1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)

114 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung các công trình trên tập trung vào việc nghiên cứu một số khía cạnh lý luận cơ bản về thuế, vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường; phân tích mối quan hệ giữa chính sách t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

(CŨ)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI

NGOẠI

Hà Nội - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

   NGUYỄN NGỌC PHAN

QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC

DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY

Hà Nội - 2009

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục viết tắt

Danh mục cỏc bảng và hỡnh vẽ

Mở đầu

Trang 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ, THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 8

1.1 Một số vấn đề chung về bán phá giá và thuế chống bán phá giá 1.1.1 Khái niệm bán phá giá và ý nghĩa kinh tế của bán phá giá

1.1.1.1.Khái niệm bán phá giá

1.1.1.2 Tác động của việc bán phá giá

8 8 8 9 1.1.2 Khái niệm và vai trò của thuế chống bán phá giá

1.1.2.1 Khái niệm thuế chống bán phá giá

1.1.2.2 Vai trò của thuế chống bán phá giá

13 13 14 1.1.3 Các giai đoạn điều tra chống bán phá giá và các bên tham gia chính 15

1.1.3.1 Các bên tham gia chính vào điều tra chống bán phá giá

1.1.3.2 Các giai đoạn điều tra chống bán phá giá

15 17 1.2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

1.2.1 Giới thiệu về Hiệp định chống bán phá giá của WTO

1.2.2 Những quy định trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO

18 18 19 1.2.2.1 Xác định việc bán phá giá

1.2.2.2 Xác định thiệt hại

1.2.2.3 Ngành sản xuất trong n-ớc

1.2.2.4 Nộp đơn yêu cầu tiến hành điều tra chống bán phá giá

19 21 23 24 1.2.2.5 Thu thập thông tin

1.2.2.6 áp dụng biện pháp tạm thời

1.2.2.7 Cam kết giá

1.2.2.8 á p dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá

1.2.2.9 Truy thu thuế

1.2.2.10 Rà soát

25

27

28

29

31

32

Trang 4

1.2.2.11 Thông báo công khai và giải thích các kết luận

1.2.2.12 Cơ chế khiếu kiện độc lập

32 33 1.2.2.13 Chống bỏn phỏ giỏ thay mặt nước thứ ba

1.2.2.14 Thành viờn đang phỏt triển

1.2.2.15 ủy ban chống bỏn phỏ giỏ

1.2.2.16 Trao đổi và giải quyết tranh chấp

1.2.2.17 Giải quyết cuối cựng

34 34 34 35 35 CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI MỘT SỐ NƯỚC THÀNH VIấN CỦA WTO

2.1 Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới

2.1.1 Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá ở các n-ớc phát triển

2.1.2 Tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá ở các n-ớc đang phát triển

2.2 So sánh kinh nghiệm áp dụng thuế chống bán phá giá tại một số n-ớc thành viên của WTO

2.2.1 So sánh các giai đoạn điều tra chống bán phá giá và bảo vệ trong vụ kiện chống bán phá giá

2.2.1.1 Các giai đoạn điều tra chống bán phá giá

2.2.1.2 Bảo vệ trong quá trình điều tra chống bán phá giá

36 36 37 38 39 39 39 51 2.2.2 So sánh khung pháp lý chống bán phá giá

2.2.2.1 Hệ thống pháp luật về chống bán phá giá

2.2.2.2 Quy định các loại mẫu, bảng biểu và hướng dẫn chủ yếu trong quá trình điếu tra chống bán phá giá

2.2.2.3 Bộ máy tổ chức chống bán phá giá

53 53 60 63 2.2.3 Tổ chức nguồn nhân lực và vấn đề liên quan đến nguồn tài chính cho quá trình điều tra chống bán phá giá

2.2.3.1 Tổ chức nguồn nhân lực

2.2.3.2 Vấn đề tài chính

2.3 Đánh giá chung về tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá tại một số nước thành viên của WTO………

66

66

67

74

Trang 5

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GỢI í LIấN QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG THUẾ

CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM

3.1 Những vấn đề đặt ra với Việt Nam khi phải đối mặt với tranh chấp

xuất trong n-ớc 84 3.2.3 Tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam và vấn đề áp dụng thuế

chống bán phá giá 85 3.2.4 Một số vấn đề liên quan tới áp dụng thuế chống bán phá giá ở Việt

Nam

3.2.5 Kiến nghị về việc áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam

87

89 3.3 Gợi ý một số giải pháp liên quan tới việc áp dụng thuế chống bán phá giá

ở Việt Nam

3.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý về chống bán phá giá 90

91 3.3.1.1 Quy định biểu mẫu và cẩm nang h-ớng dẫn

quá trình điều tra chống bán phá giá

3.3.2.1 Tổ chức nguồn nhân lực

94

94 3.3.2.2 Nguồn tài chính cho quá trình điều tra chống bán phá giá 95

Kết luận

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HèNH VẼ

Trang

Hỡnh 1.1 Tỏc động của việc bỏn phỏ giỏ 8

Hỡnh 1.2 Tỏc động của thuế chống bỏn phỏ giỏ 13

Bảng 2.1 Thời hạn trong cỏc giai đoạn điều tra (Hiệp định chống bỏn phỏ giỏ của WTO) 41

Bảng 2.2 Thời hạn trong cỏc giai đoạn điều tra của Hoa Kỳ 42

Bảng 2.3 Thời hạn trong cỏc giai đoạn điều tra của ỳc 43

Bảng 2.4 Thời hạn trong cỏc giai đoạn điều tra của Ấn Độ 43

Bảng 2.5 Thời hạn điều tra của một số n-ớc 44

Bảng 2.6 Bảng xác định giá thông th-ờng tại một số n-ớc 54

Bảng 2.7 Thuế chống bán phá giá dựa trên các yếu tố nào? 56

Bảng 2.8 Nguồn tài chính trong giai đoạn bảo vệ chống bán phá giá

Bảng 2.9 Nguồn tài chính cho giai đoạn khởi kiện chống bán phá giá

68

70

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Đại hội Đảng toàn quốc lần VI (năm 1986), với chủ trương đổi mới nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại Sau đó, tại các Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X tiếp tục khẳng định sự nhất quán của đường lối trên Nhờ đó, các thành phần kinh tế nói chung và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nói riêng phát triển mạnh cả về quy mô, lĩnh vực trong từng địa phương và cả nước

Thực tế đã khẳng định vai trò to lớn của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đáp ứng yêu cầu về vốn, công nghệ mà còn đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế nước ta Trong đó, số thu về thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số thu NSNN là một trong những biểu hiện

rõ rệt về vai trò cũng như ảnh hưởng của khu vực này đối với nền kinh tế Số thuế nộp ngân sách của các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng dần qua các năm và bắt đầu vượt ngưỡng 1 tỷ USD từ năm 2005 (đạt 1,29 tỷ USD chiếm 12% tổng số thu NSNN), năm 2006 là 1,42 tỷ USD, năm 2007 là 1,67 tỷ USD và năm 2008 đạt xấp xỉ 2 tỷ USD Tính bình quân từ năm 2002-2008, số thu từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt tỷ lệ từ 10%-15% tổng số thu NSNN

Quản lý thuế đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm qua đã thu được những kết quả nhất định, song trên thực tế việc quản lý thuế ở khu vực này còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và xem xét Điều này không chỉ xuất phát từ nhu cầu cần phải giải quyết các vấn đề nghiệp vụ trong quản lý thuế, mà còn từ sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế để thuế thực sự trở thành công cụ điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Đặc biệt, quản lý thuế nói chung, quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các địa

Trang 8

phương đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải xem xét giải quyết Hà Tây cũng là một trong những địa phương đang có nhiều khởi sắc về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và có nguồn thu khá từ khu vực này Mặc dù những năm gần đây, việc quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Tây

đã đạt được nhiều kết quả khá tốt, nhưng trong thực tế còn có nhiều vấn đề đặt

ra đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ và nhất là lựa chọn các giải pháp khả thi để tiếp tục hoàn thiện việc quản lý thuế nói chung, quản lý thuế đối với các DN có

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản

lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh

Hà Tây” làm nội dung luận văn

Vì nội dung nghiên cứu đề cập đến thực tế của địa phương trước khi sát nhập địa giới hành chính vào Thủ đô Hà Nội, do đó các khảo cứu ở đây tập trung vào địa bàn Hà Tây với tư cách là một tỉnh độc lập

2 Tình hình nghiên cứu :

Nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung, quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng là nội dung luôn thu hút sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước, của các học giả và các nhà nghiên cứu Trên thực tế từ khi Việt Nam thực hiện Luật đầu tư nước ngoài đến nay, lĩnh vực thuế luôn được chú ý và đã có nhiều công trình gián tiếp hoặc trực tiếp bàn luận về vấn đề này Có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các vấn đề :

- Về chính sách thuế :

+ Đề tài nghiên cứu “ Thuế- Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế” của TS

Quách Đức Pháp- Tổng cục thuế (năm 1996)

+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Tổng cục thuế “Chính sách

thuế trong điều kiện mở rộng quan hệ với các khu vực kinh tế thương mại quốc

tế ”(năm 2000)

Trang 9

+ Đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện chính sách thuế trong điều

kiện hội nhập” được in thành sách của TS.Đỗ Đức Minh- Viện nghiên cứu tài

chính (năm 2002)

+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện chính sách thuế của

Việt Nam 2001 đến 2010” của Bộ tài chính (năm 2003)

+ Đề tài “Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010” của Bộ Tài

chính (năm 2004)

Nội dung các công trình trên tập trung vào việc nghiên cứu một số khía cạnh lý luận cơ bản về thuế, vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường; phân tích mối quan hệ giữa chính sách thuế và biến động của ngân sách quốc gia trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội; khảo sát và đánh giá những ưu điểm và tồn tại của hệ thống thuế Việt Nam, nêu các vấn đề phù hợp, chưa phù hợp và kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách thuế áp dụng đối với các loại hình DN nói chung và DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng

- Về quản lý thuế: Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ tài chính “Giải pháp

hoàn thiện công tác Quản lý thuế ở Việt nam trong điều kiện hiện nay” do

TS.Nguyễn Thị Bất làm chủ nhiệm năm 2004 được đánh giá là có ý nghĩa thực tiễn cao vì đã đóng góp nhiều ý kiến cụ thể cho công tác hoạch định chính sách của ngành thuế Việt Nam trong giai đoạn 2005-2010

- Đối với việc quản lý thuế ở Hà Tây: Đề tài “ Các giải pháp nhằm tăng

thu ngân sách đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ”- Đề tài khoa học cấp

tỉnh do Cục Thuế Hà Tây thực hiện năm 2001 đã đánh giá thực trạng quản lý thuế và đề ra một số giải pháp để tăng cường quản lý thuế đối với khu vực kinh

tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây Tuy nhiên, các nghiên cứu về quản lý thuế đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Tây chưa được đề cập đến trong đề tài này

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung làm rõ những điểm phù hợp, chưa phù hợp của chính sách thuế, các nội dung quản lý

Trang 10

thuế đối với các DN nói chung và loại hình DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng Trên cơ sở đó các nhà nghiên cứu và quản lý đã đề xuất các giải pháp và các kiến nghị để sửa đổi bổ sung một số nội dung về chính sách thuế, về quản lý thuế cho phù hợp với thực tế Việc đánh giá thực trạng quản lý thuế đối với loại hình DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các địa phương chủ yếu chỉ mới đề cập trong các báo cáo tổng kết hàng năm của cơ quan thuế các cấp Trong khi đó, để làm rõ nhiều vấn đề đặt ra cần phải có một khảo cứu thực tế toàn diện và đầy đủ hơn Đặc biệt, để có các kiến nghị đề xuất giải pháp

có hiệu quả ở Hà Tây trước và sau khi sát nhập địa giới hành chính vào Hà Nội

về quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không thể không trực tiếp khảo sát cụ thể các vấn đề thực tế ở chính địa phương này Do vậy, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý thuế các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Tây và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý

thuế có hiệu quả đối với loại hình DN này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :

Mục đích: Làm rõ thực trạng về quản lý thuế và trên cơ sở đó đề xuất

các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Tây

Nhiệm vụ :

- Hệ thống hoá một số khía cạnh lý luận chung về quản lý thuế đối với

DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Tây

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế phù hợp đối với loại hình DN này ở Hà Tây

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi của luận văn, chỉ nghiên cứu hoạt động quản lý thuế do ngành thuế quản lý đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa

bàn Hà Tây từ năm 1999 (thời điểm cải cách thuế bước 2) đến nay

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu :

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu

để nghiên cứu và trình bày các vấn đề đặt ra Bên cạnh đó thông qua việc điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu, đề tài sử dụng phương pháp thống kê làm công

cụ phân tích số liệu để chứng minh cho các vấn đề nghiên cứu

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:

- Luận văn hệ thống hoá một số khía cạnh lý luận liên quan đến việc quản lý thuế đối với DN nói chung và quản lý thuế đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng

- Phân tích làm rõ thực trạng quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Tây, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá

về kết quả đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại

- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với các

DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở địa bàn Hà Tây hiện nay và trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương :

Chương 1: Một số khía cạnh lý luận chung về quản lý thuế đối với DN

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Tây

Chương 3: Các giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với các DN có

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Tây

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ KHÍA CẠNH LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Ở VIỆT NAM

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Khái quát chung về thuế

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế:

Thuế là sản phẩm tất yếu từ sự xuất hiện của bộ máy Nhà nước để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước mà xã hội giao cho Mặt khác, Nhà nước là người thay mặt xã hội để cung cấp những hàng hoá công cộng thuần tuý Do vậy, Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình quy định các sắc thuế bắt buộc các thành viên trong xã hội đóng góp để trả cho việc sử dụng hàng hoá công cộng cho người dân

Thuế ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của Nhà nước, thuế gắn bó chặt chẽ với Nhà nước, mang bản chất giai cấp của Nhà nước sinh ra Qua những giai đoạn phát triển của bộ máy Nhà nước, hình thức biểu hiện về thuế có thay đổi nhiều Do đó, khái niệm và nhận thức về thuế có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản quan niệm về thuế sau đây được nhiều người khá đồng tình :

Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp theo luật quy định để đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước [10-tr.21]

Trang 13

Để làm rõ hơn bản chất kinh tế của thuế, cần tìm hiểu về những đặc điểm của thuế:

Thứ nhất, thuế là một khoản động viên bắt buộc gắn liền với quyền lực

chính trị của Nhà nước mang tính cưỡng chế và pháp lý cao Thứ hai, thuế là

khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp Thuế mang tính chất nghĩa

vụ của công dân đối với Nhà nước và không có đối khoản trực tiếp Thứ ba,

thuế là một hình thức phân phối lại, chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội Quản

lý thuế phải xuất phát và không thể thoát ly các đặc điểm của thuế

Thuế được sử dụng như là một công cụ để quản lý nền kinh tế thông qua các vai trò của nó Khi xem xét vai trò của thuế người ta nhìn nhận dưới 2 góc độ: Vai trò của thuế đối với nền kinh tế và vai trò của thuế đối với DN

Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường vai trò của thuế thể hiện rất rõ: Thứ nhất, thuế là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho NSNN Việc huy động

thuế phải tính đến khả năng thu tính bằng tỷ lệ % của GDP được động viên cho

NSNN thông qua thuế Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết vĩ mô Đây là vai trò

đặc biệt quan trọng của thuế Trong số các công cụ đòn bẩy kinh tế, thuế được

Nhà nước sử dụng như là một công cụ chủ yếu và có hiệu lực cao Thứ 3, thuế

là công cụ để điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối

Cuối cùng, thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản

xuất kinh doanh

Thuế điều tiết, hướng dẫn hoạt động kinh doanh của DN bằng việc đánh thuế hay không đánh thuế, ở thuế suất cao hay thuế suất thấp và những ưu đãi trong chính sách, thuế kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của DN ở lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường, góp phần định hướng kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, hình thành cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ hợp lý

Thuế đóng vai trò quan trọng thúc đẩy các DN áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất lao động, chất lượng

Trang 14

hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm, gắn sản xuất kinh doanh với thị trường, tăng cường hạch toán đem lại hiệu quả kinh tế, tạo tích luỹ để tái sản xuất mở rộng

Thuế một hình thức phân phối lại, đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các DN, các thành phần kinh tế, bảo hộ sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất nhập khẩu, tăng cường sức cạnh tranh và khả năng hội nhập kinh tế quốc

tế của DN

Đối với nước ta, thuế không chỉ góp phần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của DN phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn hạn chế những rủi ro, giúp DN khắc phục những khó khăn, ngăn ngừa, hạn chế những lệch lạc và tiêu cực trong hoạt động kinh doanh

1.1.1.2 Khái quát nội dung cơ bản của chính sách thuế áp dụng đối với

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài :

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, Nhà nước ta luôn

có những chính sách khuyến khích thu hút đầu tư và tạo điều kiện cho khu vực kinh tế này phát triển Trong lĩnh vực quản lý tài chính, bên cạnh việc áp dụng các chính sách tài chính như đối với các nhà đầu tư trong nước thì Việt Nam còn ban hành nhiều chính sách tài chính riêng áp dụng cho các nhà đầu tư nước ngoài và được quy định tại Luật đầu tư nước ngoài

Sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Qua

2 lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1990 và 1992, năm 1996 Luật đầu tư nước ngoài mới được ban hành thay cho Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 và cũng

đã được sửa đổi vào năm 2000 Qua mỗi lần sửa đổi và ban hành mới, các quy định về tài chính áp dụng đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được cụ thể hoá hơn và có xu hướng thống nhất với các quy định của đầu tư trong nước, trong đó các nội dung về thuế cũng được bổ sung và hoàn thiện Sau đây là nội dung cơ bản của chính sách thuế áp dụng đối với DN

Trang 15

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như các loại hình DN khác và những quy định riêng có áp dụng cho DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thuế giá trị gia tăng :

Ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hoá, thuế Giá trị gia tăng (GTGT) đã chứng minh được vai trò điều tiết tích cực nền kinh tế bằng phương pháp gián tiếp Với những ưu điểm vượt trội so với thuế doanh thu, thuế GTGT ngày càng được áp dụng rộng rãi, từ 47 quốc gia vào năm

1988 đến nay đã có trên 130 quốc gia áp dụng loại thuế này

Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT thay thế cho Luật thuế doanh thu trước đây và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999 Trong quá trình thực hiện, Luật này đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2003, năm 2008

Thuế GTGT là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu

dùng Thuế GTGT được áp dụng ở Việt Nam thay thế cho thuế doanh thu đã

khẳng định được kết quả cả về số thu vào NSNN và tác dụng khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế và đổi mới công tác quản lý của cơ quan thuế

Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh

doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định của pháp luật thuế

Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất,

kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT

Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất

Trang 16

Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hoá đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu

Thuế suất thuế GTGT: được áp dụng thống nhất theo loại hàng hoá, dịch

vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại Hiện nay ở nước ta, các mức thuế suất thuế GTGT gồm có 0%, 5% và 10%

Thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo một trong hai phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế Theo phương pháp này, số thuế GTGT phải nộp được xây dựng theo công thức sau:

Thuế GTGT phải nộp trong kỳ

Thuế GTGT

Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

Theo cách tính thuế này, số thuế phải nộp của người nộp thuế bị phụ thuộc vào thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào, do vậy chỉ có thể áp dụng đối với các DN có đủ căn cứ pháp lý để xác định số thuế đầu ra và thuế đầu vào Với các phân tích nêu trên cho thấy trọng tâm của quản lý thuế GTGT là quản lý hóa đơn, chứng từ mua, bán hàng hóa, dịch vụ; đối chiếu sự luân chuyển của chứng từ với các hoạt động thực tế phát sinh

Thuế tiêu thụ đặc biệt :

Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là một loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hoá, dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục do Nhà nước quy định Thuế TTĐB có đặc điểm là thuế suất cao, đặc điểm này thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc sử dụng thuế TTĐB để điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ theo định hướng của Nhà nước Xét ở khía cạnh phân phối thu nhập, đối tượng tiêu dùng phần lớn các loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt này là những người có thu nhập cao Vì vậy, thuế TTĐB cần xây dựng mức động viên nhằm điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng

xã hội

Trang 17

Ở nước ta, thuế TTĐB ban hành vào năm 1990, sửa đổi vào các năm

1993 và 1995; Năm 1998 để thực hiện đồng bộ với Luật thuế GTGT, luật thuế TTĐB mới được ban hành và thay cho Luật thuế TTĐB năm 1990 và Luật này cũng được sửa đổi bổ sung vào năm 2003, năm 2008

Đối tượng chịu thuế TTĐB là các hàng hoá, dịch vụ sau :

- Hàng hoá chịu thuế TTĐB gồm 8 mặt hàng: Thuốc lá điếu, xì gà; rượu; bia; ô tô 24 chỗ ngồi trở xuống; xăng các loại, napta (naphtha), chế phẩm tái hợp và chế phẩm khác để pha vào xăng; điều hoà nhiệt độ có công suất từ 90.000 BTU trở xuống; bài lá; vàng mã, hàng mã

- Dịch vụ chịu thuế TTĐB gồm 5 nhóm: Kinh doanh vũ trường, mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke); ca-si-nô (casino), trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot); kinh doanh giải trí có đặt cược; kinh doanh gôn (golf); kinh doanh

xổ số

Khác với thuế GTGT, thuế TTĐB chỉ đánh vào hàng hóa, dịch vụ ở khâu sản xuất, cung cấp hoặc nhập khẩu, không đánh ở các khâu tiếp theo Thuế TTĐB cũng có tính lãnh thổ giống như thuế GTGT, vì vậy các hàng hoá, dịch vụ không tiêu dùng ở Việt Nam sẽ không thuộc diện chịu thuế TTĐB

Căn cứ tính thuế TTĐB là số lượng hàng hoá (doanh thu đối với dịch vụ), giá tính thuế và thuế suất

Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế TTĐB; Thuế suất thuế TTĐB được

áp dụng với thuế suất cao từ 25% đến 100% tuỳ theo từng loại hàng hàng hoá, dịch vụ

Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN):

Thuế TNDN còn được gọi là thuế thu nhập công ty Đây là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các DN trong kinh doanh Luật thuế TNDN ở Việt Nam ban hành năm 1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 và được sửa đổi bổ sung vào năm 2001, năm 2003 Năm 2008, Luật thuế TNDN

Trang 18

mới được ban hành thay cho Luật năm 2003 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009

Đối tượng nộp thuế TNDN: là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh

doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế

Đối tượng chịu thuế TNDN: là thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế

bao gồm những thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các thu nhập khác kể cả hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài

Căn cứ tính thuế TNDN: là thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và thuế

-

Chi phí được trừ trong kỳ tính thuế

thuế khác

Thuế suất thuế TNDN hiện hành áp dụng phổ biến đối với tất cả các cơ

sở kinh doanh là 25%; Đối với các hoạt động tìm kiếm, khai thác, thăm dò dầu khí và các tài nguyên quý hiếm khác thuế suất từ 32% đến 50% Riêng đối với

DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì được tiếp tục áp dụng thuế suất thuế TNDN quy định tại Giấy phép đầu tư cấp theo Luật đầu tư nước ngoài hoặc Giấy chứng nhận đầu tư cấp theo Luật đầu tư trước khi Luật thuế TNDN mới ban hành

Theo Luật đầu tư nước ngoài ban hành năm 1996 thì các DN có vốn đầu

tư nước ngoài được áp dụng các mức thuế suất chung theo quy định tại Luật thuế TNDN, ngoài ra còn có các mức thuế suất ưu đãi 10%; 15%; 20% cho các

dự án cần khuyến khích đầu tư theo địa bàn, theo ngành nghề

Sau nhiều năm đứng riêng biệt, chính sách thuế TNDN áp dụng cho DN

có vốn đầu tư nước ngoài đã được đồng nhất với chính sách thuế TNDN của

Trang 19

các DN trong nước kể từ khi ban hành Luật thuế TNDN mới năm 2003 và thực hiện từ ngày 01/01/2004 Đây là một bước tiến mới về chính sách thuế tạo sự công bằng, bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: Đây là một sắc thuế áp dụng

riêng cho các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh tế trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là một loại thuế thu nhập đánh vào lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài khi chuyển ra nước ngoài, với mục tiêu hạn chế nhà đầu tư nước ngoài chuyển tiền về nước chủ nhà và điều tiết thêm thu nhập cho NSNN Biện pháp đánh thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài cùng với biện pháp hoàn thuế thu nhập để tái đầu tư trở thành biện pháp kép nhằm khuyến khích nhà đầu tư sử dụng lợi nhuận thu được do đầu tư tại Việt Nam để mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư tại Việt Nam Luật đầu tư nước ngoài ban hành năm 1987 và Luật sửa đổi năm 1990, Luật sửa đổi năm

1992 quy định thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ 5%-7% tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài

Năm 1996 là năm áp dụng Luật đầu tư nước ngoài mới, các quy định về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài về cơ bản không thay đổi, riêng đối với

DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao được áp dụng thuế suất thuế chuyển lợi nhuận

ra nước ngoài là 5%

Từ ngày 01/01/2005 thuế đánh vào lợi nhuận chuyển ra nước ngoài của nhà đầu tư nước ngoài bị bãi bỏ

Thuế thu nhập đối với chuyển nhượng vốn :

Quy định về thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn được chính thức áp dụng kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mới ra đời năm 1996 Nội dung chính quy định là :

Các chủ đầu tư nước ngoài chuyển nhượng phần vốn góp của mình trong các DN liên doanh, DN 100% vốn nước ngoài hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh có thu nhập phải thực hiện việc nộp thuế thu nhập từ chuyển nhượng

Trang 20

vốn Bên chuyển nhượng vốn nộp thuế thu nhập với thuế suất 25% trên lợi nhuận chịu thuế Lợi nhuận chịu thuế bằng giá trị chuyển nhượng trừ đi phần vốn chuyển nhượng và chi phí chuyển nhượng (nếu có) Ngoài ra, các nhà đầu

tư nước ngoài còn được giảm 50% số thuế TNDN phải nộp đối với hoạt động chuyển nhượng vốn kể từ ngày 01/01/2004 khi mà Luật thuế TNDN mới chính thức áp dụng

Ngoài các sắc thuế cơ bản trên, Hệ thống thuế của Việt Nam hiện nay còn có các loại thuế sau :

+ Thuế xuất, nhập khẩu

+ Thuế tài nguyên

+ Thuế thu nhập cá nhân

+ Các loại thuế, và thu khác như: thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế đất ở; tiền thuê mặt đất, mặt nước; thuế nhà thầu; thuế môn bài; các loại phí, lệ phí

Hệ thống chính sách thuế Việt Nam so với một số nước trong khu

vực:

- Hệ thống thuế Trung Quốc: Trung Quốc là quốc gia có nhiều đặc điểm

chung về kinh tế xã hội với Việt Nam Thuế là nguồn thu vững chắc của Trung Quốc, đồng thời cũng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng được sử dụng để điều hành kinh tế vĩ mô Sau cải cách thuế năm 1994 và tiếp tục đến những năm sau đó, Trung Quốc đã bước đầu xây dựng được một hệ thống thuế phù hợp với nền kinh tế thị trường Hệ thống thuế Trung Quốc có 20 loại thuế phân theo 2 nhóm chính là thuế gián thu (thuế GTGT, thuế tiêu thụ và thuế kinh doanh) và thuế trực thu (thuế TNDN, thuế tài nguyên, thuế tài sản, ) Trước năm 2008 Trung Quốc áp dụng 2 loại thuế TNDN riêng cho DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài: DN trong nước chịu mức thuế suất bình quân khoảng 24%, trong khi DN có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chịu thuế suất bình quân 14% nhằm thu hút đầu tư nước ngoài Luật thuế TNDN mới ban hành năm 2008 của Trung Quốc đã thống nhất áp dụng chung mức thuế suất

Trang 21

thuế TNDN không phân biệt đầu tư trong nước hay đầu tư nước ngoài là 25%, đây là điểm tương đồng với Việt Nam

- Hệ thống thuế Thái Lan: Hệ thống thuế gồm 8 loại thuế cơ bản với các sắc thuế chủ yếu là thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNDN Thuế suất thuế GTGT ở Thái Lan gồm có mức chuẩn là 7% và mức 0% áp dụng cho hàng xuất khẩu; thuế TTĐB đánh vào 20 loại hàng hoá, dịch vụ với mức thuế suất từ 15% đến 80% Đối với thuế TNDN áp dụng thuế suất 30% trên lợi nhuận ròng và có riêng mức thuế suất 20%-25% cho DN nhỏ và vừa

- Hệ thống thuế Singapore: Hai sắc thuế chính là thuế GTGT và thuế TNDN Thuế GTGT có mức thuế suất thấp hơn so với Việt Nam Thuế suất thuế GTGT áp dụng hiện nay ở Singapore có 2 mức là 0% và 5%; Mức động viên về thuế TNDN của Singapore là 20% cũng thấp hơn so với Việt Nam

Như vậy, so với một số nước trong khu vực, hệ thống thuế của Việt Nam

có nhiều nét tương đồng về số lượng và nội dung các loại thuế, mức thuế suất

và đều có xu hướng không phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Hệ thống chính sách thuế này về cơ bản đã trở thành công cụ điều tiết vĩ

mô có hiệu quả đối với nền kinh tế, khuyến khích đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, bảo hộ có chọn lọc sản xuất trong nước, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý phục vụ quá trình hội nhập của Việt Nam với nền kinh tế khu vực và quốc tế

1.1.2 Quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý thuế :

Quản lý thuế cũng là nội dung được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn luận

và thực tế đã tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Theo giáo trình Quản lý thuế của TS.Vũ Thị Bất và TS.Vũ Duy Hào (Nhà xuất bản thống kê năm 2002) thì quản lý thuế cần được xem xét và nhìn nhận ở tầm vĩ mô, bao gồm toàn bộ những công việc thuộc các lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp Tức là bao

Trang 22

gồm các công việc: lựa chọn và ban hành các luật thuế, tổ chức thực hiện các luật thuế, thanh tra thuế

Còn ở Giáo trình Thuế nhà nước do PGS.TS.Lê Văn Ái chủ biên (Nhà xuất bản Thống kê năm 1996) thì quản lý thuế bao gồm các nội dung: Kế hoạch thuế, kế toán, thống kê thuế và thanh tra thuế nhà nước

Theo Luật Quản lý thuế được Quốc hội khoá XI thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 thì quản lý thuế bao gồm toàn bộ các quy định về nguyên tắc, chế độ, biện pháp quản lý của nhà nước về thuế, phải được cơ quan thuế các cấp tổ chức thực hiện, bảo đảm nguồn thu về các loại thuế, phí, lệ phí được tập trung đúng, đủ, kịp thời vào NSNN, góp phần và phát huy tác dụng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, từng bước thực hiện bình đẳng, công bằng

xã hội Theo các nội dung trên, quản lý thuế chỉ bao gồm lĩnh vực hành pháp

và tư pháp không bao gồm phần lập pháp

Quan niệm nêu trên đã đề cập đến tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các nguyên tắc, chế độ nhằm đạt một số mục tiêu nhất định Chủ thể quản lý là nhà nước mà trực tiếp là cơ quan thuế và đối tượng bị quản lý là các DN và tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thuế, với nội dung cơ bản là

cơ quan thuế và người nộp thuế phải thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ các quy định về quyền hạn, trách nhiệm về thuế của mình Từ đó có thể hiểu quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế, là việc định ra một hệ thống các

tổ chức, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận một cách hữu hiệu đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật thuế thông qua tinh thần tự nguyện, tự giác cao của chính người nộp thuế và sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước khác trong việc tổ chức thực hiện luật thuế

Quản lý thuế có các đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Quản lý thuế là quản lý nhà nước: Là sự quản lý do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền thực hiện, mỗi cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý trong những phạm vi khác nhau, đối với các đối tượng bị quản lý khác nhau

Trang 23

trong quá trình thu, nộp thuế vào NSNN Quản lý nhà nước về thuế bao gồm việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế; kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật thuế; xử lý và xét xử các vi phạm pháp luật thuế

- Quản lý thuế là hoạt động quản lý chuyên môn: Hoạt động quản lý thuế

có tính chuyên môn sâu, khác với quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực khác

Ví dụ: xác định phạm vi điều chỉnh của một sắc thuế nào đó; xác định người nộp thuế; cách tính thuế; quy trình quản lý thuế; quy định hệ thống cơ quan quản lý; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó; mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra

- Quản lý thuế do cơ quan thuế thực hiện: hoạt động quản lý luôn gắn liền với một lĩnh vực, hoặc những hoạt động nào đó của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế - xã hội tùy theo phạm vi quản lý và việc thực hiện các nhiệm

vụ, chức năng được giao Hệ thống cơ quan thuế thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế, đó là hoạt động gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của hệ thống cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương Trong hệ thống đó, mỗi cơ quan thuế thay mặt cho nhà nước thực hiện hoạt động quản lý trong phạm vi nhất định trên cả hai phương diện: tổ chức thực hiện pháp luật thuế và kiểm tra giám sát thi hành pháp luật thuế

- Đối tượng bị quản lý chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi việc phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế trước nhà nước: trong quản lý, luôn có sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Trong quản lý thuế, đối tượng bị quản lý là các tổ chức và cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc có thu nhập phát sinh nghĩa vụ nộp thuế được quy định trong các luật, pháp lệnh thuế Việc bao quát các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế

ở trong từng sắc thuế khác nhau thể hiện phạm vi điều chỉnh của sắc thuế đó Bởi vậy, trong thực tế, có những người nộp thuế chỉ kê khai và nộp một loại thuế, song cũng có những đối tượng trong cùng một thời gian phải kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau

Trang 24

1.1.2.2 Nội dung quản lý thuế :

Nội dung quản lý thuế được xem xét ở khía cạnh: hành pháp và tư pháp

về thuế Ở khía cạnh hành pháp, quản lý thuế là tổ chức thực hiện các luật thuế,

ở khía cạnh tư pháp, quản lý thuế là việc thanh tra và xử lý tố tụng về thuế trên

cơ sở các luật thuế được ban hành

- Tổ chức thực hiện các Luật thuế:

Đây là khâu đóng vai trò quyết định hiệu quả của công cụ thuế Nội

dung tổ chức thực hiện các luật thuế bao gồm:

+ Tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn thi hành pháp luật thuế rộng rãi để mọi người biết pháp luật thuế, hiểu rõ pháp luật thuế và tự giác thi hành Tuy nhiên, quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế là quá trình phức tạp, có nhiều công việc mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật phải thực hiện nên người nộp thuế cần có

sự hỗ trợ của các cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình đăng ký thuế, kê khai thuế và nộp thuế Tùy theo tình hình thực tế, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn các biện pháp, cách thức tuyên truyền, phổ biến thích hợp để nhanh chóng đưa pháp luật thuế đi vào cuộc sống Cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế có thể là tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng hay là phát hành các ấn phẩm, tờ rơi

+ Tổ chức quản lý thu thuế có các công việc:

Thứ nhất, quản lý người nộp thuế Quản lý người nộp thuế là hoạt động

bao quát tất cả các DN, các tổ chức, cá nhân có các điều kiện phát sinh nghĩa

vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế Quản lý người nộp thuế bao gồm các công việc chủ yếu sau đây:

Tổ chức hướng dẫn người nộp thuế đăng ký thuế theo ngành nghề đăng

ký kinh doanh, quy mô kinh doanh, địa bàn kinh doanh

Cấp mã số thuế, hướng dẫn sử dụng mã số thuế, hướng dẫn kê khai

thuế và phổ biến các quy định về thời hạn nộp tờ khai thuế, thời hạn nộp thuế

và quyết toán thuế

Trang 25

Thường xuyên theo dõi, phát hiện những thay đổi của người nộp thuế

để đề nghị điều chỉnh thông tin đăng ký thuế Hoặc đưa vào diện quản lý thuế đối với những đối tượng có đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký thuế

Quản lý người nộp thuế tốt sẽ tạo tiền đề để định hướng cho quản lý doanh thu tính thuế, chi phí hợp lý trong việc xác định thu nhập chịu thuế Theo quy định hiện hành, DN sau khi đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải đến cơ quan thuế làm thủ tục đăng ký thuế Cơ quan thuế nhận

hồ sơ đăng ký thuế, kiểm tra nội dung kê khai, đối chiếu với tình hình hoạt động thực tế của DN và đối chiếu với pháp luật thuế, nếu phù hợp sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho DN Mã số thuế của DN được

sử dụng cho suốt quá trình kinh doanh từ khi thành lập đến khi DN chấm dứt hoạt động Hiện nay, việc đăng ký nộp thuế được tiến hành theo phương thức quản lý qua mạng

Thứ hai, xây dựng và lựa chọn quy trình quản lý thu thuế Quy trình

quản lý thu thuế phản ánh trình tự các bước công việc phải làm nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN Có hai dạng quy trình quản lý thu thuế:

Cơ quan thuế tính và ra thông báo số thuế phải nộp hoặc người nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế Các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các loại hình DN khác hiện nay áp dụng cơ chế tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế Phương thức DN tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế, cơ quan thuế sẽ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, không làm thay DN Tuy nhiên, phương thức này chỉ mang lại kết quả tốt khi DN đã nắm vững và tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, tính pháp lý của các Luật thuế cao và việc kiểm tra, thanh tra thuế được thực hiện thường xuyên, hiệu quả

Việc xây dựng và thực hiện quy trình quản lý thuế là nội dung cơ bản của quản lý thuế Để đưa pháp luật về thuế vào cuộc sống cần phải chỉ đạo, điều hành hoạt động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoa học, theo một trình tự hợp lý Vì vậy, phải xây dựng và thực hiện theo quy trình nhằm đảm

Trang 26

bảo hoạt động quản lý thuế tuân theo đúng pháp luật, thực hiện dân chủ hoá, công khai hoá hoạt động quản lý thuế

Thực hiện quy trình quản lý thuế đã ban hành sẽ có tác dụng sau :

+ Bảo đảm cho pháp luật thuế được thực thi một cách nghiêm minh + Bảo đảm tính công khai, dân chủ trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và các hoạt động quản lý thuế của cơ quan thuế

+ Ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình quản

lý thu, nộp thuế

+ Bảo đảm hiệu quả quản lý thuế do kết hợp chặt chẽ, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa người nộp thuế, cơ quan thuế và các cơ quan có liên quan, giảm chi phí quản lý, tiết kiệm thời gian để nhanh chóng đưa tiền thuế vào NSNN

Các quy trình quản lý thuế đang thực hiện theo quy định của Luật quản

lý thuế áp dụng từ ngày 01/07/2007 bao gồm :

+ Quy trình đăng ký thuế

+ Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế

+ Quy trình miễn thuế, giảm thuế

+ Quy trình hoàn thuế

+ Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế

+ Quy trình quản lý nợ thuế

Nội dung của các quy trình này quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của tổ chức, cá nhân trong cơ quan thuế; Trình tự, thủ tục hành chính của các bước công việc trong quản lý thuế và quy định mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quy trình

Thứ ba, tính thuế, có 3 phương pháp tính thuế: Phương pháp đánh giá

hành chính, phương pháp tính theo thuế khoán và phương pháp tính thuế theo

kê khai thực tế Trong đó, phương pháp đánh giá hành chính dựa trên những căn cứ khách quan, rõ ràng, không cần phải điều tra, tranh cãi nhiều Phương pháp tính thuế theo kê khai thực tế dựa trên tờ khai với các số liệu thực tế về

Trang 27

tình hình sản xuất kinh doanh, phương pháp này phức tạp nhưng lại tập trung đầy đủ số thuế vào NSNN

Thứ tư, tổ chức thu nộp tiền thuế, có 2 hình thức: Nộp trực tiếp vào

KBNN và nộp bằng tiền mặt qua cơ quan thuế, đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đều nộp thuế trực tiếp vào KBNN

- Kiểm tra, thanh tra thuế:

Kiểm tra, thanh tra thuế là một nội dung quan trọng của quản lý thuế được thực hiện bởi các cơ quan kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về thuế và sự phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan

Đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và các đơn vị thuộc ngành thuế

Mục đích của kiểm tra, thanh tra thuế là nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho DN và công chức thuế, phát hiện những nội dung không phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế xã hội trong chính sách, những điểm không hợp lý về tổ chức ngành thuế, về các vấn đề nghiệp vụ của quản lý thuế để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống thuế

Yêu cầu của kiểm tra, thanh tra là đảm bảo tính khách quan, trung thực, chính xác, rõ ràng

Nội dung kiểm tra, thanh tra đối với người nộp thuế tập trung vào những vấn đề sau: Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký, kê khai thuế; Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chế độ kế toán, quản lý sử dụng hoá đơn, chứng từ, đây là những căn cứ không thể thiếu để tính thuế; Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Nội dung kiểm tra, thanh tra các đơn vị trong nội bộ ngành thuế bao gồm: Kiểm tra, thanh tra việc tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn chấp hành các Luật thuế; thực hiện các quy trình và nghiệp vụ trong quản lý thuế; việc giải quyết các khiếu nại và xử

lý các vi phạm về thuế

Trang 28

Về hình thức kiểm tra, thanh tra: Có kiểm tra, thanh tra thường xuyên và đột xuất; toàn diện và có trọng điểm; tại chỗ và từ xa; tổng hợp và điển hình; qua chứng từ và thực tế

Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời xây dựng được các quy trình quản lý thuế ngày càng hợp lý hơn

1.1.2.3 Mục tiêu, yêu cầu và các nguyên tắc quản lý thuế :

- Mục tiêu của quản lý thuế: Quản lý thuế nhằm đạt các mục tiêu cơ bản

sau đây: Huy động đầy đủ, kịp thời số thu thuế từ các cơ sở kinh doanh vào NSNN, đảm bảo thực hiện kế hoạch thu đã được Nhà nước giao trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển các nguồn thu; Phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế; Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các cơ

sở kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý thuế

- Yêu cầu của quản lý thuế: Đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời Các

cơ quan quản lý thuế và cơ sở kinh doanh phải thực hiện đúng các quy định về quyền và trách nhiệm của mình

- Các nguyên tắc của quản lý thuế: Để đạt được các mục tiêu và yêu cầu

trên, quản lý thuế cần tuân thủ các nguyên tắc:

+ Nguyên tắc tập trung thống nhất: Đây là nguyên tắc bao trùm trong quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước Việc xác lập và thực thi các biện pháp quản lý thuế phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc này Nguyên tắc tập trung thống nhất trong quản lý thuế được thể hiện trên 4 khía cạnh: Thống nhất trong việc xác lập và thực thi quy trình quản lý thuế; thống nhất trong nghiên cứu và thực thi xây dựng dự toán thu thuế về nội dung, hình thức, thời gian; thống nhất cách tổ chức lực lượng thu thuế; thống nhất trong việc vận dụng luật thuế và các văn bản dưới luật đối với quá trình tổ chức thu thuế

+ Nguyên tắc công khai, dân chủ: Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Thu thuế là một hoạt động tài chính của Nhà nước, có tác động

Trang 29

lớn đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của các tầng lớp dân cư Quán triệt nguyên tắc này mới phát huy vai trò kiểm tra, kiểm soát, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong ngành thuế và ở người nộp thuế

+ Nguyên tắc phù hợp: Việc xác lập các biện pháp quản lý thuế phải phù hợp với những quy định trong các Luật và văn bản dưới Luật thuế Quy trình quản lý thuế phải phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh và điều kiện kinh

tế nói chung, thực hiện nguyên tắc này vừa đảm bảo cho chính sách thuế sớm phát huy tác dụng, vừa làm cho quản lý thuế không gây cản trở đến quá trình sản xuất kinh doanh của người nộp thuế

+ Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Xét từ phía cơ quan thuế cũng như các

cơ sở kinh doanh, đảm bảo chi phí thấp nhất, tốn ít công sức, thời gian mà đem lại kết quả tối đa

Ngoài quán triệt các nguyên tắc trên, trong quản lý thuế cũng cần phải chú ý các nguyên tắc chung của quản lý Khi áp dụng các nguyên tắc của quản

lý thuế cần phải kết hợp hài hoà các nguyên tắc, tránh việc thực hiện nguyên tắc này mà vi phạm nguyên tắc khác

1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ THUẾ

Từ năm 1987, khi Quốc hội thông qua Luật đầu tư nước ngoài, số lượng các DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng về số lượng và quy

mô Sau 20 năm thực hiện, tính đến hết năm 2007 cả nước có trên 9.500 dự án FDI được cấp phép với tổng vốn đăng ký 98 tỷ USD Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD, vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ USD chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký, trong đó vốn của bên nước ngoài đưa vào gồm cả vốn góp

và vốn vay khoảng 37,9 tỷ USD, chiếm 89,5% tổng vốn thực hiện

Trong 3 năm 1988-1990 do mới thực thi Luật đầu tư nước ngoài nên số vốn đầu tư ít (chỉ có 214 dự án với tổng vốn đăng ký 1,6 tỷ USD)

Trang 30

Thời kỳ 1991-1996 được coi là thời kỳ bùng nổ của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đã có 1.409 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 26,9 tỷ USD, riêng năm 1996 thu hút 8,8 tỷ vốn đăng ký gấp 7,5 lần so với năm 1991

Trong 3 năm từ 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD; Từ năm 2000-2003 dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có dấu hiệu chậm hơn so với thời kỳ trước, nhưng bắt đầu

có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD), tăng 45% so với năm 2003; năm 2005 đạt 6,78 tỷ USD; năm 2006 đạt 11,3 tỷ USD và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua với số vốn đăng ký đạt 20,3 tỷ USD (Nguồn: Báo cáo kinh tế 2008 – Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư )

Tỷ USD

HÌNH 1-1 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 1999-2007

Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư, phát triển kinh tế xã hội của đất nước thời gian qua, trở thành một

hệ thống kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

FDI vào Việt Nam được thực hiện theo kênh chủ yếu là đầu tư mới với hình thức phổ biến là DN liên doanh và DN 100% vốn nước ngoài :

- Doanh nghiệp liên doanh là DN được thành lập tại nước chủ nhà trên

cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên của nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước chủ nhà Mỗi Bên

Trang 31

tham gia liên doanh chịu trách nhiệm với Bên và các Bên tham gia liên doanh còn lại cũng như chịu trách nhiệm với DN liên doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là DN thuộc sở hữu của nhà đầu

tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý

và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Trong 2 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thì DN liên doanh là hình thức đầu tư trực tiếp khá phổ biến trong giai đoạn đầu tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam cũng như ở các nước đang phát triển Nguyên nhân chính là thông qua hình thức này, nước nhận đầu tư sẽ kiểm soát và học được trực tiếp kinh nghiệm quản lý tiến tiến của các nhà đầu tư nước ngoài Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài cũng muốn bên nhận đầu tư có trách nhiệm hơn với họ bằng cách chia sẻ những rủi ro trong đầu tư Hơn nữa, thông qua liên doanh các nhà đầu tư nước ngoài có thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường và tiếp cận với các nhà hoạch định chính sách của nước nhận đầu tư

Điều ai cũng biết rằng các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận là thước đo hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN cùng hoạt động theo cơ chế thị trường, cùng tồn tại và cạnh tranh trong một môi trường pháp lý bình đẳng Tuy nhiên, xét trên góc độ quản lý, các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có những đặc điểm riêng có ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý của Nhà nước trong mọi lĩnh vực Đặc biệt, trong lĩnh vực quản lý thuế, những đặc điểm riêng ảnh hưởng đối với quản lý thuế thường là những thách thức hơn là thuận

lợi Cụ thể như sau :

- Đặc điểm về sở hữu vốn:

Đối với các DN có 100% vốn nước ngoài toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân DN chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi

Trang 32

đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào bởi các quy định của Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý Do đó, họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả các hành vi không tuân thủ pháp luật (trốn lậu thuế chẳng hạn)

- Đặc điểm về trình độ quản lý, ý thức tuân thủ pháp luật:

So với những DN thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và thành phần kinh

tế tư nhân thì phần lớn DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có trình độ quản lý tốt, nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh khá cao Phần lớn các DN

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có trình độ nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tốt, điều này tạo thuận lợi cho việc nắm vững các quy định của Luật thuế

- Đặc điểm về số lượng đối tượng:

Số lượng các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài so với các loại hình

DN khác chiếm tỷ lệ không lớn, hoạt động tập trung phần lớn ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao nên thuận lợi cho việc kiểm soát đối tượng, quản lý thông tin của cơ quan thuế

- Vấn đề giá chuyển giao:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được quyết định bởi hoạt động đầu tư ra

nước ngoài của các Công ty xuyên quốc gia (TNCs) Các công ty xuyên quốc gia này bao gồm những công ty mẹ và các công ty con của chúng ở khắp nơi trên thế giới Công ty mẹ là các công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng ở nước sở hữu hơn là ở nước ngoài, công ty con hoạt động ở nước ngoài dưới sự giám sát, quản lý của công ty mẹ Trong quá trình hoạt động của mình tại các nước nhận đầu tư, TNCs đã tạo nên những tác động tích cực trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quản lý tiên tiến, tạo công ăn việc làm, phát triển nguồn nhân lực, Bên cạnh những tác động tích cực đó, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của TNCs tại nước nhận đầu tư có những mặt tiêu cực như: làm tăng sự phụ thuộc của nước chủ nhà về vốn kỹ thuật, mạng lưới tiêu thụ; tạo ra tình trạng phân phối thu nhập không đồng đều, chi phối thị

Trang 33

trường nước chủ nhà và cuối cùng là thực hiện các giao dịch nội bộ làm nảy

sinh vấn đề “giá chuyển giao” gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế và ngân

sách của nước nhận đầu tư

Vấn đề giá chuyển giao hay còn được hiểu là hiện tượng chuyển giá là

một hiện tượng có tính chất phổ biến được thực hiện trong các giao dịch mua bán, chuyển nhượng giữa các công ty con trong cùng một TNCs ở các nước

khác nhau Vấn đề giá chuyển giao có tác động không nhỏ đến phúc lợi kinh tế

và số thu ngân sách của Chính phủ các nước có liên quan Bằng cách thay đổi

giá chuyển giao giữa các loại giao dịch khác nhau, một TNCs sẽ thể hiện thu

nhập của nó dưới nhiều dạng tại một quốc gia cụ thể, nhằm tối thiểu hoá nghĩa

vụ nộp thuế tại quốc gia này và bằng cách thay đổi giá chuyển giao trong các

giao dịch nội bộ, TNCs có thể chuyển giao lợi nhuận trước thuế từ một quốc gia này sang một quốc gia khác nhằm tối đa hoá lợi nhuận sau thuế của nó

Vì vậy, thực hiện các chiến lược định giá chuyển giao của TNCs có thể

gây ra những tác động xấu ảnh hưởng đến hiệu quả về mặt kinh tế của việc quản lý thuế tại nước tiếp nhận đầu tư Bởi vì muốn khắc phục được hiện tượng chuyển giá, cơ quan thuế phải tốn rất nhiều thời gian, công sức và tiền của cho

việc tiến hành các biện pháp nghiệp vụ cụ thể để xác định lại giá chuyển giao

theo nguyên tắc giá thị trường, nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là hạn chế thất thu cho ngân sách quốc gia

Như vậy, trong việc quản lý đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các cơ quan quản lý nhà nước cần có sự nhận biết rõ ràng về đặc điểm, bản chất và các tác động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tới nước tiếp nhận đầu tư để có thể đưa ra những cách thức quản lý phù hợp nhằm hướng tới sự quản lý có hiệu quả đối với khu vực kinh tế này Riêng đối với quản lý thuế thì cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong việc xây dựng chính sách thuế, chế độ quản lý thuế sao cho vẫn đảm bảo mục tiêu về số thu ngân sách mà không ảnh hưởng tới chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Nhà nước

Trang 34

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ BÀI HỌC THAM KHẢO CHO HÀ TÂY

Mặc dù quản lý thuế đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

là một nội dung khá mới, song thực tế đã có nhiều địa phương thực hiện khá tốt việc quản lý thuế đối với loại hình DN này Để có thêm kinh nghiệm tham khảo cho Hà Tây, luận văn phân tích một số bài học từ thực tế ở Vĩnh Phúc và

Hà Nội với tư cách là những địa phương có nhiều điều kiện khá tương đồng với

Hà Tây

1.3.1 Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc:

Những năm gần đây, tỉnh Vĩnh Phúc nổi lên như là một hiện tượng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với các chính sách ưu đãi đầu tư khá hấp dẫn, tính đến hết năm 2008 trên địa bàn Vĩnh Phúc đã có 126 DN có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư trên 1 tỷ USD đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng (lắp ráp ô tô, xe máy, cáp điện, may mặc, ) của các nhà đầu tư Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Öc, Hàn Quốc Số thuế các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nộp vào ngân sách chiếm tỷ trọng bình quân hàng năm khoảng 55%-75% tổng số thu ngân sách trên địa bàn nên việc quản lý thuế đối với loại hình DN này rất được coi trọng

- Tổ chức bộ máy gọn nhẹ:

Quản lý thuế đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Vĩnh Phúc từ năm 1999 đến nay được tập trung quản lý tại Văn phòng Cục thuế Từ năm 1999, Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc thành lập 1 tổ chuyên trách trực thuộc Phòng quản lý thuế các DN, tổ này chuyên theo dõi và quản lý thuế đối với các

DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, bình quân 1 cán bộ theo dõi quản lý 10- 15 DN (Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác thuế 2005- 2007, Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc)

- Quản lý thuế kịp thời, minh bạch:

Trang 35

+ Đối với việc đăng ký thuế: để làm tốt việc cấp mã số thuế, Cục thuế Vĩnh Phúc đã phối hợp với các ngành như: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh, Ban đối ngoại Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc để nắm số giấy phép được cấp, dự án thu hồi và giải thể; số lượng người nước ngoài đang làm việc, thời gian đến và rời khỏi Việt Nam Chính vì vậy, các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đều được theo dõi và quản lý thuế đầy đủ, nhất là đối với các dự án của nhà thầu nước ngoài

+ Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế: Vĩnh Phúc là một trong những địa phương dẫn đầu trong cả nước về cải thiện môi trường đầu tư và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn Vĩnh Phúc, ngoài các ưu đãi theo quy định chung của Luật Đầu tư nước ngoài còn được các hưởng các ưu đãi đặc thù của địa phương như miễn, giảm tiền thuê đất, đặc biệt là việc giải quyết khẩn trương, kịp thời các thủ tục hành chính trong việc cấp giấy phép đầu tư, các thủ tục thuê đất Đối với cơ quan thuế, Cục thuế Vĩnh Phúc cũng đã

hỗ trợ kịp thời các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mới thành lập trong việc đăng ký, cấp mã số thuế; phổ biến chính sách thuế hiện hành, các ưu đãi thuế mà DN được hưởng

+ Kê khai, nộp thuế: Trước ngày 1/1/2004, các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện kê khai tờ khai thuế hàng tháng, cơ quan thuế tính và

ra thông báo Các loại tờ khai thuế thường tập trung vào một số ngày nhất định nên việc xử lý số liệu bị hạn chế, hầu như có ít trường hợp phát hiện các sai phạm lớn về thuế qua các tờ khai; Thông báo thuế gửi đến DN không kịp thời, thậm chí trong nhiều trường hợp số liệu thông báo thuế không chính xác gây khó khăn cho DN khi nộp thuế và không đảm bảo đúng thời hạn nộp thuế

Kể từ ngày 1/4/2004, với quy định bỏ chế độ ra thông báo của cơ quan thuế, Cục thuế Vĩnh Phúc đã mạnh dạn chuyển đổi dần việc kê khai, nộp thuế của các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sang cơ chế tự tính, tự kê khai,

tự nộp thuế; đưa công nghệ thông tin vào trợ giúp quản lý thuế với mục tiêu

Trang 36

tăng sự tuân thủ của người nộp thuế, giảm các trường hợp khiếu nại, đảm bảo

sử dụng tốt nguồn lực cán bộ đang có Cùng với việc này đã thực hiện luân chuyển, sắp xếp lại cán bộ, tăng số cán bộ làm nhiệm vụ thanh tra và hỗ trợ người nộp thuế

+ Thanh tra, kiểm tra: Đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thanh tra, kiểm tra thuế ở Vĩnh Phúc đã được thực hiện chủ yếu thông qua việc kiểm tra quyết toán thuế hàng năm Việc tăng cường thanh tra, kiểm tra về thuế

và xử lý các vi phạm đối với các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa thật sự kiên quyết và đạt hiệu quả một phần do sợ ảnh hưởng đến môi trường thu hút đầu tư Điều này thể hiện qua việc số lượng các DN đã được thực hiện thanh tra, kiểm tra hàng năm còn ít (bình quân hàng năm chỉ có 20%-30% số

DN được thanh tra, kiểm tra)

1.3.2.Kinh nghiệm của Hà Nội: (khi chưa hợp nhất địa giới hành chính

với Hà Tây)

Hà Nội là một trong các địa phương có số lượng các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất cả nước Tính đến 31/12/2007, địa bàn Hà Nội có 1.367 DN với 549 DN liên doanh và 818 DN 100% vốn nước ngoài Số thu ngân sách của các DN này năm 2007 đạt 4.023 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 13,2% tổng

số thu NSNN về thuế trên địa bàn Hà Nội

- Coi trọng tổ chức bộ máy quản lý thuế: Cũng như ở Vĩnh Phúc, các DN

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được tập trung quản lý thuế tại Văn phòng Cục thuế thành phố Năm 1999, Cục thuế Hà Nội thành lập Phòng quản lý các

DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, quản lý 331 DN với 15 cán bộ, bình quân mỗi cán bộ quản lý 20 DN Số lượng các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội tăng rất nhanh, bình quân tháng từ 15-25 DN Nếu như năm 1999 có 331 DN (103 DN 100% vốn nước ngoài và 228 DN liên doanh) thì đến hết năm 2007 đã có 1.367 DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội (Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác thuế 2005- 2007, Cục thuế TP Hà Nội).

Trang 37

- Quản lý thuế chặt chẽ, hiệu quả :

+ Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế: Với số lượng người nộp thuế lớn, Cục thuế Hà Nội rất coi trọng việc tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, đã tăng cường trợ giúp cho các DN dưới nhiều hình thức khác nhau như phát hành các

ấn phẩm, tờ rơi, trung tâm điện thoại trả lời vướng mắc, Đối với các DN mới thành lập đã được hướng dẫn cụ thể một số thủ tục ban đầu như đăng ký chế độ

kế toán, thủ tục mua và sử dụng hoá đơn, hướng dẫn các loại thuế phải nộp, thời hạn kê khai, thời hạn nộp thuế

+ Ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý tốt thông tin về người nộp thuế: nhằm theo dõi một cách thường xuyên có hệ thống các chỉ tiêu cơ bản về tình hình sản xuất, kinh doanh của DN theo trình tự thời gian Phòng thuế DN

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện việc quản lý hồ sơ người nộp thuế đầy đủ với việc tận dụng tối đa phương tiện máy tính phục vụ việc lập, lưu giữ số liệu hồ sơ, danh bạ của DN, các chỉ tiêu cơ bản về tình hình của DN như: số hiện có và tình hình biến động về tài sản, tiền vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, thực hiện nghĩa vụ thuế, hồ sơ miễn giảm thuế, hoàn thuế Nhờ đó, việc truy cập, khai thác thông tin về DN được thực hiện nhanh chóng, phục vụ kịp thời cho quản lý thuế

+ Kê khai nộp thuế: Hà Nội là một trong 6 tỉnh thành phố được chọn áp dụng thí điểm cơ chế người nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế từ 01/01/2005 Cơ quan thuế không phát hành thông báo thuế mà chỉ thực hiện kiểm tra sau khi người nộp thuế kê khai Thực hiện cơ chế này sớm so với các địa phương khác trong toàn quốc đã nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế cũng được nâng cấp và hoàn thiện, đảm bảo phù hợp với cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp Bên cạnh đó, việc kết nối hệ thống theo dõi số nộp thuế của các DN giữa Cục thuế TP Hà Nội với Kho bạc Nhà nước TP Hà Nội đã giảm nhiều thời gian và số lượng công việc hạch toán

số nộp ngân sách của các DN, phục vụ kịp thời cho việc chỉ đạo thu thuế Hiện

Trang 38

nay trên toàn quốc mới chỉ có khoảng 1/10 Cục thuế có mạng kết nối trực tiếp với KBNN

+ Thanh tra, kiểm tra thuế: Nhận thức được việc thực hiện cơ chế người nộp thuế tự khai, tự tính, tự nộp thuế đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế cần được tăng cường mạnh mẽ Hà Nội đã rất chú trọng thanh tra, kiểm tra và coi đây là công việc thường xuyên, đặc biệt là kiểm tra quyết toán thuế Việc thanh tra, kiểm tra được lập kế hoạch ngay từ đầu năm, chú trọng kiểm tra những đơn vị

có số thu lớn, có số nợ đọng lớn kết hợp với kiểm tra chuyên ngành

Trong việc kiểm tra xử lý các vi phạm của DN nói chung và DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng, Hà Nội là địa phương thực hiện kiên quyết việc xử phạt vi phạm về kê khai thuế, phạt nộp chậm tiền thuế Điều này

đã góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các DN Trong thực tế còn nhiều địa phương trong cả nước chưa thực hiện triệt để việc xử phạt vi phạm về kê khai, xử phạt chậm nộp thuế

Cục thuế Hà Nội lập chương trình phấn đấu kiểm tra quyết toán thuế mỗi năm 1 lần đối với toàn bộ các DN, nhưng do số lượng nộp thuế quá lớn nên chỉ chọn các DN có vướng mắc hoặc các DN có dấu hiệu vi phạm để kiểm tra Việc sử dụng cán bộ quản lý cũng như cán bộ kiểm tra, thanh tra thuế ở Hà Nội

đã thực hiện cải cách một bước, từ chỗ sử dụng cán bộ chuyên quản để quản lý đối tượng bao gồm nhiều loại thuế chuyển sang sử dụng cán bộ chuyên môn hoá theo sắc thuế

1.3.3 Một số bài học tham khảo cho Hà Tây:

Mặc dù Hà Nội, Vĩnh Phúc có những đặc điểm riêng so với Hà Tây, song qua thực tế quản lý thuế của 2 địa phương này có thể rút ra một số bài học tham khảo sau :

- Cơ chế quản lý thu: Với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp sớm hơn

so với các địa phương khác trong cả nước Hà Nội đã thực hiện tốt việc cung cấp các thông tin, các dịch vụ hỗ trợ để các DN có điều kiện nắm vững các quy định pháp luật thuế giúp cho việc thực hiện nghĩa vụ thuế được thuận lợi, giảm

Trang 39

chi phí quản lý Cùng với việc áp dụng cơ chế này là việc cải tiến, hiện đại hoá tất cả các lĩnh vực quản lý thuế Các quy trình được cụ thể hoá rõ ràng; đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên môn sâu; các chế tài thưởng phạt đầy đủ và áp dụng có hệ thống, các hoạt động kiểm tra, thanh tra được coi trọng và lập kế hoạch, đặt mục tiêu đúng đắn

Hiện đại hoá quản lý thuế bằng công nghệ thông tin: Công nghệ thông tin đã hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động quản lý thuế Với sự hỗ trợ của hệ thống tin học hiện đại, việc đăng ký thuế, kê khai thuế, xử lý chứng từ nộp thuế đã được xây dựng trên hệ thống ứng dụng tin học giảm tối đa việc thực hiện thủ công như trước đây Hệ thống thông tin đã trở thành công cụ quan trọng trong

cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, tăng hiệu quả trong giao dịch giữa cơ quan thuế và DN, giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế

- Dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế: Nội dung này được quan tâm đúng mức

dưới nhiều hình thức khá phong phú: cung cấp dịch vụ cho DN qua hệ thống thông tin liên lạc (điện thoại, fax, internet); sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài), các ấn phẩm, tờ rơi,

- Về tổ chức bộ máy: Do đặc điểm riêng của các DN có vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài nên Hà Nội, Vĩnh Phúc cũng như các địa phương khác đều tổ chức riêng bộ phận quản lý thuế đối với loại hình DN này, cán bộ làm việc ở

bộ phận này là những người biết ngoại ngữ và tương đối am hiểu luật pháp quốc tế

Dĩ nhiên, việc vận dụng những kinh nghiệm của Hà Nội và Vĩnh Phúc chỉ

có thể đạt kết quả phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ thuế nói chung, cán bộ quản

lý thuế các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng của Hà Tây Với những kinh nghiệm của Hà Nội khi Hà Tây sát nhập vào thì chắc chắn sẽ góp phần khắc phục những hạn chế trước đây của địa phương này

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở HÀ TÂY

2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở HÀ TÂY

2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của Hà Tây

Hà Tây vốn là một tỉnh đồng bằng, trung du nằm tiếp giáp thủ đô Hà Nội

về hai phía: Tây và Nam Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực Bắc bộ,

là khu vực chuyển tiếp từ Tây bắc và trung du miền Bắc với đồng bằng sông Hồng qua một mạng lưới giao thông về đường sắt, đường bộ, đường thuỷ tương đối phát triển

Diện tích hành chính của Hà Tây là 2.191,6 km2, có 12 huyện và 2 thành phố Tính đến 31/12/2007, Hà Tây có 324 xã, phường, thị trấn; dân số xấp xỉ 2,6 triệu người, trong đó có khoảng trên 1,2 triệu trong độ tuổi lao động (chiếm khoảng 50%) Nguồn tài nguyên khá đa dạng như tài nguyên nước, khoáng sản, đất thổ nhưỡng có giá trị cao Cơ cấu kinh tế chủ yếu của Hà Tây là công nghiệp, nông nghiệp (cơ cấu kinh tế năm 2007: nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản 30,40%; công nghiệp, xây dựng 40,4%; du lịch, dịch vụ 29,56%)

Hà Tây là địa phương có nhiều tiềm năng về kinh tế, nhất là khả năng sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp, có hàng trăm làng nghề thủ công sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Hàng xuất khẩu của Hà Tây có nhiều thế mạnh với nhiều mặt hàng có tỷ trọng lớn so với các địa phương khác như hàng mây tre đan, thêu ren, tiện gỗ, điêu khắc, sơn mài Trong năm 2008, mục

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Ái (2002), Giáo trình thuế Nhà nước, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thuế Nhà nước
Tác giả: Lê Văn Ái
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2002
2. Nguyễn Thị Bất, Vũ Duy Hào (2002), Giáo trình Quản lý thuế, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý thuế
Tác giả: Nguyễn Thị Bất, Vũ Duy Hào
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2002
3. Cục thống kê Hà Tây (2007), Niên giám Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê
Tác giả: Cục thống kê Hà Tây
Năm: 2007
5. Cục Thuế Hà Nội, Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm từ 2005-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm từ 2005-2007
Tác giả: Cục Thuế Hà Nội
7. Cục Thuế Hà Tây (2001), Các giải pháp nhằm tăng thu ngân sách đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nhằm tăng thu ngân sách đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Tác giả: Cục Thuế Hà Tây
Năm: 2001
8. Nguyễn Đẩu, “Hiện đại hoá công tác thanh tra thuế- Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 2/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hoá công tác thanh tra thuế- Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam”, "Tạp chí thuế Nhà nước
9. Nguyễn Đẩu, “Công tác thanh tra trong chiến lƣợc cải cách thuế”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thanh tra trong chiến lƣợc cải cách thuế”, "Tạp chí thuế Nhà nước
10. Lê Thị Thanh Hà (2007), Giáo trình thuế , Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thuế
Tác giả: Lê Thị Thanh Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Hiệu, “Bàn về các tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 5/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại”, "Tạp chí thuế Nhà nước
12. Nguyễn Văn Hiệu, “Bàn về những điều kiện cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống thuế ở nước ta”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 5/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về những điều kiện cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống thuế ở nước ta”, "Tạp chí thuế Nhà nước
13. Nguyễn Danh Hƣng, “Một số vấn đề đặt ra đối với công tác dịch vụ tƣ vấn thuế”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra đối với công tác dịch vụ tƣ vấn thuế”, "Tạp chí thuế Nhà nước
14. Trung Kiên, “Cơ chế doanh nghiệp tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế sau một năm triển khai thí điểm”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế doanh nghiệp tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế sau một năm triển khai thí điểm”, "Tạp chí thuế Nhà nước
15. Vương Hoàng Long, “Một số vấn đề về công tác tư vấn thuế ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, Số 6/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác tư vấn thuế ở Việt Nam”, "Tạp chí Tài chính
16. Vũ Thị Mai, “Những đổi mới cơ bản trong tổ chức quản lý thu thuế từ 01/01/1999”, Tạp chí Tài chính, Số 4/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới cơ bản trong tổ chức quản lý thu thuế từ 01/01/1999”, "Tạp chí Tài chính
17. Đỗ Đức Minh (2002), “Hoàn thiện chính sách thuế trong điều kiện hội nhập” Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách thuế trong điều kiện hội nhập
Tác giả: Đỗ Đức Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2002
18. Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư quốc tế
Tác giả: Phùng Xuân Nhạ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Năm: 2001
19. Nguyễn Văn Ninh, “Cải cách quản lý thuế và hiện đại hoá ngành thuế”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách quản lý thuế và hiện đại hoá ngành thuế
Tác giả: Nguyễn Văn Ninh
Nhà XB: Tạp chí thuế Nhà nước
Năm: 2005
20. Văn Phụng, “Hiệu quả của dịch vụ hỗ trợ đối tuợng nộp thuế”, Bản tin Thuế quốc tế, Số 8/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của dịch vụ hỗ trợ đối tuợng nộp thuế”, "Bản tin Thuế quốc tế
21. Ngô Đình Quang, “Hệ thống thuế Việt Nam đến năm 2010 cải cách theo hướng nào”, Tạp chí thuế Nhà nước, Số 1/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thuế Việt Nam đến năm 2010 cải cách theo hướng nào”, "Tạp chí thuế Nhà nước
30. Các trang Web: http://www.hataytax.gov.vn; http://www.gdt.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2-1: SỐ LƯỢNG CÁC DN CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
BẢNG 2 1: SỐ LƯỢNG CÁC DN CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (Trang 42)
HÌNH 2-1: MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ THUẾ    THEO CHỨC NĂNG CỤC THUẾ HÀ TÂY - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
HÌNH 2 1: MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ THUẾ THEO CHỨC NĂNG CỤC THUẾ HÀ TÂY (Trang 52)
BẢNG 2-2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CẤP MÃ SỐ THUẾ CHO CÁC - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
BẢNG 2 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CẤP MÃ SỐ THUẾ CHO CÁC (Trang 57)
BẢNG 2-3 : SỐ NỢ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
BẢNG 2 3 : SỐ NỢ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP (Trang 61)
BẢNG 2-4: KẾT QUẢ HOÀN THUẾ CHO CÁC DOANH NGHIỆP - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
BẢNG 2 4: KẾT QUẢ HOÀN THUẾ CHO CÁC DOANH NGHIỆP (Trang 63)
BẢNG 2.5: KẾT QUẢ KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DN - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
BẢNG 2.5 KẾT QUẢ KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DN (Trang 67)
BẢNG 2.6: CƠ CẤU NGUỒN THU THEO TỪNG SẮC THUẾ  TRONG  TỔNG THU - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
BẢNG 2.6 CƠ CẤU NGUỒN THU THEO TỪNG SẮC THUẾ TRONG TỔNG THU (Trang 76)
HÌNH 2-2:  SỐ  THUẾ NỘP NGÂN SÁCH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP - Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ)
HÌNH 2 2: SỐ THUẾ NỘP NGÂN SÁCH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm