Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong đó quan trọng nhất là đổi mới tư duy kinh tế, cùng với tác động của quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách
Trang 1-o0o -
Hà nội - 2008
Trang 2-o0o -
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
Hà nội - 2008
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu 4
Chương 1: Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - Những vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế 10
1.1 Nhận thức chung về quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 10
1.1.1 Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 10
1.1.2 Nội dung quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 12
1.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam 20
1.2.1 Kinh nghiệm 20
1.2.2 Bài học cho Việt Nam 27
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 30
2.1 Hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay 30
2.1.1 Đóng góp 30
2.1.2 Hạn chế 40
2.1.3 Nguyên nhân của hạn chế 45
2.2 Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 47
Trang 42.2.1 Quá trình xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật quản lý nhà nước
đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 47
2.2.1.1 Ban hành luật đầu tư 47
2.2.1.2 Chính sách, pháp luật về thuế 49
2.2.1.3 Chính sách đất đai 51
2.2.1.4 Chính sách lao động, tiền lương 53
2.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài 55
2.2.2.1 Hoạt động xúc tiến đầu tư 55
2.2.2.2 Hoạt động cấp giấy chứng nhận đầu tư và giấy đăng ký kinh doanh 58 2.2.2.3 Hoạt động phân cấp quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài 59
2.2.2.4 Hoạt động quản lý sau cấp phép 61
2.3 Đánh giá tổng quan hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 70
2.3.1 Những mặt đạt được 70
2.3.2 Những hạn chế 73
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 76
3.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mới 76
3.2 Giải pháp 79
3.2.1 Hoàn thiện chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của đất nước 79
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách 81
3.2.3 Tăng cường hoạt động quản lý trước và sau cấp phép 83
Trang 53.2.4 Tăng cường hoạt động phân cấp đầu tư 84
3.2.5 Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư 85
3.2.6 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính 86
3.2.7 Đào tạo nguồn nhân lực 87
Kết luận 90
Danh mục tài liệu tham khảo 92
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia đã làm hình thành trong mỗi nền kinh tế một khu vực mới - khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Đóng góp của khu vực kinh tế này đối với
sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của mỗi nước là không thể phủ nhận, đặc biệt, đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì sự di chuyển vào của luồng vốn này có ý nghĩa vô cùng to lớn Thực tiễn đã chứng minh, trong quá trình mở cửa nền kinh tế, quốc gia nào thu hút được nhiều luồng vốn quốc
tế và sử dụng chúng có hiệu quả thì cơ hội tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ nhiều hơn, đồng thời, khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển sẽ được rút ngắn nhanh hơn Vì lý do đó mà hiện nay, tất cả các nước đang phát triển đều muốn thu hút ngày càng nhiều hơn luồng vốn nước ngoài và dẫn đến cạnh tranh rất gay gắt
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong đó quan trọng nhất là đổi mới tư duy kinh tế, cùng với tác động của quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, năm 1988, khi luật đầu tư nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam được ban hành thì kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã chính thức trở thành một trong những thành phần kinh tế cơ bản trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nước ta
Sau 20 năm tồn tại và phát triển, đến nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có một chỗ đứng rất vững chắc Khu vực kinh tế này đã có những đóng góp rất quan trọng vào đầu tư phát triển toàn xã hội, vào tăng trưởng GDP và ngân sách nhà nước, cho kim ngạch xuất khẩu và tổng giá trị sản phẩm công nghiệp, góp
Trang 7phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, cho nâng cao trình độ công nghệ quản lý, góp phần đào tạo, nâng cao tay nghề, tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động
Tuy nhiên, hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế này còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó
Hệ thống chính sách, văn bản, pháp luật hướng dẫn, thực thi luật chưa rõ ràng, đồng bộ, chưa tạo lập được môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO thì vấn đề quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế này cần được củng cố tăng cường hơn nữa Một mặt, tạo ra môi trường thông thoáng, lành mạnh cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp để chúng ta có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác, để phát huy mặt tích cực của khu vực kinh tế này, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, hạn chế mặt tiêu cực có thể ảnh hưởng đến xã hội, văn hóa và nền kinh tế của Việt Nam Do vậy, hoạt động “Quản
lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” được chọn làm đề tài luận văn của tôi
2 Tình hình nghiên cứu
Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là vấn đề kinh tế vĩ mô có tác động lớn tới phát triển kinh tế xã hội của đất nước, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, các kết quả có tác động nhất định đối với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước như:
Trang 8- Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, PGS,TS Nguyễn Khắc Thân – GS,TS Chu Văn Cấp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tạo việc làm cho người lao động, Bùi Anh Tuấn, NXB Thống kê, Hà Nội, 2000
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam hiện nay, PGS.TS Trần Quang Lâm – TS An Như Hải, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc CNH, HĐH ở Việt Nam, TS Nguyễn Trọng Xuân, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, PGS.TS Trần Xuân Tùng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005
- Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam, PGS.TS
Đỗ Đức Bình, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005
- Trần Văn Nam, Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và giải pháp, Trần Văn Nam, NXB Khoa học -
Kỹ thuật, Hà Nội, 2005
Ngoài ra còn rất nhiều bài báo nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, việc nghiên cứu chủ yếu chỉ tập trung vào việc làm thế nào để tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài? Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp này ra sao? Nó tham gia đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội như thế nào,… mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động quản lý Nhà nước đối với thu hút, sử dụng nó Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO), những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cần có sự đổi mới để một mặt,
Trang 9khai thác tối đa tính tích cực của nó, mặt khác, giảm thiểu những tiêu cực để hội nhập kinh tế quốc tế thành công, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội Do vậy, nghiên cứu hoạt động Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vẫn là vấn đề hết sức cần thiết
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc và thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, đề tài tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới
- Phân tích thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam những năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (không xét ODA)
Trang 10- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vấn đề lớn, bao gồm tổng thể các
cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm điều chỉnh tất cả các mặt của hoạt động đầu tư nước ngoài Do vậy, đề tài sẽ chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tầm vĩ mô: Vì sao cần tăng cường quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài? Nhà nước quản lý doanh nghiệp FDI như thế nào? Khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, hoạt động quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần có những thay đổi gì để vừa phù hợp với cam kết quốc tế về đầu tư, vừa tạo lập môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài?
Từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh
6 Đóng góp của luận văn
- Tìm hiểu kinh nghiệm của Trung Quốc về hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - Những vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 12Chương 1: Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài - Những vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế
1.1 Nhận thức chung về quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.1 Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, Đảng ta luôn xác định Việt Nam phải phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, còn vốn nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng, đặc biệt nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được coi là nguồn vốn thích hợp, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Việc thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn FDI mang lại nhiều lợi ích to lớn: Nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Do đó, các giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI
có ý nghĩa to lớn, một mặt phát huy tối đa nội lực của các doanh nghiệp này vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước, mặt khác tạo đà cho sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh
tế
Doanh nghiệp có vốn FDI là đối tượng quản lý của Nhà nước Mối quan
hệ biện chứng giữa Nhà nước và các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp
có vốn FDI nói riêng là chặt chẽ và hết sức quan trọng Sự quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng quyết định tới hoạt động của các doanh nghiệp trong một quốc gia và ngược lại, hoạt động của các doanh nghiệp lại quyết định tới sức mạnh của Nhà nước và có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề kinh tế, xã hội của
Trang 13đất nước Do đó, thực hiện quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn FDI là vấn đề hết sức cần thiết đối với mọi quốc gia
Mục tiêu của Việt Nam là đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Để thực hiện được mục tiêu đó, trong điều kiện nguồn vốn ODA trên thế giới đang có xu hướng giảm xuống thì việc thu hút nguồn vồn FDI là tất yếu Trong những năm gần đây, luồng vốn FDI vào Việt Nam liên tục tăng, tuy nhiên, con số đó vẫn chưa phản ánh hết tiềm năng thu hút vốn nước ngoài của chúng ta, mặt khác, tỷ lệ vốn giải ngân so với vốn đăng ký còn rất thấp Điều này đặt ra những vấn đề bức bách đối với chính phủ Việt Nam, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần nghiên cứu tìm ra các giải pháp phù hợp để tiếp tục tăng cường thu hút vốn FDI vào nước ta trong thời gian tới Theo quan sát của giới chuyên môn, trong những năm qua, khoảng 70 - 75% dòng vốn FDI trên thế giới chủ yếu di chuyển trong nội bộ các nước phát triển, chỉ có khoảng 25 - 30% lượng vốn di chuyển đến các nước đang phát triển và chậm phát triển Hiện tượng này cho thấy lợi thế về tài nguyên thiên nhiên dồi dào và lao động rẻ của các nước đang phát triển và chậm phát triển đang dần không còn là yếu tố quan trọng trong thu hút các nhà đầu tư nước ngoài nữa Trong điều kiện nền kinh tế tri thức, họ quan tâm nhiều hơn đến nguồn lao động có chất lượng cao, môi trường đầu tư thuận lợi cả về pháp luật và kết cấu hạ tầng, đủ để đáp ứng cho sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất
Ngoài ra, sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở Châu Á xuất hiện một nguy cơ lớn, đó là các nước cũng đang rất cần vốn để khôi phục và phát triển nền kinh
tế, trong khi nguồn vốn trong nước hạn hẹp, họ tăng cường các biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài bằng các chính sách thu hút rất hấp dẫn song song với việc cải thiện môi trường đầu tư trong nước Do đó, để thu hút nhiều hơn
Trang 14nữa nguồn vốn từ bên ngoài, việc nâng cao năng lực và trình độ quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam là đòi hỏi bức thiết
Bên cạnh những mặt tích cực, việc mở cửa cho dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam không phải không có những mặt tiêu cực Khi luồng vốn FDI vào trong nước không được kiểm soát chặt chẽ, nó có thể làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên, tới môi trường sinh thái của đất nước do việc khai thác và
sử dụng bừa bãi, quá mức Về mặt xã hội, nó có thể làm ảnh hưởng tới thuần phong, mỹ tục, tới truyền thống tốt đẹp của dân tộc và con người Việt Nam… Còn một nguy cơ rất lớn là nó làm tăng sự lệ thuộc của Việt Nam với bên ngoài, làm ảnh hưởng tới việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của đất nước
Những vấn đề bất lợi đó, đòi hỏi Nhà nước cần có sự quản lý chặt chẽ để giảm thiểu mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút ngày càng nhiều hơn luồng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia
1.1.2 Nội dung quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI là việc Nhà nước tạo lập môi trường kinh doanh ổn định, các điều kiện cần thiết, tạo ra khung khổ chính sách, pháp luật phù hợp thông qua bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương quản lý hoạt động của doanh nghiệp từ khi thành lập đến khi doanh nghiệp rút khỏi thị trường Hoạt động quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI bao gồm những nội dung sau:
Trang 15- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về đầu tư phát triển
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nhưng vì mục tiêu lợi nhuận, họ sẽ chỉ đầu tư vào những nơi có thể đem lại cho họ nhiều lợi nhuận nhất Bắt nguồn từ lý do đó thì chỉ những ngành, những lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn nhanh, những vùng có điều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi mới thu hút được sự đầu tư của họ Tuy nhiên, điều đó rất dễ dẫn đến tình trạng mất cân đối trong sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, để các doanh nghiệp có vốn FDI phát triển cân đối trong phạm vi cả nước, giữa các vùng kinh tế, giữa các ngành kinh tế, việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch phát triển doanh nghiệp FDI đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lý Nhà nước
Khi xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch cần đảm bảo thoả mãn các yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng của đất nước, đồng thời phải công khai cho các nhà đầu tư biết về những lĩnh vực, ngành nghề khuyến khích, không khuyến khích hay cấm đầu tư, và những ưu tiên của nhà nước là gì, thứ tự ra sao, những hình thức sản xuất kinh doanh nào được cho phép thành lập và hoạt động, yêu cầu đối với chủ thể sản xuất kinh doanh trong từng hình thức đó ra sao?
Khi đề ra chiến lược phải dựa trên cơ sở lợi ích của cả hai bên: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nước sở tại Yêu cầu doanh nghiệp phải hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, nhưng không có nghĩa là bắt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoàn toàn làm theo ý muốn của nước tiếp nhận đầu tư, phải khéo léo làm cho vùng giao thoa lợi ích giữa các bên là lớn nhất có thể
Trang 16Tuy nhiên, cũng không vì tăng cường thu hút FDI bằng mọi giá để buộc quy hoạch chạy theo doanh nghiệp, chúng ta cần dựa vào lợi ích lâu dài của mỗi địa phương và của cả đất nước Quy hoạch cần rõ ràng, cụ thể và đảm bảo để các nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, trừ những lĩnh vực cấm Kế hoạch, quy hoạch phải đồng bộ, cụ thể và
có tính khả thi cao Phải luôn chú ý tới sức hấp dẫn của chính sách, quy hoạch, kế hoạch đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư
Doanh nghiệp có vốn FDI có quyền tự chủ rất lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy, sự tác động của quản lý Nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp này, một mặt, phải tôn trọng các quy luật của thị trường, mặt khác, phải đảm bảo mục tiêu chung về phát triển kinh tế xã hội của đất nước
và tính tự chủ của doanh nghiệp Vì vậy, công cụ hữu hiệu nhất của nhà nước trong việc quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chính là hệ thống chính sách, pháp luật
Hệ thống pháp luật và chính sách phải nhất quán, đồng bộ, minh bạch, rõ ràng, tạo điều kiện cho tất cả các loại hình doanh nghiệp trong và ngoài nước
tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật để đạt được hiệu quả cao nhất Chính sách, pháp luật phải được đưa ra trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia, nhưng phải phù hợp với những nguyên tắc và thông lệ quốc
tế, đặc biệt phải phù hợp với những quy định của WTO Những chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư cần được cân nhắc kỹ, xem xét dài hạn, tránh ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế
Cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp FDI bao gồm:
Trang 17+ Chính sách tài chính, chính sách đất đai, chính sách tiền tệ, chính sách thuế, chính sách khoa học công nghệ, chính sách ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, chính sách lao động tiền lương, chính sách về môi trường,…
+ Những quy định về các hình thức tổ chức doanh nghiệp, việc chia, tách, sát nhập, hợp nhất và chuyển đổi doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh, các ngành doanh nghiệp FDI được phép hoặc không được phép kinh doanh, trình tự, thủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp
+ Quy định về giải quyết tranh chấp, vướng mắc trong hoạt động của doanh nghiệp, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp về thực thi pháp luật,…
- Quản lý hoạt động cấp phép và các hoạt động khác của doanh nghiệp + Hoạt động cấp phép và rút giấy phép:
Để được cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nước tiếp nhận đầu tư về các vấn đề: phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, phù hợp với quy hoạch, chiến lược phát triển của từng ngành, từng vùng, từng địa phương và bên cạnh lợi ích đem lại cho chủ đầu tư thì phải thể hiện được lợi ích có thể đạt được cho sự phát triển kinh tế,
xã hội của nước tiếp nhận đầu tư
Theo quy định của luật đầu tư năm 2005, những dự án liên quan đến an ninh quốc phòng hoặc có quy mô lớn, đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân, những lĩnh vực đầu tư có điều kiện sẽ do
cơ quan quản lý cao nhất của Nhà nước quyết định, những dự án ngoài những điều kiện trên sẽ phân cấp dần cho các cơ quan quản lý Nhà nước cấp thấp hơn
Trang 18Thực hiện phân cấp cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép đăng ký kinh doanh theo chủ trương của nhà nước quy định tại Luật đầu tư năm 2005, UBND cấp tỉnh hoặc ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế sẽ là cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư cho hầu hết các dự án Đối với dự án đầu tư nước ngoài không nằm trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì cơ quan tiếp nhận hồ
sơ là sở kế hoạch đầu tư cấp tỉnh Đối với dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ là ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ dự án và sẽ yêu cầu bổ sung nếu thấy cần thiết Trong trường hợp cần thiết, họ sẽ gửi hồ sơ xin tham khảo ý kiến của cơ quan cấp trên (bộ quản lý ngành, bộ kế hoạch đầu tư, UBND tỉnh) về các vấn đề thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của các cơ quan đó Khi đã có ý kiến chỉ đạo thống nhất của các cơ quan liên quan, cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ tiến hành xem xét việc cấp giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư
Xuất phát từ quan điểm đổi mới nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng gia nhập thị trường và thực hiện các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thủ tục đăng ký kinh doanh được gắn với thủ tục đăng ký đầu tư Theo
đó, giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Cũng theo luật doanh nghiệp năm 2005, cơ quan nhà nước cũng có thể điều chỉnh nội dung trong giấy phép đầu tư với những dự án đã được cấp giấy phép, nhưng trong quá trình triển khai có những điều chỉnh vốn, thay đổi đối tác, và có sự thay đổi về chính sách ưu đãi,…
Trang 19Trong các trường hợp doanh nghiệp giải thể trước thời hạn, cơ quan nhà nước sẽ đưa ra các quyết định về việc chấm dứt hoạt động và thu hồi giấy phép đầu tư
+ Hoạt động chuyển giao công nghệ:
Trong các liên doanh, nhà nước có những quy định về tỷ lệ góp vốn của các bên tham gia Thông thường nhà nước khuyến khích phía Việt Nam góp phần vốn lớn trong liên doanh và có những quy định chặt chẽ về kiểm soát giá
cả máy móc, thiết bị để tránh tình trạng phía nước ngoài nâng giá lên cao hơn giá thị trường gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam và nhà nước Mặt khác, nhà nước cũng có những quy định về quản lý quá trình chuyển giao công nghệ, nhập máy móc thiết bị của những doanh nghiệp có vốn FDI để tránh trường hợp các doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam và làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Tuy nhiên, do trình độ của lao động Việt Nam có hạn, nếu sử dụng công nghệ hiện đại sẽ đẩy người lao động đến chỗ thất nghiệp
Do vậy, nhà nước cần có những quy định trong việc lựa chọn công nghệ và có thể phải hy sinh một số mục tiêu kinh tế, xã hội
+ Hoạt động tạo điều kiện cạnh tranh và kiểm soát độc quyền:
Nhà nước cũng cần phải có quy chế để giảm thiểu tình trạng các doanh nghiệp FDI liên kết với nhau thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế
+ Quản lý về vấn đề lao động tiền lương trong các doanh nghiệp FDI Nhà nước ban hành quy chế đảm bảo cho thị trường lao động Việt Nam hoạt động có hiệu quả và đúng luật để đảm bảo cho sự cạnh tranh bình đẳng
Trang 20giữa các loại hình doanh nghiệp trên thị trường này và cũng là để đảm bảo quyền lợi cho người lao động
Ban hành những quy định bắt buộc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chấp hành nghiêm chỉnh những chính sách, chế độ tuyển dụng lao động, thời gian nghỉ ngơi, thời gian thử việc, an toàn lao động, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, chế độ nâng lương và các quyền lợi chính đáng khác của người lao động
- Thanh tra, kiểm tra và giám sát các hoạt động đầu tư
Trong các nội dung của hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát là một hoạt động không thể thiếu, bởi vì trong tất cả các hoạt động của con người, chưa có lĩnh vực nào mà việc thực thi các quy định, pháp luật của nhà nước lại được thực hiện nghiêm túc một cách hoàn toàn chủ động Mục đích của việc kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp là nhằm hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhà nước, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện pháp luật của doanh nghiệp
để có những biện pháp điều chỉnh, ngăn chặn những sai phạm của doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp chấp hành đúng pháp luật, đồng thời có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp một cách hợp lý Qua việc thanh tra, thẩm tra, giám sát của mình, nhà nước có thể nắm bắt được những thông tin phản hồi từ phía doanh nghiệp Trên cơ sở đó, nhà nước có thể đánh giá mức
độ hiệu quả và hợp lý của hệ thống cơ chế, chính sách đã ban hành Cần phải hiểu thanh tra, kiểm tra, giám sát là hoạt động cần thiết, thường xuyên, liên tục của các cơ quan quản lý nhà nước, nhưng phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp
Trang 21Như vậy, mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của nhà nước, một mặt để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, mặt khác, nhằm tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong hoạt động của mình
- Tổ chức hoạt động đào tạo nguồn lực
Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Châu Á thu hút luồng vốn đầu tư nước ngoài bằng lợi thế về tài nguyên và giá nhân công rẻ Tuy nhiên, ngày nay, khi nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức thì lợi thế nhân công rẻ sẽ không còn là yếu tố chính hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài nữa Nguồn lực có trình độ, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức và nhân cách sẽ trở thành nhân tố quyết định chính đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng cũng như sự tăng trưởng, phát triển của mỗi quốc gia Hiện nay, nguồn nhân lực của chúng ta còn yếu về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ ngoại ngữ và sự am hiểu về pháp luật lao động, pháp luật đầu tư nước ngoài của chính đất nước mình cũng còn rất hạn chế Đây là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Chính vì vậy, hoạt động đào tạo nguồn lực cũng là một nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài
- Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư
Hoạt động xúc tiến đầu tư là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thu hút FDI của mỗi quốc gia Hoạt động này thường được thực hiện thông qua các phương pháp:
+ Tham gia các cuộc hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế về đầu tư nước ngoài
Trang 22+ Tổ chức các hoạt động quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh quốc gia trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông qua các cuộc hội thảo, triển lãm trong và ngoài nước
+ Cung cấp các thông tin về cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư + Cung cấp các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ đầu tư
+ Tháo gỡ những khó khăn, thúc đẩy những dự án đang hoạt động hoạt động hiệu quả hơn
+ Cải tiến thủ tục hành chính trong quá trình cấp phép, giải quyết tranh chấp theo hướng nhanh, gọn, đơn giản, minh bạch
Hoạt động đầu tư được thực hiện thông qua cơ quan xúc tiến đầu tư Hiện nay, hoạt động này được phân cấp cho các cơ quan xúc tiến đầu tư của các tỉnh, thành cùng tham gia với cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia để nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư
1.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm
Trung Quốc là nước có diện tích rộng thứ ba thế giới, với dân số 130 triệu người, đông nhất trên thế giới GDP bình quân đầu người của Trung Quốc đã đạt mức 1.700USD Chỉ sau một năm gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), dòng vốn FDI vào Trung Quốc tăng nhanh chóng Hiện có khoảng 200 nước và khu vực đầu tư vào Trung Quốc Từ năm 1993 đến nay, Trung Quốc chỉ đứng thứ hai (sau Hoa Kỳ) về khối lượng thu hút vốn đầu tư nước ngoài Riêng hai năm 2002 và 2003, Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ và trở thành nước tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới Vốn FDI vào Trung Quốc liên tục
Trang 23tăng qua các năm Năm 2001 FDI thực tế đạt 46,8 tỷ USD, năm 2002 tăng lên 52,7 tỷ USD, từ năm 2003 đến nay đều đạt từ 50 – 60 tỷ USD/năm Dự tính đến năm 2009, dòng FDI vào Trung Quốc có thể đạt 80 tỷ USD Qua 27 năm cải cách mở cửa, luỹ kế thu hút FDI của Trung Quốc đạt hơn 667 tỷ USD Tính đến năm 2007 đã có 480/500 công ty xuyên quốc gia mạnh nhất toàn cầu đầu tư vào Trung Quốc và 14 năm liên tục Trung Quốc là nước thu hút FDI đứng đầu các nước đang phát triển Trung Quốc đã thực sự trở thành bộ phận quan trọng trong mắt xích ngành nghề toàn cầu
Có nhiều nguyên nhân tạo nên sức hấp dẫn của Trung Quốc đối với dòng vốn FDI, song các nhà nghiên cứu cho rằng, nguyên nhân quan trọng nhất là
do nhận thức và đánh giá về tầm quan trọng của FDI trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước này Trung Quốc đã ban hành và có sự điều chỉnh
hệ thống chính sách, pháp luật đối với FDI phù hợp với điều kiện tình hình mới nhằm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhất cho nhà đầu tư nước ngoài
- Chính sách, cơ chế, pháp luật đối với đầu tư nước ngoài
Bộ luật liên doanh cổ phần giữa Trung Quốc với nước ngoài ban hành ngày 01/07/1979 là văn bản đầu tiên về đầu tư nước ngoài sau cải cách và mở cửa của Trung Quốc Đến nay, Trung Quốc đã ban hành hơn 500 văn bản gồm các bộ luật và văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài, trong đó có Luật liên doanh, quy định thực hiện luật liên doanh, quy định của hội đồng nhà nước về khuyến khích đầu tư nước ngoài, luật ngoại thương,… Những văn bản này cơ bản là phù hợp với đòi hỏi của những quan
hệ mở trong nền kinh tế thị trường và thường được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp khi thực tiễn thay đổi
Để nhất quán với những điều khoản đã cam kết, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, đối xử công bằng và cùng có lợi chung, Trung Quốc
Trang 24tăng cường ban hành và cải tiến luật, quy định, chính sách có liên quan đến thu hút đầu tư nước ngoài nhằm thiết lập hệ thống thị trường thống nhất và có trật tự trên toàn quốc như: Luật doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được ban hành năm 1986, luật về khuyến khích đầu tư của thương nhân Đài Loan được ban hành năm 1988 Luật hợp đồng hợp tác kinh doanh được ban hành năm
1988, luật thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành năm 1991 Năm 1990, Trung Quốc tiến hành sửa đổi các luật trên với nhiều quy định có lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài
Năm 1992 là dấu mốc rất quan trọng trong lịch sử thu hút FDI của Trung Quốc Sự thông thoáng và cởi mở hơn của chính sách và chiến lược thu hút FDI đã mở ra thời kỳ tăng trưởng FDI cao nhất trong lịch sử của Trung Quốc Năm 1992 Luật về hiệp hội thương mại được ban hành Năm 1993 Luật công
ty được thông qua và các điều khoản về kiểm soát thuế tiêu thụ, thuế kinh doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng được ban hành đã khuyến khích mạnh dòng vốn FDI vào Trung Quốc Để đảm bảo lợi ích và tạo
sự tin tưởng của giới đầu tư Đài Loan - một trong những nhà đầu tư lớn nhất của Trung Quốc - vào chính sách mở cửa của đại lục, năm 1994 Trung Quốc
đã ban hành Luật bảo vệ đầu tư của thương nhân ở Đài Loan Nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài, năm 1994 Trung Quốc đã ban hành điều luật về kiểm soát ngoại tệ và tiến hành sửa đổi năm 1997 Ngoài ra, để tác động mạnh hơn nữa đến hoạt động thu hút FDI, Trung Quốc đã ban hành một số luật và điều khoản quy định, hướng dẫn hoạt động FDI như: các điều khoản hướng dẫn lĩnh vực kêu gọi đầu tư năm 1995 và 1997, Luật về bảo hiểm và quy định
cụ thể hướng dẫn thực hiện luật hợp đồng hợp tác liên doanh năm 1995
Cuối năm 2001, cùng với việc chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc đã cam kết mở cửa các lĩnh vực đầu tư theo lộ trình đàm phán, đồng thời sửa đổi một cách cơ bản luật về liên doanh với
Trang 25nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, bãi bỏ yêu cầu về chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hoá, sử dụng nguyên liệu, vật tư trong nước Bên cạnh đó, Trung Quốc đã sửa đổi các đạo luật và các chính sách nhằm khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân, luật sở hữu trí tuệ và ban hành quy định các doanh nghiệp có vốn FDI được quyền phân phối sản phẩm trên phạm
vi toàn quốc Trung Quốc cũng đã điều chỉnh lại quy định bảo hộ và sát nhập đối với nhà đầu tư nước ngoài
Năm 2002, Trung Quốc đã ban hành một số văn bản mới để hướng dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phù hợp với những cam kết trong quá trình đàm phán ra nhập WTO Hướng dẫn mới này đặc biệt tập trung thu hút đầu tư vào công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn, công nghệ cao, vật liệu mới, năng lượng, vận tải và bảo vệ môi trường Các dự án đầu tư nước ngoài được phân thành bốn loại: Khuyến khích đầu tư, được phép đầu tư, hạn chế đầu tư
và cấm đầu tư Danh mục các dự án được khuyến khích đầu tư tăng từ 116 hạng mục lên 262 hạng mục Số lĩnh vực bị cấm hoặc hạn chế đầu tư giảm mạnh từ 112 hạng mục xuống còn 75 hạng mục Theo đó, doanh nghiệp đầu
tư vào lĩnh vực khuyến khích đầu tư có thể được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 15% Các lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, ngoại thương, truyền thông, du lịch, vận tải là những lĩnh vực sẽ từng bước được mở cửa khuyến khích đầu tư theo lộ trình cam kết gia nhập WTO Những ngành trước đây bị cấm như khí đốt, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước, cung cấp hơi nóng, theo quy định mới, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được phép đầu tư Ngoài ra, hướng dẫn mới còn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia cải cách doanh nghiệp nhà nước và cho phép họ được quyền giữ cổ phần chi phối ở những doanh nghiệp nhà nước lớn, trừ những lĩnh vực đặc biệt quan trọng với an ninh quốc gia Việc tích cực điều chỉnh
Trang 26các quy định về phương thức đầu tư BOT, cho phép các doanh nghiệp có vốn FDI được phát hành cổ phiếu, các công ty nước ngoài thành lập công ty con của Trung Quốc đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng quy mô thu hút vốn đầu tư
Bên cạnh đó, Trung Quốc không ngừng nới lỏng các thủ tục thành lập xí nghiệp đầu tư nước ngoài, quán triệt việc thực hiện cơ chế một cửa Nếu để thực hiện một dự án đầu tư, trước đây cần 70 con dấu, đến nay đã rút ngắn tối
đa và chỉ cần một con dấu của cơ quan thẩm quyền cao nhất theo quy định ở từng lĩnh vực, từng địa phương Những dự án có vốn nước ngoài dưới 30 triệu USD được phân cấp quyền phê chuẩn cho cơ quan quản lý đầu tư cấp tỉnh, thành phố
- Chính sách thu hút FDI theo lĩnh vực, khu vực
Chính phủ Trung Quốc đã ban hành những chính sách phát triển kinh tế
để thu hút FDI vào các ngành sản xuất của Trung Quốc Trong giai đoạn đầu, Trung Quốc chủ yếu mở cửa ngành công nghiệp nhẹ Sau đó phạm vi thị trường sẽ từng bước được mở rộng cho nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm các ngành: Năng lượng, nguyên liệu thô, ngành xây dựng cơ bản và những lĩnh vực bị hạn chế đầu tư sẽ dần được giảm xuống, đặc biệt là ngành ngoại thương, bảo hiểm, tài chính, du lịch,… Đồng thời, chính phủ ban hành, sửa đổi và tập trung hướng dẫn đầu tư nước ngoài đối với những ngành được khuyến khích: Công nghệ cao, cơ sở hạ tầng, trung tâm nghiên cứu và phát triển Trung Quốc đã sử dụng liệu pháp “dò đá qua sông” thực hiện mở cửa theo từng nấc
Năm 1980 Trung Quốc xây dựng các đặc khu kinh tế - là khu vực đóng vai trò tiên phong trong thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm nước ngoài, là người dò đường trong quá trình thử nghiệm mở cửa thu hút FDI Chỉ
Trang 27khi những đặc khu đã được lấp đầy khoảng 60 – 70% số lượng các doanh nghiệp hoạt động thì đặc khu khác mới được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động
Liên doanh trong các đặc khu kinh tế phải trả các khoản thuế sau: Thuế
ra vào đặc khu, thuế sử dụng bất động sản, thuế giá trị gia tăng Thuế ra vào đặc khu được quy định thống nhất ở mức 15% (đối với các liên doanh ở các vùng nội địa Trung Quốc mức thuế là 33%) Liên doanh trong đặc khu kinh tế được miễn thuế hai năm đầu kể từ khi bắt đầu có lợi nhuận (đối với các liên doanh khác là một năm) Mức thuế các doanh nghiệp được hưởng trong thời gian từ năm thứ ba đến hết năm thứ năm bằng nửa mức cơ sở Các nhà đầu tư nước ngoài tái đầu tư lợi nhuận vào Trung Quốc trong thời hạn không dưới năm năm sẽ được hoàn 40% số thuế ra vào đặc khu kinh tế Những lĩnh vực
có lợi nhuận thấp (như lĩnh vực nông nghiệp) hoặc ở những vùng xa xôi, các liên doanh có thể được hưởng mức thuế ưu đãi là 15 – 30% thuế ra vào đặc khu trong vòng 10 năm, sau 5 năm tiếp theo được miễn thuế hoàn toàn hoặc miễn thuế một phần Các doanh nghiệp cung cấp công nghệ đặc biệt có thể được hưởng các ưu đãi thuế bổ sung khác
Tất cả các thiết bị sản xuất mà phía nước ngoài nhập vào Trung Quốc với tư cách là vốn đầu tư, nguyên liệu, thiết bị đồng bộ, nguyên liệu đóng gói được nhập khẩu để sản xuất các sản phẩm phục vụ tái xuất, tất cả các mặt hàng xuất khẩu (ngoại trừ dầu mỏ và các sản phẩm dầu mỏ khác) không bị áp dụng thuế giá trị gia tăng
Năm 1984, Trung Quốc tiếp tục mở cửa 14 thành phố ven biển, 13 thành phố ven biên, mở cửa các khu khai thác và phát triển kinh tế, kỹ thuật, thực hiện chiến lược “3 ven”: Ven sông, ven biển, ven biên giới nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của miền Đông rồi tiến dần vào nội địa
Trang 28Tiến tới sự phát triển cân đối trên toàn lãnh thổ Trung Quốc nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng kinh tế, năm 1992, sau nhiều năm kinh nghiệm phát triển khu vực phía Đông, chính phủ Trung Quốc bắt đầu chú ý phát triển khu vực phía Tây với những ưu đãi, khuyến khích nhất định với FDI
- Chính sách ưu đãi về tài chính đối với các xí nghiệp FDI
Năm 1997 Trung Quốc đã ban hành quy định về thực hiện giá các dịch
vụ không phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài
Năm 1998 Trung Quốc ban hành chính sách bãi bỏ thuế nhập khẩu và thuế VAT khi nhà đầu tư cung ứng thiết bị máy móc cho các công trình có vốn đầu tư nước ngoài
Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn bằng các hình thức khác nhau như ngoại tệ mạnh, máy móc, thiết bị, quyền sở hữu công nghiệp, công nghệ độc quyền với giá xác định Các doanh nghiệp có vốn FDI có thể tiếp nhận các dịch vụ bảo đảm cung ứng tiền mặt, các khoản vay bằng nhân dân tệ theo một
số điều kiện nhất định Ngoài ra các doanh nghiệp FDI còn được vay nước ngoài, phát hành công cụ nợ nhưng phải đăng ký với cơ quan thẩm quyền Doanh nghiệp có vốn FDI cũng có thể mở tài khoản ngoại tệ tại bất kỳ tổ chức tín dụng trong và ngoài lãnh thổ Trung Quốc, sử dụng ngoại tệ để tái đầu
tư hoặc chuyển lợi nhuận và các khoản chi phí khác bằng ngoại tệ về nước nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý ngoại hối và hàng tháng phải nộp báo cáo cho cơ quan này
- Luật đầu tư của Trung Quốc cũng quy định, các doanh nghiệp nước ngoài có toàn quyền quyết định về quản lý hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Chính phủ Trung Quốc cũng khuyến khích các nhà đầu tư
Trang 29nước ngoài áp dụng các biện pháp quản lý khoa học tiên tiến trên thế giới Trong phạm vi kinh doanh được phê duyệt, các nhà đầu tư nước ngoài có quyền tự quyết định về lập kế hoạch kinh doanh, tăng huy động và sử dụng vốn, mua nguyên liệu sản xuất, thành lập văn phòng và số lượng lao động Điều này tạo điều kiện rất thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài chủ động trong việc tái cơ cấu và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp khi cần thiết
kể từ khi triển khai thực hiện cho đến khi vận hành dự án
- Lựa chọn hình thức đầu tư
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế (1978) và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, Trung Quốc đã đưa ra các quy định về các hình thức đầu
tư mà các nhà đầu tư nước ngoài được Trung Quốc cho phép hoạt động: Xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp liên doanh hợp tác, xí nghiệp sở hữu nước ngoài hoàn toàn, hình thức hợp tác phát triển, hình thức BOT, hình thức công ty đầu
tư
Nói chung, Trung Quốc đã tạo ra một môi trường khá thuận lợi và ổn định, tạo được lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài Nhờ việc ban hành hệ thống quy định, chính sách, pháp luật rõ ràng, chặt chẽ, thông thoáng, cơ chế khuyến khích, ưu đãi thuận lợi tạo môi trường đầu tư nước ngoài hấp dẫn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội của Trung Quốc nhưng vẫn phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế nên Trung Quốc đã thu hút được luồng vốn đầu tư nước ngoài rất lớn, hình thức và đối tác phong phú, tạo nên lực lượng vật chất to lớn phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước, đưa nền kinh tế Trung Quốc vươn lên cạnh tranh vị trí siêu cường với các nước có nền kinh tế phát triển
1.2.2 Bài học cho Việt Nam
Trang 30Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Nền kinh tế của chúng ta vẫn đang ở giai đoạn thấp, việc khai thác, sử dụng và phát triển có hiệu quả các hình thức đầu tư nước ngoài là một vấn đề rất quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách phát triển của Việt Nam và chúng
có tính nhạy cảm rất cao trong thu hút đầu tư nước ngoài
Trung Quốc là nước có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Từ thành công trong chính sách thu hút, sử dụng, quản lý nhà nước đối với FDI của Trung Quốc, có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
- Chính sách, pháp luật phải rõ ràng, nhất quán, có tính khả thi cao Chính sách sau phải có sức hấp dẫn hơn chính sách trước đó Nhà nước không nên duy trì chính sách bảo hộ, khuyến khích, ưu đãi quá lâu dài cho bất kỳ một lĩnh vực, khu vực nào trong nền kinh tế Nếu duy trì quá lâu một chính sách đối với một khu vực, một ngành dễ dẫn đến tình trạng phát triển kém hiệu quả và mất cân đối nền kinh tế
- Thủ tục hành chính phải thông thoáng, đơn giản, gọn nhẹ, thực hiện chính sách một cửa, tránh làm mất thời gian, chi phí, gây phiền hà, dễ làm nản lòng nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng đến hoạt động thu hút đầu tư
- Cần phân cấp quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài cho các địa phương, tránh việc tập trung quá nhiều vào một đầu mối Tuy nhiên, phải phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ của từng cấp, tránh chồng chéo trách nhiệm làm ảnh hưởng đến nhà đầu tư và khi xảy ra hậu quả thì không có đơn vị nào đứng ra chịu trách nhiệm
- Các địa phương cần xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao để quy hoạch sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào địa
Trang 31phương của mình Tuy nhiên, cần xây dựng có trọng điểm và có chất lượng, tránh tình trạng đua nhau xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp để lấy thành tích
- Mở rộng quy định về tài chính để đảm bảo chủ động ngoại tệ trong kinh doanh cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Việt Nam đã có những quy định cho phép các nhà đầu tư mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài, nhưng vẫn chỉ là tài khoản vốn vay, không phải phục vụ cho mục đích giao dịch kinh doanh
- Cần coi trọng việc bảo hộ lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài Việc tạo lợi ích này thể hiện ở các biện pháp khuyến khích và bảo hộ quyền của các nhà đầu tư như: Giảm thiểu danh mục các ngành nghề cấm hoặc hạn chế đầu tư, ưu đãi về tài chính, cơ sở hạ tầng, dịch vụ, ký kết các hiệp định bảo hộ đầu tư và tránh đánh thuế trùng, có chế tài nghiêm minh để bảo hộ quyền sở hữu tài sản đầu tư, tài sản tài chính, tài sản trí tuệ, các khoản lợi ích và thu nhập hợp pháp của nhà đầu tư để họ yên tâm đầu tư
- Không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp Cơ quan nhà nước chỉ nên kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp được tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Cần có phương thức sử dụng các hình thức đầu tư một cách có hiệu quả, tương ứng với năng lực quản lý hoạt động đầu tư của nước sở tại để đưa các hoạt động đầu tư vận động theo đúng mục tiêu đặt ra
Trang 32Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
2.1 Hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay
2.1.1 Đóng góp
Kể từ khi luật đầu tư đầu tiên của Việt Nam được ban hành (năm 1988), đến nay khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không ngừng được mở rộng và phát triển Nó đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần tích cực vào thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đổi mới đất nước
Tính đến nay, cả nước có hơn 9500 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư, với tổng số vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm) Không tính các dự án đã hết thời hạn hoạt động và dự án giải thể trước thời hạn, hiện cả nước có 8590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 83,1 tỷ USD, trong đó có khoảng 50% dự án triển khai với tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 30 tỷ USD, bằng 36,1% tổng vốn đăng ký Riêng năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài đạt con số kỷ lục, lên tới 20,3 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006, gần bằng tổng mức đầu tư của năm năm 2001 – 2005 và chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 20 năm qua Vốn thực hiện năm 2007 đạt 4,6 tỷ USD, tăng 12,2% so với năm trước, vượt 2,2% kế hoạch năm đề ra (4,5 tỷ USD)
Sau 20 năm mở cửa nền kinh tế, đầu tư nước ngoài đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng tiến bộ Tuy nhiên, phần lớn vốn FDI thu hút được tập trung ở những địa phương có nhiều thuận lợi về thị trường, giao thông và kết cấu hạ tầng và có ưu thế về nguồn lực, nhờ đó, những địa phương này có tốc độ phát
Trang 33triển nhanh hơn và trở thành vùng kinh tế động lực, lôi kéo sự phát triển kinh
tế của các vùng phụ cận và của toàn xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thu hút được lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất, đạt 46,8 tỷ USD tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả nước, chiếm 64,3% số dự án, 55,7% tổng vốn đăng ký và 48,4% vốn thực hiện của cả nước Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc thu hút trên 24 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 26% về số dự án, 29% tổng vốn đăng ký và 24% tổng vốn thực hiện cả nước Thấp nhất là vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung, chỉ thu hút được 8,6 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 9,3% số dự án, 6% tổng vốn đăng ký và 8,6% vốn thực hiện cả nước
Hiện nay, đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, trong
đó có 15 quốc gia và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư đăng ký đạt trên 1 tỷ USD Hàn Quốc là nước đứng đầu với số vốn đăng ký đạt trên 13 tỷ USD Tiếp đến là Singapore với số vốn đăng ký đạt 10,7 tỷ USD Đài Loan ở vị trí thứ ba với số vốn đăng ký đạt 10,5 tỷ USD, Nhật Bản đạt 9 tỷ USD Tuy nhiên, nếu tính tổng số vốn giải ngân được thì Nhật Bản lại đứng đầu với 5 tỷ USD, Singapore đạt 3,8 tỷ USD đứng thứ hai, tiếp đến là Đài Loan với số vốn giải ngân được là 3 tỷ USD và Hàn Quốc đạt 2,7 tỷ USD
Như vậy, các nhà đầu tư thuộc khu vực Châu Á vẫn chiếm ưu thế, đạt 69% tổng vốn đăng ký khu vực FDI, thuộc Châu Âu chiếm 24%, các nước Châu Mỹ chiếm 5%, riêng Hoa Kỳ chiếm 3,6% Nhưng nếu tính cả số vốn đầu tư vào Việt Nam từ các chi nhánh tại nước thứ ba thì Hoa Kỳ trở thành nhà đầu tư lớn thứ năm tại Việt Nam
Trong 20 năm qua, đầu tư nước ngoài đã có đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, góp phần thúc đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và sự chuyển đổi nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trang 34- Góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, FDI đã có những đóng góp rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP, vào ngân sách nhà nước, trong giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam khá cao và liên tục tăng
Bảng 2.2: Đóng góp của FDI vào kinh tế Việt Nam từ năm 2001 – 2007
FDI trong thu ngân sách nhà nước so với năm trước
17*
41,5 41,6 42,1 42,6
13
- 35*
56,8*
_ 128,2 130,0 130,0 141,0 117,3*
Trang 35Tỷ lệ đóng góp vào GDP của FDI luôn có xu hướng tăng tích cực Từ mức đóng góp trung bình 6,3% vào GDP giai đoạn 1991 – 1995 tăng lên 14,6% giai đoạn 2001 – 2005 Năm 2006 và 2007 con số này tăng lên là 17% Giá trị xuất khẩu (không kể dầu thô) của doanh nghiệp FDI cũng tăng nhanh chóng Trong 5 năm 2001 – 2005, giá trị xuất khẩu đạt hơn 34,6 tỷ USD, cao gấp 3 lần so với thời kỳ 5 năm trước (giai đoạn 1996 – 2000 giá trị xuất khẩu đạt 11,5 tỷ USD) Năm 2006 giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp FDI (kể cả dầu thô), chiếm 56,5% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước, đạt 22,6
tỷ USD Năm 2007 giá trị xuất khẩu của khu vực này đạt 27,3 tỷ USD nếu tính cả dầu thô, chiếm 56,8% tổng giá trị xuất khẩu cả nước (nếu không tính dầu thô là 19,7 tỷ USD)
Doanh nghiệp FDI cũng có đóng góp rất đáng kể vào ngân sách nhà nước Trong 5 năm (2001 – 2005) thu ngân sách Nhà nước từ các doanh nghiệp FDI tăng bình quân 24%/năm, đạt trên 3,6 tỷ USD Riêng năm 2007, nguồn thu ngân sách của doanh nghiệp FDI đạt 1,87 tỷ USD
Thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam, FDI cũng có tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế, như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đồng thời, mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp cho đất nước qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua nguyên vật liệu Sự đóng góp đó đã tạo điều kiện để nền kinh tế thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng về xuất khẩu
- Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển toàn xã hội và tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, sự hình thành và phát triển nguồn vốn FDI đã tạo động lực cho việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, đồng thời, nhà nước cũng chủ động hơn trong việc bố trí cơ cấu đầu tư góp phần tranh
Trang 36thủ tối đa nguồn sức mạnh ngoại lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế
Từ năm 2001, cơ cấu vốn đầu tư theo các khu vực kinh tế được thể hiện qua bảng sau
Bảng 2.3: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2001 – 2007
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng
Năm Tổng vốn đầu
tư phát triển
Khu vực nhà nước
Khu vực ngoài quốc doanh
Khu vực đầu
tư nước ngoài
Tỷ trọng FDI (%)
216 136,9 398,8*
461,9*
93,3 97,4 99,2 115,5 124,1 185,1*
200*
36,7 43,8 58,7 61,9 78,9 150,8*
188*
30,4 32,0 31,4 31,1 33,9 62,9*
73,9*
19 18,5 16,6 15,8 14,3 16,7* 16* Nguồn: - PGS.TS Trần Quang Lâm: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam - NXB Chính trị Quốc gia năm 2006
*- Thông cáo báo chí về số liệu thống kê kinh tế - xã hội 2007, ngày 31/12/2007 - Tổng cục thống kê
Như vậy, giai đoạn 2001 – 2005 và hai năm 2006, 2007, tỷ trọng FDI trong cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chiếm khoảng 16,7% Sự đóng góp này là tương đối ổn định bởi vì chính phủ Việt Nam đã nhận thức rõ được
Trang 37tầm quan trọng của nguồn vốn FDI nên liên tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp FDI phát triển, tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư quốc tế, thu hút ngày càng nhiều hơn luồng vốn bên ngoài Thêm nữa, chúng ta đã duy trì được nền kinh tế - chính trị - xã hội tương đối
ổn định, kinh tế tăng trưởng cao, bền vững Và còn một nguyên nhân cũng rất quan trọng là do chúng ta rất tích cực chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới Giai đoạn này, lượng vốn FDI Việt Nam thu hút được lớn hơn giai đoạn trước rất nhiều, nhưng FDI trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội lại giảm (giai đoạn 1996 – 2000: 23,4%) Nguyên nhân là do sự lớn mạnh của khu vực đầu
tư tư nhân trong nước kể từ khi quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp (năm
1999 và 2005) Điều này tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực trong nền kinh tế Mặt khác, chính sự phát triển của FDI đã là lực lượng quan trọng
hỗ trợ cho các khu vực kinh tế khác trong nền kinh tế cùng phát triển
- FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp
FDI có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển lực lượng sản xuất Đặc biệt, đối với lĩnh vực công nghiệp, khu vực FDI chiếm tỷ trọng khá cao trong giá trị sản lượng của ngành này, đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp chung của cả nước, nâng cao năng lực công nghệ cho nền kinh tế
Khu vực FDI luôn có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao hơn mức tăng trưởng chung của cả nước Năm 2004, tỷ trọng ngành công nghiệp của khu vực FDI trong nền kinh tế là 24% Sau ba năm ngành công nghiệp của khu vực này chiếm khoảng 35% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Đặc
Trang 38biệt, ở một số địa phương (Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương) tỷ lệ này đạt 65% - 70%
Xét vốn đầu tư nước ngoài phân theo ngành kinh tế, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 66,8% tổng số dự án đầu tư nước ngoài, 60% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký và 68,5% vốn thực hiện Tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,2% số dự án, 34,8% tổng vốn đầu
tư nước ngoài đăng ký, 25,2% vốn thực hiện và thấp nhất là lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 10,8% số dự án, 5,4% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký và 6,9% vốn thực hiện Chúng ta có thể thấy được sự tương quan này qua bảng sau:
Bảng 2.1: Đầu tư nước ngoài phân theo ngành nghề tại Việt Nam từ năm
1988 - 2007
Vốn đầu tư (Triệu USD)
Vốn thực hiện (Triệu USD)
Trang 39nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giầy, dệt may,… Hiện FDI đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hoà), 60% cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giầy, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc
FDI đã kích thích lĩnh vực dịch vụ Việt Nam nâng cao chất lượng và phát triển nhanh hơn, nhất là trong các ngành viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng,… Với những địa phương đất đai kém màu mỡ, khó khăn trong phát triển ngành trồng trọt, khu vực kinh tế này cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất thông qua việc hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, từ đó tăng cường thu hút FDI
- FDI góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ
Khi xuất khẩu tư bản sang các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển, nhà đầu tư nước ngoài thường xuất khẩu cả vốn tài chính và vốn hiện vật Vốn hiện vật chính là máy móc, trang thiết bị, kỹ thuật khoa học, công nghệ Thông thường, họ sẽ chuyển giao khoa học công nghệ, thiết bị thuộc dạng mới so với trình độ công nghệ của nước tiếp nhận đầu tư Thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp thuộc khu vực FDI, Việt Nam có điều kiện phát triển một số ngành kinh tế quan trọng đối với nền kinh
tế như: Thăm dò và khai thác dầu khí, viễn thông, điện tử, tin học, cơ khí chế tạo,… Nhất là sau khi tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ USD vào Việt Nam trong dự
án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp tại khu công nghệ cao Sài Gòn, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn
đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech,…) Ngoài ra, thông qua đó, chúng ta học được phương thức quản lý tiên tiến của nước ngoài
Trang 40Trong nông – lâm – ngư nghiệp, doanh nghiệp FDI đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới
- Doanh nghiệp FDI góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Năm 2001, xuất khẩu của khu vực FDI chiếm 45% giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2004 là 55%, năm 2005 tăng lên 56% và hai năm
2006, 2007 lần lượt là 56,5% và 56,8% Đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính
và linh kiện, 42% sản phẩm da giầy, 35% hàng may mặc,… Hiện nay, rất nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận với thị trường trên thế giới thông qua mạng lưới tiêu thụ của các công ty nước ngoài và tập đoàn quốc tế FDI cũng tham gia vào việc xây dựng nhiều khách sạn, khu du lịch, khu nghỉ dưỡng cao cấp, đạt tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng được nhu cầu của khách
du lịch nước ngoài, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ
Về lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Hiện tại có rất nhiều doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực này: ANZBank (Úc), Vinasiambank (Thái Lan), bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA, Prudential (Anh),… thúc đẩy thu hút, luân chuyển, huy động và cung cấp vốn cho sự phát triển của nền kinh tế Đầu tư nước ngoài cũng góp phần quan trọng trong việc xoá bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư Thông qua hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện trong cộng đồng quốc tế, thúc đẩy Việt Nam chủ động