1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc làm trong quá trình công nghiệp hóa ở Bắc Ninh

118 544 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc trưng của nguồn lao động là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng như: số lượng, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số người đang đi học, số người đang làm việc, khả năng tiếp th

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM

TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA Ở NƯỚC TA 6

1.1 Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm trong

1.2 Công nghiệp hoá tác động tới việc làm 21 1.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số địa phương 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ Ở BẮC NINH 36

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới

2.2 Tình hình giải quyết việc làm trong quá trình công

nghiệp hoá ở Bắc Ninh thời gian qua 48 2.3 Những vấn đề đặt ra hiện nay về việc làm trong

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

ĐỂ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở TỈNH BẮC NINH 74

3.2 Những giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm

trong quá trình CNH ở tỉnh Bắc Ninh 80

Trang 2

KCN, KĐT : Khu công nghiệp, khu đô thị ILO :Tổ chức Lao động quốc tế

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm luôn là một trong những vấn đề xã hội có tính cấp thiết toàn cầu, là mối quan tâm lớn của tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển

Ở nước ta, vấn đề việc làm cho người lao động luôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người,

ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh hoá xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân

Tạo việc làm cho người lao động, một mặt phát huy được tiềm năng lao động nguồn lực to lớn cho sự phát triển kinh tế – xã hội, mặt khác là điều kiện

cơ bản để xoá đói giảm nghèo có hiệu quả nhất, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước

Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ thuộc đồng bằng Bắc bộ, được tách ra từ tỉnh

Hà Bắc cũ (1/1/1997) với diện tích tự nhiên 803,9 km2, dân số 976,700 người (2003) Sau những năm tái lập tỉnh, Bắc Ninh cùng với cả nước bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Và từ năm 2000 đến nay, kinh tế Bắc Ninh luôn tăng trưởng với nhịp độ cao, tương đối toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tổng sản phẩm nội địa (GDP) hàng năm bình quân 13,9%, tỷ trọng GDP của khu vực công nghiệp, xây dựng tăng nhanh từ 25, 6% (2000) lên 47,2% năm 2005, cùng với đó là quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng

Tuy nhiên, Bắc Ninh vẫn còn mang đậm dấu ấn của một tỉnh nông nghiệp, lao động nông nghiệp chiếm 68,2% (2003) và một trong những thách thức lớn nhất của Bắc Ninh hiện nay là tình trạng thất nghiệp đang có xu

Trang 4

2

hướng tăng nhất là ở khu vực nông thôn Mặt khác tỷ lệ gia tăng dân số còn khá cao trong khi diện tích đất nông nghiệp có hạn Điều đó đã và đang cản trở quá trình CNH, HĐH của tỉnh và là một bức xúc ngày càng lớn về việc làm ở Bắc Ninh hiện nay

Vì vậy, nghiên cứu vấn đề việc làm ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay nhằm đánh giá đúng thực trạng, tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu

để sử dụng hợp lý nguồn lao động đang là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa

thiết thực cả về lý luận và thực tiễn Do vậy, tôi chọn đền tài “Việc làm trong quá trình công nghiệp hoá ở Bắc Ninh” làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

- Ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây đã có những tác giả có những công trình, bài viết xung quanh vấn đề này tiêu biểu như:

- PTS Nguyễn Hữu Dũng, PTS Trần Hữu Trung (Chủ biên): Về chính

sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia HN 1997 Các

tác giả đã trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việc làm, làm rõ thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay

Từ đó khuyến nghị, định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc CNH, HĐH

- TS Nguyễn Hữu Dũng: Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong

quá trình đô thị hóa, công nghiếp hóa nông nghiệp nông thôn – Tạp chí Lao

động xã hội, số 247 ( từ 16 – 30/9/2004) Tác giả đã đề cập đến thực trạng về lao động và việc làm ở nông thôn trong quá trinh CNH, HĐH và đô thị hóa, đồng thời đưa ra những phương hướng và giải pháp cơ bản để giải quyết việc làm ở nông thôn

- PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc: Giải quyết việc làm ở nông thôn và những

vấn đề đặt ra, Tạp chí Con số và sự kiện, số 8/ 2003, trong bài viết tác giả đã

đề cập những biến động của tình hình dân số ở nông thôn và những xu hướng

Trang 5

3

mới trong việc tạo việc làm ở nông thôn: Kinh tế trang trại, khôi phục và phát triển làng nghề nông thôn, tạo việc làm mới từ phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa từ các chương trình quốc gia, quốc tế

- GS.TS Phạm Đức Thành: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam, Tạp

chí Kinh tế và phát triển, số 64- 2002 Trong bài tác giả đã đánh giá thực trạng việc làm và thất nghiệp trên cơ sở đó đề ra những quan điểm và biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động

- TS Nguyễn Tiệp: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn:

Các giải pháp tạo thêm việc làm, Tạp chí Lao động và công đoàn, số 309

(6/2004) Trong bài tác giả đã đề cập đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

ở nông thôn là phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và việc phát triển này sẽ góp phần tăng mức cầu lao động trên địa bàn nông thôn

- TS Nguyễn Bá Ngọc, KS Trần Văn Hoan (Chủ biên): Toàn cầu hóa:

cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, Hà nội

2002 Các tác giả đã trình bày tác động của toàn cầu hóa đến người lao động, phân tích cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế Từ đó đề ra các giải pháp cho lao động Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa

- TS Vũ Đình Thắng: Vấn đề việc làm cho người lao động ở nông thôn

Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 3/2002 Tác giả đã đánh giá tầm quan trọng

và những kết quả đạt được trong giải quyết việc làm ở nông thôn bằng cách phát triển các ngành phi nông nghiệp vơi phương châm: “Ly nông bất ly hương”

- GS.TS Đỗ Thế Tùng: ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề

giải quyết việc làm ở Việt Nam, Tạp chí Lao động và công đoàn, số 6/2002

Tác giả phân tích và đánh giá ảnh hưởng của kinh tế tri thức đối với việc làm

Trang 6

4

Ngoài ra, cũng có mốt số luận văn thạc sỹ viết về đề tài việc làm ở một

số tỉnh như: Hà Tĩnh, Hà Nội, Kiên Giang, Đồng Nai, … Tuy nhiên dưới góc

độ khoa học kinh tế chính trị vẫn chưa có công trình nào viết về vấn đề này dưới dạng luận văn khoa học để tìm ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu cho giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ CNH phát triển mạnh mẽ

Vì vậy, đề tài luận văn này là cần thiết đối với tỉnh Bắc Ninh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết việc làm ở Bắc Ninh, phân tích thực trạng, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Bắc Ninh

3.2 Nhiệm vụ của đề tài:

- Khái quát những vấn đề cơ bản về lý luận lao động, việc làm và thất nghiệp, làm rõ những nhân tố tác động đến việc giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hóa từ đó làm cơ sở cho việc phân tích tình hình giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh

- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến nay

- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung vào các vấn đề có tính trọng điểm: giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bản tỉnh Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ những năm 1997 – 2007, trên cơ sở đó xây dựng một số giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

5

Đề tài sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời cũng sử dụng phương pháp đặc thù của khoa học kinh tế chính trị như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp logic với lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp với khảo sát thực tiễn

6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn

Làm rõ cơ sở lý luận về vấn đề lao động, việc làm và thất nghiệp

Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến nay

Đề xuất được những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 8

6

NỘI DUNG

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA Ở NƯỚC TA

1.1 Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm trong quá trình công nghiệp hoá

1.1.1 Khái quát về lao động, việc làm và thất nghiệp

1.1.1.1 Khái quát về lao động

Ngày nay có rất nhiều khác nhau về khái niệm lao động nhưng suy đến cùng thì lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành các sản phẩm phục

vụ cho nhu cầu đời sống của con người Do đó, lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người và xã hội loài người với các loài động vật

và xã hội loài vật khác

Theo C.Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [9, tr 226] Trong quá trình đó, con người đã vận dụng sức lực của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên một cách có ý thức,

có mục đích nhằm biến đổi những vật thể của tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình Trong quá trình lao động sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp giữa ba yếu tố: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Và trong bất

kỳ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại ngày nay, thì lao động bao giờ cũng là nhân tố cơ bản, là điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội loài người Điều này đã được C.Mác khẳng định:

Trang 9

7

“Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất của con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sáng tạo của con người” [9, tr 61] Và được Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng:

“Lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [8, tr 641] Như vậy có thể khẳng định rằng, lao động là một phạm trù vĩnh viễn, nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của xã hội loài người, lao động làm thay đổi bản thân con người Nói đến vai trò của lao động, nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển Anh – William Petty cũng phải thừa nhận rằng: “Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải”

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, trong bốn nguồn lực cơ bản là: lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học công nghệ thì nguồn lực lao động có vai trò quan trọng nhất, nó là “nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “chìa khoá” cho sự phát triển của mọi quốc gia Ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển cao đã chi phối mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhưng xét cho cùng cũng không thể thay thế vai trò quyết định của lao động Hơn nữa, nguồn lao động là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và

sử dụng chúng vào quá trình phát triển kinh tế

Trong một quốc gia, một vùng hay một địa phương cụ thể thì nguồn lao động là tổng thể toàn bộ thể lực và trí lực của bộ phận dân cư có khả năng lao động Nói một cách cụ thể, nguồn lao động là bộ phận dân cư có toàn bộ những khả năng về thể chất và tinh thần có thể sử dụng trong quá trình lao động

Trang 10

8

Bộ phận chính của nguồn lao động là lực lượng lao động Trên thế giới

có nhiều quan niệm khác nhau về lực lượng lao động, song nhìn chung đều thống nhất với quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là: “Lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi có khả năng lao động được pháp luật quy định, thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp”

Điểm khác nhau giữa các nước trong quan niệm về lực lượng lao động

là ở độ tuổi quy định Có nước quy định tuổi bước vào hoặc bước ra sớm hơn,

có nước lại muộn hơn Tuy nhiên ở nước ta, độ tuổi lao động được pháp luật quy định là đủ từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với

nữ Quy định về độ tuổi lao động ở nước ta trùng với quan niệm của ILO

Đặc trưng của nguồn lao động là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng như: số lượng, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số người đang đi học, số người đang làm việc, khả năng tiếp thu của người lao động, ý thức kỷ luật, sức khoẻ…

Vai trò của nguồn lực lao động được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử

dụng, phát triển các nguồn lực khác Các nhà kinh tế học đều thống nhất cho rằng, có bốn nguồn lực chủ yếu là: lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ Nhưng cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng, nguồn lực lao động là nhân tố quyết định nhất Bởi không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lực lao động thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên Thậm chí, thiếu nguồn lực lao động chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và huỷ hoại các nguồn lực khác

Thứ hai, nguồn lực lao động là một bộ phận của các yếu tố “đầu vào”

trong quá trình sản xuất Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực lao động trong hàng hoá

Trang 11

9

Thứ ba, nguồn lực lao động còn tham gia tiêu dùng các sản phẩm và

dịch vụ Như vậy, với tư cách là bộ phận dân số thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lực lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế

Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa nguồn lực lao động với các nguồn lực khác là vừa tham gia tạo cung, tạo cầu của nền kinh tế, vừa trực tiếp điều tiết quan hệ đó gắn với các thể chế kinh tế – xã hội do con người tạo nên Do

có vị trí và vai trò quyết định đó, V.I.Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại là người lao động” [24, tr 430]

Trong nền kinh tế thị trường càng khẳng định vai trò quyết định của nhân tố nguồn lực lao động, nhân tố con người Ở nước ta, Đảng và Nhà nước

đã khẳng định mục tiêu và động lực phát triển kinh tế – xã hội là “vì con người và do con người”

1.1.1.2 Khái quát về việc làm

Khái niệm việc làm có liên quan chặt chẽ với khái niệm lao động Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người Về góc độ kinh tế, xét đến cùng việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất

Ở nước ta, trước thời kỳ đổi mới, người lao động chỉ được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể) Theo đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các khu vực khác và cũng không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp hay thiếu việc làm

Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đến nay, quan niệm về việc làm đã được nhìn nhận đúng đắn và khoa học Theo Điều 13,

Trang 12

10

Chương II của Bộ luật Lao động nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Như vậy, theo quan niệm trên, việc làm bao gồm hai yếu tố: lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật ngăn cấm Trước hết nó đã xoá bỏ được quan niệm sai lầm trước đây cho rằng, chỉ có việc làm trong khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể… Ý nghĩa kinh tế, xã hội của quan niệm này là ở chỗ

nó đã xoá bỏ được sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm cho bản thân và cho người khác Đồng thời, khái niệm trên còn làm rõ đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ nó cho phép công dân Việt Nam được làm những việc mà pháp luật không cấm Ví dụ, nghề giúp việc gia đình, buôn bán nhỏ (con buôn)… là nghề mà trước đây chưa được xã hội tôn trọng thì nay đã trở thành việc làm đáng khuyến khích và được pháp luật bảo

vệ Ngược lại, mọi công dân đều không được làm những việc mà pháp luật cấm như: buôn bán ma tuý, mại dâm…

Như vậy, với quan niệm việc làm như Bộ luật Lao động quy định sẽ tạo cho nội dung của việc làm được mở rộng, tạo tiền đề để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời cũng góp phần ngăn chặn những việc làm phi pháp dễ nảy sinh trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa

Để hiểu rõ hơn khái niệm việc làm, cần xét thêm khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm phù hợp

Việc làm đầy đủ được hiểu là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm

cho mọi thành viên có khả năng lao động và mong muốn được lao động trong nền kinh tế quốc dân Cũng có thể nói, việc làm đầy đủ đối với một người lao

Trang 13

11

động là trạng thái người lao động được sử dụng hết quỹ thời gian lao động của mình trong ngày, trong tháng và trong cả năm

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, với các chính sách đúng đắn

về kinh tế, lao động và việc làm của Đảng và Nhà nước ta đã có tác động tích cực, tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, vì vậy đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động vẫn nổi lên là một trong những vấn đề bức xúc đặc biệt là tình trạng thiếu việc làm đối với những địa phương đất chật, người đông, dân

số chủ yếu làm nông nghiệp

Thiếu việc làm còn được gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá

hình là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong muốn Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài

ý muốn của người lao động, họ phải làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định mà điều này được thể hiện rất rõ trong thực tiễn những địa phương chủ yếu làm nông nghiệp nhưng diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và nông nghiệp lại mang tính thời vụ… Tình trạng thiếu việc làm còn xuất hiện ở những công việc mà tiền công thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung như nghề giáo trước đổi mới Khi đó người làm nghề này được coi là người nông dân có nghề phụ là dạy học… Hay những người nông dân ở một số địa phương đất chật, người đông thường xuyên ra các thành phố tìm việc làm thêm trong lúc nông nhàn

1.1.1.3 Thất nghiệp

Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về vấn đề này, nhưng theo C.Mác, khi phân tích lý luận về thất nghiệp trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát hiện ra “quy luật nhân khẩu thừa tương đối” Theo đó, dưới tác động của cạnh trạnh và các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là

Trang 14

12

quy luật giá trị thặng dư mà nhà tư bản không ngừng mở rộng quy mô tích luỹ Quy luật của tích luỹ làm cho cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng lên, song bộ phận bất biến của tư bản càng nhanh hơn bộ phận khả biến của chúng Trong khi đó, cầu về lao động trong xã hội lại không quan hệ trực tiếp với tổng số tư bản, mà chỉ với bộ phận tư bản khả biến của nó C.Mác viết:

“Vì lượng cầu về lao động không phải do quy mô của tổng tư bản quyết định,

mà do quy mô của bộ phận tư bản khả biến của tư bản quyết định, cho nên cùng với sự tăng lên của tổng tư bản thì lượng cầu về lao động cũng dần giảm bớt đi chứ không phải tăng lên theo tỷ lệ với sự tăng thêm của tổng tư bản, như chúng ta giả định trước đây, lượng cầu về lao động giảm xuống một cách tương đối so với đại lượng của tổng tư bản và giảm xuống theo một cấp số ngày càng nhanh cùng với sự tăng lên của đại lượng” [7, tr 159] Sự giảm sút của phần tư bản khả biến trong tổng tư bản xã hội sẽ gây ra hiện tượng thất nghiệp “máy chèn lấn người” Tuy nhiên đó chỉ là thừa tương đối

Còn theo ILO, thất nghiệp là tình trạng một bộ phận của lực lượng lao động có nhu cầu làm việc, nhưng hiện chưa có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì thất nghiệp là tình trạng số đông người trong độ tuổi lao động không có việc làm hoặc không thể tìm được việc làm để kiếm sống

Tóm lại, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, thất nghiệp có bốn đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, là người nằm trong độ tuổi lao động;

Thứ hai, có khả năng lao động;

Thứ ba, đang không có việc làm;

Thứ tư, đang tích cực tìm kiếm việc làm

Trang 15

13

Theo quan điểm này, thì ở nước ta hiện nay những người từ đủ15 đến

60 đối với nam và từ đủ 15 đến 55 tuổi đối với nữ, nếu hiện đang không có việc làm và đang tìm kiếm việc làm là những người thất nghiệp Tuy nhiên, những người trong độ tuổi lao động nhưng thuộc các đối tượng sau đây không thuộc những người thất nghiệp như:

+ Những người đang đi học;

+ Những người làm công việc nội trợ cho gia đình mình;

+ Những người không có khả năng lao động;

+ Những người không có nhu cầu tìm kiếm việc làm

Để hiểu rõ hơn về khái niệm thất nghiệp, chúng ta cần xem xét những hình thức thất nghiệp cơ bản:

- Thất nghiệp cơ cấu là thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa

cung và cầu về các loại lao động, các ngành nghề chuyên môn…

Sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một loại lao động này tăng, còn mức cầu đối với một loại lao động khác lại giảm đi, trong khi mức cung lại không được thay đổi một cách nhanh chóng và kịp thời vì quá trình đào tạo và đào tạo lại cho một ngành nghề mới là thời kỳ không ngắn

- Thất nghiệp chu kỳ là thất nghiệp do các chu kỳ kinh tế gây ra, nhất là

trong các cuộc khủng hoảng kinh tế khi đó nhu cầu chung về lao động giảm mạnh ở hầu hết các ngành sản xuất

- Thất nghiệp tự nguyện chỉ là những người tự nguyện không muốn làm

việc có thể vì mức lương chưa phù hợp với mong muốn của họ

- Thất nghiệp không tự nguyện là những người muốn làm việc với mức

lương hiện hành vào thời điểm đó những vẫn không tìm được việc làm

- Thất nghiệp tạm thời là thất nghiệp phát sinh do người lao động muốn

có thời gian để tìm việc làm thích hợp với chuyên môn và sở thích của mình

Trang 16

14

- Thất nghiệp theo mùa vụ là thất nghiệp do cầu lao động giảm, thường

vào những thời kỳ nhất định trong năm

Nhìn chung, thất nghiệp là một vấn đề xã hội rất nhạy cảm, là mối quan tâm lớn của tất cả các quốc gia, khi mức thất nghiệp tăng quá cao sẽ làm lãng phí các nguồn lực, thu nhập của người lao động giảm và rơi vào tình trạng nghèo đói, nền kinh tế suy thoái dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội Do đó,

tỷ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xem xét, đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, sự tiến bộ xã hội và là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới

1.1.2 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc làm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

1.1.2.1 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên là một trong các nguồn lực cơ bản của quá trình sản xuất vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, là cơ sở quan trọng hàng đầu của sản xuất vật chất, tạo ra việc làm cho người lao động

Tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia bao gồm tất cả những gì có trong vùng trời, vùng biển, trên mặt đất, trong lòng đất, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, … đều có tác động đến sự phát triển, từ đó có ảnh hưởng lớn đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Thực tiễn đã chứng minh rằng, ở quốc gia nào hoặc vùng nào có tài nguyên thiên nhiên thuận lợi thì ở

đó có điều kiện thuận lợi hơn đối với vấn đề giải quyết việc làm và cơ cấu việc làm, ngành nghề cũng đa dạng và phong phú hơn

Việt Nam có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, do vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, do tốc độ gia tăng dân số trong quá khứ quá nhanh nên số người

Trang 17

15

bước vào độ tuổi lao động ngày càng nhiều Hiện nay nước ta có khẳng trên

40 triệu lao động và hàng năm số người bước vào độ tuổi lao động khoảng 1,3 đến 1,5 triệu người, do vậy tốc độ tạo việc làm không thể tăng kịp với tốc độ gia tăng của nguồn lao động Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi phải phát huy và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với các nguồn lực khác như vốn, lao động, công nghệ,… để tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh và bền vững

1.1.2.2 Dân số và tỷ lệ tăng dân số

Dân số, lao động và việc làm là những vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau Mức gia tăng dân số càng nhanh thì nguồn lao động trong tương lai tăng cũng càng nhanh; đồng thời nó sẽ tạo áp lực lớn đến giải quyết việc làm dưới nhiều khía cạnh khác nhau Gia tăng dân số nhanh sẽ buộc xã hội phải chi tiêu nhiều hơn cho các mục đích tiêu dùng, ít đầu tư cho sản xuất, phát triển nhất

là cho phát triển nguồn nhân lực, do đó, cơ hội để tìm việc làm càng gặp khó khăn, đồng thời nó cũng sẽ tác động ngược lại với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bởi thiếu nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển, đặc biệt là nguồn lao động chất lượng cao Khi xem xét mức độ biến động dân số của nước ta những năm gần cho thấy: “Tốc độ gia tăng dân số hàng năm vẫn tăng 1,3%/năm, đến giữa năm 2003, dân số cả nước đã lên đến gần 81 triệu người, hàng năm có khoảng 1,5 triệu thanh niên tham gia vào lực lược lao động xã hội” [14, tr 24-25] Đây là một sức ép lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay

Nước ta từ khi thực hiện đường lối đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu trong vấn đề giải quyết việc làm Tuy nhiên, do tốc độ gia tăng dân số trong quá khứ quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng nhiều

do đó, tốc độ tạo việc làm càng không kịp với tốc độ gia tăng của nguồn lao

Trang 18

16

động Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị ở nước ta năm 1996 là 5,88% và năm 2003 là 5,78%, còn tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động ở nông thôn năm 1996 là 72,28%, đến năm 2003 là 77,66% [33, tr 23-24] Đây chính là bài toán mà chúng ta cần giải quyết để tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước

mà chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào tiến bộ của kỹ thuật, hay phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhấn mạnh đến nguồn lực con người trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ mà phần tỷ lệ lao động chân tay kết tinh vào sản phẩm ngày một giảm rõ rệt, hàm lượng lao động “chất xám” kết tinh vào sản phẩm ngày càng cao Theo dự báo “đến năm 2010 phần tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm chỉ còn 1/10” [32, tr 31] Điều này đã được C.Mác khẳng định: “Nhưng theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực

tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào số lượng lao động đã chi phí… mà đúng ra, chúng phụ thuộc vào tình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất” [10, tr 368]

Trang 19

17

Như vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ mang lại nhiều cơ hội

để người lao động tạo ra việc làm, phát huy khả năng cống hiến của mình cho

xã hội, đồng thời cũng tạo ra không ít thách thức Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, việc phổ biến các phương tiện tự động hoá sẽ làm cho các nước có nguồn lao động giản đơn và dư thừa nhưng thiếu lao động phức tạp,

có kỹ thuật cao như Việt Nam hiện nay bị mất dần ưu thế Xu hướng hiện nay

là tăng lao động phức tạp có kỹ thuật cao, giảm lao động giản đơn Như vậy, trong xã hội hiện đại, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong quá trình tìm kiếm việc làm Do đó, nếu không lường trước được xu thế này của sự phát triển khoa học công nghệ sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối trong nguồn nhân lực Hiện nay, ngay cả nước Mỹ vẫn còn thừa khoảng 10 triệu chỗ làm việc và cũng có hơn 2 triệu người thất nghiệp nhưng không thể

bố trí được việc làm vì không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật” [ 29, tr 18] Do vậy, xu hướng chắc chắn xảy ra khi phát triển khoa học công nghệ là sự gia tăng thất nghiệp của lao động giản đơn

Ngày nay, khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Vì vậy, nó đòi hỏi phải có một nguồn lao động có chất lượng cao Ở nước ta trong những năm gần đây cho thấy, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có công nghệ tiên tiến cũng không tuyển dụng đủ lao động vì tỷ lệ lao động qua đào tạo vẫn còn thấp Theo số liệu của Hội nghị Trung ương sáu, khoá IX của Đảng thì số lao động đã qua đào tạo năm 2000 mới đạt gần 20% [34, tr 152]

Do vậy, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung là giải pháp cơ bản và cấp bách để hạn chế thất nghiệp, đồng thời cũng là giải pháp hữu hiệu để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.1.2.4.Sự phát triển của thị trường hàng hoá sức lao động

Trang 20

18

Thị trường hàng hoá sức lao động là toàn bộ các quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực thuê mướn lao động Trên thị trường lao động, mức cung – cầu về lao động ảnh hưởng tới tiền công lao động và sự thay đổi tiền công cũng ảnh hưởng tới cung, cầu về lao động

Đối tượng tham gia thị trường lao động bao gồm những người thuê mướn và đang sử dụng sức lao động của người khác và những người có nhu cầu làm thuê hoặc đang làm việc cho những người khác bằng sức lao động của mình để nhận được một khoản tiền công Khi nghiên cứu thị trường lao động dưới góc độ việc làm thì nội dung quan trọng nhất là quan hệ cung – cầu

mở rộng không gian kinh tế trong và ngoài nước…

+ Sự phát triển của nguồn lao động: Sự cung ứng sức lao động vào thị trường lao động hàng năm, sự tồn động của lao động chưa có việc làm (thất nghiệp)…

+ Sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động về không gian và thời gian, đặc biệt là sự phù hợp của chất lượng lao động đối với nhu cầu của thị trường

Trang 21

Một là, trên phạm vi cả nước, cung về lao động lớn hơn cầu về lao

động và tình trạng này được dự báo sẽ tiếp tục kéo dai trong những năm tới dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm Ở đây xét đến khả năng phát triển việc làm còn rất hạn chế mặc dù tiềm năng còn lớn nhưng chúng ta lại thiếu vốn đầu

tư, cơ cấu kinh tế chuyển dịch vẫn còn chậm và gặp khó khăn

Hai là, cung lớn hơn cầu về lao động còn được xem xét về mặt tăng

cung lao động với tỷ lệ cao, hàng năm số người tham gia vào lực lượng lao động có từ 1,2 đến 1,5 triệu người

Ba là, lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, đến nay vẫn chiếm gần

60% và theo mục tiêu của Đảng ta thì đến năm 2010 số lao động nông nghiệp vẫn chiém 50% lao động xã hội [21, tr189] và tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động nông thôn đến 2003 vẫn thấp chỉ chiếm 77, 66% [33, tr 24] Số này sẽ tự do di chuyển ra thành phố hoặc khu công nghiệp tập trung

để tìm kiếm việc làm từ đó làm cho cung về lao động trên thị trường càng lớn

Bốn là, sự không phù hợp giữa kỹ năng, trình độ của người lao động

với cơ hội việc làm do cầu lao động và sản xuất thay đổi Đây được coi là đặc trưng cơ bản nhất của quan hệ cung – cầu về lao động ở nước ta, từ đó dẫn đến tình trạng “thất nghiệp cơ cấu”, tính đến năm 2000 số lao động qua đào tạo mới đạt gần 20% Trong đó, cơ cấu trình độ đào tạo của đội ngũ lao động tính theo tỷ lệ giữa lao động có trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là: 1: 1,75: 2,3 [34, tr 153] Đó vẫn là một cơ cấu bất hợp

lý từ đó dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, làm “trái ngành, trái nghề” Trong khi đó chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

Trang 22

20

hoá nên rất cần một đội ngũ lao động có trình độ cao trong một số lĩnh vực

áp dụng công nghệ mới, lĩnh vực tài chính, ngân hàng… trong khi chúng ta lại dư thừa đội ngũ lao động giản đơn và số lao động này sẽ tiếp tục gia tăng

do chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đặc biệt là chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp

* Sự phát triển của hoạt động xuất khẩu lao động:

Vấn đề giải quyết việc làm, giảm thiểu thất nghiệp về thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa cung – cầu về lao động trên thị trường lao động Theo nghĩa đó, xuất khẩu lao động là hướng đi quan trọng vừa tăng cầu lao động, giải quyết việc làm cho người lao động, vừa tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động và tăng thu ngân sách Nhà nước; vừa nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động và tiếp thu khoa học tiên tiến của nhân loại, vừa mở rộng giao lưu kinh tế

Do vậy, ngày nay xuất khẩu lao động được các quốc gia có tình trạng

dư thừa lao động coi là một hướng quan trọng để giải quyết việc làm cho người lao động Ví dụ, “năm 1998, số người lao động của Philíppin làm việc tại nước ngoài là 4 triệu người; năm 1995, luợng kiều hối quan kênh chính thức về Philíppin là trên 4 tỷ USD” [36, tr 232] Con số này đối với Trung Quốc còn lớn hơn nhiều

Ở nước ta, từ năm 1998 đến nay, công tác xuất khẩu lao động đã đạt được một số kết quả đáng kể, số lượng lao động xuất khẩu đã tăng dần hàng năm và đang có xu hướng gia tăng Chúng ta đã mở ra nhiều thị trường mới

có khả năng xuất khẩu lớn như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Malayxia, các nước Trung Đông… và theo mục tiêu của Bộ Lao động Thương binh và

Xã hội thì năm 2008 nước ta sẽ xuất khẩu 85.000 lao động

Tuy nhiên, công tác xuất khẩu lao động vẫn chưa tương xứng với tiềm năng lao động của đất nước, do vậy, sức ép về lao động và việc làm vẫn hết

Trang 23

21

sức cấp bách Do vậy, trong thời gian tới chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xuất khẩu lao động, phát triển và mở rộng hơn nữa thị trường lao động để góp phần giải quyết sự bất cân đối giữa cung và cầu về lao động, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân

1.1.2.5 Chính sách giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước

Đảng và Nhà nước ta đã có bước ngoặt trong nhận thức, quan niệm và chủ trương về tạo việc làm, từ chỗ chỉ thừa nhận việc làm trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) đến quan niệm được ghi rõ ở Điều 13 Chương II Bộ luật Lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Điều này còn được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn công nhân theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bổ lại dân cư trên địa bàn có tính chiến lược về kinh tế,

an ninh quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu Giảm đáng

kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn” [19, tr 114-115]

Và đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã thừa nhận: “Đảng viên được làm kinh tế tư nhân” Đây được coi là “chốt chặn” cuối cùng đối với việc

mở rộng khả năng tạo việc làm cho người lao động

Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là Đảng và Nhà nuớc phải tạo ra các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách

cụ thể nhằm phát huy các nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội Có thể có rất nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại hướng vào phát triển

cả cung và cầu, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau nhằm hạ đến

Trang 24

22

mức thấp nhất tỷ lệ thất nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân

1.2 Công nghiệp hoá tác động tới việc làm

1.2.1 Tác động tới sự di động dân cư và lao động

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất mới hiện đại Quá trình đó đã làm thu hẹp xã hội nông thôn, từ đó làm cho dân cư và lao động của khu vực nông thôn giảm xuống

Ở nước ta trong những năm qua trên khắp các vùng miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng, hệ thống kết cấu hạ tầng được nâng cấp xây mới ngày càng đồng bộ và hiện đại Nhờ đó, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước thay đổi nhanh chóng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc thu hồi đất bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp cho xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội dẫn đến đất cho sản xuất – kinh doanh của người dân ở khu vực nông thôn bị thu hẹp, phải thay đổi chỗ ở và điều kiện sống Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến năm 2006 cả nước có 139 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích là 29,4 nghìn ha” [27, tr 6] Theo các chuyên gia kinh tế thì

cứ một ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang mục đích sản xuất nông nghiệp

sẽ làm cho 2 đến 3 ha đất nông nghiệp xung quanh mất chức năng phục vụ sản xuất nông nghiệp Qua trình thu hẹp diện tích đất nông nghiệp sẽ tăng nhanh chóng cùng với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời với nó

là cơ cấu dân cư có xu hướng chuyển từ đại bộ phận sống ở nông thôn sang sống ở thành thị ngày một đông hơn Năm 1999, dân số thành thị chiếm

Trang 25

tỷ lệ lao động chưa biết chữ ở nông thôn cao gấp 6 lần thành thị, trong khi đó, lao động ở thành thị có trình độ trung học phổ thông trở lên cao gấp 8 lần nông thôn và tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở thành thị là 44,6%, ở nông thôn là 11,89% [34, tr 152]

Như vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã làm cho dân cư và lao động có sự di chuyển cả về số lượng và chất lượng theo xu hướng dân cư

và lao động ở khu vực đô thị ngày càng tăng còn ở khu vực nông thôn ngày càng giảm

1.2.2 Tác động đến cơ cấu việc làm

Theo tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị sẽ góp phần quan trọng phát triển các cơ sở sản xuất – kinh doanh và dịch vụ, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, các trung tâm thương mại và dịch vụ, từ đó sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo xu hướng: tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng dần, tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm Trong đó, nông nghiệp giảm về giá trị tương đối, nhưng vẫn tăng lên về giá trị tuyệt đối trong cơ cấu GDP của cả nước Công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên nhanh chóng cả về giá trị tương đối và tuyệt đối Xem hình 1.1

Bảng 1.1: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta

Trang 26

24

Năm Tỷ trọng nông nghiệp

trong GDP (%)

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP (%)

Tỷ trọng dịch vụ trong GDP (%)

Nguồn: Niên giám thống kê các năm từ 1991-2003 [38,tr204]

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ làm chuyển dịch cơ cấu việc làm theo hướng cơ cấu việc làm ở khu vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng và việc làm ở khu vực nông nghiệp ngày càng giảm Theo số liệu thống

kê thì năm 2000 nước ta có khoảng 70% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, đến năm 2007 số lao động trong các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp còn 56,8%

Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn làm cho nội bộ các ngành, các lĩnh vực kinh tế cũng có sự biến đổi về cơ cấu, về quy mô, trình độ công nghệ với chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế ngày càng cao Sự biến đổi cơ cấu này cũng làm chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm theo xu hướng việc làm và lao động giản đơn ngày càng giảm Điều này

diễn ra trong từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương

Trang 27

25

1.2.3 Tác động đến cung về lao động

Sự tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến cung về lao động có thể nói rất phức tạp, nó không chỉ tác động đến số lượng mà còn tác động đến cả chất lượng của nguồn lao động được cung ứng Nhưng một điều rất dễ nhận thấy là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ làm giảm

dư thừa về lao động có trình độ chuyên môn tay nghề do sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ, từ đó đã thu hút được một số lượng lớn lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn tay nghề, thậm chí ngay trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp cũng đòi hỏi phải có lao động lành nghề do áp dụng máy móc, khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất

Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng làm tăng cung lao động giản đơn do:

Thứ nhất, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không có nhu cầu

lớn đối với lao động giản đơn, chưa qua đào tạo

Với việc áp dụng máy móc , khoa học công nghệ hiện đại vào tất cả các lĩnh vuẹc sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong quá trình CNH,HĐH để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm , tất yếu sẽ đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao Nhưng ở nước ta tỷ lệ lao động qua đào tạo , nhất là đào tạo nghề còn thấp, chỉ bằng 1/3 các nước công nghiệp mới (NIC , NIE) Ngoài ra còn chưa kể chất lượng đào tạo nghề còn thấp và cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa gắn với yêu cầu của quá trình CNH,HĐH đặt ra Đây cũng là nguyên nhân làm cho cung lao động giản đơn tăng lên nhanh chóng

Thứ hai, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tất yếu sẽ dẫn đến thu

hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế –

xã hội phục vụ lợi ích quốc gia, từ đó làm cho người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp bị thu hồi đất rơi vào tình trạng thất nghiệp

Trang 28

26

Thực tế cho thấy, đất bị thu hồi để xây dựng KCN, khu đô thị, kết cấu

hạ tầng kinh tế xã hội trong thời gian qua ở các địa phương chủ yếu là đất nông nghiệp Nói cách khác những người bị mất đất chủ yếu là nông dân, do vậy đã ảnh hưởng lớn đến việc làm của họ Bởi với họ đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong qúa trình lao động Vì thế khi mất

tư liệu sản xuất này người nông dân mặc nhiên trở thành người thất nghiệp

Từ đó giải quyết việc làm cho người nông dân trở thành vấn đề bức xúc nhất của việc thu hồi đất

Song việc chuyển những người nông dân bị thu hồi đất sang làm công nghiệp và dịch vụ lại là một vấn đề hếy sức khó khăn Bởi đa phần họ là những người lao động giản đơn theo kiểu cha truyền con nối, chưa qua đào tạo nghề Do vậy khi bị thu hồi đất nhiều người đã rơi vào tình trạng thất nghiệp

Thứ ba, Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông

thôn bằng việc áp dụng máy móc, khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất

từ đó làm cho năng suất lao động nông nghiệp tăng lên do vậy cũng làm cho lao động ở khu vực này có sự dôi dư

Nước ta với khoảng 70% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp

Và mục tiêu của Đảng và nhà nước ta là đến năm 2010 hoàn thành CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn nhằm thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn ở nước ta và làm cho người nông dân thoát khỏi tình trạng “ con trâu đi trước, cái cày theo sau”, “ bán mặt cho đất bán lưng cho trời” ,thì việc áp dụng máy móc, khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất là một tất yếu

Nhưng việc áp dụng máy móc, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm cho số lao động nông nghiệp ngày càng dôi dư Bởi thực tế ở nước ta chỉ có hơn 9 triệu nhưng sử dụng tới 70% lực lượng lao động tương đương khoảng 30 triệu lao động Điều nay là rất bất hợp lý so với các nước

Trang 29

27

công nghiệp phát triển và các nước công nghiệp mới, họ chỉ cần từ 1-5% lực lượng lao động làm việc trong ngành nông nghiệp nhưng cũng đủ đáp ứng nhu cầu lao động của khu vực này thậm chí còn trở thành cường quốc trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản Chính vì vậy theo xu hướng chung đó thì lực lượng lao động trong nộng nghiệp của nước ta sẽ ngày càng giảm, từ đó làm cho nguồn cung lao động do dôi dư từ khu vực nông nghiệp sẽ tăng lên nhanh chóng

Tuy vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tác động đến cung lao động ở nước ta hiện nay dễ nhận thấy nhất đó là làm tăng cung lao động giản đơn do số lao động nông thôn bị mất việc bởi thu hồi đất nông nghiệp Theo

dự báo của Tổng Cục Thống kê thì tổng diện tích đất dự kiến sẽ bị thu hồi giai đoạn 2006 đến năm 2010 sẽ là 331.430 ha [27, tr 211] Và nếu theo cách tính của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là 1 ha đất bị thu hồi bình quân sẽ làm cho 13 lao động bị mất việc Đồng thời theo số liệu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân điều tra thời gian qua là tổng diện tích đất bị thu hồi có 58% là đất nông nghiệp, thì gian đoạn từ 2006 – 2010, tổng diện tích đất nông nghiệp sẽ bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phục vụ lợi ích quốc gia là 192.212 ha Như vậy số lao động nông thôn mất việc do lấy đất nông nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 sẽ là 2.498.756 người [27, tr 211-212] Đây là con số không nhỏ tác động đến cung lao động giản đơn

1.2.4 Tác động đến cầu về lao động

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta đã đề ra đường lối “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đất nước Với đường lối đúng đắn đó, chúng ta đã từng bước vượt qua khó khăn, thử thách và đạt được những thành tựu “có ý nghĩa lịch sử” Do vậy, có thể khẳng định rằng, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ làm tăng cầu về lao động, đặc biệt là

Trang 30

28

lao động đã qua đào tạo Nhờ tăng trưởng cao đã giúp tạo việc làm làm cho người lao động Theo số liệu thông kê: kể từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng trưởng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam liên tục duy trì ở mức tương đối cao, đạt bình quân 7,5% thời kỳ 2001 – 2005, năm 2006 đạt 8,2%; năm 2007 đạt 8,5% Thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài cũng tăng mạnh, năm 2007 đạt trên 20 tỷ USD; các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển mạnh, năm 2007 có hơn 35.000 doanh nghiệp mới thành lập Đây chính là những động lực chủ yếu để thực hiện chiến lược việc làm, tạo nhiều việc làm bền vững và ổn định cho người lao động từ đó góp phần kích cầu về lao động cho người lao động, riêng năm 2007 chúng ta đã tạo việc làm mới cho 1,68 triệu lao động

Theo thời báo kinh tế Việt Nam, số ra ngày 18 – 19/ 4/ 2008, thì năm

2007 là năm mà cung – cầu lao động có sự chênh lớn Trong đó cầu lao động tăng 7097 điểm (tăng 67% so với năm trước) Trong khi đó cung lao động chỉ tăng thêm 22% so với năm 2006 Điều đó cũng phần nào phản ánh bức tranh cung – cầu lao động tại Việt Nam Tuy nhiên, cán cân cung – cầu lao động đang lệch chỉ đối với lao động có chất lượng và tay nghề cao Nguyên nhân thì có nhiều trong đó có sự phát triển kinh tế vượt bậc của nước, và Việt Nam

đã gia nhập WTO, đầu tư nước ngoài cả trực tiếp lẫn gián tiếp đều tăng nhanh chóng, đặc biệt là sự có mặt của nhiều tập đoàn kinh tế lớn hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao như: Intel, Canon, Hồng Hải, v.v Những yếu tố trên tạo ra sự tăng mạnh về cầu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật Do vậy nếu chúng ta không đáp ứng được nhu cầu lớn và nguyền nhân lực này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung, thậm chí có thể ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong những năm tiếp theo

Trang 31

29

Để giải quyết vấn đề này theo tôi, về phía doanh nghiệp cần phải chủ động đầu tư hơn nữa đến nguồn nhân lực, chủ động trong công tác đào tạo nhân viên, tạo ra một môi trường làm việc tốt Doanh nghiệp có thể hợp tác với các trường đại học, lựa chọn và đào tạo nhân lực ngay còn là sinh viên hoặc đưa ra nhu cầu nhân lực trong tương lai Còn về phía nhà nước, ngoài việc tiếp tục tăng đầu tư vào giáo dục đào tạo thì phải có chính sách khuyến khích mọi chủ thể trong nên kinh tế tham gia vào hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Tuy nhiên, chúng ta phải nhận thấy rằng, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không phải làm tăng cầu với tất cả lao động mà nó chủ yếu làm tăng cầu đối với lao động đã qua đào tạo, lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao và điều này càng rõ nét hơn khi quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra theo chiều sâu Còn đối với lao động giản đơn thì sự tăng cầu này không đáng kể, thậm chí còn làm tăng cung về lao động giản đơn mà theo

dự tính giai đoạn 2006 – 2010 là khoảng 2,5 triệu lao động do quá trình tu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội

Tóm lại, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần to lớn trong việc giải quyết việc làm, hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động Tuy nhiên, công nghiệp hoá, hiện đại hoá chủ yếu làm tăng cầu đối với lao động

đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn… đồng thời lại làm tăng cung đối với lao động giản đơn, nhất là lao động nông nghiệp bị thu hồi đất Do vậy, để giải quyết việc làm dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì giải pháp cơ bản nhất là đẩy mạnh quá trình đào tạo nghề cho người lao động

1.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số địa phương

1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương

Trang 32

30

Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng được tách ra từ tỉnh Hải Hưng (cũ) (tháng 1/1997), với tổng diện tích tự nhiên là 1.648,2 km2, trong đó đất nông nghiệp là 125.426 ha, chiếm 76,1% tổng diện tích, với 1,689 triệu người (năm 2003) và mật độ dân số là 1.025 người/km2 [33, tr 218] Dân số Hải Dương chủ yếu làm nông nghiệp, với tỷ lệ 82,4% năm 2000

Do vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế giải quyết việc làm luôn được Hải Dương coi trọng và bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Cụ thể là từ 2001 đến nay, toàn tỉnh đã tạo được 174.333 chỗ làm việc mới cho người lao động Trong đó, số việc làm mới được tạo ra từ Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là 30.333 chỗ, từ Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng là 89.743 chỗ, từ Chương trình sắp xếp lại và phát triển dịch vụ là 29.614 chỗ và từ Chương trình sắp xếp lại và phát triển dịch vụ là 29.614 chỗ và từ Chương trình xuất khẩu lao động là 24.643 chỗ

Có được những kết quả đó có một phần quan trọng là sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng của Hải Dương, Tỉnh uỷ Hải Dương đã ra Nghị quyết “Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển công nghiệp Hải Dương giai đoạn 2000-2010”; Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã xây dựng đề án “Phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp nông thôn – làng nghề Hải Dương”, và Quyết định số 920/2003/QĐ - UB ngày 03/4/2003 ban hành quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh…

Với quyết tâm của Ban Lãnh đạo tỉnh và với nhiều biện pháp khác nhau, đến nay, Hải Dương đã xây dựng được một hệ thống khu công nghiệp, cụm, điểm công nghiệp tập trung ven Quốc lộ 5A, Quốc lộ 183 và ven các đường tỉnh lộ Nhờ vậy, Hải Dương đã trở thành tỉnh có tốc độ phát triển công

Trang 33

cổ truyền và du nhập nghề mới, thưởng các cá nhân, đơn vị sản xuất ra nhiều sản phẩm xuất khẩu, thu hút nhiều lao động

Ngoài ra, Hải Dương còn tìm nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động Trong năm năm (2001-2005), toàn tỉnh đã xuất khẩu được 20.588 lao động đi làm việc ở nước ngoài, chiếm gần 19% tổng số lao động được giải quyết việc làm trong tỉnh

Điểm nổi bật trong các biện pháp giải quyết việc làm của Hải Dương là chính sách đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư phát triển gồm: vốn trong nhân dân, trong các doanh nghiệp, vốn đầu tư của các ngành trung ương trên địa bàn tỉnh, vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn ODA và của các tổ chức NGO… đặc biệt là sự “vào cuộc” của hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đóng góp tích cực vào việc hỗ trợ phát triển nông nghiệp, giúp nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, tận dụng thời gian nông nhàn, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, từ đó góp phần tích cực vào quá trình giải quyết việc làm

và nâng cao thu nhập cho người lao động

1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 589.500 ha, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên của cả nước, với số dân 2,142,7 nghìn người và mật độ dân số là 363 người/km2 năm 2003 [33, tr 821] Là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, lại nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm cạnh thành phố Hồ Chí Minh một trung tâm kinh tế lớn

Trang 34

32

nhất và là đầu tàu kinh tế của cả nước, Đồng Nai có nhiều điều kiện thuận lợi

để phát triển kinh tế – xã hội

Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã xây dựng Chương trình giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh và hình thành các chương trình, dự án có mục đích như: di dân, định canh định cư, Chương trình 327/ HĐBT, cho vay vốn theo dự án nhỏ để giải quyết việc làm tại chỗ, Chương trình xoá đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế và tạo việc làm cho đối tượng mắc tệ nạn xã hội Đồng thời, tỉnh cũng mở rộng quan hệ với nước ngoài và đã tranh thủ được các nguồn tài trợ của một số tổ chức quốc tế để xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ vốn tạo việc làm, nhất là cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh đã có bước phát triển mạnh mẽ đặc biệt là sự phát triển công nghiệp Theo số liệu thông kê, tính đến năm 2007, Đồng Nai có 24 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 6.496 ha, các khu công nghiệp nặng đã thu hút 922 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn lên đến hơn 9,779 tỷ USD, tạo công ăn việc làm cho hơn 294.000 lao động Dự kiến giai đoạn 2007- 2010 sẽ quy hoạch xây dựng 32 khu công nghiệp với tổng diện tích 11.000 ha và 34 cụm công nghiệp địa phương sẽ đi vào hoạt động Nếu thực hiện đúng kế hoạch đề ra thì trong điều kiện hội nhập kinh tế, Đồng Nai sẽ thu hút nhiều hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài và nhiều lao động sẽ có việc làm

Song song với việc phát triển kinh tế, vấn đề đào tạo và phát triển nguồn lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006 – 2010 luôn được Đồng Nai quan tâm và đặt lên hàng đầu Trong tổng số 1.159.000 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2007 thì số lao động trong nông nghiệp chiếm 41%, công nghiệp 30%, thương mại và dịch vụ 29% và có 36% đã qua đào tạo Hàng năm, thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, dự án thuộc chương trình mục tiêu việc làm toàn tỉnh đã

Trang 35

33

giải quyết việc làm được cho khoảng 70.000 Đặc biệt, Đồng Nai đã thử nghiệm và phát triển thành công mô hình ngày hộ việc làm, sàn giao dịch việc làm thu hút được hàng ngàn lao động trong và ngoài tỉnh tham gia

Để có được những kết quả nói trên, Đồng Nai đã tiến hành một số chủ trương và biện pháp sau:

- Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo Đẩy mạnh xã hội hoá công tác dạy nghề, huy động các thành phần kinh tế, nhà khoa học, các nghệ nhân, tổ chức kinh tế – xã hội trong và ngoài nước đầu tư liên doanh, liên kết trong lĩnh vực dạy nghề, đáp ứng nguồn nhân lực có tay nghề và trình độ cao phục vụ cho các KCN trên địa bàn tỉnh và khu vực

Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề của nhà nước và tư nhân, xây dựng đội ngũ giáo viên dạy nghề đủ về số lượng và chất lượng; hỗ trợ, khuyến khích giáo viên học liên thông, học cao học để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các trường dạy nghề Đồng thời xây dựng mới, cải tiến nội dung chương trình giảng dạy, đầu tư đổi mới trang thiết bị phục vụ đào mà chủ yếu tìm nguồn vốn ngoài ngân sách

- Chương trình giải quyết việc làm được xác định là một chương trình kinh tế – xã hội quan trọng đã được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm thực hiện nghiêm túc để tạo lập môi trường và các nguồn lực quan trọng nhằm ổn định và phát triển kinh tế – xã hội địa phương;

- Huy động tối đa mọi nguồn vốn trong tỉnh kết hợp với việc thu hút các nguồn vốn bên ngoài, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp FDI nhằm thực hiện

có hiệu quả các chương trình kinh tế – xã hội của tỉnh;

- Giải quyết việc làm gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh;

Trang 36

34

- Phát triển các trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh, thực hiện tốt nhiệm vụ cung ứng lao động cho các thành phần kinh tế, nhất là giới thiệu lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích một số doanh nghiệp và những cá nhân có khả năng để đầu tư mở các cơ sở dạy nghề cùng với các cơ sở của Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh, đáp ứng được những yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.3.3 Kinh nghiệm của Hà Nam

Hà Nam là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển một nền kinh tế đa đạng với nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh Trải qua 10 tái lập tỉnh, đến nay tình hình kinh tế – xã hội của địa phương đã có những bước tiến vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người đạt 11,1%/năm, cao hơn một số tỉnh trong vùng Nhờ vậy mà vấn đề giải quyết việc làm cũng đạt được những kết quả bước đầu

Giai đoạn 2001 – 2005, Hà Nam đã giải quyết việc làm mới cho 62.434 người, trong đó có 7.090 người đi xuất khẩu lao động, bình quân mỗi năm có 12.486 người được giải quyết việc làm mới, vượt chỉ tiêu 14% tương đương 7.434 người Các hoạt động hỗ trợ tạo việc làm của các ngành, các cấp và các tổ chức đoàn thể cũng đã góp phần tạo việc làm thêm cho khoảng 9200 người, bình quân mỗi năm 1840 người, chủ yếu khu vực nông thôn

Để đạt được những thành công bước đầu như trên Hà Nam đã tiến hành một số giải pháp sau:

- Tạo việc làm từ các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó tỉnh chú trọng vào các công tác như: tập trung thâm cách đất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đặc biệt ở những vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hoá, chú trọng đầu tư phát triển kinh tế trang trại Mặt khác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như: thuỷ lợi, kiên cố hoá kênh

Trang 37

35

mương, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi nhằm tăng thời gian sử dụng lao động Thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Tỉnh uỷ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển ngành nghề dịch vụ ở nông thôn

- Tạo việc làm từ các chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ bao gồm: xây dựng và phát triển các KCN và dịch vụ đóng vai trò quyết định đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; xây dựng và phát triển các trung tâm văn hoá thể thao và các khu du lịch Mở rộng và phát triển làng nghề thủ công truyền thống, tạo điều kiện và khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Tỉnh uỷ về đẩy mạnh phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn

- Các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm thông qua các dự án: dự án tổ chức cho vay vốn giải quyết việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm, bao gồm việc cho vay ưu đãi với người thất nghiệp, người thiếu việc làm nhằm tạo việc làm mới và các hoạt động hỗ trợ cho người đi xuất khẩu lao động

- Huy động tối đa mọi nguồn vốn trong và ngoài nước, vốn trung ương và địa phương để hoàn thiện cơ sở hạ tầng và đầu tư sản xuất kinh doanh tạo mở nhiều việc làm mới

* Những bài học kinh nghiệm được rút ra

Từ nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết việc làm có tính điển hình ở một

số địa phương như trên, vận dụng vào điều kiện cụ thể của Bắc Ninh có thể sử dụng những bài học kinh nghiệm sau:

1 Chú trọng đầu tư, phát triển giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo nghề cho người lao động

2 Xây dựng hệ thống cơ chế chính sách đầu tư thông thoáng để tạo nên

“sức hút” các nguồn đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài như Đồng Nai đã thực hiện Mặt khác, Bắc Ninh cũng phải lựa chọn đầu tư phát triển

Trang 39

37

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong quá trình đổi mới, quan niệm về việc làm đã được thay đổi căn bản, với quan niệm “mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” đã tạo cơ sở rộng lớn cho việc thực hiện chiến lược việc làm, giải phóng mọi tiềm năng lao động của con người Trên

cơ sở phân tích đặc điểm, những yếu tố tác động tới việc làm trong quá trình CNH, HĐH Đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương, Đồng Nai, Hà Nam về giải quyết việc làm để Bắc Ninh có thể tham khảo Những kinh nghiệm rút ra là phải gắn CNH, HĐH với giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho mọi chủ thể kinh tế tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh tạo mở việc làm và chú trọng vai trò của giáo dục - đào tạo, đặc biệt là công tác đào tạo nghề gắn với nhu cầu xã hội để giảm sự bất hợp lý trong quan hệ cung - cầu lao động

Trang 40

38

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT

RA TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ Ở BẮC NINH 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới việc làm ở tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Bắc Ninh là một tỉnh mới tái lập năm 1997 từ tỉnh Hà Bắc cũ, nằm trong vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, Bắc Ninh tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang ở phía Bắc, tỉnh Hải Dương ở phía Đông và giáp với thủ đô Hà Nội ở phía Nam và phía Tây Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh Trung tâm của tỉnh là thành phố Bắc Ninh cách Hà Nội 40 km, tỉnh có một thành phố, 7 huyện và có 109 xã

[17,Tr29]

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 822,71 km2, là tỉnh có diện tích nhỏ nhất của cả nước Đất nông - lâm nghiệp chiếm 65,4% diện tích tự nhiên, đất chưa

sử dụng chiếm 11,1% Khí hậu nhiệt đới gió mùa với các thông số trung bình

về nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa đều cao, thích hợp với sự phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Tuy nhiên, với điều kiện thực tế hiện nay, khả năng

phát triển một nền nông nghiệp theo chiều rộng không nhiều

Bắc Ninh có các tuyến trục giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền

tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc

Về đường bộ, có đường quốc lộ 1A - 1B nối Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang - Lạng Sơn, quốc lộ 18 nối Nội Bài - Bắc Ninh - Đông Triều - Hạ Long

và quốc lộ 38

Về đường sắt, có đường liên vận quốc tế đi Bắc Kinh (Trung Quốc)

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Vân Anh(2006), Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Phạm Thị Vân Anh
Năm: 2006
2. Ban chỉ đạo điều tra lao động việc làm Bắc Ninh(2003), Thực trạng lao động – việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2003, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động – việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2003
Tác giả: Ban chỉ đạo điều tra lao động việc làm Bắc Ninh
Năm: 2003
3. Ban chỉ đạo điều tra lao động việc làm Bắc Ninh(2004), Thực trạng lao động – việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2004, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động – việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2004
Tác giả: Ban chỉ đạo điều tra lao động việc làm Bắc Ninh
Nhà XB: Bắc Ninh
Năm: 2004
4. Ban chỉ đạo điều tra lao động việc làm Bắc Ninh(2005), Thực trạng lao động – việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2005, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động – việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2005
Tác giả: Ban chỉ đạo điều tra lao động việc làm Bắc Ninh
Năm: 2005
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn(1999), Đề án chiến lược về lao động và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và nông thôn thời kỳ CNH, HĐH(1991-2000), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án chiến lược về lao động và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và nông thôn thời kỳ CNH, HĐH(1991-2000)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
6. Chương trình Khoa học cấp Nhà nước KX04 – 04(1995), Luận cứ khoa học cho chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần
Tác giả: Chương trình Khoa học cấp Nhà nước KX04 – 04
Năm: 1995
7. C.Mác(1988), Bộ Tư bản, tập thứ nhất, phần 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư bản
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1988
8. C.Mác, Ăngghen(1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
9. C.Mác, Ăngghen(1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
10. C.Mác, Ăngghen(2000), Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, HN 11. Cục Thống kê Bắc Ninh(2000), Niên giám thống kê năm 2000, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 46, phần II
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
12. Cục Thống kê Bắc Ninh(2001), Niên giám thống kê năm 2001, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2001
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Năm: 2001
13. Cục Thống kê Bắc Ninh(2002), Niên giám thống kê năm 2002, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2002
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Năm: 2002
14. Cục Thống kê Bắc Ninh(2003), Niên giám thống kê năm 2003, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2003
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Nhà XB: Bắc Ninh
Năm: 2003
15. Cục Thống kê Bắc Ninh(2004), Niên giám thống kê năm 2004, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2004
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Nhà XB: Bắc Ninh
Năm: 2004
16. Cục Thống kê Bắc Ninh(2005), Niên giám thống kê năm 2005, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2005
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Năm: 2005
17. Cục Thống kê Bắc Ninh(2007), Niên giám thống kê năm 2007, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2007
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Năm: 2007
18. Cục Thống kê Bắc Ninh(2007), Bắc Ninh số liệu thống kê chủ yếu năm 2007, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Ninh số liệu thống kê chủ yếu năm 2007
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Năm: 2007
19. Đảng Cộng sản Việt Nam(1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam(2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam(2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5   Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động ở Bắc Ninh. - Việc làm trong quá trình công nghiệp hóa ở Bắc Ninh
Bảng 2.5 Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động ở Bắc Ninh (Trang 53)
Bảng 2.9   Giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề - Việc làm trong quá trình công nghiệp hóa ở Bắc Ninh
Bảng 2.9 Giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (Trang 58)
Bảng 2.11  So sánh lao động làm việc theo thành phần kinh tế - Việc làm trong quá trình công nghiệp hóa ở Bắc Ninh
Bảng 2.11 So sánh lao động làm việc theo thành phần kinh tế (Trang 66)
Bảng 2.12    Công việc của người bị thu hồi đất trước và sau khi bị thu hồi. - Việc làm trong quá trình công nghiệp hóa ở Bắc Ninh
Bảng 2.12 Công việc của người bị thu hồi đất trước và sau khi bị thu hồi (Trang 71)
Bảng 2.13    Sự thay đổi cơ cấu GDP và cơ cấu lao động ở Bắc Ninh - Việc làm trong quá trình công nghiệp hóa ở Bắc Ninh
Bảng 2.13 Sự thay đổi cơ cấu GDP và cơ cấu lao động ở Bắc Ninh (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm