1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

118 579 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu về các TNCs như: cuốn sách“Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước ASEAN” của tác giả Nguyễn Khắc Thân do nhà xuất b

Trang 1

- BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2005

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

Tống Hoàng Phúc

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á

- BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới & Quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số: 5.02.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phùng Xuân Nhạ

Khoa Kinh tế, trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Hà Nội, 2005

Trang 3

MỤC LỤC

T rang

.1.1

2 1

.1.2

Bản chất và các đặc điểm cơ bản của TNCs 1

5 1

.1.3

9 1

.2

2 1

.2.1

Các chính sách phát triển các TNCs của các nước ĐPT Châu Á

2

2 1

Trang 4

.1.1

3 2

.1.2

8 2

.2.1

Số lượng các công ty mẹ và các chi nhánh 4

6 2

.2.2

1 2

.2.3

6 2

.3

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TNCs CÁC NƯỚC ĐPT CHÂU Á

6

7 2

.3.1

Đa dạng hoá mô hình sản xuất và kinh doanh 6

7 2

.3.2

Đa dạng hóa lĩnh vực và hình thức đầu tư 6

9 2

.1

Quá trình tích tụ vốn và hình thành các TNCs 7

5 3

.2

0 3

.3

6

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 APEC Asia Pacific Economic

Cooperation

Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

2 ASEAN Association of South - East

Asian Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

4 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước

ngoài

5 GDP Gross Domestic Production Tổng sản phẩm quốc nội

6 M&A Merger and Acquisition Thôn tính và sáp nhập

7 NIEs New Industrial Economies Những nền kinh tế công

nghiệp mới

8 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển

9 SME Small and medium - sized

Enterprises

Doanh nghiệp vừa và nhỏ

10 TNC Transnational Corporation Công ty xuyên quốc gia

11 UNCTAD United Nation’s Conference

on Trade and Development

Hội nghị liên hiệp quốc về thương mại và phát triển

12 USD United States Dollar Đô la Mỹ

Trang 7

trang số 5 đến trang số 7

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Từ những năm 1980s đến nay, các nước đang phát triển Châu Á (ĐPT CA) nổi lên như một sự đột phá trong sự phát triển về mọi mặt: cả về kinh tế,

xã hội lẫn vị trí chính trị, đặc biệt là các nước thuộc khối NIEs, những nước được coi là những con rồng Châu Á bởi sự phát triển thần kỳ trong nhiều lĩnh vực kinh tế Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm lên sự thần kỳ đó là

sự định hướng phát triển đúng đắn của Chính phủ các nước này, trong đó có

sự định hướng và hỗ trợ phát triển rất mạnh cho sự hình thành và phát triển của các TNCs, biến các TNCs này trở thành các đầu tầu phát triển kinh tế, từ

đó trở thành các động lực chính thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển một cách nhanh chóng Tuy nhiên từ giữa thập kỷ 90s đến nay, tốc độ phát triển của các nước ĐPT CA bị giảm sút rất lớn Trong đó có những nguyên nhân chính xuất phát từ quá trình hình thành và phát triển của các TNCs của các nước này

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước và tìm kiếm các bước đi và hướng đi nhằm phát triển bền vững Nhìn nhận được sự tất yếu của việc hình thành và phát triển của các TNCs, Đảng ta đã chủ trương thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế mạnh trở thành những đầu tàu trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển và là động lực chính trong việc thúc đẩy các thành phần khác cũng như cả nền kinh tế phát triển một cách nhanh chóng và bền vững Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn còn đang rất lúng túng trong việc tìm kiếm các mô hình và định hướng phát triển cũng như việc quản lý đối với những tập đoàn này Chính vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của các TNCs của các nước ĐPT CA để rút ra những bài học về thành công, thất bại của các TNCs này, từ đó phần nào giúp ích cho việc đưa ra được những đánh giá và những định hướng phát triển đúng

Trang 9

đắn trong quá trình xây dựng các tập đoàn lớn mạnh của Việt Nam là rất cần thiết

2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu

Hiện nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về các TNCs của các nước ĐPT nói chung cũng như của các nước ĐPT CA nói riêng, tuy nhiên hầu hết các đề tài đều xem xét trong nhiều góc độ và chủ yếu đi sâu vào từng lĩnh vực, khía cạnh, cũng như dự đoán các xu hướng hoạt động và phát triển của các TNCs của các nước này Ở Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu về các TNCs như: cuốn sách“Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước ASEAN” của tác giả Nguyễn Khắc Thân do nhà xuất bản Pháp lý xuất bản năm 1992, tuy nhiên nội dung cuốn sách chủ yếu tập trung vào vai trò của các TNCs đối với nền kinh tế các nước này, hơn nữa chưa tách biệt được TNCs nước ngoài và TNCs của các nước này; cuốn sách “Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia” của trường Học viện quan hệ quốc

tế do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996 thì chủ yếu đi sâu vào một lĩnh vực đầu tư của các TNCs trên toàn thế giới, chưa nêu được những đặc trưng của riêng các TNCs khu vực các nước ĐPT CA; cuốn sách

“Công ty xuyên quốc gia của các nền kinh tế công nghiệp mới Châu Á” của tác giả Hoàng Thị Bích Loan do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm

2002, đây là một cuốn sách nghiên cứu sâu về các TNCs của các nước thuộc khối NIEs Châu Á, tuy nhiên đây chỉ là một phần, chưa thể bao quát được hết các đặc điểm, nội dung, động thái phát triển của các TNCs các nước ĐPT CA; cuốn sách Công ty xuyên quốc gia: Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới” của tác giả Nguyễn Thiết Sơn do nhà xuất bản KHXH xuất bản năm

2003 là một trong những cuốn sách được đánh giá cao, tuy nhiên tập thể tác giả chủ yếu nghiên cứu chung và mang tính lý luận nhiều hơn, mặc dù vậy các tác giả đã đưa được ra nhiều mô hình chung, giải thích được nhiều động thái phát triển của các TNCs trên thế giới và một phần động thái phát triển

Trang 10

của các TNCs của các nước ĐPT CA và gần đây nhất là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QK 03.01: “Cải tổ các cheabol Hàn Quốc và những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” do Tiến sỹ Vũ Phương Thảo làm chủ trì (2005), đây là một đề tài có nhiều ứng dụng, tuy nhiên đề tài chuyên sâu nghiên cứu về TNCs của riêng nước Hàn Quốc, mô hình TNCs của Hàn Quốc mặc dù có rất nhiều thành công nhưng vẫn chưa phải là mô hình đại diện hoàn toàn cho tất cả các TNCs của các nước ĐPT CA

Ngoài ra còn một số tác phẩm và bài báo đề cập tới vấn đề TNCs tại các nước đang phát triển như: bài báo “tập đoàn kinh doanh ở các nước đang phát triển” của tác giả Trần Văn Anh đăng trên tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 1.1995, bài báo “khuynh hướng đa dạng hoá ở các cheabol Hàn Quốc

và các giải pháp điều chỉnh” đăng trên tạp chí Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương số 4, tháng 8/2002, bài báo “Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới” do TS Nguyễn Xuân Thắng làm chủ biên do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2003, bài báo “Cuộc chiến giữa các tập đoàn kinh doanh” của tác giả Ngọc Mai trên báo thị trường số 10 tháng 3/2005, bài báo “Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý ở các cheabol Hàn Quốc” tại tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 325, tháng 6/2005 … Hầu hết các bài báo này đều chỉ đề cập tới một phần nhỏ trong các hoạt động của các TNCs và thường

đi sâu vào một lĩnh vực nhất định, không mang tính khái quát, xuyên xuốt quá trình phát triển của các TNCs này

Chính vì vậy việc khảo cứu một cách có hệ thống và nhất là việc phân tích thực trạng một số hoạt động chủ yếu của các công ty này ở các nước ĐPT

CA nói chung và Việt Nam nói riêng từ đó rút ra những kinh nghiệm trong công tác thu hút, quản lý, định hướng các TNCs tại Việt Nam là cần thiết và

có ý nghĩa thực tiễn cao

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

Bằng việc hệ thống lại những vấn đề cơ bản của lý luận, phân tích quá trình hình thành và phát triển của các TNCs của các nước ĐPT CA luận văn

sẽ làm rõ được những đặc điểm phát triển của các TNCs của các nước ĐPT

CA, từ đó rút ra được một số bài học cho việc xây dựng các tập đoàn kinh tế ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với mục tiêu và nội dung trên, đối tượng nghiên cứu chính trong luận văn là quá trình hình thành, phát triển các TNCs của các nước ĐPT CA Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động chính của các TNCs của các nước ĐPT CA như thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và các tác động của chúng tới nền kinh tế các nước này từ đầu những năm 1980s đến nay

Do hiện nay số liệu về các TNCs của các nước ĐPT CA chưa được thống kê một cách đầy đủ, nhất là các nước có mức phát triển thấp như ở Nam

và Trung Á , nên trong phạm vi của luận văn này tác giả chủ yếu sử dụng số liệu về các TNCs của các nước NIEs Châu Á vì các TNCs của các nước ĐPT

CA tập trung chủ yếu ở các nước này

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, ngoài những phương pháp nghiên cứu cơ bản, tác giả

đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu chính như phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích so sánh, phương pháp lịch sử, đọc tài liệu và sử dụng các

mô hình lý thuyết, kết hợp với tham khảo ý kiến các chuyên gia nhằm tổng hợp, phân tích đánh giá và đưa ra những nhận xét, dự đoán về xu hướng hoạt động và phát triển của các TNCs của các nước ĐPT CA, từ đó đưa ra những bài học cho Việt Nam

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Xem xét một cách tổng quát về quá trình hình thành và phát triển của

Trang 12

các TNCs của các nước ĐPT CA, thông qua hệ thống lý luận cơ bản xem xét các hoạt động chủ yếu của các TNCs này, từ đó chỉ ra được một số đặc điểm nổi bật của các TNCs này

- Thông qua việc phân tích trên, luận văn tìm ra được một số nguyên nhân dẫn đến những thành công và những thất bại của các TNCs của các nước này, từ đó rút ra được những bài học quý báu cho các tập đoàn kinh tế của Việt Nam đang trong quá trình hình thành và phát triển như hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được kết cấu làm

3 chương như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành các TNCs ở các

nước đang phát triển Châu Á

Chương II: Động thái phát triển của các TNCs ở các nước ở các đang phát

triển Châu Á

Chương III: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ HÌNH THÀNH CÁC

TNC s CỦA CÁC NƯỚC ĐPT CHÂU Á

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Các khái niệm và định nghĩa về TNCs

Hiện nay, trên thế giới tồn tại rất nhiều định nghĩa, khái niệm và tên gọi khác nhau về TNCs, việc đưa ra một định nghĩa thống nhất vẫn đang là một yêu cầu bức xúc Bởi trên thực tế các định nghĩa này, mỗi định nghĩa lại được xem xét trên một góc độ khác nhau, cho nên đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được coi là định nghĩa áp dụng cho tất cả các lĩnh vực và được tất

cả mọi người chấp nhận

Trong những năm 60s, các thuật ngữ công ty quốc tế và công ty đa quốc gia (MNEs/MNCs) được sử dụng với ý nghĩa như nhau, nhưng nhìn chung thuật ngữ công ty quốc tế vẫn quen được sử dụng [11/34] Các thuật ngữ này nói đến sự lớn mạnh của công ty đã vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia và có các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới (Jenkins, 1987) Đặc điểm cơ bản của các công ty quốc tế hoặc đa quốc gia là quy mô lớn, sở hữu đa quốc tịch và có phạm vi hoạt động ở nhiều nước Mặc dù hai thuật ngữ trên có ý nghĩa như nhau, nhưng xét ở cách tiếp cận, thuật ngữ thứ nhất xem xét công ty từ giác độ kinh doanh quốc tế, trong khi thuật ngữ thứ hai đề cập đến cả tính sở hữu đa quốc gia của công ty (Richard E Caves, 1986), vì thế thuật ngữ thứ hai đã phản ánh đầy đủ hơn đặc điểm của MNEs

Đầu thập kỷ 70, thuật ngữ MNEs được sử dụng nhiều hơn thuật ngữ công ty quốc tế và có ý phân biệt với khái niệm công ty quốc tế [11/36] Trong thời kỳ này, cơ cấu tổ chức và các hoạt động của MNEs chuyển sang

cơ chế phi tập trung, đa doanh hơn trước Quá trình ra quyết định các hoạt động của công ty không còn độc quyền từ một chủ sở hữu ở chính quốc, mà người nước ngoài cũng được tham gia quản lý các chi nhánh của công ty hoạt

Trang 14

động ở nước họ Hơn nữa họ còn có quyền điều chỉnh tỷ lệ góp vốn và quyết định hình thức hợp tác với MNEs ở nước chủ nhà Bởi vậy, cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNEs không chỉ có tính quốc tế mà còn mang đậm nét đa quốc gia

Ngoài những đặc điểm chung trên, các nhà học giả còn đưa ra nhiều tiêu chí để xác định một công ty là MNEs Chẳng hạn, các nhà học giả Mỹ thường căn cứ vào phạm vi kiểm soát và quản lý hoạt động sản xuất ít nhất từ hai nước trở lên, và nhấn mạnh đến mức độ kiểm soát và quản lý trực tiếp các hoạt động của công ty ở nước ngoài Một số nhà học giả khác lại nhấn mạnh

về đặc điểm quy mô tài sản của công ty phải đạt đến mức trên 100 triệu USD (Raymond Vernon, 1971) hoặc được xếp vào danh sách 500 công ty lớn nhất

về tài sản trên thế giới được công bố hàng năm (Harvard Business School, 1974) hoặc số lao động sử dụng ở nước ngoài hoặc tỷ lệ tài sản ở nước ngoài trên tổng giá trị tài sản của công ty (Jenkins, 1987) Một số nhà học giả khác còn định nghĩa MNEs là một công ty lớn bao gồm nhiều công ty nhỏ hay thực thể kinh tế Những thực thể này không phân biệt quyền sở hữu nhưng được thành lập ở nhiều nước khác nhau và có mối liên kết chặt chẽ Trong một MNEs, mức độ tự chủ của các thực thể rất khác nhau, tuỳ thuộc vào hình thức liên kết và lĩnh vực hoạt động của chúng [11/37]

Cuối thập kỷ 1980, do sự nới nỏng các quy chế đầu tư nước ngoài ở các nước ĐPT và xu hướng tự do hoá thị trường vốn quốc tế, các MNEs đã tăng trưởng mạnh mẽ Trào lưu các công ty mẹ (parent firms) mở rộng chi nhánh

ra nhiều nước (transnationals) đã trở thành đặc điểm nổi bật trong những năm cuối của thập kỷ 80 Bởi vậy, trong thời kỳ này, thuật ngữ TNCs được sử dụng rộng rãi Theo định nghĩa, TNCs là doanh nghiệp có sở hữu và kiểm soát tài sản như nhà máy, hầm mỏ, đồn điền và các cơ sở bán hàng ở hai hoặc nhiều nước (Colman and Nixson, 1994) Nhiều học giả cũng có định nghĩa tương tự về TNCs như Jenkins, 1987; Rasiah, 1995; Dunning and Sauvant,

Trang 15

1996 Như vậy, theo các định nghĩa đã nêu, bản chất của các TNCs và các MNEs là giống nhau, đều là những công ty có quy mô lớn về tài sản, phạm vi hoạt động ở nhiều nước và tìm kiếm lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu Sự khác nhau về tên gọi chỉ là sự phản ánh đặc điểm phát triển trong từng thời kỳ tăng trưởng của TNCs hoặc thói quen sử dụng từ ngữ của các nhà kinh tế học Năm 1998, Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) đã đưa ra định nghĩa chung cho TNCs là công ty bao gồm các công ty mẹ và các công ty con của chúng ở các nước trên thế giới Hiện nay định nghĩa này là một trong những định nghĩa được nhiều nhà học giả chấp nhận nhất

Như vậy, qua các khái niệm và định nghĩa trên, có thể đi đến hai nhận xét quan trọng: thứ nhất, về bản chất, các thuật ngữ về TNCs không có sự khác biệt đáng kể, chúng có đặc điểm chung là quy mô lớn, sở hữu đa quốc gia và kiểm soát hoạc động sản xuất, kinh doanh ở nhiều nước Sự khác biệt chủ yếu là tên gọi, phản ánh đặc điểm nổi bật của TNCs trong từng giai đoạn lịch sử phát triển hoặc thói quen sử dụng từ ngữ của các nhà học giả Thứ hai, khó có thể đưa ra định nghĩa chính xác về TNCs

Theo nhiều nhà nghiên cứu nhận định: dùng thuật ngữ TNC để chỉ tất

cả các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế là hợp lý vì nó không chỉ nêu được đặc trưng kinh tế nổi bật của công ty trong thời đại quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay mà còn phản ánh đúng tính chất hoạt động của công ty trong thực tế Bởi thế, định nghĩa chung về TNCs được sử dụng trong luận văn này là định nghĩa của UNCTAD được công bố năm 1998:

“Các TNCs là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn, bao gồm công ty mẹ và các công ty chi nhánh của chúng Các công ty mẹ được định nghĩa như là các công ty mà việc kiểm soát tài sản của các thực thể kinh

tế khác ở nước ngoài thường được thực hiện thông qua việc góp vốn tư bản cổ

Trang 16

phần”

Trong đó, có các loại công ty con dưới đây:

- Công ty phụ thuộc (Subsidiary Enterprise): Chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu hơn 50% tổng tài sản của công ty Họ có quyền chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành viên bộ máy tổ chức và quản lý điều hành của công ty

- Công ty liên kết (Associate Enterprise): Chủ đầu tư chiếm 10% tài sản của công ty, nhưng chưa đủ để có quyền hạn như trường hợp công ty phụ thuộc

- Công ty nhánh (Branch Enterprise): là công ty trách nhiệm vô hạn hoạt động ở nước ngoài với 100% tài sản thuộc sở hữu của công ty mẹ

1.1.2 Bản chất và các đặc điểm cơ bản của các TNCs

Trang 17

và công nghệ làm cho khả năng tài chính của một công ty không đáp ứng nổi Cùng với nó là quá trình cổ phần hoá mở rộng và sự gia tăng quá trình huy động vốn thông qua thị trường tài chính làm cho số lượng các chủ đồng sở hữu ở khắp các quốc gia trong TNCs lớn lên Sở hữu tư bản kiểu cổ điển truyền thống nảy sinh và phát triển dưới thời cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và thứ hai đang mất dần vai trò điều tiết trong tất cả các cơ cấu của TNCs Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và sự cạnh tranh, các TNCs buộc phải đầu tư đổi mới công nghệ, tổ chức sản xuất, trong quá trình đó người công nhân hiện đại - từ đối tượng bị bóc lột trở thành chủ thể sở hữu kinh tế đầy tiềm năng (do đã trở thành chủ sở hữu một loại phương tiện sản xuất mới là các tri thức và kỹ năng có chuyên môn cao riêng của họ) ngày càng được thu hút với tư cách là đồng sở hữu

Như vậy, dưới tác động của cuộc cách mạng KH-CN, thông qua việc làm chủ sở hữu trong các hãng, công ty của TNCs đã diễn ra 2 thay đổi lớn

trong các quan hệ về sở hữu: Một là, sở hữu độc quyền siêu quốc gia - là hình

thức sở hữu hỗn hợp đã được quốc tế hoá, được tạo lên từ quá trình tích tụ, tập trung hoá và xã hội hoá sản xuất trên quy mô quốc tế dưới sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của cuộc cách mạng KH-CN và của các quy luật cạnh

tranh, quy luật kinh tế cơ bản của CNTB Hai là, sở hữu hỗn hợp - được tạo

ra do sự thay đổi về cơ bản địa vị, vai trò của người công nhân, trí thức, những người làm việc trực tiếp trong các ngành nghề khác nhau, nhất là những ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ cao là những người quyết định chất lượng của lao động và sản xuất

Tóm lại, nếu xét về mặt quan hệ sản xuất thì TNCs chỉ là hình thức vận động cao của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là sự thích ứng của các hình thức sản xuất, kinh doanh tư bản trước sự phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất xã hội [5/88] Xét về mặt hình thức hoạt động, thì dù phát triển cao đến đâu thì các TNCs cũng chỉ là các công ty có quy mô phát triển lớn, chính vì

Trang 18

vậy bản chất của chúng là thể thức kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận trên phạm

vi toàn cầu Chính vì vậy việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, tăng lợi nhuận là một mục tiêu không thể nào thay đổi, điều này quyết định hầu hết mọi chiến lược hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của tất cả các TNCs Trong mỗi thời điểm và tại mỗi một quốc gia khác nhau, các TNCs có các chiến lược khác nhau để tồn tại, để phát triển thông qua các hình thức biến đổi về phương thức hoạt động, về cơ cấu quản lý… tất cả đều vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận, thậm trí ngay cả khi các TNCs này thực hiện các hoạt động trợ cấp hoặc can thiệp vào chính trị các địa phương hay tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh thì tất cả những hành động đó cũng không ngoài mục đích phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình

1.1.2.2 Các đặc điểm cơ bản của TNCs

- Sở hữu của nhiều nước: Trước đây, nguồn vốn của một TNCs, đặc biệt

là của các công ty mẹ hầu hết có nguồn gốc từ một nước, nhưng hiện nay, việc cổ phần hoá và thông qua cổ phiếu để tiến hành đầu tư, kiểm soát các doanh nghiệp, các tập đoàn đã trở thành một trong những vấn đề tất yếu của hầu hết các nền kinh tế Chính vì vậy, hiện nay nguồn vốn của một tập đoàn hay một doanh nghiệp thường có rất nhiều quốc tịch, mang tính đa quốc gia Bên cạnh đó, việc thực hiện chiến lược chiếm lĩnh thị trường, các TNCs thường thực hiện đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết, cổ phần nhằm tận dụng các nguồn lực bên ngoài cũng như thị trường sẵn có của đối tác nước sở tại, chính điều này đã tạo lên hình thức đa sở hữu và vốn có nguồn gốc xuất

xứ từ nhiều nước

- Tính độc quyền: Do xuất xứ của các TNCs là từ các công ty tư bản độc quyền, cùng với quá trình quốc tế hoá sản xuất, cho đến nay các TNCs được hình thành trên hầu hết các nước, các khu vực, nhưng hầu hết các công ty này vẫn mang nhiều đặc tính của chủ nghĩa tư bản độc quyền, mang dấu ấn của

Trang 19

quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa và là sản phẩm của quá trình quốc tế hoá

- Cơ cấu tổ chức TNCs thường được chia thành hai phần chính: TNCs được hiểu là những công ty hoạt động trên mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, trên lãnh thổ nhiều quốc gia, do đó cơ cấu tổ chức được chi thành hai phần chính đó là “công ty mẹ” thuộc sở hữu của các nhà tư bản nước mẹ và một hệ thống các “công ty con - công ty chi nhánh” thuộc sở hữu công ty mẹ hoặc hỗn hợp với công ty nước chủ nhà Công ty mẹ có vai trò là trung tâm phối hợp hoạt động của các công ty con dưới sự kiểm soát của nó, định hướng sự phát triển của các công ty con và theo dõi thường xuyên các hoạt động của

chúng

- Các TNCs có năng lực tổ chức sản xuất lớn mạnh, năng lực về nghiên cứu khoa học và phát triển sản phẩm, thuận tiện trong điều phối vốn trên phạm vi toàn cầu: Những năng lực này đều bắt nguồn từ khả năng tài chính lớn và hệ thống các chi nhánh rộng khắp của các TNCs trên phạm vi toàn cầu Vì vậy, các TNCs có thể nắm bắt các cơ hội, điều tiết cũng như phối hợp giữa các chi nhánh để phục vụ cho một mục tiêu định trước trên toàn mạng lưới của mình

- Về cơ chế quản lý kinh doanh của các TNCs của các nước ĐPT CA:

Trang 20

mục tiêu hành đầu được các TNCs chú trọng là nhằm phát triển công ty, tập đoàn, Chính phủ các nước này tạo mọi điều kiện cho các TNCs phát triển trở thành bộ khung của nền kinh tế, động lực xuất phát chủ yếu là từ kết cấu xã hội của Châu Á: kết cấu hình tháp Các công ty chi nhánh không phải độc lập hoàn toàn mà hoạt động như những vệ tinh cho các tập đoàn lớn mang tính hệ thống Chế độ trả lương và sự thăng tiến của người lao động chủ yếu dự trên

cơ sở thâm niên công tác, trước đây các TNCs này thường áp dụng chế độ làm việc xuốt đời và tập trung, ngày nay đã và đang tiến hành cải cách, tổ chức lại

cơ cấu, chế độ quản lý cho phù hợp như: thay đổi việc làm, xắp xếp thời gian làm việc cho linh hoạt… Việc ra quyết định vẫn chủ yếu theo chế độ ý kiến tập thể, chế độ quản lý mang tính “gia đình trị” kiểu NIEs Châu Á [5/97-99]

- Trao đổi nội bộ trong TNCs (giá chuyển giao - intra firm trade): Do trình độ phát triển của những nước ĐPT CA còn hạn chế nên các TNCs không ngừng áp dụng giá chuyển giao để giảm phần lợi nhuận phải chịu thuế Bên cạnh đó, giá chuyển giao công nghệ của TNCs qua các dự án đầu tư nước ngoài ở các nước ĐPT CA thường tính cao hơn thị trường, nguyên nhân chủ yếu vì các TNCs có lợi thế về vốn và công nghệ, trong khi các nước ĐPT CA lại rất cần các yếu tố này và trình độ thẩm định công nghệ còn hạn chế Chính

vì vậy, vấn đề giá chuyển giao của các TNCs đang trở thành mối lo ngại cho nhiều nước ĐPT chủ nhà, đặc biệt là với các nước ĐPT CA

1.1.3 Các lý thuyết cơ bản của TNCs

Nhằm giải thích sự hình thành và phát triển của các TNCs, đã có rất nhiều nhà kinh tế học trong lịch sử đã nghiên cứu và đưa ra rất nhiều các lý thuyết nhằm giải thích và dự đoán cho sự hình thành và phát triển của loại hình hoạt động này Trong đó một số lý thuyết được sử dụng khá nhiều trong các quá trình hoạt động thương mại, đầu tư, dịch vụ, chuyển giao công nghệ… của các TNCs này là:

Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon: đã lý giải hiện tượng FDI trên

Trang 21

Theo lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu (1969) thì sản phẩm mới được phát minh và ra đời ở nước đầu tư, sau đó được xuất khẩu ra thị trường quốc tế Tại nước nhập khẩu, do ưu điểm của sản phẩm mới là nhu cầu thị trường nội địa tăng lên, nước nhập khẩu chuyển hướng sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật… của quốc tế Đến khi nhu cầu thị trường của sản phẩm sản xuất ở trong nước đạt tới mức bão hoà, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện và cứ theo chu kỳ như vậy mà dẫn đến việc các TNCs thành lập các chi nhánh tại nước ngoài (xem biểu đồ số 1)

Biểu đồ 1: Mô hình chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu

Trang 22

Ngoài ra, nguyên nhân đầu tư ra nước ngoài của các TNCs còn được lý thuyết địa điểm công nghiệp của R Vernon (1974) giải thích là các TNCs chuyển sản xuất ra nước ngoài cho gần nguồn cung cấp nguyên liệu hoặc gần thị trường tiêu thụ để giảm bớt chi phí vận tải nhờ hạ thấp được giá thành sản phẩm, điều này tạo điều kiện cho việc các công ty tìm cách đầu tư ra nước ngoài, cắm nhánh tại nước này và từ đó hình thành lên các công ty hoạt động trên phạm vi nhiều quốc gia, hình thành lên các TNCs

Về vai trò của TNCs đối với các nước ĐPT, Reuber (1973) và Casson (1985) cho rằng: quá trình quốc tế hoá của TNCs đã không chỉ bổ sung vốn đầu tư mà còn chuyển giao công nghệ, kiến thức quản lý và tạo thị trường cho các nước ĐPT Mặt khác, nhờ quá trình quốc tế hoá sản xuất (chủ yếu do TNCs thực hiện) mà các nước ĐPT khai thác được có hiệu quả các nguồn lực sản xuất của mình, trong đó đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên phong phú và lao động dồi dào

Lý thuyết chiết trung: từ cách xem xét các điều kiện để TNCs đầu tư ra nước ngoài, lý thuyết chiết trung của Dunning (1983) đã giải thích TNCs sẽ đầu tư ra nước ngoài nếu chúng có lợi thế độc quyền về vốn, công nghệ, kỹ thuật quản lý… so với các công ty của nước nhận đầu tư, những lợi thế này trực tiếp khai thác sẽ mang lại hiệu quả hơn so với cho thuê và cuối cùng là khai thác lợi thế độc quyền ít nhất phải sử dụng được một yếu tố nguyên liệu đầu vào rẻ ở quốc tế Khi thoả mãn được các điều kiện đã nêu thì các TNCs sẽ đầu tư ra quốc tế Như vậy, lý thuyết này đã chỉ ra được mốc giới hạn và cũng phần nào giải thích được nguyên nhân hình thành lên các TNCs thông qua việc đầu tư ra nước ngoài của các công ty

Lý thuyết nội vi hoá của Rugman (1983) và Berckley (1988): do thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là động lực thúc đẩy TNCs đầu tư ra quốc

tế, các TNCs thu được lợi nhuận cao từ giá chuyển giao thông qua trao đổi giữa các chi nhánh trong cùng một TNCs ở các nước Cùng quan điểm này

Trang 23

Chưa có đầu tư ra nước ngoài (sản xuất trong nước) Xuất khẩu trực tiếp ra thị trường nước ngoài

Văn phòng đại diện

Văn phòng đại diện

Cho thuê giấy phép

Chi nhánh ở nước

ngoài

Thành lập các chi nhánh s ản xuất ở nước ngoài

R.Jenkin (1987) cũng cho rằng, nếu tất cả các thị trường đều là cạnh tranh hoàn hảo thì không có lý do để các TNCs tăng cường cắm nhánh ở các nước

và gắn kết các thị trường với nhau Như vậy, lý thuyết này đã giải thích được một nguyên nhân trong việc các TNCs đầu tư ra nước ngoài đó là vì nhằm khai thác thị trường cạnh tranh không hoàn hảo để thu lợi nhuận cao bằng việc thực hiện giá chuyển giao

Con đường mở rộng sản xuất ra nước ngoài của các TNCs được các tác giả L.Zan, S.Zambon và Pettigrew (1993) giải thích qua biểu đồ các bước thực hiện cắm nhánh cơ bản: thông qua việc lập văn phòng đại diện hoặc cho thuê giấy phép, lập chi nhánh bán hàng ở nước ngoài rồi thành lập các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài (xem biểu đồ 2) Lý thuyết đã chỉ ra được các bước hình thành ra các TNCs thông qua việc thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước ngoài

Biểu đồ 2: Con đường mở rộng sản xuất ra nước ngoài của các TNCs

Ngoài ra còn có các quan điểm khác như học thuyết về giá trị thặng dư của Mark - Lênin, các quan điểm giải thích hiện tượng các công ty tư bản độc quyền đầu tư sang các nước ĐPT để khai thác nguồn lao động rẻ và tài

Trang 24

nguyên thiên nhiên phong phú của Baran (1957), Dos Santos (1973) và Wallerstein (1974) Vì thế, các TNCs thực hiện việc đầu tư, cắm nhánh tại nước ngoài như là các công cụ lợi hại của các tập đoàn này

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Các chính sách phát triển các TNCs của các nước ĐPT CA

Để phát triển kinh tế, các nước ĐPT CA đã thực hiện chiến lược phát triển các TNCs bằng cách thu hút các TNCs từ các nước phát triển và các nước ĐPT khác để thu hút vốn, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển và thúc đẩy hình thành các TNCs của các nước này Nhằm tạo điều kiện cho các TNCs trong nước hình thành phát triển, Chính phủ các nước ĐPT CA can thiệp tương đối mạnh vào các lĩnh vực như: đầu tư, cho vay (cả ngoại tệ), ưu tiên xuất khẩu,… bên cạnh đó Chính phủ các nước này đã xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi, luật đầu tư với những quy định ưu đãi thu hút TNCs đầu tư vào hoạt động ngày một nhiều và dài hơn Cụ thể các nước này đã sớm hoàn thiện hệ thống luật đầu tư, cho phép chuyển lợi nhuận về nước, đưa ra một số ưu đãi đặc biệt đối với các TNCs lớn và có công nghệ hiện đại, một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh như các nước NIEs đã thực hiện miễn thuế nhập khẩu và các thủ tục hải quan,… từ đó đã hình thành được nhiều loại hình thị trường và phát triển đồng bộ từ đó thúc đẩy các TNCs của mình hình thành và phát triển

Các nước ĐPT CA đã lựa chọn mô hình chiến lược kinh tế - xã hội phù hợp với các điều kiện trong nước và nước ngoài nhằm khai thác tối đa lợi thế

so sánh, ví dụ như “Chiến lược hướng về xuất khẩu” Tại mỗi nước có những chính sách cho riêng mình để đem lại những đặc thù riêng, như ở Hàn Quốc, các biện pháp như miễn thuế nhập khẩu đối với phương tiện sản xuất nguyên liệu, miễn thuế kinh doanh với ngành xuất khẩu và tài trợ lãi suất thấp bằng cách sử dụng các khoản cho vay của nước ngoài Đó là nhưng biện pháp rất

Trang 25

có hiệu quả kích thích sự phát triển của TNCs Hơn nữa một loại hoạt động khuyến khích xuất khẩu của Cơ quan xúc tiến thương mại Hàn Quốc (KOTRA) cũng góp phần giúp ngành công nghiệp xuất khẩu của nước này phát triển

Tại các nước Đài Loan, từ những năm 1950 đã bắt đầu khuyến khích các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu như: nới lỏng kiểm soát đối với xuất khẩu từ sau năm 1958, áp dụng một hệ thống ngoại hối thống nhất đối với xuất nhập khẩu, sự phân chia những khuyến khích về thuế, việc tài trợ lãi suất thấp đối với ngành công nghiệp xuất khẩu và việc áp dụng mạnh bạo đầu

tư nước ngoài từ 1960 đã kích thích đầu tư của các công ty tư nhân và các công ty nước ngoài Tại Singapo, Chính phủ rất chú trọng tạo mọi điều kiện

để xây dựng các tập đoàn lớn dạng các tập đoàn tư bản độc quyền…

Nhiều nước ĐPT CA đã áp dụng chính sách ưu tiên xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút sự thâm nhập của TNCs nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển của TNCs trong nước Bằng việc nghiên cứu để dự đoán được các nhu cầu phát triển trong tương lai, Chính phủ các nước này đã đưa ra chính sách chủ động xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế mở, các khu trung tâm thương mại hiện đại nhằm giúp cho các công ty trong nước phát triển theo định hướng, tập trung các công ty lại tạo điều kiện cho việc bổ trợ lẫn nhau để phát triển, nâng sức cạnh tranh, giúp các doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm được nhiều chi phí trong quá trình kinh doanh, tăng thêm hiệu quả hoạt động cho các công ty của mình Ngoài ra các nước này đã chú trọng xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng tài chính như hệ thống ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính…, trong việc hình thành tổng lượng vốn cần thiết cùng với một hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội… Chẳng hạn Hồng Long có hạ tầng cơ sở hoàn thiện, tin tức thu nhận nhanh nhạy và được coi là trung tâm vận chuyển và thông tin của thế giới với đội ngũ tàu thuyền

Trang 26

hiện đại, các cảng container, sân bay, thiết bị thông tin tiên tiến

Năm 1980 để chuyển sang chiến lược phát triển công nghệ cao, Đài Loan đã xây dựng khu công nghệ khoa học Hsinchu… Nhìn chung việc xây dựng những cơ sở hạ tầng trước khi nó trở thành nhu cầu bức thiết là một trong những hướng đi đúng đắn và đưa đến nhiều thành công của một số nước ĐPT CA Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của các nước ĐPT CA là theo chiến lược dài hạn, không giải quyết các vấn đề đã rồi mà có chức năng hướng dẫn nhu cầu, nhất là nhu cầu mở rộng giao lưu quốc tế Đây là điểm khác biệt giữa chính sách phát triển của các nước ĐPT CA so với một số quốc gia đang phát triển khác [5/81]

Hầu hết các nước ĐPT CA đã tạo điều kiện, đưa kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ lực, chi phối các hoạt động kinh tế đối nội và đối ngoại Nhà nước

đã hậu thuẫn vững chắc cho các cơ sở kinh tế tư nhân đi tiên phong trong những lĩnh vực có liên quan mật thiết đến lợi ích lâu dài của quốc gia Ngoài

ra, một số nước như Hàn Quốc, Malaysia, nhà nước tham gia đầu tư rất lớn vào các công ty có tiềm năng, thúc đẩy và giúp các công ty này phát triển thành các TNCs mạnh Chính sự nâng đỡ của Chính phủ của các nước ĐPT

CA là một trong những nguyên nhân chính góp phần vào sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các TNCs tại các nước này

Một trong những chính sách mạnh của các nước ĐPT CA trong việc phát triển các TNCs của mình đó là Chính phủ các nước này đã dành một nguồn tài chính lớn để hỗ trợ xây dựng các tập đoàn kinh doanh lớn với nhiệm vụ đủ sức mạnh để trở thành các đầu tàu kéo nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh, cạnh tranh được ở các khu vực và trên thế giới Từ đó các tổ hợp công nghiệp được hậu thuẫn ngày càng trở nên vững mạnh và đã thực sự trở thành chỗ dựa và xương sống của nền kinh tế các nước này Đó là các tổ hợp ChinFông của Đài Loan, các tổ hợp Hyundai, Goldstar, Daewoo, Samsung của Hàn Quốc và các tổ hợp công nghiệp lớn khác của HồngKông,

Trang 27

Singapo Những tổ hợp này chiếm độc quyền trong nhiều lĩnh vực kinh tế then chốt và mở rộng hoạt động sang nhiều nước trong khu vực và thế giới

[5/32-38]

Nói chung ở các nước ĐPT CA, vai trò của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế là rất lớn, nhà nước đã can thiệp trên nhiều phương diện bằng nhiều biện pháp để các TNCs được hưởng nhiều quyền ưu đãi, từ đó tạo điều kiện cho các TNCs này ngày càng vươn rộng và lớn mạnh hơn

1.2.2 Những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển của TNCs của các nước ĐPT CA

Bối cảnh kinh tế - xã hội tại các nước ĐPT CA ngày càng phát triển và biến động khó có thể dự báo trước, trong đó ẩn chứa đan xen rất nhiều những nhân tố mang tính lợi thế và hạn chế đối với sự ra đời và phát triển của các TNCs Chúng ta sẽ đi xem một số điều kiện cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới sự

ra đời và phát triển của các TNCs này

+ Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ: Để phát triển, các nước ĐPT CA đã định hướng phát triển thông qua con đường Công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH), chính điều này đã giúp cho các công

ty trong nước, dưới sự hỗ trợ của Chính phủ đã phát triển nhanh hơn, có khả năng cạnh tranh và xâm nhập vào các thị trường khác, điều này tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển của các TNCs của các nước ĐPT CA Và đây cũng chính là một trong những chiến lược phát triển của các nước này vì chỉ có các TNCs mạnh mới có đủ nguồn lực và khả năng nhanh chóng áp dụng các công nghệ mới, từ đó tạo động lực thúc đẩy sự phát triển công nghệ của quốc gia và là đầu tầu tiên phong trong công cuộc CNH- HĐH đất nước + Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá: Để phát triển, các nước ĐPT

CA đã mở cửa thị trường tham gia sâu rộng vào các xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá (TCH, KVH) nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài, mở ra các

Trang 28

thành động lực và cơ hội cho việc hình thành và phát triển của các TNCs của các nước này

+ Điều kiện tự nhiên: Một trong những đặc trưng chung của nhiều nước ĐPT CA là đa số các nước này đều nghèo về tài nguyên thiên nhiên, do đó chiến lược phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào chiến lược phát triển con người,

mở cửa ra thị trường thế giới

Diện tích nhỏ, đông dân khiến cho sức ép lớn về quy mô thị trường gây

sự bất lợi cho sự hoạt động của các TNCs, đòi hỏi họ phải có sự lỗ lực cao Tuy nhiên vị trí địa lý có bờ biền dài, có nhiều đảo thuận lợi cho giao lưu, tạo điều kiện hình thành trung tâm mậu dịch và các khu công nghiệp, các khu cảng biển, đó là những lợi thế trong việc thực hiện công nghiệp hoá đất nước

và mở đường tạo thế cho sự ra đời của các TNCs

+ Điều kiện chính trị – xã hội: Sau khi các nước ĐPT CA giành được chủ quyền dân tộc, các nước này được thừa hưởng khá nhiều cơ sở vật chất trong lĩnh vực công nghiệp của các nước chính quốc đã xây dựng trong suốt thời gia xâm lược và cai trị, tạo điều kiện cho giai cấp tư sản dân tộc đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung tư bản, chống nguy cơ giảm giá của tư bản ở thị trường quốc gia, mở rộng khai thác thị trường khu vực và quốc tế Các nước này đã xác định là việc xây dựng TNCs là con đường phát triển hiệu quả nhất Bên cạnh đó, sự hoạt động của các TNCs nước ngoài và sự thiết lập chi nhánh của chúng ở các nước này đã tạo cơ hội cho các nước này tiếp cận gần gũi với loại mô hình này, từ đó học tập kinh nghiệm của chúng

Tại nhiều nước ĐPT CA vai trò tư bản người Hoa có vị trí, vai trò quan trọng trong việc thu hút TNCs vào hoạt động Bên cạnh đó, thực chất hệ thống quản lý của các nước này được cải tiến từ chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước cho phù hợp với tình hình kinh tế của các nước ĐPT trong thời kỳ CNH Đây chính là yếu tố thuận lợi cơ bản đối với các nước này mà không phải quốc gia nào cũng có được trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá đất

Trang 29

- Các nước ĐPT Châu Á có môi trường kinh doanh thuận lợi, luật đầu tư với những quy định ưu đãi thu hút TNCs vào Nền kinh tế trong mấy thập niên trở lại đây luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định

- Chiến lược CNH và sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng thay thế nhập khẩu và sau đó là hướng về xuất khẩu, thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại, các sản phẩm của các TNCs mở rộng thị trường chủ yếu tại các nước phát triển, chính vì vậy đòi hỏi luôn phải cải tiến và nâng cao chất lượng

để giành ưu thế cạnh tranh

- Xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện phát triển cho các TNCs trong nước, có hệ thống chính sách ưu tiên xây dựng phát triển hạ tầng tài chính… Điểm đặc biệt ở đây là các nước này đã chủ động xây dựng những cơ sở hạ tầng trước khi nó trở thành một nhu cầu bức thiết

- Vai trò điều tiết của Chính phủ: cho phép tư nhân tự do sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, quản lý thị trường thông qua hệ thống các chính sách và đạo luật kinh tế Khu kinh tế nhà nước phát huy sứ mệnh đầu tàu đi vào CNH, nâng đỡ tạo mọi điều kiện để tư bản tư nhân phát triển Nhà nước đã hậu thuẫn vững chắc cho các cơ sở kinh tế tư nhân đi tiên phong trong những lĩnh vực có liên quan mật thiết đến lợi ích lâu dài của quốc gia Chính sự nâng đỡ của Chính phủ là một trong những nguyên nhân góp phần lớn vào sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các TNCs

1.2.3 Tính đặc thù trong sự hình thành và phát triển của TNCs của các nước ĐPT CA

Trang 30

Tính đặc thù trong sự hình thành và phát triển TNCs của các nước ĐPT

CA bắt nguồn từ chính mô hình kinh tế thị trường Đông Á Đây là một nền kinh tế được thiết lập trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế, nó được vận hành theo hai cơ chế: kết hợp điều tiết thị trường ở mức cao nhất với sự can thiệp của Chính phủ ở mức thấp nhất và

“Chính phủ cứng” với “Thị trường mềm” với vai trò của Chính phủ được đặc biệt coi trọng Những điều này đã quy định tính đặc thù trong hình thành và phát triển TNCs của các nước ĐPT CA

1.2.3.1 TNCs của các nước ĐPT CA được hình thành cùng với quá trình công nghiệp hoá

Các TNCs của các nước ĐPT CA được hình thành cùng với quá trình công nghiệp hoá (CNH) ở các nước Đông Á trong điều kiện trình độ tích tụ, tập trung tư bản đã mở rộng trên phạm vi quốc tế Tại các nước này, quá trình hình thành giai cấp tư sản và quá trình tích tụ tập trung tư bản được phôi thai ngay trong thời kỳ thuộc địa, được thực hiện không phải bằng các biện pháp cạnh tranh tự do mà chủ yếu dựa vào các nguồn vốn viện trợ, cho vay và đầu

tư nước ngoài, kết hợp với huy động các nguồn lực trong nước

Tuy nhiên, ở các nước này đến giữa những năm 80, các TNCs mới được phát triển mạnh mẽ, nguyên nhân chính là do các nước này đẩy mạnh công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu; xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô lớn; tăng cường thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài một cách có hiệu quả; mở rộng mạng lưới kinh doanh quốc gia cho chính các TNCs, tham gia sâu rộng vào cuộc cách mạng khoa học – công nghệ thế giới… những quá trình này đã tạo tiền đề vật chất và động lực cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các TNCs

Nhưng khác với sự hình thành ở các TNCs của các nước phát triển, các TNCs này được hình thành chủ yếu nhờ sự điều chỉnh của Nhà nước dưới sự thúc đẩy hoạt động của các TNCs nước ngoài: nhà nước can thiệp tương đối

Trang 31

mạnh vào việc tạo điều kiện nâng đỡ, mở rộng phát triển kinh tế, đẩy mạnh việc sáp nhập và tăng cường thực lực cho các công ty để chúng trở thành các TNCs Ngoài ra, Chính phủ các nước này còn dành một nguồn tài chính lớn

để xây dựng các tập đoàn kinh doanh lớn theo kiểu Chaebol Hàn Quốc nhằm biến chúng trở thành các đầu tàu kéo nền kinh tế

Nhìn chung, TNCs của các nước ĐPT CA trên cơ sở cái gốc ban đầu yếu ớt do chế độ thuộc địa để lại và phải đối mặt ngay với TNCs hùng mạnh của các nước tư bản phát triển nên chúng đã hình thành bằng cách:

- Lợi dụng sức mạnh TNCs của các nước phát triển hoạt động trên địa bàn của mình để từng bước hình thành và phát triển TNCs của riêng mình

- Tìm ra các ngành có lợi thế nhất để ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển, sau đó mở rộng dần thế lực ra ngoài

- Các công ty có triển vọng phát triển thì được Nhà nước tập trung đầu

tư và khuyến khích rõ ràng

- Lợi dụng các yếu tố truyền thống như: tinh thần tự cường, ý thức dân tộc cao, lòng yêu nước nồng nàn, phong tục tập quán, nề nếp gia đình, tinh thần tận tuỵ với công việc… để phát huy sức mạnh tổng hợp

- Luôn xác định sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là nhiệm vụ trung tâm của quốc gia để từ đó có chính sách cụ thể khuyến khích, động viên TNCs phát triển trong chiến lược thay thế nhập khẩu và trong chiến lược hướng về xuất khẩu

- Có kiểu đi rút ngắn, tiến thẳng vào chiến lược kinh doanh đa dạng hoá

1.2.3.2 Các TNCs của các nước ĐPT CA được hình thành trong quá trình xây dựng lại nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

Nhằm khôi phục lại nền kinh tế bị ảnh hưởng do cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước ĐPT CA đã bắt đầu việc tiến hành CNH bằng việc xác định rõ ràng vai trò của các công ty tư nhân và các công ty nhà nước,

Trang 32

chính phủ ủng hộ sự phát triển của các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu của các công ty tư nhân và tiến hành song song là cuộc cải cách ruộng đất từ

đó làm cho tư bản tư doanh phát triển Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, sự phát triển của tư bản tư doanh ngày càng bước vào giai đoạn mới cao hơn, trải qua các giai đoạn phát triển, xuất phát từ yêu cầu quy luật khách quan xuất hiện xu hướng tập đoàn hoá, hình thành một loạt quần thể xí nghiệp, khởi đầu cho sự ra đời của các TNCs

Là một điển hình trong sự phát triển của các TNCs của các nước ĐPT

CA sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Đài Loan và Hàn Quốc đều đã thực thi nhiều chính sách cải cách nền kinh tế và đã đạt được nhiều thành công, đặc biệt là chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu với một loại biện pháp như: nới lỏng kiểm soát đối với xuất nhập khẩu; sự phân chia những khuyến khích về thuế; tài trợ lãi suất thấp đối với ngành công nghiệp xuất khẩu, áp dụng mạnh bạo đầu tư nước ngoài đã kích thích đầu tư của các công ty tư nhân trong nước và các công ty nước ngoài Những hành động trên dẫn đến kết quả là các lĩnh vực dệt, chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ, linh kiện điện tử và các đồ dùng gia dụng phát triển thành các ngành công nghiệp xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, từ đó tạo điều kiện cho việc hình thành các xí nghiệp vừa

và nhỏ (SME), trở thành các vệ tinh cho các tổng công ty, tạo điều kiện cho việc tích tụ vốn, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các TNCs của các nước này

1.2.3.3 Quá trình hình thành và phát triển TNCs của các nước ĐPT CA theo kiểu rút ngắn

Đây là sản phẩm tất yếu của quá trình tích tụ, tập trung hoá sản xuất kinh doanh trên phạm vi thế giới trong điều kiện TNCs của các nước công nghiệp hoạt động mạnh mẽ ở khu vực Châu Á, do đó chúng là hình thức chủ yếu của nền sản xuất hiện đại và toàn cầu hoá Sự hình thành và phát triển của

Trang 33

các TNCs này trong những năm qua xét cho cùng là sản phẩm tất yếu phù hợp với các quy luật khách quan và những xu thế phát triển của thời đại như: tác động của quy luật cạnh tranh, sự phát triển mạnh mẽ của KHCN, vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận [5/39]

Dù được hình thành từ những cách thức nào thì phương thức quản lý kinh doanh ở TNCs của các nước ĐPT CA đều có những đặc trưng chung:

- Mục tiêu thành lập là nhằm tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế thu được lợi nhuận cao Để giành ưu thế trong cạnh tranh, các TNCs này đã tận dụng các lợi thế về quy mô, tập trung hoá các nguồn lực, chuyên môn hoá sâu giữa các chi nhánh thành viên mà TNCs

có khả năng cạnh tranh toàn diện đối với mọi hình thức trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế Tuy nhiên các TNCs này có những cách thức thực hiện mục tiêu đó theo những cách thức riêng như: tổ chức mở rộng các chi nhánh từ các khu vực giáp ranh rồi lan toả sang các khu vực khác; quy mô các chi nhánh thường không lớn; thực hiện phân bố địa hình các chi nhánh chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á Với mạng lưới chi nhánh rộng lớn sản xuất và tiêu thục trên khu vực, các TNCs này đã thúc đẩy sự phát triển của KH-CN phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong vùng, do đó nó tận dụng được lợi thế tương đối trước sức cạnh tranh của các TNCs phát triển khác địa bàn

- Tổ chức mô hình quản lý thường theo chiều dọc, các công ty thành viên đầu chịu sự kiểm soát về mọi mặt của tập đoàn với sự tập trung hoá và tính hình thức rất cao trong việc ra quyết định

- Phần lớn các TNCs của các nước ĐPT CA được phát triển theo mô hình chaebol nên chủ yếu thực hiện theo chế độ sở hữu theo “gia đình”, tức là thường do người đứng đầu dòng họ, gia đình kiểm soát, chi phối, hiện tượng chỉ bổ nhiệm con cái và những người thân vào các chức vụ quản lý là hiện tượng phổ biến Phần lớn sự chuyển giao quyền lực quản lý giữa các thế hệ ở

Trang 34

các TNCs này được thực hiện mà không cần có sự kiểm tra nào về mặt chất lượng của các nhân sự được bổ nhiệm Theo nghiên cứu chin (1985) cho thấy 24,5% trong tổng số chủ tịch của các công ty Hàn Quốc là người sáng lập, 18,4% là thuộc thế hệ thứ 2 của người sáng lập, 21,2% được đề bạt từ nội bộ tập đoàn và 35% được thuê từ ngoài [13/15].

Nói chung, dưới sự tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài sự

ra đời của TNCs của các nước ĐPT CA là một khách quan kinh tế Chính những điều này đã tạo ra những cơ sở vật chất, tiền đề cần thiết cho sự bành trướng để vượt biên giới quốc gia sang địa bàn quốc tế, hình thành nên các TNCs, đây cũng chính là mô hình phát triển phổ biến trong nền kinh tế thị trường TNCs của các nước ĐPT CA tuy ra đời sau song có những đặc điểm nổi bật là: có cách thức đi nhanh, tiến mạnh nhờ vai trò Chính phủ trợ giúp rất tích cực; nhờ tiếp thu kinh nghiệm ở TNCs của các nước phát triển; nhờ có tổ chức năng động kết hợp được các yếu tố truyền thống tốt đẹp của Đông Á; có chiến lược kinh doanh năng động, cơ cấu tổ chức linh hoạt, cách chiếm lĩnh thị trường rút ngắn, kết hợp đặc thù của mô hình kinh tế thị trường Đông Á nên chúng đã góp phần ngày càng nhiều vào đội quân TNCs quốc tế hùng hậu trên thế giới ngày nay

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐỘNG THÁI PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TNCs

CỦA CÁC NƯỚC ĐPT CA

2.1 MÔ HÌNH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TNCs CỦA CÁC NƯỚC ĐPT CA

2.1.1 Các mô hình tổ chức quản lý phổ biến của TNCs các nước ĐPT CA

2.1.1.1 Cơ cấu tổ chức của TNCs

Cho dù hình thành muộn so với các TNCs của các nước phát triển, về

cơ bản các TNCs của các nước ĐPT CA đều có những nét tổ chức như TNCs của các nước phát triển đó là: Concern và Conglomerate, vấn đề chỉ khác ở chỗ chúng tiến nhanh, đi thẳng đến liên kết mạng hiện đại Nhìn chung để tồn tại và phát triển, các TNCs này có xu hướng phát triển thành các tập đoàn Conglomerate, tức là một hãng gồm một công ty mẹ và một nhóm đa dạng các công ty thành viên, nó được hình thành chủ yếu bằng thôn tính hay sáp nhập nhiều xí nghiệp của các ngành khác nhau Cơ cấu điều hành của các Conglomerate rất gọn nhẹ, linh hoạt và phi tập trung hoá sản xuất, chủ yếu là kiểm soát hoạt động của chi nhánh thông qua hệ thống tài chính và chỉ đạo hành chính dựa trên tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh Kiểu quản lý này có tác dụng phát huy được tính năng động tự chủ của các công ty thành viên, tạo sự thống nhất chung trong tập đoàn Kết cấu này được thực hiện chủ yếu dưới hình thức chaebol kiểu Hàn Quốc, bằng chứng là đa số các TNCs của các nước ĐPT CA chủ yếu phát triển theo kiểu Chaebol Hàn Quốc

Các chaebol của Hàn Quốc là một conglomerat gia đình, là một tổ hợp công nghiệp có quy mô lớn thuộc sở hữu của các gia đình hoặc nhóm gia đình

ở Hàn Quốc, trong đó các thành viên của gia đình giữ vai trò là chủ sở hữu đồng thời là người quản lý Về bản chất, các chaebol là các doanh nghiệp gia đình kiểu phong kiến phát triển dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Các chaebol này thường được hình thành và phát triển chủ yếu theo cách tự lớn lên nhờ

Trang 36

- Cơ cấu sở hữu: Hầu hết các cổ đông đều là những cổ đông cá thể nhỏ,, các chủ sở hữu và gia đình họ chiếm khoảng 10% Các cổ đông lớn của các chaebol thường là các công ty phi tài chính hoặc các công ty tài chính phi ngân hàng Ngân hàng thường nắm giữ khoảng 10% tổng số cổ phần của các công ty niêm yết và do chính phủ kiểm soát Tính đa dạng của cơ cấu sở hữu phản ánh các giai đoạn khác nhau của quá trình tiến hoá của các chaebol này

và đặc trưng khác biệt của cơ cấu sở hữu của các chaebol Hàn Quốc được quy định bởi các hình thức đầu tư chéo trong nội bộ chaebol

- Bộ máy tổ chức quản lý: các chaebol này tổ chức theo chiều dọc, tất

cả các công ty thành viên đều phải chịu sự kiểm soát về mọi mặt, chiến lược kinh doanh và vấn đề kiểm soát được đặt ở tầm toàn chaebol Chế độ ra quyết định là chế độ tập trung hoá cao độ, quyền cao nhất thuộc sở hữu hay người sáng lập Việc phê chuẩn quyết định được xem như là công cụ thể hiện quyền lực và sự kiểm soát nhiều hơn là sự tư vấn và tham gia của người quản lý cấp dưới Tại các chaebol, chủ yếu vẫn chỉ bổ nhiệm con cái và những người thân vào các chức vụ quản lý mà không cần sự kiểm tra nào về chất lượng, chỉ khi

đã phát triển tới mức nhất định, các chaebol này buộc phải tuyển dụng thêm các nhà quản lý chuyên nghiệp bên ngoài

Quá trình tiến hoá của cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của các chaebol được chi làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1 từ những năm 60s, giai đoạn 2 từ những năm 80s, giai đoạn 3 bắt đầu từ nhẵng năm 90 tới nay Với mỗi giai đoạn các chaebol lại có mô hình cơ cấu phù hợp (xem các biểu đồ 3, 4, 5).

- Quy mô hoạt động kinh doanh của các chaebol mở rộng trên phạm vi toàn cầu thông qua việc thiết lập một mạng lưới chi nhánh sản xuất và tiêu thụ rộng khắp thế giới với chiến lược đa dạng hoá kinh doanh có tốc độ nhanh, mức độ đa dạng hoá cao, có sự đan xen giữa đa dạng hoá liên hệ và đa dạng hoá không liên hệ, đây là một dạng chiến lược quan trọng, nó đã trở thành những động lực giúp các chaebol này phát triển mạnh mẽ, góp phần tạo lên sự

Trang 37

phát triển thần kỳ của Hàn Quốc (xem bảng 1).

Biểu đồ 3: Mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của giai đoạn 1

Biểu đồ 4: Mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của giai đoạn 2

Biểu đồ 5: Mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của giai đoạn 3

- Phần tài chính tài trợ cho kinh doanh chủ yếu từ nguồn vốn bên ngoài,

sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn bên ngoài là đặc trưng nổi bật của các công ty Hàn Quốc, bên cạnh đó các nước khác như Đài Loan cũng dựa nhiều vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt là sự phụ thuộc vào ngân hàng

Chủ tịch PCO: Bộ phận kế hoạch hoá và kiểm soát

Chi nhánh Chi nhánh Chi nhánh

Chủ tịch

PCO

Hội đồng quản trị

Chủ tịch

PCO

Hội đồng quản trị

Trang 38

chính là một trong những điểm khác biệt về tài chính của các chaebol Hàn Quốc so với các công ty của Nhật bản, tại các công ty Nhật Bản tỷ lệ vốn bên ngoài những năm 1980s chỉ là 40% và ngày càng giảm dần, trong khi các công ty Hàn Quốc là 57,5% và ngày càng có xu hướng tăng lên (xem bảng 2)

Bảng 1: So sánh mức độ đa dạng hoá của các chaebol Hàn Quốc

và các tập đoàn kinh doanh của một số nước

1970

A

nh 197

I talia

6.2

22.0

16.0

6.0

10.0 Nửa chuyên

môn hoá

28.6

36.4

29.2

32.0

32.0

34.0

33.0

Đa dạng hoá

liên hệ 1 6. 9.9 3 5.2 4 8.0 3 2.0 4 4.0 5 2.0 5

Đa dạng hoá

không liên hệ 7.1 5 .8 6 9.4 1 8.0 1 0.0 1 .0 6 .0 5

Nguồn: Seong Min Ho (1995)

Bên cạnh đó, hiện tượng đầu tư nội bộ và bảo lãnh chéo là một trong những hiện tượng rất đặc trưng của các chaebol Hàn Quốc do ngoài tác dụng tạo ra cơ cấu sở hữu đặc biệt của chaebol để đảm bảo cho nhu cầu hoạt động vốn với quy mô lớn và duy trình quyền kiểm soát, đầu tư nội bộ cũng được sử dụng cho nhiều mục đích khác như tăng vốn bành chướng, tạo khả năng lợi nhuận, tạo điều cho việc tài trợ bằng cổ phiếu và các khoản vay hoặc là công

vụ cứu các công ty thành viên bị thua lỗ hoặc đang bị khó khăn về tài chính

Bảng số 2: Xu hướng của cơ cấu vốn ở các chaebol Hàn Quốc (%)

Trang 39

độ động quyền dành cho các chaebol được Chính phủ sử dụng như là một công cụ để ép các chaebol tuân theo mục tiêu kinh tế của Chính phủ Ngoài

ra, cho đến giữa những năm 1980s, Chính phủ đã duy trì quyền lực kiểm soát tuyệt đối của mình đối với các chaebol Chính phủ là người quyết định chính sách, còn giới kinh doanh thì phải chịu trách nhiệm thi hành Tới sau 1986, do nhiều thay đổi nên mối quan hệ giữa các chaebol và Chính phủ có nhiều thay đổi, các chaebol đã dùng sức mạnh của mình tạo ra các áp lực đối với Chính phủ nhằm đưa ra những yêu cầu của mình

Tại Singapo, các tập đoàn được xây dựng theo hướng các tập đoàn tư bản độc quyền, tiêu biểu là các tập đoàn Promet, Keppel…với nhiều chi nhánh hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau ở nhiều nước trên thế giới

[5/38]

Tại Đài Loan, các xí nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) được thành lập để đáp ứng với sự phát triển của các tập đoàn kinhh doanh lớn, các SMEs được hình thành như các vệ tinh và khi phát triển đến trình độ nhất định chúng trở thành các chi nhánh của các công ty lớn Sự hoạt động của các tập đoàn kinh doanh lớn và hệ thống các công ty vệ tinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khơi

Trang 40

thông sự giao lưu quốc tế về hàng hoá, tư bản, tri thức kỹ thuật và nhân tài chuyên môn [5/35]

2.1.1.2 Thể chế tổ chức quản lý của TNCs

Thể chế của các TNCs này đều liên quan tới quan hệ giữa cái chung và cái bộ phận, giữa “công ty mẹ” và “công ty con”, đều có mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, giữa kiểm soát và độc lập Căn cứ vào đó, thể chế quản lý kinh doanh của TNCs có thể bao gồm ba loại:

- Trung tâm nhất nguyên: Tập trung cao độ quyền quyết sách và quyền lực quản lý vào tay công ty mẹ Sự quản lý được tiến hành thẳng đứng từ cấp quản lý cao nhất tới cấp quản lý thấp nhất, tức là theo chiều dọc kiểu “kim tự tháp”, mô hình này áp dụng phổ biến ở các TNCs của Hàn Quốc

- Đa trung tâm nằm ngang kiểu “mạng lưới”: phân tán quyền quyết sách

và quyền lực quản lý vào các công ty chi nhánh ở nước ngoài hoặc các ngành nghề khác nhau trong bộ phận cấu thành Mô hình này được áp dụng phổ biến

ở các TNCs của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan

- Nhị nguyên: kết hợp cả quản lý tập trung và quản lý phân tán quyền lực Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các TNCs của các nước Thái Lan, Đài Loan, Singapo [5/92]

Nếu chỉ dừng lại ở việc xây dựng lại cơ cấu tổ chức quản lý thì chưa đủ, TNCs cần phải xây dựng thực thi chiến lược hoạt động nhằm đem lại hiệu quả cao Trong thời gian qua, để tạo cho mình một lợi thế cạnh tranh so với những đối thủ khác, hướng tới sự phát triển các TNCs của các nước ĐPT CA đã sử dụng những chiến lược gì trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình

2.1.2 Chiến lược phát triển

Do sự phát triển của phân công lao động quốc tế và cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi TNCs của các nước ĐPT

CA phải có những chiến lược hoạt động linh hoạt trong từng thời kỳ thích ứng

để tồn tại và phát triển vươn lên giành ưu thế trong cạnh tranh Nhờ có chiến

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2: Xu hướng của cơ cấu vốn ở các chaebol Hàn Quốc (%) - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng s ố 2: Xu hướng của cơ cấu vốn ở các chaebol Hàn Quốc (%) (Trang 38)
Bảng 1: So sánh mức độ đa dạng hoá của các chaebol Hàn Quốc   và các tập đoàn kinh doanh của một số nước - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 1 So sánh mức độ đa dạng hoá của các chaebol Hàn Quốc và các tập đoàn kinh doanh của một số nước (Trang 38)
Bảng số 3: Mức độ đa dạng hoá của 10 chaebol hàng đầu (1982)  Tên - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng s ố 3: Mức độ đa dạng hoá của 10 chaebol hàng đầu (1982) Tên (Trang 43)
Bảng số 4: Danh sách các TNCs hàng đầu của các nước ĐPT CA xếp theo  giá trị tài sản ở nước ngoài năm 1997 - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng s ố 4: Danh sách các TNCs hàng đầu của các nước ĐPT CA xếp theo giá trị tài sản ở nước ngoài năm 1997 (Trang 49)
Bảng số 5: Danh sách TNCs hàng đầu của các nước ĐPT CA   theo giá trị tài sản ở nước ngoài năm 2002 - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng s ố 5: Danh sách TNCs hàng đầu của các nước ĐPT CA theo giá trị tài sản ở nước ngoài năm 2002 (Trang 52)
Bảng số 6 :  Một số TNCs lớn nhất của Hàn Quốc và Hồng Kông trong  danh mục 500 công ty lớn nhất thế giới năm 1996 - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng s ố 6 : Một số TNCs lớn nhất của Hàn Quốc và Hồng Kông trong danh mục 500 công ty lớn nhất thế giới năm 1996 (Trang 54)
Bảng số 7 : Các chỉ số hoạt động của một số TNCs của các nước ĐPT CA - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng s ố 7 : Các chỉ số hoạt động của một số TNCs của các nước ĐPT CA (Trang 57)
Bảng số 8: Tỷ lệ giá trị xuất khẩu của các TNCs - Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng s ố 8: Tỷ lệ giá trị xuất khẩu của các TNCs (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm