Bên cạnh đó, những vướng mắc về cơ chế, chính sách của Nhà nước cũng làm cho thương nghiệp tư nhân chưa phát huy hết được những tiềm năng, thế mạnh của mình cũng như chưa đáp ứng được xu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Thị Như Hà
Hà Nội - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ SONG HÀ
THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2008
Trang 3MUC LUC
PHAN MO ĐAU 3
Chương 1 7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG NGHIỆP 7
TƯ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 7
1 1 Khái niệm và các loại hình thương nghiệp tư nhân 7
1.1.1 Khái niệm thương nghiệp tư nhân và sự phát triển thương nghiệp tư nhân ở nước ta 7
1.1.2 Các loại hình thương nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay 13
1.2 VAI TRÒ VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 17
1.2.1 Vai trò của thương nghiệp tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 17
1.2.2 Các yếu tố tác động đến thương nghiệp tư nhân ở nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 20
1.2.3 Kinh nghiệm của một số nước để tạo điều kiện phát triển thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 25
Kết luận chương 1 36
Chương 2 39
THỰC TRẠNG THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM 39
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 39
2.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM QUA 39
2.1.1 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ liên tục tăng qua các năm 39
2.1.2 Số lượng thương nghiệp tư nhân ngày càng nhiều, quy mô ngày càng lớn, nhất là hộ kinh doanh cá thể 43
2.1.3 Mô hình tổ chức và phương thức kinh doanh được phát triển nhanh theo hướng hiện đại, kết cấu hạ tầng phục vụ thương mại ngày càng hoàn thiện 45
2.1.4 Cơ cấu ngành nghề của thương nghiệp tư nhân có nhiều thay đổi 46
2.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 47
2.2.1 Những thuận lợi của thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 47
2.2.2 Những khó khăn của thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 48
Kết luận chương 2 56
Chương 3 58
Trang 4PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN 58 THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH 58 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 58 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM TỚI 58 3.1.1 Phát triển thương nghiệp tư nhân gắn với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 58 3.1.2 Phát triển thương nghiệp tư nhân là vấn đề chiến lược, lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 60 3.1.3 Bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động trong lĩnh vực thương nghiệp tư nhân 62 3.1.4 Phát triển thương nghiệp tư nhân gắn với xu thế toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế 63 3.2 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 66 3.2.1 Tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 66 3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật các chính sách kinh
tế có liên quan đến việc thúc đẩy hoạt động của thương nghiệp tư nhân phù hợp với luật pháp và các thông lệ quốc tế 68 3.2.3 Phát triển đồng bộ các loại thị trường trên địa bàn cả nước 69 3.2.4 Phát triển kết cấu hạ tầng cho thương nghiệp tư nhân hoạt động có hiệu quả 72 3.2.5 Cần coi trọng việc mở rộng các hình thức liên kết của thương nghiệp tư nhân 75 3.2.6 Tạo những điều kiện, tiền đề để thương nghiệp tư nhân mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường bên ngoài 75 3.2.7 Tiếp tục nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với thương nghiệp tư nhân 77 Kết luận chương 3 79 KẾT LUẬN 81
Trang 5PHAN MO ĐAU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng đã tạo cho kinh tế tư nhân bắt đầu
có điều kiện để phát triển rộng khắp trong cả nước Cùng với các thành phần kinh
tế khác, kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng sức sản xuất của xã hội, sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực để phát triển sản xuất, lưu thông, từng bước ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa, thương nghiệp tư nhân đã được khôi phục và phát triển nhanh chóng, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; Góp phần khai thác và sử dụng các nguồn lực xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng nguồn thu cho ngân sách Vì vậy, nó có vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước
Tuy nhiên, quá trình phát triển thương nghiệp tư nhân đang gặp nhiều thách thức và khó khăn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như: Thiếu vốn, công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu; chất lượng nguồn nhân lực và khả năng cạnh tranh chưa cao; Trình độ tổ chức kinh doanh chưa phù hợp với xu hướng kinh doanh hiện đại Bên cạnh đó, những vướng mắc về cơ chế, chính sách của Nhà nước cũng làm cho thương nghiệp tư nhân chưa phát huy hết được những tiềm năng, thế mạnh của mình cũng như chưa đáp ứng được xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, tác giả chọn đề tài:
“Thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kinh tế tư nhân nói chung và thương nghiệp tư nhân nói riêng là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường hiện nay đang được
Trang 6nhiều người quan tâm nghiên cứu Cho đến nay, đã có một số công trình khoa học
nghiên cứu đến các vấn đề này như: Hoàng Đức Thân: Thương mại tư nhân ở Hà
Nội: Thực trạng và giải pháp phát triển, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 3/2003;
Trần ánh Tuyết: Giải pháp khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia phát
triển thương mại, Tạp chí thương mại, số 14/2004; Nguyễn Thị Như Hà: Các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội (2004); Nguyễn Văn Tuấn: Chiến lược phát triển thương mại trên địa bàn
Hà Nội đến năm 2010, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2002); Hồ Văn Vĩnh: Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2003): Trần Ngọc Bùi: Phát triển kinh tế tư nhân
định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2002); Lê Trịnh
Minh Châu: Bàn về sự phát triển các trung tâm thương mại ở Việt Nam, Tạp chí Thương mại, số 3, tr 3 (2002); Đinh Văn Thành: Thương nghiệp tư nhân - Thực
trạng và giải pháp phát triển, Tạp chí Thương mại, số 10, tr.2 (2002): Nguyễn
Đình Hương, Vũ Đình Bách (đồng chủ biên): Quan hệ thương mại Việt Nam -
ASEAN và chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội (1999) Ngoài ra còn mốt số bài viết của các tác giả: Phạm Ngọc Kiểm (trường Đại học Kinh tế quốc dân); Nguyễn Công Nhự; Lê Xuân Bá… cũng đề cập đến vấn đề này
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học này đã làm rõ được một số vấn đề lý luận và thực tiễn của kinh tế tư nhân, thương nghiệp tư nhân dưới các góc độ là một thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực thương mại của nền kinh tế thị trường, những giải pháp để phát triển thương nghiệp tư nhân trong nền kinh tế chuyển đổi Song cho đến nay, chưa có một đề tài nghiên cứu nào trình bày một cách có hệ thống về thương nghiệp tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO dưới góc độ của
khoa học kinh tế chính trị
Trang 73 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu:
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư nhân ở nước ta, từ đó đề xuất những giải pháp để phát triển thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Luận giải các quan điểm cần quán triệt, đề xuất những giải pháp phát triển thương nghiệp tư nhân nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thương nghiệp tư nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sự hình thành, phát triển của thương nghiệp tư nhân ở Việt Nam từ thời kỳ đổi mới 1986 đến nay (Chủ yếu ở thị trường bán lẻ - thị trường trong nước)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử Các phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu
6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã phân tích được thực trạng của thương nghiệp tư nhân ở Việt Nam bằng tư duy hệ thống, vì vậy những khía cạnh về thương nghiệp tư nhân được xem xét một cách toàn diện, ở nhiều góc độ Qua phân tích, luận văn cũng đề xuất một
Trang 8số quan điểm và giải pháp thiết thực để phát triển thương nghiệp tư nhân nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Bản luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục minh họa phần nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng thương nghiệp tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển thương nghiệp tư nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 9Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG NGHIỆP
TƯ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1 1 Khái niệm và các loại hình thương nghiệp tư nhân
1.1.1 Khái niệm thương nghiệp tư nhân và sự phát triển thương nghiệp tư nhân ở nước ta
1.1.1.1 Khái niệm thương nghiệp tư nhân
Có thể nói, sự hình thành và phát triển các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại do đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế hàng hoá, nhất là kinh tế thị trường - giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá
Ph.Ăngghen đã khẳng định hai “chức năng” sản xuất và trao đổi là “đường hoành và đường tung của đường cong kinh tế” Vì giữa sản xuất và trao đổi (thương mại) có quan hệ hữu cơ trong quá trình tái sản xuất xã hội Sự tác động qua lại giữa sản xuất và trao đổi không dừng lại ở quy mô, mà còn tác động đến trình
độ phát triển của nhau cả về mặt quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
Trong một nền kinh tế, lưu thông (trao đổi) là một yếu tố, một giai đoạn quá
độ của sản xuất; lưu thông chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phẩm đã được sản xuất ra với tư cách là hàng hóa và sự thay thế các yếu tố sản xuất để tiếp tục sản xuất với tư cách là hàng hóa Nhưng trong quá trình đó lưu thông lại trực tiếp làm xuất hiện một hình thái mới, đó là hoạt động thương nghiệp Xét bề ngoài tưởng
Trang 10như lưu thông tách biệt với sản xuất, nhưng thực chất lưu thông nói chung, hoạt động thương nghiệp nói riêng chỉ là một trong các khâu của quá trình tái sản xuất
Ở mỗi trình độ khác nhau, hoạt động thương nghiệp trong các nền kinh tế cũng khác nhau Khi nền sản xuất ở trình độ thấp, nhỏ lẻ, phân tán thì hoạt động trao đổi còn hạn chế ở phạm vi hẹp, hoạt động thương nghiệp cũng còn ở tình trạng manh mún với quy mô nhỏ Khi trình độ xã hội hóa sản xuất cao thì đòi hỏi thương nghiệp cũng phải được xã hội hóa với trình độ tương ứng Sản xuất hàng hóa càng phát triển cao thì quá trình trao đổi càng mở rộng và ngược lại sự mở rộng và phát triển quá trình trao đổi sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của sản xuất
Cũng như các nền kinh tế khác, thời kỳ đầu của nền kinh tế hàng hoá ở nước
ta sản phẩm thặng dư chưa nhiều nên hoạt động thương nghiệp chủ yếu là do tư nhân thu gom những sản phẩm thừa của những người sản xuất nhỏ như nông dân
và thợ thủ công Do vậy hiệu quả của hoạt động thương nghiệp còn rất thấp Nhưng sự tồn tại của hoạt động thương nghiệp đã làm cho sản xuất tách biệt tương đối với trao đổi, làm cho sản xuất ngày càng có tính chất trao đổi, nên nó có tác dụng thúc đẩy quá trình tan rã những quan hệ sản xuất tự cung tự cấp Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì hình thức thương nghiệp do tư nhân thực hiện vẫn còn tồn tại nhưng nó khác về cơ cấu, quy mô, mô hình tổ chức và phương thức kinh
doanh… và cũng có sự khác nhau giữa các nền kinh tế Tuy nhiên vẫn có đặc điểm
chung về thương nghiệp tư nhân đó là loại hình kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều kiện kinh doanh Điều
kiện tồn tại của thương nghiệp tư nhân, theo Mác, là sự tồn tại của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ
Theo sự phát triển kinh tế, kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp dưới các tác động của thị trường và yêu cầu không ngừng
mở rộng thị trường Vì vậy, hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp không chỉ đơn
Trang 11thuần bao gồm các hoạt động mua và bán thuần tuý mà còn được mở rộng thêm với các công đoạn có liên quan đến quá trình thúc đẩy nhanh việc mua bán hàng hóa Đến nay, để thực hiện quá trình lưu thông thuận lợi, các chủ thể kinh doanh thương nghiệp buộc phải thực hiện nhiều hoạt động trước và sau hoạt động mua, bán như: xúc tiến thương mại (quảng cáo, đại diện thương mại, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hóa…), gia công, chế biến, đóng gói hàng hóa, dịch vụ sau bán hàng (bảo hành, bảo dưỡng…) Vì vậy, đã xuất hiện thuật ngữ mới thay thế cho thuật ngữ thương nghiệp đó là thương mại
Thương mại ngày nay được hiểu là ngành kinh tế có chức năng tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ; thực hiện chức năng tiếp tục sản xuất trong khâu lưu thông, gắn sản xuất với thị trường Hiện nay, tư nhân đầu tư vào nhiều lĩnh vực của khu vực kinh tế trong đó có thương mại Hoạt động của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại được thực hiện dưới hình thức thương mại tư nhân, cho nên
có thể hiểu thương nghiệp tư nhân là hình thức vận động của nền kinh tế tư nhân
trong lĩnh vực thương nghiệp dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều kiện kinh doanh
1.1.1.2 Sự phát triển của thương nghiệp tư nhân ở nước ta
Trước đây, hoạt động thương nghiệp ở nước ta chủ yếu do thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán nắm giữ tỷ trọng lớn trên thị trường Bộ phận thương nghiệp tư nhân chủ yếu hoạt động ở thị trường “ngầm”
Thời kỳ trước đổi mới (1986), ở nước ta có gần 5000 doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh, được phân bố khắp các địa bàn và kinh doanh mọi ngành hàng; lực lượng lao động rất lớn, khoảng 442,2 nghìn người Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như vốn của những doanh nghiệp này hoàn toàn được Nhà nước bao cấp Tuy nhiên, cơ chế tập trung bao cấp đó đã làm cho các doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh rơi vào tình trạng ỉ lại, làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả Để sắp xếp và đổi mới lại hoạt động của doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh, ngày
Trang 127/3/1994 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 90/TTg, sau đó đến tháng 5/1995 cả nước chỉ còn 1351 doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh Số này so với 4700 doanh nghiệp năm 1991 đã giảm trên 3000 doanh nghiệp
Trước thời kỳ đổi mới doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh chiếm ưu thế
và giữ vai trò chi phối (nắm trọn bán buôn, chi phối 80% tổng mức bán lẻ xã hội), nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại các hình thức thương nghiệp tư nhân, chỉ có điều khi đó thương nghiệp tư nhân là đối tượng cần “cải tạo” hoặc bị phủ nhận Vai trò của thương nghiệp tư nhân chỉ được nhìn nhận đúng khi Đảng ta có chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển
Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế tư nhân nói chung và thương nghiệp tư nhân nói riêng như sau:
Sau khi nước nhà giành được độc lập, ngày 13/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công – thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng Chính phủ nhân dân
và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công – Thương trong cuộc kiến thiết này” [27; 49] Ngày 17/3/1949, Liên Bộ kinh tế - Nội vụ có văn bản số 27/NV-KT “Nguyên tắc căn bản là tự do kinh doanh Trong hoàn cảnh hiện tại nguyên tắc ấy càng cần được tôn trọng và những hoạt động kinh doanh tư nhân đang giữ một vai trò quan trọng trong điều hoà, phân phối giữa các vùng” [21; 3]
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), xác định: Xây dựng kinh tế quốc dân cần có tư bản Giai cấp tư sản dân tộc cần và có thể góp phần vào việc phát triển công thương nghiệp nước nhà
Sau ngày miền Bắc giải phóng (1954), Chính phủ tiếp tục cho thực thi các chính sách đã áp dụng trong vùng kháng chiến đối với các vùng mới giải phóng
Trang 13Ngày 30/3/1955, Chính phủ ban hành Nghị định quy định các doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký kinh doanh, trong đó phải kê khai về vốn, lượng công nhân, mặt hàng sản xuất, nguồn nguyên liệu, doanh số, lãi,…
Ngày 19/4/1957, Chính phủ ban hành sắc lệnh chống đầu cơ tích trữ đây là văn bản pháp lý để Nhà nước có quyền kiểm kê, khám xét, đánh thuế, tịch thu những kho hàng hoá tồn kho của tư nhân
Tháng 9/1957, Trung ương Đảng công bố chủ trương cải tạo tư doanh ở miền Bắc Đến tháng 1/1958 thành lập Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh trực thuộc Trung ương Đảng Công việc cải tạo tư doanh bắt đầu từ đó và kết thúc vào tháng 9/1960 với 3065 doanh nghiệp trong đó có 1794 doanh nghiệp thương nghiệp
Từ năm 1960 đến năm 1975 ở miền Bắc kinh tế tư nhân không được thừa nhận Trên thực tế nó vẫn còn tồn tại buôn bán nhỏ lẻ, chủ yếu bộ phận kinh tế này hoạt động “ngầm”, hoạt động chui
Sau ngày miền Nam giải phóng, Nghị quyết số 254/NQ-TW của Đảng thừa nhận kinh tế miền Nam là kinh tế nhiều thành phần trong đó tư bản tư nhân là thành phần hợp pháp Nhưng đến 16/2/1978 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 15/TTg xem việc “xoá bỏ kinh tế tư nhân là vấn đề nóng bỏng trước mắt cần tập trung sức càng sớm càng tốt”, phương thức cải tạo được tiến hành tương tự như đối với tư bản tư nhân miền Bắc những năm 1957 – 1960
Ngày 23/3/1978, chiến dịch bắt đầu với phương châm: bí mật, bất ngờ cùng một lúc hầu như tất cả các cơ sở kinh doanh tư nhân ở miền Nam đều được lệnh kiểm kê tài sản và học tập cải tạo, trong đó có 31681 cơ sở quốc hữu hoá
Hai năm sau, ngày 17/6/1980, Ban Bí thư có văn bản đánh giá về kết quả của công cuộc cải tạo: Năng lực sản xuất của phần lớn các xí nghiệp sau cải tạo chưa được sử dụng tốt, năng suất lao động thấp kém, hiệu quả kinh tế giảm… Tài sản thu được qua cải tạo bị hư hỏng, mất mát nhiều Đời sống công nhân gặp nhiều khó
Trang 14khăn Tình trạng hoài nghi, chán nản và bất mãn khá phổ biến gây nên sự căng thẳng không cần thiết
Sau thời gian đó Trung ương Đảng có chủ trương “cởi trói cho sản xuất kinh doanh và cho phép “bung ra”, và Nghị quyết 40 cho phép nới lỏng xuất khẩu, Nghị quyết 25/CP ngày 21/1/1981 cho phép doanh nghiệp nhà nước được liên kết với các thành phần khác,… Nhưng chỉ vài năm sau, tháng 12/1982 Trung ương lại ra Nghị quyết số 01 về “Chỉnh đốn kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh”, các doanh nghiệp tư nhân miền Nam lại một lần nữa bị giải thể hoặc sáp nhập vào quốc doanh
Bước ngoặt trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân nói chung và thương nghiệp tư nhân nói riêng được đánh dấu từ tháng 12/1986 Đại hội Đảng lần thứ VI
đã thừa nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần
Ngày 9/3/1988, Nghị quyết 27/CP được ban hành chính thức xác nhận quyền hoạt động của doanh nghiệp tư nhân Tiếp đến, ngày 21/12/1990 Luật doanh nghiệp và Luật công ty được công bố Năm 1992 Hiến pháp quy định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”
Như vậy quá trình nhận thức và chỉ đạo về việc xác định các thành phần kinh
tế trong nền kinh tế Việt Nam của Đảng và Nhà nước đã có thay đổi nhiều để thích ứng với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, trong đó kinh tế tư nhân từ chỗ không được thừa nhận, là đối tượng cải tạo XHCN, nay đã được thừa nhận là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Xuất phát từ quan điểm trên, các cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với phát triển kinh tế tư nhân trong những năm qua đã có chuyển hướng rõ rệt Khu vực kinh tế này bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu hoạt động thông qua Luật doanh nghiệp tư nhân (1990), Luật công ty(1990), Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi (1998) và Luật doanh
Trang 15nghiệp (2000), Luật doanh nghiệp đã thay thế Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty từ 1/1/2000, và hiện nay nó đã được thực hiện theo Luật doanh nghiệp (từ 1/7/2006)
Với các chính sách đó, thương nghiệp tư nhân đã được khôi phục và phát triển nhành chóng Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thương nghiệp tư
nhân đang có đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Các loại hình thương nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
Thương nghiệp tư nhân tồn tại và hoạt động dưới nhiều hình thức, có thể phân biệt các hình thức tổ chức của TNTN theo tiêu chí sau:
Trang 16chức kinh doanh này rất phù hợp trong điều kiện trình độ phát triển của kinh tế thị trường chưa cao như ở nước ta hiện nay
Hai là: Các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân tư bản
Đây là mô hình tổ chức của các hãng buôn lớn, tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dựa trên hình thức sở hữu tư bản tư nhân về vốn, tài sản và các nguồn lực khác được thu hút vào kinh doanh, có tính năng động và nhạy bén cao Các doanh nghiệp này hoạt động theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam Theo hình thức tổ chức doanh nghiệp hiện hành thì hiện nay thương nghiệp tư nhân tư bản bao gồm:
- Doanh nghiệp tư nhân: Do tư nhân tự bỏ vốn thành lập và tự tổ chức kinh
doanh Các doanh nghiệp này phải hoàn toàn tự chủ về vốn, bảo toàn vốn, tổ chức kinh doanh và tự tìm kiếm thị trường, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh (cả về mặt kinh tế, cả về mặt pháp luật) Các doanh nghiệp tư nhân lớn trong lĩnh vực thương nghiệp ở nước ta chưa nhiều, nhưng đã có tác động tích cực đáng
kể tới sự phát triển kinh tế - xã hội Trong thời gian qua, tốc độ phát triển của doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực thương nghiệp cao hơn trong lĩnh vực sản xuất Hầu hết các ngành hàng hiện nay đều có các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh, song ít có doanh nghiệp nào chiếm ưu thế, có thị phần lớn trên thị trường
- Công ty cổ phần: là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia nhỏ thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ
và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiêp trong đó thành viên chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Đây là hình thức biểu hiện sự kết hợp về vốn giữa các thành phần kinh tế Doanh nghiệp loại này có đặc điểm là chế độ sở hữu vốn, tải sản không thuần nhất Trong xu thế chung thì doanh nghiệp
Trang 17loại này đang có cơ hội phát triển mạnh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, bởi vì chúng thường có quy mô, khả năng thu hút vốn, trình độ tổ chức, quản lý, khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường lớn hơn so với doanh nghiệp TNTN
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó ít nhất hai thành viên hợp
danh Ngoài hai thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa
vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
1.1.2.2 Theo phạm vi và tính chất hoạt động kinh doanh
Có thể phân biệt thương nghiệp tư nhân theo các loại hình sau:
Một là: Thương nghiệp tư nhân kinh doanh nội địa, bao gồm các hoạt động thu mua, bán buôn, bán lẻ trên thị trường trong nước
Hoạt động thu mua, đây là một đòi hỏi khách quan đối với nền sản xuất hàng hóa Việc tồn tại và phát triển lực lượng tiểu thương làm đại lý, thu gom hàng hóa
là cần thiết Đó là công việc tập trung các nguồn hàng từ các kênh sản xuất khác nhau để thực hiện các hoạt động kinh doanh tiếp theo Tuy nhiên, khi đòi hỏi phải thu gom một số lượng hàng hóa lớn thì bản thân hoạt động thu mua lại đòi hỏi tiềm lực kinh tế, năng lực kinh doanh của các chủ thể thu mua phải ở mức đủ lớn mà thương nghiệp cá thể, tiểu chủ khó có thể đáp ứng Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu trên các hộ tư thương buộc phải liên kết, hợp tác với nhau hoặc liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp TNTN có tiềm lực tài chính mạnh hơn Hoạt động thu mua phát triển
sẽ có tác dụng khơi thông nguồn hàng, thúc đẩy sản xuất phát triển và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng
Hoạt động bán buôn, là khâu phát luồng hàng hóa tới các kênh bán lẻ và một phần bán trực tiếp cho các chủ thể sản xuất (các yếu tố đầu vào) Hoạt động kinh doanh của các nhà bán buôn là tiêu thụ được khối lượng hàng hóa lớn trong thời
Trang 18gian ngắn nhất Mô hình này đòi hỏi phải có những nhà buôn lớn đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh trong cơ chế thị trường như: quy mô vốn đầu tư lớn, cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiện lợi cho việc chế biến bảo quản và vận chuyển hàng hóa, kênh phân phối rộng, có kinh nghiệm kinh doanh… Do đó, ở khâu này chủ yếu là các doanh nghiệp TNTN tham gia hoat động
Hoạt động bán lẻ, là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh doanh thương nghiệp Hàng hóa sau khi bán đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị được thực hiện Đây là hoạt động kinh doanh thương nghiệp đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng, của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau
và nó là hình thức phổ biến, len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống Hoạt động ở khâu bán lẻ cần có một mạng lưới rộng khắp với nhiều quy mô khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế còn chưa phát triển cao, hoạt động này chủ yếu được thực hiện bởi thương nghiệp cá thể, tiểu chủ Đó là loại hình phù hợp với các đòi hỏi của nhu cầu thị trường khi thu nhập của người tiêu dùng chưa cao, vì vậy không thể nóng vội xóa bỏ loại hình này mà ngược lại phải khuyến khích mở rộng hoạt động kinh doanh của TNTN phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế (Cụ thể là do nhu cầu thị trường quyết định), không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Khi nền kinh tế phát triển, hệ thống bán lẻ này được tổ chức tập trung hơn hình thành nên các trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị
Hai là: Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Thực tế đó cũng là các hành
vi mua, bạn trên thị trường bên ngoài quốc gia Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại thì các đối tác trong quan hệ kinh tế cũng hết sức đa dạng với tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng cạnh tranh cao, có bề dày kinh nghiệm Trong cơ chế cũ, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu do các doanh nghiệp thương mại nhà nước thực hiện Khi chuyển sang cơ chế thị trường trong
xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại là một
xu hướng tất yếu Để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển thì việc huy động các
Trang 19thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất nhập khẩu có sự quản lý của Nhà nước
là chủ trương hết sức đúng đắn Tuy nhiên, TNTN nước ta khi tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu gặp phải rất nhiều khó khăn do tiềm lực kinh tế yếu, chưa có kinh nghiệm, khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường nước ngoài chưa kịp thời, công tác xúc tiến thương mại không được tổ chức thường xuyên Đặc biệt là trình độ ngoại ngữ, hiểu biết hệ thống pháp luật và thông lệ thương mại quốc tế của đội ngũ doanh nhân chưa đáp ứng được yêu cầu khi tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu
1.2 VAI TRÒ VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.2.1 Vai trò của thương nghiệp tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Kể từ khi đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có sự đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân đặc biệt là thương nghiệp tư nhân Đảng ta đã xác định: kinh tế tư nhân (trong đó có thương nghiệp tư nhân) là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH), nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế là giải pháp giải phóng lực lượng sản xuất đang bị kìm hãm, tạo môi trường kinh tế để giảm độc quyền, tăng cạnh tranh Kinh tế tư nhân đang góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, tăng nguồn thu ngân sách…
Trong thành phần kinh tế tư nhân thì thương nghiệp tư nhân với các loại hình
đã có vai trò quan trọng nhất Vai trò của thương nghiệp tư nhân thể hiện ở chỗ:
- Kích thích sản xuất phát triển
Trang 20Sản xuất và lưu thông là hai phạm trù không thể tách rời trong nền sản xuất hàng hóa, nó là điều kiện tiền đề cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế Thương nghiệp là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong lưu thông hàng hóa, lưu thông trì trệ sẽ gây cản trở duy trì và mở rộng sản xuất, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội
Thương nghiệp tư nhân với tính năng động, nhạy bén trên thị trường một mặt cung ứng tư liệu sản xuất cho các chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho tái sản xuất Mặt khác, thương nghiệp tư nhân còn giúp cho nhà sản xuất tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa được thực hiện giá trị nhanh chóng sẽ rút ngắn thời gian lưu thông, làm tăng tốc độ tái sản xuất
Thương nghiệp tư nhân có vai trò là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, thông qua hoạt động thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua, bán các hàng hóa, dịch vụ Điều đó bảo đảm cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hóa, dịch vụ thông suốt Vì vậy, không có hoạt động thương mại phát triển thì sản xuất hàng hóa không thể phát triển được Thông qua việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, thương nghiệp
tư nhân có vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hoá cho sản xuất, qua đó nâng cao lợi nhuận của nhà sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển Thương nghiệp tư nhân thông qua việc ký các hợp đồng mua – bán hàng hoá với các cơ sở sản xuất để giúp sản xuất những mặt hàng thích ứng với nhu cầu thị trường, làm tăng tốc độ chu chuyển vốn của sản xuất
- Thương nghiệp tư nhân có vai trò trong việc đáp ứng và hướng dẫn tiêu dùng xã hội
Thương nghiệp (trong đó có thương nghiệp tư nhân) với vai trò là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng; tức là vừa là địa chỉ để tiêu thụ hàng hoá cho sản xuất, vừa là địa chỉ cung ứng hàng hoá cho tiêu dùng
Trang 21Trong những năm qua, hoạt động của thương nghiệp tư nhân đã đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng cá nhân ngày càng cao hơn cả về mặt lượng, về mặt chất
Đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của thị trường để thực hiện mọi nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá
Mặt khác, thông qua hoạt động của thương nghiệp nói chung và thương nghịêp
tư nhân nói riêng có vai trò hướng dẫn tiêu dùng thông qua hoạt động tiếp thị, giới thiệu sản phẩm, bán hàng với hình thức linh hoạt để kích thích, khuyến khích tiêu dùng Đồng thời, với những hoạt động dịch vụ sau bán hàng thương nghiệp tư nhân
đã hỗ trợ, giúp đỡ người tiêu dùng những vướng mắc trong qua trình tiêu dùng sản phẩm
- Thương nghiệp tư nhân góp phần vào việc huy động các nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, lĩnh vực thương mại dịch vụ đang
thu hút nhiều chủ thể và nguồn lực tham gia Những nguồn lực nhàn rỗi như vốn, lao động được huy động và sử dụng ngày càng có hiệu quả đã làm tăng nhanh giá trị sản xuất mà thương nghiệp tư nhân đem lại Khu vực kinh tế tư nhân đang thu hút một khối lượng vốn ngày càng lớn của toàn xã hội, góp phần nâng cao nội lực, đẩy mạnh sự phát triển sức sản xuất và có những đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước
Những năm qua thương nghiệp tư nhân cũng góp phần tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội như: tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế việc di dân vào đô thị, tạo ra thu nhập cho người lao động
- Thương nghiệp tư nhân góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thông
qua hoạt động của thương nghiệp nói chung và thương nghiệp tư nhân nói riêng như ký hợp đồng với sản xuất, hoạt động mua - bán, khai thác tìm kiếm Thu gom hàng hoá…
đã góp phần trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, từ cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế vùng
Trang 22- Thương nghiệp tư nhân góp phần mở rộng kinh tế đối ngoại Những năm
qua các ngành, các thành phần kinh tế ở nước ta đã hướng vào việc sản xuất ra hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu Kim ngạch xuất nhập khẩu của nền kinh tế thay đổi lớn, xuất khẩu năm 2006 tăng 22,7%, nhập tăng 22,1%, trong đó có sự đó có
sự đóng góp của thương nghiệp tư nhân
Thông qua việc xuất nhập khẩu hàng hoá, thương nghiệp tư nhân đã góp phần
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy lùi sự xâm nhập của hàng ngoại, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước
- Thương nghiệp tư nhân có đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước
Cùng với kinh tế tư nhân, những năm qua thương nghiệp tư nhân đã góp phần đóng góp 40% GDP, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 6,5%/năm Hiện nay thương nghiệp tư nhân đang phát triển mạnh nên khả năng đóng góp của thương nghiệp tư nhân sẽ ngày càng lớn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế -
Những yếu tố quốc tế tác động đến hoạt động thương mại nước ta nói chung
có thể kể đến đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế - thương mại của nền kinh tế toàn cầu, nhất là những nước có quan hệ thương mại với Việt Nam
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới
Đơn vị tính: %
2005 2006 Dự kiến 2007 Dự kiến 2008
Trang 23Dự báo của IMF – tháng Tư năm 2007
Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư, tháng 7/2007
Bảng 1.2: Xuất, nhập khẩu thế giới năm 2006
Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư, tháng 4/2007
Sự tăng hay giảm về tốc độ tăng trưởng kinh tế - thương mại của nền kinh tế toàn cầu sẽ tác động trực tiếp tới việc tăng hay giảm tổng lượng hàng hoá xuất
Trang 24nhập khẩu của chúng ta Bên cạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, những bất ổn định về chính trị vẫn diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực trên thế giới, thiên tai và hạn hán được dự báo tiếp tục có diễn biến phức tạp là những nguy cơ tiềm ẩn tới toàn bộ nền kinh tế thế giới
Ngày nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng cao, vì vậy mỗi sự thay đổi trong nền kinh tế thế giới sẽ trực tiếp tác động tới toàn bộ các nền kinh tế
Những năm qua các rào cản thương mại đối với hàng xuất khẩu, các vụ kiện chống bán phá giá có nguy cơ ngày càng gia tăng là những thách thức đối với xuất khẩu của các nước Ngoài ra, với việc phải mở cửa thị trường và cắt giảm thuế quan trong nhiều lĩnh vực và đối với nhiều loại hàng hoá đang ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động thương mại của chúng ta Mấy năm gần đây nhập khẩu cũng có nguy
cơ tăng mạnh nếu không có các giải pháp kiềm chế hiệu quả do hàng hoá và dịch
vụ của các nước thành viên WTO sẽ tràn vào Việt Nam với chủng loại đa dạng, giá
cả cạnh tranh nhờ việc cắt giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường theo cam kết của WTO
Ngoài ra, giá các hàng hoá như: gỗ nguyên liệu, cao su, các loại nông sản… vẫn tăng làm cho thị trường thế giới có nhiều biến động Giá dầu thô tăng đã làm giảm tốc độ phát triển của nền kinh tế toàn cầu Tỷ giá hối đoái trên thị trường thế giới biến động liên tục làm cho tính ổn định của nền kinh tế thế giới sẽ khó bền vững
Tuy xu thế toàn cầu hoá được ủng hộ và đẩy mạnh nhưng trào lưu bảo hộ mậu dịch vẫn diễn ra mạnh mẽ, ngay cả trong bối cảnh kinh tế thương mại thế giới có dấu hiệu phục hồi Tính hai mặt trong chính sách thương mại của các nền kinh tế phát triển ngày càng bộc lộ rõ, một mặt các nước này hô hào cho tự do hoá thương mại, mặt khác họ lại gia tăng bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước bằng các biện pháp trợ cấp, hạn ngạch và rào cản thương mại và phi thương mại ở mức độ ngày
Trang 25càng tinh vi Đây là thách thức đối với xuất khẩu của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc và khả năng cạnh tranh hàng hoá, doanh nghiệp Trung Quốc được củng cố đáng kể từ sau khi gia nhập WTO khiến hàng hoá Việt Nam không những khó khăn hơn trong việc thâm nhập thị trường từ Trung Quốc mà còn phải chịu sức ép đối với hàng hoá Trung Quốc trên thị trường thế giới Tuy nhiên từ năm 2005 Trung Quốc đã kết thúc thời kỳ quá độ sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng trở thành thành viên của tổ chức này, đây là cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có tiềm năng mà lâu nay gặp khó khăn do những hạn chế trong chính sách thuế quan, phi thuế quan và bảo hộ trong thời kỳ quá độ gia nhập WTO mà Trung Quốc đặt ra
Từ năm 2005, các nước ASEAN – 6 đã thực hiện tự do thuế quan đối với 9 ngành hàng; các nước ASEAN + 1(Trung Quốc) tiếp tục thực hiện Chương trình thu hoạch sớm (EHP) và bắt đầu thực hiện Hiệp định thương mại hàng hoá trong khuôn khổ AFTA… đây là cơ hội cho hàng hoá Việt Nam mở rộng xuất khẩu vào thị trường này Tuy nhiên một thách thức đối với hàng hoá Việt Nam trên thị trường này lại xuất hiện đó là nhiều nước ASEAN gia tăng tìm kiếm và ký kết các FTA có thể thay đổi luồng thương mại, ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường này
Những yếu tố quốc tế trên đây đang là nguyên nhân tác động trực tiếp tới thương mại Việt Nam nói chung, thương nghiệp tư nhân nói riêng, qua đó tác động tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế trong nước
Thứ hai, các yếu tố trong nước
Những nỗ lực đầu tư, cải cách của Chính phủ trong những năm qua đã đạt được kết quả nhất định, đưa nền kinh tế nước ta lên trình độ cao hơn, là tiềm năng
và động lực cho nền kinh tế sản xuất ra một lượng hàng hoá lớn phục vụ xuất khẩu
và thoả mãn nhu cầu trong nước Cùng với những nhân tố đó, sự chỉ đạo và điều
Trang 26hành kinh tế của Nhà nước ngày càng linh hoạt và hiệu quả, thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế trong tình hình mới là một nhân tố thuận lợi cho sự phát triển thương mại ở nước ta
Mặc dù còn nhiều hạn chế song nhìn chung các doanh nghiệp nước ta ngày càng thích nghi hơn với thị trường và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Các doanh nghiệp đã tích luỹ được những kinh nghiệm nhất định trong quá trình tiếp cận thị trường trên nhiều khía cạnh, khả năng canh tranh của doanh nghiệp cũng được củng cố và nâng lên một bước
Quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta với các nước nhìn chung ngày càng được mở rộng và phát triển Các điều kiện tiếp cận thị trường bên ngoài về cơ bản
đã được khai thông Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam được diễn ra theo xu hướng thuận lợi và ổn định Cụ thể là:
Năm 1993: Việt Nam đã khai thông quan hệ với WB, IMF
1995: Việt Nam gia nhập ASEAN và nộp đơn xin gia nhập WTO
1996: Việt Nam tham gia vào AFTA, ASEM
1998: Việt Nam gia nhập APEC
2000: Ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
2006: Việt Nam gia nhập WTO và Hoa Kỳ thông qua quy chế bình thường hóa vĩnh viễn thương mại với Việt Nam
Bên cạnh những thuận lợi thì thương nghiệp tư nhân nước ta cũng gặp nhiều yếu tố không thuận lợi Cụ thể là:
Quy mô của doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân còn nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp, những yếu tố cơ bản cho sức cạnh tranh vừa thiếu vừa yếu Trong khi
đó chúng ta bước vào hội nhập kinh tế ngày càng sâu và rộng hơn
Khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập v nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới, điều đó cũng đồng nghĩa với những tổ chức thương mại mang tầm cỡ quốc tế
có tiềm lực kinh tế mạnh, có thương hiệu, đẳng cấp quốc tế trên thương trường, có
Trang 27kinh nghiệm trong buôn bán Bên cạnh đó các doanh nghiệp thương mại tư nhân của Việt Nam chưa nắm và hiểu nhiều về những luật pháp và thông lệ quốc tế Chúng ta đã thực hiện mở cửa thị trường của nền kinh tế theo cam kết của WTO, trong khi đó, hệ thống của doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp
tư nhân chưa hình thành rõ, chưa có vị trí ngay cả ở thị trường nội địa
Hệ thống các ngành công nghiệp bổ trợ còn yếu, chưa tự chủ được nguyên liệu đầu vào trong sản xuất hàng xuất khẩu tiếp tục là nguyên nhân làm nguồn hàng của thương nghiệp cũng có những khả năng bất ổn, giá cao, nhất là các hàng xuất khẩu
Những biến động phức tạp về thời tiết như thiên tai, dịch bệnh… gây ảnh hưởng to lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại và đời sống của nhân dân là những yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và lượng hàng hoá cung ứng của xã hội do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của thương nghiệp
Chi phí đầu tư cho sản xuất tăng cao do đó chi phí cho thương nghiệp cũng tăng dẫn đến một mặt làm giảm sức mua, mặt khác làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Ngoài ra, năm 2007 còn nhiều nguy cơ tác động có thể làm tăng CPI: việc tăng mạnh đàu tư toàn xã hội làm tăng lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường; Nhà nước bắt đầu xoá bao cấp đối với các “hộ” sản xuất được coi là đặc biệt trước đây như sản xuất thép, phân Ure cơ chế bù chéo giữa các ngành kinh tế sẽ giảm dần, nhất là giá xăng dầu cũng xoá dần bù lỗ… Tất cả những yếu tố đó cũng đang trực tiếp tác động đến hoạt động của thương nghiệp tư nhân nước ta
1.2.3 Kinh nghiệm của một số nước để tạo điều kiện phát triển thương nghiệp
tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
- Tác dụng của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Trung Quốc
+ Thực lực kinh tế không ngừng tăng cường
Trang 285 năm gia nhập WTO là thời kỳ kinh tế phát triển nhanh nhất trong lịch sử của Trung Quốc Năm 2002, GDP vượt qua ngưỡng 10.000 tỷ NDT, GDP bình quân đầu người năm 2003 vượt qua ngưỡng 1.000 USD, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2004 vượt qua ngưỡng 1.000 tỷ USD, thu tài chính năm 2005 vượt qua ngưỡng 3.000 tỷ NDT (đạt 3.600 tỷ NDT), dự tính thu tài chính năm 2006 vượt qua ngưỡng 4.000 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ năm 2006 vượt qua ngưỡng 1.000 tỷ USD Từ năm 2001-2005, thu nhập bình quân đầu người từ 1.038 USD, tăng lên 1.700 USD Năm 2005, GDP của Trung Quốc đạt 2.227,5 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 toàn cầu Qua 27 năm cải cách mở cửa, luỹ kế thu hút FDI của Trung Quốc đạt hơn 667 tỷ USD Tính đến cuối tháng 9/2006, đã có 480/500 công
ty xuyên quốc gia mạnh nhất toàn cầu đầu tư vào Trung Quốc và Trung Quốc thực
sự trở thành bộ phận quan trọng trong mắt xích ngành nghề toàn cầu
Đồng thời, sau khi gia nhập WTO, tăng trưởng ổn định của kinh tế Trung Quốc cũng tạo cơ hội đầu tư và thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp toàn cầu, tạo động lực lớn thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển Theo thống kê, trong 5 năm gia nhập WTO, tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc khoảng 2.400 tỷ USD, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận từ Trung Quốc là 57,94 tỷ USD Riêng trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, từ sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã sửa đổi ba đạo luật quan trọng liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ: Luật về quyền tác giả, Luật về thương hiệu hàng hóa và Luật về bằng sáng chế Liên tục những năm sau đó, Trung Quốc tiếp tục cải thiện các quy định áp dụng cho việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Các bộ luật về cạnh tranh không lành mạnh,
về chuyển giao công nghệ và bảo vệ phần mềm máy tính, các chu trình kèm theo, các sản phẩm dược và nông sinh học đã được soạn thảo và ban hành Trung Quốc
đã điều chỉnh cơ bản các đạo luật áp dụng cho các ngành công nghiệp dược phẩm
và phần mềm
Trang 29+ Không gian thị trường được mở rộng, môi trường đầu tư không ngừng cải thiện
Năm 2003, Trung Quốc thực hiện tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là 851 tỷ USD, tăng 31,7%, vượt lên hàng thứ 4 thế giới; năm 2004, sau 3 năm gia nhập WTO, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt qua ngưỡng 1.000 tỷ USD, đạt 1.154,7
tỷ USD, vượt lên đứng thứ 3 thế giới Năm 2005 đạt 1.422,12 tỷ USD, giữ vững vị trí lớn thứ 3 toàn cầu Kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2006 đạt 1.424,95 tỷ USD, tăng 24,1% Về cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, sau khi gia nhập WTO đến nay, xuất khẩu sản phầm công nghiệp chiếm trên 90%, nhất là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm kỹ thuật cao mới chiếm tỷ lệ trong sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng, 3 quý đầu năm 2006 xuất khẩu sản phẩm kỹ thuật cao mới đạt 195,89 tỷ USD, tăng 30,6% Đặc biệt là sau khi Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng sang các thị trường chủ yếu, nhất là thị trường Mỹ và EU Đồng thời, Trung Quốc cũng thu hút FDI dẫ đầu thế giới, tính đến nay Trung Quốc 14 năm liên tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng đầu các nước đang phát triển Lợi dụng FDI của Trung Quốc từ năm 2003 đến nay đều đạt 50 tỷ - 60 tỷ USD/năm Cơ cấu đầu tư nước ngoài ngày càng hoàn thiện, các hạng mục vốn và khoa học kỹ thuật được tăng cường, đầu tư ngành dịch vụ tăng nhanh, nhiều công ty xuyên quốc gia đến Trung Quốc thành lập tổng đại diện, trung tâm giao dịch và trung tâm nghiên cứu phát triển, tỷ lệ dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài tiếp tục gia tăng
Theo đánh giá của Tổng Thư ký Diễn đàn Bắc Ngao, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trường đoàn đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc Long Vĩnh
Đồ, sau khi gia nhập WTO, thông qua hiệu định giữa Chính phủ với Chính phủ, tạo môi trường bên ngoài thuận lợi thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển nhanh chóng Trong đó, khơi thông quan hệ đối tác thương mại chiến lược với Mỹ
là thành quả lớn nhất trong 5 năm qua Nếu không gia nhập WTO, không giành được PNTR của Mỹ thì mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc không thể giành được
Trang 30thành tựu to lớn như hiện nay Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã thúc ép Mỹ sửa đổi luật pháp, trao PNTR cho Trung Quốc, khiến quan hệ thương mại Trung
Mỹ bước vào giai đoạn phát triển ổn định Quan hệ thương mại Trung Mỹ là nhân
tố quan trọng nhất trong tổng thể quan hệ thương mại của Trung Quốc Nhất là gần đây Trung Mỹ đã xây dựng khung đối thoại chiến lược lâu dài, đưa quan hệ mậu dịch Trung Mỹ và khung quan hệ cơ chế ổn định, tránh được tình trạng Hạ viện
Mỹ tiến hành điều tra xem xét trao Tối huệ quốc cho Trung Quốc vào tháng 6 hàng năm Đối với doanh nghiệp, trong 5 năm qua đã hình thành áp lực từ bên ngoài đối với doanh nghiệp trong nước tương đối lớn, thúc ép doanh nghiệp Trung Quốc đi vào con đường quốc tế hóa , tăng cường sức cạnh tranh quốc tế và bảo vệ sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trong nước Đây là 2 thành quả lớn nhất mà mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc đạt được trong 5 năm qua
+ Thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu ngành nghề trong nước
- 5 năm qua gia nhập WTO đã có tác động thúc đẩy ngành nghề trong nước phát triển trên các lĩnh vực như mỏ rộng quy mô, giữ vững tốc độ phát triển tương đối nhanh và ổn định, nâng cao hiệu quả và tăng cường nguồn dự trữ lâu dài và bền vững
- Ngành kỹ thuật cao của thế giới, tiêu biểu là ngành kỹ thuật thông tin tiếp tục chuyển dịch vào Trung Quốc với quy mô lớn, 90/100 công ty mạnh nhất về kỹ thuật thông tin trên thế giới đã đầu tư vào Trung Quốc, xuất khẩu sản phẩm thông tin điện tử tăng mạnh
- Ngành công nghiệp ô tô trong nước đẩy mạnh chuyển đổi chiến lược và điều chỉnh cơ cấu trong thế cạnh tranh, tổng sản lượng ô tô các loại năm 2006 ước đạt 6 triệu chiếc
- Thông qua mở cửa dịch vụ thương mại, mở ra lĩnh vực mới và thị trường mới, thúc đẩy ngành dịch vụ trong nước phát triển
Trang 31- Hình thành phương thức và hình thức tổ chứ ngành lưu thông hiện đại như mạng lưới kinh doanh đa tầng và rộng khắp, thương mại điện tử phát triển nhanh,
đa dạng hóa và hiện đại hóa ngành bán lẻ…
+ Hoàn thiện thể chế luật pháp kinh tế thị trường
Sau khi gia nhập WTO, thông qua chuyển đổi quy tắc và thực hiện camkết, Trung Quốc tập trung sửa đổi và ban hành mới hàng loạt phápluật, pháp quy liên quan, phát huy tác dụng đối với cải cách thể chế kinh tế trong nước Việc điều chỉnh quy mô lớn pháp luật và pháp quy, có tác dụng thúc đẩy hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế thị trường, chuyển đổi và nâng cao chức năng của Chính phủ
- Một số vấn đề nóng từ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO
+ Xung đột thương mại
Các xung đột về thương mại của Trung Quốc với các đổi tác thương mại ngày càng tăng lên từ khi Trung Quốc là thành viên WTO Tình trạng này là do có những hàng rào thương mại cả từ các nước phát triển và đang phát triển đối với một nền kinh tế phi thị trường như Trung Quốc Các nước áp dụng nhiều các biện pháp phi thuế quan đối với Trung Quốc trong thương mại Số các vụ kiện chống bán phá giá đối với Trung Quốc tăng Trong số 276 vụ chống bán phá giá của các thành viên WTO thì có 47 vụ là có liên quan đến Trung Quốc với số tiền phạt là
450 triệu USD Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2004, đã có 15 nước và khu vực kiện Trung Quốc với 50 vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ giá, biện pháp bảo hộ và điều tra bảo hộ đặc biệt với một số tiền phạt khoảng 1,15 tỷ USD Các vụ kiện phần lớn xuất phát từ Mỹ và EU Bên cạnh những vấn đề xung đột thương mại, Trung Quốc còn gặp phải vấn đề thâm hụt thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ hay Trung Quốc và EU Đó cũng hính là lý do để Mỹ và EU tạo sức ép về thương mại bắt Trung Quốc phải thả nổi đồng NDT
+ Tăng trưởng nóng và thách thức cho phát triển biền vững
Trang 32Sau khi gia nhập WTO, nề kinh tế Trung Quốc tiếp tục phát triển mạnh Mắc tăng trưởng tăng lên liên tục từ 2002 đến 2004 trước khi giảm nhẹ một chút trong năm 2005 và có xu hướng giữ ở mức cao mức trên 9% Trung Quốc đã nhảy vọt lên trở thành nền kinh tế đứng trong hàng ngũ 5 nền kinh tế lớn nhất thế giới Nhiều mặt hàng Trung Quốc đã tiêu thụ nhiều hơn Mỹ như thép, nhôm, đồng, than… Tuy nhiên, mức tăng trưởng cao và sự bùng nổ phát triển làm cho nhu cầu nhập khẩu tăng lên cao cũng như việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên bừa bãi đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và bảo đảm các nguồn lực
tự nhiên cho sự phát triển lâu dài và bền vững Tăng trưởng nóng đang là một thách thức to lớn đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế Trung Quốc, nhất là sau giai đoạn gia nhập WTO
+ Các vấn đề xã hội và môi trường cũng là những thách thức lớn
Các vấn đề về xã hội và môi trường đã tồn tại từ trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, nhưng chúng trở thành các vấn đề nóng do mức độ nghiêm trọng gia tăng Hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng có xu hướng gia tăng ở Trung Quốc Nạn tham nhũng tiếp tục phổ biến và trầm trọng Các vấn đề nông nghiệp nông thôn tích tụ lại và có những diễn biến phức tạp Kinh tế vùng phát triển không cân đối do miền Tây có những thiệt thòi về vị trí so với các vùng miền Đông (tình trạng Đông phú, Tây bần) Khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị với nông thôn khá lớn Tình trạng tham nhũng, lợi dụng mở cửa để làm
ăn phi pháp, trục lợi cá nhân bất chính khá trầm trọng, gây ra nhiều bất bình trong nhân dân Trong năm 2004, trên toàn Trung Quốc có 74 nghìn vụ nổi loạn, biểu tình của các phong trào xã hội Trong khi đó trong năm 2003 chỉ có 16 nghìn vụ Trung Quốc đồng thời cũng gặp phải tình trạng ô nhiễm ngày càng ra tăng Mỗi năm, sự thiệt hại theo một số tính toán lên tới 54 tỷ USD
1.2.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Trang 33Hàn Quốc đã thành công trong việc chuyển đổi nền kinh tế từ một trong những nước nghèo trên thế giới vào những năm 60 để trở thành một quốc gia có nền công nghiệp giữ vai trò quan trọng như hiện nay Sự phát triển về kinh tế tại Hàn Quốc đã nhanh chóng làm thay đổi các hình thức phân phối tại nước này trong một thời gian ngắn Mô hình phân phối hiện đại đã thay thế các mô hình phân phối truyền thống trước đây và trở thành một trong những yếu tố cơ bản duy trì tăng trưởng kinh tế
Mạng lưới phân phối – bán lẻ hàng tiêu dùng truyền thống như hệ thống cửa hàng nhỏ do các hộ kinh doanh cá thể sở hữu, các sạp hàng bán trong chợ, và các quầy hàng bán dạo trên đường phố đã dần được thay thế bởi các siêu thị, chuỗi cửa hàng có quy mô lớn Cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ cũng trở nền sôi động hơn khi một loạt các tập đoàn siêu thị có tên tuổi trên thế giới như Price Costco, Wal-Mart (Hoa Kỳ); Carefour (Pháp) mở chi nhánh tại thị trường Hàn Quốc Việc mở cửa thị trường bán lẻ từ năm 1966 đã đưa lại những cơ hội phát triển cũng như những thách thức to lớn cho ngành bán lẻ Hàn Quốc Sau đây là một vài kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ:
Ở Hàn Quốc, Luật Kiểm soát độc quyền và Thương mại lành mạnh (MRFTA) điều chỉnh các vấn đề cạnh tranh, bao gồm sự thông đồng, sự lạm dụng ví trí thống lĩnh, độc quyền, hợp nhất và mua lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Mục tiêu MRFTA là: “Khuyến khích cạnh tranh tự do và công bằng thông qua việc cấm lạm dụng ví trí thống lĩnh trên thị trường, tập trung tiềm lực kinh tế quá mức, và bằng việc điều chỉnh các hành vi thông đồng phi pháp, các hoạt động kinh doanh không lành mạnh, theo đó khuyến khích các hoạt động kinh doanh sáng tạo, bảo vệ người tiêu dùng và đẩy mạnh phát triển cân bằng nền kinh tế quốc gia”
Nhìn chung, các doạnh nghiệp kinh doanh lĩnh vực phân phối – bán lẻ của Hàn Quốc chịu sự điều chỉnh chủ yếu của quy định về cấm lạm dụng vị trí thống
Trang 34lĩnh thị trường (Điều 3 -2); các hành vi thỏa thuận theo chiều ngang (Điều 19) và các hành vi kinh doanh không lành mạnh bị cấm (Điều 23)
Trong trường hợp có hành vi vi phạm, cơ quan cạnh tranh của Hàn Quốc (Ủy ban Thương mại lành mạnh – KFTC) có thể ra lệnh cho doanh nghiệp vi phạm đình chỉ hành vi, công bố vi phạm một cách công khai Bên cạnh đó, KFTC có thể
áp đặt khoản tiền phạt không vượt quá 2% - 5% doanh thu (tùy mức độ vi phạm) của doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp vi phạm tự nguyện thông báo cho KFTC về sai phạm của mình, tùy theo mức độ vi phạm, doanh nghiệp sẽ được giảm nhẹ hình phạt, giảm các khoản tiền phạt hoặc được miễn tiền phạt
Thực tế cho thấy, trong số các biện pháp xử lý nói trên, việc công khai về vì phạm của một doanh nghiệp là một biện pháp rất hữu hiệu Biện pháp phạt tiền với mức trần là 5% (hay 1 tỷ won) của doanh thu liên quan đến hành vi vi phạm và mức phạt thực tế thương giao động từ 2,5% đến 3,5% là mức phạt được đánh giá vẫn còn thấp Khoản tiền phạt này không thấp vào đâu so với lợi nhuận khổng lồ
mà doanh nghiệp kinh doanh cửa hàng bán lẻ lớn thu được khi thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, lợi dung ưu thế của mình trên thị trường để ép buộc nhà cung cấp, chèn ép các đối thủ cạnh tranh, và gây bất lợi cho người tiêu dùng Việc công khai vi phạm của một doanh nghiệp đồng nghĩa với việc làm xấu đi hình ảnh đối với người tiêu dùng mà doanh nghiệp đã phải dày công gây dựng Do đó, các doanh nghiệp sẽ không muốn làm hỏng hình ảnh của mình bằng việc vi phạm pháp luật
Theo tổng kết của KFTC, tổng số vụ việc vi phạm về cạnh tranh mà cơ quan này tiến hành xử lý trong 6 tháng đầu năm 2005 đã giảm xuống 19% từ 1.206 vụ (2004) xuống còn 977 vụ (2005) Liên quan đến các cửa hàng bán lẻ có quy mô lớn, năm 2005 KFTC đã phạt tổng cộng 439 triệu Won đối với 5 cửa hàng bán lẻ
có quy mô lớn trong đó có Carrefour Korea về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
Trang 35trên thị trường Trước đó, KFTC cũng đã có biện pháp xử lý đối với 2 công ty (The Walmart-Korea” và “Carrefour-Korea, do Walmart-Korea đã có những hành vi như từ chối nhận hàng, trả lại hàng hóa bất hợp pháp, đưa ra nhu cầu giả tạo để ép buộc nhà cung cấp phải mua hàng hóa, buộc nhà cung cấp phải chịu chi phí quảng cáo trong hoạt động xúc tiến bán hàng… và Korea Carrefour đã giảm giá sản phẩn liên quan của 112 nhà cung cấp, tổng cộng xấp xỉ 1 triệu USD mà không đưa ra bất
kỳ lý do chính đáng nào
Theo quyết định của KFTC, Walmar - Korea và Korea Carrefour phải chấm dứt ngay các hành vi nói trên và phải chịu mức phạt là tiền tương ứng là 1,6 triệu USD và 63.000 USD Cơ quan cạnh tranh cũng yêu cầu 2 doanh nghiệp phải đăng tải về việc vi phạm Luật MRFTA trên 2 tờ báo lớn của Hàn Quốc (2 doanh nghiệp này hiện đã rút lui khỏi thị trường Hàn Quốc)
Nếu so sánh với Hàn Quốc, có thể thấy Luật Cạnh tranh Việt Nam mới chỉ quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh áp dụng chung cho tất cả hoạt động kinh doanh trên mọi lĩnh vực, mà chưa có những hướng dẫn cụ thể đối với hoạt động bán buôn, bán lẻ vốn luôn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp Do vậy việc
cụ thể hóa các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán lẻ (như các quy định về “Kinh doanh cửa hàng bán lẻ lớn”; “Doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ lớn”); các hành vi kinh doanh không lành mạnh liên quan đến các cửa hàng bán lẻ lớn như trả lại hàng hóa một cách bất hợp pháp, giảm giá bất hợp pháp, chậm thanh toán cho nhà cung cấp mà khôngcó lý do hợp lý, đưa ra các yêu cầu, ép buộc bất hợp pháp hay từ chối nhận hàng của nhà cung cấp một cách bất hợp pháp, và áp đặt không công bằng đối với chi phí quảng cáo v.v là một yêu cầu khách quan và cấp thiết Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức cho các đối tượng liên quan đến lĩnh vực phân phối: nhà cung cấp, các doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng về quyền lợi và trách nhiệm của họ trong việc chấp hành nghiêm chỉnh Luật Cạnh tranh góp phần tạo lập được môi trường kinh doanh lành
Trang 36mạnh, bình đẳng hơn nữa cho mọi đối tác thuộc mọi thành phần kinh tế cũng cần được đặc biệt quan tâm
Hiện nay, khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, hoạt động cạnh tranh trên thị trường phân phối – bán lẻ đã hết sức sôi động với điểm nổi bật là các nhà đầu
tư nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều như Big C (Pháp), Metro (Cash & Carry – Đức), Parkson (Malaysia)… cũng như những hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại như các trung tâm/cửa hàng giá rẻ, bán hàng qua Internet, qua TV, v.v… dần trở nên quen thuộc và đưa lại cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn mới
Cũng như Hàn Quốc khi mở cửa thị trường bán lẻ, ở Việt Nam hiện tại cũng
có những quan ngại về ưu thế cạnh tranh của các tập đoàn bán lẻ quốc tế có sức mạnh về tài chính, thế mạnh về công nghệ quản lý, thương hiệu và kinh nghiệm… nên các “đại gia” này sẽ có thể gây ra các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, lạm dụng vị trí thống lĩnh làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng đến quyền của nhà cung cấp và đến người tiêu dùng Tuy nhiên kinh nghiệm của Hàn quốc cho thấy, những hiện tượng tiêu cực đó sẽ bị hạn chế tối đa nếu Luật
Cạnh tranh được tuân thủ và thực thi một cách hiệu quả
1.2.3.3 Các bài học kinh nghiệm về phát triển thương nghiệp tư nhân đối với Việt Nam
Từ thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế trong hơn hai thập nên và một số điều chỉnh của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO cũng như quá trình phát triển thương mại của Hàn Quốc có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cơ bản là:
- Mở cửa để hội nhập kinh tế quốc tế là chiến lược quan trọng để phát triển đất nước Đối với thương nghiệp tư nhân, nếu không mở rộng được thị trường ra thế giới thì khả năng lưu chuyển hàng hoá và lưu thông tiền tệ sẽ giảm đáng kể Do vậy mở cửa thị trường được xem là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với kinh tế thương nghiệp nói chung, thương nghiệp tư nhân nói riêng
Trang 37- Tích cực điều chỉnh thể chế pháp luật, kể cả hiến pháp để có thể thích ứng được yêu cầu và bối cảnh mới Cần có đầy đủ khung pháp lý cần thiết cho hoạt động thương mại Điều này vừa tạo cho khả năng cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trên thị trường, vừa mở rộng ra sự hội nhập đầy đủ với “sân chơi” quốc tế mà không bị thua thiệt
- Bên cạnh những cơ hội cho kinh tế phát triển nhanh, nhiều thách thức và vấn
đề đang đặt ra đối với bất kỳ nước nào tham gia vào WTO Thời kỳ hậu WTO đòi hỏi phải có một sự tiếp tục cải cách kinh tế và điều chỉnh về môi trường pháp luật
và chính sách theo hướng phù hợp với các quy định của WTO để có thể đảm bảo được tăng trưởng và phát triển bền vững
- Cần phải tích cực tranh thủ các nguồn lực của bên ngoài phục vụ cho phát
triển kinh tế nói chung và thương nghiệp nói riêng Đây sẽ là cơ hội to lớn để cho các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển như nước ta có đủ tiềm lực để mở rộng thị trường, tham gia đầy đủ vào các hoạt động thương mại Hiện nay, các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc có điều kiện phát triển mạnh mẽ là do sau 14 năm liên tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Trung Quốc đã trở thành nước đứng đầu trong các nước đang phát triển thu hút được lượng đầu tư lớn
- Cần tiếp tục điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành thương mại nói riêng Cần hình thành các mạng lưới kinh doanh đa tầng và rộng khắp, đa dạng hoá và hiện đại hoá ngành bán lẻ
- Cần phải lưu ý tới vấn đề bảo hộ, trợ giá để tránh xảy ra những vụ kiện bán phá giá như ở Trung Quốc và một số vụ kiện ở Việt Nam trong thời gian qua Điều này vừa làm giảm lợi nhuận kinh doanh vừa làm giảm uy tín và lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước
Trang 38Kết luận chương 1
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, sự tồn tại, vận động và phát triển của kinh tế tư nhân nói chung và thương nghiệp tư nhân nói riêng là một tất yếu khách quan Phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là chủ trương đúng của Đảng nhằm khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực vào thúc đẩy sức sản xuất của xã hội, tạo bước đột phá, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và bế tắc về phát triển kinh tế, nhờ đó kinh tế tư nhân và thương nghiệp tư nhân đã khôi phục và phát triển nhanh chóng Quá trình cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các văn bản pháp lý đã tạo môi trường thuận lợi và cơ sở pháp lý vững chắc cho thương nghiệp tư nhân phát triển Trong
Trang 39quá trình hoạt động của mình, kể từ sau đổi mới thương nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Sự phát triển và thể hiện vai trò của nó góp phần chứng tỏ rằng chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta là phù hợp với đặc điểm nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ Cùng với các thành phần kinh tế khác trong lĩnh vực thương mại, những năm qua sự phát triển của thương nghiệp tư nhân đã tạo được diện mạo mới cho thương mại Việt Nam Các doanh nghiệp thương nghiệp Việt Nam ngày càng
có vị thế trong quan hệ buôn bán quốc tế và có vai trò quan trọng góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vai trò đó được thể hiện rõ trên các khía cạnh sau:
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội và phát triển kinh
tế nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế, từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
- Hàng năm tạo thêm được nhiều chỗ làm việc mới và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo, tạo cơ sở cho
sự ổn định chính trị, trật tự an ninh xã hội để phát triển kinh tế
- Sự phát triển của thương nghiệp tư nhân đã và đang có vai trò thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng hiện đại
- Thương nghiệp tư nhân là một lực lượng quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam