ODA của các nước nói chung, của Nhật Bản nói riêng và tác động của ODA đối với sự phát triển kinh tế của Việt nam là một đề tài được bàn luận khá sôi nổi.. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
-
Phùng Tuệ Phương
TÀI TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
CỦA NHẬT BẢN CHO VIỆT NAM.
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
HÀ NỘI - 2002
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
********
Phùng Tuệ Phương
TÀI TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
CỦA NHẬT BẢN CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 5 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Duy Dũng
HÀ NỘI - 2002
Trang 3MỤC LỤC Bảng thuật ngữ viết tắt
Mở đầu
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ODA VÀ ODA CỦA NHẬT BẢN
1.1 Một số vấn đề chung về ODA
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của ODA
1.1.3 Phân loại ODA
1.1.4 Các đặc trưng cơ bản của ODA
1.1.5 ODA và vai trò của nó đối với các nước
1.2 Khái quát chung về ODA Nhật Bản
1.2.1 Những đặc điểm chủ yếu của ODA Nhật Bản
1.2.2 ODA của Nhật Bản cho thế giới
1.2.3 Quy mô và cơ cấu phân bổ ODA của Nhật Bản
Kết luận chương I
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG ODA CỦA
NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM
2.1 Các nhân tố tác động đến ODA của Nhật Bản cho Việt Nam
2.1.1 Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản
2.1.2 Mục đích viện trợ ODA của Nhật Bản
2.1.3 Thay đổi trong chính sách đối ngoại và chính sách ODA của Nhật
2.1.4 Những thay đổi trong kinh tế Nhật Bản và ở các nước đang phát
triển
2.2 Tình hình tiếp nhận và sử dụng ODA Nhật Bản ở Việt Nam
2.2.1 Tổng quan ODA của các đối tác viện trợ quốc tế cho Việt Nam
2.2.2 Quy mô và cơ cấu phân bổ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam
2.2.3 Tình hình tiếp nhận và sử dụng ODA Nhật Bản cho Việt Nam từ
năm 1992 đến nay
- Viện trợ chung
- Viện trợ cho vay
2.2.4 Tình hình giải ngân ODA Nhật Bản ở Việt Nam
2.3 Tác động của ODA Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế của Việt
Trang 4Kết luận chương II
CHƯƠNG III QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
NHẰM THU HÚT, SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ ODA NHẬT BẢN
TẠI VIỆT NAM
3.1 Triển vọng viện trợ của ODA Nhật Bản cho Việt Nam trong thời gian
3.3.1 Về phía Việt Nam
3.3.2 Về phía đối tác tài trợ
Trang 5BẢNG THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát Triển Châu Á
DAC Uỷ ban viện trợ phát triển của OECD
EU Liên minh Châu Âu
FAO Tổ chức lương thực thế giới
GDP Tổng thu nhập quốc nội
IMF Quỹ tiền tệ thế giới
JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
JBIC Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản
MITI Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế
NGOs Các tổ chức phi chính phủ
ODA Viện trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài:
Khi phân tích con đường phát triển của nước ta trong thời gian tới, văn kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 9 đã chỉ rõ “ Từ Đại hội 8 của Đảng năm 1996, đất nước ta đã chuyển sang chặng đường mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp” (trích văn kiện ĐHĐ Tr.85) Để thực hiện thành công nhiệm vụ nói trên quả là vô cùng khó khăn nhất là đối với Việt Nam đi lên từ một nước có nền nông nghiệp còn lạc hậu Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước Rõ ràng, ngoài việc khai thác các nguồn vốn, nguồn nội lực trong nước thì việc tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài là hết sức cần thiết và quan trọng, đặc biệt là nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA)
từ các nước lớn trong khu vực và trên thế giới Cùng với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hơn mười năm qua nước ta đã tranh thủ được khá lớn các nguồn tài trợ ODA của các nước Có thể nói nguồn vốn ODA đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam Những thành tựu về kinh tế-xã hội mà Việt Nam đạt được trong mấy năm qua là nhờ nỗ lực to lớn của Chính phủ và nhân dân nhưng đồng thời cũng là nhờ sự giúp đỡ quí báu của các đối tác tài trợ, cộng đồng quốc tế qua việc cam kết thực hiện ODA
Nhật Bản hiện nay là nước cung cấp tài trợ ODA lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là nước tài trợ ODA nhiều nhất cho nước ta Nguồn vốn ODA của Nhật Bản đã thực sự đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển cơ sở hạ tầng, các ngành
Trang 7công nghiệp chủ chốt của Việt Nam Tuy nhiên, xung quanh ODA của Nhật Bản còn nhiều vấn đề cần xem xét ở cả khía cạnh vĩ mô và vi mô Việc phân tích một cách sâu sắc và đầy đủ hơn tình hình tiếp nhận và sử dụng cũng như tác động của ODA đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này là hết sức cần thiết Chính vì lý do đó
tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn là : “Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của
Nhật Bản cho Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
ODA của các nước nói chung, của Nhật Bản nói riêng và tác động của ODA đối với sự phát triển kinh tế của Việt nam là một đề tài được bàn luận khá sôi nổi Vấn đề này được tiếp cận và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, hoặc gián tiếp thông qua việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam-Nhật Bản hoặc trực tiếp bàn luận về ODA và những vấn đề có liên quan Trong đó có một số công trình đã được xuất bản ở Việt Nam như “Tăng cường hiểu biết và hợp tác Nhật Bản” (NXB Giáo Dục 1995-1996), “Triển vọng kinh tế Nhật Bản trong thập niên đầu thế kỷ 21” (GS.TS Dương Phú Hiệp; 2001), ”25 năm quan hệ Việt Nam-Nhật Bản” (Các tác giả Dương Phú Hiêp - Ngô Xuân Bình - Trần Anh Phương; 1999), “Chính sách kinh tế của Nhật Bản ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương” (PGS TS Lê Văn Sang) và nhiều bài báo khác đăng trên các tạp chí chuyên ngành Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập nhiều đến tình hình ODA nói chung, ODA Nhật Bản nói riêng, thực trạng sử dụng ODA, phương hướng và cách thu hút ODA Tuy nhiên, với sự phát triển của quan hệ kinh tế giữa các nước nói chung, giữa Việt Nam-Nhật Bản nói riêng và do sự vận động của nền
Trang 8kinh tế Việt Nam với nhu cầu về vốn ngày càng tăng thì ODA của Nhật Bản cho Việt Nam vẫn là một đề tài có tính thời sự và thu hút sự quan tâm của các học giả và các nhà hoạch định chính sách Điều đó đòi hỏi cần phải đầu tư nghiên cứu đầy đủ toàn diện và sâu sắc hơn Hy vọng việc tiếp tục bàn luận bổ sung vấn
đề này sẽ góp phần hiểu biết đầy đủ hơn thực trạng sử dụng ODA của Nhật Bản
ở Việt Nam, đặc biệt đánh giá tác động của ODA ở nhiều khía cạnh để từ đó đưa
ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ODA Nhật Bản hiện nay và trong tương lai ở nước ta
3 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng tiếp nhận và sử dụng ODA của Nhật Bản ở Việt Nam
- Phân tích vai trò và tác động của ODA Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế của Việt nam
- Nêu lên những thách thức, khó khăn và đề xuất những giải pháp cụ thể để sử dụng ODA Nhật Bản có hiệu quả hơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Do tiếp cận từ góc độ kinh tế chính trị nên đối tượng nghiên cứu của đề tài
là những vấn đề cơ bản nhất ở tầm vĩ mô Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào đánh giá việc tiếp nhận và sử dụng ODA Nhật Bản cũng như tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn từ những năm 1990 đến nay Khi nghiên cứu ODA của Nhật Bản cho Việt Nam người ta thường phân chia thành ba giai đoạn khác nhau, giai đoạn 1 bắt đầu từ trước
Trang 91975 đến 1978 và giai đoạn hai bắt đầu từ 1979 đến 1990 người ta còn gọi là thời kỳ “đông cứng” và giai đoạn ba từ 1992 đến nay Ở đây nội dung của đề tài
sẽ tập trung nghiên cứu ODA của Nhật Bản cho Việt Nam từ 1990 đến nay bởi
vì đây là thời kỳ Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam sau nhiều năm gián đoạn và đây cũng là giai đoạn ODA Nhật Bản cho Việt Nam được duy trì và tăng lên khá đều đặn theo từng năm
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả đặc biệt chú ý đến một số phương pháp nghiên cứu hiện đại khác như: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp và khái quát hoá, hệ thống hoá
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích thực trạng tiếp nhận và sử dụng ODA Nhật Bản ở Việt Nam từ những năm 90 đến nay, luận văn sẽ làm rõ:
- Nêu lên những vấn đề đang đặt ra đối với các nước tiếp nhận ODA
- Làm rõ các khía cạnh tích cực và hạn chế của nguồn vốn ODA
- Phân tích đầy đủ hơn vai trò và tác động của nguồn vốn này đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn những năm 90 đến nay
- Đề xuất các giải pháp, chính sách thích hợp nhằm thu hút và sử dụng ODA nói chung và ODA Nhật Bản nói riêng một cách hiệu quả hơn
7 Kết cấu của luận văn
Trang 10Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ODA VÀ ODA CỦA NHẬT BẢN
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TÀI TRỢ ODA NHẬT BẢN CHO VIỆT NAM TỪ NHỮNG NĂM 90 ĐẾN NAY
CHƯƠNG III QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT, SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ ODA CỦA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ODA VÀ ODA CỦA NHẬT BẢN
1.1 Một số vấn đề chung về ODA
1.1.1 Khái niệm
Tài trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - gọi tắt là ODA) là tất cả các khoản tài trợ không hoàn lại, tài trợ hoàn lại hoặc các khoản tín dụng ưu đãi (nghĩa là cho vay với thời gian dài và lãi suất thấp) của các Chính phủ nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các tổ chức phát triển của Liên Hiệp Quốc bao gồm Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF); Chương trình Lương thực Thế Giới (WFP); Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO); Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA); Quỹ Trang thiết bị của Liên Hợp Quốc (UNCDF); Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO); Cao uỷ Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR); Tổ chức y tế Thế giới (WHO); Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA); Tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của LHQ (UNESCO); các tổ chức liên Chính phủ bao gồm: Liên minh Châu Âu (EU); Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD); Hiệp hội các nước ASEAN ; Các Tổ chức Tài chính Quốc tế bao gồm: Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB); Quỹ các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC); Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB) và Quỹ Phát triển Bắc
Âu (NID); Quỹ Kuwait, Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD) v.v gọi chung là các đối tác tài trợ nước ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ (chủ yếu là các nước đang phát triển) nhằm mục đích hỗ trợ các nước này phát triển kinh tế (ngoại trừ mục tiêu quân sự) Đây là một nguồn vốn rất quan trọng cho các quốc gia nhận viện trợ để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
Trang 12xã hội cũng như sử dụng vào các mục đích kinh tế xã hội mang tính cộng đồng khác (1) Nguồn vốn ODA đầu tư vào các nước này rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, trước hết hỗ trợ nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc
hậu
ODA được thực hiện thông qua việc chuyển giao các loại nguồn vốn (như trợ giúp bằng tiền, vật tư, thiết bị ), chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức (tư vấn, cung cấp chuyên gia, đào tạo cán bộ ), từ các tổ chức Quốc tế, các nước công nghiệp phát triển Vốn tài trợ có thể có hoàn lại hoặc không hoàn lại với điều kiện ưu đãi nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tăng phúc lợi xã hội của các nước đang phát triển Đối với Việt Nam ODA được coi như là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng được ưu tiên sử dụng cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của ODA
Thực ra, hình thức trợ giúp giữa các nước đã xuất hiện từ lâu Song, chỉ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay sự giúp đỡ chính thức của các nước được quan tâm nhiều hơn và trở thành một hoạt động thường xuyên Người ta cho rằng, sau năm 1945 hình thức cứu trợ lương thực, thực phẩm của Mỹ cho các nước được coi như là hình thái sơ khai của ODA Dù rằng, sự trợ giúp này mang tính chất ngắn hạn với khối lượng hạn chế song, thực sự đã có ý nghĩa to lớn đối với các nước trong việc giải quyết kịp thời khó khăn Dần dần, sự trợ giúp này được mở rộng và bằng nhiều hình thức và mục đích khác nhau, đặc biệt nổi bật là tài trợ để giúp đỡ các nước khôi phục và phát triển kinh tế
-
Trang 13(1). Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức do Chính phủ ban hành ngày 15/03/1994.
Năm 1960 tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển gọi tắt là OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) ra đời trong đó thành lập Uỷ ban viện trợ và phát triển DAC (Development Assistance Committee) gồm các thành viên là các đối tác tài trợ với mục đích giúp đỡ các nước nghèo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của mình Với sự phát triển kinh tế nhanh chóng khoảng cách giữa các nước TBCN và các nước nghèo ngày càng gia tăng, do vậy
sự trợ giúp ngày càng trở nên cần thiết hơn Điều này không chỉ xuất phát từ yêu cầu của các nước nghèo mà từ chính lợi ích của các nước phát triển và của thế giới Không chỉ có Mỹ, các nước châu Âu mà Nhật Bản cũng nhanh chóng trở thành nhà tài trợ ODA hàng đầu Ngoài ra, khi nghiên cứu sự ra đời và phát triển của ODA cũng cần phải nói đến sự trợ giúp to lớn của các nước XHCN trước đây, đặc biệt là Liên Xô cũ đối với các nước chậm phát triển Ngày nay, mặc dù thế giới đã có những bước tiến nổi bật nhất là trong kinh tế, song một bộ phận dân cư đông đảo của thế giới vẫn còn sống trong nghèo khổ, bệnh tật Vì vậy, tài trợ ODA của các nước là sự trợ giúp hết sức quan trọng Sự trợ giúp này không chỉ tạo điều kiện để các nước nghèo nhanh chóng thoát khỏi khó khăn mà còn giúp đỡ tạo lập sự ổn định và phát triển chung của thế giới Cùng với thời gian, ODA ngày càng khẳng định vai trò của nó trong xu thế toàn cầu hoá, nhằm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các nước, xây dựng một thế giới an toàn, ổn định và phát triển
1.1.3 Phân loại ODA
Trang 14Để hiểu rõ hơn về ODA cần thiết phải tìm hiểu các loại hình ODA Trên thực tế tính chất và mục đích viện trợ ODA rất đa dạng, phạm vi rộng, được cụ thể trong các chương trình dự án của nước nhận viện trợ ODA và đối tác cấp ODA, vì thế việc phân loại một cách thống nhất gặp nhiều khó khăn Hơn thế nữa, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với các điều kiện, quan điểm chiến lược khác nhau của nhiều nước và các tổ chức tài trợ nên việc phân loại ODA còn nhiều phức tạp Tuy nhiên, có thể nêu lên các loại hình chủ yếu của ODA như sau:
- Theo điều kiện
a ODA không ràng buộc: Việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
b ODA có ràng buộc:
- Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước ngoài tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương)
- Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một dự án cụ thể
Trang 15c ODA có ràng buộc một phần: Một phần chỉ ở nước cấp viện trợ, phần còn lại
c Hỗ trợ kỹ thuật: Tăng cường năng lực, thể chế, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu cơ bản (nghiên cứu tổng quan, lập kế hoạch, báo cáo khả thi ) Hỗ trợ kỹ thuật thường gồm cung cấp chuyên gia, đào tạo cán bộ, cung cấp trang thiết bị và được gọi là hỗ trợ
kỹ thuật kiểu dự án (Project-type technical Co-operation)
d Hỗ trợ chi phí: Gồm hỗ trợ cán cân thanh toán : thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ), hỗ trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ trả nợ Viện trợ chương trình là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào
1.1.4 Các đặc trƣng cơ bản của ODA
ODA là sự chuyển giao không hoàn lại hoặc có hoàn lại với những điều kiện ưu đãi nhất định được trích một phần từ tổng sản phẩm quốc dân của nước giàu sang các quốc gia đang phát triển, hoặc kém phát triển, trong đó chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn Nước tiếp
Trang 16nhận ODA thường được ưu đãi về lãi suất, thời gian cho vay, ân hạn và trả nợ Tài trợ ODA không chỉ trực tiếp hỗ trợ cho các nước đang phát triển nói riêng
mà còn vì mục đích của sự phát triển toàn cầu nói chung Từ những qui định, mục tiêu và kết quả của viện trợ quốc tế có thể nêu lên một số đặc trưng chủ yếu của nguồn vốn ODA như sau:
+ ODA là một khoản tài trợ nợ (trừ những khoản tài trợ không hoàn lại), tuy nhiên, không giống như các khoản tài trợ nợ khác như trái phiếu, vay tín dụng ngân hàng, các khoản ODA sẽ trả gốc lẫn lãi nhưng với những điều kiện ưu đãi hết sức đặc biệt
+ ODA là nguồn vốn ưu đãi do tỷ lệ cho không của nó rất cao Theo WB, để được gọi là ODA thì khoản viện trợ phải có tỷ lệ cho không lớn hơn hoặc bằng 25% Các khoản tín dụng cho vay thường có thời gian ân hạn dài, lãi suất cho vay thấp
+ Đối tượng nhận viện trợ ODA là các nước đang phát triển, chậm phát triển và các nước nghèo Chỉ có các nước có đủ điều kiện, tiêu chí do các tổ chức tài trợ đặt ra thì mới được nhận ODA Những nước được nhận ODA thường là những nước có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 1000 USD/năm, nhưng mức độ cũng tuỳ điều kiện do đối tác tài trợ đặt ra có khác nhau Mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia được coi là tiêu chí quan trọng khi quyết định viện trợ ODA Ngoài các nước tài trợ ODA, thì các tổ chức tài chính quốc tế cũng là những nhà cung cấp ODA lớn cho các nước nghèo WB, IMF quy định nước được nhận ODA là những nước có thu nhập bình quân đầu người nhỏ hơn 750USD/năm, thời hạn là 40 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất là 0,75%/năm; ADB
Trang 17lại quy định thu nhập bình quân đầu người là dưới 650USD/năm Còn Nhật Bản thì qui định thu nhập bình quân đầu người là dưới 1135USD/năm Ngoài ra, thường ODA chỉ viện trợ cho các nước đang phát triển khi những nước này cam kết thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo tiến trình và tiêu chuẩn mà các tổ chức này yêu cầu
+ ODA có tính chất phức tạp riêng nên khả năng chủ động sử dụng nó ở các nước nhận tài trợ thường thấp hơn các nguồn vốn khác Mỗi một nhà tài trợ có một quy định và thủ tục cung cấp ODA khác nhau ODA vốn vay có nhiều hình thức kết hợp khác nhau và quy chế thực hiện cũng rất phức tạp và đa dạng Đặc biệt, đối với những loại tài trợ cho vay có ràng buộc hoàn toàn hoặc một phần thì
dù có ưu đãi hơn về thời gian và lãi suất nhưng lại kèm theo nhiều điều kiện khắt khe khác về giá trị dự án, dịch vụ của đối tác cấp tài trợ, thu nhập bình quân
+ Về mục đích đầu tư vốn, ODA chủ yếu là tài trợ cho các dự án tập trung vào hai lĩnh vực là đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế và cơ sở hạ tầng xã hội Nói cách khác, ODA chủ yếu được sử dụng cho các lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy ít thu được lợi nhuận và cần thời gian dài để thu lại vốn Đó là các dự án hạ tầng kinh tế thuộc các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, hải cảng, viễn thông, thuỷ lợi, nước sạch các dự án hạ tầng xã hội như y tế, dân số,
kế hoạch hoá gia đình, phát triển giáo dục, chuyển dịch cơ cấu, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường, hỗ trợ ngân sách
+ ODA là nguồn viện trợ gắn liền với các mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội Thường thì các nhà tài trợ bắt buộc các nước nhận viện trợ phải thực hiện các
Trang 18yêu cầu do họ đặt ra, nhiều khi rất khắt khe và khó thực hiện thậm chí đi ngược lại với những lợi ích của thể chế chính trị đang tồn tại Có những đối tác tài trợ ODA sử dụng nó như là công cụ bắt buộc các nước tiếp nhận thay đổi các chính sách kinh tế, xã hội, đối ngoại để phục vụ lợi ích của bên viện trợ, trong đó phổ biến nhất là các điều kiện tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp của nước tài trợ thâm nhập vào thị trường Vì vậy, các quốc gia nhận tài trợ phải có sự linh hoạt và năng động, tỉnh táo để vừa đảm bảo lợi ích của các nhà tài trợ, tranh thủ được sự tài trợ ở mức cao nhất và tránh lệ thuộc quá nhiều vào bên ngoài cũng như những tổn thất không đáng có đối với cả hệ thống chính trị và kinh tế trong nước Cần hiểu rằng, ODA không phải là quà tặng, ngay cả những khoản viện trợ không hoàn lại cũng có những điều kiện nhất định của nó Lợi ích chính trị luôn đi đôi với lợi ích kinh tế và vì mục tiêu cuối cùng là tăng cường phát triển kinh tế song song với quan hệ chính trị trên cơ sở hợp tác, đối thoại, phát triển và phồn vinh
1.1.5 ODA và vai trò của nó đối với các nước:
Không thể phủ nhận một thực tế là tài trợ ODA đã góp phần phát triển ổn định nền kinh tế - xã hội và cải thiện mức sống ở các nước tiếp nhận Tuy nhiên, ODA còn có lợi trực tiếp hoặc gián tiếp cho bản thân nước cung cấp ODA Các nước viện trợ không cung cấp vô tư các khoản viện trợ, đó không đơn thuần là một sự viện trợ để giúp nước nghèo thoát khỏi lạc hậu, nghèo đói để cùng nhau phát triển Chúng ta phải nhận ra rằng, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế là một thực tế khách quan Vì vậy, sự ổn định và phát triển hơn nữa của các nước nhất là các nước đang phát triển là hết sức cần thiết
Trang 19cho hòa bình và ổn định trên toàn cầu Do vậy, chúng ta cần phải đánh giá hết sức khách quan vai trò và tác dụng của ODA đối với cả nước tài trợ cũng như nước nhận tài trợ để từ đó có những định hướng đúng đắn trong việc tiếp nhận và
sử dụng ODA trong tương lai
+ Đối với nước tài trợ:
Động cơ thực hiện các hoạt động ODA là luôn bao hàm các dụng ý xuất phát
từ lợi ích kinh tế, lợi ích bản thân và ý đồ chính trị nhất định của các nước tài trợ
để hỗ trợ cho các nước tiếp nhận tài trợ Điều này khác với đầu tư trực tiếp được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và do cơ chế của nước tiếp nhận đầu tư qui định Tài trợ phát triển chính thức trước hết được thực hiện trong khuôn khổ chính sách và theo thể lệ của bên tài trợ qui định Và lẽ dĩ nhiên, lợi ích kinh tế của những nước tài trợ cũng gắn liền với chính sách, khối lượng ODA và thời điểm cam kết cho các nước nhận tài trợ Trong điều kiện ngày nay, khi các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia đang tăng lên thì nhiều vấn đề nan giải có tính chất toàn cầu đang đặt ra là nghèo đói, môi trường, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố đòi hỏi các nước cần phải có nhiệm vụ phối hợp giải quyết Tính chất liên kết, phụ thuộc càng tăng thì giải quyết những vấn đề đã nêu không còn là lợi ích và công việc của một quốc gia riêng biệt nào Hơn thế nữa, mục tiêu tài trợ còn mang tính chất nhân đạo hết sức cao cả đó chính là lối cư xử giữa con người với con người trong xã hội văn minh Ngoài những ý nghĩa nhân đạo
và hợp tác như mục đích ODA đề ra thì các khoản ODA cho các nước nhận tài trợ cũng đem lại cho những nước viện trợ những lợi ích không nhỏ Các nước này có thể tăng cường và nhanh chóng mở rộng hoạt động kinh tế của mình ra bên ngoài ODA sẽ giúp các nhà đầu tư của nước tài trợ có cơ hội tìm kiếm và đa
Trang 20dạng hoá thị trường xuất khẩu của mình qua những dự án ODA được thực hiện tại các nước đang phát triển ODA gián tiếp hỗ trợ các nhà kinh doanh của nước tài trợ mở rộng thương mại và đầu tư trên thế giới; ODA không chỉ giúp cho các nước nhận viện trợ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá mà còn tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho phía các nhà tài trợ Các nhà đầu tư của các nước tài trợ sẽ bị hấp dẫn không chỉ vì họ tìm thấy những thị trường đầy triển vọng mà chính sự hỗ trợ của chính phủ nước họ qua ODA đã tạo ra sự tin cậy và đảm bảo an toàn nguồn vốn mà các nhà kinh doanh của nước tài trợ bỏ vào Sự gia tăng mậu dịch và đầu tư của cộng đồng các nhà tài trợ đi đôi với sự tăng lên ODA vào các nước nhận tài trợ là sự minh chứng cho hiệu quả mà ODA đưa lại Một trong những vai trò quan trọng của ODA là còn giúp tạo uy tín và vị thế của nước tài trợ trên thị trường quốc tế, tạo lập sự phụ thuộc
và ràng buộc đối với nước nhận viện trợ
+ Đối với nước nhận viện trợ:
Với các nước đang phát triển, khu vực đang đối mặt với nhiều khó khăn gay gắt về vốn, về công nghệ và xoá đói giảm nghèo thì sự giúp đỡ của các nước phát triển đối với họ là hết sức cần thiết và quý báu Việc chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nhất là chiến lược phát triển thị trường, hướng ra xuất khẩu đã đưa các nước đang phát triển trở thành những nước có tốc độ tăng trưởng cao và khá bền vững Như vậy, yêu cầu khách quan của những nước nhận viện trợ đã tìm kiếm được sự hỗ trợ và đáp ứng tích cực của phía cộng đồng các nước tài trợ Nhìn một cách tổng quát, ODA có vai trò bổ sung nguồn vốn cho các nước đang phát triển thực hiện các mục tiêu kinh tế của mình Tình trạng chung của các nước chậm phát triển là việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước còn rất nhỏ
Trang 21bé, kinh tế nghèo nàn lạc hậu, do mức tiết kiệm còn thấp Trong khi đó yêu cầu
về vốn, kỹ thuật rất lớn Do đó, các nguồn lực trong nước sẽ không thể đảm bảo thoả mãn những nhu cầu khách quan ấy Chính vì vậy, ODA được xem như là nguồn tài trợ rất quan trọng từ bên ngoài để có thể góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển kinh tế của những nước này Bên cạnh mục tiêu nhân đạo là trợ giúp các nước đang phát triển theo đuổi các mong muốn tăng cao tiết kiệm, tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước thì áp lực chính trị cũng không phải là vấn đề nhỏ đối với các nước tiếp nhận ODA Tác động của ODA đối với các nước nhận viện trợ thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- Hỗ trợ ngân sách, thúc đẩy cải cách kinh tế và bảo vệ môi trường ở những nước nhận viện trợ Hỗ trợ các nước này cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý, chuyển giao công nghệ
và phát triển nguồn nhân lực
- Với những mục tiêu cao cả và nhân đạo như đã đề ra trong Hiến chương ODA, có thể nói thông qua những hành động hợp tác của cộng đồng tài trợ quốc tế ODA đã giúp làm giảm tỷ lệ đói nghèo, xoá dần bất bình quyền nam
nữ, giảm tỷ lệ chết và sinh ở các nước nghèo qua đó nâng cao đời sống của nhân dân
- ODA giúp các nước nhận viện trợ có thể tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ mới từ các nước phát triển, góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá ở các nước này và do đó rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến Ngoài ra, ODA còn gián tiếp giúp các nước nhận viện trợ phát triển kinh
tế bền vững và qua đó có thể hội nhập được với tiến trình phát triển chung của khu vực và thế giới
Trang 221.2 Khái quát chung về ODA Nhật Bản
1.2.1 Những đặc điểm chủ yếu của ODA Nhật Bản
Nhật Bản tham gia vào chương trình Colombo (chương trình được thành lập với mục đích khuyến khích phát triển kinh tế xã hội trong những nước thuộc khu vực Á Phi thông qua sự hợp tác kỹ thuật) vào ngày 6 tháng 10 năm 1954 Từ
đó đến nay chính phủ Nhật Bản đã thực hiện và hợp tác với các nước theo các qui định của chương trình hợp tác Như chúng ta đã biết từ một nước kiệt quệ sau chiến tranh, chỉ sau vài thập niên Nhật Bản đã đứng vào hàng ngũ các nước phát triển Hơn thế nữa, Nhật Bản đã vươn lên trở thành nhà tài trợ ODA lớn nhất thế giới vào những năm cuối của thế kỷ 20 Nhìn chung, ODA của Nhật về
cơ bản cũng không khác là mấy so với các đối tác tài trợ song phương và đa phương khác Tuy nhiên, nghiên cứu Hiến chương cũng như thực tế ODA Nhật Bản thời gian qua cho phép chúng ta rút ra một số đặc điểm riêng nổi bật sau đây:
Thứ nhất, ODA Nhật Bản thực hiện trên nguyên tắc tiếp nhận yêu cầu từ các
nước nhận viện trợ Cơ cấu viện trợ ODA của Nhật Bản với tỷ lệ cao là viện trợ cho vay song phương thường chiếm 60% trong tổng số ODA, trong đó phần cho vay để phát triển cơ sở hạ tầng thường chiếm tỷ lệ cao (70-75%) và phần còn lại được thực hiện bằng viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật (chiếm 25-30%) tổng số ODA của Nhật Bản Phần viện trợ không hoàn lại của ODA Nhật Bản thường thấp hơn so với các nước thành viên DAC Năm 1993, trên tổng số 11,26 tỷ USD viện trợ của Nhật Bản cho thế giới viện trợ cho vay chiếm 31,5%, đóng góp cho các tổ chức quốc tế chiếm 28,6%, hợp tác kỹ thuật chiếm 22,8%
Trang 23và viện trợ không hoàn lại là 17,1% Mặc dù, số lượng ODA của Nhật Bản cho thế giới luôn đạt vị trí cao nhất, nhưng tỷ lệ ODA/GNP của Nhật Bản vẫn còn thấp hơn mức trung bình của các nước DAC Năm 1993, tỷ lệ ODA/GNP của Nhật Bản đứng vị trí thứ 18 trên tổng số 21 nước thành viên của DAC.Từ năm
1987, tỷ lệ này giao động từ 0,3% đến 0,32% nhưng đến năm 1994 tỷ lệ này giảm xuống còn 0,29%(1)
Thứ hai, Về mặt địa lý việc phân phối của ODA Nhật Bản chủ yếu tập trung vào
các khu vực riêng biệt nhất là Châu Á Nhật Bản ưu tiên cung cấp ODA cho các
Thứ ba, đối với ODA là loại viện trợ chung, thì phần hỗ trợ kỹ thuật chiếm phần
lớn như chuyển giao công nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua hoạt động của các chuyên gia Đối tượng chính của viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản là những lĩnh vực thuộc nhu cầu thiết yếu của con người như chăm sóc y tế, bao gồm cả viện trợ nhân đạo lương thực, thuốc men, phát triển cộng đồng và nông nghiệp và gần đây chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực
Trang 24Thứ tư, viện trợ ODA của Nhật Bản được cung cấp chủ yếu cho các dự án thuộc
lĩnh vực ưu tiên như năng lượng, giao thông, y tế, phát triển xã hội, giáo dục đào tạo, nông nghiệp, quản lý kinh tế, công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên
Thứ năm, nhân tố kinh tế luôn là yếu tố chủ yếu chi phối chính sách ODA của
Nhật Bản Ngoài ra, ODA của Nhật Bản quan tâm nhiều đến khía cạnh nhân văn hơn, ít mang tính điều kiện ngặt nghèo về áp lực chính trị so với các nước khác
và thường thiên về viện trợ theo công trình, dự án
Thứ sáu, ODA của Nhật Bản dành cho tài trợ kinh tế tuỳ thuộc vào tình hình
phát triển của từng nước nhận tài trợ Các nước đang phát triển rất đa dạng, mỗi nước đều có lịch sử và văn hoá riêng của chính đất nước họ Bối cảnh và điều kiện phát triển ở các nước này cũng rất khác nhau Do vậy, Nhật Bản thường tăng tỷ phần không hoàn lại cho các nước nhận tài trợ vào những giai đoạn đầu của quá trình phát triển và khi họ đạt được một trình độ nhất định thì Nhật Bản
sẽ giới hạn tài trợ cho những lĩnh vực được xác định, đồng thời tiếp tục khuyến khích tăng vai trò của khu vực tư nhân trong các nước nhận viện trợ
Thứ bảy, ODA Nhật Bản đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích
khu vực tư nhân bằng cách hợp tác với các loại viện trợ tương tự như vậy, bao gồm đầu tư trực tiếp của tư nhân dựa trên cơ sở các nguồn chính thức khác (ODF), bảo hiểm thương mại và viện trợ thông qua thương mại
Thứ tám, các khoản viện trợ ODA của Nhật Bản cấp theo nguyên tắc nhằm vào
việc phát triển và bảo vệ môi trường chứ không nhằm mục đích quân sự, đồng thời góp phần ngăn cấm phát triển sản xuất và buôn bán vũ khí;
1.2.2 ODA của Nhật Bản cho thế giới
Trang 25Viện trợ chính thức của Nhật Bản cho các nước được bắt đầu từ năm 1952 bằng việc đóng góp 80.000 đô la Mỹ cho chương trình viện trợ kỹ thuật EPTA của Liên Hợp Quốc Tháng 10 năm 1954, Nhật phê chuẩn Kế hoạch Colombo (Kế hoạch viện trợ của 21 nước thuộc khu vực Nam Á và Đông Nam Á, Châu Đại Dương và 6 nước ngoài khu vực này được thông qua vào năm 1952) và đóng góp cho ngân quỹ hợp tác kỹ thuật chính phủ 1,3 triệu Yên Từ đó đến nay đã có hơn 140 nước nhận viện trợ của Nhật Bản Sự gia tăng khối lượng ODA đã đưa Nhật Bản trở thành một trong những nước cung cấp viện trợ nhiều nhất cho các nước trên thế giới Nếu vào năm 1980, ODA của Nhật Bản chỉ mới có 1,961 tỉ USD thì năm 1995 ODA của Nhật đã đạt ở mức 14,49 tỷ USD. (1)
-
(1) Japan’s global role; The Brookings Institution Washington, D.C
Biểu 1 Vốn ODA của Nhật Bản cho thế giới qua các năm
Đơn vị : Tỷ USD
Năm 1970 1980 1985 1990 1991 1992 1993 1994 Tổng
ODA
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Tổng
ODA
Trang 26Nguồn: - Japan almanac 2001,2002
- Fact and figures 1997
Những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vai trò của Nhật Bản trong các công việc quốc tế hầu như không còn Với sự phục hồi và phát triển nhanh
về kinh tế, Nhật dần dần muốn thể hiện vai trò quốc tế của mình ODA là kênh quan trọng cho phép Nhật tham gia vào việc giải quyết gián tiếp các vấn đề quốc
tế Do vậy, trên thực tế gắn liền với tham vọng trở thành một cường quốc chính trị với tiếng nói có trọng lượng trong các công việc quốc tế, Nhật Bản đã không ngừng mở rộng khối lượng cung cấp ODA cho thế giới Vào cuối những năm 70, kinh tế Nhật Bản bành trướng mạnh ra thế giới làm cho các tranh chấp thương mại gia tăng, cũng vì vậy tâm lý chống Nhật trong khu vực cũng dâng lên Nhằm xoa dịu tình hình và thể hiện hình ảnh tốt về nước Nhật, chính phủ Nhật đã có điều chỉnh chính sách bằng việc mở rộng viện trợ ODA trong thời gian 3-5 năm bắt đầu từ năm 1978 Chính vì vậy, sau thời gian này ODA Nhật có sự gia tăng mạnh hơn Năm 1975 tổng lượng ODA là 1,1 tỷ USD, 5 năm sau tăng gấp 3 lần với tổng kim ngạch 3,3 tỷ vào 1980 Những năm tiếp sau, Nhật tiếp tục chính sách gia tăng lượng ODA với mục tiêu phấn đấu trở thành nhà cung cấp ODA hàng đầu và cho đến cuối thập kỷ 80 điều này đã trở thành hiện thực Mặc dù ODA của Nhật Bản thường xuyên được duy trì ở mức tăng đồng đều, nhưng do thâm hụt ngân sách của Nhật Bản đã gần như vượt quá con số 6% của GDP danh nghĩa nên dự kiến trong thời gian tới quỹ ODA của Nhật sẽ không thể tiếp tục tăng lên như trước đây Trong những năm 1998-1999 ODA của Nhật tiếp tục gia tăng và đạt kỷ lục gần 15,4 tỷ USD(1) Với mức viện trợ này đã bảo đảm Nhật Bản trở thành là nhà cung cấp ODA hàng đầu thế giới trong suốt 9 năm liên tục
Trang 27Mức viện trợ của Nhật gấp khoảng 1,5 lần so với mức đóng góp của Đức và Pháp là 2 quốc gia chiếm vị trí thứ 2 và 3 trên thế giới trong việc cung cấp ODA,
và gấp 3-4 lần tổng ODA của Anh và Canađa Trên thực tế, lượng ODA của Nhật Bản đã giảm nhẹ vào năm tài chính 2000 Tuy vậy, với tổng viện trợ 13,06
tỷ USD, Nhật vẫn là nước có mức ODA lớn nhất thế giới Năm 2001, lượng ODA của Nhật Bản cho thế giới tiếp tục giảm chỉ còn 8,06 tỷ USD và năm 2002 chính phủ Nhật lại giảm tiếp 10,3% lượng ODA cho nước ngoài Mức giảm này
đã chấm dứt vị trí hàng đầu suốt 10 năm liên tục trong cung cấp ODA cho thế giới của Nhật
Theo biểu đồ dưới đây, Châu Á là khu vực nhận được nhiều viện trợ ODA song phương của Nhật Bản hơn tất cả các khu vực khác Đó là do các mối liên hệ gần gũi về mặt lịch sử, địa lý, kinh tế và chính trị cũng như do hơn một nửa dân sống
ở mức nghèo khổ của thế giới tập trung ở Châu Á Trong tổng số 155 nước trên thế giới nhận viện trợ của Nhật thì có tới 27 nước là ở Châu Á
Trang 28(Số liệu năm 1994)
Nguồn: Japan’s ODA Summary 1994
1.2.3 Quy mô và cơ cấu phân bổ ODA của Nhật Bản cho thế giới
Việc cung cấp ODA của Nhật được điều chỉnh theo sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của khu vực Trước đây để giúp các nước cải thiện điều kiện kinh tế ODA thường tập trung vào cơ sở hạ tầng Điều này tạo cơ hội và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Nhật Bản dễ xâm nhập buôn bán và đầu
tư Gần đây, Nhật điều chỉnh ODA tập trung vào các dự án về sinh thái và cơ sở
hạ tầng như giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực Hiện nay, sinh thái đang trở thành vấn đề lớn của toàn cầu bởi vì, sau một thời gian dài các quốc gia tiến
Nam Sahara Ch©u Phi 20,2%
C¸c n-íc ch©u ¸ vµ ch©u
§¹i D-¬ng 40,7%
Trang 29hành công nghiệp hoá đã gây nhiều tác động xấu tới môi trường Đào tạo nguồn lực đang trở thành nhu cầu đối với các nước nghèo đang bước vào con đường hiện đại hoá, vì vậy đây vẫn là hướng được ưu tiên viện trợ ODA
ODA phân theo khu vực, gắn liền với xu thế mở rộng quan hệ của Nhật Bản Nhìn chung, trong suốt thập kỷ qua châu Á luôn là khu vực nhận được đa số
Mỹ Latinh 4,0 5,6 6,0 8,8 8,1 10,8 10,8 6,4 7,8 Châu Âu -0,2 0,6 0,2 1,1 6,9 1,5 2,0 1,7 1,4 Châu Đại
Dương
0 0,6 0,5 0,9 1,6 1,5 2,4 1,7 1,3
Khu vực khác 0,3 - 1,2 4,8 7,1 12,3 - 12,2 11,7
Nguồn: - Japan almanac 2001,2002 tr.123 tr.122
- Indicates net recovery
Trang 30Thập kỷ 70 ODA của Nhật dành cho các nước châu Á chiếm khoảng 70-90% tổng lượng ODA của Nhật, trong đó tỷ lệ cao là dành cho các nước ASEAN Thập kỷ 80, ODA cho châu Á giảm dần cho đến tận cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Đến năm 1995, theo mức giải ngân thực chi ODA của Nhật Bản cho thế giới đạt khoảng 14,7 tỷ USD trong đó tính theo các khu vực được nhận các chương trình ODA song phương thì Châu Á chiếm tới 54,4% trong tổng số ODA của Nhật ODA của Nhật vào khu vực này lại có chiều hướng gia tăng vào các năm 1998-1999 với tỷ lệ chiếm trên 60% tổng ODA Nhìn chung, tuy có mức tăng mức giảm khác nhau, nhưng mức ODA của Nhật vào châu Á luôn chiếm tỷ
lệ lớn Sở dĩ vậy, bởi lẽ Nhật Bản cũng là quốc gia nằm trong khu vực châu Á, nền kinh tế Nhật Bản có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ với Châu
Á, nhất là Đông Á Do vậy, châu Á có sức thu hút các khoản viện trợ của Nhật
và ngược lại, khoản viện trợ này cũng góp phần thúc đẩy nền kinh tế các quốc gia châu Á và tăng cường mở rộng sự hợp tác lẫn nhau trong khu vực Trong các quốc gia châu Á, phần lớn ODA được đổ vào ASEAN, những năm 80 chiếm trung bình 40%, sang những năm 90 còn chiếm khoảng 20-25% tổng lượng ODA của Nhật ra nước ngoài Tuy xu hướng chung là giảm tỷ phần ODA vào ASEAN, nhưng trong đó có một số nước như Inđônêxia, Việt Nam mức ODA vẫn tăng Khối lượng ODA vào Việt Nam có xu hướng gia tăng trong thập kỷ
90, mặc dù những năm qua tổng lượng ODA của Nhật cho thế giới cũng như cho châu Á giảm sút Bên cạnh những điều chỉnh cơ cấu thị trường phân bổ ODA, đáng chú ý gần đây Nhật cũng đã quan tâm nhiều hơn sự chỉ trích của các quốc gia về hình thức cung cấp ODA của Nhật Bản Do quan niệm của Nhật là cung cấp ODA để tạo điều kiện giúp các quốc gia phát triển và từ đó trả nợ cho Nhật Bản, vì vậy khoản viện trợ không hoàn lại nhỏ hơn nhiều khoản khác trong tổng
Trang 31khối lượng cung cấp ODA Tuy vậy, trong những năm 90 tỷ phần viện trợ và hợp tác kỹ thuật có sự gia tăng, nếu năm 1980 phần viện trợ chỉ chiếm 0,33% tổng viện trợ song phương thì đến năm 1990 tăng lên 0,44% và 1999 là 0,52%
+ Cung cấp qua tổ chức đa phương 87 1343 2282 2126 4888
Nguồn: Japan almanac 2001; tr.122; 2002; tr.122
Thông thường, Nhật Bản cung cấp viện trợ dựa theo những yêu cầu của các nước nhận tài trợ, tất nhiên bên cạnh đó có những kênh song phương đàm phán thỏa thuận với nhau Việc cấp ODA cho nước ngoài của Nhật được thực hiện qua nhiều kênh với sự tham gia, hoặc độc lập thực hiện của các bộ như MITI, Bộ xây dựng Khi dự án có tổng lượng kim ngạch cao hơn 10% tổng ngân sách ODA hàng năm thì Bộ ngoại giao không được quyền can thiệp Đây là quy định dẫn đến tình trạng phối hợp giám sát hiệu quả của ODA yếu đi và chồng chéo nhau
Trang 32giữa JICA với các bộ chuyên ngành Trong tiến trình tái cơ cấu chung, Nhật Bản
đã có sự điều chỉnh trong phối hợp cung cấp ODA, cho phép Bộ ngoại giao tham gia phối hợp vào tất cả các dự án hợp tác kỹ thuật do các bộ thực hiện
Vào năm 1992, 63,3% của vốn vay Nhật Bản là cho châu Á trong đó viện trợ không hoàn lại chiếm 45,5% của tổng số viện trợ và hợp tác kỹ thuật chiếm khoảng một nửa Năm 1993, 9 nước nhận khối lượng ODA của Nhật Bản cao nhất (theo khoản giải ngân) là Trung Quốc (1350 triệu đô), Inđônêxia (1148 triệu USD), Philippin (758 triệu USD), Thái Lan (350 triệu USD), Ấn Độ (295 triệu USD), Ai Cập (275 triệu USD), Pakistan (188 triệu USD), Băng La Đét (185 triệu USD), Srilanka (147 triệu USD) Khoảng 30 - 50% của khối lượng vốn chảy vào các nước ASEAN trong những năm 80 là nguồn ODA trong đó ODA Nhật Bản cung cấp cho Inđônêxia và Malayxia chiếm 15% và cho Philippin và Thái Lan chiếm 25%(1) Châu Á về cơ bản vẫn là khu vực quan trọng nhất trong viện trợ song phương của Nhật, nhưng gần đây Nhật Bản cũng có xu hướng thay đổi theo hướng tăng cường hơn cho các khu vực không thuộc Châu Á như Châu Phi, Mỹ La Tinh, Trung Đông Dưới sức ép mở rộng viện trợ cho các khu vực khác của Mỹ, Nhật Bản đã dành 860 triệu đô la Mỹ cho khu vực cận Sahara Châu Phi vào năm 1992 và ngày nay trở thành nước cung cấp ODA lớn thứ 4 cho Châu Phi Xu hướng giảm ODA của Nhật Bản những năm gần đây, đặc biệt
từ năm 2001 trở đi chịu sự qui định của nhiều yếu tố Đặc biệt là, sự suy giảm kinh tế trong thập kỷ qua là thách thức cơ bản nhất cho việc gia tăng ngân sách dành cho ODA Nhật Bản Hiện nay, Nhật Bản là nước có tỷ lệ nợ cao nhất so với thu nhập quốc dân
-
Trang 33(1) Japan’s foreign policy for the 21 st century, in asociation ưith St Antony’s College, Oxford, year 1995 (trang114)
trong số các nước phát triển Kinh tế suy giảm không những tác động tới phần thu ngân sách mà còn ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu do đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh, như vấn đề phúc lợi xã hội, bảo hiểm y tế người già, vấn đề đào tạo giáo dục, nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế Những khó khăn đó buộc Nhật Bản phải giảm các khoản chi tiêu trong đó có ODA
Biểu 5 ODA Nhật Bản - Khối lƣợng và tỉ lệ trên GNP
Khối lượng 1995/1996
Tỉ lệ tăng trưởng (%)
ODA/GNP (%)
Khối lượng 1996/1996
Tỉ lệ tăng trưởng (%)
Trang 341997 9.358 -0,9 0,22 11.323 10,2
*** Tỉ lệ ODA/GNP trước 1996 được tính toán dựa trên số liệu GNP thực tế Tỉ
lệ của năm 1997 được tính dựa trên số liệu GNP ước tính Khối lượng ODA không bao gồm viện trợ cho các nước Châu Âu và những nước hay khu vực trong thời kỳ quá độ
Nguồn: Tổng kết ODA Nhật Bản năm 1997- Bộ Ngoại Giao Nhật Bản
Nhìn vào bảng bên có thể thấy một thực tế là mặc dù khối lượng tài trợ ODA của Nhật Bản cho thế giới vẫn giữ ở mức tăng nhưng tỷ lệ ODA/GNP thì lại có chiều hướng giảm từ 0,32% vào năm 1991 xuống 0,3% năm 1992 (xếp thứ
13 giữa các nước DAC) Năm 1995, ODA/GNP của Nhật Bản chỉ còn là 0,28%
và đến năm 1996 thì tỷ lệ này giảm xuống 0,2% Tỷ lệ ODA/GNP là một tiêu chuẩn để đo tổng số viện trợ, nó chỉ ra phần viện trợ của một quốc gia so với GNP của quốc gia đó Năm 1980, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết yêu cầu các nước cho vay lớn tăng tỷ lệ ODA/GNP lên đến 0,7% và Nhật Bản rất ủng hộ nghị quyết này Vì vậy, nhiều dự báo cho rằng viện trợ ODA của Nhật Bản cho thế giới trong đó có Việt Nam sẽ có sự thay đổi song sẽ
ít có sự đột biến theo hướng giảm nhanh ODA
Trang 35tế mục đích cũng như lợi ích mà các nước viện trợ đặt ra không hoàn toàn vì nước nghèo và vì sự phát triển chung
Thứ hai, nhìn chung tài trợ ODA của Nhật Bản cho các nước tăng trưởng liên tục và là nguồn bổ sung vốn cần thiết cho kinh tế, góp phần thúc đẩy và phát triển các ngành cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng Với chiến lược mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế Nhật Bản đã lập kế hoạch viện trợ riêng cho từng nước thuộc các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Ngoài những mục tiêu nhân đạo như Hiến chương ODA của Nhật Bản đã đề ra chúng ta có thể thấy rõ ODA đưa lại nhiều lợi ích cho Nhật Bản ở nhiều khía cạnh khác nhau
Thứ ba là, việc cam kết ODA cho thế giới không ngừng tăng lên nhất là châu Á vẫn là khu vực nhận được ODA của Nhật Bản lớn nhất (chiếm khoảng 60%), điều này đã góp phần củng cố uy tín và sức mạnh kinh tế của Nhật Bản tại
Trang 36châu Á trong đó có Việt Nam và về cơ bản đáp ứng được mục tiêu mà Hiến chương ODA của nước này đã đặt ra
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG ODA CỦA NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM
2.1 Các nhân tố tác động đến ODA của Nhật Bản cho Việt Nam
Ngày nay, Nhật Bản là một cường quốc kinh tế đứng thứ hai trên thế giới và cũng là nước cung cấp viện trợ lớn nhất cho các nước Nhật Bản đã đóng góp ODA bằng nhiều cách khác nhau bao gồm cả viện trợ phát triển kinh tế và cho những nỗ lực nhằm khuyến khích công cuộc dân chủ hoá và ổn định tại những nước đang phát triển Để kịp thời đáp ứng sự thay đổi trong cộng đồng quốc tế, nhu cầu về viện trợ đang phát triển và đa dạng hoá, ODA nói chung và ODA Nhật Bản nói riêng ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của quan hệ kinh
tế quốc tế Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam là một trong những nước nhận được nhiều sự giúp đỡ của cộng đồng thế giới trước đây cũng như hiện nay Đặc biệt, từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới thì sự quan tâm của thế giới với nước ta ngày càng tăng không chỉ bằng việc mở rộng buôn bán đầu tư mà viện trợ ODA cũng vậy Trong các đối tác tài trợ song phương Nhật Bản đã trở thành nước tài trợ ODA hàng đầu cho Việt Nam Hiện nay, mặc
dù Nhật Bản có chủ trương cắt giảm khối lượng ODA cho thế giới, tuy nhiên chính phủ nước này vẫn cam kết tăng viện trợ cho Việt Nam Nhật Bản đánh giá cao những thành tựu mà chính phủ và nhân dân Việt Nam đã đạt được và mong muốn đóng góp vào công cuộc kiến thiết đất nước Việt Nam và mở rộng quan hệ
Trang 37hợp tác giữa hai nước Nghiên cứu tài trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam có thể nêu lên một số yếu tố chi phối sau đây
2.1.1 Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản
Hướng ngoại là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế Nhật Bản Việc thiết lập các quan hệ trao đổi kinh tế với nước ngoài là điều kiện quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế vững chắc của Nhật Bản Một mặt, sự phát triển và thịnh vượng của Nhật Bản đã và vẫn phụ thuộc rất lớn vào các nguồn tài nguyên và thị trường
ở các nước đang phát triển châu Á Mặt khác, Nhật Bản cũng muốn góp phần cải thiện trình độ phát triển kinh tế của các nước Châu Á để trên cơ sở đó tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Nhật Bản Với những nhận thức như vậy, Nhật Bản ngày càng chủ động và tích cực trong việc đẩy mạnh sự phát triển hơn nữa các quan hệ toàn diện với các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam Điều này có thể nhận thấy qua việc gia tăng quan hệ kinh tế giữa hai nước
+ Về thương mại:
Việt Nam và Nhật Bản là hai nước châu Á có nhiều điểm tương đồng Qua gần 3 thập kỷ kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức thì quan
hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản ngày càng không ngừng được mở rộng và củng
cố Mặc dù hai nước có sự khác biệt về chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế, song hai nước có nhiều lợi thế thuận lợi có thể bổ sung cho nhau Nhật Bản là một nước phát triển, có trình độ công nghệ cao và có nguồn vốn lớn trong khi đó Việt Nam lại có tài nguyên phong phú và có lực lượng lao động dồi dào Lợi ích chính là cơ sở cần thiết để mở rộng các quan hệ nhất là về kinh tế Đặc
Trang 38biệt, khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới mở cửa thì quan hệ kinh tế hai nước càng có điều kiện phát triển Những năm 90 đến nay quan hệ mậu dịch giữa hai nước Việt - Nhật bước sang một trang mới với 2 đặc trưng là sự tăng lên vững chắc về khối lượng buôn bán và sự quan tâm ngày càng cao của các nhà kinh doanh và các công ty Nhật Bản đối với thị trường Việt Nam Sự tăng trưởng khá nhanh trong quan hệ buôn bán đã đưa Nhật Bản thành một trong những bạn hàng lớn của Việt Nam Tính từ năm 1992-1997, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt - Nhật đạt 14.301 triệu USD, trong đó kim ngạch nhập khẩu là 5.078 triệu USD, và kim ngạch xuất khẩu là 9.223 triệu USD Tốc độ tăng trưởng thương mại bình quân hàng năm giữa Việt Nam và Nhật Bản là 21,6%, trong đó tăng trưởng xuất khẩu là 41,3% và tăng trưởng nhập khẩu là 23,8% (1) Trong những năm gần đây dù kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái, song Nhật vẫn cố gắng duy trì ổn định vị trí xuất khẩu ở một số lĩnh vực, ngành công nghiệp chủ chốt: chế tạo máy, phương tiện giao thông Việt Nam mong muốn duy trì quan hệ chặt chẽ với Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế nhằm nâng cao khả năng tiếp nhận và thu hút nguồn vốn ODA Nhật Bản để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước Chúng ta hi vọng khi Nhật Bản thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức (thông tin, tin học ) thì thị trường Việt Nam càng hứa hẹn những tiềm năng mới đối với Nhật Bản, đồng thời với việc mở cửa thị trường Nhật Bản sẽ là cơ hội để hàng hoá Việt Nam có thể vào Nhật Bản dễ dàng hơn Có thể nói sự phát triển tốt đẹp các mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản đã được tăng cường cả quy mô và chất lượng ở nhiều lĩnh vực khác nhau
+ Về đầu tƣ:
Trang 39Đầu tư và ODA là hai lĩnh vực có quan hệ chặt chẽ với nhau trong chiến lược kinh tế đối ngoại của Nhật Bản nói chung, với Việt Nam nói riêng Thực tế vừa qua cho thấy, tốc độ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam tăng nhanh hơn tốc
là sự hỗ trợ và tạo điều kiện để các nhà đầu tư Nhật Bản có thể làm ăn lâu dài với Việt Nam Hơn thế nữa, bản thân ODA cũng là một hình thức đầu tư chắc chắn
dù lãi suất thấp Về đầu tư, Nhật Bản đứng ở thứ hạng cao trong các nước đầu tư vào Việt Nam Năm 1991, Nhật Bản mới chỉ đứng thứ 9 trong các đối tác đầu tư vào Việt Nam thì năm 1994 Nhật Bản đã vươn lên vị trí thứ 5 với tổng vốn đầu
tư là 950 triệu USD Sau khi Mỹ tuyên bố xoá bỏ cấm vận với Việt Nam, chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 1995 Nhật Bản đã vươn lên đứng ở vị trí thứ nhất với 754 triệu USD tổng vốn đầu tư Tính đến hết 1998, Nhật Bản có 266 dự án đang hoạt động tại nước ta với tổng số vốn đăng ký là 3.772 triệu USD, đứng thứ
3 về số dự án vào Việt Nam Đối với Nhật Bản quan hệ hợp tác Việt Nam là tiền
đề để gia tăng uy tín đối với ASEAN và các nước trong khu vực Để thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó thì phía Việt Nam phải đảm bảo cho họ có được môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã
Trang 40hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn định ) đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao Hiện tại, số dự án đầu tư của các nhà kinh doanh Nhật Bản cũng như các công trình vay vốn ODA đang được triển khai có hiệu quả Tuy nhiên, số dự án chưa khai thác hoặc thu hút vốn, lợi nhuận như dự định vẫn còn nhiều nhất là các tại khu công nghiệp Trong thời gian tới nếu Nhật Bản mở rộng đầu tư vào nông nghiệp và các ngành mới thì khối lượng vốn đầu
tư có tăng, song tốc độ và qui mô không cao hơn nhiều so với thập kỷ qua Nếu
so với tiềm năng kinh tế của Nhật Bản trên thế giới thì số dự án cũng như số vốn đầu tư của Nhật vào Việt Nam còn hạn chế do nhiều nguyên nhân Thực tế, Nhật Bản đã nhìn xa hơn nhu cầu của Việt nam và đang có sự chuẩn bị vốn, công nghệ để hỗ trợ Việt Nam xây dựng các ngành mới, trong đó đáng chú ý là khả năng xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Việt Nam Tuy nhiên, điều này không chỉ phụ thuộc vào phía Nhật Bản mà còn vào chủ trương, khả năng, sự lựa chọn của Việt Nam và nhiều yếu tố quốc tế khác Hy vọng với mức ODA của Nhật Bản cho Việt Nam tiếp tục gia tăng sẽ trở thành một trong những động lực hợp tác nhiều mặt giữa hai nước góp phần thúc đẩy các nhà đầu tư Nhật Bản vươn lên chiếm vị trí hàng đầu ở Việt Nam
Sự phát triển nhanh chóng các mối quan hệ và liên kết trong khu vực là cơ hội tốt thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, đồng thời phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giũa các nước Không chỉ trước đây mà cả hiện nay, Nhật Bản vẫn tiếp tục
là “con chim nhạn đầu đàn” trong đàn nhạn châu Á và là tác nhân chủ yếu tạo ra
sự liên kết này Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi Nhật Bản chú trọng khuyến khích và giúp đỡ phát triển cơ cấu hạ tầng, cải tổ cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển ở khu vực này Thông qua thương mại và đầu tư Nhật Bản nhanh