1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam

99 857 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam từ năm 2000 tới nay .... Cuốn sách ra đời năm 2006 đề cập tới tác động của đầu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN XUÂN PHƯƠNG

TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA NHẬT BẢN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN XUÂN PHƯƠNG

TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA NHẬT BẢN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 8

1.1 Phát triển kinh tế 8

1.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế 8

1.1.2 Các yếu tố đo lường sự phát triển của một nền kinh tế 11

1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển kinh tế 14

1.2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 14

1.2.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư 18

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỪ NHẬT BẢN TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 TỚI NAY 24

2.1 Tổng quan chung về đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam từ năm 2000 tới nay 24

2.1.1 Giai đoạn 2000 – 2006 29

2.1.2 Giai đoạn 2007 tới nay 30

2.2 Đánh giá những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam từ năm 2000 tới nay 40

2.2.1 Tác động tới tăng trưởng kinh tế 41

2.2.2 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế 47

2.2.3 Phát triển nguồn nhân lực 51

2.2.4 Thúc đẩy chuyển giao công nghệ 53

2.2.5 Đóng góp vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô 55

2.2.6 Tiếp cận và mở rộng thị trường và quan hệ đối ngoại 55

2.2.7 Một số tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế Việt Nam 57

Trang 4

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT HUY NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP TỪ NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM 62

3.1 Chủ trương của Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài 62

3.2 Giải pháp phát huy những tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản 66

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách hành chính 67

3.2.2 Nâng cấp kết cấu hạ tầng, giao thông 70

3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 72

3.2.4 Sắp xếp hợp lý danh mục kêu gọi đầu tư 74

3.2.5 Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ 76

3.3 Giải pháp hạn chế những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản 80

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 ABAC Hội đồng tư vấn kinh doanh ASEAN

2 ADB Ngân hàng phát triển châu Á

3 AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

4 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

5 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

6 CPI Chỉ số giá tiêu dùng

7 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

8 FTA Khu vực mậu dịch tự do

9 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

10 GNP Tổng sản phẩm quốc dân

11 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

12 JETRO Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản

13 JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

14 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

15 OECD Tổ chức hợp tác & phát triển kinh tế

16 SIDA Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển

17 UNCTAD Diễn đàn thương mại & phát triển Liên hiệp quốc

18 WB Ngân hàng thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Tổng số vốn đầu tư thực hiện mười năm 2001-2010

2

Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được cấp

giấy phép thời kỳ 1988-2010 phân theo đối tác đầu

tư chủ yếu

18

3 Bảng 2.3 Đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo đối tác 31

4 Bảng 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vĩnh Phúc giai đoạn

5 Bảng 2.5 Giá trị xuất nhập khẩu giữa Nhật Bản và 3 nước

Đông Dương (tính đến tháng 11/2012) 48

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1 Vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam 23

3 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới đang ngày càng trở nên “phẳng” hơn, quá trình hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia trên thế giới cũng ngày càng trở nên sâu sắc hơn Trong bối cảnh đó, mỗi quốc gia đều đề cao tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế, bởi lẽ, một nền kinh tế phát triển là chìa khóa để mở ra rất nhiều cơ hội với thế giới Đó không chỉ là cơ hội để hợp tác, mà còn là cơ hội để khẳng định vị thế của đất nước mình với bạn bè năm châu Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế coi trọng việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đó

Một nền kinh tế muốn phát triển phải có sự đóng góp từ rất nhiều yếu tố, bao gồm cả chủ quan và khách quan Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố khách quan hết sức quan trọng Có thể nói, đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa là nguồn đóng góp cho sự phát triển kinh tế, vừa là một yếu tố có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới định hướng phát triển của quốc gia Riêng với Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp

từ Nhật Bản càng có một vai trò quan trọng không thể thiếu vì Nhật Bản là một trong những quốc gia đầu tư lớn nhất vào Việt Nam Luận văn này tập trung nghiên cứu sâu đầu tư của Nhật Bản, giới hạn phạm vi trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, tác động vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam như thế nào trong khoảng thời gian từ năm 2000 tới nay Điều nhấn mạnh ở đây là tác giả

sẽ phân tích những tác động của đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản tới các yếu tố của sự phát triển kinh tế Từ đó, luận văn chỉ ra những đóng góp thiết thực mà nguồn đầu tư này đã góp phần cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam

Nghiên cứu những đóng góp thiết thực của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản vào Việt Nam, tác giả muốn nhấn mạnh vai trò quan trọng của

Trang 9

nguồn vốn đầu tư này tác động tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam Dựa trên những đóng góp to lớn hiện tại của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản, tác giả cũng đưa ra một số nhận định và kiến nghị chính sách cho Việt Nam để phát huy hiệu quả, tăng cường sử dụng những tác động tích cực của nguồn vốn đầu tư này, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực đang và sẽ có thể xảy ra Từ đó, Việt Nam có cơ hội để thu hút nhiều vốn đầu tư hơn nữa, trở thành địa chỉ đầu tư hấp dẫn không chỉ đối với Nhật Bản và các nước trong khu vực mà còn đối với các nước khác trên toàn thế giới, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế trong tương lai mà Chính phủ đã đề ra

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu về nguồn vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản, đã có rất nhiều những nghiên cứu được thực hiện Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đi theo hướng phân tích thực trạng tình hình đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam bằng phương pháp định tính hoặc định lượng, sau đó đưa ra một số giải pháp và nhận định để thu hút đầu tư Rất ít những nghiên cứu đi vào phân tích cụ thể các tác động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các yếu tố tạo nên sự phát triển kinh tế của Việt Nam

“Foreign Direct Investment, Trade, and Vietnam’s Interdependence in the APEC Region” do Mai Fujita (Trung tâm nghiên cứu APEC) viết năm

1999 Bài nghiên cứu tập trung vào những lợi ích mà đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là từ các nước trong APEC, trong đó có Nhật Bản, có thể đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra ý kiến để Việt Nam có thể thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiệu quả hơn, bao gồm cả nguồn vốn từ các nước APEC Do phạm vi phân tích bao gồm nhiều nước trong APEC nên những số liệu và lý luận riêng về FDI của Nhật Bản chưa được phong phú

Trang 10

Nghiên cứu của Nguyễn Phi Lan, Centre for Regulation and Market Analysis University of South Australia mang tên “Foreign direct investment and its linkage to growth in Vietnam: A provincial level analysis” năm 2006 Câu hỏi mà nghiên cứu này đặt ra là mối quan hệ tác động hai chiều giữa FDI

và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Nghiên cứu phân tích dòng vốn FDI của các nước đổ vào Việt Nam, đặc biệt là từ Nhật Bản và điều tra những ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu khá chuyên sâu nhưng mới dừng ở khía cạnh tăng trưởng, chưa phân tích liên quan tới quá trình phát triển

“Foreign direct investment and exports: The experiences of Vietnam” do Nguyen Thanh Xuan (The University of New South Wales) và Yuqing Xing (University of Japan) đồng tác giả Báo cáo đưa cái nhìn tổng quan về FDI của nước ngoài dành cho Việt Nam và tình hình xuất khẩu, nhận định một số chính sách và các nhân tố tác động tới FDI và xuất khẩu Từ đó báo cáo cũng

đề xuất một số kiến nghị chính sách cho Chính phủ Việt Nam Báo cáo cung cấp những số liệu khá phong phú tập trung riêng về vấn đề xuất khẩu

“Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong những năm 1990 và triển vọng” xuất bản năm 2000 của TS.Vũ Văn Hà Cuốn sách đưa cái nhìn tổng quan về quan hệ kinh tế Việt Nam-Nhật Bản trong bối cảnh hội nhập Đặc biệt cuốn sách phân tích sâu về đầu tư trực tiếp và hỗ trợ phát triển của Nhật Bản vào Việt Nam Tuy nhiên, nội dung cuốn sách mang tính tổng quát chung, chưa phân tích sâu riêng về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tác động tới sự phát triển kinh tế Việt Nam

Nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của nhóm tác giả TS.Nguyễn Thị Tuệ Anh (Trưởng nhóm), ThS.Vũ Xuân Nguyệt Hồng, ThS.Trần Toàn Thắng và TS.Nguyễn Mạnh Hải nằm trong chương trình “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách

Trang 11

2010” của Dự án SIDA Cuốn sách ra đời năm 2006 đề cập tới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới nền kinh tế Việt Nam, tập trung vào phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, về hai phương diện quan trọng nhất

là vốn đầu tư và các tác động tràn, không đi vào các tác động khác tới sự phát triển kinh tế

Đề tài “Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam: những vấn đề và một

số gợi ý” dưới sự chủ trì của TS.Nguyễn Xuân Thiên, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2003 Đề tài đánh giá những nhân tố thúc đẩy đầu

tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào Việt Nam, đồng thời phân tích thực trạng đầu tư và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả nguồn vốn này Đề tài là nguồn tham khảo đáng chú ý, nhưng trên phạm vi thực trạng đầu tư, không có nhiều mối liên quan tới phát triển kinh tế

“Đặc điểm chủ yếu của FDI Nhật Bản vào Việt Nam trong những năm gần đây” (2001) là tài liệu giảng dạy được công nhận của TS.Vũ Văn Hà (Đại học Quốc Gia Hà Nội) Tài liệu phân tích FDI theo ngành của Nhật Bản dành cho Việt Nam tập trung cao vào lĩnh vực công nghiệp Về hình thức đầu tư, Nhật Bản đầu tư dưới 3 hình thức: liên doanh, 100% vốn nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh Tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về phân loại các hình thức đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam, không đi sâu về vấn đề các tác động tích cực và tiêu cực

Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam” của nghiên cứu sinh Phan Văn Tâm, chuyên ngành Quản lý kinh tế, mã số 62.34.01.01 (năm 2011) Luận án nghiên cứu về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trên khía cạnh các nhân tố tác động tới nguồn vốn đầu tư này Tác giả dùng phương pháp phân tích thực nghiệm để tìm ra những tác động tích cực cũng như tác động tiêu cực của FDI Nhật Bản đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung, không đi sâu vào phạm vi liên quan tới phát triển kinh tế

Trang 12

Trên đây là một số công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan tới đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm đầu tư của Nhật Bản Có thể nói, các công trình nghiên cứu này đều rất có giá trị, đặc biệt là về việc cung cấp thực tiễn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam cũng như đưa ra những gợi ý chính sách

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn nhằm nghiên cứu phân tích những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản vào sự phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2000 tới nay và đưa ra những giải pháp cụ thể để phát huy hiệu quả, tăng cường sử dụng những tác động tích cực của nguồn vốn đầu tư này, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực đang và sẽ có thể xảy ra Từ đó, Việt Nam có cơ

sở thu hút thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: + Tổng hợp, phân tích các lý luận chung về sự phát triển kinh tế, các yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế và tính tất yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như những tác động của nó tới sự phát triển của một nền kinh tế

+ Phân tích tác động tích cực và tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản đến sự phát triển kinh tế Việt Nam như tăng trưởng kinh

tế, thay đổi cơ cấu kinh tế, vấn đề việc làm, chất lượng nguồn lao động, vốn đầu tư xã hội, chuyển giao công nghệ…

+ Đưa ra một số đề xuất, giải pháp để phát huy những tác động có hiệu quả của nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản và hạn chế những tác động tiêu cực trong thời gian tới

Trang 13

+ Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam

+ Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản tác động vào sự phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2000 tới nay

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp lịch sử: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản được phân tích theo trình tự liên tục từ năm 2000 tới nay, nhằm cho thấy rõ ràng xu hướng và những tác động thay đổi tích cực của nó tới nền kinh tế Việt Nam

+ Phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp các số liệu, dữ liệu liên quan tới tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần, chất lượng nguồn nhân lực, v.v…

+ Phương pháp so sánh: Phương pháp này dựa trên cơ sở đánh giá so sánh những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản giữa các thời kỳ có sự thay đổi như thế nào đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ của đề tài, luận văn có những đóng góp: + Phân tích và làm sáng tỏ những lý luận về các yếu tố đo lường sự phát triển kinh tế và tính tất yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như tác động của nó tới sự phát triển của một nền kinh tế

Trang 14

+ Đánh giá những tác động tích cực và mặt hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản đến sự phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2000 tới nay

+ Đưa ra một số giải pháp và gợi ý chính sách cho Việt Na m để phát huy tính tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2000 tới nay

Chương 3: Giải pháp phát huy những tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 Phát triển kinh tế

1.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế

Nhiều tài liệu chuyên môn và các nghiên cứu khoa học kinh tế đã đưa

ra khái niệm “phát triển kinh tế” theo những cách diễn đạt và minh họa khác nhau Nhưng về cơ bản, có thể hiểu ngắn gọn “phát triển kinh tế” là “quá trình tăng tiến toàn diện về mọi mặt trong nền kinh tế của một quốc gia hoặc một địa phương” Vì “phát triển kinh tế” là một quá trình do đó nó có sự tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại bên trong quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó

Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dài hạn Đây là điều kiện tiên quyết để tạo ra những tiến bộ về kinh tế - xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp

Thứ hai, cơ cấu kinh tế - xã hội thay đổi theo hướng tiến bộ Xu hướng tiến bộ của quá trình thay đổi này ở những nước đang phát triển, đang hoặc chưa trải qua quá trình công nghiệp hoá thể hiện ở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và đô thị hoá Đó không đơn thuần là

sự giă tăng về quy mô, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ra; hoạt động của nền kinh tế ngày càng gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở cho việc đạt được những tiến bộ xã hội một cách sâu rộng

Thứ ba, những tiến bộ kinh tế - xã hội chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại Đến lượt mình kết quả của những tiến bộ kinh tế đạt được lại làm

Trang 16

gia tăng không ngừng năng lực nội sinh của nền kinh tế (thể hiện ở những tiến

bộ về công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nguồn vốn…)

Thứ tư, đạt được sự cải thiện sâu rộng chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội là hàng đầu và là kết quả của sự phát triển Đương nhiên một kết quả như thế không chỉ là sự ra tăng thu nhập bình quân đầu người, mà đằng sau nó còn cần khắc phục những sự phân phối bất bình đẳng, nạn đói nghèo, thất nghiệp và những thụ hưởng khác về giáo dục, y tế, văn hoá…

Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ

là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển kinh tế – xã hội…

Phát triển kinh tế theo chiều rộng là phát triển kinh tế bằng cách tăng số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kĩ thuật có trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì

Trang 17

đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu Nó thể hiện ở chỗ mức tăng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vừa dựa vào lực lượng lao động và tài sản cố định, vừa dựa vào cải tiến thiết bị, kĩ thuật, công nghệ và tăng năng suất lao động Tuy nhiên, phát triển kinh tế theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu

Phát triển kinh tế theo chiều sâu là phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến

tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu Kết quả phát triển kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều rộng vẫn còn có vai trò quan trọng Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, thì phát triển kinh tế theo chiều sâu phải được coi trọng

và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện có cho phép

Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế

đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực

Trang 18

kinh tế, văn hoá, xã hội…Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi

sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển Thực tiễn đó

đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững

1.1.2 Các yếu tố đo lường sự phát triển của một nền kinh tế

Phát triển kinh tế bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, và bảo đảm công bằng xã hội Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm:

Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người Sự tăng trưởng kinh tế hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế này phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định Đó là các chỉ tiêu phản ánh quy

mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm hay của một giai đoạn nhất định như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người Các chỉ tiêu này có thể tính cho cả nền kinh tế hay theo bình quân đầu người

Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ

Trang 19

trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống Tỷ trọng các vùng, miền, thành phần kinh tế thay đổi Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tuơng đối

so với tỷ trọng của vùng thành thị Nó là các chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi về chất, về trình độ phát triển kinh tế, bao gồm các chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi

cơ cấu kinh tế (cơ cấu kinh tế theo ngành, cơ cấu thương mại quốc tế) và các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về cơ cấu xã hội, cơ cấu dân cư Gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa là quá trình biến đổi cơ cấu dân cư theo vùng Trong các chỉ tiêu này, chỉ tiêu cơ cấu dân số nông thôn – đô thị có ý nghĩa quan trọng phản ánh quá trình đô thị hóa gắn với quá trình công nghiệp hóa đất nước Sự biến đổi cơ cấu dân cư còn thể hiện qua các chỉ tiêu như: cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu theo trình

độ đào tạo

Các chỉ tiêu phản ánh năng lực nội sinh của nền kinh tế gồm các chỉ tiêu như: tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) trên GDP, các chỉ tiêu phản ánh trình độ năng lực công nghệ quốc gia, các chỉ tiêu phản ánh chất lượng của nguồn lao động

Mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tươi đẹp hơn, giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo Trình độ tư duy, quan điểm của dân chúng thay đổi Để có thể thay đổi trình độ tư duy, một điều tất yếu là đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế

Tuy nhiên, phát triển kinh tế cũng bao hàm các yêu cầu cụ thể khác Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số Sự tăng trưởng kinh

tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để bảo đảm kinh tế bền vững Bản chất và vai trò của tăng trưởng trong phát triển là sự gia tăng (được đo bằng mức và tỷ lệ) về thu nhập (mặt lượng của nền kinh tế) Tăng trưởng kinh

tế phải đi đôi với công bằng xã hội Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù

Trang 20

hợp với sự biến đổi nhu cầu của xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái Hơn thế nữa, khái niệm phát triển ngày nay được nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện hơn Ngoài chỉ số về tăng trưởng kinh tế và một vài chỉ số khác, phát triển còn bao hàm nhiều chỉ số quan trọng khác về những giá trị văn hoá và nhân văn, như chỉ số hạnh phúc chẳng hạn Có các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển con người như mức sống, dân trí, giáo dục, tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khỏe, dân số, việc làm, phát triển con người

Đối với nước ta, phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ và cải thiện môi trường; khuyến khích làm giàu hợp pháp, đi đôi với xoá đói, giảm nghèo…Những nhiệm vụ ấy phải được thực hiện ngay trong từng bước đi của quá trình phát triển

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế bao gồm:

Lực lượng sản xuất: trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, công nghệ hiện đại, trình độ con người càng cao thúc đẩy phát triển kinh tế càng nhanh Quan hệ sản xuất: sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững khi quan

hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, ngược lại sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển kinh tế

Kiến trúc thượng tầng: mỗi yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có sự tác động khác nhau đối với sự phát triển kinh tế Như pháp luật tác động trực tiếp, trong khi đó tư tưởng, đạo đức tác động gián tiếp Ảnh hưởng sâu sắc nhất là chính trị

Giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế có mối quan hệ: tăng trưởng chưa phải là phát triển, song tăng trưởng là cơ sở nền tảng của phát triển Không thể nói phát triển kinh tế mà trong đó không có tăng trưởng kinh tế

Trang 21

1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển kinh tế

1.2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được Tổ chức Thương mại Thế giới WTO định nghĩa như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý

là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là

"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay còn gọi là "chi nhánh công ty"

Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác” Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp

là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh

tế khác đó

Diễn đàn thương mại và phát triển Liên hiệp quốc UNCTAD cũng đưa

ra một khái niệm về FDI Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty

Các nhà nghiên cứu kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế

Trang 22

của nước khác Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh

tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD đưa ra khái niệm: “Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10%

cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty” Tuy nhiên không phải tất

cả các quốc gia nào cũng đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc tỷ lệ này lớn hơn 10% nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp

Các nước đang phát triển lại sử dụng khái niệm đầu tư nước ngoài chỉ với nội dung là đầu tư trực tiếp, như việc đưa bất động sản, vốn, thiết bị vào xây dựng, mở rộng sản xuất, kinh doanh Điều này đã loại trừ hình thức đầu

tư gián tiếp Đối với các nước này, đầu tư trực tiếp đem lại cho họ nguồn vốn,

kỹ thuật hiện đại thay thế kỹ thuật lạc hậu hiện có, nâng cao mức sống và tăng thu nhập quốc dân Với đầu tư gián tiếp, họ cũng tiếp nhận được vốn Nhưng một phần vì không có những kế hoạch sử dụng vốn có hiệu quả, bên cạnh đó

là khả năng quản lý kém và trình độ sản xuất kinh doanh lạc hậu nên khả năng thành công, và thu được lợi nhuận từ nguồn vốn này không cao Do đó, việc tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các nước đang phát triển Chính sách này đã và đang là hình thức phổ biến trong chính sách “mở cửa nền kinh tế” của nhiều nước, trong đó có Việt Nam

Trang 23

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm:

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là loại hình chuyển dịch tư bản từ nước này sang nước khác nhằm thu doanh lợi Nói cách khác, đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Tư bản chuyển dịch được gọi là vốn đầu tư quốc

tế Vốn có nhiều dạng khác nhau như tiền, các tài sản hợp pháp khác như hiện vật hữu hình, vô hình, phương tiện khác để tiến hành hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư Các khâu này đều phải nằm dưới những quy chế, luật pháp nhất định do nước nhận đầu tư và cả nước đầu tư đưa ra Bên cạnh các loại nguồn vốn đầu tư khác như đầu tư gián tiếp, viện trợ không hoàn lại…, đầu tư trực tiếp nước ngoài càng ngày càng khẳng định vai trò rất quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, kể cả quốc gia mang vốn đi đầu tư và quốc gia được tiếp nhận vốn đầu tư

Bản chất của đầu tư nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích hay tìm kiếm lợi nhuận thông qua di chuyển vốn (bằng tiền, tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư nước ngoài) từ nước đi đầu tư tới nước tiếp nhận đầu tư Đây cũng là đặc điểm cơ bản của FDI Ngoài ra, FDI còn có các đặc điểm sau đây:

Trang 24

- FDI mang tính lâu dài: Đầu tư trực tiếp các dòng vốn có thời gian hoạt động dài, thời gian thu hồi vốn đầu tư ban đầu lâu

- FDI có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài: Nhà đầu

tư nước ngoài có quyền kiểm soát và tham gia các hoạt động quản lý của các doanh nghiệp được tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài

- Dự án FDI có 3 yếu tố đi kèm: hoạt động thương mại, chuyển giao công nghệ, di cư lao động quốc tế

- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa đầu

tư giữa các quốc gia Chính sách về FDI của một quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập đầu tư quốc tế

- FDI là sự gặp gỡ về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là nước tiếp nhận đầu tư

Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài

có các hình thức:

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại

- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh Các bên tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ Phần góp vốn của bên nước ngoài không được ít hơn 30% vốn pháp định

- Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được kí kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định

Trang 25

về trách nhiệm để thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng không hình thành một pháp nhân mới

- Các hình thức khác: ngoài các hình thức kể trên ở các nước và ở Việt Nam, còn có các hình thức khác như hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) nhằm khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư

FDI có rất nhiều tác động tới sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư Có thể nói, đó không chỉ là những tác động về mặt ngoại giao, về mặt kinh tế, mà nó có thể có tác động vô cùng to lớn cả về mặt xã hội, con người, môi trường Những tác động ấy có thể mang tính tích cực, nhưng cũng không ngoại trừ các tác động tiêu cực

Trước hết, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này, khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới Các tổ chức sản xuất trong nước có

cơ hội bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi Ngoài ra, FDI cũng góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước

- FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất

Trang 26

(vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ ) Hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội GDP của các nước tiếp nhận đầu tư, tăng thu nhập của người lao động Hoạt động FDI thông qua các hoạt động di chuyển vốn, công nghệ, kỹ năng đã góp phần nâng cao năng suất lao động của nước tiếp nhận đầu tư

- FDI góp phần đóng góp vào ngân sách:

FDI sẽ mở rộng hơn diện đối tượng chịu thuế và đóng góp cho nguồn thu của Chính phủ Thậm chí nếu như các nhà đầu tư nước ngoài được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp hoàn toàn, Chính phủ vẫn có được thêm nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế trực thu khác Hoạt động của các doanh nghiệp FDI có tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế Cùng với quá trình phát triển, mức đóng góp của các doanh nghiệp FDI vào thu ngân sách ngày càng tăng, tạo khả năng chủ động trong cân đối ngân sách, giảm bội chi, góp phần cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán của Việt Nam

- FDI góp phần chuyển giao công nghệ, tác động tích cực đối với đầu

tư trong nước:

Các doanh nghiệp FDI đã đem đến cho nền kinh tế những trang thiết bị, máy móc công nghệ dây chuyền sản xuất tiên tiến thông qua chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề Bằng cách này đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy Dòng vốn FDI cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của đầu tư trong nước do các công ty tiếp cận được các kênh phân phối, hoặc trở thành các nhà cung cấp hoặc cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài Thông qua sự tác động qua lại với các doanh

Trang 27

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty trong nước có thể cải thiện được chất lượng và uy tín của mình và do vậy, sẽ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Để công nghệ mới và tiên tiến phục vụ hoạt động sản xuất thì cần phải chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển

Do hoạt động chuyển giao công nghệ ngày càng phức tạp nên chuyển giao công nghệ thông qua FDI là một kênh chuyển giao hiệu quả và chi phí thấp Chuyển giao công nghệ thông qua FDI đã làm cho khoảng cách công nghệ giữa nước đi đầu và nước tiếp nhận đầu tư bị thu hẹp Hình thức chuyển giao được thực hiện thông qua: Chuyển giao bên trong là hình thức chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con (nước tiếp nhận đầu tư); chuyển giao bên ngoài được thực hiện giữa các công ty khác nhau liên doanh với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ công nghệ Bên cạnh đó, hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích cực đối với các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư, thông qua cạnh tranh sẽ thúc đẩy việc cải thiện và nâng cao công nghệ trong nước, di chuyển lao động từ nơi có trình độ công nghệ cao đến các nước đang phát triển nhằm góp phần chuyển giao công nghệ

- FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư:

Cơ cấu đầu tư của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói cách khác là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế

Ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia là: cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế Trong số ba yếu tố đó, cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hình thức của những cơ cấu kinh tế khác Do vậy, việc thay đổi cơ cấu ngành kinh

tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia Một cơ cấu kinh tế hợp lý ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với vốn, kỹ năng và trình độ quản lý có tác động

Trang 28

mạnh tới cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến làm thay đổi và dịch chuyển cơ bản cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư

Các doanh nghiệp FDI đã tạo ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới với công nghệ hiện đại, chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần tăng đáng kể năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam Thông qua đầu tư, các doanh nghiệp FDI đã tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp đã có như dầu khí, công nghệ thông tin, hoá chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giầy, dệt may Trong nông nghiệp, các doanh nghiệp FDI đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới

Các doanh nghiệp FDI tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế Một phần quan trọng FDI được định hướng vào xuất khẩu Với mức

độ và sự tham gia vào thị trường nước ngoài và thông qua các mạng lưới phân phối, các doanh nghiệp nước ngoài có khả năng tham gia vào thị trường xuất khẩu dễ hơn các doanh nghiệp trong nước Nếu được quản lý một cách hợp

lý, rất nhiều quốc gia có thể sử dụng FDI như một cách để nâng cao mức xuất khẩu của mình và cải thiện được doanh thu ngoại hối

Việc nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy một đặc điểm là nguồn đầu tư đó chủ yếu nhằm vào các ngành công nghiệp và dịch vụ Đối với ngành nông nghiệp, tỷ lệ của nguồn vốn đầu tư đó là tương đối thấp hoặc nếu có thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến Như vậy, nhìn chung hoạt động FDI sẽ góp phần làm cho cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư chuyển dịch theo hướng tương đối ngành công nghiệp

và dịch vụ so với ngành nông nghiệp

Trang 29

- FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động:

Các lợi ích chung nhất đi kèm với FDI là việc tạo thêm và bảo hộ việc làm Nhờ có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần làm giảm tỷ

lệ thất nghiệp ở những nước tiếp nhận đầu tư Cùng với tạo việc làm mới, dân bản xứ sẽ có thêm thu nhập và sức mua Các doanh nghiệp FDI thu hút một số lớn lao động, cả lao động kỹ thuật và lao động giản đơn không chỉ của khu vực đô thị, mà cả lao động từ nông thôn Không chỉ có vậy, các doanh nghiệp FDI đã nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng tác phong công nghiệp trong sản xuất, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định trật tự an ninh xã hội

Lao động địa phương được biết đến các kỹ năng kỹ thuật và quản lý mới Điều đó sẽ kích thích sản xuất, năng lực kinh doanh và mở ra các cơ hội đào tạo Nhiều doanh nghiệp FDI đã tạo cho lao động Việt Nam có điều kiện được đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp cận với kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến ngay tại doanh nghiệp hoặc gửi đi đào tạo tại nước ngoài để đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài

- FDI mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới:

Đầu tư nước ngoài đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện để Việt Nam chủ động hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới Các doanh nghiệp tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc

tế theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư

Trang 30

Riêng đối với các nước chậm phát triển và đang phát triển, FDI có những tác động tích cực đáng kể như:

- Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế, bao gồm cả tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Giúp thu hút lao động, tạo việc làm, giải quyết một phần nạn thất nghiệp và nâng cao trình độ người lao động

- Góp phần cải tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh

- Góp phần tạo điều kiện tiếp nhận khoa học công nghệ, kỹ thuật từ nước ngoài

Bên cạnh đó, FDI cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực :

- Có thể dẫn tới tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách thái quá, gây hậu quả ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng

- Gây ra sự phân hóa, tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng và giữa các tầng lớp dân cư với nhau

- Có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, dịch bệnh

- Có thể bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc vào những yêu cầu từ phía chủ đầu tư

Có thể nói, riêng đối với Việt Nam, FDI từ Nhật Bản có những tác động nhất định, cả tích cực và tiêu cực theo một khía cạnh nào đó Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 31

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TỪ NHẬT BẢN TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

TỪ NĂM 2000 TỚI NAY

2.1 Tổng quan chung về đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam từ năm 2000 tới nay

Doanh nghiệp FDI hoạt động tại Việt Nam chủ yếu đến từ các nước và lãnh thổ trong khu vực như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản với quy mô khá nhỏ nếu xét theo tiêu chuẩn quốc tế 75% số doanh nghiệp FDI có dưới 300 lao động, trong đó hơn một phần ba có dưới 50 lao động Nếu xét về vốn, có đến 63% doanh nghiệp FDI có vốn dưới 2,5 triệu USD Ước chừng 70-80%

số doanh nghiệp FDI ở Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Đây

là điều đáng quan tâm vì nếu đi ngược thời gian, trở về năm 1988, khi Việt Nam mở cửa cho đầu tư nước ngoài, loại hình này chưa có bao nhiêu, mà chủ yếu là hình thức liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh Sau nhiều lần nước ta sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài, đến những năm cuối thập niên 90, loại hình doanh nghiệp này mới nhiều cơ hội hơn để phát triển

Tổng số vốn đầu tư theo giá thực tế (Tỷ đồng)

Tốc độ tăng bình quân mỗi năm tính theo giá so sánh 1994 (%)

Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước 1519004 15,1

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 976912 18,5

Nguồn: Tổng cục Thống kê 2011

Bảng 2.1: Tổng số vốn đầu tư thực hiện mười năm 2001-2010 phân theo khu vực kinh tế

Trang 32

Theo báo cáo “Tình hình kinh tế - xã hội mười năm 2001-2010” 18, tr.53 của Tổng cục Thống kê, tổng số vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nói chung trong suốt 10 năm là 976.912 tỷ đồng, tăng bình quân mỗi năm khoảng 18,5% Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước phát triển với tốc

độ cao nhất trong 3 khu vực nên tỷ trọng chiếm trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế đã không ngừng tăng lên qua các năm Đây là con số xác thực nhất minh chứng những đóng góp của dòng vốn đầu tư nước ngoài, trong đó bao gồm đầu tư trực tiếp của Nhật Bản Như đã trình bày, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng, tác động tới sự phát triển toàn diện của một quốc gia Riêng với Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản càng có một vai trò quan trọng không thể thiếu vì Nhật Bản là một trong những quốc gia đầu tư lớn nhất vào Việt Nam

Trong số các đối tác đầu tư vào Việt Nam thì Nhật Bản được xem là một đối tác quan trọng với số vốn đầu tư lớn và có những nét tương đồng về phong tục tập quán, văn hoá đối với người Việt Nam Mặc dù là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, thiếu nguyên liệu cho sản xuất nhưng bù lại Nhật Bản lại có công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến Do đó, Nhật Bản có xu hướng đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát triển Châu Á để khai thác các nguồn lực sẵn có của những nước này Việt Nam đã

là một trong những điểm đến được Nhật Bản ưu ái Cũng theo số liệu tổng kết của Tổng cục Thống kê (Bảng 2.2), trong suốt thời kỳ từ năm 1988-2010, Nhật Bản luôn đứng ở vị trí cao trong danh sách các nước có số dự án đầu tư lớn nhất vào Việt Nam Riêng về tổng vốn đăng ký, Nhật Bản đứng thứ tư với gần 20.000 triệu đô la Mỹ, còn về số dự án thì đứng thứ ba, chỉ sau Hàn Quốc, Đài Loan với 1.391 dự án được cấp giấy phép

Trang 33

Quan hệ đầu tư chiến lược Việt Nam - Nhật Bản tạo sự bổ sung quan trọng cho nhau về cơ cấu giữa hai nước Về địa kinh tế, là hai nền kinh tế một

ở Đông Nam Á, một ở Đông Bắc Á, quan hệ đầu tư chiến lược Việt Nam - Nhật Bản có thể tăng cường liên kết giữa hai khu vực, cho phép hai bên phát huy tối đa lợi thế so sánh của mỗi bên, khai thác tối đa lợi ích từ mạng sản xuất Đông Á và Châu Á-Thái Bình Dương, hỗ trợ tăng trưởng nhanh và bền vững Về công nghiệp, đó là sự kết hợp ở mức độ sâu sắc hơn giữa lợi thế về nguồn nhân lực trẻ và dồi dào của Việt Nam và nguồn vốn to lớn có hàm lượng công nghệ cao của Nhật Bản Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam

có thể trở thành nguồn bổ sung tin cậy và ổn định bảo đảm an ninh lương thực cho Nhật Bản, đồng thời tiếp nhận những công nghệ mới, sạch, tiết kiệm nước, công nghệ sinh học của Nhật để tạo ra năng suất và chất lượng nông sản ngày càng cao Trong lĩnh vực văn hóa, Nhật Bản với kinh nghiệm của mình có thể tham gia vào các dự án bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

Số dự án

Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ)

Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được cấp giấy phép

thời kỳ 1988-2010 phân theo đối tác đầu tư chủ yếu

Trang 34

lớn của Việt Nam, ví dụ dự án khai quật thành Thăng Long, phục hồi cố đô Huế Việt Nam và Nhật Bản cũng gặp nhau ở nhu cầu cấp bách phải tái cấu trúc nền kinh tế sau khủng hoảng, tạo động lực mới cho giai đoạn phát triển lâu dài phía trước

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản trong suốt 40 năm qua đã góp phần quan trọng hình thành nhiều ngành kinh tế, như khai thác, lọc hóa dầu, ô

tô, xe máy, điện tử, xi măng, sắt thép, thực phẩm, thức ăn gia súc; cũng như góp phần hình thành một số khu đô thị hiện đại như nhiều khách sạn 4 - 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp, văn phòng cho thuê Lĩnh vực dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, bán buôn, bán lẻ đã được du nhập phương thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư

Việt Nam và Nhật Bản bắt đầu có quan hệ kinh tế từ năm 1973 Tính cho tới nay, thời gian đã gần 40 năm Đó là một khoảng thời gian đủ dài để hai quốc gia có sự thấu hiểu về tình hình kinh tế cũng như có thêm nhiều mối quan hệ bền chặt khác Quan hệ kinh tế Việt – Nhật có thể được tạm chia thành 4 giai đoạn như sau: Giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1989, giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1999, giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006 và giai đoạn

từ năm 2006 tới nay Sự phân chia này chỉ mang tính tương đối dựa trên những thay đổi có tác động lớn tới quan hệ kinh tế hai nước diễn ra trong suốt gần 40 năm qua Trong phạm vi của luận văn này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2000 cho tới nay Còn giai đoạn từ năm 1973 cho tới trước năm 2000, do thời gian nghiên cứu và điều kiện nghiên cứu chưa cho phép nên tác giả chỉ xin được điểm qua vài nét tóm tắt

Từ năm 1973 đến năm 1989: Các quan hệ như trao đổi kinh tế thương mại, giao lưu văn- hoá xã hội những năm này giữa Việt Nam và Nhật Bản có

Trang 35

không đồng quan điểm với Việt Nam về vấn đề Campuchia, phía Nhật Bản đã đơn phương ngừng các mối quan hệ chính thức, đông kết các khoản viện trợ

đã cam kết, đưa ra yêu cầu Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia làm điều kiện để phía Nhật Bản mở lại viện trợ Mặt khác, Nhật Bản đã phối hợp với

Mỹ và phương Tây thực hiện bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam, ngăn cản các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế cho Việt Nam vay tiền

Từ năm 1990 đến năm 1999 đã diễn ra làn sóng FDI thứ nhất, với 2.230 dự án và vốn đăng ký 16,244 tỷ USD, vốn thực hiện 12,98 tỷ USD Vào giữa những năm 1992 và 1997, Việt nam đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao

ở mức 8-9%, tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế tiền tệ Châu Á năm 1997

đã làm cho sự phát triển kinh tế của nhiều nước Châu Á bị tụt lùi và tác động tiêu cực tới nền kinh tế Việt Nam Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt nam đã giảm xuống còn 4,8% vào năm 1999 Chiến tranh lạnh đã kết thúc, toàn cầu hoá, khu vực hoá là xu thế phát triển của thời đại, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Các tác nhân bên ngoài này cùng với những nhu cầu nội sinh từ chính mỗi nước đã khiến cho quan hệ Việt Nam - Nhật Bản tuy vẫn còn một số hạn chế, bất cập song đã phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trên tất cả mọi lĩnh vực khác nhau Sau khi những vướng mắc về vấn đề Campuchia được gỡ bỏ, tháng 11/1992 Chính phủ Nhật Bản đã là nước phát triển đầu tiên tuyên bố nối lại viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam Cũng kể từ thời điểm này, Nhật Bản đã luôn là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong hầu hết các lĩnh vực thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển Đầu

tư của Nhật Bản đạt đỉnh cao vào năm 1995 với vốn đăng ký 1,22 tỷ USD Trong những năm 1996-1997, đầu tư trực tiếp của các công ty Nhật đã giảm khoảng 40% so với năm 1995 và đến năm 1999 chỉ có 14 dự án với số vốn đăng ký chỉ đạt 62 triệu USD Nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm này là

do khủng hoảng kinh tế Đông Á 1997-1998 và trực tiếp nền kinh tế Nhật Bản

Trang 36

khi đó cũng đang bị chìm sâu trong khủng hoảng kinh tế kéo dài trong suốt cả thập niên 1990

2.1.1 Giai đoạn 2000 – 2006

Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi vào năm 2000 khi các nước Châu Á khác đã đạt lại tốc độ phát triển kinh tế với sự gia tăng xuất khẩu liên quan tới công nghệ thông tin và sự quay trở lại của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực Châu Á Kể từ đó, nhờ vào sự tăng nhanh của khu vực đầu tư nước ngoài và tư nhân, mặc dù bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và sự giảm giá một số mặt hàng thiết yếu, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 6,9% năm 2001 và 7% năm

2002 Trong hai năm 2000 và 2001, đầu tư của Nhật Bản đã tăng lên với 37

dự án và trên 160 triệu USD vào năm 2001 Nhưng chỉ đến 6 tháng đầu năm

2002, Nhật Bản đã vượt lên đứng thứ 3 trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy Nhật Bản đứng thứ 3 về vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam, nhưng lại đứng đầu về vốn thực hiện (đạt 3,04 tỷ USD) Do đó, xét thực chất đầu tư của Nhật Bản ngay từ năm 2002 đã là ở vị trí số 1 tại Việt Nam và do

đó đã có nhiều đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội của cả hai nước, đặc biệt là với Việt Nam Cũng theo số liệu thống kê của Cơ quan Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), nếu như năm 2000, Việt Nam chỉ đứng thứ 8 trong danh sách đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài, thì đến năm 2005, Việt Nam đă nhảy lên vị trí thứ 4 (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan) và đứng thứ 2 trong những điểm đến của các công ty vừa và nhỏ Nhật Bản khi đầu tư ra nước ngoài (sau Trung Quốc) Đó là chưa kể, Nhật Bản đã là nước thực hiện cam kết đầu tư cao nhất tại Việt Nam Trong năm 2005, Nhật Bản

đã có 97 dự án tại Việt Nam, với tổng số vốn là 400 triệu USD Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam, nếu chỉ tính riêng với các dự án còn hiệu lực

Trang 37

cho đến ngày 31/12/2005, Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam 600 dự án với tổng số vốn đầu tư lên tới gần 6,37 tỷ USD

2.1.2 Giai đoạn 2007 tới nay

Cột mốc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007 cũng đánh dấu một bước chuyển mới trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản Có thể nói, nguồn vốn đầu tư của Nhật Bản phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam Xác nhận về hiện trạng cũng như số lượng nhà đầu tư Nhật Bản hiện đang hoạt động ở Việt Nam, ông Sotaro Nishikaqua, Giám đốc văn phòng JETRO tại Hà Nội khẳng định: “Nếu như năm 2007 - năm được coi là "đỉnh cao" của đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam, thì đến năm 2010, con số này đã vượt kỷ lục với 272 dự án đầu tư mới với tổng vốn đầu tư lên tới 2 tỷ USD”

Cũng theo JETRO, lượng dự án của doanh nghiệp nước này được cấp phép tại Việt Nam tăng liên tục từ 77 (2009) lên 208 (2011) Kể từ 2010, giá trị FDI hằng năm được đưa từ Nhật Bản vào Việt Nam hầu như đều đạt trên 1,85 tỷ USD, trong khi suốt giai đoạn 1992 - 2009 (ngoại trừ 2008), con số này thường xuyên ở dưới mốc 500 triệu USD So sánh với 2 thị trường được đánh giá là tiềm năng khác trong khu vực là Thái Lan và Indonesia, Việt Nam đang chiếm ưu thế về thu hút đầu tư từ Nhật: Cùng tăng mạnh trong giai đoạn

2009 - 2011, nhưng khi kinh tế khó khăn, tốc độ sụt giảm số dự án đầu tư của Việt Nam chậm hơn nhiều so với 2 nước còn lại Trong khi đó, giá trị vốn thu hút vẫn giữ được đà tăng để từ vị trí thứ 3 năm 2009, Việt Nam hiện là nước thu hút nhiều FDI nhất từ Nhật Bản trong số 3 nước

Trang 38

Nguồn: JETRO 2012

Theo số liệu thống kê của JETRO trong biểu đồ 2.1 trên, có thể thấy dòng vốn FDI của Nhật Bản từ năm 2007 tới 2012 có sự không đồng đều nhất định Theo từng năm, đều có sự gia tăng dần nhưng không đều mà suy giảm trong năm 2009, do một phần ảnh hưởng lớn từ tình hình kinh tế Nhật Bản và tình hình chung của thế giới Nhưng nói chung, cho tới nay, nguồn vốn đầu tư này càng ngày càng tăng với con số lớn, tính riêng 9 tháng đầu năm 2012, dòng vốn đổ vào là khoảng 2.104 triệu đô la Mỹ

Trong 3 tháng đầu năm 2012, có 26 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới

và tăng thêm là 2,3 tỷ USD, chiếm 88,8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam

Trong 4 tháng đầu năm 2012, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Nhật Bản chiếm quá nửa tổng vốn FDI vào Việt Nam Đáng lưu ý, trong khi thành phố Hồ Chí Minh có vẻ chậm chân, thì các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam lại nằm trong top đầu các địa phương thu hút vốn FDI từ Nhật Bản Đơn cử, trong số 1,58 tỷ USD vốn FDI đổ vào tỉnh

Biểu đồ 2.1: Vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Đơn vị: Triệu đô la

Trang 39

Bình Dương trong 4 tháng đầu năm, thì riêng Dự án Thành phố Tokyu của nhà đầu tư Nhật Bản đã chiếm đến 1,2 tỷ USD, vượt cả mục tiêu thu hút 1 tỷ USD vốn FDI của tỉnh trong năm 2012 Ngoài ra, 2 dự án khác của Nhật Bản cũng chiếm phần lớn lượng vốn còn lại, gồm Công ty Sun Steel đầu tư 132 triệu USD làm dây chuyền sản xuất tôn kẽm mạ màu thứ hai; Công ty Showa Gloves chuyên sản xuất găng tay cũng đăng ký tăng vốn thêm 100 triệu USD Tương tự, theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, 4 tháng đầu năm, địa phương này thu hút được 775 triệu USD (bao gồm đăng ký mới 530 triệu USD, còn lại là tăng vốn) Trong số này, Dự án nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng của Tập đoàn Lixil (Nhật Bản) có vốn đăng ký 441 triệu USD, chiếm phần lớn trong lượng vốn FDI đăng ký mới của tỉnh Đây mới chỉ là bước khởi đầu, sau khi tiếp nhận đăng ký, việc tạo điều kiện để các dự án triển khai

và giải ngân đúng tiến độ đòi hỏi nhiều nỗ lực Trong đó, tỉnh sẽ chú trọng tìm hiểu nhu cầu của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư Nhật Bản, nghiên cứu

và đầu tư đón đầu Điều quan trọng hơn, việc Lixil khởi công xây dựng nhà máy trên chỉ sau hơn nửa năm được cấp chứng nhận đầu tư lại một lần nữa khẳng định tính khả thi và hiệu quả của dòng vốn FDI từ Nhật Bản Tại tỉnh Bình Dương, tiếp thu thành quả từ việc thu hút nhà đầu tư Singapo, tỉnh này

đã lên kế hoạch nhằm tạo thuận lợi tối đa để Tokyu có thể triển khai dự án khu đô thị trị giá 1,2 tỷ USD, với kỳ vọng Tokyu sẽ là “nam châm” giúp Bình Dương thu hút thêm nhiều tên tuổi lớn từ Nhật Bản Với vai trò đầu tàu của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thành phố Hồ Chí Minh cũng được kỳ vọng là điểm đến của nhà đầu tư nước ngoài nói chung và nhà đầu tư Nhật Bản nói riêng

Sáu tháng đầu 2012, nền kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại với GDP chỉ tăng 4,38%, thấp hơn 1,25% so với cùng kỳ năm trước Nhiều doanh nghiệp trong nước, chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ lâm vào tình trạng

Trang 40

đình trệ, trong khi phần lớn doanh nghiệp FDI vẫn duy trì sản xuất, kinh doanh, một bộ phận còn mở rộng quy mô, nổi bật là tăng nhanh kim ngạch xuất nhập khẩu, vốn FDI thực hiện vẫn tăng tuy không nhiều, nhưng vốn FDI đăng ký giảm sút so với cùng kỳ 2011 Theo số liệu của Tổng cục thống kê, từ 1/1 đến ngày 20/6/2012 vốn đăng ký của 452 dự án FDI mới được cấp phép là 4.762,1 triệu USD, vốn tăng thêm của 12 dự án FDI đang hoạt động là 1.621,9 triệu USD, tổng cộng là 6.384 triệu USD, bằng 72,3% cùng kỳ 2011 Trong tổng vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm thì công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 4.021 triệu USD chiếm gần 70% Dẫn đầu là Bình Dương với số vốn đăng ký là 1.437,2 triệu USD chiếm 30,2%, tiếp đó là Hải Phòng 875,1 triệu USD chiếm 18,4%; Đồng Nai 631,5 triệu USD chiếm 13,3% tổng vốn đăng

ký của cả nước Phần lớn các dự án đăng ký tại Đồng Nai có số vốn đầu tư lớn nhất từ Nhật Bản Nhật Bản cũng đứng đầu trong các nước đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với 3.536,6 triệu USD chiếm 74,3%, tiếp đó là Hồng Công (Trung Quốc) với 406,7 triệu USD chiếm 8,5%; Hàn Quốc với 272,9 triệu USD chiếm 5,7%, Singapore với 146,7 triệu USD chiếm 3,1%, Hà Lan với 106,1 triệu USD chiếm 2,2% tổng vốn đăng ký Cần lưu ý rằng, vốn FDI đăng

ký trong 6 tháng đầu 2012 biểu hiện dòng chảy của FDI thế giới vào nước ta giảm sút sau khi đạt được đỉnh điểm vào năm 2008 với 68 tỷ USD (đã được điều chỉnh so với con số đã công bố là 72 tỷ USD) Chẳng hạn vốn FDI đăng

ký của các dự án bất động sản lớn hơn rất nhiều so với vốn FDI thực hiện, bởi

vì nhà đầu tư nước ngoài chỉ bỏ một lượng vốn giải phóng mặt bằng, xây dựng một phần hạ tầng kỹ thuật rồi bán cho người mua là nhà đầu tư thứ cấp, người cần nhà ở theo phương thức đặt hàng hoặc góp vốn, vì vậy nhiều lắm

họ chỉ chuyển từ nước ngoài vào nước ta 20-25% vốn đăng ký

Có đến 50% trên tổng số 9,5 tỷ USD đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần Toàn Thắng, Nguyễn Mạnh Hải (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, SIDA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần Toàn Thắng, Nguyễn Mạnh Hải
Năm: 2006
2. Trần Hữu Dũng (2006), Vốn xã hội và phát triển kinh tế, Bài viết cho Hội Thảo về Vốn Xã Hội và Phát Triển do tạp chí Tia Sáng và Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn tổ chức, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội và phát triển kinh tế
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2006
3. Vũ Văn Hà (2000), Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong những năm 1990 và triển vọng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong những năm 1990 và triển vọng
Tác giả: Vũ Văn Hà
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
4. Vũ Văn Hà (2001), Đặc điểm chủ yếu của FDI Nhật Bản vào Việt Nam trong những năm gần đây, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm chủ yếu của FDI Nhật Bản vào Việt Nam trong những năm gần đây
Tác giả: Vũ Văn Hà
Năm: 2001
5. Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng (2009), Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, NXB Thống Kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển: "Lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2009
6. Phước Minh Hiệp và Lê Thị Vân Đan (2007), Thiết lập và thẩm định dự án đầu tư, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập và thẩm định dự án đầu tư
Tác giả: Phước Minh Hiệp và Lê Thị Vân Đan
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2007
7. JETRO (2012), Điều tra về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nhật Bản tại châu Á và châu Đại Dương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nhật
Tác giả: JETRO
Năm: 2012
8. Lê Thị Mỹ Linh, Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
9. Cù Chí Lợi (2009), Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, NXB Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Tác giả: Cù Chí Lợi
Nhà XB: NXB Bách Khoa
Năm: 2009
10. Phan Thị Nhiệm (2010), Kinh tế phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: Phan Thị Nhiệm
Năm: 2010
11. Trần Thị Nhung và Nguyễn Duy Dũng (2005), Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay
Tác giả: Trần Thị Nhung và Nguyễn Duy Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2005
12. Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật đầu tư, Quốc hội Số 59/2005/QH11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư
Tác giả: Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
13. Phan Văn Tâm (2011), Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, chuyên ngành Quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Tâm
Năm: 2011
14. Nguyễn Xuân Thiên (2003), Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam: những vấn đề và một số gợi ý, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam: "những vấn đề và một số gợi ý
Tác giả: Nguyễn Xuân Thiên
Năm: 2003
15. Nguyễn Xuân Thiên (2005), “Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở ASEAN và Trung Quốc: thực trạng và triển vọng”, Chuyên san Kinh tế - Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở ASEAN và Trung Quốc: thực trạng và triển vọng”, "Chuyên san Kinh tế - Luật
Tác giả: Nguyễn Xuân Thiên
Năm: 2005
16. Lưu Ngọc Trịnh (1998), Kinh tế Nhật Bản những bước thăng trầm trong lịch sử, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nhật Bản những bước thăng trầm trong lịch sử
Tác giả: Lưu Ngọc Trịnh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
17. Ngô Doãn Vịnh (2005), Bàn về phát triển kinh tế, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về phát triển kinh tế
Tác giả: Ngô Doãn Vịnh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2005
18. Tổng cục Thống kê (2011), Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam mười năm 2001-2010, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam mười năm 2001-2010
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1  Tổng số vốn đầu tư thực hiện mười năm 2001-2010 - Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam
1 Bảng 2.1 Tổng số vốn đầu tư thực hiện mười năm 2001-2010 (Trang 6)
Bảng 2.1: Tổng số vốn đầu tƣ thực hiện  mười năm 2001-2010 phân theo khu vực kinh tế - Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Bảng 2.1 Tổng số vốn đầu tƣ thực hiện mười năm 2001-2010 phân theo khu vực kinh tế (Trang 31)
Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được cấp giấy phép thời kỳ 1988-2010 phân theo đối tác đầu tƣ chủ yếu - Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được cấp giấy phép thời kỳ 1988-2010 phân theo đối tác đầu tƣ chủ yếu (Trang 33)
Bảng 2.3: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO ĐỐI TÁC (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/11/2012) - Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Bảng 2.3 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO ĐỐI TÁC (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/11/2012) (Trang 46)
Bảng 2.4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vĩnh Phúc giai đoạn 2001- 2010 - Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Bảng 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vĩnh Phúc giai đoạn 2001- 2010 (Trang 56)
Bảng 2.5: Giá trị xuất nhập khẩu giữa Nhật Bản và   3 nước Đông Dương (tính đến tháng 11/2012) - Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Bảng 2.5 Giá trị xuất nhập khẩu giữa Nhật Bản và 3 nước Đông Dương (tính đến tháng 11/2012) (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w