ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- TRẦN THỊ THU HƯƠNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Chuyên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Kim Anh
Hà Nội - Năm 2012
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 7
1.1 Khái quát chung về ngành bảo hiểm 7
1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm 7
1.1.2 Vai trò của ngành Bảo hiểm trong nền kinh tế quốc dân 8
1.2 Năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm 9
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh 9
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm 10
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm 12
1.3.1 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp 13
1.3.2 Điều kiện cầu về bảo hiểm 14
1.3.3 Các nhân tố điều kiện 14
1.3.4 Các ngành liên quan và bổ trợ 15
1.3.5 Nhận thức, tư duy của các cơ quan quản lý nhà nước 16
1.3.6 Cơ hội 16
1.4 Các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm 16
1.4.1 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành bảo hiểm Việt Nam 16
1.4.2 Cam kết theo hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) 18
1.4.3 Cam kết theo hiệp định khung hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (Vietnam-USA BTA) 19
1.4.4 Những cam kết của Việt Nam đối với WTO trong lĩnh vực bảo hiểm 20
Trang 31.5 Kinh nghiệm ở một số nước 23
1.5.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc 23
1.5.2 Kinh nghiệm ở Ấn Độ 24
Kết luận chương 1: 27
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 28
2.1 Tổng quan ngành bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập 28
2.1.1 Tăng trưởng doanh thu phí của ngành 28
2.1.2 Số lượng doanh nghiệp của ngành 30
2.1.3 Thị trường chưa phát triển cân xứng, mức độ tập trung thị trường cao 31 2.1.4 Vai trò của ngành bảo hiểm Việt Nam trong nền kinh tế 32
2.2 Năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam 35
2.2.1 Tổng tài sản của ngành 35
2.2.2 Năng lực công nghệ của DNBH 39
2.2.3 Nguồn nhân lực 40
2.2.4 Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa của dịch vụ cung cấp 41 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam 43
2.3.1 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp 43
2.3.2 Điều kiện cầu 46
2.3.3 Các nhân tố điều kiện 55
2.3.4 Các ngành liên quan và bổ trợ 61
2.3.5 Nhận thức, tư duy của các cơ quan quản lý nhà nước 66
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.1 Bối cảnh chung 71
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 71
Trang 43.1.2 Bối cảnh trong nước 72
3.2 Một số chỉ tiêu phát triển cụ thể của ngành bảo hiểm 73
3.2.1 Phát triển thị trường 73
3.2.2 Nâng tỷ trọng dịch vụ bảo hiểm trên GDP và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm 73
3.2.3 Ổn định kinh tế - xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 73
3.2.4 Tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu cho ngân sách nhà nước 73
3.3 Cơ hội và thách thức của ngành bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 74
3.3.1 Cơ hội 74
3.3.2 Thách thức 75
3.4 Khuyến nghị 77
3.4.1 Đối với cơ quan quản lý bảo hiểm 77
3.4.2 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm 82
3.4.3 Đối với Hiệp hội bảo hiểm 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 BHPNT Bảo hiểm Phi nhân thọ
Hiệp định thương mại song phương
4 CIRC China Insurance Regulatory Commission
Ủy ban giám sát bảo hiểm Trung Quốc
6 GATS General Agreement on Trade in Services
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
Tổng sản phẩm quốc nội
8 GIC General Insurance Corporation
Cơ quan Bảo hiểm chung
9 IAIS International Association of Insurance Supervisors
Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm quốc tế
10 IRDA Insurance Regulatory and Development Authority
Cơ quan giám sát và phát triển bảo hiểm
12 LIC Life Insurance Corporation
Hội đồng bảo hiểm nhân thọ
17 TTTP Thị truờng trái phiếu
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tổng doanh thu phí bảo hiểm của Trung Quốc, giai đoạn
2 Bảng 2.1 Thống kê đóng góp của các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài
vào thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003 - 2010 31
3 Bảng 2.2 Thị phần bảo hiểm phi nhân thọ giai đoạn 2005-2010 32
4 Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của toàn ngành qua các năm 37
6 Bảng 2.5 Phí bảo hiểm bình quân đầu người từ năm 2002 đến năm 2010 51
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
4 Hình 2.2 Tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm toàn cầu (2003-2010) 29
10 Hình 2.8 Tổng tài sản của bảo hiểm các quốc gia Đông Nam Á 37
11 Hình 2.9 Nhận thức của cá nhân về mức độ quan trọng của bảo hiểm 47
14 Hình 2.12 Tăng trưởng doanh thu phí các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ 52
16 Hình 2.14 Phí bảo hiểm bình quân đầu người của các nước trên thế giới 54
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Với quan điểm mở rộng hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới đã giúp Việt Nam ngày càng hội nhập sâu và rộng hơn với nền kinh tế thế giới Một số dấu mốc có thể kể đến khi nói đến sự hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam như: Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác thương mại với Liên minh Châu Âu (năm 1992) Gia nhập ASEAN năm 1995, AFTA năm 1998, APEC năm 2008, ký hiệp định thương mại tự do với Mỹ năm 2000 và đặc biệt quan trọng là việc tham gia đàm phán gia nhập WTO năm 1995 và trở thành thành viên chính thức của tổ chức này vào năm 2007
Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế thông qua việc tăng cường khả năng thu hút các nguồn lực về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đồng thời
mở ra con đường cho các doanh nghiệp trong nước vươn tới thị trường quốc
tế Tuy nhiên, hội nhập cũng đặt ra những thách thức lới đối với các doanh nghiệp trong nước Sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ làm môi trường cạnh tranh tại thị trường trong nước gay gắt hơn Điều này tác động rất lớn tới các doanh nghiệp trong nước như bị thu hẹp thị phần, thua lỗ
và thậm chí phá sản Do đó, có thể gây ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
Hội nhập kinh tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng nằm chung trong xu hướng đó Việc mở cửa cho các DNBH 100% vốn nước ngoài gia nhập thị trường có thể tạo áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn nữa cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cũng như có thể gây bất ổn định thị trường bảo hiểm do mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quy định quản
lý chưa theo kịp được với mức độ mở cửa thị trường Hơn nữa, bảo hiểm là một lĩnh vực hoạt động rất nhạy cảm, có tính xã hội cao, đòi hỏi các DNBH trong nước phải đủ mạnh để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 9trên thế giới Tuy nhiên, thực tế cho thấy, năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Việt Nam còn thấp Tìm hiểu năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào và làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới
có ý nghĩa rất quan trọng, do vậy, tôi lựa chọn đề tài “Yếu tố ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
* Một số công trình nghiên cứu trong nước có liên quan tới luận văn bao gồm:
Báo cáo của nhóm tác giả Thái Bá Cẩn, Hoàng Hải, Hoàng Thái Sơn,
Vũ Văn Hóa (2005) đã chỉ ra thực trạng hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 1996-2003 và đánh giá ảnh hưởng của việc mở cửa thị trường đối với ngành bảo hiểm Việt Nam cũng như giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế
Hoàng Mạnh Cử (2007) đã nghiên cứu hoạt động của thị trường bảo hiểm thương mại tại việt Nam Chỉ ra được chính sách tài chính của nhà nước đối với thị trường bảo hiểm, đặc biệt là các chính sách tài chính hỗ trợ các DNBH
Nguyễn Như Tiến (2006) đã chỉ rõ sự ra đời và phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, những cơ hội và thách thức đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam và một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trước yêu cầu hội nhập
Nguyễn Hải Đường (2007), đã làm rõ lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1993-2006 và đề ra một số giải pháp chủ yếu phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010
Các công trình trên đã xây dựng được cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một ngành dịch vụ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 10* Một số công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan tới luận văn bao gồm:
MA Rui, ZHAO Hong (2008) đã hệ thống hóa sự phát triển của ngành bảo hiểm Trung Quốc từ năm 1990 đến năm 2007, các tác giả đã thiết lập một mô hình toán học trong đó chỉ ra những yếu tố yếu tố kinh tế vi mô và vĩ
mô ảnh hưởng lớn đến ngành bảo hiểm của quốc gia này
Michael Luhnen (2009) đã phân tích thị trường bảo hiểm thế giới và cho thấy các doanh nghiệp ngày càng gia tăng lợi nhuận thông qua việc cung cấp bảo hiểm qua biên giới và phát triển hệ thống sản phẩm Cùng với đó, các quy định pháp lý ngày càng được thông thoáng hơn làm cho sự cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm thế giới ngày càng mạnh hơn
Những nghiên cứu kể trên có giá trị kế thừa và tham khảo tốt cho việc thực hiện luận văn luận văn như tổng quan chung về ngành bảo hiểm trong những năm vừa qua cũng như các thông tin liên quan đến thị trường bảo hiểm thế giới Tuy nhiên, các công trình trên chưa đi sâu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế, để làm cơ sở đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
:
Luận văn n những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam để đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong thời gian tới
Trang 11Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới
cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn từ khi bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm năm 2003 cho đến hết năm
2010 Tập trung nghiên cứu vào nhóm bảo hiểm Nhân thọ và phi nhân thọ
trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Quy trình nghiên cứu được tiến hành theo các bước
Bước 3:
Xây dựng khung khổ lý thuyết cho nghiên cứu
Bước 4.1:
Dữ liệu thứ cấp Bước 5:
Phân tích tư liệu
và xử lý số liệu
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Trên cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia của Micheal Porter áp dụng cho một ngành/lĩnh vực, và các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của ngành, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá những dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các nguồn chính thống như: sách báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu, điều tra khảo sát
do các tổ chức, cơ quan có uy tín thực hiện và xuất bản
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh giữa các giai đoạn phát triển của ngành bảo hiểm để phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam Đồng thời, phương pháp so sánh còn được sử dụng để đối chiếu thực tiễn và lý luận, đối chiếu giữa thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ với Việt Nam trên cơ sở đó rút ra bài học cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam
Phương pháp điều tra thống kê thông qua bảng hỏi để tập hợp tư liệu sơ cấp làm minh chứng về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam liên quan đến khách hàng cá nhân Bảng hỏi được thiết kế
ở mức đơn giản, thuận tiện nhất cho người được hỏi Cuộc khảo sát đã được thực hiện trong khoảng thời gian 8 tuần từ tháng 08/2011 đến tháng 10/2011 ở các quận Cầu Giấy, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Từ Liêm Đối tượng trả lời phiếu điều tra là các cá nhân ở từ 18 tuổi trở lên với mức thu nhập khác nhau Số phiếu đã phát ra là 500 phiếu Số phiếu thu về 475 phiếu, trong đó số phiếu trả lời đúng 423 phiếu, đạt tỷ lệ 89% Kết quả thống kê từ các phiếu điều tra được xử lý trên phần mềm Excel
Luận văn sử dụng một số tiêu chí trong hệ thống CARAMELS (Vốn, Tài sản, Tái bảo hiểm, Dự phòng nghiệp vụ, Quản lý, Lợi nhuận và Tính thanh khoản) để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Đây là các hệ thống tiêu chí đang được các cơ quan quản lý bảo hiểm của Hoa Kỳ, Canada, Anh,… sử dụng đánh giá năng lực cạnh tranh ngành và doanh nghiệp của họ
Trang 136 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong giai đoạn 2003-2010
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Khái quát chung về ngành bảo hiểm
1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm
Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa
Kỳ thì Bảo hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao những rủi ro gây ra chúng cho những người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro.
Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì Bảo hiểm là sự thoả thuận qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm
Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất không mong đợi.
Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp, các tập đoàn
thương mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo
cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức, chuyển nhượng rủi
ro cho DNBH, doanh nghiệp đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm.
Có thể nói, các khái niệm trên đã lột tả được bản chất của bảo hiểm trên các khía cạnh về rủi ro Sự chuyển giao rủi ro giữa DNBH và người được bảo
Trang 15hiểm thông qua phí bảo hiểm và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểm gặp rủi ro tổn thất Và một cách đơn giản, bảo hiểm chính là một cách xử lý rủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro trong từng nhóm người được thực hiện qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) của các tổ chức bảo hiểm
1.1.2 Vai trò của ngành Bảo hiểm trong nền kinh tế quốc dân
Vai trò kinh tế - xã hội của bảo hiểm được ghi nhận ở tất cả các quốc gia trên thế giới bởi những đóng góp dưới đây:
Bảo hiểm đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm càng phát triền thì doanh thu phí từ bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT), bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và hoạt động đầu tư sẽ đóng góp vào GDP của cả nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Bảo hiểm huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Do sự đảo ngược của chu trình kinh doanh sản phẩm trong KDBH (phí bảo hiểm phải thu trước; bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm chỉ thực hiện sau một thời gian) khiến phần lớn lượng tiền mà DNBH tập trung được từ phí bảo hiểm có thời gian tạm thời nhàn rỗi Các DNBH vẫn sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó để đầu tư vào nhiều lĩnh vực và chủ yếu là đầu tư gián tiếp trên thị trường tài chính, nhất là thị trường chứng khoán Hoạt động đầu tư tích cực của các DNBH còn có tác dụng tăng quy mô và độ linh hoạt của thị trường tài chính, kích thích các luồng vốn vận động theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng tính khả thi của những dự án lớn, nâng cao hiệu quả của việc phân bố các nguồn lực tài chính có hạn trong nền kinh tế
Đóng góp cho sự ổn định kinh tế - xã hội
Rủi ro mang đến những thiệt hại tài chính bất thường cho các cá nhân,
tổ chức Một căn nhà bị hoả hoạn, một người trụ cột trong gia đình bị tai nạn
và chết, một con tàu bị mất tích… đều mang đến những kết cục bất hạnh và đi
Trang 16đôi là khó khăn tài chính Hơn lúc nào hết, các cá nhân, tổ chức cần đến nguồn tài chính kịp thời để bù lại thiệt hại, lấy lại sự cân bằng, ổn định tình hình tài chính Sự có mặt của các DNBH đã đáp ứng nhu cầu đó một cách nhanh nhất Hơn nữa, vượt lên ý nghĩa “tiền bạc”, bảo hiểm mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho người được bảo hiểm Vai trò này được thể hiện ở các khía cạnh khác như là: giảm sức ép đối với hệ thống phúc lợi xã hội, hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển
Tạo việc làm cho xã hội
Ngành bảo hiểm đã thu hút một lực lượng lớn lao động làm việc tại các DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và các nghề nghiệp liên quan như đánh giá rủi ro, giám định tổn thất, định giá tài sản, giám định sức khỏe…trong điều kiện thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh
tế toàn cầu thì sự phát triển ngành bảo hiểm vẫn được coi là còn nhiều tiềm năng ở các quốc gia, góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm cũng như các vấn đề xã hội có liên quan
1.2 Năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Theo Hội đồng về năng lực cạnh tranh của Hoa Kỳ: Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của nền sản xuất, của một nước có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi sức sống của dân chúng nước ấy có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài Khái
niệm này tuy lột tả được được tính cạnh tranh nhưng lại bị bó hẹp về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, chưa nhấn mạnh đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành
Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại, năng lực cạnh tranh là
Năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia
Trang 17không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế Khái niệm này đã bao quát được năng lực cạnh tranh của các cấp
độ nhưng diễn tả cụm từ “cạnh tranh” chưa rõ ràng
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (The OECD High Level Forum on Industrial Competitiveness) đã lựa chọn một khaí niệm cố gắng kết hợp cho cả doanh
nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Như vậy, mỗi một khái niệm đều có mặt ưu điểm và nhược điểm riêng, nhưng khái niệm của OECD là hoàn thiện nhất khi nêu được chủ thể cạnh tranh và cụm từ cạnh tranh Như vậy, năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm là khả năng ngành bảo hiểm của một quốc gia có khả năng giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh để tạo ra thu nhập và việc làm cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm
Trong lĩnh vực bảo hiểm, trên thế giới hiện nay chưa có một phương pháp luận chung để đánh giá năng lực cạnh tranh của DNBH hay của ngành bảo hiểm Do vậy, để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm, luận văn lựa chọn một số tiêu chí theo hệ thống CARAMELS như sau:
1.2.2.1 Tổng tài sản của ngành
Tổng tài sản của ngành là tổng tài sản có của các doanh nghiệp trong ngành Tiêu chí này phản ánh “sức khỏe” của các doanh nghiệp cũng như toàn ngành Tổng tài sản như là tấm đệm để đảm bảo cho mỗi ngành có khả năng chống đỡ trước những rủi ro trong hoạt động bảo hiểm cũng như rủi ro từ môi trường kinh doanh và môi trường tự nhiên Tổng tài sản càng lớn thì các doanh nghiệp càng có khả năng chống đỡ cao hơn với những thay đổi của môi trường
Trang 18kinh doanh Điều này ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều biến động khôn lường Tổng tài sản còn ảnh hưởng đến mức đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Do vậy, tổng tài sản nhỏ sẽ là một bất lợi lớn trong lĩnh vực bảo hiểm
1.2.2.2 Năng lực công nghệ
Trong lĩnh vực bảo hiểm, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng như một nguồn lực giúp hoạt động của các doanh nghiệp và toàn ngành trở nên hiệu quả hơn Công nghệ không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống cấp đơn bảo hiểm, bán hàng qua Internet… Công nghệ trong lĩnh vực bảo hiểm còn bao gồm hệ thống quản lý thông tin khách hàng, cảnh báo rủi ro từ các sự việc có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm trong nội bộ các DNBH Như vậy, công nghệ thông tin kết nối trực tiếp đến hầu hết các nhân tố tác động tới hoạt động của DNBH, bao gồm bảo hiểm tự động, quản
lý dữ liệu, phản ứng và giải quyết thảm họa; kiểm soát doanh nghiệp tự động; tích hợp và thay thế các hệ thống cũ; an ninh, bảo mật Và trong môi trường cạnh tranh ngày nay, việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là một trong những đòi hỏi cấp bách nhằm hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm, mà trong đó, ứng dụng công nghệ thông tin là yếu tố quan trọng
1.2.2.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp Đặc biệt, đối với ngành bảo hiểm, nhân sự luôn là then chốt bởi chính con người tạo nên sự kết nối giữa khách hàng với các sản phẩm bảo hiểm Bên cạnh đó, nhân sự của một DNBH kết nối các nguồn lực của DNBH và đây gốc của mọi cải tiến hay đổi mới Tiêu chí này được thể hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức
độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp
Trang 191.2.2.4 Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa của dịch vụ cung cấp
Hệ thống kênh phân phối là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của các DNBH Hệ thống phân phối của DNBH thể hiện ở số lượng các chi nhánh
và các đại lý Việc triển khai các công nghệ hiện đại đang làm rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh của một DNBH Tuy nhiên, vai trò của mạng lưới đại lý rộng khắp vẫn rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện hình thức phân phối truyền thống vẫn còn phát triển Hiệu quả của mạng lưới đại lý cũng là một chỉ tiêu quan trọng
Một doanh nghiệp có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp phù hợp với nhu cầu của thị trường và năng lực quản lý của doanh nghiệp sẽ là có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hóa dịch vụ một mặt tạo cho doanh nghiệp phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép doanh nghiệp phát huy được lợi thế quy mô
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm
Luận văn lựa chọn mô hình Kim cương của Michael Porter để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bởi từ mô hình này có thể phân tích được sâu những yếu tố chính tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia của ngành/lĩnh vực và hoàn toàn phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận văn Để rút gọn, từ phần này cụm từ “năng lực cạnh tranh ngành” được hiểu là năng lực cạnh tranh quốc gia đối với một ngành
Theo mô hình này, đối với mỗi ngành, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh là:
Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp: Các điều kiện của doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc các doanh nghiệp được thành lập, tổ chức
và quản lý như thế nào cũng như mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp
Điều kiện cầu: Nhu cầu đối với sản phẩm hoặc dịch vụ của ngành
Trang 20 Các ngành liên quan hoặc phụ trợ: hỗ trợ sự phát triển của ngành
Các nhân tố điều kiện: Các nhân tố sản xuất như lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng là hết sức cần thiết để tạo sự cạnh tranh của một ngành
Chính phủ và cơ hội: Đây là nhân tố xúc tác, tác động đến bốn yếu
Những ngành liên quan
và bổ trợ
Điều kiện về
Hình 1.1 Mô hình Kim cương của Michael Porter
Nguồn: Porter (1990), tr 127
Theo đó, đi sâu vào đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm sẽ được thực hiện như sau:
1.3.1 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi kinh tế phát triển, cạnh tranh sẽ diễn ra trên quy mô rộng hơn với mức độ gay gắt hơn trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong ngành dịch vụ như bảo hiểm Doanh nghiệp sẽ có những định hướng phát triển riêng, cách thức mà doanh nghiệp sẽ tiến hành trong hoạt động kinh doanh như thế nào trong điều kiện như vậy sẽ tác động rất lớn tới sự cạnh tranh nội bộ ngành và năng lực cạnh tranh ngành Cách thức các
Trang 21doanh nghiệp cạnh tranh làm ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của một ngành Nếu có sự cạnh tranh lành mạnh và hợp tác hiệu quả giữa các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong nước là nền tảng để tạo ra sức mạnh của cả ngành Do vậy, các tiêu chí để xem xét việc ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của cả ngành là: Chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và đặc điểm cạnh tranh của ngành
1.3.2 Điều kiện cầu về bảo hiểm
Khách hàng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyền lực của khách hàng thậm chí có thể tác động tới sự tồn vong của cả một ngành Chính vì vậy, duy trì và giữ chân khách hàng luôn là bài toán thường trực đối với mỗi doanh nghiệp trong quá trình điều hành kinh doanh Cùng với sự phát triển của bảo hiểm, hàng hóa dịch vụ ngày càng đa dạng, khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn, cuộc chiến cạnh tranh giành khách hàng cũng ngày càng gay gắt hơn Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm cần phải chú trọng nhiều đến yếu tố này
Từ góc độ người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong đó hiểu biết về bảo hiểm là quan trọng nhất đối với tiềm năng phát triển của ngành bảo hiểm Theo đó, tiêu chí để xem xét xem điều kiện cầu đã ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm thì cần tìm hiểu các vấn đề: nhận thức của khách hàng về mức độ quan trọng của dịch vụ bảo hiểm và khách hàng hiểu về các DNBH hiện đang hoạt động trên thị trường đến đâu? Họ đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng dịch vụ chưa? Và thực trạng khai thác và tiềm năng khai thác bảo hiểm trong tương lai như thế nào?
1.3.3 Các nhân tố điều kiện
Bảo hiểm là một ngành dịch vụ phức tạp do vậy nó đòi hỏi những điều kiện rất cao về nguồn nhân lực, hoạt động đào tạo bảo hiểm và nguồn lực công nghệ thông tin Và đây cũng là những nhân tố quan trọng trong môi
Trang 22trường quốc gia có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh của các DNBH với các chỉ tiêu:
Yếu tố về nguồn lực trong lĩnh vực bảo hiểm thể hiện qua các chỉ tiêu:
số lượng các nhân viên và các nhà quản lý bảo hiểm giàu kinh nghiệm, có trình độ cao;
Yếu tố nguồn trí lực trong bảo hiểm thể hiện ở quy mô đào tạo hàng năm, trình độ, kỹ năng của đội ngũ sinh viên đuợc đào tạo trong lĩnh vực bảo hiểm khi ra trường; số lượng các trường đại học, các viện đào tạo và nghiên cứu về hoạt động bảo hiểm
Yếu tố về thống kê và công nghệ thông tin của cả ngành Cụ thể là công tác thống kê được áp dụng như thế nào trong nội bộ? Dữ liệu báo cáo của các doanh nghiệp có được tập hợp và lưu trữ hệ thông hay không? Thông tin các DNBH có thông báo kịp thời hay không? Đối với công nghệ thông tin được phản ánh thông qua mức độ tin học hoá trong các doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý Đây là những điều kiện mang tính cơ sở cho việc triển khai các dịch vụ bảo hiểm trong thời gian tới
1.3.4 Các ngành liên quan và bổ trợ
Trong một nền kinh tế có thể nói không có một ngành nào lại độc lập hoàn toàn với ngành khác Bảo hiểm là ngành liên quan đến nhiều ngành trong nền kinh tế quốc dân Những ngành có mối quan hệ hỗ trợ và liên quan mật thiết có thể kể đến là hệ thống các tổ chức tín dụng và chứng khoán bởi trình độ phát triển của các ngành này có tác động trực tiếp đến sự phát triển của bảo hiểm Thị trường chứng khoán, hệ thống các tổ chức tín dụng phát triển vừa tạo áp lực buộc bảo hiểm phát triển, mặt khác lại tạo ra cơ hội hợp tác nghiên cứu, triển khai những ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nói chung, nhờ đó các bên cùng có lợi và cùng nhau phát triển Đặc biệt, đối với ngành bảo hiểm, thị trường chứng khoán vừa đóng vai trò là kênh huy động vốn vừa đóng vai trò cung cấp các cơ hội đầu tư
Trang 231.3.5 Nhận thức, tư duy của các cơ quan quản lý nhà nước
Vai trò chính phủ trong mô hình kim cương của Porter hoạt động như một chất xúc tác và thách thức, nó khuyến khích hoặc thậm chí đẩy các doanh nghiệp nâng cao mục tiêu của họ và chuyển sang cấp độ cao hơn về hiệu suất cạnh tranh
Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm, vai trò của chính phủ thông qua nhận thức, tư duy của các cơ quan quản lý nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của bảo hiểm Yếu tố này thể hiện trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế và tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp không phải là vấn đề của riêng ngành bảo hiểm, mà là vấn
đề của toàn nền kinh tế Các DNBH không chỉ hoạt động và chịu sự quản lý của các cơ quan chuyên trách trong lĩnh vực bảo hiểm, mà còn chịu sự quản
lý của những cơ quan chức năng có liên quan khác (ví dụ như y tế, an ninh, giao thông, hải quan, xây dựng ) khi bảo hiểm cho các rủi ro trong các lĩnh vực khác nhau, và đặc biệt khi tiến hành giám định tổn thất để bồi thường khi
có sự kiện bảo hiểm xảy ra
1.3.6 Cơ hội
Cơ hội là những sự kiện vượt ra khỏi tầm kiểm soát của một quốc gia mà
có tác động đến sự phát triển một ngành của quốc gia đó Cơ hội này có thể là
sự phát triển và suy thoái của nền kinh tế thế giới; những dấu hiệu thay đổi của
tỷ giá hối đoái; tình trạng thiên tai lũ lụt toàn cầu; sự phát triển ngành này ở các khu vực trên thế giới hoặc có thể là các quyết định của chính phủ các quốc gia khác Đây là một yếu tố rất quan trọng bởi mỗi cơ hội sẽ có những tác động tới bốn yếu tố chính trong mô hình Kim cương từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và sự phát triển của ngành, đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sự tác động của các cơ hội càng trở nên mạnh mẽ hơn
1.4 Các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm 1.4.1 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành bảo hiểm Việt Nam
Trước năm 1975, trên thị trường miền Nam Việt Nam đã có một số
Trang 24DNBH Tại miền Bắc, ngày 15/01/1965 DNBH Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt)
được thành lập và trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ cung cấp các sản phẩm bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm vận tải biển Sau năm 1975, Bảo Việt đã mở rộng phạm vi hoạt động vào miền Nam, dần dần trên phạm vi toàn quốc, trở thành DNBH lớn nhất Việt Nam
Cho đến tháng 12/1993, cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển mới của ngành bảo hiểm Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 quy định về hoạt động KDBH Nghị định này đã tạo ra một bước ngoặt trong việc phát triển một thị trường cạnh tranh, đa dạng hoá sở hữu các DNBH tại Việt Nam khi thể hiện rõ quan điểm của chính phủ trong việc phát triển thị trường bảo hiểm dựa trên cơ sở cạnh tranh và đa dạng hoá sở hữu, cho phép các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước như doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh hoạt động KDBH Cùng đó, ngành bảo hiểm Việt Nam cũng tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Một số dấu mốc quan trọng như:
Tháng 12 năm 1995, Việt Nam đã cùng các nước thành viên ASEAN
ký hiệp định khung về dịch vụ (AFAS) với mục tiêu chủ yếu là tự do hóa thương mại dịch vụ với mức cam kết rộng hơn so với các cam kết mà các nước ASEAN đã có theo hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của
tổ chức thương mại thế giới (WTO) Hiệp định này đã đưa ra những cam kết
cụ thể trong lĩnh vực bảo hiểm theo hướng huỷ bỏ về cơ bản những hạn chế
về tiếp cận thị trường và tăng cường chiều sâu và phạm vi tự do hoá trong lĩnh vực bảo hiểm
Ngày 13/7/2000, hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa
Kỳ đã được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 Những cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đối với lĩnh vực bảo hiểm có thể coi là bước đi đầu tiên thể hiện những cam kết và rõ ràng nhất cả về lộ trình
Trang 25cũng như nội dung hội nhập của bảo hiểm Việt Nam So với những nước trong khu vực, những cam kết của Việt Nam là một trong những nước có mức độ mở cửa thị trường bảo hiểm thông thoáng nhất Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước bảo hiểm với Hiệp hội quốc gia các nhà quản lý bảo hiểm Hoa Kỳ (NAIC) vào tháng 11/2003, với phương thức hợp tác chủ yếu là chương trình đào tạo cho cán bộ và trao đổi thông tin
Tháng 10/2006, Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO Trong đó, bảo hiểm là dịch vụ mà các thành viên WTO quan tâm và yêu cầu cao về mức
độ mở cửa thị trường cho các DNBH nuớc ngoài Tuy nhiên, mức cam kết của Việt Nam đạt được trong Biểu cam kết tốt hơn so với mức cam kết của các nước mới gia nhập WTO gần Về tổng thể, mức cam kết như trên là tương đương với BTA Điểm khác duy nhất là Việt Nam cho phép mở thêm chi nhánh DNBH phi nhân thọ
Tháng 10/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm quốc tế (IAIS) Tham gia tổ chức này, hệ thống pháp lý bảo hiểm có những thay đổi để phù hợp với các nguyên tắc của IAIS Theo đánh giá từng mức độ phù hợp với nguyên tắc IAIS của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam thì Việt Nam hiện tuân thủ hoàn toàn với 13 /28 nguyên tắc của IAIS – tuân thủ tương đối với 10 nguyên tắc, và tuân thủ một phần với 3 nguyên tắc
Việc hội nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế, cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm trong nước thời gian tới sẽ sôi động hơn và sẽ có tác dụng thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển
1.4.2 Cam kết theo hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS)
Tháng 12 năm 1995, các nước thành viên ASEAN đã ký hiệp định khung về dịch vụ (AFAS) với mục tiêu chủ yếu là tự do hóa thương mại dịch vụ với mức cam kết rộng hơn so với các cam kết mà các nước ASEAN đã có theo hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Trang 26Trong lĩnh vực BHPNT, Việt Nam đã có những cam kết cụ thể sau:
a Các giới hạn về tiếp cận thị trường:
- Đối với hình thức “cung cấp dịch vụ qua biên giới”: không cam kết, trừ dịch vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển
- Đối với hình thức “sử dụng dịch vụ ở nước ngoài”: không cam kết
- Đối với hình thức “hiện diện thương mại”: Việt Nam cam kết tới năm
2000 sẽ cấp giấy phép tối đa cho 2 doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài vào hoạt động trong lĩnh vực phi nhân thọ Các DNBH phi nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Sau 5 năm kể từ năm đầu tiên bắt đầu có lãi, DNBH phi nhân thọ 100% vốn nước ngoài phải bán lại ít nhất 30% vốn
cổ phần cho các DNBH trong nước
- Đối với hình thức “hiện diện thể nhân”: không cam kết
b Các giới hạn về đối xử quốc gia: không cam kết đối với cả 4 hình thức cung cấp dịch vụ
1.4.3 Cam kết theo hiệp định khung hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (Vietnam-USA BTA)
Ngày 13/7/2000, hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa
Kỳ đã được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 Trong lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam đã có những cam kết cụ thể sau:
a Các giới hạn về tiếp cận thị trường
- Đối với hình thức “cung cấp dịch vụ qua biên giới”: Việt Nam cam kết cho phép tiếp cận thị trường về việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; các dịch vụ tái bảo hiểm; các dịch vụ bảo hiểm trong vận tải quốc tế, các dịch vụ môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm; các dịch vụ
tư vấn, giải quyết khiếu nại, và đánh giá rủi ro
Trang 27- Đối với hình thức “hiện diện thương mại”: sau 3 năm kể từ ngày hiệp định có hiệu lực, các doanh nghiệp Hoa Kỳ có thể thành lập liên doanh với các đối tác Việt Nam với điều kiện là phần vốn tham gia của phía Hoa Kỳ không vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh 05 năm sau khi hiệp định
có hiệu lực, các hạn chế đối với vốn góp của phía Hoa Kỳ sẽ được loại bỏ
Trong thời gian 3 năm kể từ ngày hiệp định có hiệu lực, các doanh nghiệp có vốn góp của Hoa Kỳ không được cung cấp các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc đối với xe cơ giới, trong xây dựng và các loại bảo hiểm bắt buộc khác Sau 3 năm, các liên doanh có vốn tham gia của Hoa Kỳ sẽ được phép cung cấp các loại dịch vụ bảo hiểm này, và sau 6 năm, các doanh nghiệp 100% vốn Hoa Kỳ cũng sẽ được phép làm như vậy
Trong vòng 5 năm kể từ ngày hiệp định có hiệu lực, tái bảo hiểm phải được tiến hành với doanh nghiệp tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam với tỷ lệ tối thiểu 20%
b Các giới hạn về đối xử quốc gia:
Đối xử quốc gia không được bảo đảm đối với việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm xe cơ giới theo hình thức “hiện diện thương mại”
1.4.4 Những cam kết của Việt Nam đối với WTO trong lĩnh vực bảo hiểm
Theo cam kết, những phân ngành của dịch vụ bảo hiểm sẽ mở cửa là BHNT (trừ bảo hiểm y tế); BHPNT; Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm; Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm); Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường) Đối với những lĩnh vực dịch vụ mà Việt Nam đã cam kết thì việc mở cửa thị trường cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài của Việt Nam trên thực tế phải thực hiện tối thiểu là theo mức đã cam kết và theo lộ trình đã cam kết Đồng thời, Việt Nam cũng phải tuân thủ các nghĩa vụ khác trong cam kết
Trang 28chung về dịch vụ (còn gọi là cam kết nền) và trong hiệp định thương mại dịch
vụ (GATS) của WTO (về những vấn đề mà cam kết cụ thể không quy định) Những dịch vụ nào mà Việt Nam chưa cam kết thì Việt Nam hoàn toàn có thể quyền quyết định về mức mở cửa thị trường và thời hạn mở cửa của tuỳ thuộc tình hình và nhu cầu thực tế của Việt Nam Ví dụ, trong ngành bảo hiểm, Việt Nam chưa cam kết về bảo hiểm y tế Vì vậy, Việt Nam có toàn quyền quyết định cho phép hoặc không cho phép nhà đầu tư nước ngoài cung cấp dịch vụ này ở Việt Nam (cả về thời điểm mở cửa, mức độ mở cửa, các loại hạn chế )
DNBH nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức: Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp); Liên doanh với đối tác Việt Nam; Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình); Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ BHPNT)
Về tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các DNBH Việt Nam, trong phần cam kết chung về dịch vụ (còn gọi là cam kết nền), Việt Nam cam kết sau 1 năm kể từ ngày gia nhập, tức là từ 11/1/2008, mức cổ phần do các nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm giữ tại các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phù hợp với mức mà họ được phép
nắm giữ trong trường hợp đầu tư trực tiếp Trong khi đó, Việt Nam đã cam
kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được phép lập DNBH 100% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập, do đó tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các DNBH Việt Nam cũng sẽ là 100% kể từ ngày 11/1/2008
Các DNBH nước ngoài không có hiện diện thương mại (văn phòng đại diện, chi nhánh, liên doanh, doanh nghiệp con) tại Việt Nam được quyền cung cấp các dịch vụ bảo hiểm sau cho khách hàng tại Việt Nam: Dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho khách hàng là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người
Trang 29nước ngoài tại Việt Nam; Dịch vụ tái bảo hiểm; Dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc
tế (vận tải biển, vận tải hàng không quốc tế; hàng hóa đang vận chuyển quá cảnh quốc tế); Dịch vụ môi giới bảo hiểm, môi giới tái bảo hiểm; Các dịch vụ môi giới, tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro, giải quyết bồi thường Như vậy, trừ trường hợp khi dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho khách hàng là các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam, tất
cả các trường hợp còn lại đều không có hạn chế về đối tượng khách hàng mua dịch vụ bảo hiểm (tức là cả tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài trong những trường hợp đã nêu đều có thể mua các dịch vụ này từ các DNBH nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam
Việt Nam cam kết không có hạn chế gì đối với việc tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài trong lĩnh vực bảo hiểm Vì vậy, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam ra nước ngoài hoạt động, học tập, lao động, hoạt động kinh doanh
có quyền mua bảo hiểm của các DNBH nước ngoài
Theo cam kết, Việt Nam không được đưa ra hạn chế nào đối với hoạt động tái bảo hiểm (kể cả tái bảo hiểm ra nước ngoài) của các hiện diện thương mại của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam (chi nhánh, liên doanh, doanh nghiệp con) Vì vậy, các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài hay chi nhánh của các DNBH nước ngoài tại Việt Nam không bắt buộc phải tái bảo hiểm với bất kỳ một doanh nghiệp cụ thể nào của Việt Nam
mà có thể trực tiếp tái bảo hiểm toàn bộ với các DNBH nước ngoài
Ngoài các hạn chế liệt kê trong Biểu cam kết, Việt Nam hoàn toàn có quyền áp dụng các điều kiện kỹ thuật khác để đảm bảo năng lực của nhà cung
cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ Đặc biệt đối với các dịch vụ tài chính thì
các thành viên WTO còn được áp dụng các điều kiện thận trọng khác để đảm bảo sự ổn định của thị trường tài chính Ví dụ, Việt Nam có quyền quy định rằng các DNBH muốn thiết lập doanh nghiệp con, liên doanh hoặc chi nhánh tại Việt Nam thì doanh nghiệp mẹ phải có một số vốn điều lệ nhất định
Trang 301.5 Kinh nghiệm ở một số nước
1.5.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Ngành bảo hiểm Trung Quốc đã được quốc hữu hoá trong những năm
1950 và dường như không hoạt động trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hoá Khi ngành bảo hiểm được hoạt động trở lại vào năm 1978, DNBH Nhân dân Trung Quốc (PICC) độc quyền toàn ngành Sự thống lĩnh của PICC bắt đầu bị rỡ bỏ vào năm 1988 khi hai DNBH trong nước là Doanh nghiệp TNHH Bảo hiểm Bình An Trung Quốc (PIAC) và DNBH Thái Bình Dương Trung Quốc (CPIC) được cấp phép hoạt động
Từ khi vào WTO, thị trường bảo hiểm của Trung Quốc đã có những thay đổi quan trọng, đã phát triển từ một thị trường khép kín vào đầu những năm
1990 trở thành một thị trường có hơn một nửa số DNBH là các DNBH 100% vốn nước ngoài Thị trường phát triển mạnh mẽ và được khuyến khích bởi cải cách về pháp luật, tái cơ cấu hệ thống an sinh xã hội, tiết kiệm cao và chi tiêu bảo hiểm thấp Hiện nay, ngành bảo hiểm Trung Quốc đã trở thành một trong những ngành phát triển nhanh nhất, kết thúc năm 2010 với tốc độ tăng trưởng khoảng 30% so với năm 2009 Ngành bảo hiểm Trung Quốc được dự tính sẽ tăng trưởng với tốc độ cao trên 24%/năm trong thời gian 2011-2014
Bảng 1.1 Tổng doanh thu phí bảo hiểm của Trung Quốc, giai đoạn 2001-2010
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Để đạt được tốc độ tăng trưởng này kèm theo mục tiêu đảm bảo ổn định thị trường với nòng cốt là các DNBH trong nước, Trung Quốc đã có những bước đi cụ thể như:
Trang 31- Xây dựng các DNBH trong nước và cho phép DNBH nội địa hiện tại
mở rộng địa bàn hoạt động của mình sang nhiều thành phố khác;
- Thành lập các liên minh giữa các DNBH và các ngân hàng thương mại trong nước, bắt đầu là sự kiện liên minh giữa DNBH Thái Bình Dương Trung Quốc (CPIC) và ngân hàng thương mại lớn nhất Trung Quốc (Ngân hàng Công thương Trung Quốc) Việc kết hợp giữa tổ chức bảo hiểm và ngân hàng này đã rất hiệu quả trong việc cung cấp các liên dịch vụ của họ cho các khách hàng;
- Tổ chức các khoá đào tạo nhằm nâng cao năng lực, giúp cho các DNBH của Trung Quốc cạnh tranh được với các đối tác nước ngoài; cung cấp thêm nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành bảo hiểm và thuê các chuyên gia bảo hiểm nuớc ngoài đóng vai trò tư vấn cho các DNBH trong nước; Tăng tỷ phần nắm giữ của các DNBH trong các quỹ đầu tư cổ phiếu…
- Dưới sự quản lý của Ủy ban giám sát bảo hiểm Trung Quốc (CIRC), việc thực thi các khung pháp lý trong lĩnh vực bảo hiểm đối với cả các DNBH trong nước và nước ngoài được xiết chặt hơn nhằm củng cố một môi trường cạnh tranh bình đẳng và minh bạch hơn trên thị trường bảo hiểm của Trung Quốc
1.5.2 Kinh nghiệm ở Ấn Độ
Dựa trên các số liệu của Hội đồng BHNT (LIC) Ấn Độ, thị trường bảo hiểm Ấn Độ tăng trưởng doanh thu phí thu hàng năm là 20,5% Doanh thu phí năm 2010 đạt 8.06 tỷ USD, tăng trưởng 28% so với năm 2009 Các doanh nghiệp tư nhân đang ngày càng đóng vai trò quan trọng khi thị phần của các doanh nghiệp này ngày càng tăng Theo nghiên cứu của Deloit về thị trường bảo hiểm Ấn Độ, thì tỷ trọng của DNBH tư nhân từ chỗ không hiện diện ở Ấn
Độ năm 2000 đã tăng lên chiếm 41% thị phần vào năm 2009 (Hình 1.2)
Trang 32Hình 1.2 Thị phần các doanh nghiệp Ấn Độ
Nguồn: Deloitte, General Insurance Industry, 2009
Sự ra đời của một cơ quan quản lý độc lập trong ngành bảo hiểm là một trong những yếu tố giúp cho thị trường bảo hiểm Ấn Độ phát triển minh bạch
và có trật tự Ngành bảo hiểm sẽ đóng góp từ 5,1%-6,2% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Ấn Độ Ấn Độ cũng có một số biện pháp như:
- Thu nhập phí bảo hiểm chỉ được phép đầu tư trong nước, theo những danh mục đầu tư nhất định mà không đuợc mang đi đầu tư ở nước ngoài;
- Các trung gian bảo hiểm phải xin cấp giấy phép kinh doanh và giấy phép này sẽ được gia hạn 3 năm/1 lần
- Yêu cầu về mức vốn pháp định đối với DNBH phi nhân thọ và nhân thọ là 1 tỷ rupi và đối với doanh nghiệp tái bảo hiểm là 2 tỷ rupi
- Tăng cường vai trò quản lý thị trường của IRDA Các quy định do cơ quan này ban hành đã trở thành công cụ định hướng tiến trình tương lai ngành bảo hiểm IRDA đã ban hành một vài quy định để nâng cao tính minh bạch, lợi nhuận và vốn cũng như bảo vệ người tiêu dùng Ví dụ, Cục Quản lý và phát triển bảo hiểm Ấn Độ (IRDA) đang xây dựng quy trình cho phép truy cập vào các hệ thống khác nhau của DNBH để kiểm tra ngẫu nhiên bồi thường bảo hiểm Đây là lần đầu tiên một cơ quan quản lý đề xuất kiểm tra các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của mình thông qua việc truy cập trực tiếp vào hệ thống của doanh nghiệp;
Trang 33- IRDA đã và đang thắt chặt giám sát hệ thống khiếu nại tại DNBH Hiện nay, tất cả các DNBH đều phải trình IRDA về cách xử lý khiếu nại trước khi được thực thi DNBH cũng cần thiết lập quy trình nhận, đăng ký và từ chối các khiếu nại ở các chi nhánh Tất cả các DNBH cũng phải chỉ định rõ một cán bộ phụ trách về khiếu nại cấp cao, Tổng giám đốc hoặc cán bộ kiểm tra việc tuân thủ Các DNBH phải quy định khoảng thời gian xử lý, giải quyết khiếu nại theo từng loại Cơ quan quản lý sẽ phạt các doanh nghiệp nếu chậm trễ trong việc giải quyết khiếu nại;
- IRDA luôn chú trọng nâng cao kỹ năng quản lý tài chính của các doanh nghiệp;
- IRDA cũng khuyến khích các hộ gia đình chuyển từ hình thức tiết kiệm tài sản vật chất sang tài sản tài chính đồng thời triển khai mạng lưới phân phối tới các vùng nông thôn nơi mà dự kiến sẽ có nhiều cá nhân tham gia bảo hiểm;
Tóm lại, từ kinh nghiệm của các nước trong mở cửa và hội nhập của ngành bảo hiểm có thể rút ra một số bài học có thể vận dụng cho Việt Nam như:
Một là, quá trình hội nhập thị trường dịch vụ tài chính trong đó bảo hiểm phải phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước Mỗi nước, dựa trên cơ
sở các thông lệ quốc tế mà tìm ra lộ trình và cách thức hội nhập có hiệu quả đối với lĩnh vực bảo hiểm với nguyên tắc vừa đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của hội nhập, đồng thời bảo vệ hợp pháp các lợi ích của nền kinh tế, nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của cả ngành Đối với các nước đang phát triển, quá trình mở cửa và hội nhập của bảo hiểm thường được diễn ra từng bước với một lộ trình phù hợp
Hai là, các chính sách và công cụ tài chính mà mỗi quốc gia sử dụng trong quá trình mở cửa và hội nhập thị trường bảo hiểm quốc tế cũng rất phong phú và đa dạng, tuỳ thuộc vào chính sách mở cửa kinh tế của từng
Trang 34nước Tuy nhiên, những chính sách và công cụ phổ biến thường đuợc các quốc gia sử dụng là: những ràng buộc pháp lý về vốn điều lệ; năng lực thanh toán; tỷ lệ trích lập dự phòng bắt buộc; các quy định về đầu tư… những chính sách và công cụ này ngoài mục đích bảo hộ hợp pháp còn tạo điều kiện thuận lợi để các DNBH trong nước thích nghi dần với môi trường cạnh tranh trong quá trình hội nhập
Kết luận chương 1:
Chương 1 đã khái quát những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm đặc biệt đưa ra phương pháp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong ngành bảo hiểm dựa trên mô hình Kim cương của Micheal Porter về lợi thế cạnh tranh
Bên cạnh đó, chương 1 cũng giới thiệu kinh nghiệm của Trung Quốc và
Ấn Độ trong việc đưa ra các giải pháp để cải thiện năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm nước mình Trong đó, những giải pháp về nhóm yếu tố tư duy của các cơ quan quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng bởi đó là một yếu tố thể hiện trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hỗ trợ phát triển và tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp trong ngành
Trang 35CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC
CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1 Tổng quan ngành bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập
Trong giai đoạn 2003-2010, ngành bảo hiểm tại Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh, đóng góp đáng kể cho việc giảm thiểu các rủi ro trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội; cải thiện môi trường đầu tư; giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, góp phần phát triển kinh
tế xã hội Những kết quả chính đã đạt được như sau:
2.1.1 Tăng trưởng doanh thu phí của ngành
Doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng cao và ổn định Từ năm
2003-2010, doanh thu phí bảo hiểm đã tăng 195% (tương đương với số tuyệt đối là 20.218 tỷ đồng)
Hình 2.1 Tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2003 – 2010
Hình 2.1 cho thấy năm 2008 đã chứng kiến sự tăng trưởng doanh thu phí vượt bậc với tốc độ tăng trưởng 82,5% so với năm 2007 Bởi đây là thời điểm kinh tế xã hội có nhiều chuyển biến tích cực sau khi gia nhập WTO Đồng thời,
5.486 4.768
3.815
13.589 11.849
10.950
30.605 25.510
32.203
17.650 14.898
13.616 12.479
Trang 36năm 2007, cùng việc trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội quốc tế các nhà quản lý bảo hiểm (IAIS) thì Bộ Tài chính đã sửa đổi, ban hành một loạt các văn bản mới hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm (Thông tư 155/2007/TT-BTC và 156/2007/TT-BTC về bảo hiểm) đã tạo điều kiện cho hành lang pháp lý đồng bộ, ổn định giúp các DNBH hoạt động tốt hơn.
So với tốc độ tăng trưởng GDP quốc gia và tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm thế giới trong giai đoạn 2003-2010, thị doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng khá mạnh
Năm 2005, doanh thu ngành bảo hiểm giảm khá mạnh bởi trong năm này, nguyên nhân chính là việc giảm doanh thu trong thị trường BHNT Trong hai năm 2005-2006, sự bùng nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam và tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng đã ảnh hưởng không nhỏ tới kỳ vọng của người tham gia bảo hiểm Cùng thời gian này, thị trường nhân thọ đã đạt đến giai đoạn bão hoà Thêm vào đó, cũng có một số lý do khác như: khách hàng vẫn chưa thực sự coi BHNT
là sản phẩm bảo hiểm mang tính dài hạn; sự kỳ vọng của người dân vào BHNT đã
bị giảm đáng kể sau khi nhận tiền đáo hạn và lãi chia không tương xứng với biến động của lãi suất trên thị trường Tuy nhiên, tổng doanh thu của ngành bảo hiểm giai đoạn 2003-2010 tăng bình quân 18,5%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP (7,3%) (Hình 2.2)
Hình 2.2 Tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm toàn cầu (2003-2010)
Nguồn: Signma N0.2/2011
Trang 37So với thị trường thế giới thì tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh thu phí của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2010 (16,7%) cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng này của thế giới (1,8%) (Hình 2.2) Trong giai đoạn 2005-2006, do thị trường trong nước trở nên bão hoà nên doanh thu phí bảo hiểm sụt giảm mạnh chỉ đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 9%/năm, tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng này vẫn cao hơn mức trung bình thế giới (2,6%-4,1%) Trong thời gian khủng hoảng kinh tế, mặc dù hoạt động kinh doanh bảo hiểm thế giới giảm sút mạnh làm cho tốc độ tăng trưởng doanh thu này âm, song nhờ những nỗ lực từ phía cơ quan quản lý bảo hiểm, DNBH, ngành bảo hiểm Việt Nam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng tốt lên đến trên 20%/năm
2.1.2 Số lượng doanh nghiệp của ngành
Kể từ khi những chính sách mở cửa được lần lượt ban hành, số lượng các DNBH mới gia nhập ngành không ngừng tăng lên Đáng chú ý nhất sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là thời điểm
1999 với sự tham gia của 5 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đến năm
2010, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên 11 doanh nghiệp BHPNT và 10 doanh nghiệp BHNT làm cho tỷ lệ số DNBH 100% vốn nước ngoài trong ngành bảo hiểm chiếm 53,7% (tăng gần 10% so với năm 2003) Vai trò của DNBH 100% vốn nước ngoài đối với nền kinh tế ngày quan trọng khi tỷ lệ đóng góp vốn kinh doanh của các DNBH 100% vốn nước ngoài
đã tăng từ 30,7% năm 2003 đến 48,2% năm 2010 Cùng với đó, tỷ trọng đầu tư vốn quay trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp này chiếm đến hơn 50% năm
2010 Việc ổn định kinh tế xã hội cũng đánh dấu một phần quan trọng khi tỷ lệ trả tiền bồi thường và tiền bảo hiểm của khối doanh nghiệp này đã tăng gần 15% trong giai đoạn 2003-2010 (Bảng 2.1) Các DNBH 100% vốn nước ngoài đóng vai trò khá quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực BHNT khi số lượng loại hình doanh nghiệp này trong lĩnh vực bảo hiểm chiếm đến 90%
Trang 38Bảng 2.1: Thống kê đóng góp của các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài
vào thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010
11/29 (37,9)
4/5 (80)
11/12 (91,7)
9/19 (47,4)
22/41 (53,7)
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2003 – 2010
2.1.3 Thị trường chưa phát triển cân xứng, mức độ tập trung thị trường cao
Thị trường bảo hiểm Việt Nam, tuy có sự phát triển vượt bậc trong những năm qua, nhưng đã thể hiện rõ sự phát triển bất cân xứng và mức độ tập trung thị trường cao:
Trong lĩnh vực nhân thọ, hiện nay có 10 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nhưng tới 9 doanh nghiệp là có vốn đầu tư nước ngoài Về mặt thị phần, thị trường chủ yếu bị chi phối bởi Bảo Việt Nhân Thọ (chiếm trên 30%)
và Prudential (gần 40%), Manulife (chiếm hơn 10 %) Còn lại 8 doanh nghiệp còn lại chỉ chiếm 20% thị phần
Thị trường BHPNT cũng có tình trạng tương tự Mặc dù thị trường này không bị mất cân đối về số lượng các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhưng lại mất cân đối lớn về mặt thị phần Từ 2006-2010
số lượng DNBH đã tăng từ 16 doanh nghiệp lên con số 29 doanh nghiệp
Trang 39Trong đó nhóm doanh nghiệp có sự gia tăng nhanh về thị phần đều là những DNBH thuộc Tập đoàn, Tổng doanh nghiệp nhà nước
Bảng 2.2 Thị phần bảo hiểm phi nhân thọ giai đoạn 2005-2010
Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Thị trường chưa phát triển cân xứng, mức độ tập trung cao Điều này
có thể dẫn đến sự thông đồng của các DNBH lớn, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh lành mạnh của thị trường Bên cạnh đó, việc tồn tại các DNBH hoạt động chuyên sâu trong các ngành dầu khí, bưu chính viễn thông, xăng dầu… trên thị trường cũng phần nào hạn chế sự cạnh tranh về bảo hiểm trong các ngành nói trên, và ở khía cạnh nào đó các DNBH này vẫn độc quyền phục vụ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực của mình
2.1.4 Vai trò của ngành bảo hiểm Việt Nam trong nền kinh tế
2.1.4.1 Bảo hiểm đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế
Mức đóng góp vào GDP của ngành bảo hiểm ngày càng tăng Nếu như năm 2003, đóng góp vào GDP của ngành bảo hiểm chỉ đạt 1,86% thì đến năm
2010, tỷ lệ này đã tăng lên 1,94 % (Hình 2.3.) Trong đó, tốc độ tăng trưởng đóng góp của đầu tư là cao nhất với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2003 –
2010 là 0,36%
Trang 40Hình 2.3 Đóng góp vào GDP của ngành bảo hiểm
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2003 – 2010 2.1.4.2 Bảo hiểm huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Bảo hiểm như là một kênh huy động vốn đầu tư mạnh Năm 2003, giá trị đầu tư trở lại nền kinh tế ở mức 14.602 tỷ đồng Giá trị này đã tăng qua từng năm với tốc độ tăng trưởng nhanh, tốc độ trung bình hơn 50%/năm trong giai đoạn 2003-2010, giá trị đạt 80.244 tỷ đồng (Hình 2.4) Tốc độ tăng trưởng rất nhanh này có sự đóng góp quan trọng của các DNBH 100% vốn nước ngoài, khi tỷ trọng đầu tư của nhóm doanh nghiệp này chiếm 55,4% tổng đầu tư của ngành năm 2010 (Bảng 2.1)
Hình 2.4 Đầu tƣ trở lại nền kinh tế
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2003 – 2010
0,4
9
0,54 0,67 0,65 0,61 0,72 0,9 0,83 0,860,81
1,18 1,08 0,97
0,81 0,82
0,85 0,72
0,68 0,16
0,14 0,22 0,23
0,33
0,58 0,56
0,4 0,4 1,46