ASEAN: Hiệp hội cỏc quốc gia Đụng nam Á ATC: Hiệp định về hàng dệt may ACV: Hiệp định về định giá hải quan BTA: Hiệp định thương mại song phương CNH, HĐH: Cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ D
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Quang Ty
Hà Nội – 2008
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU
KIỆN HỘI NHẬP: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ……… 7
1.1 Doanh nghiệp nhà nước: Khái niệm, cách phân loại và vai trò của nó 7
1.1.1 Khái niệm ……… 7
1.1.2 Phân loại ……… 9
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 10 1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập 13 1.2.1 Quản lý nhà nước về kinh tế ………
1.2.1.1 Khái niệm………
13 1.2.1.2 Biểu hiện của quản lý nhà nước về kinh tế……… 14
1.2.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ……… 26
1.2.2.1 Khái niệm……… 26
1.2.2.2 Quy định và cách thức tác động……… 27
1.2.2.3 Các phương thức tác động của nhà nước đối với DNNN……… 27
1.2.2.4 Các phương tiện tác động của nhà nước đối với DNNN……… 27
1.3 Kinh nghiệm của của môt số nước trong việc quản lý doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập……… 30
1.1.3 Kinh nghiệm của các nước phát triển……… 30
1.3.2 Kinh nghiệm của các nước Asean……… 31
1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc ……… 32
1.3.4 Kinh nghiệm thành công và không thành công của một số nước sau khi gia nhập WTO ……… 42
1.3.5 Tổng kết bước đầu những bài học có giá trị tham khảo cho Việt Nam……… 55
Trang 3Ch-ơng 2: Thực trạng quản lý nhà n-ớc đối với doanh nghiệp
nhà n-ớc ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
58
2.1 Đỏnh giỏ khỏi quỏt về doanh nghiệp nhà nước và quản lý đối với doanh
nghiệp nhà nước ở thời kỳ trước đổi mới ……… 58
2.1.1 Giai đoạn 1955-1975 58
2.1.2 Giai đoạn 1976-1986 61
2.2 Tỏc động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quản lý nhà nước đối với cỏc doanh nghiệp nhà nước và tỡnh hỡnh thực tế ở Việt Nam trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006)……… 63
2.2.1 Khỏi quỏt về tỏc động của hội nhập kinh tế quốc tế 63
2.2.2 Tỡnh hỡnh thực tế ( thành tựu, hạn chế, nguyờn nhõn)……… 66
2.3 Những vấn đề lớn đang đặt ra về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và nguyờn nhõn……… 92
CHƯƠNG 3: BỐI CẢNH MỚI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GểP PHẦN HOÀN THIỆN QUẢN Lí NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI……… 101
3.1 Bối cảnh mới ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với DNNN……… 101
3.1.1 Thời cơ và lợi ớch của việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) 103
3.1.1.1 Thời cơ và lợi ớch đối với cỏc doanh nghiệp nhà nước……… 103
3.1.1.2 Thời cơ và lợi ớch đối với đối với quản lý nhà nước……… 105
3.1.2 Thỏch thức và những vấn đề đặt ra ……… … 107
3.2 Đổi mới quan điểm về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế……… 110
3.3 Giải phỏp đổi mới về quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế……… 113
3 3.3.1 Giải phỏp từ phớa Nhà nước……… 113
3.3.2 Một số giải phỏp từ phớa doanh nghiệp nhà nước ……… 116
Kết kuận……… 119
Phụ lục……… 122
Trang 4ASEAN: Hiệp hội cỏc quốc gia Đụng nam Á
ATC: Hiệp định về hàng dệt may
ACV: Hiệp định về định giá hải quan
BTA: Hiệp định thương mại song phương
CNH, HĐH: Cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
EU: Liờn minh chõu Âu
GS.TS: Giỏo sư tiến sỹ
GATT: Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
GATS: Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
TRIPS :Hiệp định về Cỏc khớa cạnh liờn quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trớ tuệ
TBT: Hiệp định về cỏc Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại
TRIMS: Hiệp định về cỏc Biện phỏp Đầu tư liờn quan đến Thương mại
TNCs: Các công ty xuyên quốc gia
TNHH: Trỏch nhiệm hữu hạn
HĐBT:Hội đồng Bộ tr-ởng
IMF :Quỹ Tiền tệ quốc tế
ITO: Tổ chức Thương mại quốc tế
NME: Nền kinh tế phi thị trường
NGO: Các tổ chức phi chính phủ
NXB: Nhà xuất bản
NDT: Nhân dân tệ
SPS: Hiệp định về cỏc Biện phỏp Vệ sinh và Kiểm dịch
UBND: Uỷ ban nhõn dõn
USD: Đồng đô la
XHCN: Xó hội chủ nghĩa
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WB: Ngõn hàng thế giới
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006) của Đảng đã khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển.Trong đó, doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế- xã hội và chấp hành pháp luật
Trong hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết sách và tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp tổ chức, sắp xếp lại và đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước Công việc quan trọng này gắn liền với mục đích đổi mới cơ chế quản lý để doanh nghiệp nhà nước tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác
và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn Dưới tác động của những chính sách, cơ chế quản lý mới, hệ thống doanh nghiệp nhà nước
đã có những chuyển biến tích cực và thu được những kết quả nhất định, cùng với các thành phần kinh tế khác góp phần ổn định kinh tế, chính trị- xã hội của đất nước
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào đời sống quốc tế, với vị thế và trách nhiệm mới – thành viên thứ 150 của WTO và là Ủy viên không thường trực của Liên hợp quốc, nhiều thời cơ, thuận lợi mới sẽ xuất hiện đồng thời với những khó khăn thách thức lớn Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp nhà nước vẫn bộc lộ những nhược điểm, tồn tại và thiếu sót Điều đáng chú ý là cho đến nay nhiều doanh nghiệp Nhà nước vẫn chưa thực sự tự chủ trong sản xuất kinh doanh, vẫn trông chờ ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, hoặc còn độc quyền trong kinh doanh dẫn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, không những không giữ được vị trí then chốt trong nền kinh tế mà còn gây ra những “hiệu ứng” rất bất lợi về phương diện
Trang 6Như vậy, những vấn đề về kinh tế nhà nước nói chung, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước nói riêng hiện vẫn đang là vấn đề hệ trọng trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta Xuất phát từ ý nghĩa cấp bách về lý luận và thực
tiễn của doanh nghiệp nhà nước, chúng tôi chọn đề tài "Quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập của Việt Nam” để thực hiện luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đặc biệt, trong những năm gần đây gắn với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những vấn đề liên quan tới doanh nghiệp nhà nước đã được nhiều tác giả nghiên cứu Ở đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình có quan hệ gần với hướng nghiên cứu của đề tài luận văn:
-“Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường ở Việt nam”, GS.TS Vũ Huy
Từ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994;
-“Cải cách doanh nghiệp nhà nước- thực tiễn Việt nam và kinh nghiệm thế giới”, tập thể tác giả, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996;
- “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong
công ty cổ phần”, Phí Văn Chỉ ( Chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
-“Đổi mới, tăng cường thành phần kinh tế nhà nước- lý luận, chính sách và giải pháp”, GS.TS Vũ Đình Bách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;
-“Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước”, PGS.TS
Ngô Quang Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;
-“Bán, khoán kinh doanh và cho thuê các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam”,
TS Nguyễn Văn Phúc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003;
-“Doanh nghiệp nhà nước trong phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam đến năm 2010”, PGS.TS Ngô Thắng Lợi, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
- “Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam”, GS.TSKH Lương Xuân Quỳ (Chủ biên), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội,
Trang 7Các công trình nêu trên đã nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước ở nhiều góc
độ và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Luận chứng những cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay, chỉ rõ những thành công, hạn chế và các nguyên nhân tương ứng
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị đổi mới chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước qua 20 năm đổi mới và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong 20 năm đổi mới (1986 -2006) và đề xuất các giải pháp cho giai đoạn tiếp theo
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời
sử dụng một số tư liệu và kết quả nghiên cứu, điều tra có liên quan đã được công bố
- Phương pháp nghiên cứu được vận dụng là phương pháp phân tích, diễn giải và quy nạp, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp đối chiếu-so sánh, v.v…
6 Đóng góp mới của luận văn
Trang 8- Góp phần làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
ở Việt Nam trong 20 năm đổi mới và đưa ra những giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn có tính thời sự về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
Trang 9CHƯƠNG 1
QUẢN LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆNHỘI
NHẬP: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1 Doanh nghiệp nhà nước: Khái niệm, cách phân loại và vai trò của nó
1.1.1 Khái niệm
Trong những năm trước đổi mới (1954-1985), Việt Nam áp dụng mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Tương thích với mô hình đó, có khái niệm về các xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, công ty quốc doanh, mậu dịch quốc doanh được hiểu là những tổ chức kinh tế do Nhà nước trực tiếp đầu tư vốn (100%), quyết định thành lập, quyết định phương hướng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyển dụng người lao động theo chế độ biên chế ổn định Doanh nghiệp quốc doanh thường được đồng nhất với thành phần kinh tế quốc doanh - bộ phận chủ yếu được coi là giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kiểu kế hoạch hóa tập trung Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và các tổ chức khác của Nhà nước đều là những cán bộ công nhân viên chức trong biên chế, ít có sự phân biệt về quyền lợi, chế độ phân phối và đãi ngộ
Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện Điều này thể hiện rõ trong các văn bản pháp quy, tiêu biểu như Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995
Điều 1 của bộ luật này quy định: " Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do
Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao”
Như vậy, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995, xét về quan hệ sở hữu vốn thì luật mới chỉ chấp
Trang 10nhận loại doanh nghiệp nhà nước mà chủ sở hữu duy nhất nắm giữ 100% vốn của doanh nghiệp là Nhà nước
Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 12 năm
2003, trong điều 1 quy định: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước
sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp, luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006, đã thay thế Luật Doanh nghiệp năm
1995 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 Tuy nhiên, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp, được Quốc hội thông qua, ngày 29 tháng 11 năm 2005
Như vây, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước trên đây đã không chỉ chú trọng đến hình thức sở hữu của loại hình doanh nghiệp có tính chất công hữu này, mà còn nhấn mạnh đến cả chức năng đặc thù của chúng, đó là doanh nghiệp nhà nước không chỉ thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh thông thường giống như tất cả các doanh nghiệp khác, mà còn là công cụ để Chính phủ sử dụng nhằm đạt được mục tiêu kinh tế-xã hội mà một doanh nghiệp hoạt động đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận không thể thực hiện được Riêng về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong Luật Doanh nghiệp (2006) cũng có những mặt nới lỏng và năng động hơn Bên cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, còn có những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng Trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước đã chủ trương thành lập một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế Mặt khác, chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
và đa dạng hoá sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước (mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn) cũng được chú trọng
Quan điểm trên đây hoàn toàn phù hợp với cách nhìn nhận của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của doanh nghiệp nhà nước, đã được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX: “Việc xem xét, đánh giá
Trang 11hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu
để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp, lấy kết qủa thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích”
1.1.2 Phân loại
1.1.2.1 Theo mức độ sở hữu*:
- Loại doanh nghiệp nhà nước chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước
- Loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thông qua cổ phần hoặc góp vốn cho doanh nghiệp và giữ quyền chi phối doanh nghiệp đó
- Loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó phần sở hữu của Nhà nước chiếm từ 50% cổ phần trở xuống
Theo chúng tôi , việc phân chia theo mức độ sở hữu trên đây về cơ bản là hợp lý Điều
đó thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, Nhà nước đảm bảo thực hiện được chức năng điều tiết vĩ mô nền
kinh tế, đảm bảo tính định hướng nền kinh tế thông qua hình thức sở hữu nhà nước, do Nhà
nước nắm giữ trên 50% cổ phần Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước đảm bảo được chức năng
cạnh tranh bình đẳng đối với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường, phù hợp với bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO
1.1.2.2 Theo mô hình tổ chức hoạt động:
- Doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức tập đoàn kinh tế nhà nước
- Doanh nghiệp nhà nước là các tổng công ty nhà nước
- Doanh nghiệp nhà nước độc lập và doanh nghiệp nhà nước thành viên hạch toán độc lập thuộc các tổng công ty nhà nước
- Công ty mẹ, công ty con
1.1.2.3 Theo phân cấp quản lý:
- Doanh nghiệp nhà nước do các Bộ quản lý
- Doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý
- Doanh nghiệp nhà nước do các tổ chức, đoàn thể xã hội quản lý
1.1.2.4 Theo các ngành kinh tế - kỹ thuật:
- Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành sản xuất nông, lâm nghiệp
Trang 12* (Phân loại theo mức độ sở hữu, ở đây được căn cứ vào Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003):
- Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng và phục vụ sản xuất công nghiệp
- Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc
1.1.3.Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1.1.3.1 Vai trò kinh tế
Trong mô hình kế hoạch hoá tập trung, vai trò kinh tế của doanh nghiệp nhà nước được đề cao tuyệt đối, thậm chí có xu hướng tư tưởng và chính sách đã từng coi mức độ phổ biến của doanh nghiệp nhà nước là tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ về quan
hệ sản xuất, là tiêu chí phản ánh mức độ chín muồi của chế độ xã hội chủ nghĩa Cách
tư duy này đã bị đời sống thực tế bác bỏ ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về bản chất, ít nhất trong giai đoạn đầu, là một cơ chế hỗn hợp: vừa có sự tham gia của thị trường với sở hữu tư nhân và vai trò to lớn của khu vực tư nhân, vừa có sự tham gia của Nhà nước, trong đó Nhà nước tác động vào nền kinh tế theo hai hướng: thứ nhất, điều tiết thông qua các công cụ, chính sách quản lý vĩ mô chung; thứ hai, tác động trực tiếp thông qua các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức sản xuất kinh doanh Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thị trường vì: kinh tế thị trường thường khó tránh khỏi một số khuyết tật thậm chí là những thất bại, chẳng hạn như sự thiếu hụt hàng hoá công cộng, sự xuất hiện hình thức độc quyền tư nhân dẫn đến lũng đoạn nền kinh tế… Để giải quyết các khuyết tật của kinh tế thị trường, đòi hỏi Nhà nước, ngoài chức năng tạo lập môi trường và điều tiết, phải tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh ở một số ngành hàng
Theo hướng phân tích trên đây, có thể khái quát về vai trò kinh tế của doanh nghiệp nhà nước như sau:
Thứ nhất, sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước giúp khắc phục trong những giới hạn có thể mặt trái của cơ chế thị trường và những hạn chế của kinh tế tư nhân
Trang 13Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc đảm nhận thị trường các hàng hoá công cộng Hàng hoá công cộng do tính chất đặc thù không thể loại trừ, nếu để khu vực tư nhân sản xuất và cung ứng theo nguyên tắc thị trường tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng không hiệu quả; hoặc sẽ gây ra tình trạng thiếu hụt do không có ai tham gia sản xuất; hoặc dẫn đến tình trạng độc quyền tự nhiên kéo theo gánh nặng chi trả của người tiêu dùng
Như vậy, tuỳ theo tầm quan trọng, hàng hoá công cộng bao gồm các ngành hàng hết sức đa dạng từ điện nước sinh hoạt, điện nước sản xuất, xử lý các loại chất thải, vận tải hành khách công cộng, hoặc trồng rừng, y tế, giáo dục…Quan điểm hiện đại về kinh tế thị trường cho rằng doanh nghiệp nhà nước chỉ nên tham gia vào những ngành quan trọng, thiết yếu, còn những ngành khác của hàng hoá công cộng vẫn có thể
để khu vực kinh tế tư nhân tham gia với sự điều tiết bằng chính sách của Nhà nước Hơn nữa, ngay trong những ngành thiết yếu như điện, viễn thông, vận tải…cũng cần phải tách các công đoạn sản xuất kinh doanh để có thể xác lập được cơ chế cạnh tranh trên thị trường Nhà nước cũng cần phải khuyến khích tư nhân tham gia vào sản xuất
và cung ứng hàng hoá công cộng ở những lĩnh vực cụ thể hoặc đầu mối các công viêc, như vậy sẽ tránh được tình trạng thành lập ồ ạt, không có hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước ở khu vực này
Thứ hai, đảm nhận các lĩnh vực sản xuất- kinh doanh có tính chiến lược đối với
sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả năng của tư nhân
Thực hiện vai trò này, Nhà nước sẽ phải lựa chọn và quyết định những danh mục các
“lĩnh vực có tính chiến lược”, cân đối nguồn vốn và cơ chế đầu tư từ các thiết chế từ sở hữu nhà nước, lựa chọn phương án đầu tư như một nhà kinh doanh, từ đó hình thành các doanh nghiệp nhà nước thích hợp Theo đó các doanh nghiệp nhà nước phải xuất hiện ở những lĩnh vực, ngành có tính chiến lược quốc gia, đầu tư ở những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn và thu hồi vốn chậm
Thứ ba, tham gia vào những lĩnh vực mới, có hệ số rủi ro cao Vai trò này thể
hiện chức năng mở đường, dẫn dắt nền kinh tế, thúc đẩy quá trình ứng dụng khoa học – công nghệ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện vai trò
Trang 14các doanh nghiệp tư nhân, vừa có các doanh nghiệp tài chính thực hiện hoạt động đầu tư- tài trợ cho các doanh nghiệp khác thông qua cơ chế cấp vốn, mua cổ phần theo mô hình công ty mẹ- công ty con Trên thực tế, thực hiện vai trò này là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp nhà nước vì trong quá khứ hầu hết các các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước chưa hề có kinh nghiệm quản lý trong điều kiện mới Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, không phải tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều phải thực hiện vai trò này mà chỉ một số doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, được
cơ quan nhà nước quy định trong nhiệm vụ của doanh nghiệp
1.1.3.2 Vai trò chính trị
- Doanh nghiệp nhà nước là một trong những công cụ vĩ mô quan trọng của Nhà nước, có vai trò dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; và trên thực tế nó còn là chỗ dựa về phương diện kinh tế để Đảng ta thực hiện vai trò cầm quyền
Việc định hướng toàn bộ nền kinh tế không thể tách rời hệ thống chính trị; khi
đã xây dựng được Nhà nước của dân, do dân, vì dân, xây dựng được hệ thống chính trị vững mạnh thì mọi khu vực kinh tế đều là công cụ của Nhà nước; Nhà nước với vai trò kinh tế lớn của mình, với các hình thức tác động khác nhau, đủ sức mạnh để giữ vai trò định hướng, điều tiết toàn bộ nền kinh tế Khi Nhà nước đã đủ sức điều tiết những ngành và những lĩnh vực quyết định của nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo, khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm dần tỷ trọng và vai trò thì có thể xem đây là điều hợp lý Vai trò chính trị của doanh nghiệp nhà nước thể hiện ở chỗ đây là bộ phận nòng cốt, xung kích, dẫn dắt chứ không phải là chủ đạo hiểu theo nghĩa có tỷ trọng cao và quy
mô lớn
- Bảo đảm cơ sở kinh tế cho an ninh quốc gia, quốc phòng toàn dân, bảo đảm sự
ổn định tâm lý trong xã hội - đây là điều mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng cần đến để thực hiện được sự ổn định mang tính vĩ mô trong nền kinh tế Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO, đây là một trong những yếu tố cơ bản để các khu vực kinh tế tư nhân phát triển
và tạo môi trường thuận lợi để kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.1.3.3 Vai trò xã hội
Trang 15- Doanh nghiệp nhà nước góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Ở một nước có nền kinh tế chưa phát triển lại trải qua chiến tranh kéo dài như Việt Nam, giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là đền ơn đáp nghĩa những người có công với cách mạng là nhiệm vụ phức tạp, khó khăn, nhưng lại có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội quan trọng Đặc biệt, trong kinh tế thị trường, việc giải quyết các vấn đề xã hội không thể một lực lượng tư nhân nào có thể đơn phương đảm đương được Thực tế đó đòi hỏi Nhà nước phải làm tốt trách nhiệm bảo đảm ổn định chính trị- xã hội, tạo tiền đề để mỗi người có thể phát triển toàn diện Kinh tế nhà nước, trong đó có doanh nghiệp nhà nước, sẽ là lực lượng vật chất và công cụ quan trọng để hoàn thành nhiệm vụ nói trên
- Doanh nghiệp nhà nước góp phần tạo công ăn việc làm: Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều chiụ sự chi phối của quy luật thị trường, muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải tạo ra lợi nhuận Nhưng nền kinh tế thị trường có những khuyết tật như tạo ra sự phân hoá giàu nghèo, Vì vậy, sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước với việc sử dụng nhiều lao động, tăng công ăn việc làm và tăng thu nhập sẽ góp phần làm giảm sự bất bình đẳng; mặt khác, doanh nghiệp nhà nước có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ bảo hiểm cho người lao động tốt hơn là các thành phần khác
- Doanh nghiệp nhà nước góp phần xóa đói, giảm nghèo: Mỗi quốc gia thường
có những vùng xa xôi hẻo lánh, trình độ dân trí còn thấp, dân cư ở những vùng này phải chịu thiệt thòi vì sự phát triển kinh tế thấp hơn các vùng khác Bởi vậy, việc đầu
tư phát triển các doanh nghiệp nhà nước ở các vùng này còn có vai trò quyết định bảo đảm các nhu cầu cung cấp dịch vụ công cộng thiết yếu cho đời sống dân cư vùng sâu vùng xa mà đầu tư tư nhân chưa vươn tới, v.v…
1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập
1.2.1 Quản lý nhà nước về kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm:
Việc khắc phục những nhược điểm, hạn chế và những khuyết tật của cơ chế thị trường và để tạo điều kiện cho cơ chế này hoạt động có hiệu quả, không thể không có vai trò của nhà nước với tư cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhà nước
Trang 16còn việc điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt động kinh tế của cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phương hướng và mục tiêu nào lại phụ thuộc vào bản chất của các hình thức nhà nước và con đường phát triển mà nhà nước đó lựa chọn
Từ sự phân tích ở trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc
dân là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, để đạt các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế
1.2.1.2 Biểu hiện của quản lý nhà nước về kinh tế
* Vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế
Vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp hoạt động chung và do tính chất của xã hội hoá quy định Lực lượng sản xuất càng phát triển, trình độ xã hội hoá của sản xuất càng cao thì phạm vi thực hiện vai trò đó ngày càng cần thiết và mức độ đòi hỏi của nó càng chặt chẽ và nghiêm ngặt Trong nền kinh tế thị trường, cơ sở khách quan sâu xa của vai trò quản lý nhà nước được thể hiện
ở những mặt sau đây:
- Thứ nhất, trong nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, mỗi
chủ thể kinh doanh, mỗi ngành, mỗi địa phương, v.v đều có lợi ích riêng của mình,
họ đều tìm mọi biện pháp để tối ưu hoá lợi ích đó Khi thực hiện các hoạt động nhằm tối ưu hoá lợi ích, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi vùng có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy sự vi phạm đến lợi ích của người khác, cơ sở khác, ngành, vùng khác, và do đó, tất yếu nảy sinh hiện tượng lợi ích của cá nhân, của bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích cá nhân của bộ phận khác trong xã hội, xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu hiện về mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo, cản trở hoặc triệt tiêu lẫn nhau; các quan hệ tỷ lệ kinh tế quốc dân bị phá vỡ; sự phân bố các nguồn lực không hợp lý, cơ cấu kinh tế bị đảo lộn, các vấn đề xã hội, chính trị phát sinh, v.v
Muốn khắc phục nhược điểm này, cần có một bộ phận điều hành vĩ mô bằng việc hoạch định chương trình, chiến lược và kế hoạch phát triển với các mục tiêu về quy mô, về cơ cấu, về nhịp độ và tốc độ tăng trưởng của từng ngành, từng vùng, về các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Các mục tiêu
Trang 17vĩ mô này là những định hướng không thể thiếu cho hoạt động kinh tế của từng cá nhân, từng doanh nghiệp, từng ngành, từng vùng trong nước Bộ phận điều hành vĩ mô
đó không ai khác là nhà nước - chủ thể kinh tế của mỗi quốc gia Như vậy, nếu không
có vai trò của nhà nước sẽ không có việc phân bố sản xuất và lao động giữa các ngành
và vùng để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, tối ưu; sẽ không có sự phát triển của những ngành có ý nghĩa thúc đẩy sự tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nếu không có nhà nước cũng sẽ không có nguồn tích lũy tập trung quy mô lớn để tạo ra những bước nhảy vọt trong sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết những mục tiêu kinh tế vĩ mô khác mà bản thân cơ chế thị trường ít có khả năng hoặc không thể thực hiện được, đặc biệt là các vấn đề về kết cấu hạ tầng xã hội
- Thứ hai, trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, các hoạt động sản
xuất kinh doanh, các hành vi giao dịch đều tiến hành thông qua thị trường và tuân theo các quy luật của thị trường Song, đối với các hoạt động tạo ra những hàng hoá và dịch
vụ công là những loại hàng hoá và dịch vụ mà chi phí bỏ ra đem lại lợi ích cho nhiều người, nhưng lại không được thanh toán và bồi hoàn đầy đủ về mặt giá trị tiền tệ Hoặc những hoạt động trong sản xuất và tiêu dùng gây ra những ảnh hưởng hướng ngoại tiêu cực lan tràn trên thị trường không được tính toán khi lựa chọn các quyết định sản xuất, hoặc tiêu dùng của cá nhân hay của các đơn vị kinh tế gây ra một khoản tổn phí lớn của xã hội Khi không tối ưu hoá được lợi ích xét trên phạm vi toàn xã hội thì tư nhân không thể cung cấp sản phẩm được, vì rằng tư nhân không chi phối được giá cả
và thu hồi được chi phí đã bỏ ra Do vậy, nhà nước với tư cách là chủ thể nền kinh tế quốc dân, với mục tiêu kinh tế vĩ mô cần thiết phải nắm và đảm bảo cho xã hội những loại hàng hoá và dịch vụ công cũng như những hàng hoá mà nếu nằm trong tay tư nhân
sẽ làm thiệt hại đến lợi ích toàn xã hội
- Thứ ba, nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường không thể tách
rời với môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại Khi môi trường không ổn định, thường xuyên có sự đụng độ và xung đột giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, các quan hệ giao dịch mua bán trên thị trường không lành mạnh, mang tính chất lừa đảo, bạo lực thì kinh tế không thể phát triển, cơ chế thị trường - cơ chế điều chỉnh hành vi của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng theo các quy luật của thị trường, sẽ dẫn tới
Trang 18đẩy môi trường chính trị kinh tế, xã hội, đối ngoại vào tình trạng rối loạn và khủng hoảng Cơ chế thị trường rất cần có môi trường ổn định và lành mạnh để hoạt động, song những nhược điểm và khuyết tật của cơ chế này lại đẻ ra những xu hướng phủ định chính những điều kiện hoạt động của bản thân nó như: do chạy theo lợi nhuận cục
bộ sẽ dẫn đến sự phân bố và sử dụng các nguồn lực không hợp lý, vì lợi ích kinh tế cá nhân, cục bộ mà chà đạp lên lợi ích chung, phá hoại môi sinh, gây ô nhiễm môi trường, phân hoá giàu nghèo ngày một lớn, bất công trong xã hội ngày một tăng, v.v gây rối loạn nhiều mặt trong đời sống cộng đồng, xã hội Trong những biểu hiện trên, biểu hiện có tác động sâu sắc và toàn diện đến môi trường chung là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội ngày một gay gắt Chỉ riêng cơ chế thị trường - “bàn tay vô hình” không thể khắc phục được mâu thuẫn này, mà đòi hỏi phải có bàn tay nhà nước Chính từ nhu cầu này của nền kinh tế nói chung và của cơ chế thị trường nói riêng mà mọi nhà nước đều có chức năng đảm bảo về mặt chính trị
và xã hội, nhằm duy trì quan hệ lợi ích giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội trong khuôn khổ của quan hệ sản xuất thống trị và bảo vệ được quyền lợi, địa vị của giai cấp thống trị Chỉ có trên cơ sở ấy mới có bầu không khí chính trị và môi trường kinh tế, xã hội ổn định, tạo điều kiện cho cơ chế thị trường vận động với cơ cấu và các quan hệ kinh tế dựa trên trình độ phát triển của nền sản xuất đạt được của mỗi bước
- Thứ tư, xu hướng hoà nhập nền kinh tế của các nước vào thị trường thế giới
ngày một tăng, những diễn biến kinh tế trong từng nước và giữa các nước gây ảnh hưởng rõ rệt đến lợi ích của nhau, chi phối lẫn nhau (chẳng hạn cơn bão khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra năm 1997-1998 đã tác động lên hầu hết các nước trong khu vực và thế giới) Việc ngăn ngừa hay khắc phục những ảnh hưởng bất lợi cũng như việc khai thác và sử dụng những tác động có lợi đòi hỏi phải có vai trò của nhà nước Một tổ chức, một doanh nghiệp dù quy mô to lớn đến đâu cũng không thể thay thế được vai trò của nhà nước trong việc điều tiết toàn bộ nền kinh tế Chỉ có nhà nước cần
và có điều kiện thực hiện được vai trò này bởi trong quan hệ quốc tế, nhà nước là chủ thể của nền kinh tế độc lập, có chủ quyền, có lợi ích kinh tế tách biệt, nhà nước lại nắm trong tay những tiềm lực kinh tế, quốc phòng quan trọng của đất nước Để bảo vệ lợi ích quốc gia trong đó có lợi ích giai cấp, nhà nước của mỗi nước phải trực tiếp tác động đến những quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm khống chế những hoạt động bất lợi và
Trang 19phát huy những hoạt động có lợi cho nền kinh tế của nước mình, tạo ra các mối quan
hệ kinh tế có lợi trong khu vực và quốc tế Như vậy, không chỉ quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong nước mà quan hệ lợi ích giữa các nước cũng đặt ra những vấn đề đòi hỏi phải tăng cường vai trò, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước
về kinh tế
- Thứ năm, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế không chỉ ở sự điều tiết, khống
chế, định hướng thông qua các công cụ pháp luật và các đòn bẩy kinh tế, mà còn bằng thực lực kinh tế của nhà nước - tức sức mạnh của hệ thống kinh tế nhà nước và các công cụ kinh tế đặc biệt khác Kinh nghiệm thực tế của các nước đã chỉ ra rằng việc củng cố và tăng cường sức mạnh kinh tế của nhà nước nói chung, của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng trong các ngành và lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân vừa là công cụ quản lý, vừa là lực lượng kinh tế trực tiếp để nhà nước tham gia hình thành, mở rộng quan hệ thị trường
Tóm lại, việc khắc phục những nhược điểm, hạn chế và khuyết tật của cơ chế
thị trường, để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ chế này hoạt động có hiệu quả không thể không có nhà nước với tư cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Như vậy, nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan nội tại của nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, còn việc điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt động kinh tế của các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phương hướng và mục tiêu nào điều đó phụ thuộc vào bản chất của các hình thức nhà nước và con đường phát triển mà nước đó lựa chọn
* Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế
Phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động
có chủ đích của nhà nước đến nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó
để thực hiện các mục tiêu nhất định Phương pháp quản lý có ảnh hưởng quan trọng đến sự thành công hay thất bại của các hoạt động quản lý, các phương pháp quản lý thích hợp sẽ có tác dụng khơi dậy những động lực, kích thích tính năng động, sáng tạo của con người, khai thác triệt để mọi tiềm năng của hệ thống, tạo môi trường để tận dụng triệt để các cơ hội và hạn chế tối đa các tác động tiêu cực từ bên ngoài
Các phương pháp chủ yếu mà Nhà nước ta có thể sử dụng để quản lý nền kinh
Trang 20Thứ nhất, phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua các quyết định có tính bắt buộc lên đối tượng quản lý
Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước về kinh
tế là tính bắt buộc, tính quyền lực.Tính bắt buộc và tính quyền lực được thể hiện thông qua hệ thống luật pháp và được thể chế hoá thành các nghị định, nghị quyết, văn bản… buộc các tổ chức cũng như mọi người phải tuân theo và thực hiện một cách nghiêm minh Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản
lý nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng với thẩm quyền của mình Thực chất của phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế là sử dụng quyền lực nhà nước để tạo ra sự phục tùng của các cá nhân và tổ chức trong hoạt động và quản lý kinh tế
Vai trò của phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế rất to lớn, nhất là trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế như ở nước ta hiện nay Nó xác lập trật tự, kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống, cho phép giải quyết các vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng
Thứ hai, phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên những lợi ích có tính hướng dẫn lên đối tượng quản
lý, nhằm làm cho họ quan tâm tới kết quả cuối cùng của các hoạt động kinh tế, từ đó tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không cần phải có sự tác động thường xuyên của Nhà nước bằng các mệnh lệnh hành chính
Nhà nước thông qua cơ chế, chính sách, công cụ và biện pháp kinh tế mà tác động đến các lợi ích của chính Nhà nước, của doanh nghiệp và của mọi người dân Sự tác động này nhằm giải quyết hài hoà giữa các loại lợi ích, tạo điều kiện thúc đẩy kinh
tế, xã hội phát triển
Phương pháp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của đối tượng quản
lý, chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế cho nên tác động rất nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người lao động và các tổ chức
Trang 21Thứ ba, phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng quản lý nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế vì đối tượng quản
lý là con người - một thực thể năng động và là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội
Do đó, để tác động lên con người không chỉ dùng các biện pháp hành chính, kinh tế,
mà còn tác động lên tinh thần, tâm lý - xã hội…
Phương pháp giáo dục có thể được thực hiện thông qua các hình thức như: sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng (sách, báo, đài phát thanh, truyền hình…), thông qua các đoàn thể và các hoạt động có tính xã hội như: giáo dục các trường hợp
cá biệt, sử dụng các hội nghị tổng kết, hội thi tay nghề, hội chợ, triển lãm, giới thiệu các tấm gương điển hình,…
*Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế
Trên thực tế, đôi khi từ chức năng và nhiệm vụ được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng thực ra nội dung của hai từ này khác nhau về cơ bản Nhiệm vụ là “công việc
phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định”, còn chức năng là “tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái gì đó” Như
vậy, chức năng cần được xem là một khái niệm bao trùm hơn, là nhiệm vụ tổng quát, thể hiện bản chất của một hệ thống, một tổ chức; nó phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác Theo nghĩa này, chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế chính là những đặc trưng riêng có của quyền lực nhà nước trong việc tác động có lựa chọn vào nền kinh tế theo các mục tiêu trong từng giai đoạn Nội dung của các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế không phải là một khái niệm tĩnh, mà là một khái niệm động, những nội dung này có thể biến đổi khi môi trường chính trị, kinh tế và xã hội thay đổi
Đối với nước ta hiện nay đang ở giai đoạn đầu của quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì xu hướng là Nhà nước ngày càng phải thoát ly khỏi các hoạt động kinh doanh, nhưng vai trò và hiệu quả quản lý kinh tế của
Trang 22trường hoạt động hiệu quả, mà còn phải sử dụng kinh tế thị trường phục vụ cho mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Điều này đòi hỏi Nhà nước phải làm tốt vai trò quản lý nền kinh tế, thể hiện qua các chức năng sau:
- Định hướng phát triển kinh tế đất nước thông qua các chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội
- Cung ứng hàng hoá công cộng, những hàng hoá và dịch vụ mà thị trường không cung ứng hay cung ứng không đầy đủ, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội Đây là chức năng cơ bản nhất của nhà nước trong các nền kinh tế thị trường nói chung, đặc biệt đối với Việt Nam nơi mà cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội được đánh giá
là bị tụt hậu so với mức trung bình của các nước có thu nhập thấp Đầu tư của Nhà nước vào kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội có cả ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đến tăng trưởng Ảnh hưởng tiêu cực phát sinh do tình trạng lấn át tiết kiệm và đầu tư tư nhân thông qua việc thu thuế hay vay tiền trên thị trường vốn trong nước để tài trợ cho đầu tư vào kết cấu hạ tầng công cộng
- Cung cấp các dịch vụ xã hội là một trách nhiệm tối cao khác của Nhà nước, Nhà nước cần tăng chi tiêu cho giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác; đồng thời phải đảm bảo mọi người được bình đẳng trong việc tiếp cận với các dịch vụ đó Nhà nước cần tham gia cung ứng các dịch vụ này do các dịch vụ này có ngoại ứng tích cực, tức là có lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích cá nhân và do đó khu vực tư nhân không cung cấp đầy đủ
Theo chúng tôi, Nhà nước cần khai thông tiềm năng của khu vực tư nhân, không phải với tư cách là một nguồn thay thế, mà là một nguồn bổ sung cho Nhà nước trong việc cung ứng kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã hội Khu vực tư nhân có thể
đóng góp theo hai cách: Thứ nhất, tư nhân có thể tham gia trực tiếp vào cung ứng dịch
vụ kết cấu hạ tầng để Nhà nước rảnh tay tập trung vào những hoạt động có lợi thế so
sánh; thứ hai, khu vực tư nhân có thể đóng góp gián tiếp vào việc cung ứng kết cấu hạ
tầng thông qua việc đóng thuế và Nhà nước sẽ phải dành một tỷ lệ lớn hơn trong ngân sách để đầu tư vào kết cấu hạ tầng và cung ứng các dịch vụ xã hội
- Cung cấp một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc, không chỉ là một hệ thống luật lệ và quy định, mà còn bao hàm các thiết chế cần thiết để thực hiện và cưỡng chế việc thi hành pháp luật và giải quyết tranh chấp, bao
Trang 23gồm toà án và các cơ quan cưỡng chế thi hành luật Trong các nền kinh tế thị trường, phần lớn các giao dịch được dựa trên các hợp đồng, khi những luật lệ quy định quyền
sở hữu được rõ ràng và cơ chế cưỡng bức thi hành luật vận hành tốt thì chi phí hoạt động kinh doanh thấp hơn và thị trường vận hành hiệu quả hơn
- Chính phủ phải quan tâm đúng mức đến việc xoá đói giảm nghèo và cải tạo môi trường; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường và cân bằng sinh thái để đảm bảo kinh tế phát triển bền vững Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội để đảm bảo cho cả cộng đồng đều được lợi từ thành tựu phát triển chung của nền kinh tế, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân cùng tham gia phát triển kinh tế
- Đảm bảo một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, chỉ trên cơ sở một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định và có thể dự đoán được, thì các tổ chức kinh tế và gia đình mới yên tâm đầu tư tiết kiệm dài hạn của mình vào thị trường tài chính chính thức
và các doanh nghiệp không lo ngại khi đầu tư vào các dự án có thời gian thu hồi vốn dài
- Kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế, nội dung công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước chủ yếu hướng vào việc thực hiện luật pháp, cơ chế chính sách của Nhà nước Mục tiêu của công tác kiểm tra, giám sát là nhằm đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế theo đúng quỹ đạo đã định; đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, bất cập của các chính sách đã ban hành để có những điều chỉnh kịp thời
Trong trường hợp một nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường như Việt Nam, thị trường có thể hoạt động không hiệu quả bởi các rào cản do các chính sách của Nhà nước tạo ra Khi đó, trước hết Nhà nước cần loại bỏ rào cản làm méo mó thị trường thông qua thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó có cả kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp, tạo ra một môi trường khuyến khích cạnh tranh và một sân chơi bình đẳng cho mọi cá nhân, tổ chức không phân biệt thành phần kinh tế và hình thức sở hữu trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển, lựa chọn việc làm và tham gia vào các hoạt động kinh doanh
Trong bối cảnh Việt Nam chủ động mở cửa để hội nhập vào nền kinh tế khu
Trang 24tế theo tư duy phát triển đó Nếu coi việc tìm kiếm cơ chế nhằm phát huy các nguồn lực của xã hội để chúng được sử dụng một cách hiệu quả là quan trọng, thì không nên mất công tranh luận nhiều về một số phạm trù kinh tế dễ gây nhiều lầm lẫn về tiếp cận phát triển trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Mọi sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước nếu đóng góp tích cực vào thực hiện
mục tiêu phát triển theo đúng định hướng chung, không chệch khỏi quỹ đạo “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” cần được coi là thành công của
quản lý nhà nước về kinh tế Việc tiếp cận bản chất của cổ phần hoá, của vai trò chủ đạo của sở hữu nhà nước, của việc xác định thế nào là kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế
tư nhân, kinh tế dân doanh… đều nên nhìn ở sự đóng góp vào tăng trưởng, khả năng tạo việc làm mới Nếu chúng thoả mãn được hai điều kiện trên thì cần phải tạo các điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển
* Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế
- Xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Toàn bộ sự phát triển kinh tế của đất nước nhanh hay chậm, đúng hướng hay chệch hướng, hiệu quả kinh tế cao hay thấp phụ thuộc vào đường lối, chủ trương phát triển kinh tế do bộ máy quyền lực đưa ra Đặc biệt khi sử dụng cơ chế thị trường, vấn đề lựa chọn quyết sách lại càng khó khăn, phức tạp Ở đây, đòi hỏi phải phân tích tình hình thị trường, xác định mục tiêu phát triển, lựa chọn phương án tối ưu Mấu chốt của sự thành công là ở chỗ phải xác định được một chiến lược phát triển đúng đắn, có căn cứ khoa học
- Kế hoạch cũng là một trong những nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, nó là
sự triển khai và cụ thể hoá quyết định chiến lược Muốn có những quyết định mang lại hiệu quả cần phải có các dự báo khoa học, những dự báo này là những tiền đề không thể thiếu của quyết định chiến lược cũng như của các kế hoạch
- Tổ chức là một nội dung quản lý quan trọng nhằm đảm bảo điều kiện thực hiện các kế hoạch đã định Tổ chức một cách khoa học là gắn kết một cách hữu cơ các yếu tố hoạt động sản xuất kinh doanh, các bộ phận, các khâu, các mặt của nền sản xuất
xã hội nhằm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành hài hoà và có trật tự Do
đó, cần bố trí hợp lý, xác định rõ chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức
Trang 25- Điều hoà, phối hợp: Trong quá trình thực hiện kế hoạch, Nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch, so sánh giữa các mục tiêu, kế hoạch với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế Phát hiện sự yếu kém, phân tích nguyên nhân, đưa ra và áp dụng các giải pháp nhằm loại bỏ các yếu kém trong các hoạt động kinh tế Ngoài ra, Nhà nước còn có thể khuyến khích bằng lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, có các hình thức thưởng phạt từ đó tạo động lực cho các hoạt động trong sản xuất kinh doanh trong xã hội
* Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế
Công cụ quản lý nói chung là tất cả phương tiện mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Chính nhờ các công
cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn các quyết định quản lý mà Nhà nước truyền tải được ý định và ý chí của mình lên mọi tổ chức và cá nhân tham gia vào các hoạt động kinh tế Các công cụ chủ yếu mà Nhà nước có thể sử dụng để quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm: hệ thống pháp luật, kế hoạch hoá và các chính sách kinh tế
- Hệ thống pháp luật
Pháp luật thường được hiểu là hệ thống các quy tắc ứng xử có tính chất bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm bảo toàn và phát triển xã hội theo các định hướng đã định
Hệ thống văn bản pháp luật trong quản lý nhà nước về kinh tế bao gồm những văn bản pháp luật do các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế ban hành và các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực và các cơ quan khác của Nhà nước ban hành Trong thực tế, có hai loại văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế
là văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, gồm: luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, nghị quyết, thông tư, chỉ thị,… được ban hành bởi cơ quan nhà nước trung ương và địa phương
- Kế hoạch hoá
Kế hoạch theo nghĩa hẹp là phương án hành động trong tương lai; theo nghĩa rộng là quá trình xây dựng, quán triệt, chấp hành và giám sát, kiểm tra việc thực hiện phương án hành động trong tương lai Với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế của
Trang 26+ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội có giá trị định hướng dài hạn cho
những vấn đề quan trọng nhất của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những định hướng này trực tiếp chỉ đạo các công tác quản lý, điều hành của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp để tác động vào nền kinh tế theo các hướng đã định trong chiến lược Sự phát triển kinh tế của đất nước nhanh hay chậm, đúng hướng hay chệch hướng… phụ thuộc trước hết vào đường lối, chủ trương phát triển kinh tế tầm chiến lược quốc gia Đặc biệt, khi sử dụng cơ chế thị trường, vấn đề lựa chọn quyết sách lại càng quan trọng Ở đây, đòi hỏi phải phân tích tình hình thị trường, xác định mục tiêu phát triển, lựa chọn phương án tối ưu Muốn vậy, vấn đề cơ bản đặt ra là phải xác định được một chiến lược phát triển đúng, có căn cứ khoa học
+ Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội là sự cụ thể hoá chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội Nó là một tập hợp các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực tương ứng để thực hiện các mục tiêu
+ Kế hoạch trung hạn (kế hoạch 3 năm - 5 năm) là phương tiện chủ yếu để cụ
thể hoá các mục tiêu và các giải pháp đã lựa chọn trong chiến lược
+ Kế hoạch hằng năm là sự cụ thể hoá của kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của kế hoạch trung hạn
+ Chương trình được sử dụng rất phổ biến để xác định một cách đồng bộ các
mục tiêu cần đạt, các bước công việc phải tiến hành, các nguồn lực cần huy động để thực hiện một ý đồ nào đó
+ Dự án là tổng thể các hoạt động, các nguồn lực và các chi phí được bố trí
chặt chẽ theo thời gian và không gian nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội
cụ thể
* Các chính sách kinh tế
Các chính sách kinh tế chủ yếu mà Nhà nước có thể sử dụng để quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm: chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách thu nhập, chính sách thương mại quốc tế, chính sách chống độc quyền và khuyến khích cạnh tranh, chính sách khoa học
và công nghệ,…
- Chính sách tài khoá:
Trang 27Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách tài khoá
có một vai trò quan trọng đặc biệt Nó là một công cụ then chốt để ổn định nền kinh tế trong ngắn hạn, thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn và góp phần thực hiện công bằng
xã hội
- Chính sách tiền tệ:
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng và là ngân hàng trung ương của Việt Nam có chức năng điều hành chính sách tiền tệ trong cơ chế thị trường Luật về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 12-1997 khẳng định: “Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
và nâng cao đời sống của nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động ngân hàng; bảo đảm vai trò chủ đạo và chủ lực của các tổ chức tín dụng nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia; mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
- Chính sách tỷ giá hối đoái:
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách tỷ giá cần được xem xét riêng như một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng nhất do nó có ảnh hưởng sâu, rộng đến nền kinh tế Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tới giá cả, xuất khẩu, nhập khẩu và dòng luân chuyển vốn quốc tế
Là một công cụ điều tiết vĩ mô, chính sách tỷ giá hướng tới các mục tiêu chung
là đảm bảo ổn định kinh tế trong ngắn hạn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách tỷ giá ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế đối ngoại
Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách tỷ giá có thể được sử dụng để hướng tới những mục tiêu như: khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, tạo ra môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, tăng cường nguồn dự trữ ngoại tệ của Nhà nước…
Trang 28Chính sách thu nhập bao gồm các công cụ như: quy định mức lương tối thiểu, chỉ số hoá tiền lương, thuế thu nhập, cho đến các khoản trợ cấp xã hội Rõ ràng, chính sách thu nhập có phần giao với chính sách tài khoá và do vậy, có tác động đến tổng cầu
- Chính sách thương mại quốc tế:
Thương mại tự do cho phép các nước chuyên môn hoá trong việc sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế so sánh và nhập khẩu các mặt hàng không có lợi thế
so sánh, tạo ra khả năng là mọi nước đều có thể tiêu dùng nhiều hàng hoá hơn so với khi không có thương mại tự do Ngoài ra, thương mại tự do còn làm phong phú thêm chủng loại hàng hoá cho người tiêu dùng, cho phép các doanh nghiệp tận dụng hiệu quả kinh tế quy mô, làm cho thị trường có tính cạnh tranh hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho sự truyền bá công nghệ
- Chính sách khoa học và công nghệ:
Mặc dù phần lớn tiến bộ về công nghệ bắt nguồn từ các công ty và nhà sáng chế độc quyền, nhưng Nhà nước cũng rất quan tâm đến việc thúc đẩy những nỗ lực này Nói
rộng ra, tri thức là một hàng hoá công cộng: Khi một người phát kiến ra ý tưởng mới, thì
ý tưởng đó không chỉ là sở hữu riêng mà đồng thời thuộc về kho tàng tri thức của xã hội
và mọi người có thể tự do sử dụng nó Vì Chính phủ có vai trò trong việc cung cấp các hàng hoá công cộng, nên cũng có vai trò thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ mới Chính phủ Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường, khuyến khích tiếp thu, phát triển và sử dụng tri thức khoa học và công nghệ Chính phủ liên tục khuyến khích tiến bộ trong lĩnh vực nghiên cứu bằng cách tài trợ cho các trường đại học và các viện nghiên cứu cũng như ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động nghiên cứu và triển khai
1.2.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
1.2.2.1 Khái niệm
Trong các công trình khoa học ở nước ta gần đây, khi nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, cũng như trong nhiều nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước có nói nhiều đến thuật ngữ này, song cho đến nay vẫn chưa
có một khái niệm chính thức nào được đưa ra Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu các văn
Trang 29bản pháp luật của Nhà nước, các công trình khoa học, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước như sau:
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là phương thức tác động của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, các quy định, cách thức, phương tiện để doanh nghiệp nhà nước hoạt động, thực hiện theo các mục tiêu kinh tế – xã hội mà Nhà nước đề ra
1.2.2.2 Quy định và cách thức tác động
Quy định về quyền sở hữu, quản lý tài sản, quyền quyết định sản xuất kinh doanh, định giá sản phẩm và dịch vụ; quyền mua vật tư; quyền xuất nhập khẩu; quyền quyết định đầu tư, chi phối vốn được giữ lại doanh nghiệp, xử lý tài sản, sáp nhập; quyền quản lý nhân sự, bố trí cơ cấu tổ chức, sử dụng và thuê lao động; quyền quản lý
về tiền lương, phân phối lợi nhuận…
1.2.2.3 Các phương thức tác động của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
- Nhà nước tác động trực tiếp thông qua hình thức đầu tư, quản lý nhân sự, các chiến lược phát triển, các chương trình phát triển kinh tế xã hội, các quyết định hành chính như: thành lập, sáp nhập, phá sản, giải thể…, ngoài ra còn thanh tra, giám sát, phối hợp - điều hoà…
- Nhà nước tác động gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, các định hướng phát triển chung của nền kinh tế ,…
1.2.2.4 Các phương tiện tác động của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
- Hệ thống luật pháp: luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật phá sản…;
- Các kế hoạch;
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát…;
- Chính sách kinh tế: Chính sách chống độc quyền, tự do cạnh tranh; chính sách thuế, tín dụng, lãi suất…
Như vậy, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế Trong quá trình nghiên cứu và quản lý, chúng ta cần phân biệt các khái niệm về quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà
Trang 30Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là quản lý vĩ mô, để thực hiện được chức năng đó, Nhà nước cần có một cơ chế quản lý thích ứng nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động Nhà nước quản lý các doanh nghiệp nhà nước bằng các công cụ (như đã được trình bày ở phần trên), để thực hiện được điều đó Nhà nước phải có bộ máy quản lý mạnh, hoạt động có hiệu quả
Quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc chức năng quản lý vi
mô, quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước là toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhà nước với tư cách là thực thể kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân hoạt động theo luật, là sự phối hợp và tác động có kế hoạch và có tổ chức giữa các bộ phận quản lý, sản xuất để tạo ra của cải vật chất vì mục tiêu lợi nhuận hoặc vì mục tiêu phục vụ công cộng cho xã hội
Quản lý vĩ mô của Nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhà nước
Trang 31Tiêu chí
phân định
Quản lý vĩ mô của
Chủ thể
quản lý
Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, chính quyền địa phương…)
Bộ máy quản lý doanh nghiệp nhà nước (Hội đồng quản trị, chủ tịch công ty, tổng giám đốc, giám đốc, các phòng ban…)
Nội dung
và phương
thức quản
lý
- Quản lý vĩ mô nền kinh
tế nói chung thông qua quy hoạch, kế hoạch…
-Ban hành hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế…
- Quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể, các phương hướng , định hướng lớn
- Tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh…
- Thực hiện quyền tự chủ kinh doanh theo quy định của pháp luật và mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước đề ra
- Xây dựng kế hoạch trong sản xuất kinh doanh
- Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, xác định rõ trách nhiệm của các bộ phận quản lý
- Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp
- Được quyền sử dụng, quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp
- Làm nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định
Nguồn chi
phí quản lý Chi từ ngân sách nhà nước
Ngân sách, vốn tự có, vốn liên doanh, liên kết, phân bổ vào giá thành của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
Trang 32Tóm lại, việc đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà
nước là đổi mới phương thức tác động của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, từ một nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước là đổi mới các quy định, phương tiện, cách thức tác động vào doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả Điều đó cũng phù hợp với bối cảnh mới khi mà Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, đặc bịêt khi Việt Nam đã trở thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc quản lý doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập
1.3.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển
Trong những thập niên gần đây, trào lưu cải cách quản lý doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản chủ nghĩa được bắt đầu ở Anh, với chiến dịch tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả vào cuối năm 1970 Tiếp đến một số nước khác ở phương Tây như: Pháp, Italia, Tây Ban Nha…cũng tiến hành tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả Gần đây hơn, cải cách doanh nghiệp nhà nước đã trở thành một trào lưu rộng lớn Các nước tiến hành cải cách doanh nghiệp nhà nước đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, có thể khái quát thành những phương pháp cơ bản như sau:
Thứ nhất, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước, chẳng hạn như bán, tư
nhân hoá, cổ phần hoá hoặc nếu cần thì giải thể doanh nghiệp
Thứ hai, cải thiện môi trường cạnh tranh để cho các doanh nghiệp nhà nước
cạnh tranh một cách bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động
Thứ ba, áp dụng giới hạn ngân sách cứng, chẳng hạn cắt giảm bao cấp qua ngân
sách hoặc tín dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước, buộc các doanh nghiệp nhà nước phải tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ tư, cải thiện khu vực tài chính, ngân hàng, cắt giảm việc bao cấp qua hệ
thống ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhà nước
Trang 33Trên thực tế, việc tổ chức cải cách các doanh nghiệp nhà nước ở các nước phát triển diễn ra không hề đơn giản vì hầu hết chính phủ của các nước phát triển phải đương đầu với không ít khó khăn Chẳng hạn, việc chuyển đổi sở hữu hoặc cải tổ bộ máy đã làm cho nhiều người thiệt thòi, các nhà quản lý vốn đã quen với việc được hưởng các đặc quyền đặc lợi, ít quan tâm đến kinh doanh, giờ đây họ phải đối mặt với với sự cạnh tranh gay gắt- họ có thể bị sa thải sau khi cải cách Chính vì vậy, đa số các nhà quản lý các doanh nghiệp nhà nước đều không ủng hộ cải cách
Mặt khác, phần lớn doanh nghiệp nhà nước ở các nước phát triển cũng sử dụng lao động không có hiệu quả và tình trạng dư thừa lao động, khi cải cách tất yếu sẽ có một bộ phận không nhỏ công nhân bị sa thải- họ chính là lực lượng chống đối quyết liệt quá trình cải cách Như vậy, từ thực tiễn cải tổ doanh nghiệp nhà nước ở các nước phát triển, Việt nam có thể rút ra được rất nhiều bài học có giá trị tham khảo bổ ích
1.3.2 Kinh nghiệm của các nước ASEAN
Khác với các nước phát triển ở châu Âu, các nước ASEAN mới giành được độc lập từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay Vào những năm giữa thế kỷ XX, các nước này đã phát triển ồ ạt doanh nghiệp nhà nước ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mà không nhận thức được những hạn chế của loại hình doanh nghiệp này Bước sang những năm cuối của thập niên 70 trở lại đây, các nước ASEAN đã điều chỉnh bằng nhiều biện pháp tư nhân hoá, cổ phần hoá, liên doanh với nước ngoài để thực hiện quá trình cải cách, sắp xếp lại việc phát triển các doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với chiến lược điều chỉnh cơ cấu kinh tế của các quốc gia Nhờ đó tạo ra sự tăng trưởng
"thần kỳ" của nền kinh tế các nước trên trong những thập niên 70 - 80 Những bài học kinh nghiệm của các nước ASEAN có thể nêu ra là:
Thứ nhất, phải có cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc cải cách doanh
nghiệp nhà nước nhằm cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước phù hợp với xu thế thời đại
và bối cảnh hội nhập với thị trường thế giới
Thứ hai, phải có sự quyết tâm cao của chính phủ và tính kiên quyết của các cơ
quan có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước
Thứ ba, phải có sự thông hiểu, ủng hộ của dư luận xã hội và người lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước
Trang 34Thứ tư, cải cách thể chế quản lý tạo cơ sở pháp lý ổn định và thuận tiện cho việc
chuyển đổi mô hình doanh nghiệp nhà nước sang các loại hình khác như cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê, liên doanh nước ngoài và tư nhân hoá
1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.3.3.1 Cơ cấu và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước
Trung Quốc tiến hành cải cách doanh nghiệp nhà nước đã gần 30 năm nay, nhưng theo các chuyên gia, thì công việc này mới khởi sắc từ vài năm trở lại đây, nhất
là khi nước này tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Khoảng 1/3 số doanh nghiệp nhà nước trong tổng số 238.000 doanh nghiệp thống kê được trước năm 1998 làm ăn thua lỗ và phần lớn số còn lại làm ăn không có hiệu quả Vì vậy, gần đây, Trung Quốc đã chủ động cho phá sản đối với 50% số doanh nghiệp có quy mô lớn nhưng làm ăn thua lỗ Loại này được gọi là phá sản theo chính sách Đối với các doanh nghiệp nhà nước còn lại, thực hiện phá sản theo Luật Phá sản Biện pháp này đã làm cho 25-30 triệu người mất việc làm, nhưng theo thống kê, 60% số người bị mất việc này đã được tuyển dụng lại Về phía doanh nghiệp, tổng tài sản và tổng tài sản ròng (không gồm doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực tài chính) đã tăng 68% trong vòng
5 năm 1998-2003 Từ năm 1993, Trung Quốc đã thực hiện chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo hình thức công ty
Bước ngoặt trong cải cách doanh nghiệp của Trung Quốc là việc từ bỏ chính sách “giản chính, nhượng quyền” và “giản thuế, nhượng lợi”, và theo đó là một tư duy
và chủ trương chính sách hoàn toàn mới Đó là thông qua sáng tạo mới về chế độ doanh nghiệp tận dụng đặc điểm tách rời quyền sở hữu với quyền kinh doanh của chế
độ công ty, làm cho tiền vốn sở hữu nhà nước bỏ vào doanh nghiệp vừa giữ được quyền sở hữu cuối cùng vẫn của Nhà nước, vừa làm cho doanh nghiệp trở thành chủ thể độc lập của thị trường [6; tr.148-149]
Thực hiện chủ trương nói trên, bốn mặt của một vấn đề đã được giải quyết:
Thứ nhất, Chính phủ từ chỗ là người sở hữu doanh nghiệp nhà nước chuyển
sang thành người nắm giữ tiền vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp, và làm đồng vốn đầu tư đó trở nên có tính lưu chuyển được
Thứ hai, đồng vốn của Nhà nước từ chỗ đầu tư vào tất cả các lĩnh vực của
nền kinh tế chuyển sang tập trung vào những lĩnh vực, ngành, nghề mà Nhà nước
Trang 35cần phải kiểm soát; và giảm bớt số doanh nghiệp có phần góp vốn chi phí của nhà nước
Thứ ba, xây dựng thể chế đại diện uỷ quyền chủ sở hữu phù hợp với kinh tế thị
trường và đảm bảo hiệu lực của mối quan hệ đại diện uỷ quyền đó
Thứ tư, doanh nghiệp nhà nước phải được “công ty hoá”, chuyển sang quản lý
và hoạt động theo chế độ công ty; tách quyền sở hữu của Nhà nước với quyền kinh doanh của doanh nghiệp Người đại diện sở hữu nhà nước có quyền nắm cổ phần, chịu trách nhiệm hữu hạn
Chủ trương cải cách doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc về cơ bản là “cơ cấu và sắp xếp lại” khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng thu hẹp phạm vi, giảm
số lượng và tập trung dần vào những lĩnh vực, ngành, nghề quan trọng của nền kinh tế
và cơ cấu lại quản lý nội bộ doanh nghiệp theo chế độ công ty phù hợp với cơ chế thị trường Về nội dung thứ 2, nội dung chủ yếu tập trung vào “ba tách”: (1) tách nhà nước với doanh nghiệp; (2) tách chức năng sở hữu với chức năng quản lý hành chính của nhà nước; (3) tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh
“Cho đến cuối năm 2002, Trung Quốc vẫn còn hơn 181.000 doanh nghiệp nhà nước với tổng giá trị tài sản gần 12 nghìn tỷ nhân dân tệ, trong đó doanh nghiệp nhà nước trung ương có 5,6 nghìn tỷ (48%) và doanh nghiệp địa phương có 6,2 nghìn tỷ (52%)” [6; tr.150]
Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, tốc độ cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước diễn ra vẫn rất chậm và chiến lược cải cách doanh nghiệp nhà nước đang được đề xuất với bốn nội dung sau đây:
Một là, phá độc quyền với một số ngành truyền thống và phá độc quyền tự
nhiên Trọng tâm là các ngành viễn thông, năng lượng, đường sắt, bưu điện, cung cấp nước và truyền thông Tháng 2/2005, Trung Quốc đã ban hành 36 điều khuyến khích khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tham gia xây dựng hạ tầng, dịch vụ công và các khu vực, lĩnh vực khác Bước tiếp theo sẽ xây dựng một danh mục các ngành khuyến khích
sự tham gia của khu vực tư nhân nhằm phá dần các ngành đang có thế độc quyền Cụ thể là mới đây đã có một công ty tư nhân được phép tham gia kinh doanh hàng không
Trang 36Hai là, cải cách hệ thống quyền sở hữu tài sản và quản lý công ty Trọng tâm
chính của cải cách sắp tới là đa dạng hoá hình thức sở hữu doanh nghiệp bằng cách đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhất là các doanh nghiệp lớn
Ba là, cải cách hệ thống giám sát tài sản thuộc sở hữu nhà nước với ba cách tiếp
cận là “tách ngang”, “tách dọc” và “tách bạch giữa sở hữu và hoạt động” “Tách ngang” liên quan trực tiếp đến chức năng của Chính phủ và Chính phủ thiết lập một cơ quan quản lý và giám sát tài sản nhà nước độc lập “Tách dọc” là tách bạch giữa lợi ích và quyền của chính quyền trung ương và địa phương, với tiêu chí mới là cả hai cấp cùng được hưởng lợi của chủ sở hữu tương ứng với phần đại diện của từng bên Còn “tách bạch” giữa sở hữu và hoạt động đòi hỏi không có sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chức năng chủ sở hữu vào hoạt động của doanh nghiệp
Bốn là, thực hiện phá sản doanh nghiệp nhà nước theo luật định dựa vào kinh
nghiệm rút ra từ cách tiếp cận phá sản theo chính sách
Tiếp tục cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Thông qua cổ phần hoá, dùng
vốn quốc hữu để thu hút vốn của xã hội, nền kinh tế quốc dân hình thành các xí nghiệp
cổ phần trong đó vốn quốc hữu chiếm tỉ lệ khống chế, một mặt đã tăng được vốn của các xí nghiệp, đồng thời cũng tăng thêm được số thành viên độc lập tham gia hội đồng quản trị, tăng thêm số cổ đông nhỏ tham gia hội đồng cổ đông, làm cho quyết sách của
xí nghiệp được hình thành từ kết cấu đa nguyên theo chiều ngang, giảm thiểu các quyết sách sai lầm và quản lý hỗn loạn Các xí nghiệp lớn và vừa hầu hết xây dựng chế
độ xí nghiệp hiện đại, công ty hoá theo kinh tế thị trường
“Tính đến cuối năm 2003, Trung Quốc có 1.278 công ty niêm yết cổ phiếu ra thị trường, đã thu hút được 642,8 tỷ NDT; tổng giá trị cổ phiếu lưu thông trên sàn giao dịch Thâm Quyến và Thượng Hải đã đạt đến 1.317,8 tỷ NDT Thị trường cổ phiếu phát triển và các công ty niêm yết giá cổ phiếu ra thị trường đã có tác dụng nhất định với vấn đề giải quyết vốn của các xí nghiệp Tỉ lệ nợ phải trả của các công ty có bán cổ phần nói chung là đã hạ xuống, hiệu quả kinh doanh được nâng cao” [6; tr.152]
Hiện nay, Trung Quốc đặc biệt chú trọng biện pháp cho phá sản doanh nghiệp nhà nước và chống thất thoát tài sản nhà nước trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước
Trang 37Theo báo cáo của Chủ nhiệm Uỷ ban Quản lý tài sản nhà nước Trung Quốc Lý Vinh Dung: “Tháng 5/2005 có 1.828 doanh nghiệp vừa và lớn của Nhà nước làm ăn thua lỗ, chờ phá sản Năm 2004, thất thoát trong quá trình cải cách doanh nghiệp ở Trung Quốc đã lên đến 317,8 tỷ NDT Về tổng thể, 1.828 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước chờ phá sản nói trên đã chìm trong nợ nần, riêng năm 2003 đã thua lỗ 15
tỷ NDT; và tổng số tiền thua lỗ của các doanh nghiệp này tính đến cuối năm 2005 là 122,1 tỷ NDT Tình trạng sản xuất kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp đã khiến đời sống của gần 3 triệu người lao động khốn đốn và khiến các ngân hàng mất
173 tỷ NDT do không đòi được nợ” [6; tr.155 - tr.156]
Để giải quyết vấn đề phá sản của các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ nêu
trên, vừa qua Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn Quy hoạch công tác bốn năm về
đóng cửa, phá sản của doanh nghiệp nhà nước Theo đó, đến hết năm 2008, Trung
Quốc sẽ dần cho phá sản các doanh nghiệp nhà nước yếu kém Đây được coi là bước
quá độ để từ sau năm 2008, Chính phủ sẽ cho ra Luật Phá sản doanh nghiệp và doanh
nghiệp nhà nước sẽ phá sản theo luật mới này Chính phủ Trung Quốc cũng đã thành
lập các tổ điều tra tổng kết kinh nghiệm công tác phá sản, cải cách doanh nghiệp nhà nước 10 năm qua Từ đó đề ra bước đi thích hợp cho công tác này trong thời gian tới
Đồng thời, cũng thành lập các tiểu tổ công tác phụ trách vấn đề tìm lại việc làm cho
công nhân thất nghiệp khi doanh nghiệp nhà nước phá sản Trong 10 năm qua, Chính
phủ Trung Quốc đã chi tới 49,3 tỷ NDT để giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, sau khi doanh nghiệp nhà nước phá sản
Chính phủ Trung Quốc xác định phải sâu sát tổ chức thực hiện quy hoạch tạm
thời về việc phá sản doanh nghiệp nhà nước, từng bước thực hiện các vấn đề đưa các doanh nghiệp nhà nước đóng cửa, phá sản ra thị trường Chủ nhiệm Uỷ ban Quản lý
tài sản Nhà nước Trung Quốc Lý Vinh Dung kiến nghị, ngoài việc làm tốt chính sách đóng cửa, phá sản các doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ Trung Quốc cần có quy hoạch tổng thể để điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhà nước và có quy hoạch riêng cho từng khu vực, từng ngành; nghiên cứu, có ý kiến chỉ đạo cụ thể về việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước Mặt khác, cần tiếp tục thực thi nhiều biện pháp để cứu sống các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ; tích cực phát triển ý thức tự chủ về quyền sở
Trang 38hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, tăng sức cạnh tranh quốc tế cho các tập đoàn và doanh nghiệp lớn của Nhà nước
Đối với Uỷ ban Quản lý tài sản nhà nước Trung Quốc, năm 2005 được coi là năm quy phạm và cải cách thể chế doanh nghiệp nhà nước Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để tránh thất thoát tài sản, khi cải cách doanh nghiệp nhà nước, với doanh nghiệp lớn, không cho phép giới lãnh đạo được mua doanh nghiệp Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, nếu giới lãnh đạo mua doanh nghiệp, cần làm rõ tình hình thực tế và có sự phụ trách, giám sát của Uỷ ban Quản lý tài sản nhà nước, hoặc cơ quan có trách nhiệm tương đương Nguồn gốc tài chính, lai lịch của người mua doanh nghiệp cũng cần được làm rõ
Cải cách doanh nghiệp nhà nước được coi là mắt xích quan trọng nhất trong cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc Vấn đề này cũng là chủ đề được bàn nhiều nhất tại
kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá X của Trung Quốc, tháng ba năm 2005 Trong báo cáo tại
kỳ họp này, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cũng đã nhấn mạnh: “Cần hoàn thiện phương thức giám sát, quản lý và thể chế quản lý tài sản sở hữu nhà nước, xây dựng chế độ dự báo kinh doanh của kinh tế nhà nước; chống thất thoát tài sản nhà nước và bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người lao động” [6; tr.157]
Ông Lý Vinh Dung Chủ nhiệm Uỷ ban Quản lý tài sản Nhà nước Trung Quốc cho rằng, trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước hiện có bốn lỗ hổng lớn làm thất thoát tài sản:
“Thứ nhất, việc chuyển nhượng quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa
hoàn toàn đưa ra thị trường Nhiều phần tử đã dùng nhiều thủ đoạn để đánh giá thấp tài sản của doanh nghiệp nhà nước khi chuyển nhượng Chẳng hạn, xưởng chế biến trà Hạ Quan của tỉnh Vân Nam, năm 2003 được định giá chuyển nhượng là 3 triệu NDT Nhưng năm 2004, đưa ra đấu giá ở Trung tâm giao dịch chuyển quyền sở hữu, được bán với giá 81 triệu NDT
Thứ hai, công tác quản lý việc chuyển nhượng tài sản của các doanh nghiệp nhà
nước còn nhiều vấn đề nổi cộm Một số doanh nghiệp đã tự chọn cơ quan trung gian định giá tài sản, người kinh doanh vẫn nắm thực quyền chi phối, tự bán, tự mua làm thất thoát tài sản của Nhà nước
Trang 39Thứ ba, tình trạng kẻ bán, người mua móc nối nhau định giá tài sản của Nhà
nước thấp rồi chia chác lợi nhuận cũng khá phổ biến Chẳng hạn, một xí nghiệp quốc hữu ở thành phố Trùng Khánh trị giá 50 triệu NDT, đã bị công ty môi giới định giá 4 triệu NDT và cuối cùng bán chỉ với giá 2 triệu NDT
Thứ tư, có một “lỗ hổng” làm thất thoát tài sản nhà nước nữa là nhiều doanh
nghiệp khi chuyển đổi sở hữu, đã khấu trừ tiền bồi thường cho người lao động vào giá, làm hạ giá bán doanh nghiệp Nhưng, trên thực tế, họ không trả khoản tiền này cho người lao động, hoặc có trả nhưng không đủ, không minh bạch
Trung Quốc tiếp tục thực hiện chủ trương công ty hoá các doanh nghiệp nhà nước Ý tưởng chuyển doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo chế độ công ty bắt đầu từ 1993; tuy nhiên đến nay số doanh nghiệp nhà nước được công ty hoá mới chiếm dưới 50% ở trung ương và khoảng 50% ở các địa phương, tỷ lệ này đặc biệt cao chỉ ở Thượng Hải và Quảng Châu (80-90%) Do vậy, sau khi gia nhập WTO, Chính phủ Trung Quốc quyết định tiếp tục thực hiện chủ trương công ty hoá doanh nghiệp nhà nước mạnh mẽ hơn” [6; tr.155 – tr.157]
1.3.3.2 Điều chỉnh quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
Đại hội lần thứ XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra thể chế quản lý tài sản nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường Để thực hiện chủ trương nói trên, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện bốn loại công việc lớn, bao gồm nhiều công việc
cụ thể:
Thứ nhất, thực hiện trách nhiệm quản lý, trách nhiệm giám sát và trách nhiệm
kinh doanh đối với tiền vốn của nhà nước; xây dựng cơ chế và thể chế có thể xác định được một cách rõ ràng chủ quyền sở hữu đối với từng tài sản nhà nước được sử dụng vào hoạt động kinh doanh
Thứ hai, bố trí, cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng “có tiến,
có lùi” “Lùi” ở việc giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và nhỏ, giảm
số lượng doanh nghiệp nhà nước, giảm số doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước “Lùi”
ra khỏi các ngành, nghề về cơ bản không có tính chiến lược đối với nền kinh tế quốc gia; và “tiến”, tức là tập trung vốn nhà nước, vào những ngành, nghề then chốt, quan trọng đảm bảo huyết mạch của nền kinh tế
Trang 40Thứ ba, thiết lập cơ cấu thể chế người xuất vốn và tách nó ra khỏi bộ máy thực
hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước Cơ quan này được Chính phủ uỷ quyền thực hiện một cách tập trung và thống nhất quyền chủ sở hữu nhà nước, thực hiện quản
lý đồng thời cả ba lĩnh vực, gồm “quản lý” người quản lý doanh nghiệp, “quản lý” vốn của doanh nghiệp và “quản lý” công việc của doanh nghiệp
Thứ tư, thực hiện việc tách rời quyền chủ sở hữu vốn của Nhà nước với quyền
kinh doanh của doanh nghiệp “Cơ quan xuất vốn” được Chính phủ uỷ quyền nắm giữ quyền sở hữu cổ phần như một cổ đông, thực hiện quyền và lợi ích của người xuất vốn (hay người đầu tư) theo đúng quy định của Luật Công ty Doanh nghiệp là pháp nhân
sở hữu tài sản tạo nên bởi vốn đầu tư của Nhà nước, tự chủ kinh doanh theo nguyên tắc
“lời ăn, lỗ chịu” theo chế độ công ty; và trở thành chủ thể thị trường độc lập và tách biệt với “cơ quan xuất vốn” cũng như các cơ quan khác của Nhà nước
Việc thành lập Cơ quan chuyên trách thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước (kể cả 100% vốn) đã được xác định ngay trong Văn kiện Đại hội lần thứ XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc Uỷ Ban Giám sát và Quản lý tài sản sở hữu nhà nước đã được thành lập vào giữa năm 2003 Đây là một hệ thống cơ quan gồm 3 cấp: trung ương, cấp tỉnh và khu tự trị và cấp thành phố trực thuộc Trung ương Đánh giá chung ở Trung Quốc cho rằng việc thành lập hệ thống cơ quan quản lý giám sát tài sản là một thay đổi có tính bước ngoặt trong quá trình cải cách quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc, nhất là trong việc tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả vai trò chủ sở hữu của Nhà nước Đó cũng
là giải pháp tách Chính phủ với doanh nghiệp, tách chức năng chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính xã hội của Nhà nước và tách quyền sở hữu với quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp
Một trong bốn vấn đề của cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc là thiết lập thể chế đại diện uỷ quyền của quyền chủ sở hữu nhà nước Trong thể chế uỷ quyền đó, thì Quốc vụ viện (Chính phủ) được uỷ quyền đại diện cho Nhà nước thực hiện vai trò của nhà đầu tư, người xuất vốn đối với các đối tượng chủ yếu sau đây:
- Một là, các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, các doanh nghiệp nhà nước
kiểm soát cổ phần và doanh nghiệp nhà nước tham gia góp cổ phần trong các ngành, nghề mạch máu của nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc gia