

ty, họ có thể đem bán trên TTCK Ngược lại, người muốn mua cổ phần của một công ty cũng công bố nhu cầu của mình trên TTCK Đây thực chất là việc tạo khả năng, môi trường và phương tiện để lưu chuyển nguồn vốn Người có vốn đưa vào đầu tư không sợ bị "kẹt" vốn, mà khi cần vốn họ có thể nhanh chóng rút ra khỏi thị trường khi chuyển quyền sở hữu (bán) chứng khoán cho người đầu tư khác qua thị trường TTCK càng hoạt động có hiệu quả thì càng nâng cao tính thanh khoản của các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường

- Thứ tư, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Giá chứng khoán là một công cụ hữu hiệu để phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, giúp đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp một cách chính xác, thuận tiện TTCK cũng tạo ra một môi trường lành mạnh để các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng vốn Các nhà đầu tư được tự do lựa chọn chứng khoán của những công ty làm ăn hiệu quả Các công ty kinh doanh hiệu quả, triển vọng cao sẽ được định giá tốt Điều này cũng có nghĩa là giá cổ phiếu của công ty trên thị trường tăng và công ty

có thể huy động thêm vốn dễ dàng với giá rẻ qua thị trường và tăng lợi nhuận hoạt động của mình Việc niêm yết trên TTCK của các công ty, trên thực tế là để tạo cho

Trang 18

15

mình một vị thế, một uy tín, tên tuổi, một thương hiệu tốt trên thị trường để có thể huy động được vốn rẻ, tạo sự thuận lợi hơn trong mọi hoạt động kinh doanh của công ty

- Thứ năm, tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ

ty làm ăn có lãi, cho nên có nhiều người bán cổ phần trong công ty này để mua cổ phần trong công ty khác để kiếm được nhiều tiền lãi hơn Tuy nhiên, chỉ có một số nhà chuyên môn mới có thể định giá cổ phần Mà một công ty tăng giá là công ty đó chiếm nhiều phần trên thị trường Nếu có nhiều công ty tăng giá nghĩa là có nhiều công ty mạnh và cũng có nghĩa là khu vực kinh tế đó đang phát triển Khi có nhiều người nước ngoài mua bán trên TTCK ở một nước, chứng tỏ họ tin tưởng vào sự ổn định của nền kinh tế nước đó Việc mua bán của họ là nguồn tài trợ ngoại tệ có thể mang lại lợi ích cho nước đó Nhờ thu được ngoại tệ trên TTCK, việc vay mượn trên thị trường quốc tế sẽ giảm và người ta có thể sử dụng ngoại tệ thu được trên TTCK để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu cho nền kinh tế TTCK thường được ví như là một cỗ máy phản ứng nhạy cảm với mọi thông tin kinh tế, chính trị, xã hội, bởi vì các thành tố tạo nên cỗ máy đó chính là con người với tất cả những hoạt động sản xuất, kinh doanh và những tâm lý ham muốn lợi nhuận, hy vọng, sợ hãi, dự kiến, phỏng đoán

Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ có thể tạo ra nguồn thu ngân sách bằng cách mua bán trái phiếu chính phủ; hoặc tác động vào TTCK để nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát triển cân đối, ổn định

- Thứ sáu, là công cụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy nhanh quá trình hội

Trang 19

16

nhập với nền kinh tế thế giới

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, việc xâm nhập lẫn nhau của các TTCK diễn ra ngày càng sâu, rộng TTCK của một nước vừa là cửa ngõ thuận lợi cho các luồng vốn từ bên ngoài vào, đồng thời cũng là cửa ngõ để luồng vốn trong nước có thể đầu tư ra nước ngoài Người nước ngoài có thể mua chứng khoán phát hành của các tổ chức nước sở tại và người sở tại cũng có thể mua chứng khoán niêm yết của các tổ chức nước ngoài hoặc mua chứng khoán trên TTCK nước ngoài Tuy nhiên, mỗi nước phải đề ra các bộ luật riêng để ngăn chặn các nhà đầu tư nước ngoài nắm hết các cổ phần của các công ty quan trọng quyết định sự phát triển của nền kinh tế và nền kinh tế nước đó không bị các nhà tư bản nước ngoài chi phối lũng đoạn

Khi TTCK tăng trưởng và mở rộng, nhất là ở các nước tư bản phát triển, đã tạo

ra các trung tâm tài chính khổng lồ như: Trung tâm NewYork, Tokyo và London…với một hệ thống các SGDCK niêm yết cổ phiếu của hầu hết các TNCs trên thế giới, nhờ đó các nguồn vốn được thu hút để phân phối và phân phối lại vào tất cả các khu vực và các nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu Vì vậy, lưu thông chứng khoán đang từng bước trở thành một phương thức, một kênh lưu thông nguồn vốn toàn cầu Nó trở thành hệ thống mạch máu, thần kinh không chỉ nuôi dưỡng mà còn cuốn hút mọi nền kinh tế vào hệ thống của nó, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự hội nhập của mọi quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu

1.1.4 Những khuyết tật của thị trường chứng khoán

Bên cạnh những vai trò quan trọng, thị trường chứng khoán cũng có những mặt hạn chế, tiêu cực nhất định Đó là:

- Thứ nhất, chứa đựng yếu tố đầu cơ

Đầu cơ trên thị trường hàng hóa là hành vi tạo sự khan hiếm, dùng mọi thủ đoạn để giữ hàng, tạo ra mức cầu lớn hơn nhiều lần so với mức cung, sau đó đẩy giá bán lên để trục lợi Còn trong TTCK, người đầu cơ là người mua hay bán chứng khoán nhằm thu lợi qua sự thay đổi của giá cả Khi tham gia TTCK, nhà đầu tư nhắm vào hai mục tiêu: (1) được trả cổ tức cao, (2) chờ đợi chứng khoán lên giá, và nếu ai đó chỉ duy nhất nhắm vào mục tiêu thứ hai thì chính là người đầu cơ Đầu cơ

Trang 20

17

trên TTCK không phải là một hành vi xấu, nếu không nói là rất bình thường Khi giá chứng khoán của một công ty tăng mạnh, người đầu cơ sẽ tung ra bán (để kiếm lời), điều này sẽ làm cho giá cổ phiếu của công ty đó không tăng cao thêm nữa; hoặc khi giá cổ phiếu một công ty bắt đầu sụt xuống, họ đổ tiền mua vì kỳ vọng khi công ty làm ăn tốt hơn thì giá cổ phiếu của công ty sẽ lên Hành vi của người đầu cơ phần nào mang tính điều hòa TTCK

Tuy nhiên yếu tố đầu cơ dễ gây ảnh hưởng dây chuyền làm cho cổ phiếu tăng giá hoặc giảm giá giả tạo, gây tâm lý không tốt cho thị trường Sự kiện này càng dễ xảy ra khi có nhiều người cùng cấu kết với nhau, cùng mua vào hoặc bán ra một loại chứng khoán nào đó, dẫn tới sự khan hiếm hoặc dư thừa chứng khoán một cách giả tạo trên thị trường, làm cho giá chứng khoán có thể tăng hoặc giảm xuống một cách đột biến, gây tác động xấu đến thị trường

Nhìn chung thị trường chứng khoán phải chấp nhận đầu cơ, nhưng có những hành động đầu cơ cần phải cấm Đó là:

+ Về tính chất: Là hành động nhằm tạo ra sức ép lớn về quan hệ cung cầu

một loại chứng khoán nào đó trên thị trường dẫn đến hình thành một giá chứng khoán không giống với giá tồn tại bình thường, có lợi cho người đầu cơ, gây thiệt hại cho những người khác

+ Về mục tiêu: Tạo nên một giá giả tạo nhằm tìm cách nâng giá lên rồi bán

tống bán tháo số chứng khoán cho người mua; giữ giá ổn định ở một mức cao hơn giá thực tế của nó để bán (cao hơn giá trị thực tế của cổ phiếu); và tìm cách giảm giá xuống rồi mua chứng khoán về càng nhiều càng tốt

- Thứ hai, giao dịch nội gián

Giá trị cổ phiếu cũng như các loại hàng hoá khác thể hiện khả năng sinh lời của một công ty Công ty càng làm ăn hiệu quả thì giá trị cổ phiếu càng cao Một khi kết quả hoạt động thực tế của công ty được trình bày trên báo cáo tài chính thì lập tức giá trị thị trường của các cổ phiếu này được điều chỉnh tự nhiên với giá trị thực tế đó Vì thế giá trị cổ phiếu hoàn toàn tuỳ thuộc vào độ chính xác của các thông tin về khả năng sinh lời cũng như triển vọng tương lai của công ty Về nguyên tắc các thông tin nhậy cảm như vậy chỉ được cung cấp cho người mua cổ

Trang 21

18

phiếu sau khi công ty công bố các thông tin này ra công chúng Nếu bằng một lý do nào đó mà người mua các cổ phiếu này có thể biết trước các thông tin đó anh ta có thể dự đoán được giá cổ phiếu sẽ lên (nếu thông tin tốt cho công ty) hoặc xuống (nếu ngược lại) và vì thế sẽ mua vào (kiếm lợi nhuận lớn) hoặc bán ra (tránh lỗ) Hành vi mua bán đó có thể gọi là giao dịch thông tin nội gián

Trên thị trường chứng khoán, sự công khai thông tin về tình hình "sức khỏe" của doanh nghiệp và các giao dịch mua bán chứng khoán đã trở thành một tập quán bắt buộc Điều này chỉ có ý nghĩa và giá trị khi nào nó được thực hiện một cách công bằng TTCK là thị trường của niềm tin Niềm tin này được xây dựng từ nhiều yếu tố nên tảng, trong đó tính trung thực, minh bạch của thông tin có vai trò quyết định Sự công bằng và trung thực thể hiện ở khả năng các mua bán diễn ra trong bối cảnh sao cho công chúng tham gia đều có cơ hội như nhau về thông tin và cùng có một điều kiện tiếp cận Các giao dịch nội gián được xem là phi đạo đức về mặt thương mại vì người có nguồn tin nội gián sẽ có nhiều lợi thế trong đầu tư so với các nhà đầu tư khác để thu lợi bất chính cho riêng mình Giao dịch nội gián cũng được xem như một hành động phi pháp tại hầu hết các nền kinh tế và bị ngăn cấm vì ba lý do: bảo vệ nhà đầu tư; bảo vệ TTCK được công bằng, hiệu quả và minh bạch; giảm các nguy cơ cho hệ thống tài chính

Việc phát hiện hành vi giao dịch nội gián rất khó khăn và công tác điều tra thường rất phức tạp và có thể đi đến những kết luận sai lầm Bằng chứng trực tiếp của giao dịch nội gián cũng rất hiếm hoi, không có một bằng chứng thực sự cụ thể

và rõ ràng nào có dính líu đến thủ phạm Nếu họ không khai báo bằng văn bản thì bằng chứng thu được hầu như là bằng chứng gián tiếp Vì vậy mà giao dịch nội gián rất phổ biến, đặc biệt là tại các nền kinh tế mới nổi

- Thứ ba, thông tin sai lệch

Thông tin trên thị trường chứng khoán rất đa dạng, phong phú Các thông tin phản ánh tình hình thị trường, tình hình tổ chức niêm yết dưới nhiều góc độ khác nhau Một thị trường chứng khoán mà thông tin không được công khai hay thiếu minh bạch sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng mất lòng tin từ nhà đầu tư Đối với nhà đầu tư, thông tin chính là cơ sở hình thành nên quyết định đầu tư Từ những thông

Trang 22

19

tin đa dạng thu thập được trên thị trường, nhà đầu tư bắt buộc phải có sự theo dõi, nhận định và phân tích để đi đến quyết định đầu tư cho riêng mình

Bên cạnh việc có nhiều công ty đại chúng cung cấp thông tin cho nhà đầu

tư còn sơ sài, không đầy đủ, không kịp thời còn có sự tung tin đồn sai sự thật về hoạt động của công ty cũng như các chứng khoán giao dịch trên thị trường Do đó

đã tạo ra sự hoảng loạn của thị trường, gây nên việc bán ồ ạt một loại chứng khoán nào đó với giá quá thấp làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty cũng như gây ra tổn thất nặng nề cho các nhà đầu tư

Mặt khác thông tin được phổ biến trên thị trường có thể đến từ rất nhiều nguồn khác Luồng ra của những thông tin được công bố mà chính xác, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời sẽ tạo điều kiện cho các bên tham gia có những cơ hội ngang bằng nhau trong việc tiếp cận thông tin, tạo sự bình đẳng đối với các thành viên tham gia thị trường Vì vậy để đảm bảo tính hiệu quả, chính xác của thông tin cũng như đảm bảo sự công bằng trong cung cấp thông tin giữa những đối tượng đầu

tư tham gia thị trường, hoạt động thông tin trên bất cứ thị trường chứng khoán nào cũng cần được tổ chức tốt, khoa học theo nguyên tắc công khai thông tin

- Thứ tư, lũng đoạn doanh nghiệp, thôn tính lẫn nhau

Trong quản trị công ty có hai điểm mấu chốt nhất là quyền sở hữu và người quản lý thì quyền sở hữu vẫn mang ý nghĩa trọng tâm hơn cả Mặc dù xu hướng quản trị hiện đại tách biệt quyền sở hữu và quản lý, nhưng thực chất quyền sở hữu

có ý nghĩa quyết định trong việc bầu Hội đồng quản trị và qua đó lựa chọn người quản lý, đồng thời quyết định chiến lược phát triển, phương án phân chia lợi nhuận

và xử lý tài sản của công ty Sự gia tăng tỷ lệ nắm giữ chứng khoán, nhất là các cổ phiếu, cổ phần sáng lập, được biểu quyết của các nhà đầu tư đến một mức “vượt ngưỡng” nhất định nào đó sẽ cho phép họ tham dự trực tiếp vào chi phối và quyết định các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các chủ quyền khác của doanh nghiệp,

tổ chức phát hành chứng khoán, thậm chí lũng đoạn doanh nghiệp theo phương hướng, kế hoạch, mục tiêu riêng của mình, kể cả các hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp Đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài, tính chất gián tiếp của vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển hóa thành tính trực tiếp Nhà đầu tư gián tiếp sẽ

Trang 23

20

chuyển hóa thành nhà đầu tư trực tiếp

Có nhiều cách thức khác nhau để lũng đoạn danh nghiệp, điển hình là ba cách sau đây:

+ Chào thầu (tender offer): công ty hoặc cá nhân hoặc một nhóm nhà đầu tư

có ý định mua đứt (buyout) toàn bộ công ty mục tiêu đề nghị cổ đông hiện hữu của công ty đó bán lại cổ phần của họ với một mức giá cao hơn thị trường rất nhiều (premium price) Giá chào thầu đó phải đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc

từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý công ty của mình Hình thức đặt giá chào thầu này thường được áp dụng trong các vụ thôn tính mang tính thù địch đối thủ cạnh tranh Công ty bị mua thường là công ty yếu hơn

+ Lôi kéo cổ đông bất mãn (Proxy fights): cũng thường được sử dụng trong các vụ “thôn tính mang tính thù địch” Khi lâm vào tình trạng kinh doanh yếu kém

và thua lỗ, luôn có một bộ phận không nhỏ cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị và điều hành công ty mình Công ty cạnh tranh có thể lợi dụng tình cảnh này để lôi kéo bộ phận cổ đông đó Trước tiên, thông qua thị trường, họ sẽ mua một

số lượng cổ phần tương đối lớn (nhưng chưa đủ để chi phối) cổ phiếu trên thị trường để trở thành cổ đông của công ty mục tiêu Sau khi đã nhận được sự ủng hộ,

họ và các cổ đông bất mãn sẽ triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, hội đủ số lượng

cổ phần chi phối để loại ban quản trị cũ và bầu đại diện của công ty thôn tính vào Hội đồng quản trị mới

+ Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán: công ty có ý định thâu tóm sẽ giải ngân để gom dần cổ phiếu của công ty mục tiêu thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc mua lại của các cổđông chiến lược hiện hữu Phương

án này đòi hỏi thời gian, đồng thời nếu đề lộ ý đồ thôn tính, giá của cổ phiếu đó có thể tăng vọt trên thị trường Ngược lại, cách thâu tóm này nếu được thực hiện dần dần và trôi chảy, công ty thâu tóm có thể đạt được mục đích cuối cùng của mình một cách êm thấm, không gây xáo động lớn cho “con mồi” của mình, trong khi chỉ cần trả một mức giá rẻ hơn so với hình thức chào thầu rất nhiều

Giá cổ phiếu trên thị trường xuống thấp sẽ trở thành "cơ hội vàng" cho không ít nhà đầu tư có ý định thâu tóm, lũng đoạn doanh nghiệp

Trang 24

21

- Thứ năm, thị trường chứng khoán phát triển không ổn định

Quan hệ cung và cầu chứng khoán nhiều lúc mất cân đối gây nên những biến động cho thị trường, do vậy TTCK hoạt động chưa thực sự ổn định vững chắc, vẫn thể hiện một sự không ổn định trong hoạt động giao dịch của thị trường mà nguyên nhân chính vẫn phụ thuộc vào tâm lý đầu tư ngắn hạn

Một chân lý hiển nhiên quen thuộc là vào bất kỳ thời điểm nào, các thị trường tài chính luôn luôn bị chi phối bởi lòng tham và sự sợ hãi Những thị trường mạnh nhất là những thị trường nhộn nhịp bởi đồng thời có cả lòng tham lẫn sự sợ hãi Bất cứ khi nào người bán cổ phiếu thì người mua nó cũng sẽ nghĩ khác về những triển vọng tương lai của cổ phiếu đó Người bán nghĩ nó sẽ giảm, người mua nghĩ nó sẽ lên Người bán hoặc người mua sẽ đúng nhưng chắc chắn chỉ thông qua

sự tương tác của những thái độ khác nhau như vậy thì thị trường mới nhộn nhịp đông kẻ mua - nhiều người bán TTCK có thể liên tiếp giảm rồi lại đảo chiều hồi phục ngoạn mục ngay sau đó Mọi lý thuyết, mọi mô hình của thị trường hiệu quả dường như vô nghĩa Có trường hợp mặc dù nhà đầu tư được cảnh báo chứng khoán

đã vượt quá giá trị thật hơn 30% nhưng họ vẫn mua bán, thị trường vẫn không ngừng sôi động, thậm chí cung không đủ cầu Bình thường một nhóm các nhà đầu

tư cá nhân có thể rất bình tĩnh và sáng suốt, vậy mà cũng có lúc họ lại bị áp đảo bởi những cảm xúc tiêu cực khi các nhà đầu tư khác hành động theo một cách thức phổ biến nào đó Hiểu một cách đơn giản nhất thì chính sự sợ hãi bị “bỏ rơi” hay thất bại khi bạn bè, người thân, hàng xóm của họ có thể kiếm tiền một cách nhanh chóng, đã đưa đến sức mạnh áp đảo của đám đông Tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư đã dẫn tới

sự không ổn định của thị trường chứng khoán

Cơ chế vận hành của TTCK cho phép nhà đầu tư có thể tiến hành đầu tư một cách nhanh chóng, đồng thời cũng chứa đựng khả năng cho phép rút vốn nhanh gọn Chính điều này nhiều lúc đã gây nên tác hại đối với thị trường Khi nhận thấy

xu hướng phát triển, các nhà đầu tư đổ xô vào mua và nắm giữ chứng khoán, đẩy giá chứng khoán lên cao hơn giá trị thực chất của nó, làm cho thị trường tăng trưởng nóng Và khi có những xu hướng biến động bất lợi xuất hiện, các nhà đầu tư lại đổ xô bán tháo chứng khoán để rút vốn đầu tư, có thể gây nên sự sụp đổ thị

Trang 25

22

trường

1.2 Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán và những nhân tố tác động

1.2.1 Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán

Trong quá trình phát triển của kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán đã được hình thành từ hàng trăm năm và ngày nay được coi là một thể chế kinh tế bậc cao của kinh tế thị trường Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của TTCK, các nhà nước

tư bản không có bất kỳ một biện pháp nào để quản lý hoạt động của thị trường mà

để thị trường hoạt động một cách tự phát dưới hình thức tự quản và dưới sự chi phối của một số nhóm nhà tư bản tài chính Đồng thời các quy định mang tính pháp lý (như Luật công ty) không chặt chẽ trong việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chuyển nhượng chứng khoán,…nên đã xảy ra tình trạng đầu cơ, lừa đảo trên thị trường làm thiệt hại cho các nhà đầu tư Hậu quả lớn nhất là năm 1929, TTCK Mỹ sụp đổ kéo theo sự sụp đổ của nhiều TTCK khác, gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933

Từ sự kiện này, các quốc gia đã nhận thức được sự cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động của TTCK, trong đó có việc thành lập cơ quan quản lý TTCK ở Mỹ (1934), Philippin (1936), Nhật Bản (1947), Đức (1985), Anh (1986),…và ban hành các văn bản pháp luật về chứng khoán và TTCK Đến cuối những năm của thập kỷ 80 (thế kỷ XX), thế giới đã diễn ra xu hướng điều chỉnh cơ chế quản lý kinh tế của các nước nhằm khuyến khích việc phân bổ và thu hút vốn cho đầu tư phát triển thông qua các thị trường mà đặc biệt là TTCK Tình hình đó đồng thời cũng xuất hiện những nguy cơ tiềm ẩn về mức độ an toàn của hệ thống tài chính, trong đó có TTCK nên các quốc gia có TTCK đều thành lập, kiện toàn các cơ quan quản lý kinh tế để điều chỉnh cơ cấu thị trường và trong chừng mực nào đó còn cần phải quản lý chặt chẽ hơn đối với TTCK vì vấn đề tự do hóa kinh tế trên phạm vi toàn cầu

Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán bao gồm :

- Thứ nhất, tạo lập thị trường chứng khoán

Tùy trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước mà vai trò tạo lập TTCK của nhà nước được thể hiện một cách khác nhau Vai trò này đặc biệt quan trọng đối với

Trang 26

23

những nước chưa có TTCK và việc ra đời TTCK chủ yếu là do nhà nước tiến hành xây dựng và vận hành Vai trò chủ yếu ở đây chính là việc xác lập mô hình TTCK, tức là xây dựng các cấu thành, bộ phận của thị trường chứng khoán và đưa ra cơ chế hoạt động cho thị trường chứng khoán

Mô hình thị trường chứng khoán là tập hợp các phương thức tổ chức quản

lý, cấu trúc – vận hành thị trường, bao gồm: cơ quan quản lý TTCK, tổ chức quản lý SGDCK; sở hữu; số lượng Sở giao dịch, hệ thống giao dịch, hệ thống lưu ký - thanh toán - bù trừ; giao dịch ngoài sở giao dịch, các tổ chức kinh doanh chứng khoán, tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việc xây dựng và cải tổ

mô hình thị trường chứng khoán phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Ở các nước phát triển thường xây dựng mô hình theo hướng ổn định thị trường chứng khoán, còn ở các nước mới nổi thường xây dựng mô hình theo hướng quản lý và phát triển thị trường chứng khoán

Việc kết nối giữa các thành viên trên TTCK, đặc biệt là giữa sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán và nhà đầu tư, đòi hỏi cần có một hệ thống công nghệ thông tin như hệ thống giao dịch, thanh toán, lưu ký, bù trừ và cả hệ thống công bố thông tin Nhà nước có vai trò xây dựng và triển khai hệ thống này một cách đầy đủ và đồng bộ Cùng với sự phát triển TTCK, hệ thống công nghệ thông tin càng cần phải phát triển để đáp ứng nhu cầu của các thành viên thị trường về các vấn đề như: Rút ngắn thời gian thanh toán, đẩy nhanh tốc độ xử lý giao dịch, tăng tính ổn định trong giao dịch chứng khoán, công bố thông tin một cách nhanh chóng tới các đối tượng tham gia thị trường, nhất là tới các nhà đầu tư…

Để tổ chức và quản lý TTCK, việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK là một yêu cầu khách quan Đặc biệt là với các quốc gia chưa có thị trường chứng khoán thì việc xây dựng ban hành và hoàn thiện pháp luật về chứng khoán nhằm tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng

và phát triển thị trường chứng khoán Chính phủ với tư cách là cơ quan quản lý cao nhất về TTCK có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan quản lý chuyên ngành xây dựng

để ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK, tạo hành lang pháp lý cho TTCK ra đời và phát triển

Trang 27

24

Vai trò tạo lập thị trường của nhà nước còn thể hiện ở việc tạo hàng hóa cho TTCK, qua đó nâng cao số lượng và chất lượng hàng hóa cho thị trường Các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tiến hành cổ phần hóa và phát hành cổ phiếu ra công chúng, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư trên TTCK Bên cạnh đó nhà nước còn tham gia phát hành trái phiếu Do thu hút được nguồn vốn khổng lồ của nền kinh tế và nguồn vốn từ nước ngoài qua việc phát hành trái phiếu, thị trường trái phiếu giúp Chính phủ giải quyết được các vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mà không cần phải phát hành thêm tiền tạo ra sức

ép về lạm phát Chính vì lẽ đó, ngày nay ở hầu hết các quốc gia, việc Chính phủ phát hành trái phiếu để vay tiền của công chúng đầu tư là hoạt động rất thường xuyên, theo một kế hoạch xác định nằm trong kế hoạch tổng thể của chiến lược huy động vốn của quốc gia

- Thứ hai, vận hành thị trường chứng khoán

Trên cơ sở tạo lập thị trường, nhà nước cần phải thực hiện xây dựng cơ chế hoạt động để TTCK vận hành và các chính sách điều tiết nhằm bình ổn thị trường

Cơ chế hoạt động thể hiện qua cơ chế giao dịch và cơ chế thanh toán Nhà nước xây dựng cơ chế giao dịch thông qua các quy định về phương thức giao dịch, thời gian giao dịch, lệnh giao dịch, đơn vị giao dịch, biên độ giao dịch, các quy định

về ký quỹ… Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ chế thanh toán phải dựa trên việc xác định chu kỳ thanh toán chứng khoán, với thời gian thanh toán là ngày T+x T+3 là chu kỳ thanh toán phổ biến trên thế giới, được nhiều thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Singapore và các nước châu Âu áp dụng Đây cũng là thông lệ được Hiệp hội các

Ủy ban chứng khoán quốc tế (IOSCO) khuyến nghị Quy trình thanh toán T+3 được

áp dụng nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống, đảm bảo cho các thành viên thị trường

có đủ thời gian cân đối và bù trừ chứng khoán và tiền trong ngày giao dịch T

Quan hệ cung và cầu chứng khoán nhiều lúc mất cân đối gây nên những biến động cho thị trường, do vậy TTCK hoạt động chưa thực sự ổn định vững chắc, vẫn thể hiện một sự không ổn định trong hoạt động giao dịch của thị trường mà nguyên nhân chính vẫn phụ thuộc vào tâm lý đầu tư ngắn hạn Cơ chế vận hành của TTCK cho phép nhà đầu tư có thể tiến hành đầu tư một cách nhanh chóng, đồng

Trang 28

25

thời cũng chứa đựng khả năng cho phép rút vốn nhanh gọn Chính điều này nhiều lúc đã gây nên tác hại đối với thị trường Khi nhận thấy xu hướng phát triển, các nhà đầu tư đổ xô vào mua và nắm giữ chứng khoán, đẩy giá chứng khoán lên cao hơn giá trị thực chất của nó, làm cho thị trường tăng trưởng nóng Và khi có những

xu hướng biến động bất lợi xuất hiện, các nhà đầu tư lại đổ xô bán tháo chứng khoán để rút vốn đầu tư, có thể gây nên sự sụp đổ thị trường Vì vậy mà nhà nước

có vai trò điều tiết, hỗ trợ nhằm ổn định thị trường chứng khoán Nhà nước thể hiện vai trò này bằng các chính sách hỗ trợ, điều tiết như: chính sách thuế; phí, lệ phí; chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài… Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008 TTCK các nước đã suy giảm nghiêm trọng về chỉ số với mức trung bình khoảng trên 45% Vì vậy mà chính phủ các quốc gia trên thế giới đã thực hiện các gói giải pháp nhằm kích thích kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng, tạo

đà hồi phục cho TTCK

Vai trò vận hành TTCK của nhà nước còn thể hiện ở những quy định liên quan đến các tổ chức, cá nhân tham gia trên thị trường với tính chất là những hoạt động có điều kiện, có nghĩa là phải được cấp phép hoặc được chấp thuận Đó là các hoạt động và các đối tượng:

+ Chào bán chứng khoán ra công chúng,

+ Công ty đại chúng,

+ Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán,

+ Các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán,

+ Cá nhân hành nghề chứng khoán,…

Cùng với chính sách về công bố thông tin, đảm bảo tính minh bạch, TTCK

đã được vận hành một cách ổn định và phù hợp với thực tiễn phát triển của thị trường

- Thứ ba, khắc phục các khuyết tật của thị trường chứng khoán

TTCK luôn chứa đựng trong đó những khuyết tật mà bản thân thị trường không thể khắc phục được Vì vậy nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc khắc phục các khuyết tật của TTCK, thể hiện ở:

+ Tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động các thị trường giao dịch chứng

Trang 29

26

khoán Theo đó mọi giao dịch trên TTCK đều được quản lý chặt chẽ bởi Nhà nước

Dù thị trường chứng khoán được tổ chức dưới các mô hình khác nhau về cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu, mức độ quản lý giám sát, đều không thể không có sự quản

lý giám sát của Nhà nước Nhà nước quản lý, giám sát các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, đảm bảo cho mọi thành viên vừa có quyền lợi, vừa có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Đó là việc quản lý, giám sát đối với tổ chức, cá nhân, tham gia các hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, giao dịch chứng khoán, kinh doanh, dịch vụ chứng khoán,… Đối tượng quản

lý, giám sát gồm các tổ chức phát hành, công ty đại chúng, Sở/Trung tâm giao dịch chứng khoán Trung tâm lưu ký chứng khoán, Công ty chứng khoán, Công ty quản

lý quỹ đầu tư chứng khoán, Quỹ đầu tư chứng khoán, Công ty đầu tư chứng khoán, Ngân hàng giám sát, các nhà đầu tư,…

+ Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm về chứng khoán và TTCK Với tính chất phức tạp của TTCK, mọi biến động, rủi ro luôn có thể xảy ra, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của thị trường và lớn hơn là ảnh hưởng đến cả nền kinh tế TTCK càng phát triển, giao dịch chứng khoán có thể diễn

ra trên toàn cầu thì tính phức tạp, độ rủi ro tiềm ẩn càng lớn Để hạn chế những mặt trái, những hành vi tiêu cực trên thị trường, hoạt động quản lý nhà nước thông qua thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các vi phạm về chứng khoán và TTCK rất được coi trọng và được tiến hành ở bất kỳ quốc gia nào có TTCK Các cơ quan quản lý thường được giao thẩm quyền khá lớn trong việc cưỡng chế thực thi, thanh tra các hành vi trái pháp luật Để tiến hành công việc này, Luật chứng khoán các nước đều có quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý trong hoạt động thanh tra, xử lý vi phạm, thậm chí quy định khá cụ thể như trong Luật chứng khoán của Trung Quốc, cơ quan quản lý có quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu, yêu cầu các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường vi phạm pháp luật ngoài việc bị phạt tiền còn có thể bị phạt tù hoặc bị áp dụng cả hai hình thức Ở một số nước như Nhật Bản, các thanh tra viên của cơ quan quản lý trong quá trình thanh tra được thẩm vấn các đối tượng tình nghi, tịch thu các tài liệu, hồ sơ, sổ sách,…, nếu có vi phạm, cơ quan thanh tra gửi thông báo cho văn phòng công tố để tiến hành các thủ tục khởi tố Nhà

Trang 30

27

nước bắt buộc các tổ chức và cá nhân hoạt động trên TTCK không được thực hiện các hành vi bị cấm quy định trong Luật chứng khoán như gian lận, lừa đảo, tạo dựng thông tin sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch, giao dịch nội gián,… nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho hoạt động của TTCK

- Thứ tư, đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán

Đối với các quốc gia có thị trường chứng khoán chưa phát triển, nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng Hoạt động của TTCK do đội ngũ các chuyên gia chứng khoán của các công ty chứng khoán thực hiện Nếu lực lượng này còn thiếu cả về chuyên môn kiến thức lẫn bề dày kinh nghiệm thì chất lượng dịch vụ mà họ cung ứng cho thị trường vừa đơn điệu lại vừa thiếu chất lượng Do đó, đối tượng quan trọng nhất cần nhận được sự đào tạo chuyên sâu, chuyên nghiệp cả về kiến thức và kỹ năng thực hành, đó chính là những người tác nghiệp trên TTCK - những người hành nghề chứng khoán Thành công hay thất bại của TTCK một phần quan trọng do sự đóng góp của đội ngũ các chuyên gia chứng khoán này Bên cạnh đó về phía các nhà đầu tư, trong lúc còn rất thiếu các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có tri thức chuyên sâu về chứng khoán để đầu tư

có hiệu quả vào TTCK để làm đầu tàu dẫn dắt thị trường theo hướng có hiệu quả thì các nhà đầu tư công chúng lại rất thiếu những kiến thức về TTCK, họ đầu tư theo phong trào, tâm lý rất dễ bị dao động, gây ra những hiệu ứng “bầy đàn”, dẫn đến xu hướng thái quá trên thị trường, vừa làm tổn hại đến thị trường, vừa thiệt hại quyền lợi của bản thân

Việc quản lý thị trường chứng khoán cũng đòi hỏi các nhà quản lý, điều hành thị trường cần phải có kiến thức chuyên sâu về TTCK để xây dựng được một chiến lược phát triển TTCK cùng với khung pháp lý hoàn thiện riêng cho ngành chứng khoán và đồng bộ với các bộ luật khác như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy quốc gia nào chú trọng phát triển nguồn nhân lực thì quốc gia đó tổ chức thành công một TTCK phát triển Do đó nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng của thị trường

Trang 31

28

- Thứ năm, tham gia hội nhập thị trường chứng khoán khu vực và thế giới Trong thời đại ngày nay, hội nhập vào nền kinh tế thế giới đang trở thành một xu thế khách quan đối với hầu hết các nước trong khu vực và cả trên thế giới Hội nhập kinh tế làm cho các quốc gia nằm trong trạng thái phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn và nền kinh tế của mỗi nước ngày càng trở thành một bộ phận khăng khít của kinh tế thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế giúp cho quá trình trao đổi, hợp tác, cũng như hoạch định chính sách phát triển thị trường theo những chuẩn mực quốc tế

và thông lệ tốt nhất, tạo điều kiện để chính phủ tiếp cận nhanh và sâu rộng hơn kinh nghiệm quốc tế về quản lý, công nghệ tiên tiến và những bài học của các nước đi trước Từ đó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạch hóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát hành Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển tốt trong tương lai Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo", "bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể) Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài chính, Nhà nước sẽ đa dạng hóa các công cụ

và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung,

Trang 32

29

thị trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn

Hội nhập kinh tế quốc tế có thể đem lại những lợi ích rất lớn cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia, nhưng cũng có những tác động tiêu cực Những gì đem lại từ hội nhập kinh tế quốc tế phụ thuộc phần lớn vào cách thức, bước đi hội nhập như thế nào Các quốc gia khác nhau thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế theo các trình tự khác nhau tuỳ theo các điều kiện riêng có của nước mình nhằm tận dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế mang lại Từ đó có thể thấy nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tham gia hội nhập TTCK khu vực và quốc tế nhằm phát triển TTCK

1.2.2 Những nhân tố tác động đến vai trò của nhà nước đối với thị trường chứng khoán

Nhà nước thực hiện quản lý thị trường chứng khoán bằng việc xây dựng khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, xây dựng cơ quan quản lý thị trường chứng khoán để giám sát hoạt động thị trường, áp dụng các biện pháp, chính sách phù hợp tác động đến hoạt động của thị trường chứng khoán Vai trò của nhà nước đối với thị trường chứng khoán do nhiều nhân tố tác động, đó là:

Trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng

Việc quản lý thị trường chứng khoán của Chính phủ tại các nước phát triển

và các nước có nền kinh tế đang phát triển rất khác nhau Thị trường chứng khoán của các nước công nghiệp thường bắt đầu hoạt động khi khu vực kinh tế tư nhân phát triển đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Thị trường chứng khoán ở các nước này

do các cá nhân với tư cách là thành viên đứng ra tổ chức để tạo điều kiện cho các giao dịch chứng khoán Ngược lại thị trường chứng khoán tại các nước đang phát triển thường do Chính phủ thành lập với những mục tiêu cụ thể: Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường chứng khoán để hỗ trợ việc huy động vốn, tư nhân hóa và thực hiện các mục tiêu kinh tế khác Chính vì vậy Chính phủ có vai trò lớn hơn trong việc quản lý chứng khoán

Sự phát triển của thị trường chứng khoán là một yếu tố tác động tới vai trò của nhà nước Đối với những nước có TTCK thực sự phát triển với trình độ cao, nhà

Trang 33

30

nước chủ yếu thực hiện vai trò quản lý, giám sát, thanh tra các hoạt động vi phạm trên thị trường Trong khi đó đối với những nước chưa có TTCK phát triển, nhà nước chủ yếu thể hiện vai trò xây dựng chính sách, pháp luật để tạo ra hành lang pháp lý, cơ chế vận hành phù hợp với TTCK trong mỗi giai đoạn phát triển Đặc biệt là cùng với sự phát triển của TTCK đã làm xuất hiện các công cụ tài chính mới, các sản phẩm mới và điều đó đòi hỏi nhà nước phải đảm bảo được các khuôn khổ pháp lý điều chỉnh đi kèm đủ đồng bộ, chặt chẽ để phát huy mặt tích cực của các sản phẩm đó, đồng thời giảm thiểu tác động bất lợi lên TTCK

Trình độ quản lý của nhà nước

Trình độ quản lý của nhà nước là một nhân tố tác động mạnh mẽ tới vai trò của nhà nước đối với sự phát triển của TTCK Những nước có trình độ quản lý cao, việc xây dựng và thực thi pháp luật cực kỳ hiệu quả với cơ chế truyền dẫn tác động gián tiếp Với đội ngũ cán bộ có trình độ cao và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán tinh gọn (với vệ tinh là các tổ chức tự quản), nhà nước

đã xây dựng khung pháp lý đảm bảo sự minh bạch và công bằng trên TTCK Rất nhiều hoạt động vi phạm trên TTCK được chính cơ chế hoạt động của TTCK giải quyết, đặc biệt là hành vi thao túng thị trường – hành vi này đã thực sự bị loại bỏ bởi các nhà tạo lập thị trường (market maker)

Tại các nước có trình độ quản lý kém, việc xây dựng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán cực kỳ khó khăn Nhà nước luôn phải liên tục sửa đổi, ban hành khung pháp lý đối với những vấn đề phát sinh do nhu cầu của TTCK để điều chỉnh thị trường phát triển một cách lành mạnh và ổn định Với năng lực cán

bộ quản lý còn yếu, việc xây dựng pháp luật để điều chỉnh các hoạt động trên TTCK còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu vận động của thị trường và dẫn tới việc thực thi pháp luật không hiệu quả, mâu thuẫn giữa chính sách pháp luật với thực tiễn TTCK đặt ra Do đó những hành vi vi phạm trên TTCK chưa được phát hiện và xử lý kịp thời và thậm chí không thể xử lý được

Đặc điểm dân cư

Ở các nước khác nhau có đặc điểm dân cư khác nhau Dưới góc độ là thành viên tham gia TTCK, vai trò của nhà nước bị tác động khá lớn bởi đặc điểm dân cư

Trang 34

31

Với những nước có trình độ dân trí cao (thường là nước phát triển), những người tham gia TTCK có ý thức tuân thủ pháp luật rất tốt Điều này cũng một phần do hệ thống pháp luật của nước phát triển khá đầy đủ, minh bạch và nghiêm minh Trên

cơ sở đó họ đã có những kiến thức, am hiểu sâu sắc về TTCK và thông thường tham gia với tư cách là một nhà đầu tư thật sự (đầu tư với thời gian dài) mà không phải nhà đầu cơ (lướt sóng) Điều này đã góp phần tạo ra sự phát triển một cách ổn định của TTCK Tuy nhiên ở những nước có trình độ dân trí thấp, việc tuân thủ pháp luật còn rất kém, thậm chí lợi dụng sơ hở của hệ thống pháp luật để lách luật Do trình

độ hiểu biết về TTCK còn thấp, họ tham gia TTCK với tâm lý bầy đàn rõ nét, đặc biệt là vấn đề đầu tư theo tin đồn, đã gây ra sự biến động mạnh trên thị trường Sự biến động, không ổn định TTCK đòi hỏi nhà nước phải có chính sách điều chỉnh để điều tiết thị trường như là việc giám sát thị trường, có những chứng cứ bác bỏ tin đồn, ổn định tâm lý cho nhà đầu tư trên TTCK Những chính sách điều chỉnh đó cần phải được nhà nước thực hiện nhanh chóng, rõ ràng và phải là hành động thiết thực nhất chứ không chỉ là những câu phát ngôn mà không thực hiện Rõ ràng là đối với trình độ dân trí còn thấp, nhà nước cần phải tăng cường tuyên truyền kiến thức về chứng khoán theo nhiều cách khác nhau để nâng cao trình độ dân trí và xây dựng các chính sách để điều tiết, ổn định TTCK

Sự phát triển công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin có vai trò quan trọng trong hoạt động của TTCK và là công cụ để nhà nước thể hiện vai trò của mình đối với TTCK

Đối với hoạt động của thị trường, nhà nước có chức năng quản lý thống nhất các tiêu chuẩn công nghệ thông tin do thị trường có nhiều đối tượng tham gia và sử dụng công nghệ trong hầu hết các hoạt động nghiệp vụ Những cách thức triển khai

và áp dụng công nghệ của các tổ chức này có liên quan đến quyền lợi của nhà đầu

tư và tính an toàn ổn định chung của thị trường Sự phát triển của công nghệ thông tin giúp nhà nước xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy định về công nghệ tin học ứng dụng trong ngành chứng khoán; thực hiện kiểm tra việc tuân thủ các quy định về công nghệ trong ngành chứng khoán; thực hiện thống nhất việc cấp phát và

sử dụng chứng thực chữ ký số trong các hoạt động giao dịch chứng khoán Nhờ

Trang 35

32

công nghệ thông tin, nhà nước có thể xây dựng hệ thống giao dịch với tính ổn định trong giao dịch chứng khoán, tăng tốc độ xử lý trong giao dịch chứng khoán, tạo ra nhiều phương thức giao dịch khác nhau và thực sự linh hoạt trong việc vận hành giao dịch thị trường Công tác giám sát được hỗ trợ một cách hiệu quả do phần mềm giám sát chuyên dụng có khả năng thực hiện giám sát trực tuyến, khả năng hỗ trợ tính toán thống kê cho công tác giám sát nhiều ngày với khả năng tính toán thống kê

dữ liệu nhanh Với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhà nước có thể xây dựng

hệ thống công bố và phân phối thông tin một cách tự động với khả năng công bố thông tin hiệu quả với việc phân loại và quản lý thông tin Sự phối hợp giữa các hệ thống tạo ra sự thuận lợi cho nhà nước trong các hoạt động quản lý, giám sát và công bố thông tin trong hoạt động giao dịch của nhà đầu tư

Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan và có tác động rất lớn tới TTCK trong nước Hội nhập kinh tế quốc tế có những tác động tích cực như: Góp phần đa dạng hóa các sản phẩm tài chính cùng với sự nở rộ các định chế và dịch vụ tài chính-chứng khoán (các quỹ đầu tư, công ty tài chính, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, kiểm toán ), tạo ra các công

cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng, thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK… Bên cạnh đó hội nhập kinh tế quốc tế cũng có những tác động tiêu cực điển hình như: làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế quốc gia, nhất là đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp, làm tăng quy mô, tính chất của tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế… Điều này có tác động mạnh mẽ tới vai trò của nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán Nhà nước cần phải nhanh nhạy hơn để tận dụng những tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực tới sự phát triển của TTCK

Với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng, nhà nước cần phải tận dụng mọi

cơ hội để nâng cao trình độ quản lý và năng lực cho đội ngũ cán bộ, học tập kinh nghiệm và tiếp cận với công nghệ thông tin quản lý, giám sát điều hành thị trường Bên cạnh đó là việc quản lý dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cần phải chủ động, linh hoạt và có các chính sách để thu hút dòng vốn này Vốn đầu tư gián tiếp

Trang 36

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường chứng khoán và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường chứng khoán

1.3.1.1 Các mô hình quản lý thị trường chứng khoán

Trên thế giới có một số mô hình quản lý thị trường chứng khoán, thông dụng nhất là hình thức biến thể mô hình cơ bản của Mỹ Mô hình đó tạo ra thị trường khá

tự do, có tính cạnh tranh trong khu vực tài chính và chế độ tự quản của người hành nghề có sự giám sát chặt chẽ từ Chính phủ Gần đây mô hình này đã thay thế mô hình chế độ tự quản của người hành nghề truyền thống, thường được sử dụng tại các thị trường phát triển và một số thị trường mới nổi

Phương pháp truyền thống quản lý thị trường chứng khoán dựa trên nguyên tắc giám sát của Chính phủ với SGDCK và người hành nghề ở mức độ tối thiểu cần thiết Mô hình thứ ba thường sử dụng ở nhiều nước có thị trường chứng khoán mới phát triển và mới nổi là thể chế quản lý dưới sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ đối với thị trường chứng khoán Tại một số nước, việc quản lý và kiểm soát thị trường của Chính phủ thành công nhờ có sự giúp đỡ của các tổ chức tự quản, đôi khi các tổ chức này được độc quyền thực hiện mà ở nơi khác được coi là các hoạt động chống cạnh tranh Chính phủ thực hiện việc quản lý và giám sát chặt chẽ, trực tiếp đối với thị trường , ít dựa vào chế độ tự quản

Ở nhiều nước có thị trường chứng khoán mới nổi, cơ quan quản lý thị trường

Trang 37

34

chứng khoán có trách nhiệm quản lý thị trường đồng thời thúc đẩy sự phát triển của thị trường Trong khi đó tại các nước có thị trường phát triển, vai trò này chỉ hạn chế ở việc quản lý Ngày nay, hầu hết các nước sử dụng mô hình kết hợp, chuyển đổi từ chế độ kiểm soát sang mô hình hình cơ chế thị trường để phân bổ nguồn vốn với sự giám sát quản lý chặt chẽ của nhà nước để đảm bảo các tiêu chuẩn tài chính

và quy định an toàn khác nhau nhằm bảo vệc nhà đầu tư

Hoạt động quản lý thị trường chứng khoán tại các nước Đông Á trải qua nhiều thay đổi lớn trong những năm gần đây Cho tới năm 1991, Ngân hàng Trung ương vẫn chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc quản lý các chứng khoán theo phương thức phổ biến, đặt việc quản lý các công cụ tài chính dưới sự quản lý của Ủy ban chứng khoán Tại Malaysia, việc phát hành các công cụ nợ khả mại bao gồm cả trái phiếu công ty vẫn yêu cầu có sự chấp thuận của Ngân hàng trung ương vì việc đầu tư mua trái phiếu được coi như nhận tiền gửi theo Luật Ngân hàng và Định chế tài chính năm 1989

1.3.1.2 Vai trò của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán

Vai trò của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán bị chi phối bởi trình độ phát triển kinh tế từng giai đoạn và các quy định pháp lý đối với thị trường

Nước Mỹ có cơ quan quản lý thị trường chứng khoán lâu năm và có kinh nghiêm nhất thế giới Với việc thông qua Luật chứng khoán, Ủy ban chứng khoán

Mỹ được thành lập năm 1934 hướng tới bảo vệ các nhà đầu tư, đảm bảo thị trường hoạt động công bằng và trung thực, những người hành nghề tuân thủ đúng luật vả các quy chế được áp dụng Luật ngân hàng năm 1933 quy định tách biệt ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại Ủy ban chứng khoán không có trách nhiệm quản

lý trực tiếp hoạt động chứng khoán của ngân hàng thương mại Ủy ban chứng khoán

Mỹ là cơ quan quản lý độc lập với các bộ khác của chính phủ, đứng đầu là chủ tịch

và một số ủy viên hội đồng do Tổng thống bổ nhiệm, chịu sự giám sát của Quốc hội

Tại các nước Đông Á, gần đây hầu hết các nước đã thành lập cơ quan quản lý

và phát triển thị trường chứng khoán Sự lãnh đạo của Ủy ban chứng khoán tác động tới chất lượng quản lý ở các nước Đông Á là khác nhau Các nhà quản lý Châu

Trang 38

35

Á không độc lập bằng nhà quản lý ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức Phần lớn các cơ quan quản lý các nước Đông Á có vai trò quan trọng trong việc thiết lập chính sách phát triển thị trường chứng khoán và các định chế liên quan Cơ quan của Chính phủ như Bộ Tài chính, Ngân hàng Trung ương và các bộ phận khác có liên quan đến phát triển luật pháp và quản lý hành chính có sự hợp tác chặt chẽ tạo điều kiện cho việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán

1.3.1.3 Quản lý công ty phát hành chứng khoán

Các tiêu chuẩn công bố thông tin và kế toán, kiểm toán giúp nhà đầu tư có các thông tin đánh giá về việc mua bán các chứng khoán phát hành là nhân tố quan trọng trong quản lý thị trường chứng khoán Việc vận hành hiệu quả thị trường thứ cấp cũng phụ thuộc vào nguồn thông tin liên tục về các công ty chứng khoán giao dịch Việc quản lý chứng khoán ở Mỹ cũng như hầu hết các nước phát triển chủ yếu tập trung vào nguyên tắc công bố thông tin mà không dựa vào việc quản lý chất lượng công ty phát hành hay một loại chứng khoán cụ thể Vấn đề quản lý bao gồm yêu cầu công bố thông tin chi tiết và yêu cầu chung về tài liệu chào bán không được

có thông tin sai hoặc bỏ sót Qua việc công bố thông tin đầy đủ, nhà đầu tư có trách nhiệm đánh giá giá trị công ty để đưa ra quyết định đầu tư

Luật chứng khoán Thái Lan gây được tác động lớn bằng việc tăng cường tập trung vào tiêu chuẩn công bố việc chào bán chứng khoán ra công chúng Tại Hàn Quốc, việc phát hành trái phiếu chỉ giới hạn cho các công ty niêm yết hay các công

ty có đăng ký với Ủy ban chứng khoán Để phát hành trái phiếu, công ty phải đáp ứng các yêu cầu về đăng ký và công bố thông tin do Ủy ban chứng khoán quy định Tại Phillippines, yêu cầu công bố thông tin do Ủy ban chứng khoán thực hiện thông qua quá trình đăng ký Tuy nhiên trong quản lý và kiểm soát quá trình phát hành, công ty phát hnhà phải công bố thông tin cho nhà đầu tư về lịch sử kinh doanh của công ty, năng lực của giám đốc cùng với các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và đánh giá độc lập về tài sản Nhà phát hành cũng phải trình bày báo cáo bảo tín về thông tin yêu cầu được công bố theo quy định của Luật chứng khoán và các quy định pháp luật khác của Ủy ban chứng khoán

1.3.1.4 Quản lý thị trường thứ cấp

Trang 39

36

Giao dịch thị trường thứ cấp có vai trò quan trọng trong quá trình huy động vốn Thị trường thứ cấp hoạt động hiệu quả giúp nhà đầu tư giao dịch các chứng khoán sau khi phát hành lần đầu ra công chúng Khả năng thanh khoản đặc biệt quan trọng trên thị trường chứng khoán Giao dịch thị trường thứ cấp nếu được thực hiện một cách công khai, có hiệu quả cho phép chứng khoán được định giá theo cung, cầu cầu của thị trường Thông thường việc giám sát thị trường là trách nhiệm hàng đầu của SGDCK với tư cách là tổ chức tự quản có sự kiểm soát của Ủy ban chứng khoán

Tại Malaysia, Ủy ban chứng khoán và SGDCK Kualalumpur thực hiện việc giám sát thị trường là trách nhiệm hàng đầu của SGDCK với tư cách là tổ chức tự quản có sự kiểm soát của Ủy ban chứng khoán Vụ Giám sát thị trường của Ủy ban chứng khoán thực hiện việc giám sát và tuân thủ Vụ này giám sát giao dịch để phát hiện giá cả và khối lượng giao dịch bất thường, thao túng thị trường hoặc giao dịch nội gián Vụ cũng điều tra chứng cứ giúp cho việc khởi tố các vi phạm Luật chứng khoán Tại Thái Lan, việc giám sát thị trường thứ cấp là trách nhiệm của SGDCK với sự giám sát của Ủy ban chứng khoán Tại Hàn Quốc, SGDCK chịu trách nhiệm hàng ngày đối với thị trường các chứng khoán niêm yết, Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán Hàn Quốc thực hiện chức năng tự quản trên thị trường OTC

1.3.1.5 Quản lý các tổ chức trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán

Các tổ chức trung gian tài chính như công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư hay các công ty tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính cho thị trường chứng khoán Sự cạnh tranh giữa các trung gian tài chính góp phần làm tăng tính hiệu quả của thị trường và thúc đẩy phát triển các loại công cụ tài chính cho nhà đầu tư và nhà phát hành Cơ quan quản lý lập ra các tiêu chuẩn về đăng ký, gia nhập, trách nhiệm tài chính và yêu cầu báo cáo đối với các trung gian tài chính này, đồng thời theo dõi tình hình tài chính của công ty chứng khoán và kiểm tra giám sát các công

ty trong việc tuân thủ yêu cầu về vốn và các yêu cầu quản lý khác Khách hàng của công ty chứng khoán, ngân hàng và các nhà chuyên nghiệp khác trên thị trường phải được bảo vệ tránh việc gian lận, không tuân thủ pháp luật hoặc trường hợp công ty

vỡ nợ

Trang 40

37

Tại Hàn Quốc, các công ty chứng khoán có đăng ký với Bộ Tài chính, hoạt động với tư cách là nhà bảo lãnh, nhà môi giới giao dịch chứng khoán theo quy định của Luật chứng khoán Công ty chứng khoán chịu sự giám sát của Ủy ban chứng khoán, Ban kiểm soát, SGDCK và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán với tư cách là tổ chức tự quản Ủy ban chứng khoán và Ban kiểm soát chứng khoán chịu trách nhiệm quản lý các công ty chứng khoán, kiểm soát các điều kiện tài chính và thực hiện kiểm tra tại chỗ Việc tham gia của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán được hạn chếtheo quy định của Luật ngân hàng và các quy định của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc Việc tham gia của các công ty chứng khoán nước ngoài được hạn chế bằng cách quy định các cá nhân và công ty Hàn Quốc phải nắm giữ trên 50% vốn đã góp

Các định chế tài chính Indonesia do Bộ Tài chính quản lý trừ các ngân hàng

do Ngân hàng trung ương quản lý Bộ Tài chính giao trách nhiệm cho cơ quan quản

lý thị trường vốn thực hiện việc cấp phép cho các nhà bảo lãnh, môi giới giao dịch

và công ty quản lý quỹ Các tổ chức này cũng chịu sự giám sát của SGDCK Tại Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, công ty chứng khoán phải tuân thủ tiêu chuẩn tài chính và các quy chế khác do cơ quan quản lý chứng khoán quy định

và đặt dưới chế độ tự quản của SGDCK

1.3.1.6 Các chính sách tài chính của Chính phủ đối với thị trường chứng khoán

Xu hướng tự do hóa tài chính đòi hỏi sự can thiệp của Chính phủ bằng các chính sách tài chính đối với thị trường chứng khoán là rất khác nhau với các thị trường khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Tại hầu hết thị trường chứng khoán của các nước công nghiệp phát triển như

Mỹ, Anh, Đức, các cơ quan quản lý tập trung vào chức năng chủ yếu là quản lý thị trường, quy trì hoạt động ổn định và hiệu quả của thị trường Vì vậy các chính sách tài chính như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách tài chính dân cư… tập trung hướng tới mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và

tự do hóa tài chính

Tại các thị trường chứng khoán mới nổi, thị trường đang phát triển, các cơ

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2005), Thị trường chứng khoán Việt Nam 5 năm hình thành và phát triển, NXB Tài chính, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán Việt Nam 5 năm hình thành và phát triển
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, tập 25- phần I, NXBCTQG, HN,1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, tập 25- phần I
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 1994
3. C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, tập 25- phần II, NXBCTQG, HN,1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập, tập 25- phần II
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 1994
4. Hồ Ngọc Cẩn (2004), Những quy định về cổ phần hoá và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, NXB Tài chính, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định về cổ phần hoá và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Ngọc Cẩn
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
5. Trần Thị Minh Châu (2003), Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế xã hội hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế xã hội hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Phạm Chí Dũng (2007), “Hiệu quả của TTCK”, Thời báo kinh tế Việt Nam, số 131 ngày 01/6/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của TTCK
Tác giả: Phạm Chí Dũng
Nhà XB: Thời báo kinh tế Việt Nam
Năm: 2007
7. Phạm Văn Dũng (2001), Giáo trình kinh tế chính trị tập 1+2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị tập 1+2
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Nguyễn Minh Đức (2006), Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế chuyển đổi, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế chuyển đổi
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2006
11. Frederic S.Miskin (1994), Tiền tệ- ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ- ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: Frederic S.Miskin
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1994
12. George Soros (2008), Mô thức mới cho thị trường tài chính: Cuộc khủng hoảng năm 2008 và ý nghĩa của nó, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô thức mới cho thị trường tài chính: Cuộc khủng hoảng năm 2008 và ý nghĩa của nó
Tác giả: George Soros
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
13. Trần Thị Thái Hà (2005), Giáo trình Đầu tư Tài chính, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đầu tư Tài chính
Tác giả: Trần Thị Thái Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
14. Bùi Nguyên Hoàn (2001), Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần
Tác giả: Bùi Nguyên Hoàn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
15. Luật chứng khoán, Nhà xuất bản Tư pháp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật chứng khoán
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
16. Trịnh Thị Hoa Mai (2001), Giáo trình Kinh tế học tiền tệ - Ngân hàng, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học tiền tệ - Ngân hàng
Tác giả: Trịnh Thị Hoa Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Đa Minh (2007), “ Không nên giãn tiến độ IPO”, Báo Thanh niên, số 201 ngày 20/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không nên giãn tiến độ IPO”, "Báo Thanh niên
Tác giả: Đa Minh
Năm: 2007
18. Đào Lê Minh (2002), Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Đào Lê Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2002
40. Website http://atpvietnam.com 41. Website http://cafef.vn Link
48. Website http://www.vneconomy.com.vn 49. Website http://www.vse.org.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Tình hình đấu giá, đấu thầu qua các năm - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 2.1 Tình hình đấu giá, đấu thầu qua các năm (Trang 45)
Bảng 2.1: Giá trị vốn hóa thị trường qua các năm - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2.1 Giá trị vốn hóa thị trường qua các năm (Trang 47)
Hình 2.2: Số lượng công ty niêm yết qua các năm - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 2.2 Số lượng công ty niêm yết qua các năm (Trang 49)
Bảng 2.2: Chỉ số Vn-index và Hnx-Index qua các năm - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2.2 Chỉ số Vn-index và Hnx-Index qua các năm (Trang 51)
Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình giao dịch cổ phiếu - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình giao dịch cổ phiếu (Trang 52)
Bảng 2.4: Tình hình giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài năm 2008 - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2.4 Tình hình giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài năm 2008 (Trang 52)
Hình 2.3: Số lượng Công ty quản lý quỹ từ năm 2003-2008 - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 2.3 Số lượng Công ty quản lý quỹ từ năm 2003-2008 (Trang 55)
Bảng 2.7: Tình hình xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán năm 2008 - Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2.7 Tình hình xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán năm 2008 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w