Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện chủ trương “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động; xây dựng và thực hiện đồng bộ, chặt chẽ cơ chế, chính sách về đào tạo nguồn lao động, đưa lao động ra nước
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ _
NGUYỄN THI ̣ HUYỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ _
NGUYỄN THI ̣ HUYỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ VĂN LƯƠNG
HÀ NỘI - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Văn Lương Các
số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 6
1.1 Xuất khẩu lao động: bản chất, đặc điểm và các hình thức 6
1.1.1 Bản chất, đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động 6
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu lao động 17
1.2 Quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động 20
1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động 20
1.2.2 Quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động 26
1.3 Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở một số nước 35
1.3.1 Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động của Nhà nước Hàn Quốc 35
1.3.2 Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động của nhà nước Philipines 38
1.3.3 Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động của nhà nước Thái Lan 41
1.3.4 Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động của Chính phủ các nước, hàm ý đối với Việt Nam 45
Chương 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 47
2.1 Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động và quản lý nhà nước lĩnh vực này ở Việt Nam từ 1986 - 2009 47
2.1.1 Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam từ 1986-2009 47
2.1.2 Thực trạng quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam từ 1986 - 2009 54 2.2 Một số vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao
Trang 52.2.1 Định hướng xuất khẩu lao động 64
2.2.2 Tạo lập môi trường cho xuất khẩu lao động 68
2.2.3 Tổ chức điều hành xuất khẩu lao động 74
2.2.4 Kiểm soát hoạt động xuất khẩu lao động 76
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN 2015 78
3.1 Dự báo xu hướng, quan điểm, mục tiêu và phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 78
3.1.1 Dự báo xu hướng di chuyển lao động quốc tế và Việt Nam 78
3.1.2 Quan điểm, mục tiêu và phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 93
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam 96
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò trách nhiệm của các chủ thể tham gia xuất khẩu lao động 96
3.2.2 Nhóm các giải pháp về cơ chế, chính sách 98
3.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 103
3.2.4 Nhóm giải pháp chỉ đạo điều hành xuất khẩu lao động 113
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa QLNN: Quản lý nhà nước
XHCN: Xã hội chủ nghĩa XKLĐ: Xuất khẩu lao động
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trương “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động; xây dựng và
thực hiện đồng bộ, chặt chẽ cơ chế, chính sách về đào tạo nguồn lao động, đưa lao động ra nước ngoài, bảo vệ quyền lợi và tăng uy tín của người lao động Việt Nam ở nước ngoài” trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010 của Đảng, những năm qua, xuất khẩu lao động được xem là một hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước Đi đôi với việc xây dựng, củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, việc tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động này có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, việc thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động đã bộc lộ nhiều lúng túng, hạn chế và yếu kém mà biểu hiện rõ nhất là các
cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương tới địa phương chưa có sự phối hợp đồng bộ trong việc đầu tư mở rộng thị trường, đào tạo lao động xuất khẩu, cụ thể hoá chủ trương, chính sách và chỉ đạo để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động; thiếu sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Những yếu kém nói trên nếu không được khắc phục triệt để và kịp thời
sẽ tác động xấu đến tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta, nhất là trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt
Tình hình thực tế nêu trên đòi hỏi cần phải nghiên cứu, phân tích đánh giá quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta
Trang 8hạn chế, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện để Nhà nước thực sự là cơ quan định hướng, điều tiết và tạo điều kiện cho việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội X của Đảng “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động này”
Vì vậy, việc chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam” để nghiên cứu là có ý nghĩa rất cần thiết trong
bối cảnh hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, vấn đề xuất khẩu lao động của Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các cấp, các ngành, các tổ chức và cá nhân Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn
Lương Trào (1993): Mở rộng và nâng cao hiệu quả việc đưa lao động đi làm
việc có thời hạn ở nước ngoài - Luận án tiến sỹ kinh tế; Cao Văn Sâm (1994): Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế xuất khẩu lao động - Luận án tiến sỹ
kinh tế; Trần Văn Hằng (1995): Các giải pháp nhằm đổi mới quản lý Nhà
nước về xuất khẩu lao động trong giai đoạn 1995 - 2010 - Luận án tiến sỹ
kinh tế; Nguyễn Đình Thiện (2000): Một số vấn đề về xuất khẩu lao động của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Luận án tiến sỹ kinh tế chính trị; Nguyễn
Văn Tiến (2002): Đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động -
Thực trạng và giải pháp - Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế; Nguyễn Phúc
Khanh (2004): Xuất khẩu lao động với chương trình quốc gia về việc làm -
Thực trạng và giải pháp - Đề tài khoa học cấp Bộ; Lưu Văn Hưng (2005): Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường khu vực đông Bắc Á - Thực trạng và giải pháp - Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị Ngoài ra còn có một
số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, trong đó có thể kể đến: Nguyễn Lương Phương (2002): Hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia - những
giải pháp trong tình hình mới - Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới - số
Trang 91(75); Nguyễn Thị Hằng: Đẩy mạnh xuất khẩu lao động khu vực nông thôn,
góp phần xoá đói giảm nghèo - Tạp chí Cộng sản số 4 - 5 (2003); Phạm Thị
Khanh (2004): Phát triển thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam trong
điều kiện hội nhập quốc tế - Tạp chí Nghiên cứu kinh tế - số 314
Các công trình nghiên cứu nói trên đã tiếp cận vấp đề xuất khẩu lao động ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó tập trung vào việc phân tích và đánh giá tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ở hầu hết các công trình, các tác giả trong khi phân tích, đánh gía thực trạng, đều có bàn đến vai trò quản lý của Nhà nước các cấp nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ xem vai trò của Nhà nước như một giải pháp trong hệ thống các giải pháp, chưa tập trung đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động Do đó, các công trình nghiên cứu chưa có điều kiện tập trung giải quyết các vấn đề đặt ra đối với quản lý của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam Do đó, nghiên cứu quản
lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay có thể được xem là một vấn đề mới,
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, xuất khẩu lao động nói riêng, luận văn có mục đích phân tích, đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta trong thời gian qua và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động trong giai đoạn
từ nay đến năm 2015
Trang 10* Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích đó, luận văn có các nhiệm vụ chính sau đây:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý của Nhà nước trong hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta trong thời gian qua, rút ra một số vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta từ nay đến năm
2015 và những năm tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Do thị trường lao động xuất khẩu của Việt Nam khá rộng nên luận văn chỉ nghiên cứu hình thức xuất khẩu lao động trực tiếp Từ đó, luận văn tập trung nghiên cứu những chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý Nhà nước trong việc định hướng, điều tiết và tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu lao động mà cụ thể
là những tác động của Nhà nước đối với các quá trình : chuẩn bị các điều kiện để người lao động ra đi, người lao động làm việc ở nước ngoài và người lao động sau khi về nước Thời gian khảo sát, nghiên cứu và đánh giá quản lý của Nhà nước được giới hạn trong vòng 10 năm (từ 2000 đến nay), đối tượng khảo sát chủ yếu là các tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động; thị trường được phân tích trong luận văn tập trung vào các nước trong khu vực Châu Á
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biến chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời kết hợp với một số phương pháp khác như thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp Ngoài ra luận văn có kế thừa một
số kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây để giải quyết các nhiệm vụ
Trang 116 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, nhất là những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, các nhà nghiên cứu và các độc giả quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động Chương 2: Quản lý Nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt
Nam: thực trạng và một số vấn đề đặt ra
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015
Trang 12Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1 Xuất khẩu lao động: bản chất, đặc điểm và các hình thức
1.1.1 Bản chất, đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
1.1.1.1 Bản chất của hoạt động xuất khẩu lao động
Cách đây hàng thế kỷ, hiện tượng cư dân của nước này sang nước khác
vì lý do kinh tế, chủ yếu là để kiếm công ăn việc làm, đã xuất hiện Đến cuối thế kỷ XIX, các mỏ khoáng sản ở Nam Phi đã thu hút nhiều luồng di dân có tổ chức ở một số nước lân cận và cả từ Mỹ La tinh xa xôi Dần dần, nhận thấy đây là một ngành kinh doanh rất béo bở, nhiều công ty quốc gia hoặc đa quốc gia đã hình thành để mua, bán sức lao động Là một lĩnh vực nhạy cảm, nhằm hạn chế những hành vi tiêu cực, các quốc gia liên quan đã tiến hành những cuộc đàm phán song phương, đa phương, đi tới các hiệp định, chứng thư bảo
vệ người cư trú, hoặc thiết lập các cơ quan kiểm soát nghiêm ngặt Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) ngay từ năm 1919 đã sớm nhận thức độ nhạy cảm của vấn đề xuất, nhập khẩu lao động và nguy cơ bị tổn thương của lao động di trú nên đã ban hành khuyến nghị số 86, trong đó ghi rõ: “Nếu người cư trú không
có nghề mà nước nhập cư đòi hỏi, thì phải đào tạo nghề cho họ trước khi đi hoặc sau khi đến” Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, XKLĐ về cơ bản là đưa lao động phổ thông từ nước kinh tế chậm phát triển sang các nước có nền kinh tế phát triển Sau chiến tranh, cùng với sự gia tăng nhanh chóng của đầu
tư quốc tế, trong đó có hình thức nhận thầu công trình quốc tế, nội dung XKLĐ có sự thay đổi lớn
XKLĐ là một lĩnh vực rất rộng, có tính chất phức tạp và nhạy cảm do liên quan trực tiếp đến con người, đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và
Trang 13và nhận thức khác nhau cả trong nhận thức lẫn trong thực tiễn Do đó, việc làm rõ bản chất, đặc điểm và các hình thức XKLĐ để từ đó thống nhất trong
lý luận cũng như trong việc hoạch định chính sách là rất cần thiết
* Một số khái niệm liên quan đến thuật ngữ XKLĐ:
Theo cách hiểu rộng nhất, XKLĐ gồm XKLĐ tại chỗ (các doanh nghiệp trong nước nhận nguyên liệu, công nghệ thiết bị nước ngoài và sản xuất sản phẩm theo đơn hàng của bạn; các liên doanh, các công ty, tổ chức nước ngoài đóng trên lãnh thổ sử dụng lao động nước sở tại) và XKLĐ ra nước ngoài Liên quan đến sự di chuyển lao động trong quan hệ kinh tế quốc
tế đã có một số quan niệm, thuật ngữ được sử dụng như: hợp tác quốc tế về
lao động, đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và xuất khẩu lao động
Hợp tác quốc tế về lao động là thuật ngữ được sử dụng vào những năm
1980 ở một số nước XHCN thuộc phạm vi khối SEV, trong đó có Việt Nam Thuật ngữ này phản ánh hoạt động cung ứng và tiếp nhận người lao động giữa Việt Nam với một số nước XHCN, Châu Phi và Trung Đông theo các hiệp định của Chính phủ Theo thỏa thuận của các hiệp định đã được ký kết, người lao động được đưa sang nước khác làm việc và được vào làm việc trong các
cơ sở của người nước ngoài; đồng thời, người lao động nước ngoài được tiếp nhận vào Việt Nam làm việc Tuy nhiên, trong thực tế, hợp tác quốc tế về sử dụng lao động chủ yếu là Việt Nam cung cấp lao động đáp ứng nhu cầu lao động thiếu hụt ở các nước trong khối thông qua một “kênh” duy nhất là nhà nước tuyển chọn và trực tiếp đưa lao động ra nước ngoài nhằm mục đích nâng cao trình độ tay nghề và hợp tác hữu nghị, chưa chú trọng đến mục đích kinh
tế Hợp tác quốc tế về lao động ở thời kỳ này là sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, phù hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, không phản ánh quan
hệ trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động nhằm thực hiện lợi ích kinh tế
Trang 14Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
là thuật ngữ được sử dụng chính thức và phổ biến trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ đầu những năm 1990 đến nay Theo Nghị định số 370/HĐBT ngày 07/11/1991 thì “đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động
và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam với những nước sử dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, tôn trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau (Điều 1)
Như vậy, việc dùng cụm từ “đưa người lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài” thay cho “hợp tác quốc tế về lao động” thể hiện một quan
niệm mới về sức lao động và việc đưa lao động ra nước ngoài làm việc Đến thời điểm này, sức lao động đã được thừa nhận là hàng hóa và do đó, nó có thể trao đổi, mua bán ở cả trong nước và ngoài nước Mục đích của việc đưa người lao động ra nước ngoài làm việc được xác định rõ: về kinh tế, là thu nhập cho người lao động và thu ngoại tệ về cho đất nước; về xã hội, là giải quyết việc làm; về quan hệ quốc tế là sự mở rộng hợp tác kinh tế, văn hóa,
khoa học - kỹ thuật “Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài” được thực hiện theo các hình thức: hiệp định giữa hai chính phủ; các
hợp đồng cung ứng lao động giữa các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài Nhà nước không trực tiếp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
mà chủ yếu do các tổ chức kinh tế được cấp phép đảm nhiệm Hoạt động này
đã phản ánh được bản chất của việc cung ứng và tiếp nhận lao động giữa các quốc gia Đó là sự trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động nhằm mục đích kinh tế - xã hội Hoạt động này nằm trong quỹ đạo của nền kinh tế thị trường
và chịu sự quản lý của nhà nước
Để phát triển, quản lý chặt chẽ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và tạo cơ sở pháp lý cho việc sử lý các vi phạm cần thiết
Trang 15phải ban hành Luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Tại kỳ họp thứ 9, ngày 05 tháng 6 năm 2006, Quốc hội Khóa XI đã cho ý kiến vào dự án Luật “Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” Theo Luật này, “người lao động đi làm việc ở nước ngoài” gồm:
- Người lao động có nghề, lao động phổ thông đi làm việc ở nước ngoài
- Chuyên gia, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài theo các Hiệp định, thỏa thuận giữa nước ta với nước ngoài;
- Người đi làm việc ở nước ngoài với danh nghĩa “tu nghiệp sinh” hoặc thực tập nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn
Xuất khẩu lao động là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, có tính
chất thông dụng để chỉ hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác, kể cả XKLĐ tại chỗ Tham gia vào quá trình này gồm hai bên: bên nhập khẩu lao động và bên xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động còn gọi là xuất khẩu vô hình, là một hình thức cung cấp cho nước ngoài một số lượng lao động phục vụ nhất định để đạt được thu nhập ngoại tệ, kỹ thuật, kinh tế bao gồm nhiều hình thức: công trình giao thông, xây lắp kiến trúc, sự nghiệp công cộng, thương nghiệp, y học, Là một loại xuất khẩu phi hàng hóa (so sánh với xuất khẩu hàng hóa), nếu xét ở góc độ kinh tế, XKLĐ có những đặc điểm: đầu tư ít, hiệu quả nhanh, giá thành thấp và lợi nhuận cao Ngoài ra, do tính mềm dẻo cao, lĩnh vực phát triển rộng và năng lực thích nghi nhanh, XKLĐ được xem là một trong những lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại
tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nước, XKLĐ ngày nay được các nước xếp vào nhóm ngành dịch vụ thu ngoại tệ cùng với các ngành như du lịch, xây dựng, y tế, giao dục, bảo hiểm, vận tải, bưu chính viễn thông, dịch vụ ngân hàng,
Trang 16* Bản chất của hoạt động XKLĐ:
Từ hiện tượng di chuyển lao động tự do đến XKLĐ là một quá trình gắn liền với sự phát triển kinh tế của mỗi nước Nếu việc di chuyển người lao động ban đầu còn mang tính tự phát thì hoạt động XKLĐ đã mang tính tự giác, nghĩa là có tổ chức đưa người lao động đi và về, có sự hạch toán kinh tế, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, vừa chịu sự quản lý, điều tiết của nhà nước vừa vận động tuân theo những nguyên tắc và quy luật của thị trường Bởi, trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là hàng hóa, được đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường Nhưng người lao động là chủ sở hữu sức lao động, chỉ bán giá trị sử dụng của sức lao động
và bán trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng sức lao động theo những điều kiện đã được thỏa thuận giữa hai bên Người mua chỉ được
sử dụng sức lao động trong thời gian đã được thỏa thuận để thu giá trị thặng
dư do người lao động tạo ra, hết thời hạn này, sự ràng buộc giữa hai bên chấm dứt Hoạt động này diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể người lao động trực tiếp tìm đến người sử dụng lao động hoặc thông qua các môi giới trung gian theo các hợp đồng cung ứng sức lao động Việc người lao động bán sức lao động, đi làm thuê cho người sử dụng sức lao động ở nước ngoài thì việc mua bán này diễn ra trên thị trường lao động quốc tế, khi đó hoạt động này vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia và do đó, liên quan tới các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, giữa quốc gia mà người lao động đi và quốc gia mà người lao động đến để làm việc Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động cũng như các lợi ích khác của quốc gia, Nhà nước không thể đứng ngoài mà phải chủ động tham gia vào hoạt động này Cho đến nay, hoạt động xuất - nhập khẩu lao động của tất cả các quốc gia đều có sự can thiệp của nhà nước, tuy mức độ can thiệp có khác nhau và do đó, vai trò của nhà nước đối với hoạt động XKLĐ cũng khác nhau
Trang 17Như vậy, có thể khẳng định rằng , thực chất của XKLĐ là hoạt động xuất khẩu hàng hóa sức lao động - một loại hàng hóa đặc biệt - bản chất của hoạt động này là việc bán hàng hóa sức lao động trong nước cho nước ngoài sử dụng Theo đó, người lao động thông qua các tổ chức môi giới, hay các tổ chức, doanh nghiệp XKLĐ của nhà nước hoặc tư nhân mà bán sức lao động của bản thân, đi làm thuê cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đi tới một quan niệm tương đối toàn diện về XKLĐ như sau:
Xuất khẩu lao động là một hình thức của phân công lao động quốc tế thuộc lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế; là một loại xuất khẩu dịch vụ phi vật thể - hàng hóa sức lao động trên thị trường lao động quốc tế, ở đó người bán sức lao động và người sử dụng sức lao động ở nước ngoài phải thông qua sự môi giới của các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ XKLĐ
1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
Do sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động XKLĐ có những đặc điểm riêng biệt, khác với hoạt động xuất khẩu hàng hóa thông thường Có thể khái quát một số đặc điểm của hoạt động XKLĐ như sau:
- Xuất khẩu lao động là một hoạt động đặc thù của kinh tế đối ngoại
Trong quan niệm hiện nay, kinh tế đối ngoại gồm nhiều hình thức như: ngoại thương; đầu tư quốc tế; hợp tác sản xuất (nhận gia công, xây dựng xí nghiệp chung, khu chế xuất, khu công nghệ và kỹ thuật cao); hợp tác khoa học - công nghệ; hợp tác tín dụng quốc tế và các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ (du lịch, XKLĐ, xây dựng, y tế, bảo hiểm, giao dục, cung ứng dịch vụ vận tải, ngân hàng, bưu chính viễn thông, ) Trong các hình thức kinh tế đối ngoại, ngoại thương, đầu tư quốc tế và dịch vụ thu ngoại tệ là những hình thức chủ yếu và
có hiệu quả nhất Tính chất đặc thù của hoạt động XKLĐ trước hết được thể hiện ở chỗ là hoạt động kinh tế nhưng mang tính chất xã hội sâu sắc
Trang 18Vì mục đích kinh tế, nhiều nước coi XKLĐ là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn góp phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực và tăng tích lũy vốn từ nguồn tiền chuyển về nước của người lao động đi XKLĐ
và các khoản thu khác từ dịch vụ này Để thu được những lợi ích kinh tế, các nước xuất khẩu lao động một mặt phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc mở rộng thị trường, quan tâm đến chất lượng và số lượng nguồn lao động xuất khẩu Mặt khác, phải xử lý hài hòa các mối quan hệ: tiền công cho người lao động, lợi nhuận cho doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước
Do đó, mọi chủ trương, chính sách, các biện pháp quản lý và tác động của nhà nước phải xuất phát từ mục tiêu kinh tế mới có thể định hướng và đảm bảo cho hoạt động ngày càng hiệu quả
Tính xã hội của hoạt động XKLĐ bắt nguồn từ tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực và kỹ năng tồn tại trong cơ thể người lao động và được người đó đem ra sử dụng để sản xuất
ra một giá trị sử dụng nào đó Khác với hàng hóa thông thường, sức lao động còn bao hàm các yếu tố tinh thần và lịch sử nên nó mang tính chất xã hội sâu sắc Đó là khả năng tư duy, năng lực sở hữu, đạo đức, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, của một quốc gia, dân tộc hiện hữu trong bản thân người lao động và được di chuyển ra nước ngoài cùng với người lao động Vì thế, các chính sách liên quan đến hoạt động XKLĐ phải có sự kết hợp với các chính sách xã hội khác, nhất là phải đảm bảo được quyền lợi liên quan đến đời sống chính trị, tinh thần, văn hóa, tín ngưỡng, của người lao động
- Xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc thù Theo
quan niệm mới, các ngành xuất khẩu dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm nhiều lĩnh vực, từ du lịch, XKLĐ đến xây dựng, y tế, giáo dục, bảo hiểm, các cung ứng dịch vụ vận tải, ngân hàng, bưu chính viễn thông, trong đó XKLĐ được xem là hoạt động có tính chất đặc thù Đặc điểm này do tính chất không thể chia tách và tính không xác định trong hoạt động XKLĐ quy định
Trang 19Tính không thể chia tách của hoạt động XKLĐ thể hiện ở chỗ: cũng như các hoạt động dịch vụ khác, XKLĐ có đặc điểm là quá trình tạo giá trị và giá trị sử dụng thống nhất với quá trình tiêu dùng, thụ hưởng giá trị và giá trị
sử dụng của sức lao động Ngoài ra, hoạt động XKLĐ còn có sự khác biệt với các hoạt động dịch vụ khác ở chỗ, hoạt động XKLĐ không chấm dứt khi đã hoàn thành thủ tục đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà nó là một quá trình gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn liên hoàn, gắn kết chặt chẽ với nhau Nó bắt đầu từ khâu chuẩn bị các điều kiện cho người lao động, đưa người lao động đi XKLĐ, giúp người lao động thích nghi với công việc ở nước ngoài cho đến khi người lao động về nước tái hòa nhập cộng đồng Quá trình này đòi hỏi các bên liên quan đến hoạt động XKLĐ, phải thường xuyên quan tâm thực hiện những quy định trong hợp đồng, đôi khi cả những tình huống phát sinh không có trong hợp đồng, nhưng có liên quan đến quyền lợi của các bên
Tính không xác định của hoạt động XKLĐ được thể hiện ở chỗ: cũng như mọi hoạt động dịch vụ khác, hoạt động XKLĐ có đặc điểm là không hiện hữu dưới dạng vật thể, khó lượng hóa khi quyết định trao đổi, mua bán, sử dụng Tính không xác định trong hoạt động XKLĐ được quy định bởi chất lượng hàng hóa sức lao động Chất lượng của hàng hóa sức lao động được phản ánh và phụ thuộc vào thể chất và tinh thần hay sự dẻo dai, bền bỉ, độ thành thạo và năng lực sáng tạo trong lao động của người lao động; vào điều kiện làm việc, nghỉ ngơi và các điều kiện khác cho người lao động Các yếu tố tinh thần và lịch sử này ở mỗi người, mỗi địa phương, khu vực luôn có sự khác nhau và luôn thay đổi đã tạo ra tính không xác định trong hoạt động XKLĐ
- Hoạt động XKLĐ xuất phát từ mục đích của các chủ thể tham gia: tiền công của người lao động, lợi nhuận của doanh nghiệp và lợi ích của nhà
Trang 20tạo ra hàng hóa xuất khẩu, vừa là người trực tiếp mang hàng hóa đi bán, mục đích của họ là các khoản thu nhập hay tiền công lao động ở nước ngoài Lợi nhuận của các doanh nghiệp XKLĐ thu được chủ yếu từ việc thu các loại phí dịch vụ mà người lao động trả về việc giúp cho người lao động được đi làm việc ở nước ngoài Lợi ích của Nhà nước là các khoản ngoại tệ ròng nhận được thông qua các khoản tiền của người lao động gửi về nước, các khoản thuế và phí thu được từ các hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp
Vì lợi ích kinh tế, cả người lao động và doanh nghiệp XKLĐ rất dễ vi phạm các quy định của pháp luật, do đó, với tư cách là một chủ thể tham gia vào quá trình này, nhà nước phải xây dựng các khuôn khổ pháp lý cho hoạt động XKLĐ để đảm bảo các lợi ích các quốc gia, quyền lợi của các tổ chức, doanh nghiệp, người lao động và duy trì, phát triển quan hệ hợp tác với các nước nhập khẩu lao động Trong những trường hợp cần thiết, nhà nước phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà bản thân các tổ chức, doanh nghiệp không thể đảm đương được như bảo vệ người lao động ở nước ngoài, ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến người lao động và giải quyết các vấn đề tiêu cực trong hoạt động XKLĐ
- Trong hoạt động XKLĐ, quyền sở hữu không tách rời quyền sử dụng
sức lao động Trong hoạt động XKLĐ, người lao động không mất quyền sở
hữu sức lao động, chủ sử dụng sức lao động có thời hạn Sở dĩ có đặc điểm này là do sức lao động luôn tồn tại trong cơ thể người lao động, luôn thuộc quyền sở hữu của người lao động Họ chỉ bán sức lao động của mình và bao giờ cũng chỉ bán, tức là để cho người sử dụng sức lao động của mình trong một thời hạn nhất định, chứ không từ bỏ quyền sở hữu về sức lao động đó Do
đó, khác với việc xuất khẩu các loại hàng hóa thông thường, XKLĐ không có
sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa sức lao động khi hợp đồng mua bán sức lao động được thực hiện Trong thời hạn thực hiện hợp đồng, căn cứ vào thỏa thuận đã ký kết, chủ sử dụng có quyền khai thác, sử dụng sức lao động mua
Trang 21về một cách hiệu quả nhất nhằm thu được tối đa giá trị tăng thêm do sức lao động đã mua được tạo ra Sau khi hết hạn hợp đồng, chủ sử dụng lao động hết quyền sử dụng hàng hóa sức lao động và phải trả người lao động về nước XKLĐ
- Hoạt động XKLĐ trong thời đại ngày nay mang tính chất đa phương,
đa dạng và phong phú Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là do tác
động của phân công lao động quốc tế và quá trình quốc tế hóa dưới tác động của sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, sự đa phương trong quan hệ hợp tác lao động, đa dạng về thị trường và phong phú về chủng loại hoàng hóa sức lao động đã và đang diễn ra ở tất cả các nước, các khu vực trên thế giới Ngày nay, cùng với sự tăng cường xu thế quốc tế hóa đời sống kinh
tế, quy mô XKLĐ ngày càng mở rộng theo hướng nước nghèo XKLĐ sang nước giàu; nước đang phát triển XKLĐ sang nước phát triển; nước đông dân
cư XKLĐ sang nước thưa thớt dân cư; có những nước chuyên xuất, có những nước lại chuyên nhập, lại có những nước lại vừa xuất vừa nhập lao động Đối với những nước chuyên XKLĐ, mục đích chính là nhằm góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập quốc dân, tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán, cải thiện đời sống cho một bộ phân nhân dân lao động Những nước chuyên nhập khẩu lao động thường là những nước nhiều vốn, tài nguyên chưa được khai thác tốt, thiếu tuyệt đối nhân lực (lao động hiện có không đủ
do dân số “già” đi), hoặc thiếu tương đối (trên thị trường lao động cú quá ít người tìm việc) Những nước vừa xuất vừa nhập lao động xem hoạt động này
là lĩnh vực kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch giá cả sức lao động Mấy năm gần đây, do tính chất cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế hết sức gay gắt nên tình hình xuất khẩu lao động diễn ra rất phức tạp Trừ những thị trường truyền thống như Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ vẫn cần khối lượng lớn lao động nước ngoài, các nước trong khối OECD cũng phát
Trang 22+ Viện trợ kinh tế: Căn cứ vào hợp đồng giữa hai bên tiến hành viện trợ nhân viên kỹ thuật công trình theo hạng mục, thiết bị, vật tư trang bị tương ứng
+ Nhận thầu công trình
+ Xuất khẩu lao động theo tổ chức
+ Hợp đồng giữa các doanh nghiệp
+ XKLĐ phổ thông trong dân chúng
Nhìn một cách khái quát, xu thế phát triển của thị trường lao động quốc
tế hiện nay có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, nhu cầu của thị trường lao động quốc tế đối với lao động phổ
thông giảm đi, nhu cầu đối với lao động kỹ thuật tăng lên Đây là sự di chuyển của dòng lao động chất lượng cao (lao động chuyên gia, kỹ thuật viên cao cấp, các nhà quản lý, ) gắn liền với các hiệp định của Chính phủ, các hoạt động đầu tư, các công trình thầu khoán của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia của các nước phát triển
Thứ hai, thị trường lao động quốc tế ngày càng có xu hướng đa nguyên
hóa Không còn tập trung ở các nước phát triển như Bắc Mỹ và Tây Âu, hiện nay mấy thị trường quan trọng thường được nhắc tới là Trung Đông, Bắc Mỹ, Tây Âu, Bắc Phi, Nam Mỹ và Đông Nam Á
Thứ ba, thị trường lao động quốc tế hiện nay đang tăng trưởng chậm lại
và cạnh tranh rất gay gắt Đặc điểm này đem lại cho nước nhập khẩu lao động điều kiện đấu thầu có lợi nhờ thuê lao động với giá rẻ đồng thời làm cho thu nhập từ tiền công lao động của các nước xuất khẩu giảm mạnh Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm của mức tiền công lao động từ năm 1960 - 1972 là 30%, nhưng từ năm 1972 - 1985 giảm xuống 15% và trong 20 năm lại nay (1990 - 2010) chỉ còn 8 - 10%
- Hoạt động XKLĐ góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa và hợp tác hữu nghị giữa nước XKLĐ và nước nhập khẩu lao động Là lĩnh vực liên quan
Trang 23đãi hơn đối với lao động đến từ các nước tương đồng về văn hóa Vì văn hóa
là con người, con người là văn hóa Trong mỗi người lao động đều có tố chất văn hóa, có thể học vấn cao, nhưng vẫn lấp lánh vẻ đẹp, mang đậm hồn cốt nền văn hóa mà họ được nuôi dưỡng từ thưở ấu thơ Đó là lẽ sống, là lối sống,
là đạo lý, là tình nghĩa, là lòng trắc ẩn, là sự ứng xử, tóm lại là toàn bộ cuộc sống tinh thần của người lao động Đi XKLĐ là đi làm thuê, xét về công việc thì vị thế của người lao động là phục tùng, người bị quản lý, bị sai bảo nhưng
về văn hóa, người lao động hoàn toàn bình đẳng với người sử dụng lao động Người lao động muốn sống và làm việc ở nước nhập khẩu lao động buộc phải thích nghi, hòa nhập với phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, pháp luật, thói quen sinh hoạt và tác phong làm việc, của nước sở tại Quá trình thực hiện hợp đồng lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là quá trình tiếp xúc, giao lưu giữa hai nền văn hóa Trong quá trình đó, nền văn hóa nào ưu việt sẽ phát huy tính trội của nó, cảm hóa, chinh phục, lan tỏa giữa những đối tác XKLĐ là nhịp cầu giao lưu văn hóa và hợp tác hữu nghị giữa các nước
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu lao động
Có nhiều cách thức phân loại các hình thức XKLĐ Theo cách phân loại truyền thống, có XKLĐ tại chỗ (các doanh nghiệp trong nước nhận nguyên liệu, công nghệ, thiết bị nước ngoài và sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp nước ngoài; các liên doanh sử dụng lao động trong nước) và XKLĐ ra nước ngoài Căn cứ vào các dạng và loại hình lao động làm việc ở nước ngoài, có dạng cá nhân người lao động tự ký kết hợp đồng; lao động đi làm việc theo doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài; lao động đi làm việc dưới hình thức tu nghiệp, thực tập nâng cao tay nghề và lao động được các tổ chức, các đơn vị sự nghiệp cử đi theo các chỉ tiêu nhà nước phân bổ Theo cách thức tổ chức thực hiện, XKLĐ có một số
Trang 241.1.2.1 Hợp đồng cung ứng
Hợp đồng cung ứng lao động có thể được ký giữa doanh nghiệp, tổ chức kinh tế của nước XKLĐ với tổ chức thuê và sử dụng lao động ở nước ngoài Sau khi được ký kết, các doanh nghiệp, tổ chức làm dịch vụ cung ứng lao động căn cứ vào nhu cầu của phía sử dụng lao động để tiến hành tuyển chọn, giáo dục định hướng và đưa người lao động từ trong nước ra nước ngoài làm việc
Đây là một trong những hình thức quan trọng vì hiện nay và trong những năm tiếp theo, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu vẫn thông qua các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này Nhưng đây
là một loại dịch vụ nhạy cảm, có đối tượng tác động trực tiếp là người lao động nên tất cả các nước đều có luật quy định rất chặt chẽ điều kiện để doanh nghiệp được hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua cơ chế cấp phép, trong đó điều kiện về ký quỹ Bên cạnh đó, do vị trí đặc biệt của loại dịch vụ này, các nước đều có các quy định đặc thù như: phải là doanh nghiệp có 100% vốn trong nước; doanh nghiệp không được ủy quyền cho các tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoạt động XKLĐ; chi nhánh của doanh nghiệp cũng chỉ được thực hiện một số hoạt động nhất định như tư vấn, đào tạo, không được trực tiếp ký hợp đồng cung ứng lao động, thu phí hay tiền ký quỹ của người lao động,
1.1.2.2 Nhận thầu hoặc đầu tư ra nước ngoài
Hình thức này được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội mà các chủ đầu tư của nước XKLĐ trúng thầu ở nước ngoài Ngoài việc đưa lực lượng lao động ở trong nước ra nước ngoài làm việc, hình thức này thường phải đưa đồng bộ cả máy móc và các phương tiện kỹ thuật
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua doanh nghiệp nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài tuy còn mới ở nước ta nhưng đang có xu hướng
Trang 25phát triển nhanh Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài có sử dụng nhiều lao động Việt Nam; đồng thời đưa ra những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, tạo điều kiện cho công tác quản lý của nhà nước đối với XKLĐ
1.1.2.3 Tu nghiệp, thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài
Đây là chương trình nhằm đào tạo nguồn nhân lực Đối tượng được tuyển chọn là những lao động đang làm việc cho các nhà máy, xí nghiệp có nhu cầu nâng cao tay nghề ở nước ngoài, sau đó sẽ trở lại làm việc tại nhà máy, xí nghiệp trước sau khi đi Để quản lý và bảo vệ quyền lợi cho người lao động, các nước quy định cụ thể đối với doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn nước ngoài) đưa người lao động đi nước ngoài dưới hình thức tu nghiệp, thực tập nâng cao tay nghề mà thực chất người lao động có làm việc và nhận thù lao dưới bất kỳ hình thức nào từ cơ sở tiếp nhận Mặt khác, nhà nước định hướng cho các doanh nghiệp tham gia chương trình này bằng các hình thức thường xuyên trao đổi thông tin với các phía các tổ chức sở hữu quan cũng như các tổ chức nghiệp đoàn, các công ty phái cử và tiếp nhận; hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm, khai thác hợp đồng, giúp các doanh nghiệp thẩm định tư cách pháp nhân và khả năng tiếp nhận của các nghiệp đoàn tiếp nhận cũng như năng lực của các công ty phái cử
1.1.2.4 Theo các hiệp định được ký kết
Theo quy định hiện hành, tổ chức sự nghiệp của các bộ, ngành được đưa chuyên gia, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và người lao động đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện Hiệp định mà chính phủ đã ký kết Căn cứ vào các Hiệp định đã ký, nhà nước phân bổ chỉ tiêu cho các bộ, ngành, địa phương tiến hành tuyển chọn và đưa người lao động đi làm việc ở các nước Người lao động làm việc ở nước ngoài được bố trí xen ghép với người lao động của các nước khác, chịu sự quản lý thống nhất từ trên xuống dưới Hiện nay,
Trang 26là các chuyên gia trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp, giáo dục, thuộc các chương trình hợp tác quốc tế giữa Chính phủ Việt Nam với các nước hoặc tổ chức quốc tế
Ngoài hình thức XKLĐ theo các Hiệp định được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế kể trên còn có các trường hợp XKLĐ khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Đây là một hình thức mới hiện đang tổ chức làm thí điểm ở nước ta, thể hiện chủ trương của Nhà nước ta đang trực tiếp chăm lo đến việc làm cho người lao động, nhất là các đối tượng chính sách Tuy không thay thế được các hình thức khác, nhưng việc cho phép một số tổ chức sự nghiệp của các Bộ, ngành được hoạt động đưa chuyên gia trong ngành và người lao động đi làm việc ở nước ngoài với nguyên tắc phi lợi nhuận là rất cần thiết
1.2 Quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động
1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
Nhà nước là chủ thể lớn nhất có vai trò quản lý kinh tế xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội tồn tại, hoạt động và phát triển bền vững Sự cần thiết của QLNN về XKLĐ xuất phát từ những lý do sau:
1.2.1.1 Những đóng góp tích cực của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Trước hết, XKLĐ tạo điều kiện tận dụng nguồn nhân lực, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập quốc gia (Gross National Income - GNI)
XKLĐ sẽ mở ra sẽ mở ra cơ hội sử dụng số lao động thất nghiệp vào việc sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ tại nước khác, mang lại thu nhập cho người lao động Đồng thời, góp phần gia tăng thu nhập quốc gia, vì thu nhập quốc gia là tổng đại số giữa thu nhập quốc nội và thu nhập yếu tố thuần, mà thu nhập yếu tố thuần lại chính là khoản chênh lệch giữa thu nhập chuyển về
Trang 27phần làm tăng GNI/người, một cấu thành quan trọng trong HDI Theo thống
kê của Ngân hàng thế giới, năm 2006, toàn thế giới có hơn 190 triệu người lao động ra nước ngoài làm việc, lượng tiền chuyển về nước đạt 297,1 tỷ USD, chiếm 0,7% GDP toàn cầu Trong đó, người Việt Nam ở nước ngoài gửi tiền
về nước bằng con đường chính thức là 4,8 tỷ USD tương đương với 7,9% GDP; Trung Quốc là 23,319 tỷ USD tương đương với 0,9% GDP; Philippines
là 15,250 tỷ USD, tương đương 13% GDP; Ấn Độ là 25,456 tỷ USD, tương đương 2,8% GDP
- Hai là, XKLĐ góp phần làm tăng chi tiêu của hộ gia đình, tăng tiết
kiệm và tăng đầu tư tư nhân trong dài hạn
XKLĐ mang lại cho người lao động, hộ gia đình khoản thu nhập cao hơn khi họ làm việc trong nước Nhờ có thu nhập ròng cao, người lao động gửi khoản tiền đó về gia đình làm khoản tiết kiệm và kết quả làm tăng nguồn tài chính cho đầu tư
Theo Dilip Ratha và Sanket Mohapatra, khoản tiền người lao động ở nước ngoài gửi về nước cao hơn hai lần khoản viện trợ chính thức (ODA) cho các nước đang phát triển
Số liệu khảo sát cho thấy, người Việt Nam đi làm ở nước ngoài có thu nhập ròng cao hơn làm việc trong nước khoảng 3 lần Theo ước tính của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam, năm
2007, chỉ riêng lao động Việt Nam ở nước ngoài chuyển về nước khoảng 1,8
tỷ USD
Khoản tiền người lao động gửi về nhà được chia làm hai phần: một phần gia đình chi tiêu vào việc nâng cao mức sống, chăm sóc sức khỏe của gia đình, đặc biệt là chi tiêu cho việc học tập của con cái, góp phần nâng cao dân trí; một phần lớn dành để tiết kiệm nhằm mục đích đầu tư cho tương lai
- Ba là, XKLĐ thúc đẩy chi tiêu của Chính phủ cho việc nâng cao chất
Trang 28Để có thể ra nước ngoài làm việc, người lao động phải có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ ngoại ngữ nhất định theo yêu cầu của chủ sử dụng lao động tuy nhiên, không phải tất cả mọi người lao động muốn ra nước ngoài làm việc đều có thể đạt được các yêu cầu của nhà tuyển dụng Vì vậy, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác đảm bảo cho việc đào tạo và đào tạo lại người lao động Điều này sẽ góp phần làm tăng GDP cả trong ngắn hạn và dài hạn
Bốn là, XKLĐ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại trong dài hạn
Đối với các nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa dẫn tới thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tất yếu làm cho một số lượng nhất định lao động nông nghiệp mất việc làm Dưới tác động của cạnh tranh, các nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn phương án đầu tư sử dụng nhiều vốn Cả hai khuynh hướng đó làm cho trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp thu hồi, số lao động được sử dụng sẽ giảm đi đáng kể Đây là quy luật tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong ngắn hạn, XKLĐ sẽ là một trong các con đường vừa giải quyết việc làm cho số lao động thất nghiệp, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu
tư theo chiều sâu, nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế
Trong dài hạn, trình độ người lao động đi làm việc ở nước ngoài được nâng cao nhờ được đào tạo và đào tạo lại trong thời gian làm việc ở nước ngoài Chính người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ là động lực của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì đây là nguồn lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư theo chiều sâu
- Năm là, XKLĐ góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đặc điểm của lao động là sáng tạo Người lao động với vốn kiến thức, học vấn và ngoại ngữ cơ bản, nếu được làm việc trong môi trường công nghiệp hiện đại, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, trình độ tay nghề và kỹ năng nghề
Trang 29nghiệp ngày càng được nâng cao Dưới tác động của kỹ thuật, quá trình lao động, đồng thời cũng chính là quá trình người lao động tự đào tạo Sau một thời gian làm việc ở nước ngoài, trình độ tay nghề, ý thức kỷ luật, phong cách làm việc hiện đại và trình độ ngoại ngữ được nâng cao vượt bậc
Thực tế cho thấy, một số lượng lớn lao động là nông dân, sau khi đi làm việc ở nước ngoài về nước, họ trở thành người công nhân hiện đại Đa số người lao động đi làm việc tại Liên Xô, Đông Âu trước đây và Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,… sau này đang là những người lao động có trình độ cao trong các công ty, doanh nghiệp
- Sáu là, XKLĐ góp phần đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo nguyên
lý “3I” (Imintation - bắt chước, Initiative - cải tiến, - Innovation - sáng tạo)
Trong quá trình làm việc, người lao động trực tiếp sử dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ Theo quy luật nhận thức, người lao động từ bắt chước để làm theo, sau đó là cải tiến và cuối cùng
là sáng tạo
Kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ixraen cho thấy, những người lao động đi làm việc ở nước ngoài, sau khi về nước, họ mang những tri thức đã tích lũy được áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ Chính lực lượng lao động này đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình đưa công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh và quản lý Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng khoa học và công nghệ tiên tiến
- Bảy là, XKLĐ góp phần đẩy mạnh đầu tư và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ ra thị trường thế giới
Khi là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), doanh nghiệp các nước thành viên có cơ hội to lớn trong việc đầu tư, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sang các nước thành viên Theo đó, việc di chuyển lao động
Trang 30Tự do di chuyển lao động giữa các nước thành viên là điều kiện quan trọng giúp các nhà đầu tư lựa chọn phương án sử dụng lao động tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, người lao động ra làm việc ở nước ngoài cũng góp phần quảng bá hàng hóa và dịch vụ của nước đó với người tiêu dùng của nước sở tại
1.2.1.2 Những mặt trái, tiêu cực của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
XKLĐ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế như đã trình bày Tuy nhiên, nếu xem xét tác động của nó theo từng nhóm đối tượng, chúng ta dễ dàng nhận thấy một số mặt trái, tác động tiêu cực của hoạt động này Đó là:
- Thứ nhất, người đã lập gia đình đi làm việc ở nước ngoài không thực hiện được thiên chức chăm sóc gia đình
Theo truyền thống phương Đông, người phụ nữ có thiên chức cực kỳ quan trọng là làm vợ, làm mẹ và chăm sóc gia đình Phần lớn phụ nữ đi làm việc ở nước ngoài ở độ tuổi từ 20 - 45, đây là quãng thời gian phụ nữ có nhu cầu cao độ thực hiện thiên chức của mình; mặt khác, gia đình, chồng, con cũng cần sự chăm sóc, nuôi dạy con cái của người phụ nữ Thực tế cho thấy, phần lớn các gia đình có người vợ làm việc ở nước ngoài, con cái họ thường biểu hiện thiếu hụt tình mẫu tử, người chồng của họ có những biểu hiện không cân bằng trạng thái tâm sinh lý Không ít gia đình khi vợ đi làm việc ở nước ngoài, người chồng ở nhà đi ngoại tình hoặc tiêu dùng xa xỉ khoản tiền của vợ gửi về, hoặc sa vào các tệ nạn xã hội khác
Như vậy, người phụ nữ đi làm việc ở nước ngoài là một sự đánh đổi giữa thu nhập với thiên chức người vợ, người mẹ trong quãng thời gian mà bản thân và gia đình họ có nhu cầu cao nhất về thiên chức đó
Theo truyền thống phương Đông, người đàn ông là trụ cột của gia đình Các công việc nặng nhọc, phụ dưỡng cha mẹ và nuôi dạy con cái thường do
Trang 31người đàn ông đảm nhận Những người đàn ông Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã đánh đổi nghĩa vụ “một tiếng cha, bằng ba tiếng mẹ” trong nuôi dạy con cái với việc kiếm tiền Thực tế cho thấy, một số gia đình nông thôn Việt Nam những năm qua thiếu vắng vai trò của người đàn ông trong chăm lo cho
vợ con và cha mẹ già yếu
Hậu quả là không ít gia đình, con cái bị rối loạn tâm lý, quan hệ vợ chồng thiếu bền chặt, việc thực hiện chữ “hiếu” đối với cha mẹ không trọn vẹn Điều này gây tổn thương tinh thần lâu dài cho bản thân người lao động
- Thứ hai, người lao động đi làm việc ở nước ngoài dễ bị tổn thương về tinh thần do bị phân biệt đối xử
Câc quốc gia trên thế giới đều có hệ thống luật nhập cư, luật lao động theo hướng bảo hộ quyền lợi của công dân của mình Do đó, người lao động nước ngoài không được hưởng các quyền lợi như công dân nước sở tại Tình trạng này làm cho người lao động tự ti, sống khép kín, dễ gây stress
Bản thân người lao động, do trình độ ngoại ngữ hạn chế, nên hiểu biết
và chấp hành pháp luật nước sở tại gặp nhiều khó khăn Họ dễ vi phạm pháp luật nước sở tại và cũng không biết vận dụng luật pháp nước sở tại để tự bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
- Thứ ba, người lao động nhập cư: một mặt, khó hòa nhập với đời sống
xã hội nước sở tại do bị dị biệt về văn hóa, đạo đức và tôn giáo; mặt khác, tái hòa nhập khi về nước chậm và thường có xu hướng tiếp tục tìm việc nước ngoài
Đời sống tinh thần của mỗi người gắn chặt với truyền thống văn hóa, đạo đức và tín ngưỡng của mỗi quốc gia, dân tộc Trong thời đại ngày nay, sự khác biệt về văn hóa, đạo đức, tôn giáo tạo nên các xung đột của từng cá nhân người lao động với đời sống tinh thần của xã hội nước sở tại
Người lao động làm việc ở nước ngoài nhiều năm, khi về nước thường gặp khó khăn trong hòa nhập với đời sống kinh tế - xã hội trong nước do
Trang 32thông tin không thường xuyên và đầy đủ Một bộ phận lao động về nước sau thời gian ngắn có xu hướng muốn trở lại làm việc ở nước ngoài
- Thứ tư, nước XKLĐ đứng trước nguy cơ chảy “máu chất xám”
Lao động từ các nước đang phát triển đến các nước phát triển làm việc với thu nhập cao, điều kiện làm việc tốt, cùng với các chính sách thu hút và đãi ngộ lao động chất lượng cao của nước tiếp nhận, số lao động này có xu hướng ở lại làm việc lâu dài hoặc nhập quốc tịch của nước sở tại Điều này gây ra tình trạng “chảy máu chất xám” từ các nước đang phát triển, trong khi chi phí đào tạo của họ chưa được hoàn nguyên
Trung tâm Nghiên cứu của Quốc hội Hoa kỳ ước tính trong 2 năm (1971 - 1972) các nước đang phát triển đã đầu tư vào mỗi người lao động di
cư có tay nghề khoảng 20.000USD
1.2.2 Quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động
1.2.2.1 Khái niệm và vai trò quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
Quản lý nhà nước về XKLĐ là việc nhà nước xác định mục tiêu và tác động có tổ chức lên các quan hệ và hoạt động XKLĐ nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước, các cơ hội có thể
có, để đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã đặt ra, trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Nhà nước quản lý XKLĐ trước hết là xác định mục tiêu thông qua chiến lược XKLĐ; bằng pháp luật và các chính sách kinh tế; thông qua quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án XKLĐ Nhà nước sử dụng linh hoạt các phương pháp: hành chính, kinh tế, giáo dục trong hoạt động QLNN về XKLĐ nhằm đạt được các mục tiêu của XKLĐ nói riêng và phát triển kinh tế
- xã hội nói chung
Thực tế cho thấy, việc tăng cường vai trò của nhà nước đối với hoạt động XKLĐ là một đòi hỏi khách quan bởi những lý do sau:
Trang 33- Nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý tổng thể nền kinh tế đất nước, trong đó có kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động XKLĐ nói riêng Kinh
tế đối ngoại gắn liền với hoạt động ngoại giao của nhà nước Chính sách ngoại giao và chính sách kinh tế đối ngoại hợp thành chính sách đối ngoại của quốc gia, nếu kinh tế đối ngoại không được quản lý tốt sẽ ảnh hưởng xấu tới chính sách đối ngoại
- Chỉ có nhà nước mới có đủ tư cách pháp lý để ký các hiệp định, các thỏa thuận song phương và đa phương liên quan trực tiếp đến XKLĐ Đồng thời, nhà nước phải thực hiện các hiệp định, thỏa thuận đã ký với các quốc gia thông qua việc quản lý hoạt động XKLĐ
- Chỉ có nhà nước mới có đủ công cụ thực hiện quản lý vĩ mô hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, XKLĐ nói riêng Trong XKLĐ có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực, chỉ có Nhà nước mới tận dụng được mặt tích cực và hạn chế được tiêu cực
Vai trò của nhà nước đối với hoạt động XKLĐ được thể hiện qua các chức năng sau đây:
Một là, trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả XKLĐ, Nhà nước góp
phần quan trọng để phát triển mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các nước trong khu vực và trên phạm vi toàn thế giới, theo hướng tham gia ngày càng mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế
Hai là, thông qua việc phát triển hoạt động XKLĐ để tạo thêm nhiều công
ăn việc làm, nâng cao tay nghề và thu nhập cho người lao động, đồng thời mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ mạnh đáng kể cho ngân sách nhà nước
Như vậy, tổ chức hoạt động XKLĐ với nhiều hình thức trên cơ sở kết hợp lợi ích đất nước với lợi ích người lao động được đặt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Nhiều quốc gia coi XKLĐ không chỉ là giải pháp quan trọng nhằm giải quyết việc làm, tăng nguồn thu nhập cho cá
Trang 34nhân và đất nước, mà nó còn là chiến lược để phát triển nguồn lao động đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thời kỳ toàn cầu hóa kinh tế quốc tế
1.2.2.2 Đối tượng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
Đối tượng của QLNN về XKLĐ là toàn bộ các chủ thể: nhà nước, người lao động, doanh nghiệp và tổ chức hoạt động XKLĐ cùng với các quan
hệ giữa các chủ thể đó
Nhà nước vừa là chủ thể quản lý đồng thời cũng là đối tượng quản lý khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua các cơ quan nhà nước như: cơ quan QLNN về lao động, về xuất nhập cảnh, về tư pháp, về tài chính, tiền tệ, cơ quan ngoại giao ở nước ngoài,… theo quy định của pháp luật
Doanh nghiệp XKLĐ là tổ chức được pháp luật cho phép hoạt động xuất khẩu nhằm cung ứng dịch vụ tìm việc làm ngoài nước cho người lao động Doanh nghiệp XKLĐ bao gồm hai loại chủ yếu, đó là: các doanh nghiệp chuyên hoạt động dịch vụ việc làm ngoài nước và doanh nghiệp hoạt động thương mại dịch vụ ngoài nước
Tổ chức hoạt động XKLĐ, đó là đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập để thực hiện hoạt động XKLĐ, không nhằm mục đích lợi nhuận
Mỗi loại hình doanh nghiệp và tổ chức có chức năng khác nhau và phương thức hoạt động XKLĐ khác nhau
1.2.2.3 Những nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
Nhà nước thực hiện vai trò của mình đối với XKLĐ thông qua vai trò
sở hữu, định hướng, tổ chức và quản lý hoạt động XKLĐ Để tác động tới hoạt động XKLĐ, nhà nước phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, qua những nhiệm vụ này, vai trò của nhà nước đối với hoạt động XKLĐ được biểu hiện rõ nét Có thể thấy được vai trò của nhà nước đối với hoạt động XKLĐ qua những nhiệm vụ sau đây:
Trang 35- Thứ nhất, nhà nước thông qua hoạt động đối ngoại để tìm kiếm và mở rộng thị trường XKLĐ
Đây là nhiệm vụ thể hiện rõ nét nhất vai trò của nhà nước đối với hoạt động XKLĐ Công việc này là của nhà nước và chỉ có thể là nhà nước mới có
đủ điều kiện thực hiện Vấn đề quan trọng hàng đầu của hoạt động XKLĐ là việc xây dựng và phát triển thị trường Để xây dựng và phát triển thị trường XKLĐ, phải tăng cường tìm kiếm, mở rộng thị trường lao động ở nước ngoài, nghiên cứu thị trường lao động quốc tế để đào tạo chuẩn bị nhân lực cho xuất khẩu; đồng thời nhà nước cho phép các tổ chức kinh tế, cá nhân được tham gia XKLĐ dưới sự quản lý thống nhất Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân tìm và mở rộng thị trường lao động nhằm tạo việc làm ở nước ngoài cho người lao động theo quy định của pháp luật, phù hợp với luật pháp quốc tế và luật pháp của nước tiếp nhận lao động Nhà nước có chính sách ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân mở được thị trường mới, thị trường có thu nhập cao, thị trường tiếp nhận nhiều lao động Thông qua quan hệ đối ngoại, nhà nước mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên tinh thần hữu nghị, hợp tác theo nguyên tắc cùng có lợi để tạo thêm chỗ làm việc cho người lao động ở nước ngoài
Nhà nước đầu tư về tài chính và nhân lực cho các bộ phận, các ban quản lý lao động tại các cơ quan đại diện ngoại giao ở các nước để quản lý, hỗ trợ và bảo vệ lao động xuất khẩu; giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động ở nước ngoài; tiến hành thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, thẩm định các hợp đồng, phát triển thị trường XKLĐ; tham mưu cho Nhà nước trong việc ký kết các hiệp định, thỏa thuận hợp tác lao động ở các lĩnh vực có khả năng cung ứng lao động với Chính phủ nước sở tại, mở đường cho các doanh nghiệp XKLĐ ký kết và thực hiện các hợp đồng cung ứng lao động với chủ sử dụng
Trang 36Nhà nước cung cấp thông tin đầy đủ cho các doanh nghiệp nghiên cứu nhu cầu của thị trường sức lao động quốc tế, nắm vững quy luật vận động, phát triển của nó, trên cơ sở đó lập kế hoạch đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài Ngoài ra, việc Nhà nước nghiên cứu, đánh giá,
dự báo thị trường XKLĐ còn giúp các doanh nghiệp tìm hiểu được khả năng của đối tác, tình trạng hoạt động của các chủ sử dụng lao động nhằm hạn chế những rủi ro, tiêu cực phát sinh từ phía người sử dụng lao động, bảo vệ người lao động xuất khẩu và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động XKLĐ Bên cạnh việc cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, Nhà nước còn cung cấp thông tin định hướng cho toàn xã hội biết được nhu cầu của thị trường khu vực và thế giới đang và sẽ cần loại lao động nào, số lượng, chất lượng lao động xuất khẩu ra sao; những loại lao động nào cần và có thể xuất - nhập khẩu; những loại lao động, loại chất xám nào cần mua vào hoặc bán đi Từ
đó, giúp các doanh nghiệp, các tổ chức tham gia XKLĐ và người lao động có nhu cầu xuất khẩu sức lao động của mình biết được để chủ động tham gia vào thị trường lao động quốc tế
- Thứ hai, nhà nước ban hành chủ trương, chính sách, luật pháp để định hướng hỗ trợ hoạt động xuất khẩu lao động
Chiến lược phát triển là vấn đề cực kỳ quan trọng, đó là sự định hướng cho cả một giai đoạn phát triển của một đất nước, một ngành, một lĩnh vực
Đó là sự tổng kết thực tiễn, rút ra bài học, nâng lên thành lý luận và dự báo tương lai phát triển Trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, căn cứ vào các mục tiêu kinh tế đối ngoại và các dịch vụ có thu ngoại
tệ, Nhà nước định hướng phát triển lĩnh vực XKLĐ Thực hiện chức năng định hướng XKLĐ của nhà nước là xác định có căn cứ khoa học những mục tiêu, lập kế hoạch và lựa chọn các biện pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu đó Nhà nước càng thực hiện tốt chức năng định hướng càng tránh được rủi ro cho các doanh nghiệp và người lao động xuất khẩu
Trang 37Nhà nước ban hành chủ trương, chính sách, luật pháp để định hướng,
hỗ trợ hoạt động XKLĐ là một đòi hỏi khách quan, bởi các doanh nghiệp, các
tổ chức làm dịch vụ XKLĐ tuy tự chủ kinh doanh nhưng chưa thể nắm được tình hình, xu hướng vận động của thị trường lao động trong và ngoài nước, dễ gây thua lỗ, thất bại và đỗ vỡ, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp và người lao động xuất khẩu Với vai trò là người cầm lái, nhà nước sẽ giải quyết tốt hơn thị trường các mối quan hệ: giữa phát triển thị trường với nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu; giữa XKLĐ lao động phổ thông với lao động chuyên gia; giữa ưu tiên XKLĐ ở những ngành, vùng trọng điểm với việc phân bổ đồng đều các vùng khác nhau trong cả nước Từ những chủ trương, chính sách đó, nhà nước các cấp và các doanh nghiệp XKLĐ căn cứ vào chương trình, mục tiêu, xây dựng các kế hoạch XKLĐ dài hạn cũng như ngắn hạn cho từng loại thị trường Ngoài ra, nhà nước còn ban hành các chính sách
về đầu tư tạo nguồn, về hỗ trợ tài chính cho hoạt động XKLĐ, về đầu tư mở rộng thị trường, về hỗ trợ đào tạo và tín dụng cho người lao động tham gia XKLĐ, về bảo hiểm xã hội, về khuyến khích chuyển tiền về nước, về thu hút
và sử dụng khả năng lao động và tài chính của lao động xuất khẩu thu được từ nước ngoài mới có sự thống nhất và có tính đồng bộ
Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động làm việc
ở nước ngoài và của doanh nghiệp, tổ chức XKLĐ thông qua hệ thống luật pháp theo phương châm kết hợp hài hòa lợi ích của người lao động với lợi ích của các tổ chức môi giới và lợi ích của Nhà nước
Có thể nói việc nhà nước ban hành chủ trương, chính sách, luật pháp để định hướng, hỗ trợ hoạt động XKLĐ chính là tạo cơ sở pháp lý điều tiết các quan hệ chủ yếu về việc làm, học nghề, hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm và các điều kiện lao động khác giúp cho các doanh nghiệp và người lao động tận dụng được những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong
Trang 38- Thứ ba, nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các tổ chức XKLĐ và người lao động đi XKLĐ
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của nước tiếp nhận được
đi làm việc ở nước ngoài Đây không chỉ là mục tiêu trước mắt,tạo ra nguồn lao động dồi dào, có chất lượng phục vụ cho XKLĐ mà về lâu dài, hình thành được một lực lượng lao động đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng lao động xuất khẩu, Nhà nước tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước, từ Quỹ quốc gia về việc làm, Quỹ hỗ trợ XKLĐ, vốn viện trợ
và vốn từ các chương trình, dự án về phát triển việc làm khác cho việc mở rộng và nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, dạy nghề Nhân tố quyết định chất lượng của các cơ sở đào tạo, dạy nghề là đội ngũ cán bộ có đủ trình độ chuyên môn, nắm vững chủ trương chính sách của nhà nước trong lĩnh vực XKLĐ, am hiểu luật pháp và thông lệ quốc tế, tâm huyết với nghề nghiệp, đảm bảo cung cấp cho người lao động những tri thức cần thiết làm hành trang
để làm tốt công việc ở nước ngoài Bên cạnh đó, việc đầu tư nâng cấp, trang
bị các phương tiện kỹ thuật, thiết bị phục vụ việc đào tạo, dạy nghề cho người lao động phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế, khoa học công nghệ trong nước và quốc tế, phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của các nước nhập khẩu lao động là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu
- Thứ tư, nhà nước giải quyết các vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức XKLĐ và người lao động
Với tư cách là một chủ thể tham gia vào hoạt động XKLĐ, lĩnh vực liên quan đến lợi ích quốc gia, quyền lợi của các tổ chức, doanh nghiệp, người lao động và quan hệ hợp tác quốc tế, trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà bản thân các tổ chức, doanh
Trang 39nghiệp và người lao động không thể đảm đương được do nhiều nguyên nhân khác nhau ở cả trong nước lẫn ngoài nước cả trước, trong và sau khi người lao động hết hợp đồng về nước Nguyên tắc giải quyết các vấn đề phát sinh là trên cơ sở hợp đồng,các bên thương lượng, tự dàn xếp, thông qua hòa giải là chính Trong những trường hợp đặc biệt, cần đến sự hợp tác và tương trợ tư pháp, cơ quan đại diện ở nước ngoài phối hợp với cơ quan chức năng của nước sở tại thực hiện các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, xử lý kịp thời
- Thứ năm, nhà nước phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương trong việc tổ chức, chỉ đạo và quản lý các hoạt động XKLĐ
Nhiệm vụ này hướng tới mục tiêu triệt để khai thác những thế mạnh còn tiềm ẩn ở các cấp, các ngành, đồng thời hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực
dễ phát sinh của hoạt động XKLĐ Để đạt được những mục tiêu đó, Nhà nước phối hợp hành động quản lý giữa các cơ quan có thẩm quyền quản lý hoạt động XKLĐ, sao cho hoạt động của các cơ quan chuyên quản không mâu thuẫn nhau, chồng chéo hoặc lỡ nhịp, đặc biệt là trong chỉ đạo các doanh nghiệp XKLĐ có Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên quản, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động XKLĐ Theo chức năng của mình, các cấp, các ngành, triển khai các
hoạt động liên quan đến XKLĐ theo Luật người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 số
72/2006/QH XI ngày 29 tháng 11 năm 2006 Theo Luật này, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước hoạt động XKLĐ; các Bộ, cơ quan ngang bộ trong
Trang 40động, Thương binh và Xã hội thực hiện QLNN về XKLĐ theo lĩnh vực được phân công; Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về XKLĐ trên địa bàn theo quy định của Chính phủ; cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự quán của Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành, các cơ quan có liên quan trong việc quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài và thực hiện các nhiệm vụ khác
1.2.2.4 Các công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
Để thực hiện chức năng của nhà nước trong lĩnh vực XKLĐ, nhà nước
sử dụng các công cụ chủ yếu sau đây:
- Các công cụ định hướng
Nhóm này bao gồm các công cụ như chiến lược, kế hoạch, chính sách
về XKLĐ được nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện Để thực hiện nhiệm
vụ định hướng, nhà nước phải sử dụng các nguồn lực hoạt động của mình như: ngân sách, các nguồn lực và thông qua hệ thống công cụ như: tín dụng, ngân hàng, tài chính, thuế, tài trợ và ưu đãi hoạt động XKLĐ theo những mục tiêu nhất định Ngoài ra, để hoạt động XKLĐ phát triển đúng hướng, đúng pháp luật nước ta và nước nhập khẩu lao động, nhà nước xây dựng, ban hành
và tổ chức thực hiện, tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật
về XKLĐ
- Các công cụ điều tiết
Điều tiết chính là việc nhà nước áp đặt những quy chế của mình nhằm hướng dẫn, hạn chế, thay đổi hành vi kinh tế của các chủ thể tham gia XKLĐ cho phù hợp với thể chế của thị trường lao động trong, ngoài nước và những mục tiêu mà nhà nước vạch ra Sự điều tiết này được tiến hành dưới những hình thức như hướng dẫn, kiểm soát, uốn nắn bằng cả công cụ kinh tế và pháp luật, tức là bằng cả những ưu đãi và trừng phạt
- Các công cụ điều hành