1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam

154 807 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu: Đã có một số công trình nghiên cứu về dạy nghề nói chung, công tác QLNN trong lĩnh vực dạy nghề nói riêng đã được công bố, như: - Nghiên cứu đánh giá hệ thống các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÙI ĐỨC TÙNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60 31 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.Phan Huy Đường

Hà Nội -2007

Trang 2

MỤC LỤC MỤC Trang

Chương 1: QLNN TRONG LĨNH VỰC DN - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1.1 Khái niệm, các nhân tố tác động và đặc điểm về dạy nghề 11

1.1.2 Vị trí và vai trò của dạy nghề trong hệ thống 19

giáo dục quốc dân và trong đời sống xã hội

1.2.2 Sự cần thiết và nội dung QLNN trong lĩnh vực dạy nghề 26

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý trong lĩnh vực

1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước phát triển Âu- Mỹ 42

1.3.4 Khả năng vận dụng kinh nghiệm của các nước vào Việt Nam 46

Tóm tắt chương 1 48

Chương 2: QLNN TRONG LĨNH VỰC DN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 49

2.1 Thực trạng và những đặc điểm cơ bản về DN ở Việt Nam 49

2.1.1 Về cơ quan QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

49

2.1.2 Về mạng lưới, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề 54

2.1.3 Về quy mô, chất lượng và các hình thức dạy nghề 57

Trang 3

2.2 Tình hình QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam thời gian qua 61

2.2.1 Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các VBQPPL; 62 chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển DN

2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ 68 giáo viên trong lĩnh vực dạy nghề

2.2.3 Tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng DN 71

và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

2.2.4 Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phát triển DN; tổ chức, 72 chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng KHCN và HTQT trong lĩnh vực DN

2.2.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực DN 77

2.3 Đánh giá công tác QLNN trong lĩnh vực DN thời gian qua 80

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG QLNN TRONG LĨNH VỰC DN Ở VIỆT NAM

96

trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam

3.1.1 Bối cảnh mới về DN và QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam 96 3.1.2 Mục tiêu DN từ nay đến năm 2010 và định hướng đến 2020 100 3.1.3 Quan điểm tăng cường QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam 104

3.2 Giải pháp tăng cường QLNN trong lĩnh vực dạy nghề 105

3.3.1 Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, pháp luật, lập quy hoạch,

3.2.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực bộ máy QLNN

3.2.3 Tăng cường và bảo đảm các điều kiện để phát triển DN 114

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 5

MỤC LỤC MỤC Trang

Chương 1: QLNN TRONG LĨNH VỰC DN - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1.1 Khái niệm, các nhân tố tác động và đặc điểm về dạy nghề 11

1.1.2 Vị trí và vai trò của dạy nghề trong hệ thống 19

giáo dục quốc dân và trong đời sống xã hội

1.2.2 Sự cần thiết và nội dung QLNN trong lĩnh vực dạy nghề 26

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý trong lĩnh vực

1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước phát triển Âu- Mỹ 42

1.3.4 Khả năng vận dụng kinh nghiệm của các nước vào Việt Nam 46

Tóm tắt chương 1 48

Chương 2: QLNN TRONG LĨNH VỰC DN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 49

2.1 Thực trạng và những đặc điểm cơ bản về DN ở Việt Nam 49

2.1.1 Về cơ quan QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

49

2.1.2 Về mạng lưới, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề 54

2.1.3 Về quy mô, chất lượng và các hình thức dạy nghề 57

Trang 6

2.2 Tình hình QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam thời gian qua 61

2.2.1 Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các VBQPPL; 62 chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển DN

2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ 68 giáo viên trong lĩnh vực dạy nghề

2.2.3 Tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng DN 71

và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

2.2.4 Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phát triển DN; tổ chức, 72 chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng KHCN và HTQT trong lĩnh vực DN

2.2.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực DN 77

2.3 Đánh giá công tác QLNN trong lĩnh vực DN thời gian qua 80

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG QLNN TRONG LĨNH VỰC DN Ở VIỆT NAM

96

trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam

3.1.1 Bối cảnh mới về DN và QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam 96 3.1.2 Mục tiêu DN từ nay đến năm 2010 và định hướng đến 2020 100 3.1.3 Quan điểm tăng cường QLNN trong lĩnh vực DN ở Việt Nam 104

3.2 Giải pháp tăng cường QLNN trong lĩnh vực dạy nghề 105

3.3.1 Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, pháp luật, lập quy hoạch,

3.2.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực bộ máy QLNN

3.2.3 Tăng cường và bảo đảm các điều kiện để phát triển DN 114

Trang 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 8

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

CNKT Công nhân kỹ thuật

CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

UBND Uỷ ban Nhân dân

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật

XHCN Xã hội chủ nghĩa

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Cỏc bảng Bảng 2.1: Mạng lưới trường dạy nghề, trung tõm dạy nghề và cỏc cơ

sở khỏc cú dạy nghề tớnh đến 31 thỏng 12 năm 2006

55

Các biểu đồ

Biểu 2.2: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của giáo viên các tr-ờng dạy

Biểu 2.3: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của giáo viên tại trung tâm

Các sơ đồ Sơ đồ 1.1: Vị trí của dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân 20

Trang 10

MỞ ĐẦU:

1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc cạnh tranh giữa các quốc gia về kinh tế, thương mại và nguồn nhân lực là một xu thế tất yếu Do vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ lao động kỹ thuật có trình độ cao, có kiến thức, kỹ năng nghề, làm chủ máy móc, công nghệ hiện đại là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong những năm gần đây, công tác dạy nghề ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đã tăng

từ 10% năm 1995 lên 20% vào năm 2006, góp phần quan trọng vào nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của cả nước lên 27,5% vào năm 2006 Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định mục tiêu đến năm 2010 nâng số lao động được đào tạo lên 40%, trong đó lao động qua đào tạo nghề là 26% Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành Trung ương lập Đề án đến năm 2010 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50%, trong đó qua đào tạo nghề là 32%

Sự phát triển của ngành dạy nghề thời gian qua có vai trò to lớn của công tác QLNN Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và những kết quả đáng ghi nhận, công tác dạy nghề và QLNN trong lĩnh vực này vẫn còn những bất cập và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Để đổi mới công tác dạy nghề phù hợp với nền kinh tế thị trường trong bối cảnh của thời kỳ hội nhập thì việc tăng cường QLNN trong lĩnh vực dạy nghề là yêu cầu cấp

thiết hiện nay nhằm “tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với

trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới” như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã

Trang 11

đề ra [34, tr.171] Do vậy, công tác dạy nghề và QLNN trong lĩnh vực này cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn Trước yêu cầu đó, là người nghiên cứu kinh tế, công tác trong ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, tôi đã lựa chọn

đề tài: “Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam” làm luận văn cao

học của mình

2 Tình hình nghiên cứu:

Đã có một số công trình nghiên cứu về dạy nghề nói chung, công tác QLNN trong lĩnh vực dạy nghề nói riêng đã được công bố, như:

- Nghiên cứu đánh giá hệ thống các cơ sở đào tạo nghề, kiến nghị biện pháp

nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về công tác dạy nghề Đề tài cấp Bộ, Tổng cục Dạy

nghề – 1998 Nội dung chủ yếu khảo sát thực trạng hệ thống các cơ sở đào tạo nghề của nước ta, từ đó kiến nghị biện pháp nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về dạy nghề

- Quản lý Giáo dục nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại

hoá đất nước Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Phạm Ngọc Đỉnh, Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh -1999 Nội dung chính là nghiên cứu quản lý giáo dục nghề nghiệp (trung học chuyên nghiệp, dạy nghề), trong đó đi sâu vào quản lý giáo dục, chỉ

đề cập một phần về QLNN về giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề

- Giáo dục kỹ thuật- nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, tác giả Trần

Khánh Đức, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2002, tập hợp các bài báo khoa học của tác giả

về cơ sở lý luận và phương pháp luận phát triển hệ thồng giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực

- Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực

cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án tiến sỹ của tác giả Phan Chính

Thức, Đại học Sư phạm Hà Nội -2003, đi sâu nghiên cứu, đề xuất những khái niệm, cơ

sở lý luận mới về đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề và giải pháp phát triển đào tạo

Trang 12

nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, tác giả

PGS.TS Đỗ Minh Cương, TS Mạc Văn Tiến, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội -2004 Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển lao động kỹ thuật ở nước ta

- Giáo dục nghề nghiệp – Những vấn đề và giải pháp, tác giả Nguyễn Viết Sự,

NXB Giáo dục, Hà Nội -2005 Nội dung tập hợp các bài viết đã đăng trên các tạp chí,

kỷ yếu hội thảo, đề tài nhiên cứu khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn, kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp

- Hệ thống dạy nghề của Việt Nam trong tiến trình hội nhập với các nước trong

khu vực và trên thế giới, Đề tài cấp Bộ – Tổng cục Dạy nghề - 2005

- QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta – thực trạng và giải pháp,

Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Đức Tĩnh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – 2007 Nội dung chính là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư phát triển đào tạo nghề trong nền kinh tế thị trường, thực trạng QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiên cứu khác được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này Những nghiên cứu trên

có các cách tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực dạy nghề cũng như các nội dung khác của dạy nghề, trong đó có QLNN về dạy nghề Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên

sâu QLNN trong lĩnh vực dạy nghề Do vậy, đề tài: “QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở

Việt Nam” là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam

Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả cũng tham khảo, kết hợp khảo sát những vấn đề mới nảy sinh,

Trang 13

nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN trong lĩnh vực dạy nghề, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN trong lĩnh vực dạy nghề thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam thời gian qua, trên cơ sở đó chỉ ra được những mặt mạnh, ưu điểm, những bất cập; nguyên nhân của những kết quả và bất cập, yếu kém của QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam

- Đề xuất những quan điểm và giải pháp tăng cường QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam

- Phạm vi: Đề tài giới hạn nghiên cứu QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở cấp Trung ương

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1998 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp luận chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể bao gồm phương pháp toán thống kê, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp chuyên gia và các phương pháp kinh tế khác

6 Những đóng góp mới của luận văn:

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận QLNN trong lĩnh vực dạy nghề

Trang 14

- Đưa ra một cái nhìn tổng quan và đầy đủ về QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam hiện nay, những việc đã làm được, đặc biệt là những mặt còn hạn chế, thiếu sót, những bất cập, lỗ hổng trong quản lý Làm rõ nét tình hình QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam về triển vọng, yếu kém và nguyên nhân nguyên nhân của những yếu kém đó

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: QLNN trong lĩnh vực dạy nghề - Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam thời gian qua

Chương 3: Định hướng, quan điểm và giải pháp tăng cường QLNN trong lĩnh

vực dạy nghề ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC DẠY NGHỀ

– CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Dạy nghề

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố tác động đến dạy nghề

1.1.2.1 Khái niệm dạy nghề:

Trong nghiên cứu, một số công trình khoa học đã đưa ra quan niệm, khái niệm liên quan đến dạy nghề:

- Theo Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc được áp dụng với người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động Đào tạo nghề được thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trường dạy nghề, các lớp học không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cường

cơ hội việc làm và cải thiện địa vị người lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế-xã hội [59, tr.24]

- Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao [59, tr.24]

- Theo Điều 5, Luật Dạy nghề được Quốc hội khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, thì “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”

Từ các quan niệm, khái niệm nêu trên, theo cách tiếp cận của luận văn, khái niệm dạy nghề được hiểu như sau:

Dạy nghề là hoạt động dạy và học tại nơi làm việc, các cơ sở dạy nghề, trung

Trang 16

tâm đào tạo, các lớp học không chính quy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

1.1.2.2 Đặc điểm về dạy nghề:

Dạy nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau :

- Dạy nghề gắn chặt với với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt

trong điều kiện kinh tế thị trường Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật

trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để người học trở thành người lao động trong các doanh nghiệp

- Nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy trong dạy nghề cũng có những nét riêng Đây là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, đòi hỏi người học phải đạt trình độ kỹ năng nghề, có hiểu biết cần thiết và phù hợp để làm được những công việc phức tạp ở mức độ nhất định, nhất là về kỹ thuật và công nghệ; đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thực tế sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, tỷ lệ thực hành trong dạy nghề thường chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90-100%

- Đối tượng học nghề là những người đã trưởng thành, thậm chí đã lớn tuổi

- Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm:

+ Dạy nghề dài hạn: đào tạo đội ngũ công nhân, nhân viên kỹ thuật một cách bài bản, theo chương trình chuẩn, thời gian đào tạo 1-3 năm, tuỳ theo đặc điểm, độ

Trang 17

phức tạp của nghề, hoàn thành khoá học được cấp bằng nghề với hai trình độ cơ bản là trung cấp nghề và cao đẳng nghề

+ Dạy nghề ngắn hạn: Đào tạo cho người học nghề theo chương trình ngắn hạn, thời gian dưới 1 năm, hoàn thành khoá học được cấp chứng chỉ nghề, trình độ đào tạo là sơ cấp nghề

+ Dạy nghề theo modul: Dạy nghề theo một kỹ năng nhất định, người học có thể bổ sung kiến thức và kỹ năng dần theo từng modul

+ Dạy nghề kèm cặp: Dạy nghề ngay trong quá trình sản xuất, người học vừa học vừa làm dưới sự hướng dẫn trực tiếp của những người có kinh nghiệm, kỹ năng hơn mình

+ Dạy nghề lưu động: Cơ sở dạy nghề mang thiết bị, tài liệu hướng dẫn và giáo viên đến trực tiếp nơi có đông người học để giảng dạy (chủ yếu áp dụng trong dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn)

1.2.2.3 Các nhân tố tác động tới dạy nghề

Thứ nhất, nhân tố khoa học – công nghệ:

Bước vào thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với những bước tiến nhảy vọt, trở thành động lực, đầu tàu của sự phát triển kinh tế xã hội, kéo theo những biến đổi đột biến, mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời đại xã hội loài người đang chuyển sang nền kinh tế tri thức Cách mạng khoa học đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin, trong đó các ngành sản xuất, dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ Khoảng cách giữa phát minh khoa học, công nghệ và áp dụng vào thực tế ngày càng thu hẹp Cách mạng khoa học công nghệ làm cho nhiều ngành, nghề cũ mất đi và cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới; cơ cấu ngành, nghề và tỷ trọng của nó trong các lĩnh vực kinh tế cũng thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ Trong điều kiện mới, sự phát triển

Trang 18

của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực con người là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất như trước đây Tỷ trọng lao động trực tiếp giảm mạnh, lao động gián tiếp và dịch vụ tăng nhanh, xuất hiện và gia tăng nhanh chóng công nhân trí thức Từ đó, các quốc gia muốn phát triển phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu

tư hướng vào phát triển vốn con người nhằm làm cho nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hoá, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thích nghi cao, thích ứng kịp thời với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất, kinh doanh

Việt Nam là quốc gia đang phát triển ở trình độ thấp nhưng yếu tố khoa học – công nghệ đang tác động mạnh đến dạy nghề, nhất là khi chúng ta phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, sản xuất các mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế Nếu chúng ta không tập trung vào dạy nghề sẽ dẫn đến hậu quả không đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật lành nghề cung ứng cho nền kinh tế quốc dân

Thứ hai, xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập:

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế tác động mạnh đến dạy nghề theo hai hướng cơ bản là đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của quốc gia trong quá trình hội nhập và bảo đảm nguồn lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của công nghệ mới, công nghệ cao do có sự tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Ở hướng thứ nhất, trong nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia, thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động kỹ thuật trình độ cao, có khả năng tiếp thu nhanh, sáng tạo và làm chủ công nghệ, khả năng chuyển đổi nghề linh hoạt; tính chịu trách nhiệm, khả năng nắm bắt và giao tiếp khách hàng; khả năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường văn hoá đa dân tộc, tôn giáo là những yếu tố có tính chất quyết định Đó là những yêu cầu mới về chuẩn mực

Trang 19

chất lượng nguồn lao động kỹ thuật bảo đảm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập

Hướng thứ hai rất quan trọng tác động đến dạy nghề là đáp ứng yêu cầu lao động

kỹ thuật của thị trường lao động trong nước và quốc tế Việt Nam trong xu thế hội nhập

có nhiều cơ hội tạo việc làm mới trong các khu vực: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); doanh nghiệp sản xuất và gia công hàng xuất khẩu với công nghệ sử dụng nhiều lao động; xuất khẩu lao động và chuyên gia

Khu vực doanh nghiệp FDI được khuyến khích phát triển là hướng quan trọng để tăng trưởng kinh tế trên cơ sở hình thành các KCN-KCX, các vùng kinh tế trọng điểm Đây là khu vực đầu tư theo chiều sâu, áp dụng công nghệ mới, sử dụng nhiều vốn với

hệ số co giãn việc làm thấp (thường từ 0,1 –0,2%) nhưng có yêu cầu lao động trình độ cao và xuất hiện nhiều ngành nghề mới mà nền kinh tế truyền thống trong nước chưa

có, liên quan đến sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông, vận hành thiết bị tự động hoá, lắp ráp xe máy, ô tô, điện tử, sửa chữa thiết bị chuyên dùng đặc chủng… Có thể nói, khu vực FDI có nhu cầu sử dụng lao động ở các ngành nghề mới và trình độ cao, nhất là công nhân kỹ thuật lành nghề, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo tiêu chuẩn quốc tế Do vậy, nhu cầu đào tạo cho ứng dụng công nghệ nhập khẩu và cung cấp cho các khu công nghệ cao sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật tương ứng Đối với khu vực sản xuất sản phẩm xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh như dệt may, giày da, chế biến thuỷ sản…, mặc dù công nghệ áp dụng là công nghệ sử dụng nhiều lao động, nhưng cũng đòi hỏi phải đào tạo lao động kỹ thuật có chất lượng cao, nhằm giảm chi phí lao động, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm phù hợp với từng thị trường

Xuất khẩu lao động và chuyên gia cũng là hướng mũi nhọn tạo việc làm và tham gia vào thị trường lao động quốc tế và khu vực của Việt Nam Tuy nhiên, xu hướng xuất khẩu lao động trong thời gian tới sẽ chủ yếu là lao động có nghề và chuyên môn

Trang 20

kỹ thuật Bởi vậy, chuẩn bị nguồn cho xuất khẩu lao động đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế là rất cần thiết

Thứ ba, tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các ngành, nghề mới, các khu

+ Chuyển dịch kinh tế theo hướng CNH-HĐH theo ngành, thực chất là chuyển từ nền kinh tế truyền thống ở trình độ thấp, dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh

tế hiện đại, trình độ cao, phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ Quá trình chuyển dịch này sẽ làm những ngành, nghề truyền thống không phù hợp mất đi, đồng thời xuất hiện nhiều ngành nghề mới Cơ cấu ngành nghề thay đổi tác động mạnh đến dạy nghề cho phù hợp, số lao động đã được đào tạo theo ngành, nghề cũ cần được đào tạo lại, đào tạo

bổ sung kỹ năng theo yêu cầu của ngành, nghề mới Số lao động mới khi tham gia đào tạo sẽ được tiếp cận ngay với ngành, nghề mới mà thực tế lao động sản xuất đã xuất hiện và đang phát triển

Trong nông nghiệp, các ngành, nghề mới xuất hiện chủ yếu là khi áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất giống, thức ăn công nghiệp, thú y, kiểm tra chất lượng sản phẩm…, nhất là công nghệ sinh học, đưa giống mới, cây trồng vật nuôi có giá trị kinh

tế cao vào sản xuất kinh doanh, áp dụng công nghệ chăm sóc, bảo vệ thực vật, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chế biến nông, lâm, hải sản, đặc biệt cho xuất khẩu

Trang 21

Trong công nghiệp, vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, sử dụng nhiều vốn Từ đó, xuất hiện nhiều ngành, nghề mới hoặc ngành nghề truyền thống nhưng công nghệ hoàn toàn mới, nhất là ngành nghề liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm máy tính, công nghệ chế biến nông, lâm, hải sản, gia công may mặc, giày da mang tính công nghiệp; công nghệ tự động hoá, điều khiển; lắp ráp và sửa chữa máy móc thiết bị hiện đại…

Chính vì vậy, đào tạo nghề phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trở thành nhiệm vụ ngày càng quan trọng, đòi hỏi phải đổi mới một cách căn bản toàn bộ hệ thống dạy nghề đáp ứng yêu cầu thực tế và cập nhật công nghệ mới

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng kéo theo cơ cấu lại lực lượng lao động theo vùng và đặt ra yêu cầu mới trong đào tạo nghề, nhất là lao động kỹ thuật tại chỗ nhằm hạn chế dòng di chuyển lao động giữa các vùng Do các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế mở đều là các khu công nghiệp tập trung, có đầu tư lớn, liên doanh, liên kết với nước ngoài, áp dụng công nghệ cao, sản xuất hàng hoá chủ yếu cho xuất khẩu nên

nó tác động đến dạy nghề không chỉ về mặt nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn mà còn đặt ra yêu cầu phải quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo, nhất là các trường trọng điểm có quy mô thích hợp ở các vùng, đáp ứng kịp thời, tại chỗ lực lượng lao động có nghề phù hợp với trình độ phát triển của vùng

Thứ tư, tác động của thị trường lao động:

Thị trường lao động tác động đến dạy nghề trên các mặt chủ yếu sau:

- Lao động tham gia vào thị trường lao động với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt Người lao động có nhiều cơ hội việc làm sẽ là những người có năng lực nghề nghiệp và phẩm chất vượt trội phù hợp với yêu cầu công việc mà người sử dụng lao động cần Cơ chế cạnh tranh của thị trường lao động sẽ tạo ra động lực khuyến khích

Trang 22

người lao động học tập, học tập suốt đời, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt

Có thể nói, kinh tế thị trường tạo ra nhu cầu về đào tạo lao động kỹ thuật của chính người lao động Đó là nhu cầu khách quan và không ngừng phát triển

- Trong kinh tế thị trường hiện đại dựa trên nền tảng kỹ thuật và công nghệ, tiền lương tăng lên, dẫn đến việc lựa chọn sử dụng nhiều tư bản hơn lao động, tức là tăng cầu lao động có nghề, giảm cầu lao động phổ thông Đây cũng là yếu tố khách quan dẫn đến tăng nhu cầu đào tạo lao động lành nghề theo nhịp độ tương ứng của áp dụng công nghệ cao, nhất là trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các KCN, KCX, khu công nghệ cao…

- Trong nền kinh tế thị trường, thị trường lao động là một thể thống nhất, không

bị chia cắt về mặt hành chính dựa trên cơ sở tự do di chuyển lao động Tuy nhiên cũng

có sự phân lớp khá đa dạng, phong phú biểu hiện ở các cơ cấu lao động khác nhau Trong đó có phân lớp thị trường lao động trình độ cao, thị trường lao động khu vực chính thức và khu vực không chính thức; thị trường lao động thành thị, nông thôn… Mỗi phân lớp có những đặc thù khác nhau, thường xuyên biến động và dịch chuyển Đặc điểm này của thị trường lao động tác động mạnh đến đào tạo nghề nhằm bảo đảm cân đối cung cầu lao động trên thị trường về các khía cạnh:

+ Cân đối về cơ cấu lao động kỹ thuật theo cấp trình độ lành nghề, lao động trình

độ thấp và lao động giản đơn

+ Cân đối về lao động kỹ thuật theo ngành, nghề của khu vực kết cấu

+ Cân đối lao động có nghề giữa thành thị và nông thôn, nam và nữ…

Đảm bảo những cân đối lớn về cơ cấu lao động lành nghề theo cơ chế động là nét đặc trưng cơ bản của dạy nghề trong cơ chế thị trường Từ đó, đòi hỏi việc đào tạo nghề không thể thực hiện theo một kế hoạch áp đặt, có tính hành chính mà phải dựa trên các dự báo theo các phương án có cơ sở khoa học tin cậy

Trang 23

- Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dạy nghề phải gắn với sử dụng, với yêu cầu của sản xuất và thị trường lao động Người lao động được đào tạo có cơ hội tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm có thu nhập bảo đảm cuộc sống Từ đó dạy nghề theo định hướng cầu là sự thay đổi căn bản nhất của hệ thống giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động để người lao động có cơ hội tìm việc làm trên thị trường lao động sau khi được đào tạo Lúc này, hệ thống dạy nghề không đứng độc lập ngoài thị trường mà trở thành một trong những đối tác quan trọng tham gia thị trường, là nhà cung cấp nguồn cho thị trường lao động Kinh tế thị trường tác động đến toàn bộ hệ thống dạy nghề còn biểu hiện ở sự đa dạng hoá, xã hội hoá sự nghiệp này Hệ thống dạy nghề không chỉ bao gồm các cơ sở đào tạo của Nhà nước, mà còn bao gồm các cơ sở đào tạo của doanh nghiệp, của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức chính trị xã hội và phi chính phủ, của tư nhân, liên doanh với nước ngoài

- Giáo dục nghề nghiệp (dạy nghề)

- Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học

Như vậy, dạy nghề là một phân hệ trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ đào tạo người lao động về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, nhân cách ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, năng lực

Trang 24

thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác Mục tiêu của dạy nghề nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế Hình thành hệ thống dạy nghề là một đòi hỏi tất yếu khách quan do yêu cầu phát triển của nền kinh tế-xã hội, phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục-đào tạo trên thế giới Dạy nghề là một trong những nhân tố quyết định nâng cao chất lượng lao động qua đào tạo

Vị trí của dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân có thể được phân chia như

trong sơ đồ sau: (Sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1: Vị trí của dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục

mầm non

Giáo dục phổ thông

Tiểu học THCS THPT

Dạy nghề

Đào tạo hàn lâm

Trang 25

Theo Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề, chương trình dạy nghề được đào tạo theo các trình độ:

- Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; thời gian học dưới 1 năm

- Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; thời gian học ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở; từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông

- Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; giải quyết các tình huống phức tạp trong thực tế; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc Thời gian học từ hai đến ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ một năm rưỡi đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp

1.2 Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề

1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề

1.1.2.1 Khái niệm chung về quản lý và quản lý Nhà nước:

Hoạt động quản lý được coi là kết quả tất yếu của sự chuyển biến nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động được phối hợp lại Như C Mác đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên qui mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải

có nhạc trưởng” Trình độ xã hội ngày càng cao, con người ngày càng được tiếp cận

Trang 26

với công nghệ hiện đại và ngày càng trở lên thông minh, tài giỏi hơn thì yêu cầu quản

lý càng cao và chính vì vậy vai trò của quản lý càng tăng lên [39, tr.15]

Vậy có thể hiểu, quản lý là tác động một cách có tổ chức, và định hướng của chủ

thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định

Có thể hiểu quản lý theo câu hỏi: Ai quản lý? Quản lý ai? Và Quản lý để làm gì?

theo một sơ đồ sau (sơ đồ 1.2):

(mục tiêu, mục đích của quản lý)

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ về quản lý

Ngày nay, quản lý không chỉ diễn ra trong từng tổ chức, trên từng vùng, từng quốc gia mà còn lan rộng ra trên phạm vi toàn cầu nhằm giải quyết những vấn đề chung nảy sinh như dân số, môi trường, đói nghèo, việc làm, tội phạm… mà một quốc

Trang 27

gia riêng lẻ không giải quyết được và do đó có những tổ chức quản lý theo vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu Quản lý là một hoạt động rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy để có thể quản lý tốt được thì đòi hỏi các nhà quản lý phải nắm rõ được các yếu tố tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý, bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý và khách thể quản lý

- Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

- Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý,

đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội

- Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm do chủ thể quản

lý định trước

- Môi trường quản lý đóng một vai trò quan trọng trong quản lý, bao gồm cả môi trường tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội

Từ khái niệm quản lý nêu trên, người ta đưa ra khái niệm QLNN như sau :

QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [39,

tr.15]

QLNN xuất hiện cùng với Nhà nước, là quản lý công việc của Nhà nước Nội dung hoạt động QLNN có thể tóm lược thông qua việc thực thi các loại quyền lực Nhà

Trang 28

nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội nhằm làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững Hoạt động QLNN thông qua hoạt động của các cơ quan thực thi quyền lập pháp Đó là hoạt động ban hành các loại văn bản pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp luật cho xã hội vận động và phát triển; là hoạt động của các cơ quan thực thi quyền hành pháp nhằm đưa pháp luật vào đời sống và điều chỉnh các mối quan

hệ nảy sinh; là hoạt động của hệ thống các cơ quan thực thi quyền tư pháp nhằm bảo đảm cho hệ thống pháp luật được nghiêm minh

- Chủ thể QLNN là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước Các cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Đối tượng QLNN là toàn thể nhân dân tức là toàn bộ dân cư sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

- Hoạt động QLNN diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân

- QLNN mang tính quyền lực Nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội theo định hướng mà Nhà nước đề

ra

- Bên cạnh đó, môi trường quản lý cũng rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động QLNN Nội dung, phương thức và công cụ áp dụng để tiến hành các hoạt động QLNN tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của thể chế chính trị, thể chế Nhà nước cũng như điều kiện KT-XH của quốc gia trong từng giai đoạn

1.2.1.2 Khái niệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề:

Dạy nghề là một trong những hoạt động giáo dục - đào tạo Để hiểu rõ hơn bản chất của QLNN trong lĩnh vực dạy nghề cần xem xét mối quan hệ của nó với QLNN

về giáo dục nói chung:

Trang 29

- QLNN về giáo dục là hoạt động của các cơ quan Nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra

Mục tiêu QLNN về giáo dục là nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong hoạt động giáo dục, thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho

xã hội và hoàn thiện, phát triển nhân cách cho công dân

QLNN về giáo dục sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như : Phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục nhưng lấy phương pháp giáo dục là trung tâm

QLNN về giáo dục ở nước ta được quy định tại Điều 14 Luật Giáo dục năm 2005 với các nội dung chủ yếu như : Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục

- QLNN trong lĩnh vực dạy nghề về bản chất là QLNN về giáo dục nhưng có đặc trưng riêng:

+ Chủ thể QLNN trong lĩnh vực dạy nghề là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước

từ Trung ương tới địa phương theo quy định của pháp luật Tại Việt Nam, theo quy định của Luật Dạy nghề, Chính phủ thống nhất QLNN về dạy nghề Từ năm 1998 đến nay, theo quy định của Nghị định số 33/1998/NĐ-CP ngày 23/5/1998 của Chính phủ,

Tổng cục Dạy nghề được chuyển từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao động-

Thương binh và Xã hội Chính phủ giao Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội là cơ

quan tham mưu giúp Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về dạy nghề trên phạm vi

cả nước Tại địa phương, giao cho cơ quan Lao động- Thương binh và Xã hội giúp UBND cùng cấp QLNN về dạy nghề tại địa phương

Trang 30

+ Đối tượng QLNN trong lĩnh vực dạy nghề: Là mọi hoạt động dạy nghề, bao gồm các hoạt động chủ yếu như: xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển dạy nghề; điều kiện hoạt động dịch vụ, tư vấn nghề; đăng

ký và cấp giấy chứng nhận hoạt động dạy nghề; tổ chức và hoạt động các cơ sở dạy nghề; tổ chức chỉ đạo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên; lập dự toán trường, trung tâm, doanh nghiệp có đào tạo nghề và người học nghề

+ Mục tiêu quản lý: Đi sâu vào mục tiêu đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp,

ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp nhằm giúp người học có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đạt được tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề để tìm được việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội

Từ mối quan hệ nêu trên, ta có khái niệm:

QLNN trong lĩnh vực dạy nghề là quản lý theo ngành do một cơ quan Trung ương thực hiện Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực dạy nghề của đất nước, phù hợp với sự

phát triển kinh tế -xã hội

1.2.2 Sự cần thiết và nội dung quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề

1.2.2.1 Sự cần thiết

QLNN trong lĩnh vực dạy nghề trong nền kinh tế thị trường là sự cần thiết khách quan vì những lý do chủ yếu sau:

Thứ nhất, dạy nghề là hoạt động giáo dục đặc thù Đầu tư phát triển dạy nghề là

đầu tư cho phát triển, đầu tư cho con người, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người học, không chỉ tác động đến lợi ích hoặc gây ra hậu quả trước mắt cho người học, cho xã hội mà còn đem lại lợi ích hoặc gây ra hậu quả lâu dài Đây là một lĩnh vực cần đầu tư lớn, gắn liền với hiệu quả xã hội, liên quan chặt chẽ với giải quyết việc làm

và các chương trình kinh tế – xã hội khác Do vậy cần có sự QLNN trong lĩnh vực dạy

Trang 31

nghề nhằm đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả; đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển dạy nghề Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, với việc nảy sinh mâu thuẫn giữa việc thu học phí tăng lên nhằm nâng cao chất lượng và số lượng đào tạo, với việc tạo điều kiện cho người nghèo có thể có cơ hội học tập, để tìm việc làm, do đó cần có sự trợ giúp, điều chỉnh từ phía Nhà nước

Thứ hai, trong kinh tế thị trường, dạy nghề nếu không có sự quản lý sẽ dễ dẫn

đến các hiện tượng tiêu cực như: Thu học phí cao hơn so với thực tế; làm nảy sinh sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo nghề, cạnh tranh về đối tượng, chất lượng tuyển sinh, cạnh tranh về chất lượng đào tạo, cạnh tranh về chi phí đào tạo… Do vậy, để hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, Nhà nước cần tạo ra

cơ chế, quy định để các cơ sở đào tạo bình đẳng cạnh tranh trong khuôn khổ của pháp luật

Thứ ba, quá trình đổi mới đào tạo nghề đã có nhiều dấu hiện tích cực, nhưng vẫn

chưa thoát khỏi những quan niệm và cách làm của cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung, chậm đề ra các định hướng chiến lược và chính sách vĩ mô đúng đắn để xử lý mối tương quan giữa qui mô, chất lượng và hiệu quả dạy nghề Do vậy, cần tiếp tục đổi mới QLNN về dạy nghề

1.2.2.2 Nội dung quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề

Theo quy định của Luật Dạy nghề, QLNN trong lĩnh vực dạy nghề bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp

luật trong lĩnh vực dạy nghề; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển dạy nghề nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho dạy nghề phát triển Những chủ trương, chính sách lớn và dài hạn cần thể chế hoá bằng pháp luật, đảm bảo các yêu cầu cơ bản

Trang 32

sau: Pháp luật phải đồng bộ, tiến bộ, khả thi; tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm túc, đầy đủ, thưởng phạt nghiêm minh, có ý nghĩa xã hội sâu sắc

Cụ thể là xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật về dạy nghề là rà soát các văn bản liên quan đến phát triển dạy nghề để kịp thời bổ sung, sửa đổi những điều bất hợp lí, chồng chéo, hoặc không còn phù hợp nhằm đảm bảo cho quá trình phát triển dạy nghề được thực hiện đồng bộ, kịp thời, thuận lợi, hiệu quả, đồng thời hạn chế tiêu cực phát sinh Dự báo nhu cầu và xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển dạy nghề; định ra chương trình mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về phát triển dạy nghề

Thứ hai, tổ chức bộ máy, cán bộ QLNN trong lĩnh vực dạy nghề; chỉ đạo việc

đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề Nội dung xây dựng bộ máy QLNN trong lĩnh vực dạy nghề là xác định rõ cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của bộ máy trong nội bộ hệ thống dạy nghề và với các cơ quan ngoài hệ thống dạy nghề Việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý là việc tuyển dụng, bố trí, sắp xếp, phân công, quy hoạch, đào tạo, sử dụng sau đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý

từ Trung ương tới địa phương; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên

đủ về số lượng, không ngừng nâng cao chất lượng nhằm thực hiện tốt nội dung, nhiệm

vụ QLNN trong lĩnh vực dạy nghề Quy định các chế độ chính sách, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề

Thứ ba, tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá, cấp

chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Kiểm định chất lượng dạy nghề đánh giá các chương trình dạy nghề, các cơ sở dạy nghề và công nhận các chương trình dạy nghề, các cơ sở dạy nghề đã đạt các chuẩn được quy định

Kiểm định chất lượng dạy nghề có 2 đối tượng chính là chương trình dạy nghề

và cơ sở dạy nghề

Trang 33

- Kiểm định chương trình dạy nghề nhằm khẳng định chương trình và điều kiện

bảo đảm thực hiện chương trình đó sẽ đào tạo được những người tốt nghiệp theo các chuẩn mực và yêu cầu của người tuyển dụng Kiểm định chất lượng chương trình dạy nghề được tiến hành với các nội dung như mục tiêu và nội dung chương trình; cấu trúc chương trình; nội dung chi tiết của chương trình

- Kiểm định cơ sở dạy nghề nhằm đánh giá được tính phù hợp của các mục tiêu

của nhà trường so với yêu cầu của thị trường lao động, sự hoàn thiện của cơ cấu tổ chức và khả năng hoàn thành các mục tiêu đã đề ra Kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề được thực hiện theo các tiêu chí: chức năng, nhiệm vụ của trường; tổ chức và quản lý nhà trường; các chương trình đào tạo; đội ngũ giáo viên; mặt bằng và các trang thiết bị; tài chính; xưởng thực hành và máy móc thiết bị; dịch vụ học sinh

Quy trình kiểm định chất lượng dạy nghề bao gồm:

Bước 1 Tự đánh giá của cơ sở dạy nghề

Về bản chất, việc tự đánh giá của cơ sở dạy nghề làm cho các cá nhân trong đơn

vị tự nhìn lại, tự soi mình và tất yếu để tìm ra các yếu điểm cần khắc phục

Các công việc cần thực hiện trong bước này là:

- Xác định mục đích, phạm vi tự đánh giá;

- Xây dựng kế hoạch tự đánh giá;

- Thu thập thông tin và những chứng cứ để minh chứng;

- Xử lý phân tích các thông tin và những chứng cứ thu được để minh chứng;

- Đánh giá mức độ mà cơ sở dạy nghề đã đạt được theo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề;

- Viết báo cáo tự đánh giá;

- Công bố công khai kết quả tự đánh giá trong nội bộ của cơ sở dạy nghề

Trang 34

Bước 2 Đăng ký kiểm định chất lượng của cơ sở dạy nghề

Để cơ quan quản lý kiểm định chất lượng dạy nghề có thể xác định việc kiểm định chất lượng lần đầu có đủ điều kiện hay không, cơ sở dạy nghề phải đăng ký kiểm định chất lượng với các nội dung sau:

+ Bản đăng ký kiểm định chất lượng và các văn bản lý giải các điều kiện tiên quyết cho kiểm định chất lượng đã được đáp ứng

+ Báo cáo tự đánh giá của cơ sở dạy nghề Đây là bản số liệu về cơ sở dạy nghề theo đúng yêu cầu được quy định trong hướng dẫn của cơ quan quản lý kiểm định chất lượng dạy nghề Đây cũng chính là kết quả đã thực hiện ở bước 1

Nếu được chấp nhận, cơ quan quản lý kiểm định chất lượng dạy nghề sẽ tổ chức công tác kiểm định tại cơ sở

Bước 3 Đánh giá bên ngoài và thẩm định của cơ quan kiểm định chất lượng dạy nghề

Việc đánh giá ngoài được thực hiện bởi Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề do Tổng cục Dạy nghề thành lập mà thành phần là các kiểm định viên ở nhiều lĩnh vực có liên quan đến chuyên môn của cơ sở đăng ký kiểm định Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề sẽ tiến hành hoạt động kiểm định tại cơ sở trên cơ sở tiêu chuẩn kiểm định đã được ban hành và trên bản tự đánh giá của cơ sở đăng ký kiểm định Kết thúc quá trình kiểm định tại cơ sở, Đoàn kiểm định sẽ có văn bản đề nghị cơ quan quản lý kiểm định chất lượng dạy nghề công nhận hay không công nhận kiểm định với chương trình/cơ sở dạy nghề

Quy trình làm việc của Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề:

- Xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các thành viên của Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề;

Trang 35

- Nghiên cứu báo cáo kết quả tự kiểm định chất lượng của cơ sở dạy nghề và các văn bản, tài liệu minh chứng kèm theo;

- Thu thập thông tin và những chứng cứ để minh chứng;

- Khảo sát thực tế và thảo luận với các đơn vị thuộc cơ sở dạy nghề, các giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý và người học;

- Đánh giá mức độ mà cơ sở dạy nghề đã đạt được theo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề;

- Viết báo cáo kết luận kiểm định

Bước 4 Công nhận chương trình/cơ sở dạy nghề đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề

Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề gửi dự thảo báo cáo kết luận kiểm định cho

cơ sở dạy nghề để tham khảo ý kiến Trong thời hạn nhất định, nếu cơ sở dạy nghề không có ý kiến phản hồi, coi như đồng ý Sau khi có ý kiến phản hồi của cơ sở dạy nghề, Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề hoàn thiện báo cáo, ký gửi cho cơ sở dạy nghề và trình Tổng cục Dạy nghề

Căn cứ báo cáo kết quả tự đánh giá của cơ sở dạy nghề, báo cáo kết quả kiểm định của Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề và ý kiến của cơ quan quản lý kiểm định chất lượng dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề ra quyết định công nhận cơ sở dạy nghề đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng tương ứng theo các cấp độ:

+ Cấp độ 1, chưa đạt tiêu chuẩn: cơ sở/chương trình dạy nghề có dưới 70% tiêu

chuẩn trong hệ thống tiêu chí kiểm định chất lượng đạt yêu cầu;

+ Cấp độ 2, đạt tiêu chuẩn: cơ sở/chương trình dạy nghề có ít nhất 80% tiêu

chuẩn trong hệ thống tiêu chí kiểm định chất lượng đạt yêu cầu

Trang 36

Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia được xây dựng theo bậc trình độ kỹ năng nghề cho mỗi nghề Số lượng bậc trình độ kỹ năng nghề đối với từng nghề phụ thuộc vào mức độ phức tạp của nghề đó

Thứ tư, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phát triển dạy nghề; tổ

chức, chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dạy nghề Quy định về quản lý tài chính, tài sản, đầu tư phát triển dạy nghề Cụ thể là quy định về quản lý chi tiêu công, quy định về cấp đất, cho thuê đất; chính sách thuế, chính sách khuyến khích mở rộng đầu tư, mở rộng nguồn thu, quy định về học bổng, học phí và chi tiêu kinh phí đào tạo

Thứ năm, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực dạy nghề;

giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực dạy nghề Việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật là nhằm đảm bảo cho công tác dạy nghề thực hiện đúng mục tiêu, qui định đề ra, phát hiện kịp thời những sai lệch để điều chỉnh, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực

Để tăng cường kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện các qui phạm pháp luật, chế

độ, chính sách về dạy nghề cần tập trung vào một số nội dung sau: Phổ biến các quy chế, quy định, các chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác đào tạo nghề và công khai hoá cho toàn xã hội biết những quy định về công tác dạy nghề; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, hướng dẫn việc thực hiện quy định về dạy nghề; thực hiện “hậu kiểm” trong dạy nghề; xây dựng hệ thống thanh tra dạy nghề

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý trong lĩnh vực dạy nghề và khả năng áp dụng vào Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước khu vực ASEAN

Là một trong những khu vực phát triển năng động trên thế giới, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã có nhiều chính sách thiết thực trong phát triển dạy nghề

Trang 37

Chính phủ các nước ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm và đưa

ra những yêu cầu cần thiết trong việc đổi mới công nghệ và nâng cao tay nghề cho người lao động Chính phủ chia sẻ trách nhiệm với các thành phần trong xã hội, hỗ trợ nâng cao nhận thức của toàn xã hội đối với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của từng nước

* Kinh nghiệm của Thái Lan:

Thái Lan chủ trương cải cách giáo dục toàn diện, ban hành đạo luật quốc gia mới (năm 1999), trong đó Luật giáo dục nhấn mạnh đến cải cách chương trình dạy nghề, đảm bảo tính liên thông giữa giáo dục phổ thông- dạy nghề, giáo dục đại học Tỷ lệ nhập học bậc trung học phổ thông tăng từ 27% năm 1992 lên 46,8% năm 1997, trong

đó 25,3% học tại trung học phổ thông, 21,5% học tại các trường chuyên nghiệp và dạy nghề

Thái Lan áp dụng hai hình thức dạy nghề chủ yếu là dạy nghề ngắn hạn và dài hạn Dạy nghề ngắn hạn được thực hiện tại các trung tâm dạy nghề, cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp Dạy nghề dài hạn (từ 1 đến 3 năm) được thực hiện bởi các trường dạy nghề công lập và các trường lớn của doanh nghiệp

Thái Lan cũng khuyến khích sự tham gia và hợp tác của tất cả các lực lượng xã hội, cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng đầu tư cho dạy nghề; sử dụng các công nghệ mới, đặc biệt là internet trong đào tạo Các trường dạy nghề và cơ sở đào tạo kĩ năng được uỷ quyền quản lí và chịu trách nhiệm về sự phát triển của chương trình, sách giáo khoa, cơ chế thu hút, thu hồi vốn, quản lý nhân sự, cán bộ và được bổ trợ hệ thống giám sát, kiểm định của cơ quan Nhà nước về đào tạo [62, tr.52]

* Kinh nghiệm của Malaysia:

Malaysia tiến hành cải cách giáo dục vào những năm 1980, Luật giáo dục năm

1996 đã cải tiến đáng kể so với Luật giáo dục năm 1961, trong đó có quan niệm mới về

Trang 38

giáo dục và đào tạo, tập trung cải cách giáo dục về đại học, cao đẳng, dạy nghề, đặc biệt là qui định về việc cho phép các khu vực tư nhân được thành lập các cơ sở đào tạo

và được phép cấp bằng

Malaysia đã có rất nhiều nỗ lực tăng cường cung cấp lao động có kĩ năng, bằng cách tăng số lượng đầu vào của các trường dạy nghề Năm 1990, có 58 trường trung học dạy nghề với số lượng tuyển sinh là 30.940 học sinh, thì năm 1995 đã có 67 trường trung học kĩ thuật và dạy nghề với số lượng tuyển sinh là 48.800 (tăng 58% so với năm 1990), ngoài ra còn đào tạo hàng năm ở trình độ bán lành nghề cho khoảng 23.500 học sinh

Về nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề chủ yếu từ Chính phủ, các nhà đầu tư tài chính và doanh nghiệp Malaysia đã ban hành đạo luật năm 1992 quy định, các chủ

sử dụng lao động trong khu vực sản xuất chế tạo và một số lĩnh vực dịch vụ buộc phải đóng góp cho Quỹ phát triển nguồn nhân lực (HDRF) theo tỷ lệ 1% trên quỹ tiền lương Trong thời gian tới, Malaysia cũng dự kiến mở rộng phạm vi của quỹ sang các khu vực khác mà hiện chưa bao trùm hết; đồng thời Quỹ HDRF cũng sẽ hỗ trợ cho việc đào tạo công nghệ thông tin

Chiến lược đào tạo nghề của Malaysia trong thế kỉ 21 là nhằm cung cấp đầy đủ

số lượng công nhân lành nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực có trình độ của đất nước, với

10 mục tiêu cụ thể, trong đó có 5 mục tiêu đáng chú ý sau:

- Nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo;

- Tăng cường hệ thống dạy học bằng cách cung cấp giáo viên đủ trình độ và kinh nghiệm, sử dụng nhiều hơn nữa công nghệ tin học;

- Cải thiện cơ hội tiếp cận bằng cách mở rộng cơ sở vật chất và chương trình học

từ xa, đặc biệt là ở khu vực nông thôn;

- Cải thiện công tác quản lý tài chính thông qua “tự do hoá”;

Trang 39

- Khuyến khích tư nhân đầu tư hơn nữa vào lĩnh vực dạy nghề Ưu tiên được dành cho việc tăng năng lực đối với đào tạo kỹ năng, cụ thể trong các khoá học về kỹ thuật và công nghệ Sự tham dự của khu vực tư nhân trong đào tạo kỹ năng được nhấn mạnh nhằm bổ trợ và tiếp sức cho những nỗ lực của Chính phủ trong việc tăng số lượng lao động lành nghề và qua đào tạo Chính phủ khuyến khích các tổ hợp Nhà nước và tư nhân lớn mở rộng cơ sở vật chất hiện có và thành lập trường sở mới phục

vụ học tập cao hơn [38, tr.398, 401]

* Kinh nghiệm của Indonesia:

Indonesia đã tiến hành cải cách giáo dục, ban hành sắc luật 2/1989 về giáo dục Theo qui định của sắc luật, dạy nghề là 2 trong 7 loại hình giáo dục Dạy nghề cho học sinh phổ thông được thực hiện từ cuối năm phổ thông trung học (lớp 12, sau khi phân ban thành chương trình phổ thông bình thường và chương trình trung học phổ thông và dạy nghề) Sắc luật 2/1989 đã tạo cho hệ thống giáo dục và đào tạo đảm bảo tính phổ cập, toàn diện, thống nhất và hiệu quả Đào tạo nghề được thực hiện liên thông với các cấp học, liên kết với công nghiệp và kinh doanh, đáp ứng các nhu cầu kinh tế, tạo nên

hệ thống kép “liên kết và phối hợp” giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất kinh doanh trong xây dựng kế hoạch (kể cả tài chính), tổ chức đào tạo, đánh giá và chứng nhận Những cải cách này đã đem lại hiệu quả cao trong đào tạo, nâng cao kĩ năng cho người học

Nhờ đó, ở Indonesia tỷ lệ nhập học bậc trung học phổ thông tăng từ 8,58% năm

1988 lên 35,07% năm 1994, số học sinh trung học nghề tăng từ 27,8% năm 1988 lên 38,86% năm 1994

Chi tiêu cho dạy nghề chuyên nghiệp ở Indonesia chủ yếu trên cơ sở xã hội hoá cao và được phân cấp quản lý cho các cơ sở dạy nghề Kết quả số học sinh học nghề tăng lên đáng kể, chất lượng dạy nghề được nâng cao, phạm vi được mở rộng và các chương trình đã được phù hợp với nhu cầu công ăn việc làm [62, tr.53]

Trang 40

1.3.2 Kinh nghiệm của các nước Đông Bắc Á

* Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Trung Quốc là quốc gia có nhiều điểm tương đồng với nước ta, cả về đường lối phát triển kinh tế-xã hội và thể chế chính trị Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới hiện nay, Trung Quốc đang nổi lên là một trung tâm kinh tế của thế giới Những kinh nghiệm của Trung Quốc về dạy nghề là kinh nghiệm quý cho việc quản lý

và phát triển dạy nghề ở nước ta

Trước cải cách, quản lý giáo dục và đào tạo ở Trung Quốc là hệ thống quản lý tập trung Các trường và cơ sở dạy nghề đều do Nhà nước quản lý và Ngân sách Trung ương chi trả mọi chi phí Vai trò của chính quyền địa phương và các thành phần kinh tế khác rất mờ nhạt Đặc điểm nổi bật của dạy nghề trong giai đoạn này là các cơ sở dạy nghề đều thuộc sự quản lý chuyên môn của các Bộ Các Bộ đều mở ra các cơ sở đào tạo nghề, thậm chí cả các trường cao đẳng, đại học cho ngành mình, song chi phí lại lấy từ ngân sách Trung ương Đây chính là sự lãng phí và gây ra sự kém năng động của thị trường lao động sau này

Qúa trình cải tổ giáo dục và đào tạo bắt đầu bằng việc giao nhiệm vụ đào tạo cho các địa phương Các địa phương căn cứ vào nhu cầu thực tế và lấy ngân sách địa phương chi trả cho hoạt động giáo dục - đào tạo Nếu ngân sách không đủ thì có thể huy động từ các nguồn khác từ cộng đồng Tại đây có sự phân cấp rõ ràng giữa các cấp chính quyền trong giáo dục - đào tạo, trong dạy nghề do cấp tỉnh thực hiện Hình thức đào tạo theo ngành dọc của các Bộ trước đây bị xoá bỏ

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc chủ trương nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vấn đề bức xúc đặt ra là phải thay đổi kỹ năng nghề nghiệp truyền thống, cập nhật thêm các kỹ năng mới Chính phủ Trung Quốc đã nỗ lực xúc tiến tất cả các loại hình đào tạo thông qua nhiều kênh khác

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Phương Anh (2003), Hoàn thiện QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở thủ đô, Tạp chí Lao động và Xã hội số 227, tháng 11-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện QLNN trong lĩnh vực dạy nghề ở thủ đô
Tác giả: Chu Phương Anh
Năm: 2003
2. PGS. TS. Đặng Danh Ánh, (2004), Một số căn cứ lý luận và thực tiễn để đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều trong lĩnh vực dạy nghề trong Luật Giáo dục, Tạp chí Lao động và Xã hội số 233, tháng 2/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số căn cứ lý luận và thực tiễn để đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều trong lĩnh vực dạy nghề trong Luật Giáo dục
Tác giả: PGS. TS. Đặng Danh Ánh
Năm: 2004
3. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (1999), Đề án quy hoạch hệ thống các trường dạy nghề trên phạm vi toàn quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án quy hoạch hệ thống các trường dạy nghề trên phạm vi toàn quốc
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Năm: 1999
4. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (6/1/1999), Thông tƣ Liên tịch số 01/1999/LB-LĐTBXH-TCCP về tổ chức quản lý đào tạo nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tƣ Liên tịch số 01/1999/LB-LĐTBXH-TCCP về tổ chức quản lý đào tạo nghề
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
5. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (12/5/1999), Quyết định số 588/1999/QĐ- BLĐTBXH quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của thanh tra dạy nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 588/1999/QĐ-BLĐTBXH quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của thanh tra dạy nghề
6. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2004), Những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong lĩnh vực dạy nghề, Nhà Xuất bản Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong lĩnh vực dạy nghề
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà Xuất bản Lao động-Xã hội
Năm: 2004
7. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (10/7/2006), Quyết định số 05/2006/QĐ- BLĐTBXH ban hành Quy định về thủ tục thành lập và đăng ký hoạt động dạy nghề đối với trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 05/2006/QĐ- BLĐTBXH ban hành Quy định về thủ tục thành lập và đăng ký hoạt động dạy nghề đối với trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
8. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2/10/2006), Quyết định số 07 /2006/QĐ- BLĐTBXH phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
9. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (4/1/2007), Quyết định số 01/2007/Q Đ- BLĐTBXH ban hành Quy định về chương trình khung trình độ trung cấp nghề, chương trình khung trình độ cao đẳng nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 01/2007/Q Đ- BLĐTBXH ban hành Quy định về chương trình khung trình độ trung cấp nghề, chương trình khung trình độ cao đẳng nghề
10. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (4/1/2007), Quyết định số 02/2007/QĐ- BLĐTBXH ngày ban hành điều lệ trường cao đẳng nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 02/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày ban hành điều lệ trường cao đẳng nghề
11. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (4/1/2007), Quyết định số 03/2007/QĐ- BLĐTBXH ngày ban hành điều lệ trường trung cấp nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 03/2007/QĐ- BLĐTBXH ngày ban hành điều lệ trường trung cấp nghề
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
12. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (23/3/2007), Quyết định số 07 /2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành quy định sử dụng, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 07 /2007/QĐ-BLĐTBXH ban hành quy định sử dụng, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề
13. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (24/5/2007), Quyết định số 14/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành Quy chế thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp trong dạy nghề hệ chính quy, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 14/2007/QĐ-BLĐTBXH ban hành Quy chế thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp trong dạy nghề hệ chính quy
14. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (29/5/2007), Quyết định số 15/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành mẫu bằng, chứng chỉ nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 15/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành mẫu bằng, chứng chỉ nghề
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
15. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (29/5/2007), Quyết định số 16/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành tạm thời Danh mục 48 nghề đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trình độ trung cấp nghề năm 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 16/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành tạm thời Danh mục 48 nghề đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trình độ trung cấp nghề năm 2007
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
16. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (29/5/2007), Quyết định số 17/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành quy định về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập trung tâm dạy nghề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 17/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành quy định về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập trung tâm dạy nghề
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
17. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (5/2007), Tài liệu Hội nghị triển khai kế hoạch dạy nghề, việc làm và XKLĐ giai đoạn 2007-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị triển khai kế hoạch dạy nghề, việc làm và XKLĐ giai đoạn 2007-2010
18. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (30/8/2007), Thông tư số 14/2007/TT- BLĐTBXH hướng dẫn xếp hạng trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 14/2007/TT- BLĐTBXH hướng dẫn xếp hạng trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề công lập
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
19. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2007), Tài liệu Hội nghị triển khai dạy nghề trình độ cao đẳng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị triển khai dạy nghề trình độ cao đẳng
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Năm: 2007
20. Bộ luật Lao động (2002), Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động (2002)
Tác giả: Bộ luật Lao động
Nhà XB: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Vị trí của dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân - Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Vị trí của dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân (Trang 24)
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ về quản lý - Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ về quản lý (Trang 26)
Bảng 2.1: Mạng lưới các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề và các cơ sở - Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam
Bảng 2.1 Mạng lưới các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề và các cơ sở (Trang 60)
Bảng 2.2 : Quy mô dạy nghề qua các năm - Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam
Bảng 2.2 Quy mô dạy nghề qua các năm (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w