DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT AFTA Khu vực mậudịch tự do ASEAN AMS Tổng các biện pháp hỗ trợ gộp ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôn
Trang 1NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO
TỚI XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI
HÀ NỘI - 2009
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT .iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN TRONG WTO 7
1.1 Sản xuất và xuất khẩu nông sản trong nền kinh tế 7
1.1.1 Đặc điểm của ngành nông nghiệp 7
1.1.2 Vai trò của sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản đối với phát triển kinh tế - xã hội 8
1.2 Các nguyên tắc của WTO trong vấn đề nông nghiệp và xuất khẩu hàng nông sản 9
1.2.1 WTO và vấn đề nông nghiệp 9
1.2.2 Hiệp định nông nghiệp của WTO 13
1.2.2.1 Bối cảnh ra đời của Hiệp định 13
1.2.2.2 Nội dung của Hiệp định 14
1.2.3 Các quy định khác liên quan đến hàng nông sản xuất khẩu 18
1.3 Xuất khẩu nông sản của một số nước khi gia nhập WTO và kinh nghiệm cho Việt Nam 23
1.3.1 Xuất khẩu hàng nông sản của Trung Quốc khi gia nhập WTO 23
1.3.2 Chính sách xuất khẩu nông sản của Thái Lan trong WTO 32
1.3.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam 34
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 38
2.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp Việt Nam 38
Trang 32.2 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp 41
2.2.1 Các cam kết 41
2.2.2 Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam 43
2.2.3 Những điều chỉnh chính sách nông nghiệp của Việt Nam 48
2.3 Xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO 53
2.3.1 Một số nghiên cứu 53
2.3.2 Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản khi gia nhập WTO 54
2.3.3 Đánh giá chung 80
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 88
3.1 Những quan điểm, định hướng cơ bản 88
3.1.1 Quan điểm định hướng phát triển nông nghiệp 88
3.1.2 Định hướng, chiến lược phát triển một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chính 92
3.2 Dự báo xu hướng tiêu dùng nông sản thế giới trong thời gian tới 94
3.2.1 Xu hướng tiêu dùng 94
3.2.2 Dự báo nhu cầu một số mặt hàng nông sản 94
3.3 Giải pháp 96
3.3.1 Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật 96
3.3.2 Xây dựng chiến lược phát triển ngành 99
3.3.3 Hỗ trợ thông tin, xúc tiến thương mại 101
3.3.4 Đổi mới công nghệ, chú trọng công tác chế biến nông sản xuất khẩu 102
3.3.5 Cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế 104
3.3.6 Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nông nghiệp 106
3.3.7 Phát triển nguồn nhân lực 108
3.3.8 Tăng cường hợp tác tổ chức hiệp hội, ngành hàng 108
Trang 4KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực mậudịch tự do ASEAN
AMS Tổng các biện pháp hỗ trợ gộp
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BTA Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ CIEM Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
CIF Giá hàng hoá xuất khẩu bao gồm giá thành, phí bảo hiểm
và phí vận chuyển tới cảng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FAO Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc
GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GMP Chứng nhận thực hành sản xuất tốt
HACCP Hệ thống phân tích mối nguy và xác định điểm kiểm soát tới hạn
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
MFN Đối xử tối huệ quốc
MUTRAP Dự án hỗ trợ thương mại đa biên
SPS Tiêu chuẩn vệ sinh an toàn dịch tễ
TBT Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
TRIPs Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Thời gian thực hiện các cam kết theo Hiệp định nông nghiệp 18 Bảng 1.2 Một số biện pháp bảo hộ của Trung Quốc đối với hàng
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp 38 Bảng 2.2 So sánh diện tích, sản lượng một số cây trồng
Bảng 2.3 Diện tích, sản lượng một số loại cây trồng năm 2008 39 Bảng 2.4 Cam kết cắt giảm thuế quan đối với một số mặt hàng 42 Bảng 2.5 Xu hướng tăng trưởng sản lượng và xuất khẩu theo ngành 53 Bảng 2.6 Giá trị và tốc độ tăng trưởng nông sản xuất khẩu 56
Bảng 2.9 Khối lượng, kim ngạch xuất khẩu cà phê 66
Bảng 2.13 Kim ngạch xuất khẩu rau quả một số năm 77
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Diễn biến xuất khẩu nông sản năm 2007 và năm 2008 55 Hình 2.2 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản
Hình 2.3 Cơ cấu nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu năm 2008 58 Hình 2.4 Khối lượng, kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gạo 60 Hình 2.5 Cơ cấu sản lượng xuất khẩu gạo theo thị trường 61 Hình 2.6 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu gạo theo thị trường 61 Hình 2.7 Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu hạt điều 64 Hình 2.8 Cơ cấu sản lượng xuất khẩu hạt điều theo thị trường 64 Hình 2.9 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hạt điều theo thị trường 65 Hình 2.10 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê 66 Hình 2.11 Cơ cấu sản lượng xuất khẩu cà phê theo thị trường 67
Hình 2.12 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu cà phê theo thị trường 68 Hình 2.13 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su 70 Hình 2.14 Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su theo sản lượng 71 Hình 2.15 Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su theo kim ngạch 71 Hình 2.16 Sản lượng, kim ngạch, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hạt tiêu 72 Hình 2.17 Cơ cấu khối lượng xuất khẩu hạt tiêu theo thị trường 73 Hình 2.18 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu theo thị trường 74 Hình 2.19 Khối lượng, giá trị, tốc độ xuất khẩu chè một số năm 75 Hình 2.20 Cơ cấu khối lượng xuất khẩu chè theo thị trường 76 Hình 2.21 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu chè theo thị trường 76 Hình 2.22 Kim ngạch và tốc độ xuất khẩu rau quả 78 Hình 2.23 Cơ cấu, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
Trang 8r
au quả các thị trường
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của luận văn
Ngày 1/1/1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Sau 12 năm đàm phán, ngày 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO - tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu Gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội song cũng có không ít khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng Trở thành thành viên của WTO, Việt Nam có nhiều cơ hội mở rộng thị trường, phát triển xuất khẩu song cũng đòi hỏi Việt Nam phải tiến hành cải cách và tự do hoá thương mại, bên cạnh đó còn phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt cả trong nước và trên thị trường quốc tế
Đối với mỗi quốc gia, nông nghiệp là một khu vực địa kinh tế không chỉ nuôi sống cư dân nông thôn mà còn cung cấp lương thực, thực phẩm cho
cư dân thành thị, là thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp Thu nhập
từ xuất khẩu nông sản cũng là nguồn thu ngoại tệ cần thiết để nhập khẩu các hàng hoá khác cho nền kinh tế Với các nước nghèo và đang phát triển thì nông nghiệp là lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của đa số nhân dân vì phần lớn dân cư những nước này đang sống ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Trong khi đó, hầu hết các nước phát triển cũng đều có những chính sách nhất định để bảo vệ sản xuất và xuất khẩu nông sản của họ để bảo đảm an ninh lương thực và ổn định xã hội
Với những đặc điểm sinh học và xã hội của mình, nông nghiệp đã trở thành chủ đề tranh cãi từ thời GATT (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) và nay là WTO giữa hai nhóm nước thành viên là các nước đang phát triển và các nước phát triển với nội dung xoay quanh Hiệp định nông nghiệp Thực thi Hiệp định là bắt buộc đối với mọi thành viên của WTO, tuy nhiên, các cam kết trong lĩnh vực nông nghiệp của WTO chưa hẳn đã đạt được sự đồng thuận giữa các thành viên do có một số ngoại lệ khi áp dụng các
Trang 10điều khoản của Hiệp định, các nước phát triển đã khai thác, áp dụng triệt để các ngoại lệ này và gây ra nhiều khó khăn cho các nước đang phát triển
Mặc dù sau hơn 20 năm đổi mới nhưng nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 20,73% GDP (năm 2006) và ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của hơn 73% dân số, đóng góp nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong nền kinh tế [4, năm 2006]
Sau hơn hai năm là thành viên WTO, mặc dù các tác động của việc gia nhập WTO đến nền kinh tế nói chung và xuất khẩu hàng nông sản nói riêng chưa hẳn đã rõ nét song việc đánh giá các tác động tới xuất khẩu hàng nông sản là cần thiết để chúng ta có sự nhìn nhận đúng đắn và đưa ra định hướng phát triển cho xuất khẩu hàng nông sản nước ta phù hợp với các quy định của WTO, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực nhằm xây dựng nền nông nghiệp bền vững và hội nhập quốc tế thành công Do vậy, tôi đã chọn đề tài
“Tác động của việc gia nhập WTO tới xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam”
làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Gia nhập WTO là một sự kiện kinh tế đối ngoại nổi bật của Việt Nam trong những năm gần đây Sự kiện này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Trước và sau khi nước ta gia nhập WTO, có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam thời WTO như:
“Nông nghiệp Việt Nam hội nhập WTO: các kịch bản tương lai” tác
giả Phạm Quang Diệu, Viện Chính sách và Chiến lược, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), năm 2004 Tác giả đã đưa ra một số
mô hình nghiên cứu và dự báo xu hướng phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam dau khi nước ta gia nhập WTO
“Đánh giá sự phù hợp của chính sách nông nghiệp Việt Nam với các
quy định trong hiệp định khu vực và đa phương”, Viện Chính sách và Chiến
Trang 11lược phát triển nông nghiệp, Bộ NN&PTNT, tháng 1 năm 2005 Dựa trên việc phân tích các hiệp định khu vực và đa phương mà nước ta tham gia, các tác giả đã phân tích, so sánh và đánh giá các chính sách nông nghiệp của nước ta
và kiến nghị một số giải pháp chính sửa để các chính sách nông nghiệp nước
ta đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
“Khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập AFTA”, báo cáo nghiên cứu, Quỹ Nghiên cứu
ICARD-MISPA TOR, số MISPA/2003/06, tháng 8 năm 2005 Các tác giả đã phân tích các điều kiện sản xuất trong nước, các điều kiện quốc tế khi nước ta hội nhập AFTA Qua đó tổng kết, đánh giá năng lực cạnh tranh một số nông sản chính của nước ta
“Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp Việt Nam”, báo cáo nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển
nông nghiệp, Bộ NN&PTNT, tháng 4 năm 2005 Báo cáo tổng kết quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp Việt Nam, những thay đổi trong chính sách nông nghiệp và những tiến triển trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng nông sản
“Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp nông nghiệp”, Đặng Kim Sơn, Phạm Minh Trí, Viện Chính sách và Chiến lược
phát triển nông nghiệp, Bộ NN&PTNT, năm 2006 Qua phân tích, tổng kết các số liệu, tác giả đã đánh giá năng lực của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta Các doanh nghiệp nước ta quy mô nhỏ cả
về nguồn vốn và nguồn nhân lực, trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc hậu, chưa đồng bộ… điều này gây nhiều hạn chế khi các doanh nghiệp nước ta hội nhập vào thị trường khu vực và quốc tế
“Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam: qua nghiên cứu chè, cà phê, điều”, Nguyễn
Xuân Trình chủ biên, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006 Tác giả nghiên
Trang 12cứu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp nước ta, trong
đó nghiên cứu một số mặt hàng tiêu biểu là chè, cà phê, hạt điều đến năm
2005
Tạp chí Phát triển kinh tế, số 199, tháng 5 năm 2007, PGS.TS Nguyễn
Trọng Hoài và ThS Võ Tất Thắng có bài viết: “Cam kết gia nhập WTO và
tác động đối với nông nghiệp Việt Nam” Tác giả đã phân tích một số cam
kết có ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp nước ta, phân tích kinh nghiệm qua nghiên cứu một số biến động của nông nghiệp Trung Quốc và Mexico sau khi gia nhập WTO Tác giả đã dự báo xu hướng phát triển của ngành nông nghiệp nước ta, đưa ra một số giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp nước ta trong bối cảnh hội nhập WTO
Trên Tạp chí Kinh tế và phát triển số 121, tháng 7/2007 PGS.TS Phạm
Văn Khôi (Đại học Kinh tế quốc dân) có bài viết: “Chính sách phi thuế quan
và thuế quan đối với hàng nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập WTO”
“Đánh giá tác động tổng thể khi Việt Nam trở thành thành viên của
WTO đến thay đổi xuất khẩu và thể chế”, tháng 5 năm 2008, các tác giả của
Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (MUTRAP II) – Hor 9 Nghiên cứu đã tổng kết, so sánh tình hình xuất khẩu, một số thay đổi trong chính sách xuất khẩu của nước ta một số năm trước khi gia nhập WTO và năm 2007 Sơ bộ đánh giá tác động của việc gia nhập WTO tới xuất khẩu một số mặt hàng nông sản nước ta qua so sánh số liệu năm 2007
Hội thảo tác động hội nhập đối với nền kinh tế sau hai năm Việt Nam gia nhập WTO, tháng 4 năm 2009, Bộ Công thương Các tham luận của
các đại biểu đã tổng kết, đánh giá tác động của việc gia nhập WTO tới sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ nước ta Theo đó, tác động đến nền sản xuất nông nghiệp nước ta sau 2 năm gia nhập WTO (2007; 2008) cũng chưa rõ nét, một phần do tác động cộng hưởng của khủng hoảng kinh tế
Trang 13Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã dự báo, tổng kết tình hình phát triển của xuất khẩu hàng nông sản nước ta trong bối cảnh hội nhập WTO Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, các tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế và xuất khẩu nông sản chưa thực sự rõ nét và vẫn cần những nghiên cứu tiếp theo để tổng kết, đánh giá tác động của việc gia nhập WTO trong bối cảnh mới, qua đó đưa ra các định hướng, giải pháp phát triển tốt hơn cho thời gian tới
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn là đánh giá tác động của việc gia nhập WTO tới xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản của nước ta trong thời gian tới Để hoàn thành được mục tiêu này, luận văn sẽ phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá các nội dung cam kết và những điều chỉnh chính sách của Việt Nam liên quan đến xuất khẩu hàng nông sản khi nước ta gia nhập WTO
- Đánh giá các tác động của việc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng nông sản nước ta trên cơ sở lý thuyết và thực tế
- Dựa trên kết quả nghiên cứu, những quan điểm, định hướng, mục tiêu phát triển ngành nông nghiệp và xuất khẩu hàng nông sản, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam đến năm
2020
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
- Các tác động đối với xuất khẩu hàng nông sản khi nước ta gia nhập WTO
b) Phạm vi nghiên cứu
Trang 14- Về mặt thời gian: Nghiên cứu thực tiễn xuất khẩu hàng nông sản nước
ta từ năm 2000 đến nay (2009)
- Về mặt nội dung: Phân tích định tính những tác động của việc gia nhập WTO tới xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam Nghiên cứu thực tế xuất khẩu hàng nông sản nước ta sau khi gia nhập WTO, trong đó chú trọng tới một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng và lịch sử, lấy thực tiễn xuất khẩu nông sản của Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm của một số nước
Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp để minh chứng cho những luận điểm được nêu ra trong luận văn
Các thông tin, số liệu sẽ được tổng hợp từ nhiều nguồn tin cậy để làm
cơ sở nghiên cứu, chứng minh cho các luận điểm của luận văn
6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá các tác động của việc gia nhập WTO tới xuất khẩu hàng
nông sản Việt Nam cả mặt lý thuyết và thực tiễn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam đến năm 2020
7 Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng nông sản trong WTO
Chương 2: Tác động của việc gia nhập WTO đến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam đến năm 2020
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN TRONG WTO
******************
1.1 Sản xuất và xuất khẩu nông sản trong nền kinh tế
1.1.1 Đặc điểm của ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất đặc biệt trong nền kinh tế Đây là ngành sản xuất vật chất cơ bản, sản xuất ra lương thực thực phẩm đảm bảo sự sống còn của con người và cung cấp yếu tố đầu vào cho các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều lao động và có thể sử dụng lao động giản đơn Do vậy, lao động ở nhiều lứa tuổi và mọi trình độ khác nhau đều có thể tham gia sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Đất đai là yếu tố sản xuất chính của nông nghiệp Ngoài ra, các yếu tố đầu vào khác của nông nghiệp như giống cây trồng, vật nuôi cũng đều có nguồn gốc
tự nhiên Quá trình sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi cũng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố của môi trường tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm, gió, mưa, nguồn nước, dịch bệnh… Sản phẩm của ngành nông nghiệp mang tính mùa vụ và vùng miền Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà một khu vực có thể sản xuất sản phẩm này nhưng lại không thể sản xuất sản phẩm khác hoặc có thể sản xuất những sản phẩm có chất lượng đặc biệt, tạo thành những đặc sản của các vùng đất
Công nghệ trong nông nghiệp là sự kết hợp giữa cơ học, sinh học và khó thay đổi nhanh chóng Đối tượng sản xuất trong nông nghiệp có chu kỳ sinh trưởng khá dài, từ vài tháng đến vài năm Do vậy, việc nghiên cứu thử
Trang 16nghiệm các công nghệ mới cho đến khi có thể áp dụng đại trà có thể kéo dài hàng năm, thậm chí vài năm
Sản lượng trong nông nghiệp không phải cứ muốn là có thể tăng được Việc gia tăng sản lượng có thể bằng biện pháp mở rộng sản xuất hoặc thâm canh tăng năng suất nhưng nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp là có hạn nên
mở rộng sản xuất không phải lúc nào cũng thực hiện được Năng suất cây trồng vật nuôi cũng có một giới hạn nhất định
1.1.2 Vai trò của sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản đối với phát triển kinh tế - xã hội
Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống cư dân nông thôn cũng như thành thị, đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia Một quốc gia phải phụ thuộc lương thực vào nước khác sẽ chứa đựng rất nhiều rủi ro Nước cung cấp lương thực có thể gây áp lực cho nước phụ thuộc không những về kinh tế mà cả chính trị Khi phải phụ thuộc về lương thực thực phẩm, bất cứ biến động nào về giá lương thực trên thị trường thế giới cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân trong nước, điều này rất dễ dẫn tới những bất ổn trong xã hội Tại nhiều nước đang phát triển, có tới hơn 50% dân số sống phụ thuộc vào nông nghiệp và đặc biệt ở một số nước nghèo con số này lên đến 80% [11, tr.6] Như vậy, nông nghiệp là ngành đảm bảo an ninh lương thực, sự ổn định kinh tế, chính trị và xã hội cho mọi quốc gia
Nông nghiệp là ngành đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của mỗi quốc gia Tuy nhiên, trong xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hầu hết các nước đều phấn đấu giảm tỷ lệ tương đối của nông nghiệp trong GDP
Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, xuất khẩu nông sản đang là nguồn thu ngoại tệ quan trọng để nhập khẩu các hàng hoá cần thiết phục vụ cho sự phát triển kinh tế
Trang 17Khu vực nông thôn còn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp Một ước tính của Viện Phát triển quốc tế Harvard cho thấy, bình quân
cứ 1% tăng trưởng nông nghiệp sẽ gắn liền với 1% tăng trưởng phi nông nghiệp
Nông nghiệp cũng là khu vực cung cấp lao động cần thiết cho công nghiệp hoá Ở các nước đang phát triển, nông nghiệp là khu vực sản xuất truyền thống và lớn nhất của nền kinh tế Ngày nay, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được ứng dụng trong sản xuất làm giảm bớt nhu cầu sử dụng lao động trong nông nghiệp Trong xu hướng công nghiệp hoá, lao động nông nghiệp chuyển dịch dần sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn được cải thiện, lao động ở nông thôn có điều kiện học tập nâng cao trình độ, có điều kiện tiếp cận với khoa học - kỹ thuật tiên tiến nên ngày càng có khả năng đáp ứng được yêu cầu của các ngành khác trong nền kinh tế Nông nghiệp là ngành hiện có nguồn lao động khá dồi dào nên có khả năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của ngành công nghiệp và dịch
vụ
1.2 Các nguyên tắc của WTO trong vấn đề nông nghiệp và xuất khẩu hàng nông sản
1.2.1 WTO và vấn đề nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong đời sống kinh
tế, do đó, mỗi quốc gia đều muốn bảo vệ nền nông nghiệp của mình bằng nhiều biện pháp khác nhau Nhiều biện pháp bảo vệ nông nghiệp của các nước đã làm bóp méo thương mại nông sản quốc tế Với vị trí, vai trò và thực
tế trao đổi thương mại nông sản quốc tế, nông nghiệp đã trở thành chủ đề gây nhiều tranh cãi từ thời GATT và nay là WTO giữa hai nhóm nước là nhóm các nước đang phát triển và các nước phát triển
Trang 18Đại diện nhóm các nước phát triển là Mỹ, EU, Nhật Bản Các nước này
là những nước trợ cấp rất lớn cho nông nghiệp Theo ước tính, khi cả thế giới chi cho trợ cấp nông nghiệp là 300 tỷ USD, thì 21 quốc gia phát triển đã chi khoảng 205 tỷ USD Ở Mỹ, trợ cấp nông nghiệp chiếm 25% giá trị sản lượng của khu vực nông nghiệp và 1,3% giá trị sản phẩm quốc nội Trung bình trong giai đoạn 1999-2001, Mỹ hỗ trợ cho mỗi nông dân 22 ngàn USD/năm Tại
EU, tỷ trọng phần trợ cấp trong giá thành nông sản là 46% [17, tr.9] Mặc dù vậy, đây là những nước rất lớn tiếng và kiên quyết yêu cầu các nước khác cắt giảm trợ cấp nông nghiệp Mỹ ép các nước khác phải giảm và tiến tới xoá bỏ các hình thức trợ cấp nông nghiệp, dù là trợ cấp hộp hổ phách hay hộp lục Ngoài giảm hỗ trợ xuất khẩu và trợ cấp trong nước, Mỹ còn đề nghị các nước giảm thuế quan đối với hàng nông sản Với cách cắt giảm thuế do Mỹ đề nghị thì các nước đang áp dụng thuế suất cao (chủ yếu là các nước đang phát triển)
sẽ phải giảm thuế suất rất nhiều còn các nước đang áp dụng thuế suất vừa phải sẽ chỉ phải giảm đôi chút (chủ yếu là các nước phát triển)
Trong quá trình đàm phán, Mỹ luôn giữ thái độ không nhân nhượng, thậm chí từ chối đàm phán với các nước về việc Mỹ cắt giảm trợ giá cho nông dân trong nước
EU kêu gọi giảm thiểu hình thức trợ cấp hộp hổ phách và cho phép mở rộng trợ cấp hộp lục và hộp lam EU yêu cầu các nước giảm 36% thuế quan, 45% hỗ trợ xuất khẩu, 55% trợ cấp trong nước và đòi mở rộng khái niệm trợ cấp hộp lục, bao gồm cả hình thức trợ cấp vì môi trường, vì lợi ích động vật… Dựa vào hình thức mới này, EU đã sử dụng trợ cấp trực tiếp cho nông dân để thay thế cho trợ giá sản phẩm với lời biện minh là tăng trợ cấp để phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường Ngoài ra, EU còn đưa ra tiêu chuẩn gọi là định mức tối thiểu, theo đó, ở những nước công nghiệp phát triển, những nông sản
Trang 19nhận mức trợ giá không quá 5% thì không tính vào diện phải giảm trợ giá nữa
Tại Vòng đàm phán Genever, tháng 7/2006, Hoa Kỳ cho rằng đã nhượng bộ quá nhiều, còn EU không chấp nhận cắt giảm thêm trợ cấp nông nghiệp Các nước khác cũng không muốn hạ thấp hàng rào bảo hộ của mình
Do trợ cấp có thể làm méo mó các hoạt động thương mại nên chính phủ các nước thành viên WTO phải thông báo tất cả các hình thức trợ cấp của mình nhưng trên thực tế chỉ có một số ít thành viên chấp hành
Như vậy, bằng mọi hình thức, các nước phát triển tìm cách để giảm hỗ trợ xuất khẩu, hỗ trợ sản xuất trong nước thật chậm, thậm chí không phải cắt giảm Mặt khác, họ lại luôn lớn tiếng và đưa ra nhiều hình thức để buộc các nước đang phát triển phải cắt giảm hỗ trợ xuất khẩu và trợ cấp sản xuất trong nước, cắt giảm thuế quan và áp dụng nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe để ngăn chặn sự xâm nhập của nông sản các nước đang phát triển vào thị trường các nước phát triển Điều này làm bóp méo thị trường nông sản thế giới và gây nhiều thiệt hại cho nông dân ở các nước nước đang phát triển
Về phía các nước đang phát triển: Tại Vòng đàm phán Urugoay (1994),
có một số ít nước đang phát triển tham gia vào nhóm Cairns đấu tranh đòi các nước phát triển giảm và xóa bỏ bảo hộ nông nghiệp Từ vòng đàm phán Doha (2001-2006), các nước đang phát triển đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình tự do hoá mậu dịch nông sản Năm 2003, tại Hội nghị Cancun, liên minh các nước đang phát triển (Nhóm G20) được thành lập làm đối trọng với Mỹ và EU trong các cuộc đàm phán giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển
Quan điểm của G20 là cố cân bằng sân chơi nông nghiệp, trong khi cố gắng bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển thì vẫn tính đến lợi ích của các nước phát triển
Trang 20Về hỗ trợ xuất khẩu: G20 đề nghị bãi bỏ hỗ trợ cho các hàng hoá xuất khẩu mà các nước đang phát triển đề nghị, loại bỏ dần với thời hạn cụ thể tất
cả các dạng hỗ trợ khác, đưa ra các quy định trợ cấp đảm bảo lương thực và loại bỏ tất cả các hình thức tín dụng xuất khẩu
Về mở cửa thị trường: G20 đề nghị giảm tất cả các dạng thuế quan, các mức thuế quan đỉnh và thuế quan leo thang, tăng mức hạn ngạch thuế quan và tăng cường quản lý hạn ngạch Đưa ra danh mục các hàng hoá nhạy cảm, xoá
bỏ cơ chế tự vệ đặc biệt dành cho các nước đang phát triển chưa có năng lực xác định nhu cầu bảo hộ cụ thể
Về trợ cấp trong nước: G20 kiến nghị giảm dần và tiến tới xoá bỏ các biện pháp trợ cấp hộp hổ phách, hộp lam và hộp lục Xoá bỏ trợ cấp trong nước đối với hàng xuất khẩu chủ lực tại các nước phát triển, đặt ra tiêu chuẩn khắt khe hơn đối với trợ cấp hộp lam để quá trình sản xuất tách riêng khỏi hoạt động trợ cấp, đặt ra mức trần cho các hình thức trợ cấp hộp lục
Những nước thuộc nhóm G20 là những nước đang phát triển tiên tiến nhất và là những nước xuất khẩu thuần tuý nên các khuyến nghị tập trung nhiều vào việc yêu cầu các nước cắt giảm hỗ trợ xuất khẩu, mở cửa thị trường, giảm dần và tiến tới xoá bỏ trợ cấp trong nước Tuy nhiên, sự liên kết của các nước đang phát triển vẫn chưa đủ sức mạnh đàm phán do trong những nước này có sự chia rẽ Một số nước thuộc nhóm xuất khẩu nông sản nhưng một số nước lại thuộc nhóm nhập khẩu nông sản Ngoài ra, hầu hết các nước đang phát triển đã được hứa hẹn mở cửa thị trường, một số nước khác đã và đang bị các chủ nợ ép buộc tự do hoá, nhiều nước lại bị phụ thuộc về mặt kinh tế hoặc chính trị vào Mỹ và EU khiến cho sự đấu tranh của họ kém mạnh
mẽ
Cuối tháng 9 năm 2003, Hội nghị cấp bộ trưởng lần thứ 5 của WTO được tổ chức tại Cancun (Mexico) Tại đây, Mỹ và EU đã đưa ra bản dự thảo
Trang 21tuyên bố chung của Hội nghị song đã bị các nước đang phát triển bãi bỏ Sau thất bại của Hội nghị Cancun, Hội đồng chung WTO đã nhất trí khởi động lại đàm phán Tháng 7 năm 2004, đàm phán đã đạt được kết quả bằng việc thông qua nghị quyết của Hội đồng chung WTO, trong đó có một phụ lục về vấn đề nông nghiệp Các nước đang phát triển sẽ được cạnh tranh bình đẳng hơn với các nước phát triển trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế Các nước phát triển và nước đang phát triển cam kết giảm mạnh thuế quan đối với hàng nông sản và cùng áp dụng chung một phương thức cắt giảm thuế thống nhất Những mặt hàng nào có thuế quan cao hơn sẽ phải cắt giảm nhiều hơn và bắt đầu từ những mức thuế đã cam kết
Nhìn chung, nông nghiệp là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong WTO
và vẫn chưa đạt được sự đồng thuận nhưng thông qua quá trình đàm phán vấn
đề này ngày càng được cải thiện
1.2.2 Hiệp định nông nghiệp của WTO
1.2.2.1 Bối cảnh ra đời của Hiệp định
Nông nghiệp là ngành phụ thuộc vào tự nhiên và tác động trực tiếp tới môi trường Đây cũng là ngành tác động trực tiếp tới đời sống của nông dân
và sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn Trong xu thế toàn cầu hoá, bảo hộ và trợ cấp trong thương mại quốc tế sẽ phải được cắt giảm Tuy nhiên, do đặc điểm và vai trò của nông nghiệp đối với kinh tế - xã hội của các nước nên việc bảo hộ và trợ cấp cho nông nghiệp giảm rất chậm, nhiều quốc gia cố gắng tìm cách duy trì sự bảo hộ của mình đối với sản xuất nông nghiệp như Mỹ, EU, Nhật Bản Khi vẫn còn nhiều nước duy trì bảo hộ và trợ cấp cho nông nghiệp thì thị trường nông sản quốc tế vẫn bị bóp méo và ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Các nước đang phát triển dần có vị thế quan trọng trong thương mại thế giới, các nước này đã liên kết nhau lại đấu tranh với các nước phát triển để bảo vệ quyền lợi
Trang 22của mình Tại Vòng đàm phán Urugoay năm 1994, cùng với sự ra đời của WTO, Hiệp định nông nghiệp cũng được thông qua nhằm thiết lập hệ thống thương mại nông sản theo hướng thị trường Các vấn đề về nông nghiệp cũng được tiếp tục cải cách thông qua đàm phán, cam kết về trợ cấp và bảo hộ nông nghiệp
1.2.2.2 Nội dung của Hiệp định
Mục đích của Hiệp định là cải cách lại các nguyên tắc, luật lệ, chính sách nông nghiệp cũng như giảm bớt những bóp méo trong thương mại nông nghiệp gây ra bởi chính sách bảo hộ và trợ cấp nông nghiệp
Để hạn chế những bóp méo trong sản xuất và thương mại nông sản, Hiệp định nông nghiệp điều chỉnh ba nội dung chính: Tiếp cận thị trường (Điều 4); cam kết về hỗ trợ trong nước (Điều 6) và cam kết về trợ cấp xuất khẩu (Điều 9)
Thứ nhất, tiếp cận thị trường: Đây là nội dung nhằm cắt giảm và loại
bỏ hàng rào phi thuế theo nguyên tắc chỉ bảo hộ bằng thuế Theo đó, các nước trước đây áp dụng các biện pháp phi thuế quan đều bị yêu cầu bãi bỏ và thay thế bằng thuế nhập khẩu với mức ràng buộc tương đương hoặc thấp hơn Các thành viên đồng ý cắt giảm thuế nhập khẩu theo tỷ lệ cố định Các nước phát triển phải giảm thuế 36% theo bình quân trong thời hạn 6 năm, từ 1995 đến năm 2000, ít nhất là 15% đối với mỗi dòng thuế Nước đang phát triển là 24% trong vòng 10 năm từ 1995 đến 2004 và giảm ít nhất là 10% đối với mỗi sản phẩm Tuy nhiên, các thành viên được phép sử dụng một số hạn chế phi thuế như các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật để bảo vệ con người, vật nuôi khỏi các rủi ro Các hạn ngạch thuế quan hoặc biện pháp tự vệ đặc biệt cũng có thể được áp dụng đối với các sản phẩm đã được thuế hoá thông qua đàm phán
Trang 23Thứ hai, hỗ trợ trong nước: Hỗ trợ trong nước bao gồm các khoản hỗ
trợ chung cho nông nghiệp, cho sản phẩm hoặc vùng cụ thể, không tính đến yếu tố xuất khẩu Các cam kết cắt giảm mức hỗ trợ trong nước làm bóp méo thương mại được thể hiện ở mức tổng các biện pháp hỗ trợ gộp hay các mức cam kết ràng buộc hàng năm và cuối cùng (AMS) AMS là tổng các hỗ trợ trong nước được cung cấp để hỗ trợ các nhà sản xuất nông nghiệp bao gồm: Tổng hỗ trợ đối với các sản phẩm nông nghiệp, các biện pháp hỗ trợ không cụ thể và tất cả các biện pháp tương đương
Hiệp định nông nghiệp đặt ra mức tối đa đối với tổng AMS mà mỗi quốc gia phải tính toán và báo cáo theo mẫu sẵn có trong bản ACC/4 và phải cam kết cắt giảm từ mức tổng đó
Nhóm các biện pháp hỗ trợ trong nước được chia thành ba nhóm tuỳ theo mức độ ảnh hưởng đến thương mại gồm các chính sách hộp đỏ, các chính sách hộp xanh lơ và các chính sách hộp xanh
Các chính sách hộp đỏ: Đây là dạng trợ cấp được coi là bóp méo thương mại mà các nước thành viên WTO bị yêu cầu phải cắt giảm Có nhiều dạng trợ cấp thuộc hộp đỏ nhưng tất cả đều thuộc dạng trợ cấp trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp Chúng có thể bao gồm các quy định nhằm giữ vững hay tăng giá đầu ra hay giảm giá đầu vào đối với sản xuất hoặc cố định giá lưu kho hoặc phân phối sản phẩm hoặc các thanh toán có liên quan đến sản xuất của nông dân
Nhóm chính sách này phải cam kết cắt giảm nếu vượt quá mức tối thiểu Mức tối thiểu là 5% giá trị sản lượng của sản phẩm được hỗ trợ với các nước phát triển và 10% ở các nước đang phát triển Trên cơ sở tính toán tổng AMS của các biện pháp trợ cấp thuộc nhóm hộp đỏ, các thành viên WTO sẽ
có nghĩa vụ cắt giảm mức tổng đó Các nước phát triển có nghĩa vụ cắt giảm
Trang 2420% tổng AMS được tính toán trong giai đoạn 6 năm kể từ năm 1995 và các nước đang phát triển sẽ cắt giảm 13,3% trong vòng 10 năm
Các chính sách hộp xanh: Bao gồm các trợ cấp không hoặc ít bóp méo
thương mại và sản xuất nông nghiệp, không có tác động trợ giá đối với người sản xuất nên được miễn trừ khỏi các cam kết cắt giảm Theo Điều 2 của Hiệp định nông nghiệp, các trợ cấp thuộc hộp xanh gồm:
- Chi tiêu của chính phủ đối với nghiên cứu nông nghiệp, kiểm soát sâu bệnh, kiểm tra xếp loại các sản phẩm cụ thể, dịch vụ marketing và xúc tiến thương mại
- Sự tham gia tài chính của chính phủ đối với các chương trình bảo hiểm thu nhập và an ninh thu nhập
- Thanh toán bù trừ thiệt hại thiên tai
- Các trợ cấp điều chỉnh cơ cấu: hỗ trợ các tác nhân tham gia sản xuất nông nghiệp; các chương trình ngừng sử dụng các nguồn tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp; các trợ cấp đầu tư để hỗ trợ tái cơ cấu tài chính hay cơ cấu vật chất của các nhà sản xuất
- Trợ giúp nông dân nghỉ hưu; chuyển đất sang sử dụng vào mục đích khác, hỗ trợ đầu tư
- Thanh toán các chương trình môi trường
- Thanh toán trong các chương trình hỗ trợ khu vực, hỗ trợ người nghèo, nông dân có thu nhập thấp, hỗ trợ nông dân chuyển đổi từ cây thuốc phiện sang cây trồng khác
Chính sách hộp xanh lơ: Bao gồm các thanh toán trực tiếp trong các
chương trình giới hạn sản xuất dựa trên diện tích, năng suất cố định hay đầu gia súc Hiệp định nông nghiệp cho phép các nước thành viên không phải tính đến các thanh toán hộp xanh lơ khi tính tổng AMS
Trang 25Thứ ba, trợ cấp xuất khẩu: là dạng hỗ trợ được coi là bópméo nhất đối với thương mại Đây là các trợ cấp để hỗ trợ nông dân hay người sản xuất bán các sản phẩm của họ trên thị trường quốc tế, bao gồm:
- Các trợ cấp trực tiếp của chính phủ liên quan đến hoạt động xuất khẩu
- Việc bán hay thanh lý dự trữ nông sản phi thương mại của chính phủ với giá thấp hơn giá so sánh của sản phẩm cùng loại trên thị trường
- Các khoản thanh toán xuất khẩu nông sản hoàn toàn do chính phủ thực hiện
- Trợ cấp nhằm giảm chi phí của các chuyến hàng xuất khẩu, làm nó thuận lợi hơn so với các chuyến hàng nội địa
- Trợ cấp nông sản với điều kiện tham gia vào sản phẩm xuất khẩu
Tuy nhiên, các nước đang phát triển không bị yêu cầu thực hiện các cam kết cắt giảm đối với các loại trợ cấp xuất khẩu như trợ cấp làm giảm chi phí tiếp thị, chi phí vận chuyển, chi phí chế biến, chi phí vận tải và cước phí với điều kiện các loại trợ cấp đó không áp dụng với các cách có thể lẩn tránh thực hiện cam kết cắt giảm
Theo Hiệp định nông nghiệp, các thành viên WTO không được phép áp dụng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu nông sản và phải cam kết cắt giảm giá trị cũng như số lượng trợ cấp hiện hành Các nước phát triển phải cắt giảm 36% về giá trị và 21% về số lượng trong vòng 6 năm kể từ năm 1995; các nước đang phát triển nghĩa vụ này là 24% về giá trị và 14% về số lượng trong vòng 10 năm kể từ năm 1995
Trang 26Bảng 1.1: Thời gian thực hiện các cam kết theo Hiệp định nông nghiệp
Các nước phát triển (1995-2000)
Các nước đang phát triển (1995-2004)
- Số lượng trợ cấp xuất khẩu (giai
Nguồn: [19, tr.7]
1.2.3 Các quy định khác liên quan đến hàng nông sản xuất khẩu
Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh động thực vật: gồm
14 điều và 3 phụ lục
Biện pháp vệ sinh động thực vật là bất cứ biện pháp nào được áp dụng
để bảo vệ sức khoẻ con người hay động thực vật trong phạm vi lãnh thổ của nước thành viên khỏi các nguy hiểm nảy sinh từ nhập khẩu, từ sự hình thành
và lây lan của các côn trùng có hại, dịch bệnh, các vật mang dịch bệnh hoặc các sinh vật gây bệnh, các phụ gia, chất gây ô nhiễm, độc tố hay sinh vật gây bệnh trong đồ ăn thức uống, thực phẩm
Các biện pháp vệ sinh động thực vật bao gồm tất cả các luật, nghị định, quy định, yêu cầu và các thủ tục liên quan, tiêu chuẩn sản xuất, tiến trình và
Trang 27phương pháp sản xuất; thử nghiệm, kiểm tra, chứng nhận thông qua các thủ tục, biện pháp xử lý như các yêu cầu về vận chuyển động thực vật với điều kiện cần thiết cho sự sống sót của chúng, các quy định về phương pháp thống
kê, thủ tục lấy mẫu, phương pháp đánh giá nguy hại, các yêu cầu đóng gói, dán nhãn trực tiếp liên quan đến chất lượng sản phẩm
Đánh giá sự nguy hại là việc đánh giá khả năng có thể xảy ra từ việc nhập khẩu, hình thành và lây lan dịch bệnh, các côn trùng gây hại trong phạm
vi lãnh thổ của nước nhập khẩu theo các biện pháp vệ sinh động thực vật có thể được áp dụng và kết hợp với các kết quả kinh tế, sinh thái tiềm ẩn hoặc sự tiểm ẩn những ảnh hưởng bất lợi đối với sức khoẻ con người, động thực vật của các chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, các độc tố, sinh vật gây bệnh trong thực phẩm, đồ uống
Không nước nào bị ngăn cản lựa chọn hay thi hành biện pháp để bảo vệ sức khoẻ, cuộc sống con người, động thực vật với yêu cầu là các biện pháp không được áp dụng theo cách thức có thể tạo ra sự phân biệt đối xử khác nhau hoặc không công bằng giữa các nước thành viên có điều kiện giống nhau và một sự hạn chế được nguỵ trang đối với thương mại quốc tế
Hiệp định mong muốn cải thiện sức khoẻ, cuộc sống con người và tình hình vệ sinh động thực vật của tất cả các nước thành viên Các biện pháp vệ sinh thường được áp dụng trên cơ sở các hiệp định hoặc nghị định thư song phương Các thành viên phải đảm bảo rằng bất kỳ biện pháp đảm bảo vệ sinh động thực vật nào chỉ được áp dụng trong trường hợp cần thiết và phải dựa trên cơ sở khoa học Các biện pháp đảm bảo vệ sinh động thực vật không được phân biệt đối xử khác nhau hoặc không công bằng giữa các nước thành viên Các biện pháp đó cũng không được áp dụng theo cách thức có thể tạo ra
sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế
Trang 28Việc đánh giá rủi ro sẽ phải tính đến các chứng cứ khoa học đã có, các quá trình và phương pháp sản xuất liên quan Đánh giá các rủi ro còn phải tính đến các yếu tố kinh tế liên quan như khả năng thiệt hại do thua lỗ trong sản xuất hay tiêu thụ khi có sâu bệnh xâm nhập, xuất hiện hay lan truyền, chi phí của việc kiểm tra hay loại bỏ sâu bệnh
Các quy định về vệ sinh động thực vật sẽ phải được công bố trong một khoảng thời gian hợp lý trước khi có hiệu lực để các nước thành viên khác có thời gian thay đổi sản phẩm, phương pháp sản xuất của họ để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu
Mỗi nước phải có một đầu mối để cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến các biện pháp vệ sinh động thực vật
Bên cạnh các quy định của Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh động thực vật, lương thực thực phẩm nhập khẩu vào các nước phát triển phải tuân theo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm rất khắt khe
- Chất phụ gia trong thực phẩm: chỉ rõ các chất và hàm lượng tối đa được sử dụng trong chế biến thực phẩm phải đảm bảo yêu cầu về an toàn thực phẩm và hạn chế tác động đến môi trường
Hàng nông sản, thực phẩm nhập khẩu vào Nhật Bản được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng Một số
Trang 29sản phẩm muốn nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản phải được các bộ ngành
có liên quan của nước này cho phép và phải tuân thủ các hệ thống, nguyên tắc
áp dụng đối với từng loại mặt hàng
Trước sự xuống cấp của môi trường do hoạt động sản xuất tiêu dùng của con người, bên cạnh việc phát triển thương mại, các nước ngày càng quan tâm đến bảo vệ môi trường Nhiều nước đã đưa ra nhiều quy định mà ta có thể chia thành hai nhóm:
- Các quy định liên quan trực tiếp đến môi trường như về bao bì, nhãn sinh thái, phương pháp sản xuất
- Các quy định gián tiếp: như quy định về loại thuốc trừ sâu, hàm lượng thuốc bảo vệ động thực vật, kháng sinh trong sản phẩm; quy trình sản xuất, giết mổ gia súc, quy định về các phụ gia được sử dụng…
Các biện pháp vệ sinh động thực vật, môi trường ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong thương mại quốc tế nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ con người, môi trường… nhưng có thể trở thành các rào cản thương mại, nhất là khi bị lạm dụng để bảo vệ thị trường trong nước
Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại: Năm 1979, GATT
đã công bố Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) và có hiệu lực từ ngày 1/1/1980
Những quy định của TBT nhằm đảm bảo tính ổn định sản phẩm về chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn cho người, gia súc, cây cối, bảo vệ sinh thái
và môi trường
- Về tiêu chuẩn kỹ thuật: Các sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất
cứ bên nào cũng phải được đối xử không kém phần ưu đãi so với các sản phẩm cùng loại trong nước cũng như các sản phẩm tương tự xuất xứ tại bất kỳ quốc gia nào khác liên quan đến các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật
Trang 30Hiệp định đưa ra các tiêu chí cho việc chuẩn bị, phê chuẩn và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, đòi hỏi rằng các thủ tục để xác định tính tuân thủ của các sản phẩm đối với các tiêu chuẩn quốc gia phải công bằng và thích hợp, đặc biệt là giữa hàng hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu
TBT có tất cả 15 điều khoản và 3 phụ lục Tiêu chuẩn kỹ thuật được chứng nhận bởi một tổ chức tiêu chuẩn hoá có thẩm quyền để được áp dụng nhiều lần hoặc liên tục nhưng sự phù hợp không có tính bắt buộc Các tiêu chuẩn kỹ thuật này không bao gồm những quy cách kỹ thuật do một công ty hay cá nhân nào đó đề ra
Điều kiện kỹ thuật bao gồm các quy định hành chính áp dụng mà sự phù hợp là bắt buộc
Chứng nhận thực hành sản xuất tốt (GMP) là tiêu chuẩn bắt buộc đối với đơn vị sản xuất dược phẩm và thực phẩm, chứng nhận này đảm bảo một cách chắc chắn rằng sản phẩm được sản xuất một cách ổn định, đạt chất lượng
đã quy định
Kiểm soát tới hạn và phân tích mối nguy hại về vệ sinh là công cụ đánh giá mức độ nghiêm trọng và nguy hiểm của thực phẩm nhằm thiết lập hệ thống kiểm soát
Quy định kỹ thuật là tài liệu nêu quy cách của sản phẩm như chất lượng, mức độ hoàn thành, an toàn hay kích thước
Chứng nhận chất lượng đối với nhà xuất khẩu là điều kiện vô giá để chứng minh rằng mình đang áp dụng và điều hành một hệ thống hữu hiệu đã qua kiểm tra và được chấp nhận bởi bên thứ ba độc lập, có uy tín, một hệ thống chứng tỏ sẽ đáp ứng được yêu cầu của nhà nhập khẩu Chứng nhận chất lượng tạo một niềm tin về quản lý, chất lượng của nhà cung cấp, nó cho phép bên mua giảm bớt được sự can thiệp của mình vào quá trình sản xuất, giảm bớt chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá hệ thống chất lượng của nhà cung cấp
Trang 31Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật không tạo ra trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế Hiệp định yêu cầu không một nước nào có thể ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng xuất khẩu của mình hoặc để bảo vệ cuộc sống sức khoẻ con người, động thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá ở mức độ cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra sự phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước Trong các điều kiện giống nhau hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, các quy định phải phù hợp với hiệp định này
1.3 Xuất khẩu nông sản của một số nước khi gia nhập WTO và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trung Quốc có diện tích 9,57 triệu km2, là nước có diện tích lớn thứ ba trên thế giới và là nước đông dân nhất thế giới với dân số trên 1,3 tỷ người, đây là một thị trường tiêu dùng rộng lớn Trung Quốc có nhiều nhân tố thuận lợi trong phát triển thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong những năm gần đây, Trung Quốc đều đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao và trở thành một nền kinh tế mạnh trong số những nước đang phát triển
Tuy phát triển rất mạnh, song khi gia nhập WTO, Trung Quốc vẫn là một nước nông nghiệp với 60% dân số sống ở nông thôn Năm 2005, có 43% dân số nông thôn, 47,7% lao động trong khu vực nông nghiệp
Năm 2000, GDP của Trung Quốc đạt khoảng 1000 tỷ USD thì nông nghiệp chiếm 17,7%; công nghiệp 49,3%; dịch vụ 33% [16, tr.29]
Sau 15 năm đàm phán, ngày 11/12/2001, Trung Quốc chính thức gia nhập WTO Khi gia nhập WTO, nhiều nhà nghiên cứu lo ngại rằng nông nghiệp Trung Quốc sẽ gặp nhiều bất lợi Những lo ngại này nảy sinh từ việc
Trang 32so sánh thuế quan nông nghiệp được luật pháp Trung Quốc quy định trong những năm 1990 với các mức thuế quan được chấp nhận trong quá trình đàm phán gia nhập WTO
Cam kết của Trung Quốc trong lĩnh vực nông nghiệp
Trung Quốc chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong vòng
15 năm kể từ sau khi gia nhập WTO (hết hạn vào tháng 12 năm 2016) [6, tr 186]
+ Cam kết thuế quan: Trong lĩnh vực nông nghiệp, Trung Quốc cam
kết giảm hàng rào thuế quan đối với hàng nông sản từ mức 21,3% năm 2000 xuống 18,5% năm 2002 và 15,5% vào năm 2006 Đến năm 2008, mức thuế này còn 15,3% Cam kết thuế quan có sự khác nhau giữa các đối tác:
Đối với Mỹ: Trung Quốc và Mỹ đồng giảm mức thuế chung đối với nhập khẩu nông sản từ mức 45% xuống còn 17% và 14,4-15% đối với những sản phẩm ưu tiên Ví dụ: thịt bò từ 45% xuống 12%; rượu vang từ 65% xuống 20%; cam quýt từ 40% xuống 12% [16, tr 30]
Đối với EU: Thuế quan đối với nhiều loại nông sản giảm mạnh Dầu cải từ 85% xuống 9%; bơ từ 30% xuống 10%; quýt từ 42% xuống 12% EU
và Trung Quốc còn ký một hiệp định về vệ sinh thực vật theo tinh thần Hiệp định SPS [16, tr.30]
Trung Quốc bảo lưu quyền sử dụng các hạn chế định lượng nhập khẩu đối với gạo, lúa mì, ngô, dầu đậu nành, dầu cọ, dầu thực vật, đường, len và bông Đối với ngũ cốc, thuế suất trong hạn ngạch đối với nông sản thiết yếu là 1% và cho sản phẩm chế biến tối đa là 10% Thời gian loại bỏ hạn ngạch là năm 2004, trừ dầu đậu nành được loại bỏ vào năm 2005
+ Các chính sách phi thuế quan: thương mại nông sản Trung Quốc còn
bị ảnh hưởng bởi một loạt các chính sách bảo hộ xuất nhập khẩu phức tạp như quyền thương mại, thương mại chỉ định, hạn ngạch, giấy phép, hạn ngạch
Trang 33thuế quan… Sau khi gia nhập WTO, các biện pháp bảo hộ dần dần bị cắt giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn
Về trợ cấp nông nghiệp: Trung Quốc cam kết không trợ cấp hàng nông sản xuất khẩu, chỉ hỗ trợ thông thường trong toàn ngành nông nghiệp và hỗ trợ sản phẩm đặc biệt ở mức 8,5% giá trị sản lượng nông nghiệp
Bảng 1.2: Một số biện pháp bảo hộ của Trung Quốc đối với hàng nông sản nhập khẩu
Trang 34năm 1999, giá gạo của Trung Quốc cao hơn của thế giới là 12,3%; tiểu mạch
là 51,5%; ngô là 56,2%, đậu tương là 41,8% Chỉ có thịt lợn, táo và thuốc lá là tương đối có ưu thế, còn lại nhiều mặt hàng nông sản của Trung Quốc thiếu sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
Do tác động của quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như tác động của quá trình công nghiệp và đô thị hoá, tài nguyên nông nghiệp ngày càng khan hiếm Năm 1999, diện tích đất nông nghiệp bình quân một lao động là 0,2 ha, chỉ bằng ¼ của Thái Lan, 1/25 của thế giới và 1/3000 của [16, tr.31]
Theo nhiều nghiên cứu và dự báo, sau khi gia nhập WTO, nông nghiệp Trung Quốc bị tác động mạnh hơn các ngành khác mặc dù trong dài hạn cũng
có những tác động tích cực Năm 2000, Fan Zhai và Shan Tong Li đã dùng
mô hình toán học để phân tích 41 ngành kinh tế và 10 loại hộ gia đình về tác động của gia nhập WTO Theo nghiên cứu trên, việc bãi bỏ quota nhập khẩu nông phẩm sẽ làm giá nông sản trong nước hạ thấp, sản lượng lương thực, thực phẩm giảm, tỷ lệ nhập khẩu tăng cao, nhưng những tác động này không đồng đều với các sản phẩm Những sản phẩm cần nhiều lao động, được bảo
hộ cao sẽ giảm sản lượng và số lượng xuất khẩu như các sản phẩm lương thực
và sẽ tăng đối với các ngành khác như chăn nuôi Trung Quốc là nước thiếu đất, hạn chế về vốn nhưng thừa lao động giản đơn nên Trung Quốc sẽ mở cửa thị trường nông nghiệp và thực phẩm của mình, các nước phát triển sẽ mở rộng thị trường sản phẩm sử dụng nhiều lao động thủ công của Trung Quốc, qua đó tạo những điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết để chuyển lao động nông nghiệp sang ngành khác
Các điều chỉnh chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Trung Quốc
Ngay trong quá trình đàm phán, Trung Quốc đã rất khéo léo khi thoả thuận với các đối tác để hạn chế đến mức thấp nhất tác hại đến sản xuất trong
Trang 35nước, vẫn bảo hộ được các mặt hàng kém lợi thế cạnh tranh, gia tăng môi trường cạnh tranh cho các mặt hàng có lợi thế, góp phần thúc đẩy và nâng cao khả năng cạnh tranh của các mặt hàng này Cam kết hạn ngạch nhập khẩu của Trung Quốc thấp hơn hoặc gần với quy mô nhập khẩu thực tế những năm trước đó Mức trợ cấp thực tế của Trung Quốc là 2%, thấp hơn mức cam kết (8,5%) Tuy nhiên, mức độ bảo hộ đối với các sản phẩm lại rất khác nhau, Trung Quốc vẫn trợ cấp cho nông nghiệp bằng các cách không vi phạm quy định của WTO Những mặt hàng quan trọng vẫn được Trung Quốc bảo hộ, qua đó làm giảm tác động tiêu cực của hội nhập tới các mặt hàng nông sản nói riêng và nền nông nghiệp Trung Quốc nói chung
Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm nông nghiệp theo vùng: Trung Quốc không ngừng đa dạng hoá và cải tiến chất lượng theo hướng toàn diện Chính sách điều chỉnh cơ cấu tập trung vào ba vấn đề chính là phân bổ lại cơ cấu đầu tư theo vùng, cơ cấu lại sản xuất của từng khu vực và nâng cao chất lượng nhằm giảm bớt lãng phí nguồn lực con người, tài chính và tài nguyên
Từ năm 1999, Trung Quốc đã triển khai điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp
Sự điều chỉnh này tập trung vào sự cân đối tổng thể, vừa đảm bảo nguồn cung, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm trên phạm vi cả nước, chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống sang ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, điều chỉnh cơ cấu kinh tế trang trại, phát triển công nghiệp chế biến, áp dụng công nghệ tiên tiến
Trung Quốc đã xây dựng được cơ cấu cây trồng hợp lý, diện tích cây lương thực giảm, diện tích cây công nghiệp, cây thức ăn gia súc tăng, chiếm tới 30,6%, tăng 3,7% so với trước khi chuyển dịch Ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh do có nguồn thực phẩm dồi dào, sản lượng thịt tăng 10%, trứng 13,4%, thuỷ sản 12,1% Các cây trồng có chất lượng được mở rộng để
ổn định nguồn cung, phát triển cây trồng vật nuôi thế mạnh, đặc sản Chất
Trang 36lượng sản phẩm ngày càng được quan tâm, sản xuất các sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ, sản phẩm xanh Trong quá trình chuyển đổi, lợi thế của các vùng được xác định làm tiêu điểm chính cho việc phát triển theo vùng, định hướng các vùng chuyên canh và hình thành các cụm công nghiệp
Trung Quốc chuyển đổi hoạt động sản xuất của các nông hộ, cải cách nông trại theo hướng thị trường, đồng thời, hệ thống quản lý nhà nước và thị trường cũng thay đổi Quan hệ cạnh tranh cũng thay đổi từ cạnh tranh trong nước đến quốc tế
Tháng 4 năm 1994, Trung Quốc đã đưa ra quyết định về việc đi sâu cải cách ngoại thương với các nội dung chủ yếu là điều chỉnh chính sách quản lý xuất nhập khẩu, hoàn thiện công tác quản lý vĩ mô trong ngoại thương bằng các biện pháp như: đơn giản, giảm dần thuế quan xuống mức tương đương với các nước đang phát triển, thống nhất và minh bạch hoá việc thực hiện chính sách thương mại trên toàn quốc, loại bỏ dần độc quyền xuất nhập khẩu,
có nhiều biện pháp khuyến khích xuất khẩu
Thuế xuất khẩu chỉ áp dụng với rất ít mặt hàng Năm 1985 có 35 loại hàng hoá chịu thuế suất ở mức từ 10-60% thì năm 1987 chỉ còn 8% và đến nay hình thức miễn thuế và hoàn thuế xuất khẩu được áp dụng khá rộng rãi Các loại thuế được hoàn lại bao gồm thuế sản phẩm, thuế giá trị gia tăng, thuế doanh thu và thuế tiêu dùng Sau khi điều chỉnh, mức hoàn thuế giá trị gia tăng là 3% Từ ngày 1/1/1999, tất cả các doanh nghiệp có vốn nước ngoài được hoàn thuế theo quy định trên Như vậy chính sách hoàn thuế xuất khẩu
đã đạt được sự thống nhất ở Trung Quốc, chấm dứt tình trạng trợ giá tràn lan trong nước, từ đó khuyến khích cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, góp phần quan trọng thúc đẩy xuất khẩu
Thị trường trong nước cũng được cải cách nhằm cân đối cung cầu Từ năm 1998, Chính phủ Trung Quốc đã tiếp tục cải cách hệ thống phân phối
Trang 37lương thực với chương trình bốn tách biệt và một thống nhất Bốn tách biệt là giữa chính phủ với doanh nghiệp; dự trữ và lưu thông; giữa nhà nước trung ương và chính quyền tỉnh; giữa lương thực dự trữ cũ và mới Một thống nhất
là hệ thống lương thực một giá Từ năm 2001, hệ thống dự trữ lương thực được thiết lập theo từng vùng đã đẩy mạnh tiêu thụ lương thực dư thừa với mức giá đảm bảo Xây dựng kho bãi để tăng quy mô dự trữ, duy trì khả năng sản xuất lương thực thực phẩm tại các vùng sản xuất chính và củng cố vai trò của chính phủ để thực hiện các điều chỉnh vĩ mô và kiểm soát an toàn lương thực
Thuế nhập khẩu giảm đáng kể, dần dần xoá bỏ và giảm bớt những rào cản phi thuế quan và thay thế bằng thuế suất Thuế suất MFN (thuế suất tối huệ quốc) bình quân đối với sản phẩm nông nghiệp giảm từ mức 23,1% năm
2001 xuống còn 15,3% vào năm 2005 Trung Quốc cam kết ràng buộc 100%
số dòng thuế và thuế áp dụng thực tế ở mức bằng hoặc gần bằng mức ràng buộc nên mức độ dễ dự đoán của thuế nhập khẩu ở Trung Quốc tương đối cao Những điều kiện để thâm nhập thị trường Trung Quốc được sửa đổi theo hướng ngày càng minh bạch hoá Trung Quốc đã thiết lập các quy định thống nhất, công bằng và biện pháp xuất nhập khẩu phù hợp theo cam kết khi gia nhập WTO và tiếp tục cải tiến sâu, rộng hơn
Chính sách ngoại hối và tỷ giá đã được Trung Quốc sử dụng để khuyến khích xuất khẩu Đến năm 1994, Trung Quốc đã xoá bỏ thị trường chợ đen và thống nhất tỷ giá chính thức với tỷ giá thị trường đồng thời thực hiện cơ chế
tỷ giá thả lỏng theo thị trường Từ đó cho đến khi gia nhập WTO, Trung Quốc thực hiện neo giữ đồng Nhân dân tệ trong biên độ giao động rất hẹp so với USD bất chấp những biến động của thị trường Việc neo giữ tỷ giá này làm cho đồng Nhân dân tệ được duy trì ở mức thấp hơn giá trị thực tế tới hơn
Trang 3840% Điều này đã mang lại lợi thế rất lớn cho hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc, gia tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá trên thị trường quốc tế
Chính sách hỗ trợ nông nghiệp: Khi gia nhập WTO, Trung Quốc thiếu những mặt hàng có chất lượng cao, giá cả cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trong phạm vi thoả thuận với WTO về các quy định hỗ trợ nông nghiệp, Trung Quốc vẫn có thể thực hiện các biện pháp bảo hộ đối với nông sản một cách hợp lý
- Nhóm chính sách hộp xanh: Trung Quốc tăng cường hỗ trợ cho sản xuất theo nhóm này như hỗ trợ trực tiếp cho nông dân, giảm và tiến tới xoá bỏ các loại thuế đánh vào nông nghiệp, tăng cường các dịch vụ tín dụng, bán hàng, hỗ trợ kỹ thuật, cơ sở vật chất và đào tạo kỹ thuật, nghiên cứu, bảo vệ môi trường sinh thái, hỗ trợ phát triển vùng…
- Nhóm chính sách hộp xanh lơ: Trung Quốc chuyển từ hỗ trợ sản xuất trong khâu lưu thông sang trợ cấp trực tiếp, đầu tư cho hạ tầng nông thôn
Khi gia nhập WTO, thủ tục kiểm dịch động thực vật có thay đổi về quy
mô và mức độ khó khăn tăng lên Trung Quốc đã và đang kiện toàn hệ thống kiểm dịch động thực vật theo tiêu chuẩn quốc tế Đến năm 2005, 32% số tiêu chuẩn của Trung Quốc được xây dựng và điều chỉnh dựa trên tiêu chuẩn quốc
tế Dự kiến 44% số tiêu chuẩn hiện hành cũng sẽ được điều chỉnh, thay đổi để đảm bảo phù hợp các tiêu chuẩn quốc tế
Trung Quốc xây dựng hệ thống giám sát thông tin thị trường trên cả nước nhằm cung cấp dữ liệu thông tin hoàn chỉnh và chính xác về thị trường trong nước và quốc tế
Trung Quốc vận dụng linh hoạt 5 loại thuế quan mà WTO cho phép, sử dụng linh hoạt và có hiệu quả cơ chế tự vệ để bảo vệ thị trường trong nước trước sự xâm nhập ồ ạt của các sản phẩm nông nghiệp nước ngoài
Trang 39Một số kết quả đạt được:
Nhờ có sự chuẩn bị, áp dụng những biện pháp dài hạn trong chuyển đổi
cơ cấu, nông nghiệp Trung Quốc đã bước đầu có những chuyển biến tích cực Sản xuất những nông sản có giá trị cao, có khả năng xuất khẩu, có khả năng cạnh tranh, cần ít đất và sử dụng nhiều lao động Các sản phẩm ngày càng phát triển như rau xanh, hoa quả, các sản phẩm chăn nuôi Nhập khẩu không
ồ ạt như dự đoán và xuất khẩu nông sản vẫn gia tăng Năm 2002, xuất khẩu nông sản tăng 13,3% Giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp trung bình giai đoạn 2001-2005 tăng 5,3%/năm Năm 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 12,5% GDP [16, tr.33]
Trung Quốc xuất khẩu 4 loại mặt hàng chính là lương thực, rau quả, gia cầm và một số đặc sản cây công nghiệp ngắn ngày Rau và hoa quả là mặt hàng Trung Quốc có ưu thế về giá và số lượng Từ nhiều năm nay, Trung Quốc là một trong những nước sản xuất và xuất khẩu lớn nhất nhiều mặt hàng nông sản như: thịt lợn 46% sản lượng thế giới; bông sợi 24%; trà 23%; lê 70%; táo 48%; đào 32%; cà chua 30% Đến năm 2003, giá trị xuất khẩu rau tăng 43%, quả tăng 80% Hiện nay Trung Quốc đứng thứ 8 thế giới; đứng đầu khu vực châu Á về xuất khẩu nông sản và cung cấp 15% nông sản cho Nhật Bản Tuy nhiên, một số mặt hàng Trung Quốc có ưu thế về giá và số lượng song chất lượng chưa cao; quy mô sản xuất còn nhỏ và vẫn gặp phải các trở ngại khác trước các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch khi xuất khẩu
Mặc dù gia nhập WTO mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội, song Trung Quốc cũng không tránh khỏi việc đối mặt với các khó khăn, thách thức Thuế nhập khẩu nông sản giảm đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của hàng trăm triệu nông dân Số vụ điều tra chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc tăng vọt từ sau khi nước này gia nhập WTO
Trang 40Năm 2001, số vụ điều tra chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu Trung Quốc chiếm 15% tổng số vụ điều tra chống bán phá giá toàn thế giới thì năm
2005, con số này lên tới 30%, 3 quý đầu năm 2006 là 37%
1.3.2 Chính sách xuất khẩu nông sản của Thái Lan trong WTO
Thái Lan là nước có nền nông nghiệp mạnh nhất khu vực Đông Nam
Á Hiện nay, Thái Lan đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, sản xuất và xuất khẩu cao su, tôm sú, đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu đường Nền nông nghiệp Thái Lan tăng trưởng khá và bền vững Nông nghiệp tuy chỉ chiếm 11% GDP cả nước nhưng đây là ngành thu hút nhiều lao động (hơn 50%)
Gia nhập WTO vào năm 1995, Thái Lan đã có nhiều điều chỉnh sản xuất phù hợp với nhu cầu trong nước, đảm bảo doanh thu xuất khẩu và tiết kiệm nguồn lực Nông sản xuất khẩu của Thái Lan đã chuyển từ nông sản thô sang các sản phẩm chế biến và có kế hoạch sản xuất cụ thể cho các nhóm hàng
Bên cạnh đó, Thái Lan còn tiến hành hàng loạt các điều chỉnh về chính sách thương mại, đầu tư, giá cả, tiếp thị…
Chính sách thuế: Thái Lan áp dụng thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt
hàng nông sản như thịt, rau quả, đường với mức thuế suất khá cao, 25% đối với thực phẩm; 40-50% đối với các sản phẩm có thể tiêu dùng ngay Tuy nhiên, nước này không áp dụng chính sách hạn chế số lượng Thái Lan tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương, bột đậu…
Trợ cấp xuất khẩu: Thái Lan khá chú trọng biện pháp này, nhất là đối
với các mặt hàng nông sản chế biến Trợ cấp xuất khẩu được thực hiện thông qua các hoạt động như: bán gạo trả chậm, cơ chế tín dụng trước và sau xuất khẩu; thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu; giảm lãi suất ngân hàng, giảm thuế nhập khẩu đối với những hàng hoá tạm nhập, tái xuất Tín dụng xuất