1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam

111 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: Bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa và tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững, mô hình tương tác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ MINH TÚ

THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CÁC – BON THẤP (LOW CARBON FDI)

CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Hà Nội – 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt…… i

Danh mục bảng ……… ……….………….……….ii

Danh mục hình………… ……….………iv

LỜI MỞĐẦU……… …… ……… ……….………….1

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI CÁCBON THẤP CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ……… ….……… 8

1.1 Khái niệm FDI cácbon thấp và phát triển bền vững……… ……… 8

1.1.1 Khái niệm FDI cácbon thấp…… ………8

1.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững……… … ……… 10

1.2 Các yếu tố quyết định LCF………… ……… ………… 17

1.2.1 Các yếu tố kéo……… ……… ………17

1.2.2 Các yếu tố đẩy……… ……… ……… 19

1.3 Một số tiêu chí để nhận diện Đầu tư trực tiếp cácbon thấp… ….22

1.3.1.Tiêu chí xác định Low-carbon FDI…… ……… …… ….…… 22

1.3.2 Dấu hiệu để nhận diện LCF vào các nước đang phát triển… 25

1.3.3 Một số tiêu chuẩn quốc tế……… ……… ……… … 26

1.4 Vai trò của LCF đối với phát triển bền vững của nước nhận đầu tư… 31

1.4.1 Tác động của FDI về mặt kinh tế……… ……… 31

1.4.2 Tác động của LCF tới xã hội - môi trường……… ……… 33

1.5 Kinh nghiệm quốc tế……… ………34

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc………… ……… 34

1.5.2 Một vài quan điểm của Việt Nam………… ……….39

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THU HÚT FDI CÁCBON THẤP Ở VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HÀ NỘI…… ………41

Trang 3

2.1 Tổng quan tình hình thu hút FDI của Việt Nam……… ……… 41

2.1.1 Khái quát chung về FDI của Việt Nam…… … ……… 41

2.1.2 Dấu hiệu thu hút LCF vào Việt Nam…… …… ……… 45

2.2 Đánh giá về tình hình thu hút LCF vào Việt Nam…… …… …54

2.2.1 Những khả quan đạt được……… … ……… …54

2.2.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân……… ……… … … ….58

2.3 Nghiên cứu trường hợp FDI vào Hà Nội…… …… ……… …61

2.3.1 Một số nét khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội……… ……….……… ……… … 61

2.3.2 Tình hình FDI vào Hà Nội……… …… … ……… … …63

Hộp1: Sheraton Hanoi Hotel "Khách sạn xanh" giữa lòng Thủ đô 67

2.3.3 Đánh giá tình hình thu hút LCF vào Hà Nội và đưa ra dấu hiệu nhận diện LCF vào Hà Nội……… 72

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI CÁC BON THẤP CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 80

3.1 Định hướng thu hút Low-carbon FDI của Việt Nam 80

3.1.1 Bối cảnh chung 80

3.1.2 Chiến lược phát triển bền vững của việt nam 91

3.1.3 Định hướng chính sách thu hút LCF của Việt Nam 95

3.2 Một số giải pháp cho Việt Nam nhằm thu hút dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài cácbon thấp 96

3.2.1 Nhóm biện pháp liên quan tới các cơ chế chính sách 96

3.2.2 Nhóm giải pháp về thuế 97

3.2.3 Nhóm giải pháp thực hiện tạo nhân tố kéo thu hút LCF 98

3.2.4 Những biện pháp nhằm quản lý dòng FDI 99

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 4

i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Ký hiệu

1 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

2 LCF Đầu tư trực tiếp nước ngoài các bon thấp

11 UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp Quốc

12 BRIC Brazil - Russia - India - China

15 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

16 EU Liên hiệp Châu âu

Trang 5

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

1 Bảng 1.1 Tiêu chuẩn khí thải Châu Âu đối với xe khách 26

2 Bảng 1.2 Một số tiêu chuẩn về hàng hóa, dịch vụ được sử

3 Bảng 1.3 Bảng tổng hợp số lượng sản xuất, công suất, sản

lượng, thuế, xuất khẩu của tua bin gió không có

4 Bảng 2.4 Vốn FDI đầu tư và thực hiện thời kỳ 1988 - 2010 41

6 Bảng 2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức 44

7 Bảng 2.7 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI phân theo

8 Bảng 2.8 Số vốn FDI của các nhà đầu tư Đông Nam Á 47

9 Bảng 2.9 Số vốn FDI của các nhà đầu tư Đông Bắc Á 48

10 Bảng 2.10 Một số dự án FDI lớn của Hàn Quốc tại Việt Nam 49

11 Bảng 2.11 Một số dự án đầu tư FDI lớn của Nhật Bản vào

12 Bảng 2.12 Số vốn FDI của các nhà đầu tư chủ yếu Châu Âu 52

13 Bảng 2.13 Số vốn FDI của các nhà đầu tư chủ yếu từ các

Trang 6

17 Bảng 2.17 Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong một số ngành

18 Bảng 2.18 Số dự án và vốn đầu tư vào các khu công nghiệp

19 Bảng 2.19 So sánh số dự án đầu tư vào Hà Nội và cả nước 64

20 Bảng 2.20 Dự án FDI vào Hà Nội đã được cấp giấy phép

21 Bảng 2.21 FDI vào Hà Nội phân theo hình thức đầu tư 65

22 Bảng 2.22 Dự án FDI vào Hà Nội phân theo ngành 71

23 Bảng 2.23 FDI vào Hà Nội phân theo chủ đầu tư lớn 72

24 Bảng 2.24 Dự án FDI trong ngành CN chế tạo ở Hà Nội 73

25 Bảng 2.25 FDI trong ngành CN chế tạo phân theo 04 nhóm

26 Bảng 3.26 Tăng trưởng GDP của một số nền kinh tế lớn

27 Bảng 3.27 Tăng trưởng kinh tế toàn cầu và một số khu vực 81

28 Bảng 3.28 Top 10 nhà đầu tư của hình thức đầu tư mới trong

lĩnh vực sử dụng năng lượng tái tạo 85

29 Bảng 3.29 Top 10 Nhà đầu tư mới trong sản xuất công nghệ

Trang 7

iv

1 Hình 1.1 Giới thiệu về quá trình sản xuất low-carbon

nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính dọc theo chuỗi giá trị

9

2 Hình 1.2 Tam giác nhân tố phát triển bền vững 11

3 Hình 1.3 Quy trình sản xuất giảm thiểu phát thải khí nhà

4 Hình 2.4 Tỷ lệ gia tăng nước thải từ các khu công nghiệp

và tỷ lệ gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc

8 Hình 3.8 Vốn đầu tư FDI vào các khu vực 81

9 Hình 3.9 FDI vào lĩnh vực Low-carbon tại ba nền kinh tế 84

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi bắt đầu “mở cửa” vào cuối những năm 80, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng và hiện được các nhà đầu tư nước ngoài liên tục xếp hạng là một trong những địa chỉ đầu tư hấp dẫn nhất tại Châu Á Bất chấp những bất ổn gần đây trên các thị trường toàn cầu, kể từ năm 2000 đến nay, chỉ có Trung Quốc là nền kinh tế duy nhất tại Châu Á tăng trưởng nhanh hơn Việt Nam Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn suốt 25 năm qua, nhưng nền kinh tế Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những thách thức phức tạp, đòi hỏi sự chuyển dịch sang một mô hình tăng trưởng bền vững, bảo vệ môi trường, với việc thu hút nhiều hơn dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong đó ngày càng quan tâm đến dòng vốn FDI cacbon thấp

Phát triển bền vững không chỉ được hiểu là sự phát triển được duy trì một cách liên tục mà hơn thế nữa là sự nỗ lực nhằm đạt được trạng thái bền vững trên mọi lĩnh vực, trong đó ba trụ cột chính là bền vững xã hội, kinh tế

và môi trường Không phải tự nhiên, các nước phát triển đã cam kết cắt giảm khí thải nhà kính tại Nghị định thư Kyoto, mà đó là vì vấn đề biến đổi khí hậu, nhiệt độ trái đất đang tăng lên Gần đây nhiều nước đã tự nguyện công

bố chiến lược tăng trưởng xanh, ít carbon và có những biện pháp, chính sách thu hút FDI ít carbon để tận dụng nguồn vốn này cho mục tiêu cắt giảm CO2 FDI là động lực thúc đẩy tăng trưởng ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, FDI có thể là phương tiện di chuyển ô nhiễm sang các nước có qui định lỏng lẻo về môi trường FDI carbon thấp (low carbon FDI - LCF) là dòng FDI giúp giảm thiểu phát thải CO2 ở các nước nhận đầu tư và qua đó góp phần đối phó với sự nóng lên của trái đất

Trang 9

Việt Nam, quốc gia đang phát triển, nền kinh tế vẫn còn lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa để đạt được mục tiêu bền vững trong tương lai Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm GDP vẫn không ngừng tăng lên, thu nhập của người dân được cải thiện, ngân sách ngày càng đáp ứng được nhu cầu của phát triển Nguồn vốn FDI đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế

và gia tăng khá nhanh so với các nước trong khu vực

Tuy nhiên, đi kèm với việc tăng trưởng về mặt kinh tế là những dấu hiệu báo động về môi trường Môi trường ở một số địa phương của Việt Nam đang bị ô nhiễm nước, khí với mức độ tăng dần Trong hơn 10 năm trở lại đây, không chỉ nhiều dự án gây ô nhiễm môi trường nước, khí đã được thực hiện tại Việt Nam mà còn có nhiều dự án FDI thâm dụng năng lượng và có cường độ phát thải khí CO2 cao được đưa vào đầu tư tại Việt Nam Đáng chú

ý là Thủ đô - Hà Nội, trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước và cũng là trung tâm kinh tế lớn đã thu hút được số lượng lớn vốn FDI chiếm 23% tổng vốn FDI đăng ký đến 31/12/2010 Như vậy đối với Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng, để vừa có thể đảm bảo được tăng trưởng kinh tế, có thể giảm thiểu được lượng khí thải nhà kính, lại vừa có thể tận dụng được nguồn FDI carbon thấp cho chiến lược phát triển bền vững là vấn đề hết sức quan trọng

Hiện tượng ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu đang đặt ra nhiều thách thức lên mục tiêu phát triển bền vững của những quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nhiều chính phủ đã, đang và sẽ từng bước có những chính sách nhằm giảm nhẹ những ảnh hưởng tiêu cực mà biến đổi khí hậu mang lại, cụ thể là từng bước cắt giảm lượng khí thải nhà kính Tuy nhiên, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đời sống người dân vẫn còn thấp so với các nước khác Vậy đối với Việt Nam, làm thế nào để vừa có thể giảm thiểu được lượng khí thải nhà kính lại vừa có thể đảm bảo được tăng

Trang 10

trưởng kinh tế, liệu có thể tận dụng được nguồn FDI carbon thấp cho chiến lược phát triển bền vững? là những vấn đề đang được đặt ra hiện nay

Vì vậy, việc nghiên cứu xem FDI carbon thấp (LCF) có thể hỗ cho chiến lược phát triển bền vững ở nước nhận đầu tư không? FDI thu hút vào Việt Nam trong thời gian qua có thuộc loại carbon thấp hay không? Từ đó cần

có giải pháp gì để tăng cường thu hút LCF cho chiến lược phát triển bền vững

ở Việt Nam? là những vấn đề cấp thiết và là mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

phát triển bền vững ở Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu:

Đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới

đề cập đến vấn đề phát triển bền vững và những tác động của dòng FDI tới kinh tế, xã hội và môi trường

- PGS TS Nguyễn Thị Liên Hoa, Trần Phương Hồng Hạnh và Bùi

Anh Chinh (2010), Viện nghiên cứu phát triển thành phố HCM, Thu hút FDI

sạch cho phát triển bền vững kinh tế Việt Nam Nhóm tác giả bước đầu đưa ra

quan điểm FDI sạch trong FDI, trên cơ sở phân tích tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư, nhóm tác giả đã đưa ra quan điểm FDI sạch tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở các nước đang phát triển, do vậy, Việt Nam cần thực hiện thu hút ngay từ bây giờ FDI sạch với một số giải pháp mang tính tạm thời

- International Institute for Sustainable Development (3/2010),

Attracting and Crowding for Low-carbon Development, Canada Tác giả

Oshani Perera, Tổ chức IISD, phân tích các yêu cầu của phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển gắn với giảm thiểu khí thải cácbon, trên cơ sở đưa ra các điều kiện môi trường tại các nước phát triển Tác giả khuyến nghị với các nước đang phát triển cần quan tâm và đẩy mạnh việc giảm thiểu khí thải CO2

Trang 11

trong một số lĩnh vực và phát triển các lĩnh vực ít khí thải để phát triển bền vững môi trường

- Hieke Baumuller, tổ chức Chatham House “Xây dựng một tương lai ít

các – bon cho Việt Nam, những yêu cầu công nghệ nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu” (2010) Tác giả để cập đến vấn đề phát triển nguồn

năng lượng ít các – bon để hạn chế khí thải nhà kính, đặc biệt đề cập đến vấn

đề thu hút công nghệ trong phát triển năng lượng đáp ứng cho vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam

- Công trình của ThS Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế của Việt Nam Trong bài nghiên cứu, tác giả đã làm rõ những khái niệm về FDI, về phát triển bền vững và mối quan hệ giữ FDI với tăng trưởng bền vững Trong bài nghiên cứu tác giả đã chỉ rõ những tác động FDI lên phát triển bền vững ở Việt Nam như thế nào và được minh họa bằng những số liệu

cụ thể

- Công trình nghiên cứu “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền

vững” (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống

quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: Bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa và tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững, mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCEC(1987), xã hội sinh thái của Villen (1990), mô hình ba nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của World Bank

- Công trình của TS Nguyễn Hữu Sở (2009) với đề tài “Phát triển kinh

tế bền vững ở Việt Nam”, trong công trình nghiên cứu tác giả đã đưa ra tổng

quan về mặt lý thuyết đối với phát triển bền vững nói chung và bền vững kinh

tế nói riêng, trên cơ sở lý thuyết tác giả đưa ra thực trạng phát triển kinh tế của Việt Nam và những vẫn đề đặt ra về Phát triển bền vững từ đó tác giả đưa

Trang 12

ra những quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo được sự phát triển bền vững

- GS.TS Nguyễn Đức Ngữ, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật

Việt Nam với công trình “Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt

Nam”, đề cập đến vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu trong đó Việt Nam đang

phải chịu tác động trực tiếp tới các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Tác giả đề ra các giải pháp nhằm hạn chế tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với pháp triển bền vững của Việt Nam

Những công trình nghiên cứu đã có chủ yếu nghiên cứu về phát triển bền vững của Việt Nam hay làm thế nào để giảm thải các – bon trong tương lai để ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam mà chưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu mối liên hệ giữa phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam với việc thu hút FDI nhưng là FDI các – bon thấp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: nghiên cứu tình hình thu hút FDI, đưa ra tiêu chí, nhận diện FDI các-bon thấp (LCF) và các giải pháp tăng cường thu hút LCF cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Xây dựng cơ sở lý thuyết về Low-carbon FDI; và mối quan hệ giữa FDI các-bon thấp với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững

+ Xác định tiêu chí, nhận diện FDI các bon thấp

Trang 13

+ Nghiên cứu thực trạng về tình hình thu hút FDI của Việt Nam và tình hình dòng FDI các-bon thấp vào Việt Nam

+ Nghiên cứu trường hợp điển hình về thu hút FDI các - bon thấp ở Hà Nội

+ Đưa ra một số kiến nghị nhằm hút FDI các-bon thấp cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: FDI vào Việt Nam và FDI các - bon thấp

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề thu hút

và sử dụng FDI trong nền kinh tế Việt Nam, trong đó đề cập đến một số điển hình về FDI các bon thấp từ năm 2000 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu:

Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp

Nguồn tư liệu: Tác giả dựa vào hai nguồn số liệu:

+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính thống đáng tin cậy như: Bộ kế hoạch và đầu tư, Tổng cục thống kê của Việt Nam; Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), tổ chức Năng lượng thế giới (IEA)

+ Số liệu sơ cấp: được thu thập từ khảo sát điều tra tại các khu công nghiệp của Hà Nội, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ kế hoạch Đầu tư, Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội

6 Những đóng góp mới của luận văn:

- Khái quát lý thuyết về carbon FDI và mối quan hệ giữa carbon FDI với phát triển bền vững

Low Phát hiện dấu hiệu LowLow carbon FDI với phát triển bền vững tại Việt Nam từ 2000 đến nay, trong đó có trường hợp điển hình là thành phố Hà Nội

Trang 14

- Những đề nghị ban đầu để tăng cường thu hút Low-carbon FDI cho phát triển bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3

Chương:

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THU HÚT FDI CÁCBON THẤP Ở VIỆT NAM

- NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HÀ NỘI

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI CÁCBON THẤP CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG

Ở VIỆT NAM

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI CÁCBON THẤP

CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1 Khái niệm FDI cácbon thấp và phát triển bền vững:

1.1.1 Khái niệm FDI cácbon thấp:

Khái niệm FDI cácbon thấp (low-carbon Foreign Direct Investment) cũng gần giống với định nghĩa về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment) thông thường, LCF (low-carbon Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Trong đó, cá nhân hay công ty nước ngoài

đó nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này Nhưng điểm khác với FDI thông thường là LCF thông qua hoạt động sản xuất, hoặc tiêu dùng hoặc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của FDI cácbon thấp làm giảm phát thải lượng khí nhà kính (GHG, Green house Gase)

Thông qua định nghĩa trên, FDI cácbon thấp có thể giúp giảm phát thải khí nhà kính thông qua hai phương pháp sau :

a, Thông qua quy trình sản xuất

Chu trình sản xuất của LCF nhằm giảm thiểu phát thải thông qua hoạt động của các TNCs hay các dự án đầu tư mới có thể qua các cách sau:

Thứ nhất, chuyển từ việc sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch như

than, dầu …với lượng phát thải CO2 lớn sang các nguồn năng lượng đầu vào sạch hơn và lượng khí nhà kính thải ra thấp hơn, chẳng hạn như những nguồn năng lượng có thể tái tạo được hay năng lượng hạt nhân

Thứ hai, sử dụng khối lượng nguyên liệu đầu vào từ thiên nhiên ít hơn,

tức là việc gia tăng vật chất tài nguyên một cách tương đối thông qua những công nghệ sử dụng khối lượng nguyên liệu đầu vào từ thiên nhiên

Trang 16

Thứ ba, thông qua các hoạt động tích cực nhằm giảm phát thải khí nhà

kính như: gia tăng năng suất các nguồn cung cấp năng lượng; các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn hoặc cải thiện quá trình tự động hóa để

sử dụng ít năng lượng hơn

Thứ tư, tái chế chất thải có thể sử dụng được hoặc đầu tư, nâng cấp các

nhà máy xử lý chất thải một cách sạch nhất

Bên cạnh đó, theo chuỗi giá trị toàn cầu của những nhà đầu tư LCF, họ

có thể yêu cầu những nhà cung cấp, những khách hàng và đối tác của mình cũng phải sử dụng những công nghệ sản xuất sạch Trong một số trường hợp, những doanh nghiệp này còn có thể hỗ trợ công nghệ, hướng dẫn hoặc liên minh với nhau để tạo ra một công nghệ mới, thân thiện môi trường hơn Chẳng hạn như các TNCs hoạt động trong ngành nông nghiệp có thể ảnh hưởng tới các nhà cung cấp thay đổi theo hướng bền vững hơn, như việc chăn nuôi, trồng trọt sạch hơn [24, tr 140-142]

Hình 1.1: Giới thiệu về quá trình sản xuất low-carbon nhằm giảm thiểu

phát thải khí nhà kính dọc theo chuỗi giá trị

Nguồn: Báo cáo đầu tư thế giới năm 2010

b, Thông qua quá trình tiêu thụ những sản phẩm và dịch vụ carbon

low-Các dòng LCF có thể đầu tư vào việc sản xuất và quảng bá sản phẩm

và dịch vụ low-carbon mà họ sản xuất, mà thông qua quá trình tiêu thụ những

Trang 17

sản phẩm này làm giảm thiểu lượng khí thải nhà kính hơn so với sử dụng các sản phẩm thông thường Chẳng hạn như xe ôtô chạy bằng điện thay vì chạy bằng xăng, những đồ điện tử tiết kiệm điện và các phương tiện giao thông khác sử dụng năng lượng sạch Tuy nhiên cần chú ý rằng, các sản phẩm low-carbon còn tùy thuộc vào nhu cầu của người tiêu dùng cũng như các điều kiện kinh doanh của thị trường, thực tế thì những nhu cầu như vậy là khác nhau ở mỗi quốc gia Ngoài ra, các doanh nghiệp Low-carbon FDI hay các TNCs cung cấp các công nghệ sạch, ít carbon thông qua tái cấu trúc trong quy trình phát thải cho các công ty tại nước tiếp nhận đầu tư Điều này không chỉ cho phép các công ty ở nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội tiếp cận với công nghệ mới mà còn cho phép các TNCs tiếp cận được thị trường mới

Như vậy, dòng vốn FDI cácbon thấp đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính Tuy nhiên dòng LCF này khó đo lường và xác định bởi thiếu một phương pháp đo lường tuyệt đối, đối với từng dòng FDI cácbon thấp vào những khu vực khác nhau thì lại có những đặc thù khác nhau Những loại hình Low-carbon FDI đã nêu trên đều

có khả năng áp dụng vào thực tiễn cao, chẳng hạn như các dự án BOT Khi một TNCs đầu tư thông qua dòng Low-carbon FDI có thể có những ảnh hưởng tích cực tới việc giảm thiểu phát thải thông qua chính chuỗi giá trị và cung ứng của nó Ngoài ra, TNCs trong vị trí hỗ trợ cung cấp công nghệ cho các nhà cung cấp địa phương tốt hơn so với các công ty ở nước tiếp nhận đầu

tư, và trong chính chuỗi giá trị toàn cầu còn có thể làm được nhiều hơn thế nhằm đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm sạch từ những người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng ở các quốc gia phát triển [27, tr 142-143]

1.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững:

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phát triển bền vững Theo Herman Daly (1992) nhà kinh tế học làm việc ở Ngân hàng thế giới cho rằng:

“Một thế giới bền vững, có nghĩa là thế giới đó không sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo (như rừng, nước, các động thực vật …) nhanh hơn khả năng tự

Trang 18

tái tạo của những nguồn tài nguyên này” Đây là một định nghĩa khá hợp lý về mặt lý thuyết, nhưng thực tế không có một nền kinh tế nào trên thế giới có thể thực hiện được sự phát triển này

Định nghĩa được sử dụng rộng rãi hơn cả là định nghĩa được trình bày trong báo cáo “tương lai của chúng ta” của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED, năm 1987 và thường được gọi là “Báo cáo Brundtland”:

“Sự phát triển mà thỏa mãn được các nhu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ” Như vậy, nếu phát triển về mặt kinh tế hiểu theo nghĩa cổ điển thì chỉ liên quan đến các yếu tố thuần túy về mặt kinh tế như: GDP (GNP), sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng suất … thì phát triển bền vững là một khái niệm rộng hơn có tính chất tổng hợp liên quan đến 3 lĩnh vực: Kinh tế, Xã hội, Môi trường Hay nói một cách khác phát triển bền vững quan tâm đến nâng cao chất lượng cuộc sống con người [8, tr 53]

Chất lượng cuộc sống

Kinh tế

Xã hội Môi

trường

Trang 19

Như vậy, nội dung cơ bản của phát triển kinh tế bền vững bao gồm: đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý và tiến bộ, sử dụng nguồn lực tiết kiệm hiệu quả

- Tăng trưởng tương đối cao và ổn định: Tăng trưởng kinh tế thường

được đo bằng tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng thu nhập quốc dân (GNI) Tăng trưởng kinh tế có vai trò rất quan trọng, không chỉ thể hiện mức tăng tiến về mặt quy mô của nền kinh tế, mà tăng trưởng còn là điều kiện, tiền đề giải quyết các vấn đề về mặt kinh tế - xã hội của một quốc gia cũng như từng địa phương Để đảm bảo tính bền vững tăng trưởng phải đáp ứng tối thiểu ba yêu cầu cơ bản là:

+ Thứ nhất, mức tăng trưởng tương đối cao Việc duy trì tăng trưởng

ở mức cao không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng mà do dân số và quy mô tiêu dùng tăng, nhu cầu sản xuất tăng …, mà còn là con đường để rút ngắn khoảng cách với các nước khác Với việc duy trì tăng trưởng trên 6% hàng năm trong hơn 20 năm ở các nước NICs Châu Á đã đưa các nước này từ nước kém phát triển để trở thành các nước có thu nhập cao

+ Thứ hai, tăng trưởng cần bảo đảm tính ổn định Đây là yếu tố rất

quan trọng để bảo đảm tính bền vững trong phát triển kinh tế Tính ổn định của tăng trưởng vừa thể hiện năng lực sản xuất, khả năng đảm bảo nguồn lực cho tăng trưởng và khả năng chống chịu trước những biết động bên trong và bên ngoài của nền kinh tế Tính ổn định của nền kinh tế có thể được xác định bằng nhiều cách Một số nhà nghiên cứu cho rằng, mức độ ổn định của tăng trưởng có thể được đánh giá qua độ lệch chuẩn hoặc bằng tỷ số giữa độ lệch chuẩn và tốc độ tăng trưởng

+ Thứ ba, tăng trưởng cần bảo đảm chất lượng Tức là tăng trưởng

cần dựa trên yếu tố chất lượng, chiều sâu là chính, tăng trưởng gắn liền với việc nâng cao năng suất, chất lượng có hiệu quả

Trang 20

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: Chuyển dịch cơ cấu

kinh tế có tác động lớn tới sự phát triển kinh tế - xã hội Chuyển dịch cơ cấu theo hướng tiến bộ đồng nghĩa với việc phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng

có lợi thế so sánh, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của thế giới Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tiến bộ nghĩa là tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong GDP

và giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, giảm tỷ trọng xuất khẩu hàng sơ chế Cơ cấu kinh tế phản ánh một mức độ nhất định của huy động các nguồn lực cho quá trình kinh tế tăng trưởng, bởi vậy một cơ cấu kinh tế tiến bộ như trên là chưa đủ mà còn phải đảm bảo cho tính bền vững của tăng trưởng Điều đó có nghĩa là cơ cấu kinh

tế hợp lý, bảo đảm huy động và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nhất các nguồn lực, đồng thời tạo ra những giá trị phù hợp với nhu cầu chung của thị trường

- Phát triển kinh tế bền vững gắn với việc giải quyết các vấn đề xã

hội cơ bản: như tạo ra việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo bình đẳng và

tiến bộ xã hội Tạo việc làm và tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo không chỉ

là vấn đề xã hội gắn với quyền được làm việc, gắn với an sinh xã hội mà còn

là những vấn đề kinh tế cơ bản gắn với sử dụng nguồn lực Hơn nữa, nếu phát triển kinh tế nhưng không đảm bảo được công bằng và tiến bộ xã hội, hay nói cách khác, sự nghiệp và thành quả phát triển kinh tế chỉ tập trung vào một nhóm người thì không thể vững chắc được

- Phát triển kinh tế gắn với sử dụng nguồn lực có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái: Trước hết, phát triển kinh tế cần gắn với việc sử dụng

tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực Điều này có nghĩa là, việc phát triển và tăng trưởng kinh tế không nên dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm sơ chế, mà cần tới quá trình giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, giảm chi phí trung gian, tăng tỷ trọng các yếu tố phi vật chất trong giá thành sản phẩm, tăng giá trị gia tăng trong sản phẩm … Ngoài ra phát triển kinh tế cần gắn với bảo vệ nuôi dưỡng và cải thiện môi

Trang 21

trường sinh thái theo hướng: bảo vệ rừng và trồng rừng, bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, thay thế nguyên, nhiên liệu truyền thống bằng nguyên, nhiên liệu mới, đổi mới công nghệ theo hướng sản xuất thân thiện với môi trường [13, tr 35-36]

b, Phát triển bền vững văn hóa – xã hội:

Phát triển bền vững về mặt xã hội, con người được coi là trung tâm trong những quyết định về chính sách phát triển Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế còn có mục tiêu phát triển xã hội, nhằm bảo đảm duy trì sự ổn định xã hội, giảm bớt những tác động tiêu cực về mặt xã hội của sự phát triển kinh tế, đảm bảo tính công bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói

Càng ngày con người càng ý thức được rằng, nếu một đất nước tăng trưởng nhanh, giàu có nhưng tệ nạn xã hội vẫn tràn lan, môi trường vẫn bị hủy hoại một cách có chủ ý hay vô ý thì không thể bảo đảm sự phát triển bền vững Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do trình độ dân trí thấp Nếu chỉ đạt được sự phát triển về mặt kinh tế nhưng vấn đề xã hội không được bảo đảm thì không thể coi là phát triển bền vững Trong các nhân tố cấu thành phát triển bền vững của một quốc gia không thể không nói đến vấn đề về văn hóa Dường như vấn đề về văn hóa trong một thời gian dài đã không được đề cập nhiều hay nếu có chỉ là một mảng nhỏ cấu thành phát triển bền vững Tuy nhiên với sự tiến bộ xã hội, cùng với những thay đổi về mặt nhận thức, văn hóa ngày càng trở thành yếu tố quan trọng để cấu thành phát triển bền vững

Đã có nhiều khái niệm về văn hóa ra đời, các chỉ số về phát triển con người HDI (Human Development Index) đã được phân tích và bổ sung Tiêu chuẩn

về kinh tế đã được kết hợp cùng với tiêu chuẩn về văn hóa - xã hội, môi trường Không những thế, gắn phát triển kinh tế với xã hội và nhất là văn hóa

đã giúp các quốc gia xác định lại mục tiêu chiến lược của mình, đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi sự tăng trưởng và phát triển

Trang 22

c, Bền vững môi trường:

Môi trường tự nhiên, trái đất là nơi cư trú, nuôi dưỡng đời sống nhân loại Quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người là quá trình tương tác giữa con người và tự nhiên Bằng tri thức, sự sáng tạo thông qua các hoạt động xã hội, con người đã biết sử dụng ngày càng nhiều các yếu tố của tự nhiên phục vụ cho lợi ích của mình Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử, hầu như con người chỉ chú trọng đến việc khai thác các nguồn lợi của thiên nhiên chứ không quan tâm đến việc duy trì và bảo vệ chúng, trong khi các nguồn lợi này lại hữu hạn Hậu quả là, hiện nay nhiều nguồn tài nguyên bị cạn kiệt hoặc có nguy cơ cạn kiệt, môi trường tự nhiên bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng Tình trạng này gây ra những ảnh hưởng bất lợi đến các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người, hay nói cách khác việc cải thiện phúc lợi của con người bị đe dọa Càng ngày người ta càng nhận thức một cách sâu sắc rằng môi trường thiên nhiên có một vai trò quan trọng, không thể thay thế được Nó là một trong ba nhân tố quan trọng tạo nên thế bền vững của một quốc gia

Theo luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam, Môi trường được định nghĩa là bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tài nguyên thiên nhiên

Như đã trình bày khái niệm về phát triển bền vững ở trên, thì phát triển bền vững là “sự phát triển mà thỏa mãn được các nhu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của họ” Đối với bền vững môi trường cũng vậy, việc khai thác và sử dụng các nguồn lợi từ môi trường trong hiện tại không làm tổn hại đến việc khai thác và sử dụng chúng trong tương lai Kinh tế và môi trường có mối quan hệ mật thiết với nhau thông qua nguyên tắc cân bằng vật chất Quá trình hoạt động kinh tế là một quá trình chuyển đổi vật chất và năng lượng từ những dạng tự nhiên thành những dạng phù hợp với nhu cầu của con người Quy mô hoạt động

Trang 23

kinh tế càng lớn, nếu công nghệ sản xuất không thay đổi, thì nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên càng tăng lên và các chất thải ra môi trường càng nhiều Trong khi khả năng đảm nhiệm hai nhiệm vụ (cung cấp tài nguyên thiên nhiên và hấp thụ chất thải) của thiên nhiên lại có giới hạn

Lịch sử công nghiệp hóa của các quốc gia cho thấy, trong bất kỳ trường hợp nào, quá trình tăng trưởng kinh tế đều làm cho môi trường bị suy thoái Tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì môi trường suy thoái càng nhanh, tài nguyên thiên nhiên càng mau chóng bị cạn kiệt Đến lượt nó, sự ô nhiễm suy thoái môi trường lại cản trở khả năng tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tăng trưởng kinh tế không chỉ gây bất lợi cho môi trường tự nhiên mà còn mang lại lợi ích cho việc bảo vệ môi trường Ví dụ như cải thiện

hệ thống công nghệ do tăng trưởng mang lại, giúp giảm bới chi phí để ngăn ngừa những thiệt hại về môi trường, đồng thời nhờ tiến bộ của khoa học công nghệ con người có thể tìm ra những nguồn năng lượng mới, năng lượng sạch

có thể tái tạo được để thay thế cho các nguồn năng lượng hóa thạch ngày một cạn kiệt dần [8]

1.2 Các yếu tố quyết định LCF:

Các yếu tố quyết định đến dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài cácbon thấp có thể được chia làm hai nhóm yếu tố, đó là nhóm yếu tố đẩy nằm ở nước đi đầu tư, và nhóm yếu tố kéo nằm ở nước tiếp nhận đầu tư Các yếu tố đẩy là những yếu tổ nhằm thúc đẩy các công ty đầu tư ra nước ngoài, trong khi đó các yếu tố kéo lại ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư

1.2.1 Các yếu tố kéo:

Các yếu tố kéo là các yếu tố tại nước chủ nhà (nước tiếp nhận đầu tư)

mà có ảnh hưởng trực tiếp tới các quyết định của các TNCs, các yếu tố kéo được trình bày trong bài gồm có: yếu tố khuôn khổ chính sách, yếu tố kinh tế

và các thuận lợi trong kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư

a, Chính sách và môi trường của nước tiếp nhận đầu tư:

Trang 24

Các chính sách của nước chủ nhà là yếu tố kéo quan trọng ảnh hưởng tới dòng Low- carbon FDI Những chính sách bao gồm các chính sách tác động lên chức năng và cấu trúc thị trường (ví dụ chính sách về cạnh tranh, M&A và quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật), ngoài ra còn có các chính sách về quyền sở hữu trí tuệ, chính sách về công nghiệp, những chính sách thương mại (hàng rào thuế quan và phi thuế quan và chính sách về ổn định tỷ giá) Bên cạnh đó sự ổn định kinh tế, chính trị và xã hội cũng góp phần quan trọng trong việc lôi kéo các dòng Low-carbon FDI

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, yếu tố kéo này thể hiện ở những chính sách về môi trường như: các tiêu chuẩn môi trường, các loại thuế cácbon Những chính sách về công nghiệp liên quan đến tiêu chuẩn và hiệu quả sử dụng năng lượng, các chính sách về năng lượng như: yêu cầu sử dụng số lượng cụ thể năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong giỏ năng lượng được

sử dụng trong quá trình sản xuất Ngoài ra, còn có những chính sách về cơ chế tài chính trong và ngoài nước (chính sách về thị trường carbon, cơ chế tài chính công) Chính sách thương mại trong thu hút dòng LCF chính là những chính sách điều chỉnh những hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cácbon thấp, chẳng hạn như giảm thuế quan đối với trường hợp nhập khẩu hàng hóa hoặc các yếu tố đầu vào phục vụ cho các hoạt động sản xuất ít phát thải khí nhà kính [27, tr 154]

Trang 25

đổi khí hậu nên có những chính sách tạo thị trường cho các sản phẩm sạch, năng lượng sạch

- Mục tiêu tìm kiếm tài nguyên, trong đó liên quan tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thô, đối với các dòng low-carbon FDI các nguyên liệu này liên quan tới mặt trời, nước, gió, khí ga tự nhiên, các nguyên liệu hạt nhân và các kim loại quý cho pin mặt trời

- Mục tiêu tìm kiếm hiệu quả, dựa vào lợi thế so sánh khác nhau giữa các quốc gia nhằm khai thác tốt hơn nguồn lực toàn cầu Các nhà đầu tư Low-carbon FDI cố gắng nâng cấp công nghệ đối với các chi nhánh ở nước ngoài nhằm gia tăng việc khai thác những lợi thế so sánh đó

- Mục tiêu tìm kiếm chiến lược, hàm ý của mục tiêu này liên quan tới lợi thế cạnh tranh mới của những TNCs low-carbon, tìm kiếm các lao động có

kỹ năng và xây dựng cơ sở hạ tầng tiên tiến Đây chính là đòn bẩy cho sự tồn tại của các sản phẩm sạch, hoạt động R&D ở nước tiếp nhận đầu tư về các công nghệ sạch Các TNCs tìm kiếm chiến lược nhằm tham gia vào các thị trường mới nằm ngoài những hoạt động kinh doanh truyền thống của họ, họ mong muốn phát triển những thị trường chủ chốt trong việc sản xuất những sản phẩm sạch [27, tr 154-156]

c, Điều kiện thuận lợi trong kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư:

Những điều kiện thuận lợi tại nước tiếp nhận đầu tư bao gồm những hoạt động xúc tiến, khuyến khích đầu tư, việc cắt giảm những chi phí không cần thiết trong các thủ tục đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư Sự phát triển của các ngành công nghiệp bổ trợ, những điều khoản về xã hội và chương trình sau đầu tư tại nước chủ nhà cũng ảnh hưởng tới dòng LCF Để thu hút các dòng Low-carbon FDI này, các nước nên khuyến khích sản xuất hàng hóa sạch và cung cấp hiệu quả nguồn năng lượng, ngoài ra cần hỗ trợ và khuyến khích các hoạt động trên thị trường carbon [27, tr 156]

1.2.2 Các yếu tố đẩy:

Trang 26

a, Thị trường và điều kiện thương mại ở nước đầu tư:

Những hoạt động kinh doanh trong nước thường có sự hạn hẹp về quy

mô thị trường, tính cạnh tranh và các nguồn lực hạn chế, thì thị trường nước ngoài sẽ mang lại cho các công ty những cơ hội kinh doanh mới, khai thác được lợi thế so sánh có được từ các quốc gia khác và làm tăng doanh thu của các công ty Bên cạnh đó thị trường trong nước luôn sẵn có các sản phẩm và dịch vụ thay thế từ các công ty đối thủ, các đối tác và cả trong mạng lưới của TNCs Với thị trường nước ngoài, các công ty có cơ hội tiếp cận được khách hàng mới, đặc biệt đối với các công ty tận dụng được những cơ hội kinh doanh từ bối cảnh biến đổi khí hậu thì mở rộng phạm vi kinh doanh ra nước ngoài càng có ý nghĩa, bởi biến đổi khí hậu là bối cảnh chung toàn cầu và nó

có ảnh hưởng tới tất cả các quốc gia trên thế giới Những hiệp định thương mại giữa các nước cũng góp phần vào việc gia tăng các dòng LCF

Xu hướng tập trung tạo dựng một thương hiệu “xanh” là một trong những nguyên nhân tạo ra dòng Low-carbon FDI, bởi người tiêu dùng và chính phủ các nước ngày càng ý thức quan tâm đến vấn đề môi trường khi tiếp nhận một dòng vốn đầu tư [27, Tr 152]

b, Các quy định và chính sách của Chính phủ ở nước đầu tư:

Dòng Low-carbon FDI phụ thuộc vào khả năng phát triển công nghệ của các công ty, trong đó một phần là để thích ứng trước những chính sách trong nước Các quy định và chính sách của chính phủ trong nước liên quan tới năng lượng và môi trường, chẳng hạn như yêu cầu các tiêu chuẩn về xử lý rác thải, nhưng hạn chế về sử dụng năng lượng hóa thạch, hay các yêu cầu về sản phẩm cũng có những ảnh hưởng tích cực tới Low-carbon FDI Ngoài ra những ưu đãi về thuế của chính phủ trong nước đối với các nhà đầu tư Low-carbon hay thông qua con đường viện trợ chính thức (ODA) của các quốc gia chính là mở đường cho dòng vốn Low-carbon FDI chảy ra nước ngoài

Trang 27

Một số nước cũng khuyến khích các công ty ở nước họ xuất khẩu công nghệ và sản phẩm sạch hoặc mở rộng ra nước ngoài thông qua các khoản tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh bán hàng và các khoản đảm bảo đầu tư Từ đó gia tăng năng lực phát triển trong nước và hưởng lợi từ nền kinh tế nhờ quy mô Ngoài ra, ở một số các quốc gia phát triển đang triển khai chương trình hợp tác phát triển kỹ thuật với các quốc gia đang phát triển để thúc đẩy phát triển sạch và tạo thêm cơ hội cho xuất khẩu và đầu tư cho các công ty của họ trong các lĩnh vực như điện khí hóa nông thôn hay lĩnh vực năng lượng tái tạo

Trong các quốc gia đang phát triển (và một số các quốc gia phát triển) chiến lược phát triển sạch hay các chính sách và quy định cũng có thể hỗ trợ các TNCs của họ đầu tư ra nước ngoài [27, tr 152-153]

c, Chi phí sản xuất:

Đối với tất cả các doanh nghiệp, hạ thấp chi phí sản xuất luôn là một trong những mục tiêu quan trọng, sản xuất với phạm vi trong nước các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn lực và các yếu tố đầu vào, mặt khác chi phí lao động đang có xu hướng ngày một gia tăng Bên cạnh đó, thị trường quốc tế rộng lớn với nguồn lực dồi dào, trong bối cảnh biến đổi khí hậu thì một số năng lượng thế hệ công nghệ cao như năng lượng mặt trời, sức gió được sử dụng tốt hơn ở các quốc gia khác do chi phí sản xuất

ở nước đầu tư là cao Việc cải thiện hoạt động và hiệu quả sử dụng năng lượng, bao gồm cả việc cắt giảm chi phí từ nguyên vật liệu và tiết kiêm năng lượng cũng có thể có những ngoại ứng tích cực tới những doanh nghiệp tại nước tiếp nhận đầu tư, bởi vậy góp phần làm giảm phát thải khí nhà kính tại nước tiếp nhận đầu tư [27, tr 153]

d, Các điều kiện kinh doanh trong nước:

Trang 28

Xu hướng kinh doanh, áp lực của các nhà đầu tư và kỳ vọng của các bên liên quan đã trở thành một trong những yếu tố đẩy quan trọng cho dòng Low-carbon FDI LCF có thể bị ảnh hưởng bởi các tổ chức xã hội, đó là một trong những yếu tố gây áp lực cho các công ty trong lĩnh vực này, chẳng hạn như Tổ chức hòa bình xanh (greenpeace) đã yêu cầu Nestle (Thủy Sĩ), Unilever (Hà Lan và Vương quốc Anh) và Cargill (Hoa Kỳ) xem xét lại các hoạt động và các nhà cung cấp của họ đưa ra một bản báo cáo về những thiệt hại trong dự án trồng rừng ở Indonesia Để đối phó với những áp lực của các

tổ chức xã hội, một số các công ty tăng cường đưa ra các báo cáo về môi trường hoặc thông qua các tiêu chuẩn về môi trường cũng như các hệ thống quản lý môi trường (như ISO 14000) bao gồm các khía cạnh liên quan đến phát thải Các công ty trong các lĩnh vực như công nghiệp, vận tải, quản lý chất thải, nông nghiệp và lâm nghiệp đặc biệt nhạy cảm với áp lực của các tổ chức xã hội và các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, do đó các công ty này tăng cường tham gia vào các hoạt động về môi trường Các cổ đông cũng đang ngày càng kêu gọi sự minh bạch hơn trong việc đưa ra những rủi ro và

cơ hội do biến đổi khí hậu mang lại Xu hướng này đang nổi lên, một phần là

do xu hướng đầu tư có trách nhiệm đã tương đối phổ biến giữa các thể chế đầu tư lớn.[27, tr 153-154]

1.3 Một số tiêu chí để nhận diện Đầu tư trực tiếp cácbon thấp: 1.3.1.Tiêu chí xác định Low-carbon FDI:

Để đánh giá dòng vốn Low-carbon FDI không phải là việc đơn giản bởi thiếu phương pháp đo lường cụ thể, thống nhất Tuy nhiên, trên thế giới cũng

đã có những tiêu chuẩn về môi trường đối với sản phẩm, dịch vụ Trong đó đưa ra những tiêu chí đánh giá về sản phẩm, về quá trình sản xuất của một doanh nghiệp nhằm đo lường mức phát thải khí nhà kính

Những tiêu chuẩn về môi trường được sử dụng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia Châu Âu Tuy nhiên, ở Việt Nam do việc hạn chế về công nghệ cũng như thiếu những tổ chức chuyên nghiệp chuyên trách về vấn

Trang 29

đề này nên khó có thể áp dụng Do vậy, trong phần này tác giả đưa ra tiêu chí đánh giá dòng Low-carbon FDI để phù hợp với Việt Nam hơn Như trong phần trước đã nêu, một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cácbon thấp có thể giảm phát thải khí nhà kính thông qua hai con đường chính là thông qua quá trình sản xuất và thông qua quá trình tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp Dựa vào những cách giảm thiểu đó, tác giả đưa ra cách đo lường tập trung vào cả chu trình sản xuất của doanh nghiệp, trong đó bao gồm: sử dụng đầu vào, quá trình sản xuất và đầu ra sản phẩm Tại mỗi quá trình, tác giả đưa ra những tiêu chí mà qua đó sẽ giảm được lượng phát thải khí nhà kính

Hình 1.3: Quy trình sản xuất giảm thiểu phát thải khí nhà kính

Nguồn: Tác giả tổng hợp

a, Đối với đầu vào:

Đầu vào được đề cập trong bài bao gồm những nguyên liệu sản xuất sản phẩm Đầu vào được sản xuất là những đầu vào sạch, ít sử dụng những đầu vào hóa học gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Sử dụng những nguyên liệu tái chế Hạn chế sử dụng khai thác những tài nguyên thiên nhiên khó tái tạo như đất, khoáng sản … tại nước sở tại

Sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường

Sản phẩm tiết kiệm năng lượng

Sản phẩm sử dụng năng lượng tái tạo

Sản phẩm an toàn với sức khỏe

Hệ thống xử lý nước thải tiên tiến

Trang 30

b, Đối với quá trình sản xuất:

Một nhân tố quan trọng được đề cập trong quá trình sản xuất là công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất phải tiết kiệm năng lượng, sử dụng ít những năng lượng hóa thạch, tăng cường sử dụng những năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học như năng lượng gió, năng lượng mặt trời Ngoài ra, phải kiểm tra độ mới về mặt công nghệ, tức là phải xem xét những công nghệ sử dụng có phải hiện đại hay không hay đó là những công nghệ cũ, lạc hậu so với thế giới Những công nghệ sản xuất phải đạt các tiêu chuẩn ISO14000 về môi trường, hay đạt chứng chỉ nhãn sinh thái

c, Đối với sản phẩm đầu ra:

- Về mặt chất thải sản xuất, phải có nhà máy xử lý nước thải đạt các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường

xạ khi bao bì hoặc các phần dư được thiêu hủy hoặc chôn hủy

+ Chất lượng sản phẩm: Đảm bảo an toàn sức khỏe, được dán nhãn sinh thái môi trường Những sản phẩm điện tử phải tiết kiệm năng lượng hoặc

sử dụng những nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để hoạt động như năng lượng mặt trời, năng lượng gió

Trang 31

Như vậy, thông qua chu trình sản xuất có thể có các tiêu chí đánh giá khác nhau về dòng LCF Còn thể hiện ra hình thức bên ngoài, dòng LCF có thể được nhận diện thông qua các lĩnh vực đầu tư, qua các đối tác nhà đầu tư

và hình thức đầu tư cũng có thể cho biết có LCF hay không Căn cứ cách phân nhóm ngành của Tổ chức năng lượng thế giới(IEA) và Li(1990), có thể chia ra bốn nhóm ngành: Nhóm 1: ngành chiến lược và cường độ năng lượng cao như máy móc, chế tạo; Nhóm 2: ngành chiến lược và cường độ năng lượng thấp như điện tử, thiết bị vận tải, điện; Nhóm 3: ngành không chiến lược và cường độ năng lượng cao như dệt, cao su, in ấn, hóa chất, sản phẩm khai khoáng kim loại, kim loại cơ bản, dầu, than; Nhóm 4: ngành không chiến lược và cường độ năng lượng thấp như thực phẩm, da, gỗ Đồng thời kết hợp với đối tác đầu tư để nhận diện dòng LCF có được thực hiện không đó là các đối tác đến từ các nước phát triển, cam kết cắt giảm khí thải nhà kính, các nước đến từ các nước đang phát triển chưa cam kết và đang trong quá trình tiến tới cam kết

1.3.2 Dấu hiệu để nhận diện LCF vào các nước đang phát triển:

LCF đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính, đối phó với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, tất cả các dự án đầu tư ra nước ngoài không nhất thiết phải là LCF, trừ trường hợp đó là qui định của nước chủ nhà hoặc vì yêu cầu thực hiện qui định nghiêm ngặt về môi trường và phải thực hiện cam kết giảm phát thải của nước đi đầu tư

Ở các nước đang phát triển chưa có yêu cầu bắt buộc về tiêu chuẩn phát thải GHGs, dòng FDI thu hút vào có thể là LCF hoặc phi-LCF tùy thuộc rất nhiều vào lĩnh vực đầu tư và qui định về bảo vệ môi trường ở nước xuất xứ đầu tư FDI từ các nước đang phát triển sang các nước đang phát triển ít khả năng là LCF trừ khi nó được đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, cung cấp năng lượng tái tạo Còn FDI từ các nước phát triển vào các nước đang phát triển có thể là LCF kể cả khi nó không được đầu tư vào lĩnh vực này Ví dụ: các dự án

Trang 32

của những công ty xuyên quốc gia (TNCs) đã áp dụng công nghệ sạch và đang áp dụng qui định sạch trong toàn chuỗi cung ứng, hoặc dự án được chủ đầu tư thực hiện để tận dụng thu lợi từ việc bán CERs (Certified Emission Reductions) đóng góp vào thực hiện cam kết giảm phát thải CO2 của chính quốc theo cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism – CDM) Tuy nhiên, để thực hiện cam kết và yêu cầu về môi trường của nước mình, chủ đầu tư những dự án “bẩn”, có cường độ các - bon cao (phi-LCF) đã di chuyển dự án ra nước ngoài để lợi dụng qui định lỏng lẻo về môi trường, khi

đó các nước chủ nhà sẽ trở thành “thiên đường trú ẩn của ô nhiễm” (“Pollution Havens”)

Như vậy, dấu hiệu ban đầu để nhận diện LCF vào các nước đang phát triển là dựa vào lĩnh vực đầu tư và nước xuất xứ

1.3.3 Một số tiêu chuẩn quốc tế:

a, Hệ thống tiêu chuẩn khí thải Châu Âu:

Châu Âu chính là lục địa đầu tiên phát minh ra động cơ đốt trong, tạo

đà cho sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô thế giới Bên cạnh những lợi ích to lớn mà nó mang lại thì cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường Trước tình hình đó, Chính phủ các nước Châu Âu đã xây dựng một chương trình cắt giảm khí thải xe hơi vào năm 1970 Tuy nhiên đến năm 1987

dự luật này mới hoàn chỉnh quy định nồng độ giới hạn của các loại khí thải và được thông qua, người ta vẫn thường gọi đó là Euro 0 Trải qua 18 năm, thêm

4 tiêu chuẩn nữa được ban hành bao gồm: Euro I năm 1991, Euro II năm

1996, Euro III năm 2000 và Euro IV năm 2005 Với mỗi tiêu chuẩn mới ra đời, nồng độ giới hạn của khí thải lại thấp hơn tiêu chuẩn trước

Bảng 1.1: Tiêu chuẩn khí thải Châu Âu đối với xe khách

Số lượng hạn chế

Trang 33

Nguồn: Sain Gobain – Automotive Emission Control DPF 2010

Trong các tài liệu về hệ thống tiêu chuẩn Euro, giá trị nồng độ khí có thể khác nhau tùy theo cách đánh giá Cách thứ nhất xác định nồng độ khí thải theo hành trình của phương tiện bằng đơn vị “g/km” Cách thứ hai đánh giá theo công suất do động cơ sinh ra, lúc đó giá trị nồng độ khí thải có thứ nguyên “g/kWh” Bên cạnh kết cấu động cơ, lượng khí thải phụ thuộc rất lớn vào những yếu tố như: thời gian khởi động, tải trọng, vận tốc, độ ổn định của vận tốc và loại đường vận hành Nhằm đưa toàn bộ ảnh hưởng của những nhân tố trên vào mô hình hóa thực nghiệm, các nhà kiểm định đưa ra hai phương pháp: ESC (European Steady Cycle - Chu trình thực nghiệm ổn định)

và ETC (European Transient Cycle - chu trình thực nghiệm tức thời) Hệ thống tiêu chuẩn Euro thường xuyên được nghiên cứu, cập nhật theo tình hình

sử dụng ôtô ở các nước thành viên liên minh Châu Âu Những báo cáo về lượng xe hơi và nồng độ khí thải trong không khí là cơ sở để các nhà chức trách đưa ra những quy định mới do khoảng thời gian áp dụng của Euro thường không ấn định trước (ví như chỉ 3 năm sau khi có hiệu lực, Euro IV sẽ được thay thế bằng tiêu chuẩn mới, Euro V)

Những quy định hết sức khắt khe của Euro V khiến các hãng sản xuất ôtô lại tiếp tục thay đổi kết cấu động cơ nhằm tăng hiệu suất cháy, lắp đặt bộ chuyển hóa xúc tác (catalytic converter), thay đổi nguồn nhiên liệu và nghiên cứu thiết kế quy trình sản xuất thân thiện với môi trường Tuy nhiên, hệ thống tiêu chuẩn này chỉ áp dụng được với ngành ôtô, và chỉ áp dụng cho xe ô tô đã sản xuất chứ không đánh giá được cả quá trình sản xuất [24, 35]

b, Các tiêu chuẩn ISO 14000:

Trang 34

ISO 14000 là một bộ các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường, trong đó ISO 14001 và 14004 là các tiêu chuẩn về hệ thống quản lý môi trường Nếu ISO 14001 là các yêu cầu đối với hệ thống (mà theo đó, việc đánh giá chứng nhận các hệ thống quản lý môi trường sẽ được ban hành) thì ISO 14004 là các văn bản hướng dẫn xây dựng hệ thống theo các yêu cầu đó ISO 14000 được áp dụng trong mọi loại hình tổ chức, bất kể với quy mô nào Lợi ích của việc áp dụng ISO 14000:

- Ngăn ngừa ô nhiễm ISO 14001 hướng đến việc bảo toàn nguồn lực thông qua việc giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực Việc giảm chất thải sẽ dẫn đến việc giảm số lượng hoặc khối lượng nước thải, khí thải hoặc chất thải rắn Bên cạnh đó, nhiều trường hợp nồng độ ô nhiễm của nước thải, khí thải hoặc chất thải rắn được giảm về căn bản Nồng độ và lượng chất thải thấp thì chi phí xử lý thấp Nhờ đó giúp cho việc xử lý hiệu quả và ngăn ngừa được ô nhiễm

- Tiết kiệm chi phí đầu vào Việc thực hiện hệ thống quản lý môi trường sẽ tiết kiệm nguyên vật liệu đầu vào bao gồm nước, năng lượng, nguyên vật liệu, hóa chất… Sự tiết kiệm này sẽ trở nên quan trọng và có ý nghĩa nếu nguyên vật liệu là nguồn khan hiếm như điện năng, than, dầu …

- Chứng minh sự tuân thủ luật pháp Việc xử lý hiệu quả sẽ giúp đạt được những tiêu chuẩn pháp luật quy định và vì vậy, tăng cường uy tín của doanh nghiệp Chứng chỉ ISO 14001 là một bằng chứng chứng minh thực tế

tổ chức đáp ứng được các yêu cầu luật pháp về môi trường, góp phần mang lại uy tín cho tổ chức

- Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước Điều này rất

có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, việc xin chứng chỉ ISO 14001 là hoàn toàn tự nguyện và không thể được sử dụng như là một công cụ hàng rào phi thuế quan của bất kỳ nước nào nhập khẩu hàng hóa từ các nước

- Gia tăng thị phần Chứng chỉ ISO 14001 mang đến uy tín cho các doanh nghiệp, đây là một lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh biến đổi khí hậu [18, 23]

c, Nhãn sinh thái:

Trang 35

Nhãn sinh thái (ecolabel) là khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) thì khái niệm nhãn sinh thái được hiểu: “Nhãn sinh thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm dịch vụ so với các sản phẩm dịch vụ cùng loại dựa trên đánh giá về vòng đời sản phẩm”, còn theo tiêu chuẩn ISO lại đưa ra khái niệm: “Nhãn sinh thái là sự khẳng định, biểu thị thuộc tính môi trường của một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bản công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài liệu về sản phẩm, tạp chí kỹ thuật quảng cáo hoặc các hình thức khác” Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì nhãn sinh thái đều cho thấy mức độ giảm thiểu tác động xấu của sản phẩm đến môi trường trong tất cả các giai đoạn hoặc trong một giai đoạn vòng đời sản phẩm, từ lúc khai thác tài nguyên nhiên liệu để làm đầu vào cho quá trình sản xuất đến quá trình sản xuất đóng gói, sử dụng và loại bỏ sản phẩm đó Nhãn sinh thái chỉ cấp cho những sản phẩm có ít tác động xấu đến môi trường so với các sản phẩm khác có cùng chức năng Về bản chất, nhãn sinh thái là một thông điệp truyền tải tính ưu việt đối với môi trường của sản

phẩm [38]

d, Những tiêu chuẩn ở EU :

EU đã đưa ra những tiêu chuẩn về môi trường rất khắt khe, sau đây là tổng hợp một số tiêu chuẩn về một số sản phẩm, lĩnh vực kinh doanh mà các quốc gia EU áp dụng

EU Flower là một giấy chứng nhận đặc biệt nhằm giúp những người tiêu dùng ở các quốc gia Châu Âu có thể phân biệt và nhận ra đâu là những sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường EU Flower trở thành một biểu tưởng rộng rãi cho các sản phẩm và dịch vụ ở Châu Âu, nó cung cấp một phương pháp đơn giản nhưng chính xác cho những người tiêu dùng Tất cả các sản phẩm được chứng nhận EU Flower được kiểm tra bởi tổ chức độc lập tuân theo những tiêu chuẩn về sinh thái

Energy Star là một tiêu chuẩn quốc tế cho việc tiêu dùng sản phẩm mà

sử dụng năng lượng hiệu quả bắt nguồn từ Mỹ Nó được đưa ra lần đầu tiên như là một chương trình của chính phủ Mỹ trong suốt đầu thập kỷ 1990, nhưng Australia, Canada, Japan, New Zealand, Đài Loan và Châu Âu cũng áp

Trang 36

dụng chương trình này Những sản phẩm được dán nhãn Energy Start gồm các sản phẩm máy tính, thiết bị ngoại biên, dụng cụ nhà bếp và những sản phẩm khác thông thường sử dụng ít hơn từ 20 - 30% năng lượng so với yêu cầu

Bảng 1.2: Một số tiêu chuẩn về hàng hóa, dịch vụ được sử dụng ở EU

EU Flower hoặc các tiêu chuẩn tương tự

3 Điện năng Sử dụng 50% hoặc cao hơn nguồn năng lượng tái tạo

quần áo Theo tiêu chuẩn Oko-Tex 1000

7 Phương tiện Tối đa lượng CO2 phát thải theo tiêu chuẩn Euro 5

Nguồn: IISD International Institule for Subtanable Development 2010

Oeko Tex Standard 1000 được thành lập bởi các viện kiểm nghiệm danh tiếng trên thế giới, với tên Oeko Tex International – Hiệp hội kiểm nghiệm hàng may mặc thân thiện với môi trường Trụ sở chính của Hiệp hội kiểm nghiệm tại Zueruch,Thụy Sỹ Oeko Tex Standard 1000 là hệ thống kiểm nghiệm, kiểm tra và cấp chứng chỉ cho các xưởng sản xuất thân thiện với môi trường Tiêu chuẩn này xác định và đánh giá mức độ bảo vệ môi trường của các công ty sản xuất trong ngành may mặc Để thực hiện được việc cấp chứng chỉ cho một công ty nào đó theo Oeko Tex Standard 1000, thì công ty đó phải giữ, đạt được các chỉ tiêu nhất định trong việc bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất và phải chứng minh được ít nhất 30 % tổng sản lượng của

họ đã có chứng chỉ Oeko Tex Standard 1000 [22]

1.4 Vai trò của LCF đối với phát triển bền vững của nước nhận đầu tư:

Trang 37

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của một quốc gia, tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống, kinh tế

- xã hội và chính trị của nước tiếp nhận đầu tư Đối với những tác động của dòng Low-carbon FDI tới phát triển bền vững kinh tế của một quốc gia cũng tương tự Về kinh tế, FDI tác động đến tăng trưởng GDP, cán cân thanh toán, phúc lợi xã hội, thu nhập của người lao động và các chỉ tiêu kinh tế khác Về chính trị, đối với nhiều nước, tác động của FDI có thể là thông qua các công

ty đa quốc gia (TNCs) đóng vai trò chi phối, tham gia các bộ máy chính quyền của các nước này Về mặt xã hội, FDI có tác động đến văn hóa, đạo đức của nước tiếp nhận đầu tư Về mặt môi trường, Low-carbon FDI giảm thiểu những tác động tiêu cực mà những dòng FDI thường có Xét về khía cạnh phát triển kinh tế và căn cứ vào nội dung phát triển kinh tế thì FDI có tác động đến quy mô và chất lượng phát triển Xét trên góc độ phát triển bền vững của một quốc gia, luận văn tập trung vào tác động của Low-carbon FDIvào 3 trụ cột của phát triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường [20]

1.4.1 Tác động của FDI về mặt kinh tế:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ) Theo đánh giá của UNCTAD, hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào GDP của nước tiếp nhận đầu tư, tăng thu nhập của người lao động và làm cho sản lượng GDP tăng lên Những ngoại ứng tích cực từ hoạt động FDI qua hoạt động di chuyển vốn, công nghệ, kỹ năng và trình độ quản trị doanh nghiệp đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất và năng suất lao động của nước tiếp nhận đầu tư

Thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế cao thường gắn với tỷ lệ đầu tư cao Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư Vốn ngoài nước được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động đầu tư trực tiếp Đối với các nước

Trang 38

nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế Bên cạnh đó, các dòng Low-carbon FDI góp phần vào quá trình phát triển công nghệ ở nước tiếp nhận đầu tư Sản phẩm mới được áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, có hàm lượng khoa học cao sẽ kích thích tiêu dùng dẫn đến kích thích sản xuất và tăng thu nhập của nền kinh tế quốc dân Đối với các nước đang phát triển và kém phát triển, công nghệ giúp những nước này theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở những nước công nghiệp phát triển dựa trên lợi thế của những nước đi sau (kế thừa những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại) Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển khoa học – công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và năng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư thông qua hiệu ứng tích cực Đặc biệt, đối với những dòng LCF đầu tư vào công nghệ sạch giúp phát triển những công nghệ sạch ở nước tiếp nhận đầu tư

và giảm phát thải khí nhà kính FDI có tác động đến phát triển công nghệ của một quốc gia thông qua: chuyển giao công nghệ, phổ biến công nghệ và phát minh công nghệ Hơn thế nữa, LCF còn góp phần nâng cao chất lượng lao động và nâng cao nguồn nhân lực Trình độ, năng lực và kỹ năng của người lao động có tác động không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng của một quốc gia FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận đầu tư, liên quan đến cả số lượng và chất lượng của lao động Số lượng lao động ở đây được hiểu là vấn

đề giải quyết việc làm cho người lao động Đối với chất lượng lao động, FDI

đã làm thay đổi cơ bản, nâng cao năng lực, kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp thông qua: trực tiếp đào tạo lao động và gián tiếp nâng cao trình

độ lao động [20]

1.4.2 Tác động của LCF tới xã hội - môi trường:

Theo đánh giá của các tổ chức bảo vệ môi trường trên thế giới thì tốc

độ tăng trưởng kinh tế tỉ lệ thuận với tốc độ hủy hoại môi trường Nguyên nhân của tình trạng phá hủy môi trường chủ yếu là do trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp đã sử dụng những công nghệ lạc hậu, trình độ nhận

Trang 39

thức của người quản lý và người lao động đối với vấn đề bảo vệ môi trường còn yếu, nhất là chưa có hệ thống quản lý môi trường trong các doanh nghiệp Những tồn tại này chủ yếu xảy ra đối với các doanh nghiệp của nước đang phát triển và kém phát triển

Nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư với dòng vốn FDI sạch thường sở hữu những công nghệ sạch, tiên tiến và có hệ thống quản lý môi trường tốt hơn so với các doanh nghiệp trong nước Bên cạnh đó, khi cho phép các doanh nghiệp FDI đầu tư, các nước tiếp nhận đầu tư thường yêu cầu chặt chẽ vấn đề xử lý môi trường, tiêu chuẩn môi trường trong sản xuất Do vậy, dưới sức ép của nước tiếp nhận đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường trong quá trình sản xuất do nước tiếp nhận đầu tư đặt ra Điều này góp phần bảo vệ môi trường và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nước tiếp nhận đầu tư

Bên cạnh đó, như đã trình bày ở trên, dòng LCF có thể giảm phát thải khí nhà kính tại nước tiếp nhận đầu tư bằng hai cách đó là thông qua quá trình sản xuất: sử dụng công nghệ sạch hoặc sử dụng các yếu tố đầu vào làm giảm phát thải cácbon, hoặc thông qua việc sản xuất các sản phẩm và dịch vụ sạch, hoặc tác động lên các nhà cung cấp địa phương và các khách hàng của mình thông qua chuỗi giá trị Tất cả những điều này làm giảm thiểu những tác động tiêu cực không những từ hoạt động sản xuất mà còn cả hoạt động tiêu dùng gây ra đối với môi trường Đồng thời, việc áp dụng những công nghệ sạch, tiên tiến có lợi cho môi trường đã tạo nên những ngoại ứng tích cực đối với các doanh nghiệp trong nước và gây sức ép đối với các doanh nghiệp trong nước phải có biện pháp xử lý môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh từ phía Chính phủ Nhiệm vụ của các nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển là phải tối thiểu hóa ảnh hưởng tiêu cực của tốc độ tăng trưởng kinh tế đối với môi trường và tối đa hóa tác động có lợi của tăng trưởng kinh tế đối với môi trường [20]

1.5 Kinh nghiệm quốc tế:

Trang 40

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Năng lượng tái tạo đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong

sự phát triển của ngành năng lượng Trung Quốc Kể từ khi luật về năng lượng tái tạo được ban hành vào đầu năm 2005, công suất năng lượng gió đã tăng lên 30 lần, từ 0,8GW vào cuối năm 2004 tới 26GW vào cuối năm 2009 và đưa Trung Quốc đứng vị trí thứ hai trên thế giới sau Mỹ và vượt lên cả Đức, quốc gia nhiều năm liền ở vị trí dẫn đầu Mặc dù con số 26GW chỉ chiếm 3% trong tổng số công suất năng lượng của Trung Quốc (860GW năm 2009), nhưng năng lượng gió đã tăng trưởng nhanh nhất so với các công nghệ năng lượng khác trong nước

Ngành công nghiệp năng lượng tái tạo và thị trường năng lượng tái tạo trong nước đã phát triển một cách đáng kể từ khi Luật về năng lượng tái tạo ra đời vào năm 2005 và kế hoạch phát triển năng lượng tái tạo trung hạn và dài hạn vào năm 2007 Nguồn năng lượng từ gió và mặt trời đã trở thành những động lực mới cho tăng trưởng kinh tế tại nhiều vùng của Trung Quốc, nó đã đáp ứng được nhu cầu năng lượng ở địa phương và tạo ra việc làm cho người lao động Sau đây là tổng quan về năng lượng tái tạo điển hình ở Trung Quốc, năng lượng từ gió

a, Tổng quan về công nghiệp năng lượng phát điện từ gió của Trung Quốc:

Năng lượng gió đã có sự tăng trưởng hàng năm chưa từng thấy, tổng công suất tăng lên gấp đôi mỗi năm trong vòng bốn năm kể từ năm 2005 Vào cuối năm 2008, tổng công suất của năng lượng gió đạt được là 12GW, vượt qua cả công suất của năng lượng hạt nhân (9,1GW)

Việc sử dụng năng lượng gió ở Trung Quốc có thể chia làm hai hướng:

sử dụng không có điện lưới và sử dụng có điện lưới Những tuốc bin nhỏ sử dụng không có điện lưới đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lượng gió của Trung Quốc Vào cuối năm 2008, có 74 tổ chức trong đó

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Tuấn Anh (2009), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế đối ngoại, ĐH Kinh Tế - ĐH Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội
Tác giả: Trương Tuấn Anh
Năm: 2009
2. Ban chấp hành Trung Ƣơng (2010), Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020
Tác giả: Ban chấp hành Trung Ƣơng
Năm: 2010
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2010), Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng đầu năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng đầu năm 2010
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
Năm: 2010
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Báo cáo môi trường quốc gia 2009 Môi trường công nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2009 Môi trường công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Cục khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (2011), Hiệp ước Copenhagen là sự khởi đầu cần thiết, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp ước Copenhagen là sự khởi đầu cần thiết
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Cục khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu
Năm: 2011
8. Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Kinh tế học tài nguyên môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình Kinh tế học tài nguyên môi trường
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9. Nguyễn Thị Liên Hoa, Trần Phương Hồng Hạnh, Bùi Anh Chinh (2010), Thu hút FDI sạch cho phát triển bền vững kinh tế Việt Nam, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế Trung Ƣơng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút FDI sạch cho phát triển bền vững kinh tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Liên Hoa, Trần Phương Hồng Hạnh, Bùi Anh Chinh
Năm: 2010
10. Nguyễn Văn Liễu (2003), Môi trường với sự phát triển bền vững, Tạp chí khoa học số, 2003(6), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường với sự phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Văn Liễu
Năm: 2003
11. Phùng Xuân Nhạ (2010), Điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Phùng Xuân Nhạ
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
16. Thời báo Kinh tế Sài Gòn online (2009), Trao giải "Saigon Times Top 40 - Giá trị xanh 2009", TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saigon Times Top 40 - Giá trị xanh 2009
Tác giả: Thời báo Kinh tế Sài Gòn online
Năm: 2009
17. Nguyễn Hữu Thắng (2011), FDI 2010: Kết quả và việc cần làm tiếp, Tạp chí kinh doanh số tết 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI 2010: Kết quả và việc cần làm tiếp
Tác giả: Nguyễn Hữu Thắng
Năm: 2011
18. Tiêu chuẩn Việt Nam (2005), Hệ thống quản lý môi trường – các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống quản lý môi trường – các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 2005
19. Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám Thống kê 2009, Nxb Thống kê Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê 2009
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà Nội
Năm: 2009
20. Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nxb Tƣ Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Nxb Tƣ Pháp
Năm: 2005
21. WTO Việt Nam (2010), Nghiên cứu phân tích tình hình kinh tế Việt Nam: Lượng FDI trong năm 2010 vào Việt Nam có điểm mới.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân tích tình hình kinh tế Việt Nam: "Lượng FDI trong năm 2010 vào Việt Nam có điểm mới
Tác giả: WTO Việt Nam
Năm: 2010
22. Frontier of Energy and Power Engineering in China (2010), Renewable Power for China: Past, present and future, Vol.4, No.3, pp 287 – 294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Renewable Power for China: Past, present and future
Tác giả: Frontier of Energy and Power Engineering in China
Năm: 2010
23. International Institute for Sustainable Development (2010), Attracting and Crowding for Low-carbon Development, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attracting and Crowding for Low-carbon Development
Tác giả: International Institute for Sustainable Development
Năm: 2010
24.ISO Central Secretariat (2009), the ISO 14000 family of International Standards, Environmental Management Sách, tạp chí
Tiêu đề: the ISO 14000 family of International Standards
Tác giả: ISO Central Secretariat
Năm: 2009
25. SAIN-GOBAIN (2010), Emission standard in the Europea Union for Passenger cars and Light dulty vehicles, Unatied Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emission standard in the Europea Union for Passenger cars and Light dulty vehicles
Tác giả: SAIN-GOBAIN
Năm: 2010
27. United Nation Conference on Trade and Development (2010), World Investment Report 2010, pp. 99 – 160.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Investment Report 2010
Tác giả: United Nation Conference on Trade and Development
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Hình 1.1  Giới  thiệu  về  quá  trình  sản  xuất  low-carbon  nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính dọc theo  chuỗi giá trị - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
1 Hình 1.1 Giới thiệu về quá trình sản xuất low-carbon nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính dọc theo chuỗi giá trị (Trang 7)
Hình 1.1: Giới thiệu về quá trình sản xuất low-carbon nhằm giảm thiểu   phát thải khí nhà kính dọc theo chuỗi giá trị - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Hình 1.1 Giới thiệu về quá trình sản xuất low-carbon nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính dọc theo chuỗi giá trị (Trang 16)
Hình 1.3: Quy trình sản xuất giảm thiểu phát thải khí nhà kính - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Hình 1.3 Quy trình sản xuất giảm thiểu phát thải khí nhà kính (Trang 29)
Bảng 1.3: Bảng tổng hợp số lƣợng sản xuất, công suất,  sản lượng, thuế, xuất khẩu của tua bin gió không có điện lưới - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 1.3 Bảng tổng hợp số lƣợng sản xuất, công suất, sản lượng, thuế, xuất khẩu của tua bin gió không có điện lưới (Trang 41)
Bảng 2.5: Đầu tư FDI theo địa phương (tính đến 21/12/2010) TT  Địa phương  Số dự án  Tổng vốn đầu tƣ - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.5 Đầu tư FDI theo địa phương (tính đến 21/12/2010) TT Địa phương Số dự án Tổng vốn đầu tƣ (Trang 49)
Bảng 2.6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức  (tính đến 21/12/2010) - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức (tính đến 21/12/2010) (Trang 50)
Bảng 2.7: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI phân theo ngành kinh tế   (cộng dồn đến 21/12/2010) - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.7 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI phân theo ngành kinh tế (cộng dồn đến 21/12/2010) (Trang 51)
Bảng 2.9: Số vốn FDI của các nhà đầu tƣ Đông Bắc Á   (tính đến 21/12/2010) - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.9 Số vốn FDI của các nhà đầu tƣ Đông Bắc Á (tính đến 21/12/2010) (Trang 54)
Bảng 2.10: Một số dự án FDI lớn của Hàn Quốc tại Việt Nam - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.10 Một số dự án FDI lớn của Hàn Quốc tại Việt Nam (Trang 55)
Bảng 2.11:  Một số dự án đầu tƣ FDI lớn của Nhật Bản vào Việt nam - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.11 Một số dự án đầu tƣ FDI lớn của Nhật Bản vào Việt nam (Trang 57)
Bảng 2.12: Số vốn FDI của các nhà đầu tƣ chủ yếu Châu Âu  (tính đến 21/12/2010) - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.12 Số vốn FDI của các nhà đầu tƣ chủ yếu Châu Âu (tính đến 21/12/2010) (Trang 58)
Bảng 2.13: Số vốn FDI của các nhà đầu tƣ chủ yếu từ các quốc gia khác   (tính đến 21/12/2010) - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.13 Số vốn FDI của các nhà đầu tƣ chủ yếu từ các quốc gia khác (tính đến 21/12/2010) (Trang 59)
Bảng 2.14: Một số dự án giảm thiểu các bon trong quá trình sản xuất - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.14 Một số dự án giảm thiểu các bon trong quá trình sản xuất (Trang 61)
Bảng 2.15: Một số dự án tiết kiệm năng lƣợng trong quá trình sản xuất - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.15 Một số dự án tiết kiệm năng lƣợng trong quá trình sản xuất (Trang 62)
Bảng 2.16: Một số dự án hướng tới bảo vệ môi trường trong sản xuất - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.16 Một số dự án hướng tới bảo vệ môi trường trong sản xuất (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w