1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

129 674 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, công tác quản lý thuế đối với khu kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam tuy đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ như cải thiện được số thu cho ngân sách quốc g

Trang 1

KHOA KINH TẾ

-

TRẦN THỊ PHƯƠNG LAN

QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2006

Trang 2

KHOA KINH TẾ

-

TRẦN THỊ PHƯƠNG LAN

QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

Trang 3

Trang

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 5

1.1 Thuế và vai trò của nó trong nền kinh tế 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các cách phân loại thuế 5

1.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế 11

1.2 Nội dung và yêu cầu của hoạt động quản lý thuế 15

1.2.1 Khái niệm quản lý thuế 15

1.2.2 Nội dung của công tác quản lý thuế 16

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế 22

1.2.4 Yêu cầu của công tác quản lý thuế 25

1.2.5 Một số vấn đề phát sinh trong việc quản lý thuế 28

1.3 Đặc điểm của hoạt động đầu tư nước ngoài và tác động của nó đến công tác quản lý thuế 30

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM. 36

2.1 Chính sách thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam 36

2.1.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 37

Trang 4

ngoài 42

2.1.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chuyển nhượng vốn 43

2.1.4 Thuế giá trị gia tăng 44

2.1.5 Thuế tiêu thụ đặc biệt 46

2.1.6 Thuế xuất nhập khẩu 48

2.1.7 Thuế thu nhập cá nhân 51

2.2 Thực tiễn quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua 54

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế và quy trình quản lý thuế 54

2.2.2 Phân tích hoạt động quản lý thuế theo các nội dung của nó 57

2.2.3 Kết quả công tác quản lý thuế 65

2.3 Đánh giá về công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua 70

2.3.1 Những thành quả tích cực 70

2.3.2 Những vấn đề đặt ra và nguyên nhân của nó 74

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 81

3.1 Định hướng hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới 81

Trang 5

thuế 81

3.1.2 Định hướng về quản lý thuế 83

3.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 85

3.2.1 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế 85

3.2.2 Cải cách cơ chế quản lý thuế theo hướng hiện đại hoá toàn diện công tác quản lý thuế 91

3.2.2.1 Ban hành Luật quản lý thuế 91

3.2.2.2 Áp dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý thuế 93

3.2.2.3 Tăng cường thực hiện tuyên truyền, giáo dục về thuế 95

3.2.2.4 Đổi mới công tác thanh tra và kiểm tra thuế 97

3.2.2.5 Tăng cường công tác thu nợ và cưỡng chế thuế 99

3.2.2.6 Xây dựng đội ngũ cán bộ thuế có năng lực và trình độ chuyên môn cao 101

3.2.3 Các giải pháp khác 102

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 112

Trang 6

: Xây dựng - Chuyển giao (Build - Operate - Transfer)

: Xây dựng - Hoạt động - Chuyển giao (Build-Operate-Transfer)

: Xây dựng - Chuyển giao - Hoạt động (Build - Transfer - Operate) : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

: Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (General Argreement on Tariffs and Trade)

: Giá trị gia tăng

: Đầu tư nước ngoài gián tiếp (Facilitating Foreign Investment)

: Hỗ trợ phát triển chính thức (Offical Development Assisstance) : Viết tắt của Hội đồng tương trợ kinh tế các nước XHCN (trước đây) : Thu nhập cá nhân

: Các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations)

: Thu nhập doanh nghiệp

: Tiêu thụ đặc biệt

: Xuất nhập khẩu

: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 7

BẢNG 2.1: TÌNH HÌNH NỢ ĐỌNG THUẾ CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THUỘC CỤC THUẾ HÀ

NỘI QUẢN LÝ

BẢNG 2.2: TỶ TRỌNG SỐTHU TỪ KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU

TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG TỔNG SỐ THU TỪ NỘI ĐỊA

BẢNG 2.3: CƠ CẤU NGUỒN THU THEO TỪNG SẮC THUẾ TRONG

TỔNG THU TỪ KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ

NƯỚC NGOÀI

HÌNH 2.1: kÕt qu¶ thu c¸c lo¹i thuÕ tõ khu vùc kinh tÕ cã

vèn §Çu t- n-íc ngoµi trong giai ®o¹n 1996- 2004

57

64

66

65

Trang 8

Thuế có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, thuế là công cụ phân phối lại thu nhập Vai trò của thuế được phát huy hết tác dụng nếu Nhà nước biết sử dụng công cụ đó sao cho hợp lý và đúng cách Vì vậy, công tác quản lý thuế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác quản lý kinh tế nhà nước nói chung

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế thị trường Trong những năm qua, khu vực kinh tế này ở Việt Nam đã góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, thúc đẩy xuất khẩu, tạo nhiều việc làm cho người lao động và giúp nền kinh tế tăng trưởng

ổn định Tuy nhiện, hoạt động kinh tế ở khu vực kinh tế này còn chứa đựng nhiều diễn biến phức tạp Do đó, công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài là nhiệm vụ chính trị quan trọng bởi vì hiệu quả quản lý thuế cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế quốc gia

Trong những năm qua, công tác quản lý thuế đối với khu kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam tuy đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ như cải thiện được

số thu cho ngân sách quốc gia, góp phần tạo dựng nên môi trường đầu tư nước ngoài hấp đẫn song công tác quản lý thuế đối với khu vực này vẫn còn nhiều tồn tại

và hạn chế xuất phát từ khâu xây dựng chính sách quản lý thuế cho đến khâu triển khai thực hiện chính sách quản lý đó Việc nghiên cứu thực trạng quản lý thuế cho thấy nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đó là do: một mặt chính sách thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế này vẫn chứa đựng nhiều sự bất ổn định, thiếu đồng

bộ và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế mặt khác cơ chế quản lý thuế hiện đang áp dụng còn chứa đựng nhiều bất cập về cách thức quản lý, công nghệ quản lý và con người quản lý nên đẫn đến tình trạng trốn thuế, tránh thuế và nợ đọng thuế vẫn còn xảy ra

Trang 9

như vậy thì việc tăng cường quản lý thuế đối với khu vực kinh tế này là hết sức cần thiết Về mặt chủ quan, việc tăng cường quản lý thuế xuất phát từ yêu cầu đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo thực hiện công bằng cho các doanh nghiệp và góp phần tăng cường quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với khu vực kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài Về mặt khách quan, việc tăng cường quản lý được xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế - xã hội nước nhà trong thời gian qua và những năm tới đang trong quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới Vì vậy, các giải pháp quản lý thuế đối với khu vực kinh tế này được đưa ra trong luận văn là những giải pháp cơ bản và mang tính chiến lược dài hạn Những biện pháp đó là: tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế như ban hành các loại thuế mới, sửa đổi, bổ sung các loại thuế hiện hành; cải cách cơ chế quản lý thuế hiện hành như việc cần ban hành Luật quản lý thuế, áp dụng công nghệ thông tin hiện đại vào việc quản lý thuế, tăng cường thực hiện tuyên truyền, giáo dục về thuế, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tăng cường công tác thu nợ và cưỡng chế thuế, xây dựng đội ngũ cán bộ thuế có năng lực và trình độ chuyên môn cao và triển khai mạnh mẽ một số giải pháp khác như tăng cường các biện pháp chống gian lận thuế qua định giá chuyển giao, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý chức năng có liên quan nhằm tạo dựng môi trường quản lý thuế tốt hơn Từ việc khắc phục những hạn chế trong chính sách thuế cho đến việc cải cách cơ chế quản lý thuế theo hướng hiện đại, tiên tiến và phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm phát triển kinh tế của Việt Nam không nằm ngoài mục đích là hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản

lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian tới

Với mong muốn được đóng góp một phần nhất định trong công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian tới, hy vọng những giải pháp quản lý thuế được đưa ra trong luận văn này sẽ có ích đối với những người nghiên cứu về vấn đề “Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam” cũng như là đối với các nhà quản lý thuế Việt

Trang 10

khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới

Trang 11

1 Bộ Tài chính (2001), Tài chính với vấn đề hội nhập: Cơ hội và thách thức

trong thời gian tới, Hà Nội

2 Bộ Tài chính (2001), Hội nhập kinh tế quốc tế: chủ đề về lộ trình AFTA

đến năm 2006, Hà Nội

3 TS Nguyễn Thị Bất, TS Vũ Duy Hào (2002), Giáo trình quản lý thuế, Nhà

xuất bản Thống kê, Hà Nội

4 Nguyễn Thị Diễm Châu, Nguyễn Ngọc Thanh và Phan Hiển Minh ( 1996),

Cơ chế tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Tài chính, Hà Nội

5 Malcolm Gillis, Dwight H Perkin, Michel Roemer, Dorald R Snodgrass

(1990), Kinh tế học của sự phát triển, Viện nghiên cứu quản lý Trung ƣơng

- Trung tâm thông tin tƣ liệu, Hà Nội

6 Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia,

Hà Nội

7 Joseph E Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, Nhà xuất bản Khoa học

và kỹ thuật, Hà Nội

8 Nguyễn Ngọc Thanh (1998), Cơ chế kiểm tra và giám sát tài chính đối với

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đề tài nghiên cứu khoa học

cấp Bộ, Viện nghiên cứu Tài chính, Hà Nội

và các Báo cáo kết quả thu các loại thuế từ khu vực các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài của Tổng Cục thuế hàng năm từ 1999 đến 2003, các

số Tạp chí Thuế Nhà nước ra năm 2003, 2004 cùng các tài liệu tham khảo

khác

Trang 12

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC CẤP PHÉP

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam

Ghi chú: Số liệu trên không bao gồm vốn đầu tư bổ sung cho các dự án đã cấp giấy phép

của các năm trước, các dự án của VIETSOPETRO

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Đường lối đổi mới của Đảng luôn khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước Vì vậy hoạt động đầu tư nước ngoài luôn được Chính phủ Việt Nam dành nhiều ưu đãi, một trong những lĩnh vực được dành nhiều ưu đãi phải kể đến là lĩnh vực thuế

Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp nói chung và quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng là một nội dung rất quan trọng của quản lý nhà nước về mặt kinh tế Công tác quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản là đảm bảo huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước; phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế và tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân

Do quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có nhiều đặc thù nên công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế này trong những năm qua còn đang được hoàn thiện dần dần Thực tế trong thời gian qua, hoạt động kinh tế ở khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra vô cùng đa dạng và phức tạp Theo đó đã có hiện tượng một số doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài thông thoáng của Việt Nam để thực hiện các hành vi trục lợi cho riêng mình và làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của Việt Nam (vi phạm nguyên tắc hai bên cùng có lợi) Vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư

Trang 14

Ở Việt Nam, Chương trình cải cách thuế hiện nay đang là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược tài chính giai đoạn 2001-2010 của nước ta Chính vì vậy đã có không ít đề tài nghiên cứu xoay quanh vấn đề cải cách thuế ở Việt Nam do các chuyên gia trong ngành tài chính thực hiện Đã có không ít bài báo đăng trên các tạp chí khoa học tranh luận về vấn đề thuế song đó chỉ là những nghiên cứu riêng rẽ, chỉ mới đề cập đến từng sắc thuế Gần đây nhất, ngày 18/3/2004, đề tài khoa học cấp Bộ mang mã số B2001.38.14 "Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay" do TS Nguyễn Thị Bất làm chủ nhiệm đã được nghiệm thu Công trình nghiên cứu này được đánh giá là có ý nghĩa thực tiễn cao vì nó đóng góp nhiều ý kiến cụ thể cho công tác hoạch định chính sách của ngành thuế Việt Nam trong giai đoạn tới Tuy

nhiên việc nghiên cứu cụ thể về vấn đề Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có

Trang 15

3

vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam còn là hướng nghiên cứu rất mới mẻ chưa

được thể hiện trong các công trình nghiên cứu khoa học dài hơi Vì vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn sẽ góp một phần nhỏ vào việc giải quyết vấn đề trên

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản

lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Để thực hiện những mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

- Hệ thống hóa những khía cạnh lý luận cơ bản về thuế và quản lý thuế

- Phân tích thực trạng của công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, qua đó làm rõ được những khó khăn, vướng mắc đang tồn tại trong công tác quản lý thu thuế đối với khu vực này

- Đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế và tổ chức quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đối tượng khảo

cứu sẽ được giới hạn trong phạm vi công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của cơ quan thuế Hà Nội, từ đó khái quát chung cho công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Cũng vì vậy, phạm vi về thời gian nghiên cứu được xem xét trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến năm 2003

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng quát là phương pháp biện chứng duy vật Phù hợp với đối tượng nghiên cứu của mình, luận văn chú trọng việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê

Trang 16

4

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:

- Phân tích rõ thực trạng công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nhằm chỉ ra được những vấn đề cần giải quyết trong lĩnh vực này

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:

Bố cục của luận văn được sắp xếp như sau:

Chương 1 : Một số vấn đề chung về thuế và quản lý thuế đối với khu vực kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài ở Việt Nam

Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với khu

vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Trang 17

5

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI

KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1.1 THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các cách phân loại thuế

* Khái niệm

Thuế là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính được biết đến gần như cùng một lúc với sự ra đời, tồn tại và phát triển của phạm trù Nhà nước Khái niệm về thuế cũng được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất chặt chẽ về mặt câu chữ và nội dung Theo Mác thì " thuế

là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của ngưòi dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước" (Mác-Angghen tuyển tập, nhà xuất bản Sự thật Hà nội, 1961, tập 2) và theo Angghen thì "để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má" (Angghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu

và Nhà nước, nhà xuất bản Sự thật Hà nội, 1962) Quan niệm về thuế của Mác

và Angghen cho thấy hai ông đã nhìn thấy rõ và nhấn mạnh khía cạnh công dụng của thuế khoá Còn Lênin thì cho rằng " thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại " và " thuế cấu thành nên phần thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế " (Lênin toàn tập - tập 15) Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội thời kỳ đương đại, khái niệm

về thuế cũng được dần hoàn chỉnh hơn

Trong cuốn từ điển kinh tế của các tác giả người Anh là Chrisopher Pass và Bryan Lowes thì thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải

và vốn nhận được của cá nhân hay doanh nghiệp, trên việc chi tiêu hàng hoá dịch

vụ và trên tài sản Còn hai nhà nghiên cứu người Mỹ là K.P.Makkohhell và

Trang 18

Định nghĩa chính xác về thuế thực sự còn đang được các nhà nghiên cứu tài chính ở Việt Nam bàn thảo Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu tài chính của Việt Nam, trong khái niệm về thuế cần phải nêu được các khía cạnh sau:

- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi mối quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với người nộp thuế

- Mối quan hệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, trong đó việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước và được quy định bằng pháp luật đối với mức thu và thời gian thu Với cách hiểu như trên thì thuế có thể được định nghĩa như sau:

Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời gian được pháp luật ấn định Khoản chuyển giao thu nhập này nhằm phục vụ cho mục tiêu công cộng, không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân.

* Đặc điểm cơ bản của thuế

Từ định nghĩa trên và kết hợp với sự phát triển của thuế trong đời sống kinh tế-xã hội cho thấy thuế có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc

Đặc điểm này biểu hiện hai khía cạnh của thuế:

Một là, về bản chất nguồn hình thành nên khoản thuế là thu nhập do hoạt động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân tạo ra Hệ thống thuế của các quốc gia bao gồm nhiều loại thuế, sắc thuế và mỗi loại có chức năng điều chỉnh khác

Trang 19

7

nhau như có loại điều chỉnh thu nhập, có loại điều chỉnh tiêu dùng hay có loại điều chỉnh tài sản Tuy đối tượng điều chỉnh của các loại thuế là khác nhau song để có được số lượng thuế thu vào cho ngân sách nhà nước thì chắc chắn phải có thu nhập của xã hội Các khoản thu nhập trong xã hội được thay đổi, biến hình trong chu trình kinh tế và từ sự biến đổi đó hình thành nên các loại thu nhập Ứng với các loại thu nhập thì có các loại thuế điều chỉnh thu nhập đó

Hai là, thuế khác với các loại hình thức động viên khác của tài chính Nhà nước là nó mang tính bắt buộc Tính bắt buộc của thuế thể hiện phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế phải chuyển giao cho Nhà nước không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi trực tiếp nào mà người nộp thuế được thụ hưởng Tính bắt buộc của thuế bắt nguồn từ những lý do chủ yếu là thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế và sở dĩ bắt buộc phải thu thuế là do bắt nguồn của tính chất hàng hoá công mà Nhà nước cung cấp Vì trong quá trình cung cấp

và thụ hưởng hàng hoá công xuất hiện hiện tượng "kẻ ăn theo"- là những người chỉ muốn được hưởng lợi mà không mất một khoản chi phí nào Chính vì vậy, muốn bù đắp cho những chi phí bỏ ra để cung cấp hàng hoá công bắt buộc Nhà nước phải thu thuế của những người thụ hưởng

Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực

tiếp

Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện trên hai khía cạnh Thứ nhất là người nộp thuế thực hiện việc nộp thuế để thể hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và không có quyền yêu cầu Nhà nước phải cung cấp hàng hoá công có giá trị đúng bằng giá trị nộp thuế Thứ hai là các khoản thuế thu được của từng ngành, từng lĩnh vực không đòi hỏi buộc phải trả lại đúng bằng số đã nộp thuế khi Nhà nước tiến hành biện pháp cấp phát, hỗ trợ Tính không hoàn trả trực tiếp

là một đặc điểm để phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của Nhà nước

Trang 20

8

Thuế là khoản thu nhập của Nhà nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của các

yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia

Thuế là hình thức động viên thu nhập do hoạt động kinh tế của các thể nhân

và pháp nhân tạo ra Do đó, một nền kinh tế có năng suất và hiệu quả thấp thì nguồn thu thuế mà Nhà nước có thể huy động được cũng thấp Mặt khác, thuế có quan hệ chặt chẽ với lợi ích của các tầng lớp dân cư Vấn đề lợi ích vật chất là vấn đề nhạy cảm với vấn đề chính trị - xã hội Vì lý do đó mà thuế là yếu tố chịu

sự chi phối bởi các vấn đề chính trị - xã hội của quốc gia

Thuế được pháp luật hoá ở mức cao nhất

Thuế là một phạm trù tài chính có nội dung kinh tế, chính trị quan trọng, gắn chặt với lợi ích vật chất của các tầng lớp dân cư Do dó, Nhà nước không thể lạm dụng quyền hành một cách tuỳ tiện trong việc thu thuế Việc thu thuế của Nhà nước phải được các tầng lớp dân cư thừa nhận thông qua người đại diện cao nhất của mình là quốc hội Quốc hội xác lập quyền thu thuế của Chính phủ bằng

hệ thống luật lệ

Thuế thể hiện tính quyền lực của quốc gia

Tính quyền lực quốc gia của thuế thể hiện việc thu thuế thuộc chủ quyền của một Nhà nước độc lập không có sự can thiệp từ bên ngoài Ngay nay theo xu hướng mở cửa và hội nhập quốc tế, tính quyền lực quốc gia của thuế đã có sự suy giảm song không có nghĩa là các quốc gia từ bỏ chủ quyền đánh thuế của mình

* Phân loại thuế

Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Việc phân loại thuế có ý nghĩa quan trọng trong quản lý thu thuế từ khâu xây dựng chính sách đến triển khai thực hiện Vì mỗi loại thuế có những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có quy trình thu thuế riêng biệt nên việc phân loại thuế chính xác là cơ sở quan trọng để tổ chức đúng đắn việc thu nộp thuế phù hợp với quy trình thu từng loại thuế

Trang 21

9

Có nhiều tiêu thức phân loại thuế khác nhau được sử dụng ở nước ta và trên thế giới Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà có thể phân loại thuế theo một số tiêu thức sau:

+ Theo phương thức đánh thuế

Tuỳ thuộc vào phương pháp đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập

mà người ta chia hệ thống thuế làm hai loại : thuế trực thu và thuế gián thu

- Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Do vậy người nộp thuế trực thu đồng thời cũng là người chịu thuế trực thu Từ đặc điểm này mà thuế trực thu làm cho cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác trở nên khó khăn hơn

Về mặt nguyên tắc thì loại thuế này mang tính chất thuế luỹ tiến vì nó tính đến khả năng thu nhập của người nộp thuế Do đó loại thuế này có ưu điểm lớn là điều hoà thu nhập, giảm bớt chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư - một "khuyết tật" của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên loại thuế trực thu có nhược điểm là gây ra những phản ứng mạnh từ phía người nộp thuế mỗi khi Chính phủ có sự điều chỉnh thuế, dễ xảy ra tình trạng trốn lậu thuế Mặt khác loại thuế này có diện thu thuế khá rộng và phân tán làm cho việc tính toán và theo dõi thu thuế phức tạp tạo nên gánh nặng quản lý thuế

Ở Việt Nam loại thuế trực thu bao gồm các sắc thuế sau: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (thuế thu nhập cá nhân), thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế lợi tức doanh nghiệp), thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Thuế gián thu: Là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá và dịch vụ Khi bị đánh thuế, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ thay đổi Điều này khiến cho người nộp thuế có thể dịch chuyển (một phần hay toàn bộ) gánh nặng thuế sang cho người khác

Trang 22

10

Được "che đậy" trong giá bán hàng hoá nên thuế gián thu ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế mỗi khi Chính phủ quyết định tăng thuế Thuế gián thu mang lại nguồn thu thường xuyên và tương đối ổn định cho ngân sách Nhà nước vì trong điều kiện nào thì tiêu dùng cũng vẫn diễn ra và luôn có xu hướng ngày càng phát triển Nghiệp vụ tính và thu thuế gián thu cũng đơn giản hơn thuế trực thu do đó làm cho chi phí quản lý thuế gián thu cũng thấp hơn so với thuế trực thu

Do bản chất mang tính luỹ thoái nên thuế gián thu chưa đảm bảo được tính công bằng trong đánh thuế ( thực chất là đánh vào thu nhập người tiêu dùng) Vì thuế gián thu được tính trên mỗi đơn vị sản phẩm nên bất kể người tiêu dùng là giàu hay nghèo đều chịu sự điều tiết như nhau trên cùng số lượng tiêu dùng như nhau Số thuế này đem so với thu nhập của người giàu và người nghèo thì trong đại đa số trường hợp là mang tính luỹ thoái

Ở Việt Nam loại thuế gián thu bao gồm các sắc thuế sau: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu

+ Theo cơ sở đánh thuế

Mỗi sắc thuế có đối tượng tác động (cơ sở đánh thuế) khác nhau do đó tác dụng của các sắc thuế cũng rất khác nhau Tuy nhiên hệ thống thuế được phân loại thuế theo tiêu thức này gồm 3 loại thuế chính: thuế thu nhập, thuế hàng hóa

và thuế tài sản

- Thuế thu nhập : Loại thuế này đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh tế

và các cá nhân Tác dụng của thuế thu nhập là điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong phân phối Các sắc thuế thu nhập ở Việt Nam là: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

- Thuế hàng hóa : Là loại thuế đánh vào hàng hóa (thường đánh theo giá trị hàng hóa) Tác dụng của thuế hàng hóa là hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng theo định hướng cơ cấu hàng hoá, dịch vụ của Nhà nước Loại thuế này bao

Trang 23

Ngoài hai cách phân loại theo hai tiêu thức ở trên còn có nhiều cách phân loại khác chẳng hạn như phân loại thuế theo tính chất thuế suất mà sắc thuế đó

áp dụng (bao gồm : thuế luỹ tiến, thuế tỷ lệ, thuế luỹ thoái)

Tóm lại, trong thực tế có nhiều tiêu thức phân loại thuế và tuỳ theo yêu cầu quản lý ở mỗi nước mà có sự lựa chọn, áp dụng khác nhau Tuy nhiên, hiện nay

ở nhiều nước, để phân loại thuế người ta chủ yếu dựa vào hai tiêu thức là: phương pháp đánh thuế và cơ sở đánh thuế Xuất phát từ năng lực quản lý và tâm lý chung của xã hội mà hệ thống thuế ở mỗi nước chú ý đến tầm quan trọng của từng loại thuế khác nhau Ở các nước phát triển người ta thường quan tâm đến hệ thống thuế thu nhập nhất là thuế thu nhập cá nhân bởi thuế thu nhập cá nhân được xem là có các tác động tích cực như: tạo ra nguồn thu lớn, cải thiện được việc phân phối thu nhập, có khả năng làm ổn định thu nhập và giá cả, ngăn ngừa sự phân bố nguồn lực kém hiệu quả do việc lạm dụng thuế gián thu Đối với các nước đang phát triển hoặc kém phát triển thì thuế thu nhập ít được coi trọng hơn vì việc thu thuế này thường gặp nhiều khó khăn do thu nhập của đại

bộ phận dân cư còn thấp, các giao dịch tiền tệ khó kiểm soát, trình độ học vấn và

ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, chế độ báo cáo, kiểm toán tài chính chưa đảm bảo tính trung thực Do đó, ở các nước đang phát triển và kém phát triển có xu hướng chung là coi trọng thuế gián thu hơn là các loại thuế trực thu

1.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế

1.1.2.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu vào ngân sách nhà nước

Ngay từ khi ra đời, bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã đặt ra nhiều thứ thuế để bắt mọi thành viên trong xã hội phải đóng góp một phần thu

Trang 24

12

nhập của họ cho Nhà nước nhằm tạo nguồn tài chính cho việc chi tiêu, hoạt động của thực thể Nhà nước Nhờ có khoản đóng góp này mà bộ máy Nhà nước mới tồn tại và hoạt động được

Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các thành viên trong xã hội bao gồm các pháp nhân và các thể nhân Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội và mục đích chủ yếu của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội này là nhằm tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước Theo tiến trình phát triển của lịch sử thế giới, hoạt động thu thuế được nhìn nhận là ngày càng lớn mạnh và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo lập ngân sách của các quốc gia Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu từ thuế thường chiếm tới hơn 90% tổng

số thu ngân sách quốc gia

Với vai trò chủ đạo trong việc tạo lập cho ngân sách quốc gia thì hoạt động thu thuế thường nhận được nhiều sự quan tâm chú ý từ phía Chính phủ cũng như

từ phía dân chúng Thông qua thu thuế, một phần tổng sản phẩm quốc nội được tập trung vào ngân sách Nhà nước Tuy nhiên việc tập trung thu nhập qua thuế cũng chỉ có giới hạn bởi: nếu Chính phủ đánh thuế quá cao sẽ dẫn đến việc dân chúng từ bỏ hoạt động sản xuất kinh doanh, chuyển sang hoạt động kinh tế ngầm

và tìm mọi cách trốn thuế, từ đó dẫn đến sự bào mòn khả năng tích luỹ để tái sản xuất xã hội và làm giảm số thu thuế trong tương lai Nếu Chính phủ thu thuế quá thấp thì dẫn đến nguồn lực xã hội tập trung vào tay Nhà nước bị thiếu hụt, do đó Nhà nước không có đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình chi tiêu công cộng cần thiết Chính vì vậy, trong việc tập trung, điều động thu nhập vào ngân sách thì công tác đánh giá đúng khả năng thu thuế của quốc gia phải được chú trọng

1.1.2.2.Thuế là công cụ điều tiết kinh tế của Nhà nước

Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô - đây là vai trò đặc biệt quan trọng của thuế trong nền kinh tế thị trường

Trang 25

13

Khác với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động kinh tế, xã hội bằng các mệnh lệnh hành chính mà thay vào đó Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô Tức là Nhà nước chỉ đưa ra các chuẩn mực mang tính định hướng trên phạm vi diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động xã hội đi theo, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế-xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp

Điều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên mà Nhà nước phải thực hiện trong điều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế Vai trò này của thuế được thể hiện ở chỗ thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của dân chúng hay mọi thành viên trong xã hội Vì thế, dựa vào công cụ thuế, Nhà nước

có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng

Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung - cầu trên các thị trường Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung

- cầu trên các thị trường của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến

sự ổn định và tăng trưởng kinh tế

Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp Đối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp

Điều tiết tiêu dùng của xã hội là hoạt động quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Khi cần hạn chế tiêu dùng đối với một số hàng hoá và dịch vụ nào đấy, Nhà nước có thể tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất

Trang 26

14

nhập khẩu hay thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng đối với việc sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ đó

1.1.2.3 Thuế là công cụ phân phối lại thu nhập

Phát triển nền kinh tế thị trường là xu hướng phát triển kinh tế mang tính toàn cầu bởi nó là mô thức kinh tế được đánh giá là hiệu quả nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người từ trước đến nay Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các " khuyết tật " của thị trường ngày càng bộc lộ rõ ràng Một trong những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đó là sự phân hoá giàu nghèo hay là sự chênh lệch ngày càng lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập

về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và vì thế làm mất đi ý nghĩa của

sự phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác sự phát triển mọi mặt của một đất nước là kết quả của sự nỗ lực cộng đồng, mỗi thànhviên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Chính vì những nguyên do như vậy mà cần có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội

Sự vận động của nền kinh tế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng

bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập Thuế chính là một công cụ kinh tế được Nhà nước sử dụng để điều hoà thu nhập trong xã hội

Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà điển hình là thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này thường có mức thuế đánh cao vào các hàng hoá, dịch vụ cao cấp, đắt tiền mà chỉ người có thu nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều hơn so với người có thu nhập thấp Vì vậy, qua việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, chúng ta thấy được đã có

sự điều tiết một phần thu nhập của những người có thu nhập cao

Bên cạnh sử dụng thuế gián thu, để điều hoà thu nhập, của cải xã hội, Nhà nước còn sử dụng các loại thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với

Trang 27

15

việc sử dụng thuế luỹ tiến Tác dụng của việc sử dụng thuế thu nhập cá nhân với thuế suất luỹ tiến từng phần cũng đã có hiệu quả rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập

Tóm lại, hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng hệ thống chính sách thuế theo hướng đơn giản và mang tính hội nhập quốc tế Tuy nhiên việc thực hiện xu hướng chung đó cũng không làm triệt tiêu vai trò của thuế là công cụ điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Khái niệm quản lý thuế

Quản lý thuế là một nội dung quan trọng của công tác quản lý tài chính Nhà nước Quản lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về kinh tế nói riêng

Trong điều kiện hiện nay, công tác quản lý thuế là nhằm đạt được các mục tiêu chính là:

- Tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước

trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Ở hầu hết các quốc

gia, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng vì là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước Vì vậy làm tốt công tác quản lý thuế sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách quốc gia Mặt khác, thuế

có tác động đến thu nhập và hành vi của các doanh nghiệp và dân chúng, qua đó tác động đến toàn bộ quá trình phát triển kinh tế mà đây chính là cơ sở tạo ra nguồn thu thuế trong tương lai Vì vậy, để tăng trưởng và ổn định số thu của ngân sách nhà nước trong tương lai, công tác quản lý thuế cũng cần chú ý duy trì

và phát triển các cơ sở tạo ra nguồn thu thuế

- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế quốc dân Như trên

đã nói, thuế không chỉ đem lại nguồn thu ngân sách phục vụ nhu cầu chi tiêu của

Trang 28

16

Nhà nước mà còn là công cụ để Nhà nước điều tiết các hoạt động kinh tế và phân phối lại thu nhập Vì vậy thuế có vai trò to lớn trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Vai trò của thuế trong nền kinh tế được phát huy tốt nhất chính

là nhờ vào việc hoạch định chính sách thuế hợp lý và tổ chức quản lý thuế có hiệu quả Ngược lại, sự yếu kém trong công tác quản lý thuế sẽ làm cho thuế không thể hiện được vai trò, chức năng tích cực vốn có của nó trong nền kinh tế

- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân

cư Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua các công cụ pháp luật để

điều tiết nền kinh tế vĩ mô Trong khi đó ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động điều tiết kinh tế của Nhà nước Vì vậy, qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế sẽ làm cho ý thức chấp hành pháp luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen "Sống và làm việc theo pháp luật" trong mọi tầng lớp dân cư

1.2.2 Nội dung của công tác quản lý thuế

Công tác quản lý thuế là một phần quan trọng của công tác quản lý tài chính quốc gia của Nhà nước Nghĩa là quản lý thuế cũng bao gồm toàn bộ những công việc thuộc các lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế Ở khía cạnh lập pháp, quản lý thuế là việc lựa chọn và ban hành hệ thống các luật thuế hay được hiểu là xây dựng hệ thống chính sách thuế Ở khía cạnh hành pháp, quản lý thuế

là tổ chức thực hiện các luật thuế Và ở khía cạnh tư pháp, quản lý thuế là việc thanh tra và tố tụng thuế trên cơ sở các luật thuế được ban hành

1.2.2.1 Lựa chọn và ban hành hệ thống các luật thuế:

Trong hệ thống các luật thuế của mỗi nước bao giờ cũng gồm nhiều sắc thuế khác nhau Việc quyết định lựa chọn và áp dụng những sắc thuế nào trong nền kinh tế, nội dung của những sắc thuế đó ra sao luôn là bài toán khó ở mỗi

quốc gia

Trang 29

- Dựa trên các đặc điểm xã hội như phong tục tập quán, kết cấu giai cấp, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của cộng đồng dân cư ở quốc gia đó

- Ngoài ra, trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, khi xây dựng

hệ chính sách thuế thì bên cạnh việc xem xét đến các vấn đề kinh tế, xã hội của quốc gia đó còn cần phải xem xét các vấn đề của kinh tế thế giới và khu vực

1.2.2.2 Tổ chức thực hiện các luật thuế:

Trên cở sở đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê chuẩn và ban hành, các luật thuế được đưa vào áp dụng trong thực tế Có thể nói tổ chức thực hiện các luật thuế là khâu đóng vai trò quyết định hiệu quả của việc sử dụng công cụ thuế Tổ chức thực hiện các luật thuế có hai nhiệm vụ cơ bản là tuyên truyền, phổ biến các luật thuế và tổ chức quản lý thu thuế

Tuyên truyền, phổ biến các luật thuế đến đối tượng nộp thuế nhằm giúp đỡ đối tượng nộp thuế hiểu pháp luật thuế và thực hiện tốt pháp luật thuế Công tác tuyên truyền và phổ biến các luật thuế còn mang nhiệm vụ hỗ trợ cho đối tượng nộp thuế tức là giải đáp các thắc mắc của đối tượng nộp thuế xung quanh việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của mình Cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế có thể là tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng hay là phát hành các ấn phẩm, tờ rơi

Tổ chức quản lý thu thuế bao gồm nhiều công việc cụ thể như sau:

- Thực hiện việc quản lý đối tượng nộp thuế hay là công việc đăng ký đối tượng nộp thuế Đăng ký đối tượng nộp thuế dựa trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các đối tượng sản xuất kinh doanh hay có thu nhập chuyển giao Cơ quan

Trang 30

18

thuế sẽ phải làm công việc này thường xuyên liên tục vì việc đăng ký đối tượng nộp thuế giúp cơ quan thuế nắm bắt được nguồn thông tin về đối tượng nộp thuế phục vụ cho việc quản lý thu thuế sau này Có hai phương thức đăng ký đối tượng nộp thuế thường được áp dụng là phương thức thủ công và phương thức quản lý bằng mạng máy tính

* Trong phương thức thủ công thì mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một

sổ đăng ký thuế riêng Mọi thông tin cần thiết về đối tượng nộp thuế được phản ánh và lưu trữ trong sổ này Phương thức này chỉ thích hợp khi có ít đối tượng nộp thuế cần quản lý vì nó tốn nhiều thời gian, công sức vào việc ghi chép quản lý mà hiệu quả thu thuế không cao

* Theo phương thức quản lý bằng mạng máy tính thì cần phải xây dựng một hệ thống mã số đối tượng nộp thuế thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi một đối tượng nộp thuế được gắn với một mã số thuế duy nhất Chỉ cần có mã số thuế của đối tượng nộp thuế trong tay là người cán bộ thuế

có thể tìm kiếm được thông tin về đối tượng nộp thuế trên mạng vi tính toàn ngành thuế Đây là phương thức quản lý đối tượng nộp thuế hiện đại được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Phương thức này giúp cho việc quản lý đối tượng nộp thuế tiết kiệm được thời gian tra cứu cũng như có thể nhanh chóng, dễ dàng phát hiện được các trường hợp gian lận thuế ngay cả khi số lượng đối tượng nộp thuế tăng lên rất lớn

- Thực hiện việc lựa chọn và xây dựng qui trình quản lý thu thuế Quy trình quản lý thuế phản ánh trình tự các bước công việc phải làm nhằm tập trung đầy

đủ, kịp thời số thuế vào ngân sách nhà nước Có hai dạng quy trình quản lý thu thuế khác nhau như sau:

* Dạng quy trình mà cơ quan thuế tính và ra thông báo số thuế phải nộp Theo đó việc tính thuế được dựa trên tờ khai nộp thuế định kỳ theo thời gian hoặc theo từng chuyến hàng của đối tượng nộp thuế nộp cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai thuế, kiểm tra tờ khai thuế và tính ra số

Trang 31

19

thuế phải nộp , sau đó thông báo nộp thuế gửi đến đối tượng nộp thuế Trong khoảng thời hạn theo thông báo, đối tượng nộp thuế phải có trách nhiệm nộp đầy đủ số thuế theo thông báo vào Kho bạc nhà nước Cách thức quản lý thu thuế kiểu này sẽ đảm bảo được việc tính toán chính xác

số thuế phải nộp Tuy nhiên, áp dụng dạng quản lý thu thuế theo kiểu này khiến cơ quan thuế phải đảm nhận một khối lượng lớn công việc và rất phức tạp đặc biệt là khi số lượng đối tượng nộp thuế ngày càng nhiều lên hoặc mỗi đối tượng nộp thuế phải nộp nhiều loại thuế khác nhau

* Dạng qui trình mà theo đó đối tượng nộp thuế tự khai, tự tính thuế và nộp thuế Khác với quy trình trên, theo quy trình này thì định kỳ theo thời gian hay từng chuyến hàng, các đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế

và nộp thuế vào kho bạc nhà nước Với cách thức quản lý thu thuế này, nhiệm vụ của cơ quan thuế được đơn giản hơn Tuy nhiên, cách thức quản

lý này chỉ mang lại kết quả tốt khi mọi đối tượng nộp thuế đã nắm chắc luật thuế và tự giác chấp hành mọi nghĩa vụ thuế của mình

- Thực hiện việc tính thuế Tuỳ thuộc vào từng loại thuế và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế, việc tính số thuế phải nộp có thể được lựa chọn theo các phương pháp khác nhau như sau:

* Phương pháp đánh giá hành chính Cách tính thuế theo phương pháp này được dựa trên các căn cứ khách quan, rõ ràng và không cần phải điều tra hoặc tranh cãi Những căn cứ khách quan này là kết quả của một sự đánh giá hành chính Dựa vào sự đánh đó, người ta đưa ra những ba-rem

về mức thuế tương ứng với những căn cứ khách quan này Phương pháp này có ưu điểm là cơ quan thuế có thể chắc chắn được số lượng thuế thu được dựa trên số lượng đối tượng nộp thuế mà mình quản lý

* Phương pháp tính theo thuế khoán Phương pháp này dựa trên những thông tin, số liệu kinh tế do đối tượng nộp thuế cung cấp hoặc những thông tin thu thập được qua các biện pháp kiểm tra của cán bộ thuế Từ

Trang 32

20

những căn cứ này, cơ quan thuế ấn định một mức doanh thu cụ thể trong một thời gian nhất định và tính thuế trên mức doanh thu ấn định đó Ưu điểm của phương pháp này là một mặt giúp cho đối tượng nộp thuế biết trước số thuế phải nộp mà có kế hoạch tài chính, ổn định kinh doanh, mặt khác giúp cho cơ quan thuế đơn giản công việc quản lý thu thuế Nhược điểm lớn của phương pháp này là không bao quát hết được nguồn thu nhất

là khi tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế là nhanh và do đó hạn chế số thuế nộp cho ngân sách nhà nước Không những thế phương pháp tính thuế này còn tạo kẽ hở cho việc vi phạm pháp luật thuế

* Phương pháp tính thuế theo kê khai thực tế Phương pháp tính thuế này dựa trên tờ khai với các số liệu thực tế về tình hình sản xuất kinh doanh của cơ sở Phương pháp này có nhược điểm là khá phức tạp trong việc tính toán, quản lý và theo dõi nhưng lại có ưu điểm là đảm bảo tập trung đầy đủ số thu vào ngân sách nhà nước

- Tổ chức thu nộp tiền thuế cho đối tượng nộp thuế theo các cách khác nhau Một dạng thu nộp thuế được áp dụng phổ biến hiện nay là nộp thuế trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước bằng tiền mặt hay chuyển khoản qua ngân hàng Cách nộp này tránh được việc chiếm dụng và xâm tiêu tiền thuế của Nhà nước Còn một cách thu nộp tiền thuế khác là nộp trực tiếp bằng tiền mặt qua cơ quan thuế Cách làm này ngày càng không thích hợp và dần dần bị xoá bỏ vì nó có nhược điểm là làm cho bộ máy quản lý thuế cồng kềnh và dễ xuất hiện tình trạng tham

ô, chiếm dụng tiền thuế của Nhà nước

1.2.2.3 Thanh tra và tố tụng thuế:

Có thể hiểu tiến hành thanh tra và xử lý tố tụng thuế chính là vì mục tiêu quản lý tốt số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước Thanh tra thuế được thực hiện bởi hệ thống chuyên ngành thanh tra của cơ quan thuế Ngoài ra thanh tra thuế còn được thực hiện bởi sự phối hợp liên ngành của các cơ quan chức năng

Trang 33

21

có liên quan Đối tượng thanh tra thuế không giới hạn ở đối tượng nộp thuế mà còn chính là bản thân cơ quan thuế

Những mục đích được hướng tới khi thanh tra thuế là:

- Phát hiện ra các trường hợp khai man, trốn thuế, nợ đọng thuế, chiếm dụng tiền thuế để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời nhằm hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng thất thu thuế cho nhà nước

- Đảm bảo nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các đối tượng nộp thuế và nâng cao ý thức trách nhiệm cho người thi hành công vụ trong ngành thuế

- Phát hiện những nội dung không phù hợp với thực tiễn đời sống, kinh

tế, xã hội của đất nước trong các văn bản pháp quy về thuế, những điểm không hợp lý về công tác tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế, về các vấn đề nghiệp vụ của công tác hành thu Từ đó kiến nghị với các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để không ngừng hoàn thiện hệ thống thuế

Một số nội dung chính trong thanh tra thuế là:

* Thanh tra đối tượng nộp thuế: Đó là thanh tra việc chấp hành những

quy định về đăng ký, kê khai nộp thuế nhằm phát hiện ra những sai sót

và bất hợp lý trong những tờ khai của người nộp thuế; thanh tra việc chấp hành chế độ thống kê - kế toán, sử dụng hoá đơn, chứng từ để từ đó phát hiện ra những gian lận trong kê khai và tính thuế; thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước nhằm đảm bảo việc nộp đủ và kịp thời số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước của đối tượng nộp thuế

* Thanh tra nội bộ ngành thuế: Tập trung thanh tra vào việc thực hiện

quy trình và các nghiệp vụ trong quản lý thu thuế; thanh tra việc giải quyết các khiếu kiện và xử lý các vi phạm về thuế Việc thanh tra nội bộ

sẽ giúp sớm phát hiện ra những trường hợp người thi hành công vụ thuế

Trang 34

22

vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ, để từ đó kịp thời ngăn chặn những sai phạm và có những hình thức kỷ luật thích đáng nhằm bảo vệ số thu thuế cho ngân sách nhà nước và thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp

Xử lý tố tụng thuế liên quan đến việc khởi tố, điều tra các vụ vi phạm pháp luật về thuế Xử lý tố tụng thuế là chức năng quan trọng trong công tác quản lý thuế vì nó thể hiện quyền lực của cơ quan thuế trong việc thực thi pháp luật thuế Chức năng này có tác dụng giáo dục tích cực đối với mọi thành viên trong xã hội

về việc chấp hành nghiêm chỉnh mọi nghĩa vụ thuế của mình Ở Việt Nam hiện nay, cơ quan thuế chưa được thực thi chức năng này do đó chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp và tính chuyên nghiệp của hệ thống thuế trong việc điều tra, khởi tố các hành vi, thủ đoạn gian lận tiền thuế, chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế

Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ

Chúng ta đã biết rằng, trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế có những giai đoạn phát triển là phục hồi, phồn thịnh, suy thoái và khủng hoảng Để điều hành đất nước trong từng giai đoạn phát triển, Nhà nước phải có sự kết hợp sử dụng các chính sách quản lý vĩ mô đó là chính sách tài chính và chính sách tiền tệ để thúc đẩy phát triển kinh tế hay đưa nền kinh tế ra khỏi hủng hoảng Trong việc thực thi chính sách tài chính quốc gia có hai hình thức đó là thực thi chính sách tài chính mở rộng hay thặt chặt, và một trong các biện pháp thực hiện là điều chỉnh chính sách thuế Bởi vậy, hệ thống chính sách thuế mới trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế

Nếu sự thay đổi chính sách tài chính vĩ mô xảy ra đột ngột theo những hoàn cảnh khách quan của nền kinh tế nước nhà hay khu vực, thế giới dẫn đến những thay đổi đột ngột trong chính sách thuế thì sẽ làm cho việc quản lý thuế trở nên

Trang 35

23

khó khăn hơn Tại sao vậy? Câu trả lời là sự mất ổn định trong chính sách thuế

sẽ dẫn đến sự mất ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh và như vậy ảnh hưởng đến kết quả thu thuế Dó đó, những thay đổi trong chính sách thuế có thể

sẽ kéo theo những tác động tiêu cực hoặc tích cực tới hiệu quả công tác quản lý thuế và điều này là khó nắm chắc được bởi những phản ứng từ phía nền kinh tế

là rất khác nhau tuỳ theo từng điều kiện hoàn cảnh kinh tế, lịch sử tại thời điểm đưa ra những thay đổi đó

Yếu tố công nghệ quản lý thuế

Công nghệ quản lý thuế liên quan đến việc áp dụng các quy trình, quy phạm

và các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế Xây dựng các quy trình, quy phạm pháp luật thuế không hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật thuế cho cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế Mặt khác áp dụng biện pháp quản lý thuế thô sơ, lạc hậu sẽ đem lại khó khăn cho việc thu thập thông tin, xử lý dữ liệu liên quan đến đối tượng nộp thuế Vì vậy, việc áp dụng công nghệ quản lý thuế tiên tiến sẽ giúp cho giảm thiểu các chi phí quản lý hành chính thuế của cơ quan thuế cũng như giảm thiểu các chi phí chấp hành thuế của đối tượng nộp thuế, tạo ra hiệu quả cho công tác quản lý thuế nói chung và mang lại nhiều số thu cho ngân sách nhà nước nói riêng

Yếu tố con người trong bộ máy quản lý thuế

Trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, yếu tố con người luôn là nhân

tố thúc đẩy quan trọng vào quá trình phát triển của lịch sử Do đó, nhân tố con người luôn được đề cập đến trong quá trình xem xét, đánh giá các vấn đề mang tính tác động đến từng sự vật, hiện tượng của lịch sử Đối với công tác quản lý thuế đây là yếu tố tác động mang tính nền tảng cơ sở cho việc áp dụng tốt các biện pháp quản lý thuế nhằm đạt hiệu quả cao cho công tác quản lý thuế Nếu con người trong bộ máy quản lý thuế là những người không có năng lực quản lý chuyên môn, nghiệp vụ thuế thì không thể phát hiện và xử lý được các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Nếu con người trong bộ máy quản lý thuế không có

Trang 36

lý thuế

Yếu tố về cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc

Cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc cũng là yếu tố tác động tương đối quan trọng tới công tác quản lý thuế bởi yếu tố vật chất đóng vai trò là công cụ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế Nếu làm việc trong điều kiện cơ

sở vật chất và trang thiết bị làm việc thiếu thốn, lạc hậu thì điều đó một phần làm giảm tính uy nghiêm, quyền lực của Nhà nước mặt khác gây khó khăn cho việc tìm kiếm, lưu giữ và xử lý thông tin dữ liệu về đối tượng nộp thuế, từ đó ảnh hưởng tới kết quả quản lý thuế nói chung và kết quả thu- nộp thuế vào ngân sách nói riêng Trong bối cảnh trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế-xã hội của đất nước cũng như của thế giới ngày càng được nâng cao thì việc đầu tư công nghệ cụ thể là công nghệ thông tin vào quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế

Yếu tố môi trường quản lý

Môi trường quản lý đề cập đến ở đây đó là các vấn đề về quản lý đăng ký kinh doanh, quản lý đất đai, quản lý xuất nhập khẩu, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý tài chính-kế toán doanh nghiệp và vấn đề nhận thức của xã hội về thuế

Sở dĩ công tác quản lý thuế chịu tác động của các ngành quản lý chức năng nêu trên là vì đối tượng nộp thuế hoạt động trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã

Trang 37

25

hội có sự quản lý của Nhà nước nên hoạt động quản lý của các cơ quan chức năng khác luôn có sự quan hệ mật thiết với ngành thuế Vì vậy, để tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế tốt thì phải có sự phối kết hợp một cách ăn khớp và đồng bộ trong quản lý giữa các ngành quản lý chức năng nêu trên với quản lý thuế

Chúng ta đều biết vấn đề nhận thức xã hội về thuế có tác động trực tiếp tới hành vi, ứng xử của người nộp thuế trong việc chấp hành các nghĩa vụ thuế của mình với Nhà nước Nhận thức của xã hội về thuế ở trình độ cao sẽ làm giảm thiểu các chi phí phát sinh trong công tác quản lý thuế mà một ví dụ điển hình là chi phí cho việc điều tra xác định tội danh trốn thuế trong các vụ án vi phạm pháp luật thuế

Ngoài ra, bản thân chính sách thuế cũng tác động đến công tác quản lý thuế Chính sách thuế phức tạp, theo đuổi quá nhiều mục tiêu, mang tính phân biệt đối

xử khiến việc quản lý thuế trở nên khó khăn, phức tạp, do đó làm cho chi phí quản lý thuế lớn

1.2.4 Yêu cầu của công tác quản lý thuế

Tương ứng với mỗi nội dung của công tác quản lý thuế đều có những yêu cầu cụ thể Bởi vì chức năng chính của thuế là tập trung nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước nên có thể hiểu những yêu cầu cụ thể đặt ra trong từng nội dung quản lý thuế là nhằm hướng tới một yêu cầu chung nhất đó là: làm sao để chi phí quản lý thuế ở mức độ thấp nhất mà đạt được hiệu quả kinh tế ở mức cao nhất

Những yêu cầu cơ bản đặt ra khi xây dựng hệ thống chính sách thuế:

- Hệ thống chính sách thuế phải bao quát hết được các nguồn thu phát sinh trong nền kinh tế Việc bao quát các nguồn thu của thuế được thể

hiện trước hết là bao quát về số lượng các cơ sở, các loại hoạt động, số người trong diện điều tiết của thuế, thứ đến là phải bao quát hết được về nội dung và qui mô của các khoản thu nhập cần điều tiết Yêu cầu này đặt

Trang 38

và chiều dọc Công bằng theo chiều ngang được hiểu là những người có cùng điều kiện như nhau (chẳng hạn thu nhập như nhau) phải được đối xử như nhau trên lĩnh vực thuế tức là nộp thuế giống nhau Còn công bằng theo chiều dọc được hiểu là những người có khả năng kinh tế và thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn những người không có khả năng kinh tế và thu nhập thấp

- Chính sách thuế phải đảm bảo tính đơn giản, dễ thực hiện và dễ kiểm tra Yêu cầu này là hết sức dễ hiểu vì nộp thuế là nghĩa vụ các thành viên

trong xã hội Để các đối tượng nộp thuế tự giác chấp hành các nghĩa vụ thuế của mình thì bản thân họ phải hiểu được luật thuế và tự tính ra số thuế mà mình phải nộp Bởi vậy các sắc thuế phải thể hiện được sự rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ chung của người nộp thuế cũng như người quản lý thuế Yêu cầu này còn góp phần làm giảm những chi phí hành chính cho hệ thống quản lý thuế

Những yêu cầu đặt ra khi tổ chức thực hiện các luật thuế:

- Đối với công tác tuyên truyền, phố biến các luật thuế, yêu cầu đặt ra là

phải đảm bảo nâng cao nhận thức về thuế cho mọi tổ chức, cá nhân trong

Trang 39

27

xã hội Thông qua công tác tuyên truyền làm cho mọi người dân trong xã

hội nhận thức rõ về bản chất tốt đẹp của thuế đó là tiền thuế là tiền của nhân dân, do dân dóng góp và được sử dụng vì lợi ích của nhân dân, việc nộp thuế là lợi ích của Nhà nước nhưng cũng chính là lợi ích của cộng đồng Bằng việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế có chất lượng tốt sẽ giúp các tổ chức, cá nhân hiểu rõ được nội dung cơ bản của các chính sách thuế từ đó tự giác chấp hành tốt nghĩa vụ thuế với Nhà nước Trên cơ sở đó tạo ra sự đồng tình cao với các chính sách thuế của Nhà nước, sẵn sàng và tự nguyện cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan thuế để điều tra ra những trường hợp vi phạm pháp luật thuế, vận động và cổ vụ mọi người thực hiện tốt các chính sách thuế của Nhà nước cũng như lên án mạnh mẽ đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuế

- Đối với công tác tổ chức quản lý thu thuế, yêu cầu chính yếu đặt ra là

phải lựa chọn và xây dựng quy trình quản lý thu thuế đơn giản, thuận tiện cho việc kê khai và nộp thuế nhưng vẫn có hiệu quả quản lý cao Đây là

một đòi hỏi hết sức cần thiết của công tác quản lý thu thuế nhất là khi môi trường quản lý thay đổi và đạt tới trình độ phát triển nhất định Việc thực thi, áp dụng những quy trình quản lý thu thuế đơn giản, thuận tiện cho việc kê khai và nộp thuế nhằm mục đích giảm thiểu các chi phí tuân thủ pháp luật thuế cho đối tượng nộp thuế và giảm thiểu chi phí quản lý hành chính của cơ quan thuế.

Những yêu cầu đặt ra của công tác thanh tra và tố tụng thuế:

- Thanh tra thuế phải đảm bảo yêu cầu thanh tra đúng đối tượng có gian

lận thuế Thanh tra thuế phải đúng đối tượng gian lận thuế thì mới đạt

hiệu quả cao trong việc ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế và chống thất thu cho ngân sách nhà nước Để đạt được yêu cầu này thì người làm công tác thanh tra phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao đáp ứng việc phân tích, đánh giá đúng đối tượng có gian lận thuế

Trang 40

28

tránh để xảy ra việc thanh tra tran lan, dàn trải mà không thu được hiệu quả cao

- Công tác thanh tra thuế phải được đảm bảo là mang tính khách quan và

trung thực trong khi xem xét điều tra các sự việc và đưa ra các kết luận sau những cuộc thanh tra Theo yêu cầu này thì người làm thanh tra phải

dựa trên tư tưởng pháp trị nghĩa là dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy của nhà nước, lấy đó làm chuẩn mực cho việc đánh giá, suy xét sự việc, tuyệt nhiên không được lồng ghép những tư tưởng cá nhân, phiến diện Mặt khác người làm thanh tra phải trung thực khi xem xét, giải quyết các

sự vụ thanh tra và có bản lĩnh chính trị chống lại bất cứ sức ép quyền lực nào chi phối

1.2.5 Một số vấn đề phát sinh trong việc quản lý thuế

1.2.5.1 Gánh nặng quản lý và chấp hành thuế

Đề cập đến vấn đề gánh nặng quản lý và chấp hành thuế tức là nói đến việc

tổ chức thực hiện các luật thuế sao cho đem lại hiệu quả tổ chức thu thuế là lớn nhất Điều đó thể hiện ở chỗ tổng số thuế thu được nhiều nhất với chi phí tổ chức thu thuế thấp nhất Trên thực tế khi thu thuế bao giờ cũng phát sinh chi phí

đó là những khoản chi phí quản lý trực tiếp từ cơ quan thuế và những chi phí quản lý gián tiếp do người nộp thuế gánh chịu Tính hiệu quả của thu thuế thể hiện ở: thu được nhiều thuế nhất trên cơ sở chi phí quản lý trực tiếp của cơ quan thuế và chi phí quản lý gián tiếp của người nộp thuế là thấp nhất

Các khoản chi phí trên được gọi là chi phí hành chính hay chi phí quản lý

và chấp hành thuế Đối với xã hội, các khỏan chi phí này chỉ giúp cho việc chuyển giao của cải, thu nhập từ người nộp thuế đến Nhà nước mà không tạo ra của cải, thu nhập mới Vì vậy, các chi phí đó là các khoản tổn thất hiệu quả Chi phí quản lý và chấp hành thuế lớn hay nhỏ phụ thuộc vào:

+ Tính đơn giản hay phức tạp của hệ thống thuế

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2001), Tài chính với vấn đề hội nhập: Cơ hội và thách thức trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính với vấn đề hội nhập: Cơ hội và thách thức trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2001
2. Bộ Tài chính (2001), Hội nhập kinh tế quốc tế: chủ đề về lộ trình AFTA đến năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế quốc tế: chủ đề về lộ trình AFTA đến năm 2006
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2001
3. TS Nguyễn Thị Bất, TS Vũ Duy Hào (2002), Gíáo trình quản lý thuế, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gíáo trình quản lý thuế
Tác giả: TS Nguyễn Thị Bất, TS Vũ Duy Hào
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
4. Nguyễn Thị Diễm Châu, Nguyễn Ngọc Thanh và Phan Hiển Minh ( 1996), Cơ chế tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
5. Malcolm Gillis, Dwight H. Perkin, Michel Roemer, Dorald R. Snodgrass (1990), Kinh tế học của sự phát triển, Viện nghiên cứu quản lý Trung ƣơng - Trung tâm thông tin tƣ liệu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học của sự phát triển
Tác giả: Malcolm Gillis, Dwight H. Perkin, Michel Roemer, Dorald R. Snodgrass
Năm: 1990
6. Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư quốc tế
Tác giả: Phùng Xuân Nhạ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Năm: 2001
7. Joseph. E. Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học công cộng
Tác giả: Joseph. E. Stiglitz
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2:   TỶ TRỌNG SỐTHU TỪ KHU VỰC KINH TẾ Cể VỐN ĐẦU TƢ                             NƯỚC NGOÀI TRONG TỔNG SỐ THU TỪ NỘI ĐỊA - Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Bảng 2.2 TỶ TRỌNG SỐTHU TỪ KHU VỰC KINH TẾ Cể VỐN ĐẦU TƢ NƯỚC NGOÀI TRONG TỔNG SỐ THU TỪ NỘI ĐỊA (Trang 80)
Hỡnh 2.1:  KẾT QUẢ THU CÁC LOẠI THUẾ TỪ KHU VỰC KINH TẾ Cể VỐN                                                            ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG GIAI ĐOẠN 1996- 2004 - Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
nh 2.1: KẾT QUẢ THU CÁC LOẠI THUẾ TỪ KHU VỰC KINH TẾ Cể VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG GIAI ĐOẠN 1996- 2004 (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w