Một khi thuế chống trợ cấp được ỏp dụng, tỏc động của nú lờn lợi ỡch cỏc đối tượng khỏc nhau được thể hiện như sau: ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP Đối với n-ớc nhập khẩu Đối với n-ớc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
TRỊNH THỊ THANH HUYỀN
THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP: KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC THÀNH VIÊN
WTO VÀ GỢI Ý VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hµ Néi – 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
TRỊNH THỊ THANH HUYỀN
THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP: KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC THÀNH VIÊN
WTO VÀ GỢI Ý VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh thế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS KHU THỊ TUYẾT MAI
Hà Nội - 2008
Trang 3
MỤC LỤC
Danh mục viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
Trang Mở đầu 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP 6
1.1 Khái niệm và tác động của thuế chống trợ cấp 6
1.1.1 Khái niệm và phân loại trợ cấp 6
1.1.1.1 Khái niệm về trợ cấp 6
1.1.1.2 Phân loại trợ cấp 7
1.1.2 Khái niệm về thuế chống trợ cấp 11
1.1.3 Tác động của việc đánh thuế chống trợ cấp 13
1.1.3.1 Tác động tích cực 16
1.1.3.2 Tác động tiêu cực 20
1.2 Quy định của WTO về thuế chống trợ cấp 21
1.2.1 Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) 21
1.2.1.1 Sự ra đời 21
1.2.1.2 Tóm tắt nội dung 22
1.2.2 Điều kiện áp dụng thuế chống trợ cấp theo quy định của WTO 23
1.2.2.1 Bằng chứng đầy đủ về hành vi trợ cấp của nước ngoài 24
1.2.2.2 Bằng chứng đầy đủ về thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước 25
Trang 41.2.2.3 Bằng chứng về quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ
cấp và thiệt hại 27
1.2.3 Thủ tục điều tra và áp dụng thuế chống trợ cấp theo quy định của WTO 28 1.2.3.1 Nộp hồ sơ 29
1.2.3.2 Quá trình điều tra 30
1.2.3.3 Nguyên tắc áp dụng và rà soát thuế chống trợ cấp 33
Chương 2: KINH NGHIỆM ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP CỦA MỘT SỐ NƯỚC THÀNH VIÊN WTO. 35
2.1 Những đặc điểm về áp dụng thuế chống trợ cấp của các nước thành viên WTO 35
2.2 Kinh nghiệm của một số nước thành viên WTO về áp dụng thuế chống trợ cấp 40
2.2.1 Kinh nghiệm của Hoa kỳ 40
2.2.1.1 Khái quát quá trình áp dụng thuế chống trợ cấp 40
2.2.1.2 Các quy định về thuế chống trợ cấp 42
2.2.1.3 Trình tự và thủ tục áp dụng thuế chống trợ cấp 45
2.2.1.4 Một số vấn đề khác 50
2.2.2 Kinh nghiệm của EU 51
2.2.2.1 Khái quát quá trình áp dụng thuế chống trợ cấp 51
2.2.2.2 Các quy định về thuế chống trợ cấp 53
2.2.2.3 Trình tự và thủ tục áp dụng thuế chống trợ cấp 55
2.2.2.4 Một số vấn đề khác 63
2.2.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 69
2.2.3.1 Khái quát quá trình áp dụng thuế chống trợ cấp 69
2.2.3.2 Các quy định về thuế chống trợ cấp 70
2.2.3.3 Trình tự và thủ tục áp dụng thuế chống trợ cấp 73
2.2.3.4 Một số vấn đề khác 78
Trang 52.3 Nhận xét chung về việc áp dụng thuế chống trợ cấp 79
Chương 3: MỘT SỐ GỢI Ý LIÊN QUAN TỚI VIỆC ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP CỦA VIỆT NAM 81
3.1 Cam kết của Việt Nam về trợ cấp khi gia nhập WTO và các quy định hiện hành về chống trợ cấp 81
3.1.1 Cam kết của Việt Nam về trợ cấp khi tham gia WTO 81
3.1.2 Quy định hiện hành của Việt Nam về chống trợ cấp 82
3.2 Thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam 85
3.2.1 Các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam có thể được nước ngoài trợ cấp 85
3.2.2 Cơ hội và thách thức khi áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam 88
3.3 Một số gợi ý cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp tại Việt Nam 90
3.3.1 Cân nhắc chung khi áp dụng thuế chống trợ cấp 91
3.3.2 Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về áp dụng thuế chống trợ cấp 92
3.3.3 Tổ chức bộ máy thực thi pháp luật thuế chống trợ cấp 94
3.3.4 Nâng cao trình độ cán bộ thực thi việc áp dụng thuế chống trợ cấp và nguồn nhân lực tại doanh nghiệp 96
3.3.5 Nâng cao nhận thức cho các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp 97 Kết luận… 101
Danh mục tài liệu tham khảo 102
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1: Danh mục minh hoạ các biện pháp trợ cấp xuất khẩu của Hiệp định
nhập khẩu (trong một đơn vị thời gian T) 16
Hình 1.3 Hai nước X và Y sử dụng công cụ trợ cấp trong cạnh tranh quốc tế 18 Hình 1.4 Sơ đồ quá trình điều tra và áp dụng thuế chống trợ cấp 31 Hình 2.1 Số vụ đánh thuế chống trợ cấp có hiệu lực qua các năm từ 6/2001 –
Trang 7CVD Thuế chống trợ cấp (thuế đối kháng)
GATS Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
ITC Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa kỳ
MOFCOM Bộ Thương mại Trung quốc
OECD Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế
SCM Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của
WTO UNCTAD Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển URAA Luật về các Hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay của
Hoa Kỳ
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng thuế chống trợ cấp như là một công cụ hữu hiệu để bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa của nước mính Không phải ngẫu nhiên mà các nước phát triển, với thị trường hàng hoá lớn, là những nước hô hào, ủng hộ cho tự do mậu dịch như Hoa Kỳ, EU lại là những nước áp dụng biện pháp thuế chống trợ cấp nhiều nhất, để bảo vệ cho ngành công nghiệp sản xuất nội địa trước sức cạnh tranh ngày càng lớn và gay gắt của hàng hoá nhập khẩu trong bối cảnh tự do hoá thương mại Thực tiễn cũng cho thấy, xu hướng sử dụng thuế chống trợ cấp đang lan toả sang các nước đang phát triển
Việc Việt Nam ngày càng chủ động tìch cực tham gia sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt sự kiện trở thành thành viên chình thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức cho nền kinh tế đang phát triển ở trính độ thấp như Việt Nam
Từ đây, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan truyền thống dần được cắt giảm đáng kể hoặc bị dỡ bỏ khiến cho hàng hoá các nước tiếp cận thị trường Việt Nam dễ dàng hơn và do đó sẽ gây sức ép cạnh tranh gay gắt với hàng hóa cùng loại hoặc tương tự trong nước Để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước, Việt Nam cần tím hiểu và vận dụng các biện pháp tự vệ nói chung trong WTO và biện pháp thuế chống trợ cấp nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh trợ cấp ở các nước ngày càng tăng, đa dạng và tinh vi như hiện nay gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh và không công bằng cho hàng hoá trong nước Sẽ là thiệt thòi cho các doanh nghiệp nếu như công cụ thuế chống trợ cấp không được quan tâm và áp dụng một cách thìch đáng để chống lại hành vi được coi là “bóp méo thương mại” của hàng hoá nước ngoài
Trang 9Do đó, việc tím hiểu thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp ở các nước thành viên WTO để đề xuất gợi ý áp dụng ở Việt Nam là một điều hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay, một mặt giúp các doanh nghiệp trong nước yên tâm sản xuất kinh doanh khi bên cạnh họ có thêm một công cụ bảo vệ hữu hiệu, một mặt nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của vấn đề thuế
chống trợ cấp trên đây, tác giả chọn đề tài: “Thuế chống trợ cấp: kinh
nghiệm áp dụng của một số nước thành viên WTO và gợi ý với Việt Nam”
cho đề tài luận văn của mính
2 Tình hình nghiên cứu
So với thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp ở Việt Nam vẫn đang
là biện pháp ìt được biết đến và chưa được nghiên cứu nhiều Hiện nay, trong nước đã có một số đề tài nghiên cứu về trợ cấp và thuế chống trợ cấp
Vụ chình sách thương mại đa biên - Bộ Thương Mại (nay là Bộ Công
Thương) trong đề tài cấp bộ “Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống trợ cấp
đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam” (2002) đã nêu lên sự cần thiết
của việc áp dụng công cụ bảo vệ mới thuế chống trợ cấp, phân tìch cơ sở lý thuyết cũng như thực tiễn áp dụng của một số nước để từ đó đưa ra các kiến nghị cho việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về thuế chống trợ cấp và việc hính thành bộ máy thực thi áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam, nhằm đáp ứng điều kiện, yêu cầu của gia nhập WTO
Phục vụ yêu cầu điều chỉnh chình sách khi gia nhập WTO đối với các biện pháp trợ cấp của Việt Nam, các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước hợp tác với Bộ Tài chình và các Bộ ngành liên quan thực hiện nghiên cứu định tình và định lượng về biện pháp thuế quan và trợ cấp tại Việt Nam
trong báo cáo “Việt Nam gia nhập WTO: Phân tích thuế quan, Ngành và
Trợ cấp - Quyển 2: Trợ cấp và gia nhập WTO: Tính tuân thủ quy định WTO
và tác động về mặt chính sách đối với Việt Nam” (Nhà Xuất bản Tài Chình
Trang 10– Tháng 9/2005) Báo cáo này đánh giá tổng thể chương trính trợ cấp và hỗ trợ dành cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp trong bối cảnh gia nhập WTO và đưa ra các khuyến nghị giải quyết nội dung này theo hướng đảm bảo tuân thủ với quy định của WTO
Phổ biến rộng rãi hơn, “Hệ thống ngắn gọn về WTO và các cam kết gia
nhập của Việt Nam: Trợ cấp và thuế chống trợ cấp” của Phòng Thương Mại
và Công nghiệp Việt Nam - VCCI là quyển sổ tay dành cho các doanh nghiệp Việt Nam bước đầu có một cái nhín tóm lược về trợ cấp và thuế chống trợ cấp theo quy định của WTO, những việc cần làm để phòng tránh
và đối phó với các vụ kiện chống trợ cấp ở nước ngoài cũng như nắm bắt cơ
sở quy phạm pháp luật Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của mính khi có thiệt
hại do hàng hoá nước ngoài có trợ cấp gây nên
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chì nghiên cứu kinh
tế chuyên ngành: tác giả Vương Thị Thu Hiền có bài “Xu hướng áp dụng
thuế chống trợ cấp của các nước thành viên WTO và kinh nghiệm đối với Việt Nam” trên Tạp chì Nghiên cứu Tài chình – Kế toán số 9/2004 và bài
“Thuế chống trợ cấp ở các nước thành viên WTO và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” trên tạp chì Tài chình số 7/2004; tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hoài trong tạp chì Nghiên cứu Kinh tế số 9/2005 có bài “Kinh
nghiệm của các nước trong việc áp dụng Hiệp định trợ giá tính thuế GATT/WTO” Những bài viết trên khẳng định xu hướng gia tăng việc áp
dụng thuế chống trợ cấp ở các nước thành viên WTO, việc áp dụng đang lan toả sang các nước đang phát triển trong thời điểm hiện tại và thuế chống trợ cấp là công cụ khó áp dụng; đồng thời tổng quan đánh giá kinh nghiệm áp dụng thuế chống trợ cấp của các nước thành viên WTO để từ đó gợi mở một
số vấn đề cho Việt Nam trước thềm hội nhập WTO
Những công trính nêu trên đã trính bày những khìa cạnh khác nhau của thuế chống trợ cấp một cách riêng rẽ hoặc đề cập đến vấn đề này một cách
Trang 11khái quát mà chưa có sự phân tìch đầy đủ, hệ thống về thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp ở một số nước nhất định để từ đó rút ra những gợi ý áp dụng cho Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh mới Việt Nam là thành viên của WTO
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp ở một số nước thành viên WTO từ đó đề xuất một số gợi ý cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho đề tài là:
- Nghiên cứu một số vấn đề chung về thuế chống trợ cấp và quy định của WTO về thuế chống trợ cấp
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp ở một số nước thành viên của WTO
- Đề xuất một số gợi ý cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thuế chống trợ cấp của WTO và việc áp dụng thuế chống trợ cấp này của một số nước thành viên WTO
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp theo quy định của Hiệp định SCM của các nước Mỹ, EU và Trung Quốc từ năm 1995 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy
Trang 12- Hệ thống hoá những vấn đề chung về thuế chống trợ cấp của WTO
- Làm rõ thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp của một số nước thành viên WTO
- Đề xuất một số gợi ý cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về thuế chống trợ cấp và quy định của WTO về thuế chống trợ cấp
Chương 2: Kinh nghiệm áp dụng thuế chống trợ cấp của một số nước thành viên của WTO
Chương 3 Một số gợi ý cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP 1.1 Khái niệm và tác động của thuế chống trợ cấp
1.1.1 Khái niệm và phân loại trợ cấp
1.1.1.1 Khái niệm về trợ cấp
Trợ cấp là một công cụ chình sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của chình phủ về kinh tế – xã hội – chình trị, v.v Tuy nhiên, việc đi đến một khái niệm tương đối chình xác và thống nhất về “trợ cấp” là một chủ đề gây tranh cãi không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các học giả
Theo định nghĩa của Từ điển Oxford dành cho giới kinh doanh (Nhà xuất bản Đại học Oxford 1994), “trợ cấp là khoản tiền do nhà nước cấp cho các nhà sản xuất một số hàng hóa nhất định để giúp họ có thể bán các hàng hóa đó cho dân chúng với giá thấp, để cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài, để tránh hàng tồn đọng thừa ế và tránh tạo ra thất nghiệp, v.v ” [1, tr.1]
Định nghĩa của các nhà kinh tế về trợ cấp khá đơn giản Chẳng hạn Roger N.Waud trong “Kinh tế học vi mô” tái bản lần thứ ba của Nhà xuất bản Harper & Row, 1986 khi xem xét mối quan hệ giữa trợ cấp với độ co giãn cung cầu đã định nghĩa rằng trợ cấp là “một khoản tiền mà chình phủ trả cho một nhà cung cấp tình theo mỗi đơn vị hàng hóa được sản xuất” và “trợ cấp thường có tác động làm cho giá hàng hóa liên quan giảm xuống và lượng cung hàng hóa đó tăng lên; mức độ giảm giá và tăng lượng phụ thuộc vào độ
co giãn của đường cung và cầu tương ứng” [1, tr.2)]
Cũng có học giả nhín nhận trợ cấp là sự can thiệp vào quá trính định giá của thị trường tự do và làm sai lệch các lợi thế so sánh của các đối tượng tham gia thị trường Trợ cấp tạo ra sự chênh lệch giữa chi phì cần thiết để sản xuất hàng hóa với chi phì thực tế mà nhà sản xuất phải bỏ ra Sản phẩm được trợ
Trang 14cấp trở nên rẻ hơn trong khi các sản phẩm cạnh tranh sẽ đắt hơn một cách giả tạo
Theo Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (Hiệp định SCM), một biện pháp được coi là trợ cấp nếu thỏa mãn đủ hai điều kiện sau:
là một khoản đóng góp về tài chình do chình phủ hoặc một tổ chức
nhà nước/công (public body) cung cấp; hoặc là một khoản hỗ trợ thu
nhập hoặc hỗ trợ giá; và
mang lại lợi ìch cho đối tượng nhận trợ cấp
Như vậy, trợ cấp của chình phủ là một công cụ trực tiếp tái phân phối nguồn thu ngân sách của chình phủ cho một số đối tượng Trợ cấp có thể dưới dạng cho vay, xoá nợ, hoàn hoặc miễn thuế Trong một số trường hợp khác, chình phủ không nhất thiết phải trìch từ nguồn thu ngân sách của mính để trợ cấp mà có thể thông qua công cụ luật pháp để hướng nguồn lực từ nhóm đối tượng này chuyển sang cho nhóm đối tượng khác, cụ thể ở đây là làm lợi cho nhà sản xuất bằng tiền từ túi người tiêu dùng thông qua việc hỗ trợ giá
Do các quy định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng cho đến nay là khung pháp lý đa phương được phần lớn các nước nhất trì thông qua và áp dụng làm căn cứ cho nguồn nội luật của mính, nghiên cứu này sẽ thống nhất sử dụng các khái niệm và định nghĩa trong Hiệp định SCM của WTO làm cơ sở nền tảng cho các phân tìch và lý luận về sau
1.1.1.2 Phân loại trợ cấp
Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 dạng dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại của chúng: Trợ cấp đèn đỏ, trợ cấp đèn vàng và trợ cấp đèn xanh
Trợ cấp bị cấm (trợ cấp đèn đỏ) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp
khuyến khìch sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu Hai dạng trợ
Trang 15cấp này bị cấm sử dụng ví tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh hưởng bất lợi đến lợi ìch của các nước thành viên WTO khác
Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành
riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đìch của trợ cấp là đẩy mạnh xuất khẩu Do đó, căn cứ để trợ cấp thông thường là lượng hàng hóa xuất khẩu thực sự hoặc dự kiến xuất khẩu Vì dụ: chương trính thưởng xuất khẩu của Chình phủ theo đó doanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được Tuy nhiên, việc chình phủ đơn thuần trợ cấp cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu không thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà còn cần xem xét đến một số yếu tố khác Trợ cấp xuất khẩu thường có hệ quả là hàng xuất khẩu được bán trên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu
Bảng 1.1: Danh mục minh hoạ các biện pháp trợ cấp xuất khẩu theo Hiệp định SCM
a Trợ cấp trực tiếp dựa trên kết quả xuất khẩu
b Thưởng xuất khẩu
c Phì vận chuyển nội địa ưu đãi hơn đối với hàng xuất khẩu
d Cung cấp đầu vào được trợ cấp để sử dụng cho sản xuất hàng xuất khẩu
e Miễn, hoàn hoặc cho phép nộp chậm toàn bộ hoặc một phần các khoản thuế trực thu hoặc các khoản phì phúc lợi xã hội liên quan riêng tới hoạt động xuất khẩu
f Cho hưởng các mức khấu trừ đặc biệt liên quan trực tiếp tới hàng xuất khẩu hoặc tới kết quả xuất khẩu khi tình thu nhập chịu thuế trực thu ở mức cao hơn mức khấu trừ áp dụng đối với sản xuất để tiêu thụ nội địa,
Trang 16g Miễn, hoặc hoàn thuế gián thu liên quan đến sản xuất và phân phối hàng xuất khẩu vượt quá phần thuế gián thu áp dụng đối với hàng hoá tương tự được tiêu thụ nội địa
h Miễn, hoàn hoặc cho phép nộp chậm thuế gián thu vượt quá phần thuế thực tế đánh vào các sản phẩm đầu vào được tiêu thụ trong quá trính sản xuất hàng xuất khẩu
i Mức hoàn thuế và phì nhập khẩu vượt quá mức thuế và phì nhập khẩu đánh vào các sản phẩm đầu vào nhập khẩu được tiêu thụ trong quá trính sản xuất hàng xuất khẩu (có tình đến hao phì thông thường)
j Bảo lãnh xuất khẩu với mức phì không đủ bù đắp chi phì
k Cấp tìn dụng xuất khẩu với lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất đi vay
l Bất kỳ khoản chi nào khác từ ngân sách Nhà nước là trợ cấp xuất khẩu theo nghĩa của Điều XVI GATT 1994
(Nguồn: Bộ Thương Mại (2000), Kết quả vòng đàm phán Uruguay về
hệ thống thương mại đa biên, NXB Thông kê, Tr.347-350) Trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu
(hay còn được gọi là trợ cấp thay thế nhập khẩu) là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần vào việc sử dụng hàng sản xuất trong nước so với hàng nhập khẩu Vì dụ các doanh nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng, linh kiện sản xuất trong nước chiếm ìt nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng
ưu đãi thuế
Nhiều trường hợp các nước còn sử dụng kết hợp cả hai dạng trợ cấp bị cấm này, như trợ cấp 60 USD/tấn bột mỳ xuất khẩu nhằm bù đắp lại việc công ty phải chấp nhận chỉ sử dụng lúa mỳ trong nước với giá cao hơn thông thường để sản xuất bột mỳ
Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (trợ cấp đèn vàng)
là trợ cấp có khả năng bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc có thể bị đánh thuế chống trợ cấp nếu trợ cấp đó gây thiệt hại đối
Trang 17với nước thành viên WTO khác Trong mọi trường hợp, nếu một nước muốn
áp dụng biện pháp đối kháng chống lại hành vi trợ cấp của nước khác, nước
đó phải chứng tỏ được rằng trên thực tế, hành vi của nước khác đúng là trợ cấp theo định nghĩa tại Điều 1 Hiệp định SCM, là trợ cấp riêng theo Điều 2 Hiệp định này, và gây tác động thương mại bất lợi cho nước muốn áp dụng biện pháp đối kháng
Trợ cấp riêng (hay còn gọi là trợ cấp mang tình riêng biệt) là trợ cấp
dành riêng cho một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp cụ thể, hay trợ cấp dành riêng cho một ngành sản xuất hoặc một nhóm ngành sản xuất nhất định Trợ cấp riêng có 2 loại: trợ cấp riêng theo luật và trợ cấp riêng trên thực tế
Trợ cấp riêng theo luật là trợ cấp mà cơ quan cấp trợ cấp có quy định rõ trong luật hoặc văn bản dưới luật là chỉ dành trợ cấp đó cho một số đối tượng nhất định được hưởng Chẳng hạn, chương trính cho vay với lãi suất ưu đãi theo luật chỉ dành cho ngành sản xuất thép là một vì dụ về trợ cấp riêng theo luật
Trợ cấp riêng trên thực tế là trợ cấp mà mặc dù cơ quan cấp trợ cấp (hoặc văn bản pháp lý điều chỉnh việc cấp trợ cấp) không đặt ra điều kiện nào
về đối tượng nhận trợ cấp nhưng việc quản lý hoặc áp dụng chương trính trợ cấp đó lại dẫn đến kết quả là một hoặc một vài nhóm đối tượng nhận trợ cấp nhất định được nhận nhiều lợi ìch hơn một cách đáng kể so với các đối tượng khác cùng được nhận trợ cấp Vì dụ: trợ cấp cho một vùng nhất định tuy có mục đìch công khai là trợ giúp phát triển vùng nhưng thực tế là chỉ trợ cấp cho các nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu tại vùng đó trong khi các doanh nghiệp khác không được hoặc nhận được rất ìt trợ cấp
Trợ cấp không bị khiếu kiện (trợ cấp đèn xanh) là trợ cấp không bị
khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hay bị đánh thuế chống trợ cấp Trợ cấp dạng này gồm các trợ cấp chung theo cách hiểu của
Trang 18Điều 2 và các trợ cấp thỏa mãn một số điều kiện và tiêu chì nhất định đối với: (i) chương trính hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động nghiên cứu công nghiệp và phát triển tiền cạnh tranh; hoặc (ii) hỗ trợ của nhà nước cho phát triển vùng; hoặc (iii) hỗ trợ của nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu mới về môi trường
Trợ cấp chung (còn gọi là trợ cấp không mang tình riêng biệt) là trợ cấp
sử dụng các tiêu chì hoặc điều kiện khách quan để tự động xác định đối tượng được hưởng trợ cấp và giá trị trợ cấp Những tiêu chì hoặc điều kiện khách quan bao gồm những tiêu chì hoặc điều kiện không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, không ưu đãi doanh nghiệp này hơn so với doanh nghiệp khác và là những tiêu chì hoặc điều kiện mang tình kinh tế, được áp dụng đồng loạt, như số lượng nhân công, quy mô doanh nghiệp, v.v
Trái với trợ cấp riêng, trợ cấp chung được áp dụng với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề, thành phần kinh tế, vì dụ như chình phủ giảm giá bán điện Trong trường hợp này, ảnh hưởng của trợ cấp đối với giá hàng hóa liên quan là không có ví tất cả các doanh nghiệp đều cùng được hưởng mức trợ cấp như nhau Khi đó, sự phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế
sẽ không hề khác với khi không có các khoản trợ cấp Đây cũng chình là lý do tại sao chỉ có trợ cấp riêng mới là đối tượng bị cấm theo Hiệp định SCM của WTO
Lý do để các dạng thuộc trợ cấp đèn xanh được duy trí là ví người ta cho rằng chúng hầu như không thể gây tác động bất lợi đến lợi ìch của các nước thành viên khác, hoặc do việc áp dụng chúng có ìch lợi nhất định và không nên bị ngăn chặn Để được công nhận là trợ cấp đèn xanh, các nước thành viên muốn áp dụng trợ cấp này phải thông báo về biện pháp trợ cấp cho Uỷ ban về Trợ cấp trước khi áp dụng để Uỷ ban này kiểm tra và kết luận
Trang 191.1.2 Khái niệm về thuế chống trợ cấp
Nhín chung, thuế chống trợ cấp là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt nhằm chống lại trợ cấp của Chình phủ nước ngoài cho hàng xuất khẩu, thường được áp dụng sau khi đã có điều tra cho thấy có tổn hại do trợ cấp đó gây ra
Về mặt pháp lý, các nước thường dùng định nghĩa của WTO làm định
nghĩa chuẩn cho thuế chống trợ cấp Theo WTO, “thuế chống trợ cấp được
hiểu là một khoản thuế đặc biệt nhằm mục đích bồi hoàn cho khoản trợ cấp
đã được cung cấp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình chế tác, sản xuất hoặc xuất khẩu của bất kỳ loại hàng hoá nào” [Pre-wto Legal Texts:
GATT 1947, tr.8] Đây là định nghĩa chặt chẽ về mặt luật pháp và thường được các nước chấp nhận )
Về mặt kinh tế, thuế chống trợ cấp là một hính thức thuế đánh vào hàng hoá được trợ cấp nhằm triệt tiêu lợi thế do khoản trợ cấp đó đem lại Để đạt được mục tiêu trên, thuế chống trợ cấp phải tương đương với lợi ìch mà trợ cấp đem lại cho hàng hoá, hay chình xác hơn, thuế chống trợ cấp phải triệt tiêu được lợi thế hàng nhập khẩu có được do nhận được trợ cấp của chình phủ
so với loại hàng tương tự được sản xuất tại nước nhập khẩu Do đó, sau khi đánh thuế chống trợ cấp, hàng hoá nhận được trợ cấp không còn lợi thế so với hàng tương tự được sản xuất trong nước không được trợ cấp Tuy nhiên, thuế chống trợ cấp cũng không được đánh quá cao, vượt quá lợi ìch thực sự mà hàng nhập khẩu nhận được Do phải đánh “đúng mức”, thuế chống trợ cấp chỉ được áp dụng sau khi đã có điều tra rõ ràng về mức độ trợ cấp cũng như thiệt hại trợ cấp đó gây ra đối với sản xuất trong nước Khi áp dụng thuế chống trợ cấp cần lưu ý một số điểm sau:
(i) Xét về mặt kinh tế, lợi ìch một mặt hàng nhất định thu được có thể thấp hơn hoặc cao hơn khoản hỗ trợ về tài chình mà nhà nước bỏ ra
Trang 20cho mặt hàng đó Trong phần lớn các trường hợp, lợi ìch kinh tế
hàng hoá thu được nhỏ hơn so với chi phì thực sự của khoản trợ cấp
(ii) Lợi ìch một hàng hoá nhất định nhận được không nhất thiết nhờ trợ
cấp trực tiếp cho mặt hàng đó Vì dụ như khi Nhà nước trợ cấp cho
một mặt hàng thí các ngành sử dụng mặt hàng đó cũng được hưởng
lợi
Do trợ cấp và ảnh hưởng của trợ cấp phức tạp như vậy, việc đánh thuế
chống trợ cấp cũng phải được điều tra và thực hiện một cách hết sức thận
trọng Chình ví vậy, thường chỉ có một số ìt nước tương đối phát triển là có
điều kiện áp dụng biện pháp này Các nước đang phát triển do năng lực yếu
kém, lại thiếu nguồn thông tin nên khó có thể áp dụng một cách chuẩn xác
thuế chống trợ cấp
Về mặt quản lý nhà nước, thuế chống trợ cấp được coi là một biện pháp
quản lý phi thuế quan Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành về các
biện pháp phi thuế quan đều xếp thuế chống trợ cấp là một biện pháp phi thuế
quan Trong hệ thống phân loại của UNCTAD, thuế chống trợ cấp cũng được
coi là một trong những biện pháp phi thuế quan
Mặc dù vậy, về hính thức bên ngoài, thuế chống trợ cấp lại có nhiều
điểm tương đồng với thuế nhập khẩu Ví vậy, xét về mặt hính thức, ở một
chừng mực nhất định cũng có thể coi thuế chống trợ cấp là một hính thức thuế
Trang 21Hình 1.1: Mô hình kinh tế của trợ cấp xuất khẩu
= biên độ trợ cấp = mức thuế chống trợ cấp tối đa
SEX1 – DEX1 = lượng xuất khẩu của nước xuất khẩu sau khi nước này trợ cấp xuất khẩu
DIM1 – SIM1 = lượng nhập khẩu của nước nhập khẩu sau khi có trợ cấp của nước xuất khẩu
Qua minh hoạ lý thuyết về trường hợp trợ cấp xuất khẩu ở Hính 1.1, có thể thấy việc tiến hành trợ cấp và đánh thuế chống trợ cấp tác động lên lợi ìch các đối tượng từ người tiêu dùng, nhà sản xuất đến lợi ìch chung của hai nước nhập khẩu, xuất khẩu và lợi ìch toàn cầu Khi được trợ cấp xuất khẩu, trong khi thặng dư người tiêu dùng ở nước nhập khẩu tăng lên +(G+H+I+J+K) thí thặng dư người tiêu dùng ở nước xuất khẩu giảm xuống -
Trang 22(a+b) Ngược lại, thặng dư nhà sản xuất ở nước nhập khẩu giảm –(G+H) và thặng dư nhà sản xuất ở nước xuất khẩu lại tăng lờn +(a+b+c+d+e) Trong trường hợp này, chỡnh phủ hai nước khụng được hưởng gớ, thậm chỡ nước xuất khẩu phải bỏ ra một khoản khỏ lớn từ ngõn sỏch –(b+c+d+e+f+h+i+j+k+l) để tiến hành trợ cấp Rừ ràng về định lượng, lợi ỡch chung của nước xuất khẩu giảm đỏng kể –(b+f+h+i+j+k+l), lợi ỡch chung của nước nhập khẩu tăng +(I+J+K) và lợi ỡch toàn cầu giảm –(I+K)-(b+f) Một khi thuế chống trợ cấp được ỏp dụng, tỏc động của nú lờn lợi ỡch cỏc đối tượng khỏc nhau được thể hiện như sau:
ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
Đối với n-ớc nhập khẩu
Đối với n-ớc xuất khẩu
Xét về tổng thể trong mối t-ơng quan giữa hành vi trợ cấp và thuế chống trợ cấp đánh vào hành vi trợ cấp đó, có thể thấy thuế chống trợ cấp triệt tiêu những ảnh h-ởng của trợ cấp lên lợi ích ng-ời tiêu dùng và nhà sản xuất ở hai n-ớc nhập khẩu và n-ớc xuất khẩu Đồng thời nó thể hiện rõ tác
động răng đe của thuế chống trợ cấp đối với n-ớc xuất khẩu vì một khi thuế
Trang 23chống trợ cấp đ-ợc áp dụng, chỉ có lợi ích n-ớc này là giảm Tác động kết hợp này đ-ợc thể hiện nh- sau:
ẢNH HƯỞNG KẾT HỢP CỦA TRỢ CẤP XUẤT KHẨU VÀ THUẾ
CHỐNG TRỢ CẤP
Đối với n-ớc nhập khẩu
Đối với n-ớc xuất khẩu
Thuế chống trợ cấp là một biện pháp vừa mang tính chất thuế quan, vừa mang tính chất phi thuế quan Vì vậy, khi áp dụng, thuế chống trợ cấp vừa có tác động của một biện pháp phi thuế quan, vừa có tác động của một biện pháp thuế quan Tác động phi thuế quan thể hiện rõ nhất trong giai đoạn đầu, tức là giai đoạn tố tụng (nộp hồ sơ đề nghị đánh thuế chống trợ cấp, điều tra về trợ cấp và thiệt hại, quyết định việc đánh thuế chống trợ cấp) Sau khi đã đ-ợc áp dụng, thuế chống trợ cấp có tác động không khác so với việc áp dụng thuế thông th-ờng
1.1.3.1 Tác động tích cực
* Tác động hạn chế nhập khẩu, bảo vệ lợi ích cho các nhà sản xuất trong n-ớc
Trang 24Do quá trình điều tra áp dụng thuế chống trợ cấp khá phức tạp về mặt kỹ thuật nên thuế chống trợ cấp th-ờng đ-ợc coi là một biện pháp phi thuế quan Vì vậy, các n-ớc th-ờng lạm dụng biện pháp này nhằm hạn chế nhập khẩu Quá trình điều tra có thể làm hạn chế nhập khẩu do ba nguyên nhân chính sau:
1 Quá trình điều tra làm tăng chi phí cho nhà sản xuất, xuất khẩu do
họ phải thuê luật s- với chi phí cao để kê khai nhiều giấy tờ mang tính chuyên môn để chứng minh mình “vô tội”
2 Khi bị điều tra, các nhà sản xuất phải cung cấp thông tin do cơ quan
điều tra yêu cầu, trong đó có nhiều thông tin thuộc loại bí mật kinh doanh nh- giá thành sản phẩm, nguồn cung ứng nguyên liệu, kênh phân phối sản phẩm v.v nên họ rất e ngại
3 Quá trình điều tra tạo tâm lý lo ngại về t-ơng lai đối với các nhà kinh doanh khi bị điều tra Do vậy, họ sẽ cố tìm thị tr-ờng khác ổn
định, ít rủi ro hơn để bán hàng còn nhà nhập khẩu hàng hoá đó có thể sẽ phải đi tìm nguồn cung cấp khác an toàn hơn
Hỡnh 1.2: Tỏc động của việc đỏnh thuế chống trợ cấp đối với giỏ và lƣợng nhập khẩu (trong một đơn vị thời gian T)
Khi đó đỏnh thuế chống trợ cấp thớ tỏc động của loại thuế này đối với hàng nhập khẩu khụng khỏc gớ khi đỏnh thuế nhập khẩu thụng thường: thuế
Trang 25chống trợ cấp làm tăng giá hàng nhập khẩu và giảm lượng nhập khẩu Hính 1.2 minh họa tác động của việc đánh thuế chống trợ cấp đến giá và lượng hàng nhập khẩu theo thời gian Trong hính vẽ này, T là thời gian, Pmt là giá nhập khẩu trong một đơn vị thời gian t, Qmt là lượng nhập khẩu trong một đơn vị thời gian t
Do vậy, nhà sản xuất mặt hàng bị đánh thuế hoặc nhà sản xuất các mặt hàng trực tiếp cạnh tranh với mặt hàng đó tại nước nhập khẩu sẽ được hưởng lợi Có thể nói việc đánh thuế chống trợ cấp trong tất cả các trường hợp đều nhằm bảo vệ lợi ìch cho các nhà sản xuất trong nước
* Tác động răn đe
Một trong những mục đìch tương đối quan trọng của việc có được công
cụ thuế chống trợ cấp để áp dụng khi cần thiết là công cụ này có tác dụng răn
đe đáng kể đối với chình phủ nước ngoài cũng như nhà sản xuất nước ngoài
Tác động răn đe đối với chính phủ nước ngoài:
Một nước tiến hành trợ cấp với mục tiêu giúp cho một nhóm đối tượng nhất định (đối tượng được hưởng trợ cấp) Ví vậy, trợ cấp chỉ phát huy tác dụng khi tạo ra được lợi thế nhất định cho một số ngành sản xuất hoặc một số nhà sản xuất nhất định
Trong thương mại quốc tế, trợ cấp là một công cụ chình sách thương mại
để tăng cường khả năng cạnh tranh của một ngành đối với ngành tương tự của nước khác Giả sử có hai nước X và Y cùng sản xuất và tiến hành xuất nhập khẩu một mặt hàng nhất định (Hính 1.3)
(i) Nếu hai nước cùng không trợ cấp, không nước nào có lợi thế so với
nước kia (0; 0)
(ii) Nếu nước X tiến hành trợ cấp:
Nước Y có thể đáp lại bằng cách trợ cấp đúng một khoản tương đương nước X, khi đó 2 nước cùng bị thiệt (-1; -1) do phải trợ cấp
mà không tạo được bất kỳ lợi thế nào trong cạnh tranh với nước kia;
Trang 26 Nước Y sẽ bị thiệt trong cạnh tranh nếu không có khả năng trợ cấp như nước nước X (-1; 1)
Hình 1.3: Hai nước X và Y sử dụng công cụ trợ cấp
trong cạnh tranh quốc tế
Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế, một nước nhỏ, thiếu thông tin và tiềm lực kinh tế (như Việt Nam) rất có thể chịu thiệt trong cạnh tranh Trong phần lớn các trường hợp, nước nhỏ không có đủ tiền để trợ cấp bằng với khoản nước lớn khác đã trợ cấp (trường hợp -1; 1) Ngay cả khi có tiền để trợ cấp, không phải lúc nào một nước nhỏ, thiếu thông tin cũng có thể áp dụng ngay trợ cấp (cần thời gian để thu thập số liệu, tổng hợp thông tin, xây dựng chương trính trợ cấp và các văn bản pháp lý, v.v )
Một trong những công cụ giúp tránh được thiệt hại trong các trường hợp trên là dùng công cụ thuế chống trợ cấp Nếu nước X trợ cấp để xuất khẩu hàng hoá sang nước Y, nước Y có thể không cần trợ cấp lại cho ngành sản xuất trong nước của mính mà chỉ cần áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng của nước X Ví vậy, nếu biết chắc rằng nước Y sẽ đánh thuế chống trợ cấp đối với hàng của nước mính, nước X sẽ không tiến hành trợ cấp nữa
Tác động răn đe đối với doanh nghiệp (khi định giá hàng xuất khẩu):
Trong nhiều trường hợp, nước X có thể trợ cấp cho hàng của nước mính
để bán sang nhiều nước khác nhau (vì dụ nước Y và Z) Khi đó, nước X vẫn tiến hành trợ cấp mặc dù biết nước Y sẽ đánh thuế chống trợ cấp ví hàng của
Trang 27nước X vẫn có thể được hưởng lợi khi bán vào nước Z Tuy nhiên, trong trường hợp này, tác dụng răn đe của thuế chống trợ cấp vẫn còn Nếu biết nước Y sẽ đánh thuế chống trợ cấp, các nhà kinh doanh khi muốn bán hàng của nước X vào nước Y sẽ tự động tăng giá ngang với giá trị thực của hàng hoá (giá nếu không được trợ cấp) ví sợ bị đánh thuế chống trợ cấp Như vậy, sản xuất trong nước tại nước Y không bị ảnh hưởng của khoản trợ cấp của nước X
1.1.3.2 Tác động tiêu cực
* Người tiêu dùng trong nước bị thiệt
Ngược lại với các nhà sản xuất trong nước, người tiêu thụ sản phẩm (người tiêu dùng hoặc người sử dụng sản phẩm nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất) lại là đối tượng chịu thiệt khi một nước quyết định đánh thuế chống trợ cấp Trước khi đánh thuế chống trợ cấp, người tiêu thụ được hưởng khoản trợ cấp của chình phủ nước ngoài do được mua sản phẩm với giá rẻ Sau khi đánh thuế, phần lợi đó đã được chuyển sang cho nhà sản xuất (và có thể một phần sang cho chình phủ nước đánh thuế) Do vậy, chình phủ cũng cần tình đến lợi ìch của người tiêu thụ trước khi quyết định có đánh
thuế chống trợ cấp hay không
* Tốn kinh phí, ngân sách Chính phủ
Để áp dụng thuế chống trợ cấp, chình phủ một nước phải bỏ ra kinh phì đáng kể để điều tra về thiệt hại hoặc nguy cơ thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cũng như thu thập các chứng cứ chứng minh có hành động trợ cấp
bị cấm của nước ngoài gây nên Một khi thuế chống trợ cấp được áp dụng, nó
có tác dụng như đánh thuế nhập khẩu thông thường, đem lại nguồn thu cho nhà nước Tuy nhiên, nguồn thu trên thường không lớn, chỉ chiếm một bộ phận không đáng kể trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia Thêm nữa, công tác quản lý thuế khi đã đánh thuế cũng tương đối phức tạp, tốn nhiều kinh phì Đồng thời, tuy thuế tăng nhưng lượng nhập khẩu lại giảm nên chưa
Trang 28chắc tổng thu đã tăng đáng kể Chình ví vậy, việc đem lại nguồn thu chỉ có vai trò thứ yếu và do vậy thường không làm ảnh hưởng đến quyết định có đánh thuế chống trợ cấp hay không
* Dễ gây phản ứng tiêu cực từ nước trợ cấp
Thuế chống trợ cấp là loại thuế đánh vào biện pháp trợ cấp được một chình phủ nước ngoài thực hiện Ví vậy, thuế chống trợ cấp gián tiếp đánh vào chình phủ nước ngoài Khi áp dụng thuế chống trợ cấp rất dễ gây phản ứng tiêu cực từ nước áp dụng trợ cấp Đây là lý do khiến nhiều nước muốn áp dụng thuế chống bán phá giá hơn là thuế chống trợ cấp ví thuế chống bán phá giá đánh vào doanh nghiệp
1.2 Quy định của WTO về thuế chống trợ cấp
1.2.1 Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)
1.2.1.1 Sự ra đời
Trước khi WTO ra đời, trợ cấp và thuế chống trợ cấp đã được quy định trong GATT 1947 là tổ chức tiền thân ra WTO tại Điều VI (Thuế chống trợ cấp), Điều XVI (Trợ cấp) và Hiệp định về Giải thìch và áp dụng Điều VI, XVI và XXIII GATT 1947 (còn gọi là Bộ Luật Trợ cấp được ký kết tại Vòng Tokyo 1973-1979) Tuy nhiên việc áp dụng thuế chống trợ cấp thời điểm này còn bị lạm dụng do các quy định đa phương này vẫn còn rất lỏng lẻo và nhiều kẽ hở Diễn giải của các nước về các khái niệm cơ bản như “trợ cấp”, “thiệt hại”, v.v… rất tuỳ tiện, đồng thời Bộ Luật Trợ cấp của Vòng Tokyo nói trên lại chỉ có giá trị hiệu lực đối với một số ìt các nước ký kết nên các nước được phép tương đối linh hoạt khi tiến hành điều tra cũng như đánh thuế Do vậy, các nước đã đàm phán và chấp thuận một hiệp định mới quy định chặt chẽ hơn việc sử dụng trợ cấp cũng như áp dụng thuế chống trợ cấp tại vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) Hiệp định này được gọi là Hiệp định SCM
Trang 29Cùng với sự ra đời của WTO, Hiệp định SCM quy định cho nhóm hàng công nghiệp chình thức có hiệu lực đối với tất cả các nước thành viên WTO
và cho đến bây giờ đây vẫn là hiệp định đa phương quy định chặt chẽ, nghiêm ngặt và chi tiết về trợ cấp, thuế chống trợ cấp và cách áp dụng loại thuế này
1.2.1.2 Tóm tắt nội dung
* Trợ cấp theo Hiệp định SCM dựa trên ba điều kiện:
Một là, trợ cấp xuất phát từ một chình phủ hoặc cơ quan nhà nước trong một quốc gia thành viên
Hai là, trợ cấp phải là sự đóng góp tài chình (có thể là các khoản vay ưu đãi, bảo lãnh vay vốn, giảm thuế, hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá, cũng như hàng hoá dịch vụ do nhà nước cung cấp (ngoại trừ dành cho cơ sở hạ tầng của nhà nước)
Ba là, nguồn lợi phải dành cho một bên tiếp nhận thông qua trợ cấp
* Các dạng trợ cấp:
Theo Hiệp định SCM, trợ cấp được chia làm các nhóm lớn: trợ cấp bị cấm (đèn đỏ), trợ cấp có thể bị kiện (đèn vàng), trợ cấp không bị kiện (đèn xanh)
* Trợ cấp đặc biệt và trợ cấp chung:
Hiệp định SCM phân biệt giữa hỗ trợ đặc biệt (hỗ trợ trực tiếp cho một công ty cụ thể, một ngành cụ thể ) và hỗ trợ không đặc biệt (là hỗ trợ chung) Sự phân biệt này tác động đến cách thức đưa ra các biện pháp đối kháng Theo Hiệp định SCM, mỗi thành viên phải thông báo cho WTO về các chương trính trợ cấp đang thực hiện cũng như các biện pháp đối kháng
dự kiến sẽ duy trí hoặc đưa ra áp dụng
* Thuế chống trợ cấp và các biện pháp đối phó khác:
Khi một ngành sản xuất của một nước bị thiệt hại do những tác động trực tiếp của chình sách hỗ trợ xuất khẩu của một thành viên khác trên lãnh
Trang 30thổ của mính thí thuế chống trợ cấp có thể được sử dụng Thuế chống trợ cấp chỉ có thể được áp dụng nếu đó là trợ cấp đặc biệt hoặc trợ cấp có thể bị khiếu kiện (đèn vàng) và có tác động gây hại đến ngành sản xuất tương ứng của nước thành viên nhập khẩu
Các thủ tục điều tra chống trợ cấp và áp dụng thuế chống trợ cấp được quy định cụ thể trong Hiệp định SCM, theo đó điều quan trọng là phải có chứng cứ của việc trợ cấp và phải chứng minh được trợ cấp đó gây tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp liên quan ở nước nhập khẩu và đó là hậu quả trực tiếp của trợ cấp, tức là có quan hệ nhân quả
Thuế chống trợ cấp không được cao hơn mức cần thiết để khắc phục tổn thất và phải được rà soát lại 5 năm một lần
Các thành viên WTO có thể tiến hành thủ tục tham vấn với nhau và trong trường hợp không thống nhất được, họ có thể đưa vụ việc lên cơ quan
giải quyết tranh chấp của WTO
1.2.2 Điều kiện áp dụng thuế chống trợ cấp theo quy định của WTO
Theo qui định của WTO, nước nhập khẩu có quyền áp dụng thuế chống trợ cấp khi chứng minh được:
(i) có trợ cấp mang tình riêng biệt: hàng nhập khẩu được hưởng lợi ìch từ một khoản trợ cấp có thể bị đánh thuế chống trợ cấp (với biên độ trợ
cấp – là trị giá phần trợ cấp trên trị giá hàng hoá liên quan – không
thấp hơn 1%);
(ii) có thiệt hại vật chất: ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu bị thiệt hại;
(iii) có quan hệ nhân quả: hàng nhập khẩu được trợ cấp là nguyên nhân gây
ra thiệt hại đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu
Các nội dung trên đây có quan hệ đan xen và liên kết chặt chẽ với nhau
Do vậy, việc tách thành các mục nhỏ dưới đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, nhằm mục đìch thuận tiện và dễ hiểu hơn trong khi phân tìch
Trang 311.2.2.1 Bằng chứng đầy đủ về hành vi trợ cấp của nước ngoài
Để có thể đánh thuế chống trợ cấp, bước đầu tiên là nước nhập khẩu phải chứng minh được rằng sản phẩm nhập khẩu đang được hưởng lợi ìch từ một khoản trợ cấp có thể bị đánh thuế chống trợ cấp theo quy định của Hiệp định SCM
Điều 11.2 của Hiệp định SCM quy định nước nhập khẩu chỉ bắt đầu điều tra để xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của biện pháp bị cáo buộc là trợ cấp khi có đề nghị bằng văn bản của một ngành sản xuất hoặc đại diện của ngành sản xuất trong nước Kèm theo văn bản này, người đề nghị phải cung
cấp các bằng chứng mô tả đầy đủ về sản phẩm bị coi là trợ cấp, tên nước
(hay những nước) xuất xứ (hoặc xuất khẩu) sản phẩm đó và bằng chứng về sự tồn tại, số lượng và tính chất của trợ cấp
Khi bắt đầu có hiệu lực, Hiệp định SCM chia trợ cấp thành ba loại: (i) trợ cấp bị cấm (còn gọi là trợ cấp đèn đỏ), (ii) trợ cấp có thể bị khiếu kiện ra
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc bị đánh thuế chống trợ cấp (còn gọi là trợ cấp đèn vàng) và (iii) trợ cấp không bị khiếu kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc bị đánh thuế chống trợ cấp (còn gọi là trợ cấp đèn xanh) Riêng loại trợ cấp đèn xanh chỉ được tạm thời áp dụng trong thời gian 5 năm cho đến hết ngày 31/12/1999, và theo Điều 31 của Hiệp định
có thể được gia hạn áp dụng nếu được sự nhất trì của Uỷ ban về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng Tuy nhiên, cho đến nay Uỷ ban này vẫn chưa đạt được bất kỳ sự nhất trì nào về việc có gia hạn các quy định liên quan đến loại trợ cấp này hay không Do vậy, có thể coi hiện nay chỉ còn hai loại trợ cấp đèn đỏ và đèn vàng thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SCM
Cả trợ cấp đèn đỏ và trợ cấp đèn vàng đều có thể bị nước nhập khẩu áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng được trợ cấp
Trang 321.2.2.2 Bằng chứng đầy đủ về thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước
Để chứng tỏ việc đánh thuế chống trợ cấp là một hành động đối phó chình đáng, bước thứ hai là nước nhập khẩu phải đưa ra được bằng chứng đầy
đủ cho thấy có thiệt hại xảy ra đối các ngành (hoặc doanh nghiệp) trong nước sản xuất các sản phẩm tương tự với hàng nhập khẩu được trợ cấp Công việc này gồm hai bước: (i) chứng minh trên thực tế là có ngành (hoặc doanh nghiệp) trong nước sản xuất các sản phẩm tương tự với các sản phẩm nhập khẩu được nước ngoài trợ cấp và (ii) chứng minh các ngành (hoặc doanh nghiệp) này bị thiệt hại thông qua các bằng chứng cụ thể
Khái niệm sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước (domestic like
product) - gọi tắt là sản phẩm tương tự - được hiểu là một sản phẩm giống hệt
sản phẩm đang được xem xét về mọi mặt Nếu không có sản phẩm giống hệt thí thuật ngữ “sản phẩm tương tự” được hiểu là một sản phẩm dù không giống hoàn toàn nhưng có những đặc điểm, tình chất rất giống sản phẩm đang được xem xét
Sau khi xác định đủ bằng chứng về việc sản phẩm nhập khẩu được hưởng lợi ìch từ một khoản trợ cấp có thể bị đánh thuế chống trợ cấp, điều VI GATT 1994 yêu cầu cơ quan điều tra phải chứng minh được có sự tồn tại của một số tác động nhất định đối với ngành sản xuất trong nước do hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra Điều 15.1 Hiệp định SCM quy định cụ thể hơn về
cách thức xác định sự tồn tại của những tác động này, gọi chung là “thiệt hại”
(injury) Điều 15.2 và 15.4 quy định về việc làm thế nào để đánh giá được khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp, tác động của hàng nhập khẩu được trợ cấp đối với giá của các sản phẩm tương tự sản xuất tại thị trường nước nhập khẩu, ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được trợ cấp đối với các nhà sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu
Trang 33Khái niệm thiệt hại được hiểu là thiệt hại vật chất đối với ngành sản
xuất trong nước, hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nước, hoặc làm chậm, trì hoãn việc hình thành một ngành sản xuất trong nước Hai loại thiệt hại đầu liên quan tới ngành sản xuất trong nước đã
được định hính và đang tồn tại, trong khi loại thiệt hại thứ ba liên quan tới ngành sản xuất mới chưa thực sự hính thành hoặc mới chỉ tồn tại dưới dạng phương án định hính tại nước nhập khẩu
Tuy nhiên, các quy định này vẫn không thể đưa ra một định nghĩa chuẩn xác về khái niệm “thiệt hại” Thay vào đó, Hiệp định SCM đưa ra một danh mục các nội dung mà cơ quan điều tra phải xem xét khách quan để chứng minh rằng có thiệt hại Danh mục này gồm khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp, ảnh hưởng tới giá sản phẩm tương tự, ảnh hưởng tới nhà sản xuất sản phẩm tương tự Đối với mỗi nội dung, một loạt các yếu tố lại được nêu ra kèm theo hướng dẫn rằng không yếu tố hay nhóm yếu tố nào nhất thiết đóng vai trò quyết định trong việc đưa ra kết luận rằng có thiệt hại Nói cách khác, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu được tuỳ ý đánh giá mức độ quan trọng của mỗi yếu tố để đi đến kết luận trong từng vụ việc
Muốn chứng tỏ thiệt hại của một ngành trong nước, nước đó có thể chứng tỏ thiệt hại đó tồn tại dưới dạng (i) thiệt hại vật chất thực tế, (ii) đe doạ gây ra thiệt hại vật chất, hoặc (iii) gây chậm trễ việc hính thành ngành Với qui định như vậy của Hiệp định, đôi khi việc tím kiếm bằng chứng của thiệt hại lại chình là đi tím bằng chứng cho nguyên nhân đã hoặc sẽ có thể gây ra thiệt hại Có thể khẳng định rằng, khi chứng tỏ một ngành bị thiệt hại, không thể tách rời bằng chứng của các thiệt hại với việc nêu nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp đã gây ra các thiệt hại đó
Trang 341.2.2.3 Bằng chứng về quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại
Hiệp định SCM quy định chỉ được đánh thuế chống trợ cấp trong trường hợp hàng nhập khẩu được trợ cấp là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Điều 15.5 Hiệp định SCM quy định rằng cơ quan điều tra của nước nhập khẩu phải chứng minh được rằng hàng nhập khẩu được trợ cấp đang gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước dưới một trong ba dạng thiệt hại đã được phân tìch ở phần trên Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước phải căn cứ trên tất cả các bằng chứng mà cơ quan điều tra có được Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng phải xem xét đến các yếu tố khác hiện thời đang gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất đó để xác định mức thiệt hại thực sự do hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra
Khi xem xét quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp với thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, cơ quan điều tra phải đánh giá về: (i) Khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp: mức độ tăng tuyệt đối và
tỷ lệ tăng tương đối so với sản lượng sản xuất hoặc lượng tiêu thụ của sản phẩm tương tự tại thị trường nước nhập khẩu; và
(ii) Tác động về giá của hàng nhập khẩu được trợ cấp: mức độ chênh lệch về giá giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp so với giá của sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu, ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được trợ cấp làm giá hàng hóa đó trên thị trường nước nhập khẩu giảm mạnh hoặc kím hãm không cho giá hàng hóa này tăng lên Ngoài ra, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu còn phải xem xét đến các yếu tố liên quan khác như khối lượng và giá cả sản phẩm tương tự nhập khẩu
từ các nguồn khác không được trợ cấp, tính trạng thu hẹp nhu cầu đối với sản phẩm liên quan hoặc các thay đổi về phương thức tiêu thụ, các hành vi hạn chế thương mại của các nhà sản xuất trong và ngoài nước nhập khẩu, cạnh
Trang 35tranh giữa các nhà sản xuất trong và ngoài nước nhập khẩu, các thành tựu phát triển của công nghệ, kết quả xuất khẩu và năng suất của ngành sản xuất trong nước
Khi đánh giá tác động của hàng nhập khẩu được trợ cấp đến sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu, thường cơ quan điều tra sẽ cố gắng căn
cứ trên các số liệu sẵn có và các tiêu chì như quy trính sản xuất, doanh số bán
và lợi nhuận của các nhà sản xuất để phân tách ngành sản xuất sản phẩm tương tự với các ngành khác của nước nhập khẩu Nếu không thể phân tách như vậy, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu sẽ phải đánh giá các tác động của hàng nhập khẩu được trợ cấp thông qua việc xem xét tính trạng sản xuất trong nước đối với nhóm sản phẩm hẹp nhất có bao gồm sản phẩm trong nước tương tự
1.2.3 Thủ tục điều tra và áp dụng thuế chống trợ cấp theo quy định của WTO
Trên cơ sở hồ sơ đề nghị áp dụng thuế chống trợ cấp (gọi tắt là hồ sơ đề nghị) hợp lệ và đầy đủ bằng chứng của ngành sản xuất trong nước hoặc của đại diện cho ngành đó, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu (gọi tắt là
cơ quan điều tra) sẽ tiến hành điều tra để xác định sự tồn tại, mức độ của trợ
cấp, thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước và mối liên hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp với thiệt hại đó Trong quá trính điều tra, cơ
quan điều tra sẽ tiến hành tham vấn với các bên liên quan (như nhà sản xuất nước ngoài, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu sản phẩm đang bị điều tra, các hiệp hội liên quan, nhà sản xuất hoặc hiệp hội liên quan trong nước nhập khẩu, chình phủ nước xuất khẩu, v.v ) để làm rõ các vấn đề cần điều tra
Kết quả của việc điều tra có thể đi đến quyết định (i) đánh thuế chống trợ cấp nếu các điều kiện và thủ tục quy định được đáp ứng; (ii) không đánh thuế chống trợ cấp trong trường hợp không hội đủ các điều kiện, trợ cấp dưới mức ngưỡng cho phép, lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp hoặc thiệt hại gây ra
Trang 36không đáng kể, v.v ); hoặc (iii) nước nhập khẩu chấp nhận các cam kết tự nguyện do nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc chình quyền nước xuất khẩu đưa
ra Sau khi đã có kết luận bước đầu về sự tồn tại của trợ cấp và thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước do hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp tạm thời để ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra trong quá trính điều tra
Hiệp định SCM cũng quy định về quá trính điều tra, phương pháp điều tra, các biện pháp tạm thời được phép áp dụng trong quá trính điều tra và cách thức đánh thuế chống trợ cấp chình thức sau khi có kết luận điều tra cuối cùng
1.2.3.1 Nộp hồ sơ
Việc điều tra để xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của trợ cấp nước ngoài thường được tiến hành trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của ngành sản xuất sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu, hoặc của một nhóm các nhà sản xuất đại diện cho ngành đó Tuy nhiên, WTO cũng cho phép trong một số trường hợp đặc biệt khi đủ bằng chứng về trợ cấp của nước ngoài, thiệt hại và quan hệ nhân quả giữa trợ cấp và thiệt hại, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu có thể quyết định bắt đầu tiến hành điều tra mặc dù không có hồ sơ của ngành sản xuất hoặc đại diện ngành đề nghị điều tra đánh thuế chống trợ cấp
Cơ quan điều tra sẽ kiểm tra tình đại diện của những người ký tên trong
hồ sơ đề nghị cũng như tình chình xác và đầy đủ của các bằng chứng nêu trong hồ sơ này để đi đến quyết định có đủ căn cứ bắt đầu điều tra hay chưa
Về tính đại diện của hồ sơ: hồ sơ chỉ được coi là thoả mãn yêu cầu về
tình đại diện cho ngành sản xuất liên quan tại nước nhập khẩu nếu được sự ủng hộ của các nhà sản xuất mà sản lượng cộng gộp của của họ phải lớn hơn sản lượng cộng gộp của những nhà sản xuất phản đối đề nghị này và phải chiếm tối thiểu 25% tổng sản lượng của ngành liên quan
Trang 37Trước khi bắt đầu điều tra, nước có sản phẩm xuất khẩu là đối tượng bị
đề nghị điều tra sẽ được mời tham vấn nhằm làm rõ các vấn đề có liên quan
đến nội dung hồ sơ đề nghị cũng như nhằm đi đến nhất trì một giải pháp được các bên cùng nhất trì để giải quyết vấn đề Hiệp định SCM không giải thìch thế nào được coi là một giải pháp được các bên cùng nhất trì mà để tuỳ ý các nước liên quan thỏa thuận với nhau Do đó, giai đoạn tham vấn có vai trò như một khâu hòa giải sớm giữa chình phủ hai nước có liên quan
1.2.3.2 Quá trình điều tra
Theo qui định của Hiệp định SCM, điều tra để áp dụng thuế chống trợ cấp phải kết thúc trong thời hạn 12 tháng, và trong trường hợp đặc biệt chỉ được kéo dài tới tối đa là 18 tháng kể từ khi chình thức bắt đầu điều tra
Nếu mức trợ cấp thấp hơn mức ngưỡng cho phép hoặc khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp thực tế hoặc có tiềm năng là không đáng kể, hoặc thiệt hại không đáng kể thí cơ quan điều tra sẽ chấm dứt điều tra Mức ngưỡng cho phép là 1% giá trị mỗi đơn vị sản phẩm bị điều tra đối với trợ cấp do nước thành viên phát triển sử dụng, là 2% với nước thành viên đang phát triển và 3% với nước thành viên kém phát triển nhất, nước thành viên đang phát triển có GNP bính quân đầu người mỗi năm dưới 1.000 USD và nước thành viên đang phát triển đã chấm dứt trợ cấp xuất khẩu trước năm
2003
Nếu kết luận sơ bộ cho thấy rằng có tồn tại trợ cấp và thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước là do hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra:
- Cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp tạm thời để ngăn chặn thiệt hại xảy ra trong quá trính điều tra Biện pháp tạm thời có thể dưới hính thức thuế chống trợ cấp tạm thời (provisional duties) được bảo đảm bằng một khoản tiền đặt cọc hoặc cam kết nộp thuế với giá trị tương đương với mức trợ cấp tạm tình Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sớm nhất là ngày thứ 61
Trang 38tình từ ngày chình thức bắt đầu điều tra về trợ cấp và chỉ được kéo dài tối đa 4
tháng;
- Thay ví áp dụng biện pháp tạm thời, cơ quan điều tra có thể chấp thuận cam kết tự nguyện của chình phủ nước xuất khẩu hoặc nhà xuất khẩu: chình phủ nước xuất khẩu cam kết chấm dứt hoặc hạn chế trợ cấp hoặc áp dụng biện pháp khác để điều chỉnh tác động của trợ cấp Nhà xuất khẩu cam kết tăng giá sản phẩm xuất khẩu tới mức đủ để loại bỏ thiệt hại do trợ cấp gây ra cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu và cam kết này được sự đồng
ý của chình phủ nước xuất khẩu
Quá trính điều tra có thể bị đính chỉ hay chấm dứt khi cơ quan điều tra của nước nhập khẩu chấp thuận các cam kết trên Tuy nhiên, nếu chình phủ nước xuất khẩu hoặc cơ quan điều tra nước nhập khẩu vẫn muốn hoàn tất cuộc điều tra đã khởi xướng thí điều tra vẫn được tiếp tục Nếu kết luận điều tra cuối cùng cho thấy không có trợ cấp hoặc thiệt hại thí cam kết tự động hết hiệu lực, trừ trường hợp chình do sự tồn tại của cam kết mà điều tra mới đi đến kết luận đó Nếu kết luận điều tra cuối cùng cho thấy có trợ cấp và thiệt hại thí cam kết vẫn tiếp tục được thi hành
Quyết định đánh thuế chống trợ cấp chính thức và thu thuế:
Trong thời hạn hợp lý trước khi đưa ra kết luận điều tra cuối cùng, cơ quan điều tra phải thông báo cho chình phủ nước xuất khẩu và các bên liên quan về các dữ kiện thực tế mà cơ quan này đã căn cứ vào đó để quyết định
áp dụng thuế chống trợ cấp hay không áp dụng để các bên có đủ thời gian bảo vệ lợi ìch của mính
- Nếu điều tra đã thực hiện theo đúng thủ tục và trính tự quy định và đi đến kết luận rằng các điều kiện để đánh thuế chống trợ cấp đã hội đủ, cơ quan điều tra sẽ xác định mức thuế chống trợ cấp cần thiết và ra quyết định đánh thuế chống trợ cấp chình thức Mức thuế này không được lớn hơn giá
Trang 39trị của trợ cấp ví mục đìch của việc đánh thuế chỉ là nhằm loại bỏ thiệt hại do trợ cấp gây ra đối với ngành sản xuất trong nước
- Nếu kết luận điều tra cuối cùng là không có trợ cấp hoặc thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước thí nhà nhập khẩu sẽ được hoàn lại mọi khoản tiền đặt cọc hoặc được trả lại cam kết nộp thuế đã nộp trước đó;
ủ (Không đủ đk)
Đại diện ngành trong nước nộp hồ sơ cho
cơ quan có thẩm quyền
Cơ quan có thẩm quyền:
- Xem xét tình đại diện của hồ sơ;
- Nghiên cứu sơ bộ nội dung hồ sơ;
- Tham vấn để có thêm thông tin
CHẤM DỨT ĐIỀU TRA
(Không đủ điều kiện đánh thuế
(Đủ điều kiện đánh thuế)
TRỢ CẤP
ĐIỀU CHỈNH HOẶC DUY TRÌ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
ĐIỀU TRA
ĐIỀU TRA (tiếp)
ÁP DỤNG THUẾ TẠM THỜI
CAM KẾT CỦA NHÀ XUẤT KHẨU HOẶC CHÍNH PHỦ XUẤT KHẨU
Chình phủ nước xk, các nhà xk, các nhà sản xuất tại nước xk
Ý kiến của người tiêu dùng trong nước
Cơ quan điều tra xác định trợ cấp, thiệt hại gây
ra và mức thuế chống trợ cấp
Bảng câu hỏi Trả lời sau 30 ngày/tham vấn
Hình 1.4: Sơ đồ quá trình điều tra và áp dụng
Trang 40Trong trường hợp đặc biệt khi cơ quan điều tra thấy rằng thiệt hại khó
có thể khắc phục và do khối lượng lớn hàng nhập khẩu được nước ngoài trợ cấp gây ra trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, cơ quan này có thể quyết định đánh thuế chống trợ cấp chình thức cả với các sản phẩm từ nước trợ cấp được nhập khẩu vào trong nước trong phạm vi 90 ngày trước ngày bắt đầu áp dụng thuế tạm thời nhằm ngăn chặn thiệt hại tái diễn
1.2.3.3 Nguyên tắc áp dụng và rà soát thuế chống trợ cấp
* Nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp
- Mức thuế chống trợ cấp không được cao hơn giá trị trợ cấp tình theo đơn vị sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp;
- Thuế chống trợ cấp phải được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối
xử đối với hàng nhập khẩu từ tất cả các nước bị xác định là có trợ cấp gây ra
thiệt hại cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu, trừ hàng nhập khẩu từ những nước đã tuyên bố chấm dứt trợ cấp hoặc đã đưa ra cam kết và được cơ quan điều tra chấp thuận Tuy nhiên, mức thuế cụ thể áp dụng với hàng nhập khẩu của mỗi nước khác nhau cũng khác nhau phụ thuộc vào mức độ trợ cấp
và thiệt hại cụ thể của từng trường hợp
- Nếu có nhà xuất khẩu do thuộc nước xuất khẩu bị áp dụng thuế chống trợ cấp nhưng trên thực tế đã không được điều tra (ví một lý do nào đó chứ không phải do từ chối hợp tác với cơ quan điều tra) thí cơ quan điều tra sẽ phải tiến hành điều tra nhanh để xác định một mức thuế riêng hợp lý cho nhà xuất khẩu đó
* Thời hạn áp dụng và rà soát thuế chống trợ cấp
Thuế chống trợ cấp được áp dụng chừng nào còn cần thiết để đối phó với trợ cấp của nước ngoài gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Tuy nhiên, để ngăn chặn việc lạm dụng thuế chống trợ cấp, Hiệp định SCM quy định thời hạn áp dụng thuế chống trợ cấp tối đa là 5 năm kể từ ngày bắt đầu
áp dụng