Sự cần thiết của đề tài Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bất cứ một quốc gia nào dù là phát triển hay đang phát triển cũng phải vạch cho mình một hướng đi có tính chiến lược l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN MẠNH AN
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ ĐỐI VỚI NGÀNH THÉP VIỆT NAM VÀ
MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI : 2008
Trang 2MỤC LỤC Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, SƠ ĐỒ VÀ HỘP ………
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Những khái niệm
chung
1.1.1 Khái niệm và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
hoá
1.2.1.Vị trí và vai trò của ngành thép trong nền kinh tế quốc dân
1.2.2 Đặc điểm thị trường thép thế giới những năm gần
đây
1.2.2.1.Những biến động của ngành thép
1.2.2.2.Xu hướng mới trong ngành thép thế
giới
1.2.3 Những hiệp định thương mại và các cam kết quốc tế
của Việt Nam khi hội nhập KTQT liên quan đến ngành thép
1.3 Kết luận và đánh giá
CHƯƠNG 2:NGÀNH THÉP VIỆT NAM VÀ NHỮNG TÁC
ĐỘNGCỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 Ngành thép Việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Nam
2.1.1.1.Doanh nghiệp nhà nước
2.1.1.2.Doanh nghiệp có vốn nước ngoài
Trang 32.1.1.3.Doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất nhỏ
2.1.2.3.Giá trị gia tăng của các sản phẩm thép thấp
2.1.2.4.Sự liên kết giữa lĩnh vực sản xuất, lưu
2.2.1.Khi Việt Nam hội nhập AFTA
2.2.1.1.Đặc điểm ngành thép khu vực Đông Nam Á
2.2.2.1 Ảnh hưởng của các cam kết quốc tế của Việt
Nam khi gia nhập WTO………
2.2.2.2.Tác động của việc gia nhập WTO đối với đầu tư nước
Trang 42.2.2.3 Ảnh hưởng từ thị trường thép toàn
cầu
2.2.3 Ảnh hưởng của Hiệp định thương mại hàng
hoá ASEAN – Trung Quốc tới ngành
thép
2.3.Tác động đến ngành thép nhìn từ lĩnh vực đầu tư nước
ngoài
2.3.1.Tình hình đầu tư nước ngoài trong ngành thép những
năm gần đây và xu hướng những năm
tới
2.3.2 Chiến lược đầu tư của các công ty nước ngoài
vào ngành thép Việt Nam
2.3.2.1 Chuyển giao công nghệ
2.3.2.2 Thiết lập chuỗi giá trị sản xuất của công ty………
2.3.3.Hiện tượng M & A của các tập đoàn thép trên thế giới
trong thời gian gần đây và ảnh hưởng tới ngành thép Việt
Nam
2.4 Tác động từ các chính sách của các quốc gia
2.4.1.Chính sách đối với ngành thép của Trung Quốc
NHẰM CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP VIỆT NAM
3.1.Những định hướng tổng quát cho ngành thép
Việt Nam trong những năm
Trang 53.1.1.1.Thị trường thép thế giới và xu thế phát
triển
3.1.1.2.Sự ra đời của các sản phẩm vật liệu mới
3.1.1.3.Dự báo thị trường thép của Việt Nam giai đoạn 2007-2015
3.1.2 Về quan điểm đối với phát triển ngành thép Việt Nam
3.2 Một số giải pháp khuyến nghị chính sách đối với ngành thép
3.2.1.Gải pháp về vốn đầu tư
3.2.2.Nhóm giải pháp củng cố liên kết doanh nghiệp trong ngành thép
3.2.3 Giải pháp thiết lập liên kết giữa ngành thép với các ngành khác
3.2.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện chuỗi dây chuyền khép kín cho ngành thép
3.2.5 Giải pháp xuất khẩu sản phẩm thép Việt Nam
3.2.6 Nhóm giải pháp cụ thể đối với các doanh nghiệp
3.2.6.1 Về vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ
3.2.6.2 Về thị trường
3.2.6.3 Về mô hình, cơ cấu tổ chức, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
3.2.7 Giải pháp bảo vệ môi trường
3.3 Một số gợi ý chính sách
3.3.1.Chính sách hỗ trợ đối với ngành thép
3.3.2 Các chính sách về đầu tư, tài chính
124
129
Trang 63.3.3.Chính sách phát triển khoa học công nghệ và
Trang 7Danh muc cac ký hieu viet tat
VSC Vietnam Steel
Corporation
Tổng Công ty Thép Việt Nam
VSA Vietnam Steel
Association
Hiệp hội Thép Việt Nam
CISA China Iron Steel
Association
Hiệp hội Gang Thép Trung Quốc
SEASA South East of Asia
Steel Association
Hiệp hội Thép Đông Nam Á
SEAISI South East of Asia
Iron Steel Institute
Viện Gang Thép Đông Nam Á
WTO World Trade
Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
ASEAN Association South
East of Asia Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
AFTA ASEAN Free Trade
Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
CEPT Common Effective
Preferential Tarriff and Trade
Chương trình Ưu đãi Thuế quan có Hiệu lực chung cho Khu vực Thương mại Tự
do ASEAN MFN Most Favour Nation Quy chế Tối huệ quốc
WEF World Economic
Forum
Diễn đàn Kinh tế Thế giới
ACFTA ASEAN China Free
Hiệp hội Ngành Thép Thế giới
NAFTA North American Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ
Trang 8Free Trade Area
EU European Union Liên minh Châu Âu
DRI Direct Revert Iron Sắt Hoàn nguyên Trực tiếp ERP Efficiency Reality
Trang 9Danh mục cac hình, bảng, sơ đồ và hộp
A Hình
1 Hình 1.1 và 1.2: Chỉ số EBITDA của ngành công nghiệp thép toàn cầu
2 Hình 1.3: Chi phí sản xuất cuộn cán nóng
3 Hình 1.4: Chi phí nguyên liệu
4 Hình 1.5: Chỉ số vận chuyển đường biển tầu cỡ lớn Cape và Panamax
5 Hình 1.6 và 1.7: Chi phí nhân công theo giờ ( USD )
6 Hình 1.8 và 1.9: Chi phí nhân công theo giờ (Euro)/ chi phí nhân công theo giờ (USD)
7 Hình 1.10 và 1.11: Chỉ số giờ làm/ tấn thép thô năm 2004/ chi phí nhân công/ năng suất
8 Hình 1.12 và 1.13: Sản lượng và dự trữ khí thiên nhiên, 2004/ thời hạn sử dụng nguồn dự trữ tính theo sản lượng năm 2004( năm )
9 Hình 2.1: Xuất nhập khẩu phôi thép của Trung Quốc 2002-2006
10 Hình 2.2: Lượng xuất nhập khẩu phôi thép hàng tháng của Trung Quốc từ năm 2004-2006
11 Hình 2.3: Lượng xuất khẩu phôi thép hàng tháng của Trung Quốc từ năm 2004-2006
12 Hình 2.4: Biểu đồ giá nhập khẩu các sản phẩm thép
3 Bảng 2.3: 5 nước ASEAN nhập khẩu sắt thép hàng đầu năm 2005
4 Bảng 2.4: Sản lượng thép thô của Đông Nam á năm 2005
5 Bảng 2.5: Lộ trình cắt giảm thuế bình quân của ngành thép Việt Nam trong ACFTA
6 Bảng 2.6: Những vụ M & A hàng đầu trên thế giới trong ngành thép ( 2001-
2006 )
Trang 107 Bảng 2.7: Biểu thuế xuất khẩu thép của Trung Quốc có hiệu lực từ 01/01/2008
8 Bảng 2.8: Những điểm xuất khẩu phôi thép chính của Trung Quốc năm 2006
9 Bảng 2.9: Sản phẩm thép nhập khẩu từ Trung Quốc của các nước ASEAN
10 Bảng 3.1: Tiêu thụ thép trên thế giới 2005-2007
11 Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu thép thế giới từ năm 2010 – 2015
12 Bảng 3.3: Tiêu thụ thép giai đoạn 2001- 2006
13 Bảng 3.4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ thép của Việt Nam
14 Bảng 3.5: Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam bình quân
15 Bảng 3.6: Dự báo nhu cầu sản phẩm thép các giai đoạn
C Sơ đồ
1 Sơ đồ 2.1: Đường vận động của các sản phẩm thép trên thị trường
2 Sơ đồ 3.1: Hệ thống cung ứng - phân phối các sản phẩm thép
3 Sơ đồ 3.2: Mô hình theo phân đoạn thị trường
D Hộp
1 Hộp 2.1 Trung Quốc ban hành những quy định mới về sỏp nhập và mua lại
2 Hộp 2.2: Ba cụng ty thộp hàng đầu Trung quốc và kế hoạch sỏp nhập
3 Hộp 2.3:
Trang 11Phần mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bất cứ một quốc gia nào dù là phát triển hay đang phát triển cũng phải vạch cho mình một hướng đi có tính chiến lược lâu dài, việc Việt Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu hướng tới là cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 là một minh chứng rõ nét như vậy Để đạt được mục tiêu này, nước ta đang cố gắng xây dựng được một ngành công nghiệp nặng hiện đại,
đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, trong đó ngành thép đóng vai trò rất lớn không chỉ góp phần vào xây dựng cơ sở hạ tầng mà còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác như cơ khí, đóng tầu, ôtô
Trong bối cảnh nước ta đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - mà nổi bật là nước ta đã chính thức trở thành viên của WTO trong năm 2006 - các doanh nghiệp thép của Việt Nam có cơ hội được tiếp cận, tham gia thị trường thế giới Tuy nhiên họ cũng phải đối mặt với nhiều
áp lực và thách thức bởi sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các tập đoàn nước ngoài Mặt khác những tồn tại và khó khăn của ngành thép Việt Nam khi tham gia vào quá trình hội nhập đang dần bộc lộ rõ đó là trình độ công nghệ lạc hậu, sự liên kết lỏng lẻo trong các lĩnh vực, hay như việc tìm một hướng đi hiệu quả cho các doanh nghiệp nhà nước trong ngành đã và đang cổ phần hoá,… đang thật sự là những vấn đề nan giải cho ngành thép của Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu thực tế các doanh nghiệp thép Việt Nam cần có một
mô hình, hướng đi phù hợp để có thể vừa tránh những tác động xấu vừa tận dụng những cơ hội cho mình và cả đương đầu với những thách thức trong quá
trình hội nhập Chính vì vậy việc nghiên cứu những Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành thép Việt Nam thật sự là cần thiết
và có ích
Trang 12tế chưa đầy đủ, mặt khác những giải pháp mà đề tài đưa ra cũng chỉ giới hạn trọng phạm vi của một doanh nghiệp trong ngành
2) “Nghiên cứu định hướng phát triển khoa học công nghệ ngành thép đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 ”- Đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả
do KS Phạm Chí Cường làm chủ nhiệm ( Bộ công nghiệp 2006 ) Đề tài hầu hết đề cập đến những khía cạnh về kỹ thuật của công nghệ luyện thép, chưa
đề cập đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên lĩnh vực thương mại
3) “Công nghiệp gang thép Việt Nam: Một giai đoạn phát triển và chuyển đổi chính sách mới ” - Nghiên cứu tham luận tại Diễn đàn Phát triển Việt Nam của giáo sư Kawabata Nozomu, Trường sau đại học Kinh tế và Quản lý thuộc Đại học Tohoku, thành phố Sendai, Nhật Bản Nghiên cứu đã khái quát được cơ cấu kinh doanh và sản xuất công nghiệp của ngành, nêu ra đặc trưng của các dự án đầu tư nước ngoài cũng như đề xuất những chính sách đổi mới cho ngành thép Tuy nhiên nghiên cứu chưa đưa ra những phân tích cụ thể của tác động của hội nhập kinh tế đến ngành thép, do đó việc đề xuất những chính sách không khỏi hạn chế
4) Những Báo cáo trong Dự án “ Nghiên cứu về chính sách phát triển kinh tế cho chuyển đổi kinh tế theo hướng kinh tế thị trường ở nước Cộng hoà
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” – Dự án nghiên cứu hợp tác giữa Tổ chức JICA Nhật Bản và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Các tác giả: Fukui, Aiba, Hishimoto (2001); Ohno và Kawabata (2001); Hoàng Đức Thân và các cộng
sự (2002) Cũng giống như nghiên cứu của Kawabata, những nghiên cứu này
Trang 13chỉ đề cập đến cơ cấu sản xuất của ngành cùng những chính sách bảo hộ ngành thép trong từng giai đoạn nhất định Tiến trình hội nhập kinh tế và những tác động của nó đến ngành thép thì trong các nghiên cứu này chưa chỉ
ra được
5) “ Ngành thép Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ” - Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Xuân Chiến ( Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa kinh tế, năm 2006 ) Luận văn đã có những đánh giá và phân tích cụ thể về ngành thép trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tuy nhiên hoặc là chưa đánh giá hết được những ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chưa nêu bật được những cơ hội, thách thức cũng như chưa đưa ra dự báo được những xu hướng mới của ngành thép thế giới, cũng như của ngành thép Việt Nam đang và sẽ diễn ra Có thể là do trong những năm gần đây, tình hình nền kinh tế thế giới nói chung và ngành thép nói riêng đang có những diễn biến khó lường Những biến động liên tục cùng với những nhân tố mới nảy sinh, khiến cho những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế càng khó dự báo Mặt khác, vì vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế ở cấp độ ngành rất
có tính thời sự, nên một số bất cập mới nảy sinh trong ngành thép như quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, sự bảo hộ ngành thép, mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp, cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu phân tích, đánh giá các tác động cụ thể đối với ngành thép khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt là các nhân tố mới nảy sinh của tiến trình hội nhập sẽ tác động tới từng lĩnh vực cụ thể như thị trường, cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm, môi trường, lao động của ngành thép ra sao khi Việt Nam gia nhập WTO, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách Vì vậy, luận văn này sẽ phải giải quyết các vấn đề thực tiễn được đặt ra như sau:
+ Tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngành thép Việt Nam đang còn những tồn tại gì ?
Trang 14+ Những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành thép Việt Nam ra sao ?
+ Một số giải pháp, khuyến nghị để định hướng cho sự phát triển của
ngành thép Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu:
+ Những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ( khi Việt Nam tham gia AFTA, WTO ) đến từng lĩnh vực cụ thể của ngành thép, cơ hội và thách thức đối với ngành thép Việt Nam
+ Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị chính sách đối với sự phát triển của ngành
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu trong luận văn này tập trung chủ yếu các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế của nhà nước, tư nhân và có vốn nước ngoài trong ngành thép Việt Nam cũng như các lĩnh vực trong ngành thép từ sản xuất, thương mại hay đầu tư nước ngoài,
- Thời gian nghiên cứu: Đánh giá đặc điểm, tình hình đã qua được
nghiên cứu đến trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến nay Phân tích những tác động của hội nhập kinh tế, cũng như việc đánh giá triển vọng, dự báo xu hướng và đưa ra giải pháp, khuyến nghị chính sách trong giai đoạn từ năm
2007 đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đây là luận văn nghiên cứu tổng quan cần thiết để có thể đưa ra những khuyến nghị, giải pháp cho ba cấp độ từ chính sách của nhà nước, chiến lược tổng thể của ngành thép Việt Nam đến những giải pháp của doanh nghiệp Để thực hiện luận văn này tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu kinh tế tuỳ thuộc từng nội dung, như là:
Trang 15+ Phương pháp phân tích thống kê theo chuỗi thời gian, dựa trên các số liệu được trích dẫn từ các tài liệu của các cơ quan trong nước như Tổng công
ty thép Việt Nam, Hiệp hội thép, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp, Tổng cục thống kê, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công thương, nên
có độ tin cậy cao Cùng các số liệu về ngành thép thế giới từ các tạp chí chuyên ngành nước ngoài, mạng internet, để đánh giá thực trạng và các tác động của quá trình hội nhập hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành thép Việt Nam hiện nay
+ Phương pháp phân tích so sánh được áp dụng đối chiếu với những trường hợp hoặc quốc gia có những điều kiện và tiêu chí tương đồng Từ đó
có thể tìm ra những ưu điểm và hạn chế, thấy rõ được những cơ hội và thách thức của ngành thép trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đưa ra những đánh giá chung, rút ra những kết luận của việc nghiên cứu Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp cho sự phát triển của ngành thép nói riêng, trong tổng thể của nền kinh tế Việt Nam nói chung cùng xu thế phát triển của ngành thép thế giới
6 Những đóng góp mới của luận văn
Tham gia vào quá trình hội nhập hội nhập kinh tế quốc tế là chúng ta phải chấp nhận những thử thách cam go, nhưng bên cạnh đó cũng có những cơ hội phát triển cho ngành thép Việt Nam Được dự báo là một trong những ngành
sẽ gặp nhiều khó khăn nhất khi gia nhập WTO, ngành thép Việt Nam đang cần những chiến lược, hướng đi mới để có thể đương đầu với những thử thách cũng như nắm bắt những cơ hội của mình
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu hiện nay, luận văn có thể sẽ có thêm những đóng góp như sau:
+ Phân tích, đánh giá các tác động đối với ngành thép trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, những tác động đối với ngành thép hiện tại và
Trang 16trong tương lai, qua đó thấy được những cơ hội và thách thức đối với ngành thép
+ Đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển ngành thép, nhu cầu tiêu thụ thép
+ Đưa ra những giải pháp, khuyến nghị chính sách tổng thể đối với sự phát triển của ngành thép Việt Nam
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến ngành thép
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương 2: Ngành thép Việt Nam và những tác động của hội nhập kinh
tế quốc tế
Chương3: Một số khuyến nghị chính sách nhằm củng cố phát triển
ngành thép Việt Nam
Trang 17Chương 1
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến ngành thép Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
1.1 Những khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình trong đó hai hay nhiều chính phủ ký với nhau các hiệp định để tạo nên khuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp
và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các nước Mức độ hội nhập tuy có khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm thuận lợi hoá và tự do hoá hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi nước, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn và
nâng cao mức sống của người dân
Các cấp độ của hội nhập kinh tế quốc tế
Có thể chia hội nhập ra làm 5 cấp độ từ thấp đến cao như sau:
1 Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Là một hiệp định thương mại tự do đa
phương giữa các nước trong nội khối với mục đích thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan cũng như hài hoà hoá thủ tục hải quan giữa các nước Như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp hội mậu dịch tự
do Châu Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do Trung Âu (CEFTA)
2 Liên minh thuế quan (Customs Union): Là hình thức mà trong đó, các
thành viên ngoài việc hoàn tất loại bỏ thuế quan và các hạn chế về số lượng trong thương mại nội khối cũng phải cùng nhau thực hiện một chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối Như Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC), Liên minh thuế quan Trung Phi (UDEAC), Cộng đồng phát triển Nam Phi (SADC)
3 Thị trường chung (Common Market): Đây là mô hình liên minh thuế
quan cộng thêm việc bãi bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển các yếu tố sản xuất khác như vốn, lao động Như vậy, trong một thị trường chung, các yếu tố như hàng hoá, dịch vụ, vốn, kỹ thuật, công nghệ, nhân công…đều được
Trang 18tự do lưu chuyển giữa các nước thành viên Như là Cộng đồng kinh tế châu
Âu (trước đây), Thị trường chung Trung Mỹ ( MERCOSUR ), Thị trường chung các nước vùng Caribê (CARICOM)
4 Liên minh kinh tế: Đây là mô hình dựa trên cơ sở mô hình thị trường
chung cộng thêm việc phối hợp với các chính sách kinh tế giữa các nước thành viên như:
+ Ấn định một tỷ giá hối đoái cố định trong một thời gian dài giữa các nước thành viên trong liên minh với nhau
+ Lập ra một cơ quan duy nhất có trách nhiệm quản lý tiền tệ chung
Ví dụ Liên minh châu Âu ( EU )
5 Liên minh toàn diện: Các thành viên thống nhất về chính trị và các lĩnh
vực kinh tế bao gồm tài chính, tiền tệ thuế và các chính sách xã hội Như vậy,
ở giai đoạn này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực trên được chuyển giao cho một cơ chế cộng đồng Hiện nay trên thế giới mới chỉ có EU đang tiến hành xây dựng liên minh kinh tế toàn diện trên
Đặc trƣng của hội nhập kinh tế quốc tế
- Là sự phát triển cao của phân công lao động quốc tế
- Là sự phối hợp mang tính chất liên quốc gia
- Hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và song phương được xem như một giải pháp trung hoà giữa hai xu hướng đối lập nhau trên thị trường thế giới: tự
do hoá mậu dịch và bảo hộ mậu dịch
Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
Việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến quốc gia đó bởi lẽ:
- Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là trình độ cao của quan hệ hợp tác kinh
tế quốc tế ở nhiều mức độ từ nông đến sâu, từ một vài lĩnh vực đến nhiều lĩnh vực, từ một vài nước đến nhiều nước Do đó, khi đó mở cửa hội nhập thì phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc chung, phải thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của
Trang 19mọi thành viên, phải điều chỉnh chính sách của mình cho phù hợp với luật chơi
chung
- Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng toàn cầu cho nên nó ảnh
hưởng, tác động đến mọi quốc gia cho dù quốc gia đó chưa tham gia vào quá trình này Kinh tế là nền tảng của mỗi quốc gia, do đó, một khi nó đã tác động đến kinh tế thì thường tác động đến chính trị, văn hoá, xã hội…
- Thứ ba, về chính sách mở cửa, tự do hoá thương mại, đầu tư, hội nhập
kinh tế quốc tế cũng đòi hỏi mỗi nước phải mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự
do hoá thương mại và đầu tư với xung quanh
- Thứ tư, do hội nhập mang tính toàn cầu nên đó xuất hiện xu hướng hội nhập
khu vực và cũng được thực hiện theo các nguyên tắc như tự do hoá và hội nhập toàn cầu
- Thứ năm, hội nhập đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành cải cách, đổi mới
kinh tế trong nước Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay tạo nhiều sức
ép buộc các nước phải tiến hành mở cửa, tự do hoá để hội nhập mạnh hơn, nhanh hơn Đồng thời, hội nhập cũng làm cho sức cạnh tranh mạnh hơn, gay gắt hơn ảnh hưởng không nhỏ đến nền sản xuất hàng hoá, dịch vụ, đặc biệt là của các nước đang phát triển
- Thứ sáu, hội nhập kinh tế quốc tế tác động mạnh đến các lĩnh vực liên
quan như dịch vụ, thương mại, bản quyền, sở hữu trí tuệ, môi trường, sức khoẻ, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia thành viên
Với những đặc điểm trên, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ ảnh hưởng cả mặt tích cực lẫn tiêu cực đến mỗi quốc gia thành viên, cụ thể:
Ảnh hưởng tích cực
Tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của mỗi quốc gia nhờ mở rộng các thị trường ngoài nước Đồng thời làm cho mỗi quốc gia có khả năng tiếp cận các nguồn hàng, dịch vụ đa dạng, phong phú với giá cạnh tranh của các
Trang 20nước khác nhau trên thế giới, đặc biệt là máy móc, trang thiết bị kỹ thuật cao cấp và các yếu tố đầu vào Điều này có nghĩa là thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân
Tăng khả năng hấp thu vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ tiên tiến nhờ việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh như một hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước đầu
tư ra nước ngoài
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư của mối nước theo hướng chuyên môn hóa sản xuất, giúp khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi nước, thúc đẩy giao lưu trao đổi khoa học, kinh nghiệm quản lý, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp mỗi quốc gia Đây là cơ sở cho sự thúc đẩy các quan hệ kinh tế song phương và đa phương phát triển lâu dài và vững chắc
Thúc đẩy quá trình đổi mới và hoàn thiện các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia, tạo khả năng thuận lợi cho việc xích lại gần nhau về trình
độ phát triển, cơ cấu tổ chức, hệ thống luật pháp, năng lực quản lý … Từ
đó góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các nước, cải thiện khả năng bảo đảm an ninh quốc phòng ở mỗi quốc gia
Dỡ bỏ dần các rào cản về thuế quan, phi thuế quan giữa các thành viên, tạo nên khuôn khổ kinh tế và pháp lý phù hợp với tiến trình tự do hoá đa phương, góp phần phát triển hệ thống thương mại đa phương cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Ảnh hưởng tiêu cực
Mở cửa đồng nghĩa với việc cạnh tranh gay gắt giữa hàng hoá và doanh nghiệp của mỗi quốc gia, dẫn đến những nguy cơ phá sản trong những ngành kinh tế và doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp Từ
đó có nguy cơ gây xáo trộn về công ăn việc làm cho người lao động, gây bất
ổn cho an ninh, chính trị, xã hội
Trang 21Xoá bỏ hàng rào thuế quan sẽ mất đi nguồn thu cho ngân sách nhà nước Điều này ảnh hưởng đặc biệt đến các nước đang phát triển với nguồn thu ngân sách chủ yếu là thuế Tiến hành cải cách và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trước áp lực hội nhập đòi hỏi phải có nguồn tài lực và vật lực rất lớn, không dễ gì cho một nước có thể đáp ứng được đặc biệt là các nước đang phát triển
Sự khác biệt về trình độ các nước thành viên tạo nguy cơ phụ thuộc của các nước đang phát triển vào các trung tâm kinh tế lớn, dẫn đến giảm khả năng độc lập trong việc hoạch định chính sách, an ninh quốc gia
Các giá trị về đạo đức, văn hoá, truyền thống dễ bị xói mòn, cám dỗ từ bên ngoài, làm lan toả một số hành động xấu, mang tính độc hại như: khủng
bố, mại dâm, bệnh dịch, tội phạm xuyên quốc gia…
Trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế song phương và khu vực cũng có thể làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các khối kinh tế, mậu dịch với nhau, giữa các nước trong khối và ngoài khối, dẫn đến việc thị trường thế giới bị chia cắt và ngăn cản quá trình tự do hoá đa phương, làm chậm tiến trình toàn cầu hoá
1.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế, bắt nguồn từ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đơn thuần giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục đích mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối với trao đổi thương mại
Đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề đặt ra không phải là có hội nhập hay không mà là làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, đảm bảo được lợi ích dân tộc, nâng cao được sự cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện
Trang 22thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong quá trình hội nhập Báo cáo Chính trị Đại hội IX của Đảng, nhất là Nghị quyết 07- NQTW ngày 27/ 11/ 2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh quan điểm: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
Đây là một chủ trương lớn trong chính sách đối ngoại, hội nhập của Đảng
và Nhà nước ta Theo quan điểm này, hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế là một quá trình mà trọng tâm là chủ động mở cửa kinh
tế, tham gia phân công hợp tác quốc tế tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước và nước ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp trong quan hệ kinh tế quốc tế
Hội nhập giúp cho việc mở rộng cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có điều kiện thuận lợi
để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển kinh tế trong nước Việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và hàng hoá là một trong những nội dung quan trọng nhất để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010
Trong thời gian qua, nền kinh tế ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng như: tăng trưởng GDP ở nhịp độ cao, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp Tỉ lệ huy động vốn cho đầu tư phát triển có xu hướng tăng, các nguồn lực trong xã hội được huy động tốt hơn, đặc biệt trong khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tiến bộ, năng lực sản xuất của nhiều ngành tăng lên Tuy nhiên, hiệu quả sức cạnh tranh kinh tế nước ta vẫn còn
Trang 23một số tồn tại:
- Xét về các chỉ số cạnh tranh của nền kinh tế, Việt Nam xếp thứ 48/53 nước được xem xét năm 1999; 53/ 59 nước năm 2000; 60/ 75 nước năm 2001; 65/ 80 năm 2002 nước tham gia xếp hạng Năm 2004 giảm 17 bậc so với năm
2003, năm 2005 giảm tiếp 4 bậc so với năm 2004, năm 2006 xếp thứ 64/ 122 quốc gia, năm 2007 Việt Nam ở vị trí thứ 68 nhưng trên tổng số 131 nước
được xếp hạng ( Nguồn: Báo cáo thường niên về khả năng cạnh tranh toàn cầu của các quốc gia được đánh giá bởi Diễn đàn Kinh tế thế giới – WEF; công bố ngày 31/ 10 hàng năm )
- Sức cạnh tranh và năng lực quản lý doanh nghiệp còn yếu, thiếu sự chuẩn
bị để ứng phó hiệu quả với quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu rộng
- Xét tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất lượng, mạng lưới
tổ chức tiêu thụ và uy tín doanh nghiệp thì sức cạnh tranh của hàng Việt Nam cũng thấp hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới
- Những lợi thế về nguồn lao động rẻ đang mất dần, vấp phải sự cạnh tranh của các nước trong khu vực nhất là Trung Quốc, việc phát triển các mặt hàng mới đang gặp khó khăn về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực và thị trường tiêu thụ
- Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế chưa tương xứng với mức tăng đầu tư,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa phát huy được các lợi thế so sánh cạnh tranh của ngành, sản phẩm Khu vực dịch vụ tuy được đầu tư khá song
tỷ trọng tăng chậm trong cơ cấu GDP, hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất vừa thiếu, vừa yếu và kém hiệu quả Cơ cấu lao động chuyển dịch rất chậm không tương xứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là trong khu vực nông nghiệp, nông thôn
- Mặc dù việc phát huy các nguồn nội lực cho đầu tư phát triển có nhiều tiến bộ, vốn trong nước chiếm trên 70 %, nhưng lại xảy ra tình trạng giảm sút của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mấy năm qua
- Hoạt động tài chính – tiền tệ tuy có tiến bộ nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro,
Trang 24lãi suất tiền đồng quá cao so với lãi suất USD và rất cao so với khả năng sinh lời của nền kinh tế, làm tăng chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Vốn huy động của hệ thống ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn, nhưng lại được sử dụng một tỷ lệ khá để cho vay trung
và dài hạn Do vậy, các ngân hàng chịu sức ép bất lợi về lợi nhuận và làm giảm khả năng đề phòng rủi ro.
Nhìn chung, sự chuẩn bị để ứng phó với những cách thức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta còn chậm, thiếu một chiến lược tổng thể hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia, dẫn đến sự lúng túng trong xây dựng chiến lược của từng bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp Một số chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế đưa vào cuộc sống chậm, môi trường kinh doanh còn chưa bình đẳng, chính sách còn thiếu đồng
bộ, nhất quán, khó thực hiện
1.2 Ngành thép thế giới thời kỳ toàn cầu hoá
1.2.1 Vị trí và vai trò của ngành thép trong nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, mặc dù loài người đã nghiên cứu và sản xuất được rất nhiều loại vật liệu với tính năng rất đa dạng, nhưng sắt thép vẫn giữ vai trò hàng đầu trong các ngành công nghiệp cũng như đời sống hàng ngày
Ngành thép bắt đầu phát triển từ năm 1856 khi H Bessemer phát minh ra
lò chuyển luyện thép ( converter ) Chỉ sau đó ít lâu, năm 1865 W Siemens phát minh ra lò luyện thép ( open hearth ) ở Anh và P Marten ở Pháp Đến năm 1900 thì lò điện hồ quang ( electric arc furnace ) ra đời để nấu luyện các loại thép chất lượng cao Từ đó đến nay ngành thép phát triển không ngừng, nhất là trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 Sau những trầm lặng ở giai đoạn 1970 -1990, giai đoạn 1990 đến nay là giai đoạn rất sôi động, đặc biệt là ở các nước châu Á ( như Hàn Quốc, Trung Quốc, ấn Độ, Đài Loan ) Trong giai đoạn 2004 - 2007 sản lượng thép thế giới luôn đạt trên 1 tỷ tấn
Công nghệ sản xuất thép
Thép là một sản phẩm công nghiệp có tính đặc thù, khác với những ngành
Trang 25công nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân, đó là: Thép là sản phẩm công
nghiệp trong một chuỗi dây chuyền sản xuất mà sản phẩm của một khâu sản xuất ( trừ phôi thép ) có thể vừa mang tính tiêu dùng nhưng đồng thời có thể là nguyên liệu cho khâu sản xuất tiếp theo
Để sản xuất thép người ta dùng nguyên liệu là gang ( gang được sản xuất bằng nguồn quặng sắt ) và sắt thép phế Từ những năm 1970, nhiều công nghệ luyện kim phi cốc đã được nghiên cứu và đưa vào sản xuất nhằm tránh được
sự thiếu hụt than cốc cũng như tận dụng nguồn tài nguyên khí thiên nhiên ở một số nước trên thế giới Ngành luyện kim phi cốc ( công nghệ Midrex, Hyl,
Lò quay, Corex ) năm 2005 đã cung cấp 64 triệu tấn sắt xốp cho luyện thép Trong khoảng vài chục năm tới công nghệ lò cao vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu cho luyện thép Từ những năm 1970 để giải quyết vấn đề khan hiếm than cốc và tận dụng nguồn tài nguyên khí thiên nhiên, người ta đã nghiên cứu và đưa vào nhiều công nghệ luyện kim phi cốc Sản phẩm của các công nghệ này là sắt xốp, gang lỏng hay sắt cacbit Đến nay có khoảng 30 công nghệ được nghiên cứu, tuy vậy chỉ có các công nghệ Midrex, Hyl, Lò quay, Corex, Finnet là được đưa vào sản xuất
ở mức độ công nghiệp
Hàng năm thế giới tạo ra một nguồn sắt thép phế tương đối lớn, đây là loại nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp thép bởi lẽ số lượng sắt thép phế chiếm tới 35 – 40% nguyên liệu cho luyện thép, mặt khác nguồn tài nguyên quan trọng đối với công nghiệp luyện thép là quặng đang dần cạn kiệt Việc sử dụng sắt thép phế còn giúp cho công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn tiết kiệm quặng sắt, là nguồn tài nguyên không tái tạo được
Hiện nay trên thế giới, thép được sản xuất theo ba công nghệ chính :
+ Công nghệ lò Mactanh/ Lò bằng (Open hearth)
Công nghệ luyện thép lò bằng trước đây là công nghệ luyện thép chủ yếu trên thế giới Ưu thế của công nghệ này là có thể sử dụng đồng thời gang thỏi, gang lỏng hay thép phế theo bất kỳ tỷ lệ nào, có bổ sung quặng sắt Nguyên
Trang 26liệu chủ yếu là dùng dầu FO Tuy nhiên do thời gian luyện lâu, hiệu quả kinh
tế thấp, nên lò bằng trên thế giới mấy chục năm gần đây đã được thay bằng lò điện và lò chuyển Hiện nay trên thế giới chỉ còn một số nước thuộc Liên Xô
cũ ( Nga, Ucraina ) sử dụng loại công nghệ này, tuy nhiên hiện tại người
ta
không xây dựng mới thêm lò bằng nữa
+ Công nghệ lò chuyển Bessmer và Thomas
Henry Bessmer phát minh ra phương pháp lò chuyển luyện thép từ gang lỏng S và P thấp vào năm 1856 Công nghệ lò chuyển là công nghệ luyện thép chính ở châu Âu và đạt đỉnh cao những năm 1960 do có phương pháp thổi oxy từ đỉnh
+ Công nghệ lò điện hồ quang
Lò điện hồ quang được sử dụng từ những năm 1900 để sản xuất các loại thép hợp kim Đây là loại công nghệ tiết kiệm năng lượng khi vận hành Trong những năm gần đây trên thế giới ( nhất là ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc) đã sử dụng 30 – 50% gang lỏng trong lò điện Đã có nhiều cải tiến như lò điện siêu công suất, lò điện hồ quang một chiều, lò điện kiểu Fuchs, Dnarc, Conarc làm cho lò điện hồ quang càng ngày các chỉ tiêu kinh
tế kỹ thuật càng cao, dẫn tới chi phí xây dựng rất tốn kém Chính điều này đang tạo ra một đặc điểm cho ngành thép thế giới hiện đại đó là ngành sử dụng vốn rất lớn
Mặc dù ngành thép đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình công nghiệp hoá của các nước và được coi là một ngành công nghiệp thâm dụng vốn lớn, tuy nhiên vị trí của ngành thép trong nền kinh tế quốc dân lại tương đối khiêm tốn Tỷ trọng đóng góp vào GDP của ngành thép tại các nước đang phát triển chỉ xấp xỉ 3,4%, trong khi tại các nước công nghiệp phát triển tỷ lệ
đó thấp hơn, chỉ khoảng 2,5%
1.2.2 Đặc điểm thị trường thép thế giới những năm gần đây
1.2.2.1 Những biến động của ngành thép
Trang 27Trong những năm gần đây thế giới được chứng kiến sự biến động không ngừng của ngành thép trên toàn thế giới mà trong đó chủ yếu là gia tăng giá
cả cùng với xu hướng tăng giá của các ngành nguyên liệu khác Nguyên nhân
là do tài nguyên dần cạn kiệt, chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao, cùng với
đó là sự điều chỉnh chính sách vĩ mô của một số quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới Bên cạnh đó còn có nguyên nhân là do các tập đoàn thép lớn trên thế giới có sự thay đổi chiến lược kinh doanh, dẫn tới sự tái cấu trúc lại thị trường
Sự bùng nổ về tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng sản lượng thép thế giới năm 2006 đạt gần 9% cao hơn năm 2005, nhưng thấp hơn năm 2004 là 10% Năm 2004 cũng là năm đầu tiên sản lượng thép vượt mức 1 tỷ tấn Theo bản báo cáo thường niên của Viện gang thép quốc tế IISI – T 11/ 2007, sản lượng thép năm 2006 cao hơn tổng sản lượng thép 10 năm trước và bằng 46% tổng sản lượng 5 năm gần đây Trong nhóm top 10 về tốc độ tăng trưởng sản lượng thép thế giới có Trung Quốc, và ấn Độ Sản lượng thép của Trung Quốc tăng 18,5% đạt 419 triệu tấn, thấp hơn mức tăng vọt 25% của năm 2005 Trung Quốc hiện đang sản xuất 1/ 3 thép thế giới Sản lượng thép ấn Độ tăng tốc độ chậm hơn khoảng 7,6%, đạt 44 triệu tấn Mức tăng này thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng nóng đạt được vào năm 2005 là 24,5%
(Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp – Bộ công thương)
Sản lượng thép trên thế giới tăng cao liên tục trong các năm qua do các tập đoàn lớn không ngừng đầu tư, mở rộng thị trường cùng với sự bùng nổ sản xuất của các ngành công nghiệp tiêu thụ thép nhiều như đóng tầu, xây dựng, cơ khí, ôtô ở một số quốc gia như Trung quốc, Nga, ấn Độ, hay một
số khu vực như Trung Đông, Đông Nam Á, Nam Mỹ Thêm một yếu tố tác động đến ngành thép thế giới là sản lượng thép của các nước sản xuất thép lớn khác cũng tăng trưởng đều, trong khi Nhật, Mỹ và Đức giảm sản lượng thép,
lý do là việc giảm sản lượng này nhằm ngăn chặn tình trạng giá thép sụt giảm
1.2.2.2 Xu hướng mới trong ngành thép thế giới
Trang 28Ngành công nghiệp thép đang phải đối mặt với giá nguyên liệu, năng lượng và chi phí vận chuyển tăng cao chưa từng có trong vài năm gần đây Do
đó, chi phí luyện thép tăng trên toàn thế giới Tuy nhiên ảnh hưởng không giống nhau với từng công ty sản xuất thép, đến lợi ích của các công ty thép có nguồn nguyên liệu và năng lượng giá rẻ Sự khác biệt trong sự cạnh tranh chi phí giữa các vùng ngày càng trở nên rõ rệt Sau nhiều thập kỷ có kết quả tài chính nghèo nàn, ngành công nghiệp thép đã đạt được sự cải thiện về cơ cấu trong hoạt động tài chính Như trong Hình 1.1, đến năm 2005 là năm thứ 5
liên tục ngành thép có mức lợi nhuận tăng, và là năm thứ 3 đạt kỷ lục về lợi nhuận thu được Thậm chí trong quí 3 năm 2005, sau khi giá bán thép thành phẩm giảm mạnh, doanh thu của 67 công ty thép hàng đầu thế giới đã tăng gấp đôi so với quí 2 năm 2000 ( Hình 1.2 )
Nguyên liệu
Nguyên liệu là yếu tố khác biệt chi phí chính trong ngành công nghiệp
thép Từ Hình 1.4 có thể thấy chi phí nguyên liệu/ tấn cuộn cán nóng đã
tăng gấp đôi tại nhiều nước trên thế giới giai đoạn 2002 – 2005 Giá quặng
sắt tăng thêm 8,5% năm 2003, 17,4% năm 2004 và 71,5% năm 2005 Thậm
chí sang năm 2007 và 2008 giá quặng sắt còn được dự báo sẽ tăng thêm 60 – 70% Giá hợp đồng hàng năm than luyện cốc tăng 119% năm 2005, giá giao ngay bình quân than cốc đã tăng gần 3 lần từ năm 2002
Hình 1.1 và 1.2 Chỉ số EBITDA (*) của ngành công nghiệp thép toàn cầu (tỉ usd)
Trang 29
Nguồn: Tạp chí Steel Millenium 12/ 2006
Hình 1.3 Chi phí sản xuất cuộn cán nóng (dựa trên chi phí bình quân của các
công ty sản xuất cuộn cán nóng tại từng quốc gia/vùng )
Nam Phi ấn Độ Braxin Nga
Hình 1.4 Chi phí nguyên liệu (dựa trên chi phí bình quân của các công ty sản xuất
cuộn cán nóng tại từng quốc gia/ vùng )
Nguyờn liệu thụ Nhõn cụng Năng lượng Khỏc
Trang 30Tây Âu Nhật Bắc Mỹ Trung
Quốc
ấn Độ Braxin Nam Phi Nga
Nguồn: Tạp chí Steel Millenium 12/ 2006
Tuy nhiên, chi phí nguyên liệu tăng không chỉ do giá thị trường tăng mà
còn do chi phí vận chuyển tăng ( Hình 1.5 ) Bình quân, giá thuê với tầu kích
thước Cape – loại tầu chuyên dụng được sử dụng để vận chuyển quặng sắt -
tăng 3,5 lần giai đoạn 2002–2006 Không chỉ giá vận chuyển đường biển bình
quân tăng mà còn dao động quá nhiều, gây khó khăn và mất ổn định với
ngành thép Trong lần tăng cao nhất gần đây, chi phí vận chuyển tăng lên 60
USD/ tấn và được cộng vào chi phí thép thô của các nhà máy nhập khẩu
nguyên liệu từ nước ngoài Điều này tác động đến lợi thế chi phí của các
công
ty tại Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và một số vùng tại Trung Quốc
Chi phí nguyên liệu và vận chuyển tăng có hai tác động đến sự cạnh tranh
về chi phí của các công ty thép: Thứ nhất, đã làm tăng sự chênh lệch về chi
phí giữa các nhà máy có nguồn nguyên liệu của riêng mình, các nhà máy mua
các nguồn nguyên liệu trong nước và các nhà máy phải nhập khẩu nguyên
liệu từ nước ngoài; thứ hai, tỷ trọng của chúng tăng lên đã làm giảm tầm quan
trọng của sự chênh lệch trong các yếu tố cấu thành chi phí luyện thép
Chủ yếu việc tăng giá là do sự mất cân bằng cung cầu nguyên liệu toàn
cầu và vận chuyển - xuất hiện lần đầu vào năm 2001 Đây là kết quả của sự
phát triển kinh tế mạnh chưa từng có của Trung Quốc và tình trạng thiếu hụt
Trang 31nghiêm trọng nguyên liệu sản xuất và năng lực vận chuyển, không chỉ về tàu
mà còn về đường sắt, bốc dỡ và các thiết bị dự trữ
Hình 1.5 Chỉ số vận chuyển đường biển tàu cỡ lớn Cape và Panamax (*)
Nguồn: Tạp chí Steel Millenium 12/ 2006
Sản lượng thép của Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng và các dự án tăng công suất sản xuất nguyên liệu dự kiến đi vào vận hành giai đoạn 2007 -
2008, giá nguyên liệu và chi phí vận chuyển đã tăng rất cao trong hai năm
2006 - 2007 Về dài hạn, rất khó đánh giá về khả năng giá quặng sắt và than luyện cốc quay trở lại mức như trước kia Về nguyên tắc, có đủ nguồn nguyên liệu trên thế giới đáp ứng nhu cầu cho nhiều năm thậm chí khi tiêu thụ tiếp tục tăng trưởng Tuy nhiên một phần của việc tăng giá là có tính chất cơ cấu, bởi vì sản lượng quặng sắt và than thêm vào được khai thác với chi phí bình quân cao hơn, từ nhiều mỏ có vị trí xa hơn, dẫn đến chi phí vận chuyển tăng, và từ các mỏ quặng sắt chất lượng thấp, đòi hỏi chi phí tuyển cao hơn
Nhân công
Mặc dù chi phí nhân công chiếm một phần nhỏ trong chi phí luyện thép
so với nguyên liệu nhưng giá nhân công thay đổi nhiều theo khu vực chứ không phải theo giá quặng sắt, than và thép phế Trong tất cả các quốc gia có ngành thép phát triển, ấn Độ, Ukraina, Trung Quốc và Nga có mức lương thấp nhất Trong năm 2006, chi phí nhân công theo giờ (trong sản xuất) lên đến 1 USD/tấn tại ấn Độ và Ukraina, 1,1 USD/tấn tại Trung Quốc và 1,6 USD/tấn
(*) Hai loại tầu chuyờn dụng dựng để vận chuyển quặng sắt
Trang 32tại Nga Trong khi đó chi phí nhân công tại các nước đã phát triển như Mỹ và
Nhật Bản ở 22 USD/giờ, 33 USD/ giờ ở Cộng hoà Liên bang Đức
Vì nền kinh tế của Trung Quốc, ấn Độ và Nga đang tăng trưởng nhanh
cho nên vấn đề chính đặt ra là: đến bao giờ mức lương theo kịp mức lương tại
các nước đã phát triển? Theo dự báo của EIU, chi phí nhân công tại 3 nước
trên sẽ tăng gấp 2 lần trong 5 năm tới ( Hình 1.6 ) Tuy nhiên trong Hình 1.7,
sự chênh lệch về lương tại những nước đã phát triển lớn đến nỗi mà thậm
chí khi lương tăng gấp đôi trong tương lai gần thì chi phí nhân công theo giờ
tại Trung Quốc, ấn Độ và Nga sẽ chỉ rất nhỏ so với những nước đã phát triển
Trong khi lương tại Đức, Mỹ và Nhật Bản tăng chậm hơn về mặt tương đối
thì lương/giờ lại tăng nhanh hơn vì họ xuất phát điểm cao hơn
Hình 1.6 và 1.7 Chi phí nhân công theo giờ ( USD )
Hình 1.8 Chi phí nhân công Hình 1.9 Chi phí nhân công
theo giờ (euro) theo giờ (usd)
Trang 33ới Nguồn: Tạp chí Steel Millenium 12/ 2006
Trên thực tế, cần phải mất hàng thập kỷ để chi phí nhân công tại các nước
đang phát triển theo kịp với chi phí tại các nước đã phát triển Có thể thấy
trong Hình 1.8, chi phí nhân công bằng đồng euro/ giờ tại Đức so với Tây
Ban Nha và Ireland - hai quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhanh kể từ khi gia
nhập EU năm 2004 Trong năm 2004, sau 18 năm là thành viên của EU, chi
phí nhân công theo giờ tại ngành thép Tây Ban Nha chỉ bằng 48% so với Đức
Ngoài ra chi phí nhân công theo giờ, sự chênh lệch giữa hai quốc gia đã thực
sự gia tăng trong 10 năm qua Xu hướng tương tự có thể thấy tại Châu Á
( Hình 1.9 ), khi chi phí nhân công của Hàn Quốc chỉ chiếm 45% của Nhật
Bản, mặc dù nền kinh tế tại Nhật Bản trì trệ trong nhiều năm và sự phát triển
dài hạn ổn định tại Hàn Quốc Mức lương thấp sẽ là một lợi thế cạnh tranh đối
với các công ty thép tại các nước đang phát triển trong nhiều thập kỷ tới Hai
trong số các quốc gia luyện thép chính của thế giới, Trung Quốc và ấn Độ, có
lợi thế thêm trong sở hữu nguồn nhân lực to lớn trong nông nghiệp Đô thị
hoá tiếp tục tại hai nước trên thì lượng người từ nông thôn lên thành thị kiếm
việc làm sẽ tăng, cung cấp thêm nguồn lao động cho thị trường trong nhiều
năm – tác động lớn đến sự tăng lương Tuy nhiên có một bất lợi, phần lớn các
nhà máy tại các quốc gia có lương thấp sẽ có năng suất lao động thấp hơn
nhiều so với các nhà máy có lương cao ( xem Hình 1.10) Điều này giải thích
lý do tại sao sự chênh lệch chi phí nhân công/ tấn thép giữa các nền kinh tế
lương cao và thấp lại thấp hơn nhiều so với sự chênh lệch về mức lương Để
duy trì tính cạnh tranh, các nhà máy thép với lương thấp cần đảm bảo năng
suất lao động theo kịp vsự phát triển của chi phí nhân công Ngoài ra các nhà
máy tại các nước lương thấp có cơ hội đẩy mạnh sự cạnh tranh toàn cầu bằng
cách cải thiện năng suất chứ không phải tăng chi phí nhân công
Hình 1.10 và 1.11Chỉ số giờ làm/tấn thép thô năm 2004/chi phí nhân công/năng
suất
Trang 34(Nguồn: Tạp chí Steel Millenium 12/ 2006)
Hình 1.11 cho thấy sự phát triển của năng suất lao động của các nhà
máy thép chính tại ấn Độ và Nga từ năm 1998 Mặc dù năng suất lao động tại
ấn Độ vẫn thấp nhưng các nhà máy thép ấn Độ vẫn có nhiều tiến bộ trong vài năm gần đây và năng suất lao động đã tăng gấp đôi kể từ năm 1998 Ngành thép của Nga đã tăng năng suất lao động thêm 39% kể từ năm 1998 nhưng chi phí nhân công bằng đồng USD tăng gấp đôi
Posco là công ty có lợi từ việc lương thấp (so với các nước đã phát triển) và năng suất lao động rất cao Posco là một trong những công ty có chi phí nhân công trên 1 tấn thép thấp nhất trên thế giới và đây là một trong những nhân tố đưa Posco trở thành công ty có lãi nhất trên thế giới với chỉ số EBITDA đạt 7,4 tỷ USD năm 2005
Năng lƣợng
So với nguyên liệu và nhân công, năng lượng có tác động vừa phải đến
sự cạnh tranh của các nhà máy thép Tuy nhiên giai đoạn năng lượng giá rẻ đã kết thúc Ngoại trừ năng lượng phát sinh từ than cốc và than, tiêu thụ năng lượng của ngành thép chủ yếu gồm khí thiên nhiên và điện Không giống như quặng sắt và than, dự trữ khí thiên nhiên đang giảm mạnh: từ năm 1980, dự trữ toàn cầu đã giảm 26% Trong khi đó, tiêu thụ khí tiếp tục tăng với tốc độ nhanh chưa từng có, đặc biệt tại Trung Quốc và ấn Độ Ba trong số bốn khu vực tiêu thụ nhiều khí nhất, Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á, có dự trữ thấp Sản lượng hiện tại ở 3 vùng này chỉ đủ cho 1 hoặc 2 thế hệ nữa ( Xem Hình 1.12 và 1.13) Tình hình nghiêm trọng nhất tại Bắc Mỹ - sản lượng chỉ
Sản lượng thộp tấm Ấn Độ Chi phớ nhõn cụng theo giờ Sản lượng thộp tấm của Nga Chi phớ nhõn cụng theo giờ
Trang 35đủ phục vụ 19 năm (sản lượng năm 2004) Tình hình thiếu hụt ngày càng tăng cũng xuất hiện tại các ngành công nghiệp sử dụng nhiều khí tại Mỹ và Mexico Những ngành công nghiệp này không chỉ cạnh tranh nguồn khí ngày càng khan hiếm với nhau mà còn cạnh tranh với các công ty sản xuất điện, người dân và những công ty sản xuất Dưới áp lực giá khí đốt cao, một số nhà máy sản xuất sắt hoàn nguyên trực tiếp DRI dùng khí của Mỹ đã ngừng vận hành và gần đây đã di dời đến những khu vực có nhiều khí hơn như Trinidad
& Tobago và Trung Đông Tại Mexico, Công ty Mittal Steel Lazaro Cardenas
và Ternium Hylsa thường xuyên phải ngừng sản xuất DRI khi giá khí đốt tăng quá cao
Hình 1.12 và 1.13 Sản lƣợng và dự trữ khí thiên nhiên, 2004/ thời hạn sử dụng nguồn dự trữ tính theo sản lƣợng năm 2004 (năm)
(Nguồn: Tạp chí Steel Millenium 12/ 2006)
Phần lớn các nhà máy thép bên ngoài Nga và Trung Đông sẽ phải phụ thuộc ngày càng nhiều vào các nguồn thay thế khác khí nhập khẩu – thường
là đắt hơn Nguồn cung cấp khí thiên nhiên thế giới bị chi phối bởi Nga và
Iran – nắm 50% tổng dự trữ khí toàn cầu ( Xem Hình 1.12) Trong khi thị
trường dầu có tính toàn cầu thì thị trường khí có tính chất khu vực Vận chuyển thế giới qui mô lớn bị hạn chế ở đường ống dẫn – cần đầu tư lớn và có thể bị tác động khi gián đoạn Thị trường khí hoá lỏng LPG vẫn còn đang trong giai đoạn đầu và thậm chí nếu được mở rộng trong tương lai thì chi phí
Sản lượng hàng năm (tỷ m 3 )
Dự trữ (tỷ m 3 )
Trang 36vẫn gia tăng đáng kể Khí nhập khẩu sẽ vẫn đắt hơn nhiều so với khí trong nước Ngoài ra giá sẽ còn tăng nữa vì Nga và Iran sẽ chắc chắn tối đa hoá khả năng thương lượng về chính trị và kinh tế như là nước cung cấp khí chủ yếu Về dài hạn, hai nước này có thể hạn chế xuất khẩu để bảo tồn nguồn cung khí cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều khí trong nước và tối đa hóa giá trị trong biên giới của mình
Kết quả ngày càng trở nên đáng ghi nhận trong bối cảnh chi phí tăng mạnh trong vài năm gần đây Từ năm 2003 các công ty thép đã phải chấp nhận mức giá tăng 2 – 3 con số đối với hầu hết nguyên liệu đầu vào như quặng sắt, than luyện cốc, than cốc, thép phế và năng lượng, do đó chi phí sản xuất thép tăng lên Chi phí sản xuất cuộn cán nóng toàn cầu đã tăng từ mức
dự tính 175 – 250 USD/ tấn năm 2002 lên 300 – 350 USD/ tấn năm 2005
mình Ví dụ: Công ty Severstal, NLMK và Evrazholding tại Nga; CSN tại
Braxin; Sail và Tisco tại ấn Độ, US Steel tại Mỹ và một số nhà máy của Mittal Steel tại nhiều nước trên thế giới Các nhà máy khác tại các nước không có các mỏ riêng của mình thì ít nhất là cũng có lợi ích vì không phải đóng thuế xuất khẩu và chịu chi phí vận chuyển đuờng biển
Giá nguyên liệu đầu vào luyện thép tăng cao chưa từng có cũng đã có tác động lớn đến sự cạnh tranh chi phí của các nhà máy thép tại nhiều quốc gia và
Trang 37khu vực Hình 1.3 thể hiện chi phí sản xuất cuộn cán nóng bình quân năm
2005 Các công ty sản xuất thép tại Tây Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ đều không
có lợi thế trong chi phí nguyên liệu, nhân lực và năng lượng Các công ty thép với chi phí thấp nhất trên thế giới là các công ty của Nga, với chi phí sản xuất cuộn cán nóng dự tính là 300 USD/tấn
Những diễn biến nêu trên sẽ có một số tác động đến ngành thép
- Các nhà máy thép tại các quốc gia có nguồn năng lượng phong phú sẽ có lợi thế ngày càng tăng so với các nhà máy ở các quốc gia khác Trong khi đó lợi thế có thể hạn chế đối với các nhà máy thép liên hợp, lợi thế sẽ có ý nghĩa hơn với các nhà máy sản xuất sắt hoàn nguyên trực tiếp ( DRI ) và các công
Ngoài việc giảm sự phụ thuộc vào năng lượng bên ngoài, các nhà máy nên tìm cách quản lý thị trường năng lượng Một cách để làm được việc này
là thiết lập việc mua chung với các công ty tại các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng như nhôm và hoá để tăng khả năng thương lượng với các công ty cung cấp năng lượng Tại Pháp, các công ty tiêu thụ năng lượng công nghiệp lớn hợp tác chặt chẽ với nhau – cho phép họ đảm bảo các hợp đồng
Trang 38Tiếp theo kinh nghiệm của Pháp, Corus tại Hà Lan - đã thiết lập một côngxoocxiom với 8 công ty tiêu thụ năng lượng lớn khác của Hà Lan với
mục tiêu đảm bảo thuế năng lượng tốt hơn
Sự chênh lệch giữa các công ty sản xuất chi phí cao và thấp của ngành thép đã tăng kể từ 2002 vì chi phí luyện thép tăng đã gây tác động khác nhau đến các công ty thép ở nhiều nước trên thế giới Những nhà máy có lợi thế là những nhà máy tại các nước đang phát triển như Nga, Braxin và ấn Độ Sự cân bằng cung cầu nguyên liệu toàn cầu đã được thắt chặt trong giai đoạn ngắn và trung hạn Tuy nhiên về dài hạn, giá nguyên liệu và vận chuyển sẽ giảm từ mức cao hiện nay và lợi thế cạnh tranh của các nhà máy có nguồn nguyên liệu trong nước sẽ giảm Để duy trì tính cạnh tranh chi phí hiện tại, các công ty thép tại các nước đang phát triển sẽ phải cải thiện sự hiệu quả chi phí năng lượng và nhân công Lương thấp sẽ vẫn là lợi thế cạnh tranh đối với các nhà máy tại những nước lương thấp trong nhiều thập kỷ, mặc dù lợi thế này thường xuyên được tận dụng do năng suất lao động thấp
Việc mở rộng công suất qui mô lớn theo kế hoạch tại Trung Quốc và ấn
Độ trong vài năm tới là một cơ hội tốt đối với cỏc nhà mỏy tại những nước này để tăng năng suất trong khi tối thiểu hoỏ những hậu quả xó hội Năng lượng trở thành nhõn tố quan trọng đối với ngành thộp, mặc dự cũng giống như lương thấp, lợi thế khụng được tận dụng hết bởi cỏc nhà mỏy với nguồn cung rẻ Cỏc nhà mỏy tại cỏc nước đang phỏt triển sẽ phải tăng thờm đầu tư vào nghiờn cứu và triển khai, chất lượng sản phẩm, hỗ trợ khỏch hàng và việc chuyển hàng Những tiờu chớ này đặc biệt quan trọng trong việc củng cố và toàn cầu hoỏ ngành thộp và sự tham gia ngày càng tăng của cỏc nhà mỏy thộp trờn khắp thế giới
1.2.3 Những hiệp định thương mại và cỏc cam kết quốc tế của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế liờn quan đến ngành thộp
Trang 39 Hiệp định thương mại Việt Mỹ bắt đầu cú hiệu lực vào năm 2002: Phần Phụ lục B1 về hạn chế số lượng nhập khẩu sản phẩm cụng nghiệp trong
đú cú sản phẩm thộp
Hiệp định thương mại hàng hoỏ ASEAN – Trung Quốc ( ACFTA ): Kốm theo hiệp định là Danh mục hàng hoỏ và thuế suất thuế nhập khẩu ASEAN – Trung Quốc Trong đú cỏc chương liờn quan đến ngành thộp
là Chương 26: Quặng, xỉ và tro; Chương 27: Nhiờn liệu khoỏng trong
đú cú than dựng cho ngành thộp; Chương 72: Gang và thộp; Chương 73: cỏc sản phẩm sắt hoặc thộp (Sẽ được phõn tớch kỹ ở mục 2.2.3 )
Hiệp định Chương trỡnh thuế quan ưu đói cú hiệu lực chung ( CEPT ) cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA )
Lịch trỡnh cắt giảm thuế quan đối với cỏc sản phẩm thộp theo CEPT
Năm 1996 là năm đầu tiờn Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế theo chương
trỡnh CEPT bằng nghị định 91 CP ngày 18/ 12/ 1995 của Chớnh phủ, 875 mặt hàng đó được đưa vào Danh mục mặt hàng tham gia CEPT của Việt Nam Thực chất cỏc mặt hàng này cú mức thuế bằng 0 – 5% Trong danh mục này cú trờn 50 mặt hàng là cỏc loại gang và cỏc sản phẩm thộp như gang thỏi, phụi thộp, thộp lỏ cỏn núng, thộp tấm, thộp lỏ cỏn nguội, thộp lỏ trỏng thiếc, thộp khụng gỉ, thộp hợp kim, thộp ray và phụ kiện ray, ống thộp hàn đường kớnh
trờn 406,4mm, ống thộp khụng hàn
Một nguyờn tắc của hiệp định CEPT là thuế đó cụng bố rồi thỡ khụng được tăng lờn mà chỉ được giảm đi Nếu muốn chuyển đổi theo chiều ngược lại, hoặc muốn tăng mức thuế đó cụng bố thỡ chỳng ta phải đàm phỏn, thương lượng với tất cả cỏc nước ASEAN khỏc và phải được họ chấp nhận
Thỏng 10/ 2000 Bộ tài chớnh đó cụng bố lịch trỡnh cắt giảm thuế quan tổng thể của Việt Nam thực hiện theo CEPT/ AFTA cho giai đoạn 2001 đến năm 2006
Cỏc cam kết gia nhập WTO
Trang 40Trong số cỏc cam kết của Việt nam gia nhập WTO thỡ Biểu cam kết về thương mại hàng hoỏ ( bao gồm cam kết về thuế nhập khẩu đối với hàng phi nụng sản, hạn ngạch thuế quan ) là cú liờn quan đến ngành thộp Trong đú cú quy định cụ thể đối với cỏc mặt hàng sắt thộp cỏc loại, tại thời điểm gia nhập WTO của Việt Nam thỡ mức thuế suất cam kết cao nhất là 40% và thấp nhất
là 0% Mức thuế trờn sẽ được giảm thấp nhất là 0% và cao nhất là 30%, tuỳ theo thời hạn thực hiện Tuy nhiờn theo lộ trỡnh đến sớm nhất là năm 2009 và muộn nhất là năm 2014 thỡ Việt Nam mới phải ỏp dụng
+ Cam kết đa phương
Việt Nam đồng ý tuõn thủ toàn bộ cỏc hiệp định và cỏc quy định mang tớnh ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập Tuy nhiờn, do là nước đang phỏt triển ở trỡnh độ thấp, lại đang trong quỏ trỡnh chuyển đổi nờn Việt Nam
đó yờu cầu và WTO đó chấp thuận hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết cú liờn quan đến thuế tiờu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nụng
nghiệp, quyền kinh doanh.v v
Trong cỏc cam kết chớnh thức thỡ cú mục Trợ cấp phi nụng nghiệp là ta đồng ý bói bỏ hoàn toàn cỏc loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hoỏ Tuy nhiờn với cỏc ưu đói đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đó cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quỏ độ là 5 năm trở ( trừ ngành dệt may ) Như vậy thộp đối với sản phẩm thộp cũng nằm trong thời gian quỏ độ 5 năm được phộp hưởng sự bảo trợ, một khoảng thời gian được cho là vừa đủ để cỏc doanh nghiệp cú thời gian chuẩn bị hội nhập WTO Tuy nhiờn chớnh sỏch của nhà nước ta đang chứng tỏ việc xoỏ bỏ dần việc bảo hộ ngành thộp, nhằm đỏp ứng những cam kết WTO Mặt khỏc xoỏ bỏ bảo hộ cũng làm cho cỏc doanh nghiệp thộp buộc phải nõng cao năng lực cạnh tranh của chớnh mỡnh, cú như thế doanh nghiệp mới phỏt triển đi lờn được
+ Cam kết về thuế nhập khẩu