1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân dưới tác động của Luật doanh nghiệp

134 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 914,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sau một số năm thực hiện, cùng với đà chuyển biến nhanh sang hệ thống kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, các đạo luật đó đã bộc lộ những hạn chế: thủ tục thành lập công ty

Trang 1

Lª ThÞ Th¶o

LuËn v¨n th ¹c s Ü kinh tÕ c hÝnh trÞ

Hµ Néi - n¨m 2005

Trang 3

Phần mở đầu 1

Chương 1: Khu vực kinh tế tư nhân và nền kinh tế chuyển đổi 5

1.1 Bản chất của kinh tế tư nhân 6 1.2 Đặc điểm sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường 17 1.3 Điều kiện tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế chuyển đổi 27

Chương 2: Thực trạng của khu vực kinh tế tư nhân đưới tác động

của Luật Doanh nghiệp 38

2.1 Vài nét về khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam trong thời kỳ

kế hoạch hóa tập trung 38 2.2 Sự tái lập và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2000 42 2.3 Ban hành Luật Doanh nghiệp - một yêu cầu cấp bách 50 2.4 Tiến triển của khu vực kinh tế tư nhân dưới tác động của Luật Doanh nghiệp 63

Chương 3: Kiến nghị, giải pháp tiếp tục phát huy hiệu lực của

Luật Doanh nghiệp 87

3.1 Vị trí và xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 87 3.2 Kiến nghị, giải pháp tiếp tục phát huy tác dụng của Luật Doanh nghiệp 109

Kết luận 119

Trang 4

Tài liệu tham khảo 121

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt nam hiện nay đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp là cần thiết, song các doanh nghiệp phải được đặt trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với một khung pháp lý đồng bộ và thống nhất

Bước vào công cuộc đổi mới, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội khóa VIII thông qua ngày 21/12/1990 và được Quốc hội khóa IX sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 1994

Sự ra đời của hai đạo luật trên có ý nghĩa kinh tế - chính trị - xã hội to lớn Nó khẳng định quan điểm nhất quán, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, động viên được các nguồn lực đầu tư và tạo công ăn việc làm cho đông đảo người lao động trong thời gian vừa qua

Tuy nhiên, sau một số năm thực hiện, cùng với đà chuyển biến nhanh sang hệ thống kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, các đạo luật đó đã bộc lộ những hạn chế: thủ tục thành lập công ty quá phiền hà, Luật Công ty năm

1990 còn thiếu quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người quản lý công ty; mặt khác, vẫn còn sự đối xử bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước: chẳng hạn như việc không thừa nhận tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp tư nhân; doanh nghiệp tư nhân dễ bị hình sự hoá các quan hệ dân sự nếu chẳng may họ vay vốn ngân hàng hoặc những chủ nợ khác mà chưa trả được nợ doanh nghiệp tư nhân luôn bị lép vế trong quan

hệ với các cơ quan công quyền

Không ít nhà kinh doanh vì những lý do trên mà ngại chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân để đầu tư Rõ ràng điều đó đã làm giảm tính hấp dẫn

Trang 6

của các đạo luật trên, gây tác động kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nói chung và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng

Với trình độ phát triển mới của hệ thống doanh nghiệp nước ta, khung khổ pháp lý cũ không còn phù hợp Nghị quyết Hội nghị BCHTW lần thứ 4 (khóa VIII) đã nhận thấy cần “sửa đổi bổ sung các văn bản pháp quy về loại hình doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể, xây dựng luật thống nhất, áp dụng cho các loại chủ thể kinh doanh”

Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 12/6/1999, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội (khóa X) đã thông qua Luật Doanh nghiệp, trên cơ sở hợp nhất sửa đổi bổ sung Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân

Việc ban hành Luật Doanh nghiệp đã góp phần tạo khung khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với tình hình phát triển mới, hạn chế các hiện tượng tiêu cực, gây phiền hà quan liêu, tạo điều kiện thông thoáng, hấp dẫn và yên tâm cho các nhà đầu tư, góp phần thúc đẩy khai thác nội lực cho sự nghiệp CNH-HĐH và tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế

Sau 5 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp (kể từ ngày có hiệu lực 1/1/2000) Luật Doanh nghiệp đã có những tác động nhất định đến quá trình cải cách kinh tế của đất nước, đặc biệt đối với khu vực kinh tế tư nhân Có thể nói Luật Doanh nghiệp đã “thổi luồng sinh khí mới vào môi trường kinh doanh”, đã khơi dậy và thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần kinh doanh, tinh thần tự lập nghiệp trong các tầng lớp nhân dân; khuyến khích sáng tạo và tự chủ trong kinh doanh, làm cho cộng đồng doanh nghiệp tự tin hơn trong hoạt động đầu

tư và kinh doanh; tăng thêm sự tin tưởng của nhân dân vào đường lối và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước

Tuy nhiên, việc thi hành Luật Doanh nghiệp gặp không ít khó khăn và tồn đọng Ví dụ một số văn bản cần thiết hướng dẫn thi hành Luật chưa được ban hành Nhiều văn bản luật đã được ban hành nhưng nội dung chưa phù

Trang 7

hợp, việc xoá bỏ hệ thống giấy phép “xin - cho” gặp nhiều trở ngại

Điều đó cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, làm chậm bước tiến của quá trình hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và hệ thống thể chế kinh tế thị trường đồng bộ

Để hiểu rõ những thay đổi của khu vực kinh tế tư nhân từ khi áp dụng

Luật Doanh nghiệp tôi chọn nghiên cứu đề tài: Sự phát triển của khu vực

kinh tế tư nhân dưới tác động của Luật Doanh nghiệp

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

- Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Luật Doanh nghiệp ở Việt nam

được ban hành và có hiệu lực từ 1/1/2000 nên còn khá mới mẻ, tuy nhiên chính những tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp đã khiến Tổ chức phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP), Ngân hàng Thế Giới (WB) và các nhà tài trợ khác đánh giá Luật Doanh nghiệp là điểm sáng trong thực hiện cải cách thể chế một cách có hiệu quả, cần được nhân rộng không chỉ ở nước ta mà còn ở các nước đang phát triển khác

- Tình hình nghiên cứu trong nước: Viết về sự phát triển của khu vực

KTTN, từ năm 1986 cho đến nay đã có nhiều bài báo, tham luận khoa học, các công trình nghiên cứu

Cụ thể như:

- Đào Thị Phương Liên (1995): “ Sự phát triển của KTTN trong giai đoạn chuyển nền kinh tế Việt nam sang kinh tế thị trường”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội

- Nguyễn Huy Oánh (2001): “Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh

tế Việt nam”, Nghiên cứu kinh tế, (12), tr 45-55

- GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền (2002): “Thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong quá trình CNH-HĐH”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội

- TS Hà Huy Thành (2002: “Thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ và tư

Trang 8

bản tư nhân”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội

- Nguyễn Minh Thảo (2003) : “Kinh tế tư nhân ở Việt nam - thực trạng

và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học quốc gia, Hà nội

Các công trình nói trên đã nghiên cứu kinh tế tư nhân ở nhiều góc độ khác nhau: Phát triển khu vực kinh tế tư nhân; quan điểm về sự phát triển KTTN; các giải pháp cụ thể về môi trường, thể chế chính sách nhằm phát triển KTTN trong phạm vi cả nước

Từ khi có Luật Doanh nghiệp (1/1/2000) hoạt động của khu vực KTTN trở nên cực kỳ sôi động Viết về tác động của Luật công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân nay là Luật Doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế tư nhân cũng đã có một số tác giả như: Trần Văn Thông, Phạm Hồng Vân, Xuân Dũng các tác giả đề cập đến vấn đề thực hiện Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, nay là Luật Doanh nghiệp (LDN) ở những năm trước (2001,

2002, 2003) nhưng chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề đó dưới góc độ là những chyên đề mang tính thời sự, chưa đủ mức hệ thống và khái quát

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

* Mục đích:

Luận văn tập trung đánh giá sự phát triển của khu vực KTTN dưới tác động của LDN, phát hiện các vấn đề còn tồn đọng và đang đặt ra, trên cơ sở

đó đưa ra một số quan điểm định hướng tiếp tục phát huy hiệu lực của Luật

Doanh nghiệp trong việc tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp

* Nhiệm vụ:

- Để có thể đánh giá được sự phát triển của khu vực KTTN dưới tác động của LDN luận văn tập trung phân tích thực trạng hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân Việt nam trước và sau khi ban hành Luật Doanh nghiệp và

một số vấn đề về việc thi hành Luật Doanh nghiệp trong thời gian từ

Trang 9

1/1/2000-2004

- Luận văn đưa ra một số quan điểm định hướng, kiến nghị một số giải

pháp tiếp tục phát huy hiệu lực của Luật Doanh nghiệp trong giai đoạn tới

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển của khu vực KTTN dưới tác

động của Luật Doanh nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung đánh giá sự phát triển của

khu vực KTTN dưới tác động của LDN giai đoạn 2000-2004

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Luận văn sử dụng phương pháp lô gích lịch sử, phép duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, điều tra, phân tích tổng hợp, kết hợp mô hình hóa

6 DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:

 Đánh giá vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế chuyển đổi

 Đánh giá vai trò của khu vực KTTN dưới tác động của LDN giai đọan 2000-2004

 Đánh giá những mặt được và chưa được trong việc thực hiện LDN

trong thời gian từ 2000-2004

 Một số quan điểm định hướng, kiến nghị giải pháp tiếp tục phát huy hiệu lực của Luật Doanh nghiệp trong việc tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được sắp xếp thành 3 chương 10 tiết :

Chương 1 Khu vực kinh tế tư nhân và nền kinh tế chuyển đổi

Chương 2 Thực trạng của khu vực kinh tế tư nhân dưới tác động của

Luật Doanh nghiệp

Trang 10

Chương 3 Kiến nghị giải pháp tiếp tục phát huy phát huy hiệu lực của

Luật Doanh nghiệp

CHƯƠNG 1 KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI

Kinh tế tư nhân (KTTN) là bộ phận hợp thành hữu cơ quan trọng của nền kinh tế đất nước và ngày càng tỏ rõ sự năng động cũng như tính hiệu quả hoạt động của mình trong nền kinh tế thị trường Bảo hộ về pháp lý, tôn trọng các lợi ích hợp pháp và tạo mọi điều kiện cho hoạt động kinh doanh và phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong khuôn khổ luật pháp quy định, đã đang và

sẽ vẫn là xu hướng lớn, chi phối nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kinh

tế - xã hội ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới

Với những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, quá trình chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường gắn liền với việc đưa khu vực kinh tế tư nhân thay thế dần khu vực kinh tế nhà nước Nói cách khác, kinh tế thị trường của các nước chuyển đổi dựa vào khu vực kinh tế tư nhân, xem kinh tế tư nhân như là tiền đề của sự phát triển Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cải cách nền kinh tế, không phải quốc gia nào ngay từ đầu cũng đã nhận thức được đúng bản chất của kinh tế tư nhân và vai trò của nó đối với sự phát triển toàn bộ nền kinh tế Từ đó đã không tạo ra những điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế này phát huy hết những khả năng vốn có của nó, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Xuất phát từ tình hình nói trên, việc luận chứng để làm rõ bản chất, vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế thị trường nói chung và chỉ ra những điều kiện cần thiết để kinh tế tư nhân có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế chuyển đổi, được chúng tôi coi là nhiệm vụ đầu tiên trong công trình nghiên cứu này

Trang 11

1.1 Bản chất của kinh tế tƣ nhân

1.1.1 Nguồn gốc hình thành và đặc điểm phát triển của KTTN

1.1.1.1 Sự hình thành kinh tế tư nhân là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất (LLSX)

Trong xã hội nguyên thuỷ, do trình độ của LLSX còn thấp kém, đời

sống còn hết sức khó khăn thiếu thốn, muốn tồn tại con người phải gắn chặt cuộc sống của mình với tập thể, với thị tộc và bộ lạc Trong xã hội đó mọi tư liệu sản xuất (TLSX), mọi thành quả lao động đều thuộc quyền sở hữu của tập thể, mọi người cùng làm chung, hưởng chung Ở đây không hề có ý niệm về quyền tư hữu, về “cái tôi” của mình và cũng chưa hề xảy ra tình cảnh áp bức

bóc lột Cuộc sống như vậy đã diễn ra hàng vạn, hàng chục vạn năm

Nguyên nhân sâu xa của những bước tiến hết sức chậm chạp trong xã

hội nguyên thuỷ bắt nguồn từ việc công cụ sản xuất chủ yếu bằng đá chậm được cải tiến Nhưng sau đó với việc xuất hiện công cụ sản xuất bằng đồng và

sắt, thì nhân loại đã có những bước tiến dài, nhảy vọt đầy ý nghĩa

Sự xuất hiện công cụ đồng, sắt làm cho nông nghiệp phát tr iển nhanh

chóng và sau đó được triển khai trên quy mô lớn - nền nông nghiệp dùng cày

đã ra đời Đặc biệt nó đã làm xuất hiện và đẩy mạnh nền sản xuất thủ công,

làm hàng loạt ngành nghề mới ra đời và phát triển

Sự ra đời của công cụ đồng, sắt cũng góp phần làm hình thành các bộ

lạc chuyên nghiệp hoá, dẫn đến những sự phân công lao động lớn trong xã

hội

Từ thời kỳ còn phổ biến công cụ đá - đồng, một số bộ lạc từ kinh tế

nông nghiệp chuyển hẳn sang hình thức chăn nuôi, dẫn đến sự phân công lớn đầu tiên trong lịch sử - ngành chăn nuôi tách khỏi ngành trồng trọt Sang thời

kỳ đồ sắt lại diễn ra sự phân công lao động lớn tiếp theo giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp Việc thủ công nghiệp được tách ra khỏi nông nghiệp, ngày

Trang 12

càng chuyên môn hoá, đã làm cho của cải xã hội tăng lên nhanh chóng Từ đó việc trao đổi sản phẩm giữa các bộ lạc chăn nuôi, nông nghiệp và thủ công nghiệp trở nên thường xuyên và đều đặn Đến đây nền sản xuất hàng hoá ra đời và cùng với nó là sự ra đời của tầng lớp xã hội mới - tầng lớp thương nhân Như vậy thương nghiệp cũng đã được chuyên nghiệp hoá và tách ra

khỏi ngành tiểu thủ công nghiệp

Do năng suất lao động trong các ngành sản xuất kinh tế ngày càng

nâng cao, con người không cần phải tiến hành lao động tập thể đông đảo như trước nữa, trừ những trường hợp làm các lao động công ích Lúc này người ta

đã có khả năng tiến hành lao động cá thể, hay từng đơn vị gia đình nhỏ mà vẫn

bảo đảm duy trì và nâng cao đời sống Nền sản xuất cá thể đã ra đời

Những trao đổi lúc đầu ít nhiều còn mang tính chất ngẫu nhiên, chỉ sau

khi xuất hiện các cuộc phân công xã hội lớn và sản phẩm thặng dư, sự trao đổi kinh tế thực sự mới mang tính chất thường xuyên Nó làm cho tài sản được chuyển nhượng tự do, tư tưởng tư hữu được nảy nở và như vậy chế độ tư hữu

đã thực sự ra đời

Rõ ràng sự phát triển của LLSX là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp dẫn

đến sự ra đời của chế độ tư hữu

1.1.1.2 Sự xuất hiện gia đình, thiết chế xã hội, giai cấp và nhà nước - nguồn gốc xã hội dẫn đến sự ra đời của chế độ tư hữu:

Vào giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy, năng suất lao động ngày

càng phát triển cùng với sự phát triển của LLSX thì chế độ tư hữu với những mâu thuẫn giai cấp và xung đột giai cấp trong lòng nó phát triển, dẫn đến kết quả là xã hội cũ (xã hội nguyên thuỷ) bị thủ tiêu và một xã hội mới được hình thành - đó là xã hội chiếm hữu nô lệ (CHNL) Xã hội mới hình thành được khẳng định là một quốc gia, đơn vị cơ sở của nó không còn là liên minh dựa trên quan hệ huyết thống, mà là liên minh dựa trên địa vị hành chính do nhà

Trang 13

nước quản lý

Trong chế độ phụ hệ việc để lại tài sản cho con đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích luỹ của cải trong gia đình và biến gia đình thành một thế lực đối lập với thị tộc.Trong gia đình đó, quyền lực của ngườ i đàn ông đã được xác lập, họ làm chủ cả trong gia đình và ngoài xã hội Chế độ một vợ, một chồng là hình thức đầu tiên không dựa trên điều kiện tự nhiên mà dựa trên những điều kiện kinh tế Nó là biểu hiện thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với

sở hữu công cộng nguyên thuỷ tự phát Và kể từ đây, gia đình cá thể đã trở

thành đơn vị kinh tế cơ sở của xã hội, là tế bào cơ bản của quan hệ xã hội mới - xã hội có giai cấp

Những mâu thuẫn hình thành trong lòng xã hội thị tộc và khả năng sản xuất riêng lẻ của các gia đình cá thể đã làm cho quan hệ dòng máu ngày càng phai nhạt và lỏng lẻo hơn Nền sản xuất cá thể cùng với chế độ tư hữu mới nảy sinh làm cho các gia đình nhỏ bé có xu hướng tách khỏi thị tộc lớn Họ đưa nhau đến những vùng đất mới dễ làm ăn hơn và sống cùng với những gia đình không có quan hệ họ hàng thân thuộc như trước Những gia đình này kết hợp lại thành cộng đồng xã hội mới không có quan hệ dòng máu với nhau, nhưng họ có lợi ích kinh tế chung Cộng đồng xã hội mới này được gọi là công xã nông thôn (hay công xã láng giềng) Công xã nông thôn vừa duy trì

sở hữu tập thể của công xã thị tộc về ruộng đất, mặt khac nó bao hàm cả chế

độ tư hữu về TLSX mới nảy sinh

Trong nền kinh tế hàng hoá đang trên đà phát triển, sự tích tụ và tập trung của cải vào tay một số ít người đang diễn ra nhanh chóng cùng một lúc với sự bần cùng hoá ngày càng tăng của một số quần chúng và sự tăng thêm của đông đảo người nghèo Những người giàu có bắt đầu tập hợp thành tầng lớp quý tộc chiếm hữu nhiều của cải và nô lệ; còn những kẻ nghèo khó gồm đông đảo những thành viên thị tộc bộ lạc thì mất dần của cải, súc vật, ruộng

Trang 14

đất, cuối cùng rơi vào tình trạng bị lệ thuộc vào tầng lớp trên và bị tầng lớp này áp bức bóc lột không khác gì người nô lệ Xã hội bắt đầu phân hoá thành hai giai cấp: giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột

Giai cấp xuất hiện dẫn đến mâu thuẫn giai cấp ngày càng phát triển Một xã hội mới như vậy chỉ có thể tồn tại trong cuộc đấu tranh không ngừng

và công khai giữa hai giai cấp: thống trị và bị thống trị; cuộc đấu tranh đó ngày càng gay gắt buộc phải có một lực lượng thứ ba xuất hiện Nhà nước hình thành nên những cơ quan quyền lực công cộng nhằm giải quyết mâu thuẫn giai cấp, giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân mới ra đời

và bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị

Sự ra đời sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân và chế độ tư hữu đã được xuất phát từ sự phát triển kinh tế và biến đổi xã hội hoàn toàn hợp logic như thế

1.1.2 Bản chất của kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, trong đó các chủ thể của nó tự chủ tiến hành sản xuất kinh doanh vì lợi ích trực tiếp của cá nhân, hay tập thể cá nhân hoạt động dưới những hình thức kinh tế khác nhau, dù có thuê hay không thuê lao động

Trong loại hình sở hữu tư nhân cũng có sự khác nhau về trình độ và phương thức kinh doanh giữa những chủ sở hữu tư nhân Những chủ tư nhân

sở hữu vốn, tư liệu sản xuất có quy mô lớn vượt quá khả năng sử dụng lao động của cá nhân và gia đình phải sử dụng lao động làm thuê để kinh doanh nhằm thu giá trị thặng dư, còn những chủ sở hữu nhỏ về vốn, tư liệu sản xuất chỉ đủ kết hợp với lao động của bản thân và gia đình không sử dụng lao động làm thuê làm phương thức kinh doanh kiếm lời - đây là loại hình sở hữu phổ biến của hộ nông dân và hộ buôn bán nhỏ, tiểu chủ ở thành thị Trong nền kinh tế thị trường, loại hình sở hữu tư nhân nhỏ cũng có sự biến đổi: trở thành chủ tư nhân (sở hữu lớn), hoặc tham gia vào các loại hình kinh tế hợp tác (sở

Trang 15

hữu tập thể hỗn hợp), hoặc phá sản (không còn sở hữu tư liệu sản xuất, vốn) trở thành lao động làm thuê Còn loại hình sở hữu tư nhân lớn cũng sẽ biến

chuyển: mở rộng hơn nữa quy mô và đa dạng sở hữu, cũng có thể bị phá sản

Thực tế cho thấy kinh tế tư nhân tuy có nhiều trình độ phát triển khác nhau với sự đa dạng của các loại hình sản xuất kinh doanh: kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và tiểu thương, kinh tế tư bản tư nhân (TBTN), kinh tế TBTN trong kinh tế tư bản nhà nước (TBNN), kinh tế có vốn đầu tư nước

ngoài nhưng bản chất chung của khu vực kinh tế tư nhân chính là sở hữu tư

nhân Dù là kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công hay kinh tế tư bản tư

nhân thì giữa chúng cũng có điểm chung là: đều dựa trên chế độ sở hữu tư

nhân về TLSX và về các nguồn lực sản xuất

1.1.3 Mấy nét chung về phạm trù sở hữu và sở hữu tư nhân

Sở hữu là một phạm trù rộng, phức tạp và có vai trò rất quan trọng trong lý thuyết của nhiều ngành khoa học xã hội Xét về nguồn gốc, sở hữu là một khái niệm ban đầu được sử dụng trong quan hệ pháp lý dùng để chỉ các quan hệ tài sản, các nhà triết học lại coi sở hữu như một mặt quan trọng của quan hệ sản xuất, gắn liền với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Sở hữu lại được các nhà khoa học kinh tế sử dụng như một phạm trú kinh tế chính trị nhằm chỉ một nội hàm rộng hơn - đó là quan hệ giữa người với người trong tổ chức sản xuất xã hội Ở đây chúng tôi coi sở hữu thuộc phạm trù kinh tế chính trị, có liên quan đến một số lĩnh vực khoa học xã hội khác, được thể hiện qua những nội dung chính sau đây:

1.1.3.1 Khái niệm sở hữu và một số nội dung về sở hữu

Đã có nhiều định nghĩa về sở hữu với nhiều cách diễn tả khác nhau về

nó Song nếu xét về tổng thể nội dung sở hữu luôn thể hiện hai mối qun hệ sau đây: thứ nhất, quan hệ giữa chủ thể với đối tượng; thứ hai là quan hệ giữa người với người trong tổ chức sản xuất xã hội.Trên cơ sở hai mối quan hệ đó,

Trang 16

có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về sở hữu như sau:

Sở hữu là một phạm trù xã hội, phản ánh quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải vật chất, là hình thái xã hội có tính lịch sử của việc chiếm hữu của cải vật chất và thông qua quan hệ sở hữu ấy thỏa mãn nhu cầu của mình; sở hữu không phải là quan hệ giữa người với vật mà là quan hệ giữa người với người đối với vật

Nội dung của khái niệm này có thể được hiểu rõ thêm như sau:

- Xét về mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng Ở đây chủ sở hữu

thường ít nhất phải có đủ ba quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản, trong đó chiếm hữu được coi là hình thức và nội dung đầu tiên của sở hữu Còn đối tượng của sở hữu bao giờ cũng đa dạng và khác nhau về chủng loại Riêng trong lý thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa truyền thống, đối tượng sở hữu thường được coi chủ yếu chỉ bao gồm những tư liệu sản xuất được đưa vào sản xuất kinh doanh trong các loại hình kinh tế Xuất phát từ quan niệm đó, nên mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng từ lâu vẫn được giải thích theo sơ đồ: Chủ thể - Tư liệu sản xuất

Nhìn chung trong quá trình phát triển của lịch sử, đối tượng sở hữu luôn có sự thay đổi để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với sự vận động của phương thức sản xuất.Trong xã hội hiện đại ngày nay, đối tượng sở hữu đã trở nên đa dạng và phong phú hơn: từ đồ vật tiêu dùng đến TLSX; từ đối tượng sở hữu hữu hình đến vô hình (như: trí tuệ, thông tin, bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị phần ); từ hàng hoá đồ vật cá nhân đến hàng hoá công cộng Thực tiễn này cho thấy, việc coi sở hữu đồng nghĩa với TLSX, là cách

tiếp cận còn phiến diện, không phù hợp với thực tế cuộc sống hôm nay

- Về mối quan hệ giữa người với người trong tổ chức sản xuất xã hội,

đó là mối quan hệ giữa người và người trong việc chiếm hữu TLSX và của cải vật chất được tạo ra nhờ TLSX ấy Chủ nghĩa Mác - Lê nin coi sở hữu về

Trang 17

TLSX là quan hệ giữa người với người, giữa các giai cấp, giữa các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội Quan hệ này thay đổi tùy theo sự thay đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội trong đời sống xã hội Chính những quan hệ mới này là những quan hệ kinh tế về sở hữu mang tính chất kinh tế -

xã hội và quy định trước hết các hình thức phân phối tài sản, sản phẩm thu nhập giá trị giữa các chủ sở hữu

Khi coi sở hữu là quan hệ xã hội của sự chiếm hữu, cần phải xem xét

nó ở hai bình diện là nội dung pháp lý và nội dung kinh tế của sở hữu Nội dung pháp lý của sở hữu quy định đối tượng của sở hữu thuộc quyền của ai

Nó quy định các quyền: sử dụng, định đoạt, chuyển nhượng, cho thuê, thừa

kế, thế chấp tài sản và thực hiện lợi ích của các chủ thể Nội dung kinh tế của sở hữu thể hiện một hệ thống quan hệ kinh tế rất phức tạp giữa con người, các tập thể người với nhau trong việc vận dụng, khai thác nguồn lực kinh tế -

xã hội Quan hệ sở hữu cũng không thể tách rời quan hệ tổ chức, quản lý, phân phối được thể hiện qua quan hệ lợi ích kinh tế

- Nội dung sở hữu khi được thể chế hoá về mặt pháp lý, gọi là chế độ

sở hữu Nói cách khác, chế độ sở hữu là tập hợp các thể chế về mặt pháp lý, bảo đảm cho các quyền sở hữu được thực hiện Còn sở hữu được thể hiện

thông qua đời sống xã hội gọi là: quyền sở hữu

Chế độ sở hữu bao gồm nhiều quyền, trong đó đáng chú ý nhất là

quyền sở hữu và quyền sử dụng Đây là hai nhóm quyền vừa phân cực, vừa thống nhất với nhau Sự phát triển kinh - tế xã hội càng phức tạp thì sự phân chia, sự tác động giữa hai nhóm quyền trên càng phong phú và đa dạng Nhất

là từ khi “tư bản sở hữu tách rời tư bản sử dụng”, rồi sự ra đời của các công ty

cổ phần Đặc biệt từ khi quản lý trở thành một nghề thì sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng lại càng trở nên hoàn thiện hơn

Lý luận về sự tách biệt tương đối, giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng

Trang 18

cùng với việc xuất hiện vấn đề quyền sở hữu thực tế và quyền sở hữu danh nghĩa, đã mở ra phương hướng mới cho các giải pháp về vấn đề sở hữu như việc tổ chức sản xuất kinh doanh, huy động nguồn lực và đặc biệt là việc tìm

ra giải pháp đúng đắn cho vấn đề sở hữu nhà nước trong các nước xã hội chủ nghĩa và trong một số nước đang phát triển hiện nay

- Hình thức sở hữu cũng là một nội dung quan trọng khác của sở hữu

Nó là cơ sở khách quan của sở hữu, tương ứng với những trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của LLSX

Cho đến nay loài người đã trải qua nhiều hình thức sở hữu, phát triển qua các giai đoạn khác nhau từ sở hữu bộ lạc, đến các hình thức sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội chủ nghĩa Trong xã hội hiện đại ngày nay, phần lớn các quan điểm đều cho rằng, mặc dù rất phong phú, nhưng trên thực tế chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp

1.1.3.2 Sở hữu - nhân tố cơ bản của quan hệ sản xuất

a) Sở hữu - nhân tố cơ bản của quan hệ sản xuất (QHSX), là nền móng của chế độ kinh tế xã hội

LLSX và QHSX là hai mặt cơ bản của mỗi phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng với nhau, hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ loài người - Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX Chính sự phù hợp đó là động lực làm cho LLSX phát triển Trong mối quan hệ giữa chúng, LLSX bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Tuy nhiên QHSX không phải là mặt hoàn toàn thụ động, nó có tác động to lớn đến sự phát triển LLSX Trong sự tác động đó của QHSX thì quan hệ sở hữu luôn giữ vai trò quyết định nhất

Vai trò đó của sở hữu được thể hiện ở những mặt cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sở hữu quyết định mục đích của sản xuất và toàn bộ cơ chế

Trang 19

điều tiết của nền sản xuất xã hội Nó quy định quy mô và phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong quá trình sản xuất xã hội Nó quyết định quan hệ lợi ích vật chất của các thành viên khác nhau trong xã hội

Thứ hai, sở hữu là nhân tố cơ bản của QHSX khi nó giữ vai trò chi phối

hai mặt còn lại của QHSX, tức là nó quyết định phương thức, phương pháp tổ chức và quản lý sản xuất, nó cũng quyết định tính chất và hình thức phân phối sản phẩm

Thứ ba, chế độ sở hữu quyết định địa vị khác nhau của con người, của

giai cấp và các mối quan hệ lẫn nhau của họ trong quá trình sản xuất Từ đó

nó quyết định các mối quan hệ trong trao đổi và phân phối Nó còn quy định

cả đặc điểm, hình thức và cơ cấu của giai cấp, tầng lớp của xã hội

Thứ tư, sở hữu vừa là quan hệ kinh tế, vừa là quan hệ pháp lý, vì vậy

nếu không có sự biến đổi của quan hệ sở hữu phù hợp thì LLSX khó có thể phát triển bình thường Điều này thể hiện yếu tố mở đường cho sự phát triển của LLSX, nếu thiếu sự mở đường này, LLSX sẽ bị kìm hãm, sẽ khó phát triển thuận lợi Đương nhiên, bị kìm hãm tới mức nào đó LLSX tất yếu sẽ phá

vỡ QHSX với chế độ sở hữu lỗi thời, tạo lập chế độ sở hữu mới

Thứ năm, trên mức độ tổng quát ta thấy mỗi phương thức sản xuất được

đặc trưng bởi một quan hệ sản xuất riêng, tạo thành một chế độ kinh tế - xã hội, do chế độ sở hữu quy định Trong mối quan hệ đó, sở hữu là cái quyết định bản chất chế độ kinh tế - xã hội , còn QHSX là tiêu chí hàng đầu để phân biệt các hình thái kinh tế - xã hội

Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội của xã hội có giai cấp, sở hữu liên quan đến cơ sở hạ tầng của xã hội như là tổng hợp các kiểu QHSX, các loại hình kinh tế Cơ sở hiện thực của sở hữu gồm 3 loại hình cơ bản: 1 Loại hình sở hữu điển hình, giữ vai trò chủ đạo, nó ứng với QHSX thống trị; 2 Loại hình sở hữu gắn với QHSX tàn dư; 3 Loại hình sở hữu gắn với QHSX

Trang 20

mầm mống của xã hội tương lai Do đó duy trì cùng một lúc nhiều loại hình

sở hữu trong một hình thái kinh tế - xã hội là một tất yếu khách quan

b) Quan hệ giữa sở hữu với lợi ích - nguồn nuôi dưỡng động lực kinh tế và tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển

Trong quá trình vận động của mình, sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ

sở hữu và hình thức kinh tế được nối liền qua khâu trung gian là: Lợi ích kinh

tế Có thể nói lợi ích kinh tế của mỗi người, mỗi tập đoàn, mỗi giai cấp được

quy đinh trước hết do mối quan hệ của nó đối với việc chiếm hữu TLSX Lợi ích kinh tế là QHSX trong hành động, đang biến thành các nhân tố kích thích hoạt động kinh tế

Trong mối quan hệ của mình, mặc dù sở hữu không phải là động lực trực tiếp, nhưng chính quan hệ sở hữu lại quyết định bản chất, cơ cấu hệ thống lợi ích kinh tế Vì vậy quan hệ sở hữu luôn là nguồn, là kiểu phương thức sản xuất mở rộng hệ thống lợi ích và do đó là nguồn gốc sâu xa của động lực kinh tế

Tóm lại, để hiểu rõ bản chất của phạm trù sở hữu, đòi hỏi ta phải nhận

thức được nội dung và mọi hình thức biểu hiện của nó Ngày nay việc phân tích rõ vai trò của các mặt, các khâu của sở hữu, xác định rõ chủ thể của mỗi khâu và sự tác động qua lại giữa chúng đã và đang là hướng tiếp cận để vận dụng tốt vấn đề sở hữu trong quá trình phát triển sản xuất

1.1.3.3 Sở hữu tư nhân

Từ cách tiếp cận sở hữu với tư cách là một quan hệ xã hội về kinh tế, chúng tôi đưa ra khái niệm về sở hữu tư nhân như sau:

* Khái niệm sở hữu tư nhân

Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu các nguồn lực sản xuất được đầu tư

vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế của cá nhân những nhà sản xuất kinh doanh trong hoặc ngoài nước Cá nhân tự

Trang 21

quyết định, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Những nguồn lực sản xuất này thuộc quyền sử dụng, định đoạt và hưởng lợi của cá nhân người sở hữu

Vốn và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, ngoài kinh doanh tư nhân còn có thể trở thành cổ phần góp vào các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế khác

Trong khái niệm này chúng tôi tạm tách sở hữu thuộc lĩnh vực tiêu dùng cá nhân ra khỏi các nguồn lực giành cho sản xuất, để nhằm cố gắng làm

rõ hơn bản chất thực sự của sở hữu tư nhân

Theo các nhà kinh tế học, khái niệm sở hữu tư nhân là khái niệm hiện thực, vì việc sử dụng nó trong hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng thật sự tới kết quả kinh tế nói chung Trong khi đó sở hữu cá nhân chủ yếu đặc trưng cho tiêu dùng cá nhân, nhằm thoả mãn các nhu cầu cá nhân của người lao động trong từng gia đình Sở hữu cá nhân là hình thức sở hữu đơn sơ nhất, vì vậy

nó không có tác dụng nhiều trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế hàng hoá, phát triển sản xuất Sở hữu cá nhân khác với sở hữu tư nhân ở chỗ: sở hữu cá nhân bao hàm những đối tượng được chính người sở hữu sử dụng hay tiêu dùng, hoặc được người sở hữu trao cho những người khác sử dụng không mất tiền Còn sở hữu tư nhân, thì đó là những đối tượng sở hữu được giao cho người khác sử dụng hay tiêu dùng có trả một khoản tiền nhất định

Thực chất xét về nguồn gốc lịch sử, sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu tồn tại lâu đời qua nhiều phương thức sản xuất, chúng là hệ quả quan trọng và trực tiếp của quyền tự do cá nhân, quyền được phát huy mọi tiềm năng vốn

có của mỗi cá nhân Kể từ khi xuất hiện xã hội có giai cấp, thực tiễn cho thấy khó có thể thay thế sở hữu tư nhân bằng một động lực nào đó có thể lớn hơn hoặc bằng nó trong phát triển kinh tế Chỉ có một thời gian ngắn ngủi cùng với sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân, loài người đã có những bước tiến khổng lồ về thành tựu kinh tế Cho đến nay những động lực do sở hữu tư nhân

Trang 22

tạo ra vẫn phát huy mạnh mẽ vai trò của nó

1.2 Đặc điểm sở hữu tư nhân (SHTN), KTTN và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Đặc điểm SHTN, KTTN

1.2.1.1 Đặc điểm SHTN, KTTN trong lịch sử kinh tế phương Tây

*Trong xã hội cổ đại (chiếm hữu nô lệ)

KTTN ra đời vào thời kỳ suy tàn của xã hội nguyên thủy, song phải đến khi xuất hiện những nhà nước cổ đại phương Tây là Hy Lạp và La mã (khoảng Thế kỷ thứ VIII-VI, Tr CN) thì chúng mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ

Thực vậy, khác với phương Đông, nền kinh tế ở phương Tây ngay từ thời cổ đại đã có sự phát triển khá cân đối giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp Ở đây nền kinh tế hàng hoá phát triển sớm và chiếm

vị trí quan trọng Các ngành nghề phát triển phong phú là biểu hiện của sự phân công lao động khá cao giữa các ngành và trong từng phân xưởng, nhiều thành thị lớn xuất hiện trước hết với tư cách là những trung tâm kinh tế lớn của đất nước

Từ khi xã hội có giai cấp ra đời, ở phương Tây chế độ sở hữu tư nhân

về TLSX đã luôn chiếm địa vị ưu thế Để bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân, người

La Mã cổ đại đã cho ra đời bộ luật quan trọng là Luật La mã, nó cũng tạo điều kiện cho kinh tế hàng hoá, kinh tế công thương nghiệp phát triển Chế độ sở hữu tư nhân về TLSX thời cổ đại đã tạo cơ sở, truyền thống cho nó phát triển mạnh mẽ trong những chế độ xã hội mới sau đó

* Trong xã hội Phong kiến

Buổi đầu xã hội phong kiến phương Tây, nền kinh tế tự nhiên chiếm vai trò thống trị Tuy nhiên phương thức sản xuất phong kiến ngay từ khi mới

ra đời đã thể hiện được những ưu thế, bởi khả năng phát triển sản xuất xã hội

Trang 23

cao hơn phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ Khi xã hội phong kiến bước vào giai đoạn hoàn thiện, nền kinh tế hàng hoá ra đời và phát triển

Chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ngay từ đầu dã chiếm vai trò thống trị ở phương Tây thời phong kiến Ở đây nhà nước Trung ương chưa bao giờ nắm được quyền sở hữu tối cao về ruộng đất trong toàn quốc Các bộ luật phong kiến quy định nhà vua không có quyền sở hữu tối cao về ruộng đất Ngoài sở hữu của các quý tộc phong kiến, còn có sở hữu nhỏ mang tính chất cá thể của nông dân và thợ thủ công về công cụ lao động, nhà cửa, giống cây con và các sản phẩm phụ khác

Chính chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cùng với nền kinh tế hàng hoá đang phát triển đã tạo điề kiện cho sự phát triển của LLSX và QHSX mới ra đời trong lòng xã hội phong kiến Đó là QHSX Tư bản chủ nghĩa Chúng đã tiến công và từng bước làm tan rã QHSX phong kiến, làm xuất hiện những nhân tố kinh tế mới, những giai cáp và tầng lớp trong xã hội mới trong lòng xã hội phong kiến

* Trong xã hội Tư bản chủ nghĩa

Kinh tế hàng hoá giản đơn trong lòng xã hội Phong kiến là bước đệm cần thiết cho sự ra đời của kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Điều kiện quyết định cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản (CNTB) đó chính là quá trình tích luỹ ban đầu của nó Quá trình tích luỹ ban đầu của CNTB cùng với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá đã tạo nên nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN)

Trong nền sản xuất đó, quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế chủ

yếu Dưới CNTB, sở hữu tư nhân về TLSX đã đạt đến trình độ cao hơn nhiều

so với các chế độ sở hưu tư nhân trước đó, đặc biệt nó đã đạt đến trình độ hoàn thiện hơn trong chủ nghĩa tư bản hiện đại Ở đây CNTB tự do cạnh

tranh với sự hoạt động gần như hoàn toàn tự do của chế độ sở hữu tư nhân đã được thay dần bằng chủ nghĩa tư bản độc quyền và CNTB độc quyền nhà

Trang 24

nước Sự can thiệp và điều chỉnh của nhà nước làm cho chế độ sở hữu TBCN hiện nay mang tính chất sở hữu hỗn hợp ngày càng trở nên phổ biến

Tuy chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, nhưng hiện nay ở các nước tư bản phát triển, hình thái sở hữu tư nhân vẫn chiếm ưu thế Hình thái sở hữu tư nhân này được chia làm ba loại chủ yếu: 1- Các công ty (hay tập đoàn); 2- Kinh tế hợp tác; 3- Kinh tế cá thể Trong đó các công ty (tức Tư bản tư nhân tập thể) đang giữ vai trò thống trị ngày càng tuyệt đối và vững chắc kể từ vài thập kỷ gần đây Điều này khác hẳn so với đầu thế kỷ XX khi mà hình thái kinh tế tư nhân thống trị đang là sở hữu cá thể của các doanh nghiệp

Một điểm đáng chú ý là, sự thống trị tuyệt đối của các công ty, tập đoàn (tư bản tư nhân mang tính tập thể) lại không thủ tiêu các xí nghiệp vừa và nhỏ

và các xí nghiệp cá thể mà ngược lại, các loại xí nghiệp này càng có xu hướng tăng lên dù tỷ trọng doanh số có giảm xuống so với tập đoàn

Bên cạnh sự thống trị của hình thái sở hữu công ty thì vấn đề phát triển của hình thái sở hữu tư nhân của người lao động cũng rất được chú ý trong xã hội tư bản ngày nay Ở đây một bộ phận đông đảo dân cư lao động, trong đó

có công nhân viên chức đã trở thành những người sở hữu, hoặc cùng sở hữu những nguồn vốn, những nguồn sản xuất kinh doanh ngày càng quan trọng bên cạnh các nhà tư bản lớn, nhỏ khác nhau Đây là một trong những hiện tượng kinh tế - xã hội quan trọng nhất trong quá trình phát triển sở hữu tư nhân của CNTB hiện đại trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI

1.2.1.2 Một số đặc điểm phát triển của KTTN ở phương Đông

*Trong xã hội Cổ, Trung đại: CHNL và Phong kiến (PK)

Phương Đông là nơi có những nhà nước CHNL ra đời đầu tiên trên thế giới Những nhà nước này ra đời khi sức sản xuất xã hội còn ở trình độ thấp kém, do vậy bước chuyển sang xã hội có giai cấp ở đây không thấy rõ nét là

Trang 25

do LLSX quyết định mà chủ yếu do nhu cầu trị thuỷ và chiến tranh Điều đó tạo nên một chế độ chiếm hữu nô lệ và sau đó là chế độ phong kiến không

điển hình và ít phát triển Ở đây nền kinh tế giữ địa vị thống trị luôn là nền

kinh tế tự nhiên, lấy nông nghiệp làm phương thức hoạt động chính Mặc dù

bước sang thời trung đại, công thương nghiệp đã trở thành nghề độc lập nhưng không được nhà nước khuyến khích, do vậy thành thị chưa bao giờ trở thành trung tâm kinh tế cho mỗi đất nước Ở phương Đông các công xã nông thôn vẫn còn tồn tại phổ biến và rất bền vững Nó chính là thành trì vững chắc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá

Trong thời kỳ cổ đại, chế độ sở hữu ruộng đất ở phương Đông chủ yếu thuộc về nhà nước, ruộng tư tuy đã có nhưng còn rất hạn chế Điều đó kìm

hãm sự phân hoá giai cấp trong nông dân công xã Bước sang thời phong kiến

ruộng đất tư nhân ngày càng phát triển Song nhìn chung, hiện tượng phổ biến ở phương Đông thời Trung đại, từ đầu đến cuối là đã tồn tại quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước đồng thời với ruộng đất của tư nhân, trong đó nhà nước nắm quyền chi phối cao nhất Trong đặc điểm chung đó, thì riêng

các nước thuộc thế giới Hồi giáo (Trung cận đông) và Ấn Độ, hình thức sở hữu nhà nước về ruộng đất vẫn luôn chiếm địa vị chi phối xuyên suốt cả thời

kỳ Cổ đại và Trung đại Ở đây kinh tế tư nhân có ra đời, song nhìn chung

không có điều kiện để phát triển mạnh Trong lúc đó, tại các nước vùng Đông

Á, Đông Nam Á kinh tế tư nhân phát triển song song với kinh tế nhà nước và

có vai trò ngày càng lớn vào giai đoạn phong kiến suy tàn

*Ở các nước đang phát triển thời cận đại, hiện đại

Trong thời cận đại, nhìn chung các nước đang phát triển có nền kinh tế hàng hoá phát triển khá sớm, mầm mống kinh tế TBCN đã xuất hiện ở nhiều nước vào giữa thế kỷ XIX Nhưng xét về tổng thể, trình độ kinh tế của nhóm nước này vẫn mang nặng tính chất kinh tế tự nhiên, kém phát triển và chưa đủ

Trang 26

sức chuyển sang hình thái kinh tế mới - TBCN

Sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây thực sự trở thành cơn

ác mộng cho các nước thuộc địa, bởi ách bóc lột của chúng hết sức nặng nề,

tàn bạo Tuy nhiên về khách quan sự xâm nhập đó đã góp phần phá vỡ tính

chất tự nhiên của nền kinh tế Nó biến các nước thuộc địa từng bước trở thành mắt xích của thị trường thế giới Nền kinh tế hàng hoá ở đây ra đời và phát triển, đã góp phần làm biến đổi cơ cấu kinh tế, biến đổi phương thức sản xuất và biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội Đặc biệt, dù ra sức kìm hãm và khống

chế nhưng chủ nghĩa thực dân cũng không thể ngăn chặn được sự ra đời và phát triển của đội ngũ tư bản tư nhân bản địa - nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế tư nhân ở nhóm nước này sau đó

Sau khi giành được độc lập, cùng với những khó khăn ban đầu không

tránh khỏi, trong thời gian gần đây KTTN ở đa số các nước đang phát triển đã

có bước phát triển lớn Sự phát triển mạnh KTTN ở nhiều nước đang phát triển tập trung ở những nguyên nhân chính sau: trước hết là tạo điều kiện hết sức thông thoáng cho kinh tế thị trường phát triển Ở đây nhà nước tìm cách thúc đẩy và “quản lý thị trường” chứ không thay thế và đặc biệt là không chống lại thị trường; thứ hai, chuyển cơ cấu kinh tế từ chính sách “công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu” sang chính sách “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”; thứ ba, nhà nước theo đuổi các chính sách định hướng thị trường nhằm ưu tiên và khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển

Sự phát triển mạnh mẽ KTTN đã làm cho nhóm nước này có nhiều biến đổi to lớn về kinh tế văn hoá, xã hội Một số nước đã trở thành những nước công nghiệp mới (NICs), họ để lại cho Việt nam và các nước trong khu vực nhiều bài học quan trọng Một trong những bài học lớn đó là vai trò của nhà

nước đối với việc phát triển KTTN Ở các nước NICs, sự can thiệp của nhà

nước vào lĩnh vực kinh tế chủ yếu đóng khung trong việc tạo điều kiện tối đa

Trang 27

cho kinh tế tư nhân phát triển theo cơ chế thị trường tư do có điều chỉnh Có

thể nói con đường đi của KTTN ở các nước NICs cũng chính là con đường đi

mà các nhà kinh doanh tư nhân ở nhiều nước đang phát triển khác hy vọng và hướng tới

1.2.2 Vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường nói chung

Lịch sử phát triển của KTTN đã chứng tỏ rằng: trong xã hội có giai cấp, KTTN luôn mang trong mình nó một động lực mạnh mẽ - động lực cá nhân, một thuộc tính tồn tại lâu dài với đời sống con người và do đó là cả xã hội loài người Sự hiện diện của KTTN là một quy luật hoàn toàn mang tính tất yếu khách quan cho tiến trình phát triển của xã hội loài người Quy luật đó đang tiếp tục phát huy tác dụng trong thời đại ngày nay và sẽ còn tiếp tục tồn tại trong chủ nghĩa xã hội

Từ kinh nghiệm của thế giới, có thể khẳng định rằng: không có KTTN thì về thực chất cũng không có kinh tế thị trường; trong khi đó kinh tế thị trường lại là con đường phát triển mang tính phổ biến đối với cả nhân loại

Trong các nước có nền kinh tế thị trường hình thành hai khu vực kinh

tế cơ bản, đó là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế công, để thấy rõ vai trò của KTTN đối với nền kinh tế thị trường nói chung, ngoài việc phân tích những tác động của khu vực kinh tế này đối với các mặt của đời sống xã hội như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, chúng tôi còn phân tích vai trò của KTTN đối với quản lý khu vực kinh tế công

1.2.4.1 Đối với phát triển kinh tế

Mục tiêu của phát triển kinh tế là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhập cao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh về tổng sản phẩm quốc nội Trong nền kinh tế thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực kinh tế công và khu vực kinh tế tư nhân

Thứ nhất, một trong những đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế tư

Trang 28

nhân đối với phát triển kinh tế là khả năng huy động vốn cho các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất Do đó khả năng tự huy động vốn của khu vực kinh tế tư nhân trở nên rất quan trọng và cần thiết

Thứ hai, việc phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo ra các cơ hội việc

làm Chính việc huy động và hình thành vốn của các doanh nghiệp tư nhân đã tạo ra các cơ hội việc làm cho các thành viên khác trong cộng đồng Việc làm

sẽ mang lại thu nhập cho những người lao động và nâng cao mức sống của gia đình họ Nhìn chung, chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân khác với các nhà quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước ở chỗ họ có quyền quyết định lớn hơn trong việc thuê mướn lao động (số lượng, kỹ năng cần thiết của người lao động) Vì vậy, lực lượng doanh nhân không những hoàn toàn có thể tăng số lượng lao động làm thuê theo ý họ, mà còn có thể nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn nhân lực trong cộng đồng

Thứ ba, sự phát triển của khu vực KTTN thường đi liền với việc ứng

dụng và quảng bá công nghệ Một yếu tố quan trọng để tạo được hiệu quả trong sản xuất là công nghệ phù hợp Thực tế cho thấy, cách suy nghĩ và hành

động không bao giờ tự hài lòng của các chủ doanh nghiệp thường xuyên thúc

đẩy họ tìm kiếm các công nghệ phù hợp hơn cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp Sự phù hợp về công nghệ không phải lúc nào cũng hàm ý là công nghệ tiên tiến nhất mà ở đây là công nghệ phù hợp với những điều kiện của quá trình sản xuất, xét về mặt cấu thành chi phí và các nguyên liệu đầu vào sẵn có Nếu đem so sánh với các doanh ngyiệp nhà nước thì rõ ràng các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN phải đối mặt trực tiếp với những chi phí thực tế về sản xuất, lao động, vốn, nguyên vật liệu Quá trình tìm kiếm công nghệ phù hợp của một doanh nghiệp tư nhân có ảnh hưởng tích cực nhất đến việc phân bổ một cách có hiệu quả nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế

Trang 29

Thứ tư, phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo nguồn thu thuế cho

chính phủ, thông qua hệ thống thuế, các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả

sẽ đóng góp vào tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Các khoản đóng góp này giúp duy trì bộ máy hoạt động của chính phủ cũng như là nguồn quan trọng để xây dựng phần lớn các cơ sơ hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết Để bảo đảm nguồn thu vững chắc này, điều quan trọng là cơ cấu thuế, quy trình thu thuế, quá trình kiểm toán cần được phát triển phù hợp sao cho việc trốn thuế và các tác nhân xấu ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và hiệu quả được tối thiểu hoá

1.2.4.2 Đối với phát triển xã hội

Xét về tổng thể, mục tiêu của phát triển xã hội là tạo nên sự công bằng

về cơ hội cho tất cả các thành viên trong xã hội bất kể vị thế kinh tế và xã hội của họ thông qua các dự án xã hội Những dự án này bao gồm giáo dục và đào tạo, sức khoẻ, nhà ở, trợ giúp cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Về trách nhiệm xã hội, nhiều công ty thuộc khu vực KTTN xem trách nhiệm xã hội như là trách nhiệm của họ, hành động với tư cách như những công dân tốt trong xã hội, nhằm bảo đảm rằng những mối quan tâm của xã hội như môi trường, an toàn của khách hàng, an toàn của người lao động sẽ được

đề cập, quan tâm một cách thích đáng trong kế hoạch kinh doanh và trong quá trình hoạt động, Tại một số quốc gia, các doanh nghiệp tư nhân thường tuân thủ tốt hơn theo những quy định về mặt môi trường so với các doanh nghiệp nhà nước

Việc thực hiện các dự án xã hội ở nhiều quốc gia cho thấy: các dự án xã hội thành công thường là các dự án do các tổ chức phi chính phủ thuộc khu vực tư nhân thực hiện, chứ không phải là các dự án do các cơ quan thuộc chính phủ trực tiếp thực hiện Chẳng hạn như ở Philipin, các dự án cho các

Trang 30

doanh nghiệp nhỏ vay vốn do các cơ quan chính phủ thực hiện thường có tỷ lệ hoàn trả rất thấp; trong khi đó, tỷ lệ hoàn trả này lại tăng lên đáng kể, khi chúng được giao cho các tổ chức phi chính phủ của khu vực tư nhân quản lý thực hiện thông qua các hợp đồng Lý do là, khi các tổ chức thuộc chính phủ

tổ chức thực hiện thì những người vay vốn thường có ấn tượng rằng họ không thực sự cần thiết phải hoàn trả lại những khoản vốn này, vì đây là tiền chính phủ, mà tiền của chính phủ lại là tiền của mọi người Tuy nhiên vấn đề lại hoàn toàn khác khi việc thực hiện dự án do các tổ chức phi chính phủ thuộc khu vực tư nhân thực hiện, người vay cảm thấy mục đích thực sự của dự án và phải bảo đảm chắc chắn rằng những khoản vay của họ sẽ được hoàn trả Hơn nữa, người đi vay có thể có cảm giác nghĩa vụ do các tổ chức phi chính phủ tạo ra cho họ, những cảm giác mà những nhân viên thuộc chính phủ có thể đã không chỉ rõ cho người vay thấy

1.2.4.3 Đối với quản lý khu vực kinh tế công

Mặc dù khu vực tư nhân và khu vực công cộng đều có vai trò riêng trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên có rất nhiều công cụ nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng có nguồn gốc ban đầu

từ khu vực tư nhân

Tại những quốc gia có sự phối hợp giữa khu vực tư nhân và khu vực công cộng trong việc xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển, các viên chức chính phủ thừa nhận rằng các đồng nghiệp ở khu vực tư nhân đã tạo ra những suy nghĩ khách quan, tiến bộ, mới mẻ hơn khi giải quyết các vấn đề Xét về

xu hướng chung, các viên chức chính phủ thường tương đối thụ động và bảo thủ hơn so với đồng nghiệp năng động, sáng tạo và cầu tiến hơn ở khu vực tư nhân, họ vốn đã quen với môi trường cạnh tranh bên ngoài Vì thế, những kế hoạch của các doanh nghiệp tư nhân thường sẽ mang tính thực tế, tập trung hơn và có thể đạt tới khả năng sinh lợi cao hơn

Trang 31

Ở phần lớn các nền kinh tế thị trường thuộc các nước phát triển, doanh nhân thường được mời vào một vị trí tạm thời ở khu vực công, từ đó họ thường có cơ hội chuyển tải phương pháp làm việc, cách suy nghĩ cho các nhân viên chính phủ Một trong những khó khăn mà các nhà kế hoạch và hoạch định chính sách trong nền kinh tế thị trường hay gặp phải là việc dự báo tác động và kết quả của các chính sách, vì họ phải dựa trên các phản ứng của khu vực tư nhân đối với các chính sách này Bằng cách đưa khu vực tư nhân tham gia một cách chủ động vào quá trình hoạt động và xây dựng chính sách, vấn đề khó khăn này sẽ được tối thiểu hoá Nhờ có sự tham gia của các đại diện khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta có thể hình dung được tác động có thể có của một chính sách nhất định xét đến giác độ phản ứng của khu vực doanh nghiệp Khu vực tư nhân có thể cung cấp những chỉ dẫn trong việc lựa chọn chính sách và cũng nhờ có khu vực này mà chính sách mang tính kịp thời và cập nhật hơn

Việc tham gia hiệu quả của khu vực tư nhân trong việc xây dựng chính sách đòi hỏi khu vực tư nhân phải được tổ chức sao cho những vấn đề cần phải có chính sách mới hay cần phải có sự thay đổi chính sách có thể được thảo luận một cách tự do, độc lập ở khu vực tư nhân vì họ có quyền tự do bầu

cử cho những người đại diện của họ vào các cơ quan xây dựng chính sách Sự thành công trong việc tham gia của khu vực tư nhân phụ thuộc vào việc các tổ chức tư nhân này được tổ chức hiệu quả và vững chắc như thế nào Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, trình độ giáo dục của chủ doanh nghiệp và quy

mô doanh nghiệp là những nhân tố quan trọng bảo đảm tham gia có hiệu quả với tư cách là một đối tác của chính phủ trong hoạch định kế hoạch, xây dựng chính sách và giám sát thực hiện Và một nhân tố quan trọng khác là sự sẵn sàng của các viên chức chính phủ trong việc chia sẻ trách nhiệm với khu vực

tư nhân trong quá trình ra quyết định và cung cấp những thông tin cần thiết

Trang 32

cho quá trình này Chính phủ phải thể hiện sự sẵn sàng của mình cho khu vực

tư nhân thấy, và từ đó các tổ chức của khu vực tư nhân có thể chuẩn bị tinh thần và nhiệt tình tham gia với tư cách như những đối tác ngang bằng trong quá trình hoạch định chính sách

Từ các kết quả phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng khu vực KTTN có vai trò hết sức quan trọng và cần thiết trong việc tiếp tục phát triển của nền kinh tế thị trường trên thế giới Dù là nền kinh tế phát triển theo kiểu nào đi chăng nữa (kinh tế thị trường hay kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), nếu đã chấp nhận yếu tố thị trường thì cũng có nghĩa là thừa nhận

sự cần thiết khách quan về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân Không phải ngẫu nhiên mà A Smith - nhà kinh tế học chính trị tư sản cổ điển Anh khi đánh giá vai trò của khu vực KTTN trong nền kinh tế thị trường đã gọi khu KTTN là “xương sống" của nền kinh tế thị trường

1.3 Điều kiện tồn tại và phát triển của kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế

chuyển đổi

1.3.1 Tính tất yếu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế

Sau cách mạng tháng 10 (1917), hệ thống kinh tế thế giới phân thành hai cực: một bên là các nước xã hội chủ nghĩa phát triển theo mô hình kinh tế

kế hoạch hoá tập trung với hình thức sở hữu công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; một bên là các nước tư bản chủ nghĩa phát triển theo mô hình kinh tế thị trường với hình thức sở hữu thống trị là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa

Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung có đặc trưng là:

- Dựa trên nền tảng của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

- Nhà nước thay thị trường quyết dinh toàn bộ quá trình sản xuất (sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?); Hình thức phân phối theo lao động

Ba đặc trưng này tạo thành hệ phát triển kinh tế đặc thù với những

Trang 33

thuộc tính cơ bản sau:

+ Coi chế độ công hữu tư liệu sản xuất dưới hình thức quốc doanh là trình độ cao nhất của tính chất xã hội hoá nền sản xuất xã hội, tức là hình thức

xã hội hoá trực tiếp quá trình sản xuất Hình thức xã hội hoá trực tiếp này đồng thời là việc xoá bỏ kinh tế tư nhân và các cơ sở của kinh tế thị trường,

do đó xoá bỏ bản thân kinh tế thị trường, đẩy hoạt động kinh tế đối lập với quan hệ (cơ chế) thị trường Việc thực hiện quá trình xã hội hoá đã được đẩy nhanh chủ yếu bằng các biện pháp hành chính, theo kiểu nhà nước hoá nền kinh tế Có thể nói, phi thị trường hoá và nhà nước hoá là những thuộc tính cơ bản của hệ kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Thực tế ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) giai đoạn này vẫn tồn tại những người sản xuất hàng hoá nhỏ với sở hữu tư nhân, cá thể Bộ phận này hoạt động một cách lén lút, phân tán, nhỏ lẻ trong điều kiện bị kỳ thị, phân biệt đối xử của hệ thống luật pháp và “hệ tư tưởng CNXH”

+ Phi thị trường hoá và nhà nước hoá nền kinh tế, gắn với quá trình hiện vật hoá và tập trung hoá nền kinh tế Bộ máy quản lý kinh tế trở thành bộ máy mang tính hành chính không tự điều chỉnh và chỉ có thể hoạt động đưới những mệnh lệnh phát ra từ một trung tâm Đặc trưng của cơ chế này là Nhà nước không chỉ can thiệp sâu vào nền kinh tế, mà nó còn đóng vai trò là toàn

bộ cỗ máy kinh tế Chính Nhà nước là người tổ chức, điều hành và thúc đẩy toàn bộ bộ máy kinh tế đó Bởi vậy sự vận hành, sự tiến triển của nền kinh tế phụ thuộc vào sự điều hành và thúc đẩy của Nhà nước Theo một nghĩa nào

đó, với việc xã hội hoá dưới hình thức Nhà nước, với việc xoá bỏ cơ chế và và các quan hệ thị trường, hệ kinh tế này đã quay lưng lại với các quan hệ và quy luật kinh tế khách quan, cũng tức là chủ quan hoá các hoạt động kinh tế Ở đây không chỉ có Nhà nước hoá khía cạnh sở hữu, mà trên bình diện toàn bộ các hoạt động kinh tế, “bàn tay hữu hình” đã hoàn toàn loại trừ yếu tố và vai

Trang 34

trò của “bàn tay vô hình” Vào năm 1987-1988, khu vực kinh tế công (bao gồm nhà nước và tập thể) đã chiếm tới 99,3% thu nhập quốc dân ở Tiệp khắc, 92,9% ở Hungary và thấp nhất cũng là 81,2% ở Ba Lan [27, tr 46-51]

+ Với việc xóa bỏ kinh tế tư nhân và nhà nước hoá nền kinh tế, con người với tính cách là con người kinh tế đã bị thủ tiêu, và họ đơn thuần chỉ còn là những người lao động - một yếu tố của quá trình sản xuất Trong điều kiện không có thị trường, việc phân phối của cải ở đây cố nhiên là phân phối giữa những người lao động Việc phân phối đó cũng chủ yếu là phân phối trực tiếp Phân phối theo lao động ở đây chỉ là để phân biệt với phân phối theo tài sản Một khi LLSX đã được công hữu hoá, thì phân phối theo lao động hàm chứa sự công bằng về lý thuyết, nhưng trên thực tế, việc thực hiện chế độ phân phối căn cứ theo nguyên tắc này hoá ra lại biến thành kiểu phân phối mang tính chất bình quân chủ nghĩa Điều này đã không tạo ra động lực cạnh tranh cho nền kinh tế, không kích thích các chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng

Tuy nhiên trên thực tế, trong khoảng 4/5 thế kỷ qua, kể từ khi xuất hiện nhà nước công - nông đầu tiên (1917), với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế của các nước XHCN đã từng biết đến những thời kỳ tăng trưởng hết sức nhanh chóng, tưởng chừng như mô hình kinh tế này sẽ trở thành một con đường duy nhất có thể giải quyết được mọi vấn đề kinh tế mà

hệ thống TBCN không vượt qua được

Sau một số năm thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, với

sự “khước từ” kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường, nền kinh tế các nước thuộc phe XHCN cũ trước đây ở trạng thái trì trệ, kém phát triển Mặc dù trong quá trình kiến lập kiểu kinh tế XHCN này, luôn bao hàm trong đó những cuộc

“cải cách” ở những quy mô to, nhỏ khác nhau, nhưng luôn mang tính chất cục

Trang 35

bộ và thường được hiểu theo nghĩa “cải tiến”, “hoàn thiện”, dựa trên những nền tảng đã tạo dựng nên ngay từ những ngày đầu xây dựng nền kinh tế mới

Thực tiễn của sự vận động kinh tế xã hội chủ nghĩa theo mô hình kinh

tế kế hoạch hoá tập trung đến những năm 80 của thế kỷ XX cho thấy rằng những “cải tiến”, “hoàn thiện” ấy là không đủ Nó đã thực sự rơi vào cuộc khủng hoảng sâu sắc có tính chất toàn diện và hệ thống

Thật vậy, ngay từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử 40 năm nước Cộng hoà nhân dân Ba Lan đã xuất hiện và chính thức mở đầu cho thời kỳ suy thoái của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa trước khi lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc ở một thập niên sau đó Trong bối cảnh khủng hoảng mang tính cục bộ, thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã chứng kiến những cố gắng liên tục của các nước XHCN nhằm

“cải cách” nền kinh tế bằng các biện pháp cũng mang tính “cục bộ”, trên cơ

sở giữ nguyên khung khổ cơ chế kế hoạch hoá tập trung Người ta đã sử dụng nhiều hơn những biện pháp quản lý gián tiếp thông qua các “đòn bẩy” kinh tế như giá cả, tỷ giá hối đoái, lãi suất, thuế , kết hợp với mở rộng quyền tự chủ cho tập thể người lao động Tuy nhiên, với lối tư duy kinh tế của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tầm cỡ và quy mô của những cải cách như vậy dường như đã không đủ để xoay chuyển tình trạng kém hiệu quả và trì trệ của những nền kinh tế này Nguy cơ rơi vào một cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng

và cuộc khủng hoảng đó đã thực sự diễn ra vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX Cũng bắt đầu từ thời điểm đó, các nước XHCN bắt đầu quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh

tế thị trường Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn

và mang tính tất yếu khách quan

1.3.2 Những đặc trưng và mâu thuẫn cơ bản trong nền kinh tế chuyển đổi

* Những đặc trưng trong nền kinh tế chuyển đổi:

Trang 36

- Cải tổ liên tục, thực hiện cải cách kinh tế một cách thường xuyên

Cải tổ kinh tế là việc thực hiện chuyển đổi một cách có ý thức, hướng tới thay đổi các quan hệ kinh tế đang tồn tại Điều này có nghĩa là cải cách về kinh tế được thực hiện ở tất cả các nước - trước đây với chu kỳ khoảng 35- 45 năm, ngày nay là khoảng 20 - 30 năm Các nguyên nhân của việc cải cách về

về kinh tế ở các nước khác nhau là không giống nhau - như thay đổi các điều kiện khách quan, thay đổi các thế lực chính trị, các công cụ được sử dụng để đạt các mục tiêu kinh tế và xã hội không hiệu quả Cải cách kinh tế còn có một đặc tính nữa là tiến tới cải cách hệ thống nói chung, và cải cách này thường có thời gian lâu hơn Những thập niên đầu và giữa thế kỷ XX, nền kinh tế ở các nước kinh tế thị trường đặc trưng bởi sự can thiệp ngày càng tăng của nhà nước Nổi bật trong thời kỳ này là học thuyết kinh tế của trường phái Keynes Học thuyết về sự can thiệp của nhà nước của Keynes chiếm ưu thế trong lý thuyết và thực tế vài thập niên, xuất phát từ sự không hiệu quả của thị trường Những thập niên cuối của thế kỷ XX bắt đầu quá trình chuyển đổi kinh tế, ý nghĩa của nó có thể được đặc trưng như là thời kỳ hưng thịnh của thị trường Từ những năm 1980 ở Mỹ, Anh, Liên xô và các nước Đông

Âu, châu á bắt đầu tăng cường thể chế thị trường trong nền kinh tế

Nói chung cải cách về kinh tế bao gồm:

+ Cải cách về thể chế, nghĩa là cải cách cơ sở thể chế của nền kinh tế, trước hết là trên sự thay đổi sở hữu trong quá trình tư nhân hoá

+ Cải cách về thuế

+ Cải cách nông nghiệp Cải cách về sở hữu và các loại hình kinh tế trong nông nghiệp trên cơ sở cải cách về ruộng đất thông qua tư nhân hoá đất đai cho các thành viên của nông trang và nông trường quốc doanh

+ Cải cách về xã hội, bao gồm cải cách hưu trí, cải cách về nhà ở và dịch vụ công cộng, hệ thống giáo dục, y tế và văn hoá

Trang 37

+Tạo ra các tổ hợp công nghiệp lớn vừa sản xuất các sản phẩm phục vụ quốc phòng, vừa sản xuất hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho tiêu dùng

+ Cải cách quan hệ kinh tế quốc tế với các chính sách kinh tế mở cửa của nền kinh tế

- Khủng hoảng kinh tế - sự suy thoái của quá trình chuyển đổi và các đặc trưng của nó

Khủng hoảng của các nền kinh tế chuyển đổi có đặc tính tổng quát, nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực và các ngành của nền kinh tế và có thời gian tương đối dài, (ở Nga suy sụp kéo dài khoảng 9 năm); lực lượng lao động và vốn mới được giải phóng từ các ngành chưa thích nghi với cơ chế mới

Khủng hoảng kinh tế còn biểu hiện ở sự yếu kém của thị trường, của các tập đoàn và định hướng cải cách thị trường (ngày nay được thay thế thông qua việc thành lập các tập đoàn tài chính - công nghiệp); ở việc thiết lập mức lãi suất cho vay ở mức độ thấp hơn tốc độ tăng giá, với mục tiêu đảm bảo cho các cá nhân có thể có vốn để mua lại khu vực quốc doanh; bán tài sản quốc gia theo giá tượng trưng, làm đóng băng hoạt động đầu tư; thiết lập giá đối với năng lượng cao hơn mức giá trung bình một số lần Đặc biệt khủng hoảng kinh tế còn biểu hiện ở sự không ổn định của hệ thống kinh tế và chính trị

* Mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế chuyển đổi

Mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế chuyển đổi có thể coi là mâu thuẫn giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân tư nhân Tuy nhiên mâu thuẫn này có thể giải quyết bằng việc các khu vực này chiếm giữ những khoảng trống của thị trường phù hợp với tình hình kinh tế của mình

1.3.3 Các điều kiện để kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển trong nền kinh

tế chuyển đổi

Lịch sử đã chứng minh rằng: sự hình thành kinh tế tư nhân là kết quả tất yếu của sự phát triển LLSX Sự xuất hiện gia đình, các thiết xã hội, giai

Trang 38

cấp và Nhà nước chính là nguồn gốc xã hội dẫn đến sự ra đời của chế độ tư hữu Như vậy, trong xã hội còn có Nhà nước, có giai cấp, KTTN còn có khả năng tồn tại và phát triển Vì còn Nhà nước, còn giai cấp tức là lợi ích kinh tế còn tách biệt, do đó sở hữu tư nhân vẫn tồn tại Mặt khác trong điều kiện xã hội như vậy LLSX chưa phát triển đến mức làm cho KTTN bị tiêu vong Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển - các nước phương Tây, thực tế

đã trải qua 5 lần điều chỉnh về quan hệ sở hữu tư nhân TBCN

Lần 1: Từ 1870 đến đầu thế kỷ XX 30 năm này có thể coi là thời kỳ

quá độ của CNTB tự do cạnh tranh (TDCT) sang CNTB độc quyền Trong lần điều chỉnh này, SHTN cá biệt được thay thế bằng SHTN tập thể với sự ra đời

và áp dụng đại trà của công ty cổ phần (CTCP)

Lần 2: Diễn ra vào giữa thập kỷ 20 của thế kỷ XX (trước khi xảy ra

chiến tranh thế giới (CTTG) lần thứ II) Sự điều chỉnh lần này là sát nhập các CTCP lại, làm xuất hiện tổ chức độc quyền kiểu mới dưới dạng tổ hợp độc quyền: Xanh đi ca, Tờ rớt, Các ten, Công xooc xi om

Với sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền, SHTN tập thể được thay thế bằng SHTN tập đoàn

Lần 3: Diễn ra vào những năm sau CTTG thứ II, theo phương thức liên

kết tổ chức độc quyền truyền thống, hình thành tổ chức kinh tế kiểu mới dưới dạng đa quốc gia, xuyên quốc gia (TNC) Đây là bước điều chỉnh dẫn tới hình thành SHTN đại tập đoàn

Lần 4: Diễn ra vào khoảng giữa thập kỷ 60 của thế kỷ XX Dấu hiệu

điển hình là sự ra đời của những tổ chức liên kết kinh tế gồm nhiều chủ thể khác nhau dưới dạng những tổ chức mang tính khu vực, quốc tế Trong lần này những tổ chức kinh tế khu vực (quốc tế) truyền thống cũng được tái cấu trúc, được bổ sung thêm nhiều nguyên tắc mới

Lần 5: Bộc lộ rõ từ khoảng đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX Diễn ra trên

Trang 39

bình diện rộng, ảnh hưởng sâu sắc đến các nước tư bản phát triển, lan toả, lôi kéo hầu hết các nền kinh tế của các quốc gia, dân tộc bên ngoài phươngTây Biểu hiện này được gọi là quá trình toàn cầu hoá

Mỗi một lần điều chỉnh là biểu hiện một sự phát triển mới về trình độ của LLSX Vậy mà cho đến nay, ở các quốc gia này, KTTN vẫn còn đang cực

kỳ hưng thịnh

Đối với các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, mặc dù có sự điều chỉnh về mô thức phát triển kinh tế (từ mô thức kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường), nhưng mục đích cuối cùng của các quốc gia này vẫn

là phải xây dựng thành công CNXH Bản chất của xã hội XHCN là thực hiện chế độ công hữu về TLSX Vậy chế độ công hữu được hình thành do đâu? có phải do ý chí chủ quan của con người?

Theo lý luận của Mác, nếu hiểu công hữu như một sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử thì công hữu đó chính là kết quả của sự liên kết tự nhiên của các sở hữu cá nhân Như vậy theo Mác, tiền đề xuất hiện công hữu không có gì khác đó là sở hữu tư nhân Bản thân các hình thái tư hữu trước phải vận động đến độ chín muồi Khi đạt đến độ chín muồi rồi, tư hữu không còn thích ứng với nhu cầu phát triển của đời sống kinh tế, tất yếu dẫn đến quá trình liên kết tự nhiên giữa các hình thái tư hữu với nhau để hình thành công hữu

Như trên đã đề cập, quá trình liên kết tự nhiên giữa các hình thái tư hữu chưa diễn ra ngay cả ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển nhất Cho đến nay, KTTN vẫn tồn tại và đang có vai trò rất lớn trong kinh tế thị trường hiện đại

Trong nền kinh tế chuyển đổi, có thể nói trình độ phát triển của của LLSX kém hơn rất nhiều so với các nước tư bản phát triển kể cả về khoa học công nghệ, trình độ quản lý lẫn quy mô sản xuất .Quá trình toàn cầu hoá

Trang 40

kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải tiếp tục nâng cao hơn nữa trình độ của LLSX và phân công lao động xã hội (PCLĐXH) để có

thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới Vì lý do đó, trong giai đoạn này ở các

nước có nền kinh tế chuyển đổi, KTTN càng chưa thể mất đi, mà ngược lại KTTN càng cần phải nỗ lực chiếm lĩnh các khoảng trống của thị trường phù hợp với tình hình kinh tế của mình để phát triển LLSX, phát triển kinh tế đất nước

Trong thực tế, việc khu vực kinh tế tư nhân chiếm giữ các khoảng trống của thị trường gặp những khó khăn nhất định Bởi vì, ở các nước có nền kinh

tế chuyển đổi có đặc điểm là sự tồn tại và phát triển của khu vực KTTN không phải là một bước đi tuần tự theo quy luật phát triển tự nhiên của xã hội, tức là đi từ kinh tế cá thể tiểu chủ, phát triển thành kinh tế tư bản tư nhân, hay

từ SHTN nhỏ lên SHTN lớn, mà khu vực kinh tế tư nhân ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi được hình thành chủ yếu bằng hai con đường:

- Tư nhân hoá tài sản nhà nước (tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước)

- Thiết lập khu vực kinh tế tư nhân mới

Lý do mà khu vực kinh tế tư nhân ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi không đi theo quy luật phát triển tự nhiên vốn có của xã hội là bởi vì: khi tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa

cũ trước đây đã đoạn tuyệt với kinh tế tư nhân họ cho rằng chủ nghĩa xã hội

là xã hội mà ở đó chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được thay thế bằng chế độ công hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò thống trị Bằng con đường cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tước đoạt của kẻ đi tước đoạt, khu vực kinh tế nhà nước đã hình thành và thay thế căn bản khu vực kinh tế tư nhân ở các nước này Vì vậy trong quá trình phát triển rõ ràng kinh

tế tư nhân gặp phải rào cản về tâm lý do bị kỳ thị bởi hệ tư tưởng cũ trước

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Bộ tư pháp (2005), Luật Doanh nghiệp, những điểm mới và một số vấn đề đặt ra trong cơ chế thi hành, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp, những điểm mới và một số vấn đề đặt ra trong cơ chế thi hành
Tác giả: Bộ tư pháp
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
2- Bộ tài chính (2004), Luật Doanh nghiệp và Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp và Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện
Tác giả: Bộ tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2004
3- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 10/2003), Báo cáo tóm tắt đánh giá tình hình thi hành LDN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 10/2003), "Báo cáo tóm tắt đánh giá tình hình thi hành LDN
4- Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương (2001), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
5- BCH TW Đảng Lao động Việt Nam (1968), Văn kiện của Đảng về đường lối công nghiệp hoá - xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện của Đảng về đường lối công nghiệp hoá - xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta
Tác giả: BCH TW Đảng Lao động Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1968
6- Bộ GD và ĐT (2002), Giáo trình KTCT Mác - Lênin, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình KTCT Mác - Lênin
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002
7- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992. Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
8- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Doanh nghiệp. Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
9- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Luật Doanh nghiệp tư nhân, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp tư nhân
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
10- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Luật Công ty, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công ty
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
11- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật khuyến khích đầu tư trong nước
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
12- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Bộ luật Dân sự, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
13- C. Mác - Ph. Ăng ghen (1981), Tuyển tập, t1, 2. Nxb ST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C. Mác - Ph. Ăng ghen
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1981
14- C. Mác - Ph. Ăng ghen (1983, 1984), Tuyển tập, t5, 6. Nxb ST, Hà Nội . 15- C. Mác - Ph.Ăng ghen (2004), Toàn tập, t3. Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăng ghen
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1983, 1984
16- Diêu Dương, Hạ Tiểu Lâm (2002), "Khu vực kinh tế tư nhân Trung Quốc - chính sách, quá trình phát triển và những trở ngại trước mắt", Tạp Chí Nghiên cứu kinh tế, (287), tr. 61- 69; (288), tr. 62-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực kinh tế tư nhân Trung Quốc - chính sách, quá trình phát triển và những trở ngại trước mắt
Tác giả: Diêu Dương, Hạ Tiểu Lâm
Nhà XB: Tạp Chí Nghiên cứu kinh tế
Năm: 2002
17- Đảng cộng sản Việt nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18- ĐCSVN (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX , Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
19- ĐCSVN (2002, 2004), Văn kiện Hội nghị TW 3, TW 5, TW 7 (khóa X), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị TW 3, TW 5, TW 7 (khóa X)
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002, 2004
20- ĐCSVN (1978, 1987, 1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, VI, VII, Nxb ST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, VI, VII
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1978, 1987, 1991
21- ĐCSVN (1968), Văn kiện Đảng về đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá XHCN ở miền Bắc nước ta, Nxb ST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng về đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá XHCN ở miền Bắc nước ta
Tác giả: ĐCSVN
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1968

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  Động thái lao động công nghiệp ngoài quốc doanh - Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân dưới tác động của Luật doanh nghiệp
Bảng 2.1 Động thái lao động công nghiệp ngoài quốc doanh (Trang 53)
Bảng 2.2     Số lƣợng các doanh nghiệp của khu vực KTTN từ 1993-1998 - Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân dưới tác động của Luật doanh nghiệp
Bảng 2.2 Số lƣợng các doanh nghiệp của khu vực KTTN từ 1993-1998 (Trang 54)
Bảng 2.4   Vốn đăng ký trung bình của DN thuộc khu vực KTTN - Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân dưới tác động của Luật doanh nghiệp
Bảng 2.4 Vốn đăng ký trung bình của DN thuộc khu vực KTTN (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w