1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Autralia cho Việt Nam

120 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LÊ BÁ KHỞI THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA CỦA AUSTRALIA CHO VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Qu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ BÁ KHỞI

THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) CỦA

AUSTRALIA CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ BÁ KHỞI

THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) CỦA

AUSTRALIA CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯ NG N KH A HỌC: TS NGUYỄN THỊ KIM CHI

Hà Nội - 2012

Trang 3

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN

VỐN ODA CỦA AUSTRALIA CHO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993 –

2010

31

2.1 Tổng quan về nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam 31

Trang 4

Australia cho Việt Nam

2.1.2 Tổng quan về tình hình sử dụng và giải ngân nguồn vốn

2.2 Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của

Australia cho Việt Nam giai đoạn 1993 – 2010 38

2.2.3 Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn và xóa

2.2.5 Trong lĩnh vực tăng cường năng lực và thể chế của nền

2.4 Đánh giá chung về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG KHẢ

NĂNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA

AUSTRALIA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

82

Trang 5

3.1.1 Bối cảnh trong nước 82

3.2 Kế hoạch viện trợ của Australia cho Việt Nam trong thời

3.2.1 Năm điểm chính trong định hướng viện trợ của Australia

3.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử

dụng ODA của Australia tại Việt Nam trong thời gian tới 94

Trang 6

Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia

2 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu

Á

3 ADS Australian Development

Scholarships

Chương trình Học bổng Phát triển Australia

4 APEC Asia - Pacific Economic

Cooperation

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

5 ASEAN Association of Southeast

Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia

8 BKH&ĐT Ministry of Planning and

Investment

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Collaboration for Agriculture and Rural Development

Dự án Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Quỹ Xây dựng Năng lực Quản lý Quốc gia có Hiệu Quả

Ủy ban Viện trợ Phát triển

14 GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc gia

15 GNP Gross National Product Tổng sản lượng quốc gia

Trang 7

ii

Chương trình Hỗ trợ thực hiện để thúc đẩy triển khai chương trình 135

17 JICA Japan International

Cooperation Agency

Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

19 MDGs Millennium Development

Goals

Mục tiêu chương trình Phát triển Thiên niên kỷ

22 NZD New Zealand Dollar Đô la New Zealand

23 ODA Official Development

Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức/ Viện trợ phát triển chính thức

Organization for Economic Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

25 RUDEP Rural Development

Program

Chương trình Phát triển Nông thôn

28 USD United States Dollar Đô la Mỹ

Forum

Diễn đàn Phát triển Việt Nam

Organization

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

51

2.4

Tiến trình thực hiện các Mục tiêu Thiên niên

3.1

Nguồn vốn ODA của một số nước thành viên

Trang 10

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp có cơ sớ vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, văn minh Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể thấy rằng chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 6%, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện Việt Nam không những đạt được những thành tựu về mặt kinh tế mà các mặt của đời sống văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, môi trường, xóa đói giảm nghèo cũng được nâng cao rõ rệt, tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, các mối quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được

mở rộng

Để đạt được những thành công đó, bên cạnh việc khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước như vốn huy động trong dân thì sự hỗ trợ từ bên ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cũng đóng một vai trò quan trọng Trong số đó, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) với những ưu thế của mình là một nguồn vốn tập trung lớn chủ yếu dành cho những lĩnh vực hết sức cần thiết cho tăng trưởng

và phát triển triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của Việt Nam như cơ sở hạ tầng kinh tế (giao thông, năng lượng ), cơ sở hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo) và phát triển nguồn nhân lực và có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam đã đạt được khá nhiều

Trang 11

2

thành tựu trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA qua từng năm, đặc biệt trong những năm gần đây và ngay cả khi tình hình thế giới có nhiều biến đổi không có lợi cho việc gia tăng nguồn vốn viện trợ thì Australia cùng với một số nhà tài trợ khác vẫn thể hiện sự cam kết cao và sự ủng hộ mạnh mẽ trong việc hỗ trợ sự nghiệp phát triển KT-XH của Việt Nam, điều này được thể hiện ở số vốn ODA cam kết cho Việt Nam của các nhà tài trợ vẫn không ngừng tăng lên so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Thời gian qua Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ quỹ báu từ nguồn ODA của các nhà tài trợ trong đó nguồn ODA của Australiađã có nhiều đóng góp tích cực đối với nền kinh tế nước ta theo đà phát triển quan hệ song phương giữa hai nước Đặc biệt, thời gian gần đây Australia có nhiều chương trình viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam với số vốn trung bình mỗi năm khoảng 70 triệu đô la Australia (AUD) Số lượng ODA này đã và đang đóng góp một phần không nhỏ trong các lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội quan trọng của Việt Nam, đem lại nhiều kết quả khả quan mà chúng ta có thể thấy được Tuy nhiên, trong quá trình viện trợ ODA, cả nước viện trợ là Australia và nước nhận viện trợ là Việt Nam cũng không tránh khỏi những khó khăn và trở ngại Vậy làm thế nào để thu hút và sử dụng nguồn vốn này phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp phát triển KT-XH Việt Nam trong những năm tới? Đó là câu hỏi cần có lời giải

Xuất phát từ những suy nghĩ trên đây, đề tài “Thu hút và sử dụng nguồn

vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam” được tác

giả lựa chọn nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Đây thực sự là một vấn đề cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn lớn đối với nước ta hiện nay khi mà quan hệ Việt Nam - Australia đã và đang có những bước tiến đáng kể

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 12

3

Có thể nói ODA nói chung và ODA tại Việt Nam nói riêng là đề tài nhận được sự chú ý và quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý, các tổ chức trong và ngoài nước Chính vì vậy mà hiện nay có rất nhiều công trình, sách báo, đề tài nghiên cứu về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các đối tác khác nhau, tập trung theo hai hướng chính như sau:

Hướng thứ nhất tập trung vào lĩnh vực thu hút và sử dụng ODA nói chung với một số nghiên cứu nổi bật như: Trần Đình Tuấn và Đặng Văn

Nhiên (1993), Những điều cần biết về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), NXB Xây dựng, Hà Nội; Vũ Thị Kim Oanh (2002), Những giải pháp chủ yếu

nhằm sử dụng có hiệu quả ODA tại Việt Nam; Hà Thị Ngọc Oanh (2004), Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) – Những hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội; Tạp chí kinh tế và dự báo (2006), Định hướng

thu hút và sử dụng nguồn ODA trong thời kỳ 2006 – 2010; Lê Quốc Hội

(2007), Định hướng sử dụng ODA, Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF); Vũ Ngọc Uyên (2007), Tác động của ODA đối với tăng trưởng kinh tế của Việt

Nam; Cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài (2008), Việt Nam sử dụng minh bạch và hiệu quả vốn ODA; Nguyễn Thị Huyền (2008), Khai thác và sử dụng nguồn vốn ODA trong sự nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam;…

Hướng thứ hai tập trung nghiên cứu về ODA trong các ngành, lĩnh vực hoặc ODA của một số nước cụ thể nào đó với một số công trình nổi bật như:

AusAID (2001), Vietnam – 10 years of Australia Aid; Bùi Nguyên Khánh (2002), Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong xây dựng kết cấu hạ tầng

của ngành GTVT ở Việt Nam; Phùng Tuệ Phương (2002), Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam; Phạm Thị Túy (2006), Một số kinh nghiệm thu hút và sử dụng vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng, Tạp

chí Kinh tế và dự báo; Phạm Thị Túy (2006), Phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt

Trang 13

4

Nam - Vai trò không thể phủ nhận của ODA, Tạp chí Kinh tế và dự báo;

Phạm Thị Túy (2008), Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ

tầng ở Việt Nam; Bộ Tài chính (2008), Báo cáo đánh giá các chương trình dự

án ODA của Bộ Tài chính giai đoạn 2000 – 2007; Nguyễn Hữu Dũng (2008), Thu hút và sử dụng ODA của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam;…

Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra một số kiến thức nền tảng phong phú về ODA nói chung và ODA của một số nước nói riêng Tuy nhiên các bài viết tập trung nghiên cứu về ODA của Australia cho Việt Nam chưa nhiều và chưa hệ thống hóa được toàn bộ các hoạt động thu hút và sử dụng vốn ODA của Australia đối với sự phát triển KT-XH của Việt Nam trong giai đoạn dài từ 1993 - 2010 Vì vậy, có thể khẳng định đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, tương đối đầy đủ và cập nhật về thực trạng giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia đối với sự phát triển KT-XH Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích nói trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 14

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn đi sâu nghiên cứu về nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam trong một số lĩnh vực viện trợ nổi bật như: phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp và phát triển nông thôn, cung cấp nước sạch và hệ thống vệ sinh, quản lý nhà nước và tăng cường năng lực thể chế, môi trường và chống biến đổi khí hậu với các đặc thù trong hoạt động ODA của Australia dành cho Việt Nam

- Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu vào các lĩnh vực trên trong giai đoạn 1993 - 2010

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp: duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử, phương pháp so sánh, thống kê, phân tích tổng hợp… để giải quyết các nội dung nghiên cứu Các phương pháp đó được kết hợp chặt chẽ với nhau

Trang 15

từ mạng Internet…

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn vốn ODA nói chung và nguồn vốn ODA của Australia nói riêng

- Làm rõ những đặc điểm và vai trò của nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam thời gian qua

- Đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam giai đoạn 1993 - 2010, và chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia tại Việt Nam trong thời gian tới

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam giai đoạn 1993 - 2010

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và

sử dụng nguồn vốn ODA của Australia ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 16

7

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) CỦA AUSTRALIA CHO VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về ODA

1.1.1 Nguồn gốc lịch sử của ODA

Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc cũng là thời điểm mở đầu cho một

cuộc chiến mới kéo dài gần nửa thế kỷ, đó là chiến tranh lạnh giữa phe Xã

hội chủ nghĩa (XHCN) và Tư bản chủ nghĩa, mà đứng đầu là Liên Xô và Hoa

Kỳ Hai cường quốc này thực thi nhiều biện pháp, đặc biệt là về kinh tế để củng cố hệ thống đồng minh của mình

Đối với Hoa Kỳ, nền kinh tế không những không bị tàn phá mà ngày càng giàu có nhờ chiến tranh Năm 1945, GNP của Hoa Kỳ là 213,5 tỷ USD, bằng 40% tổng sản phẩm toàn thế giới Nhưng ở thái cực khác, các nước đồng minh của Hoa Kỳ lại chịu tác động nặng nề của cuộc chiến tranh, và chính sự yếu kém về kinh tế của các nước này khiến Hoa Kỳ lo ngại trước sự mở rộng của phe XHCN Để ngăn chặn sự phát triển đó giải pháp quan trọng lúc bấy giờ là giúp các nước tư bản sớm hồi phục kinh tế Năm 1947, Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall, viện trợ ồ ạt cho các nước Tây Âu Từ năm 1947 đến

1951 Hoa Kỳ viện trợ cho các nước Tây Âu tổng cộng 12 tỷ USD (tương đương 2,2% GDP của thế giới và 5,6% GDP của Hoa Kỳ lúc bấy giờ) Về phía mình, Liên Xô cũng sử dụng biện pháp trợ giúp kinh tế để củng cố và gia

tăng số lượng các nước gia nhập phe XHCN Với tinh thần “quốc tế vô sản”

Liên Xô đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước ở châu Âu, châu Á, đến châu Phi và Mỹ La-tinh Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, tổng số

Trang 17

Uỷ ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ ODA được chính thức sử dụng,

với ý nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài chính của các nước giàu, các

tổ chức quốc tế cho các nước nghèo.1Từ sự thỏa thuận của các nước phát triển sau Chiến tranh Thế giới thứ II về viện trợ cho các nước đang phát triển, sự

hỗ trợ của các nước phát triển cho phát triển kinh tế ở các nước nghèo không còn mang tính tự giác nữa mà đã mang tính chất bắt buộc Năm 1970, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề nghị các nước tài trợ dành khoản 0,7% GNP của nước mình để tạo nguồn viện trợ cho các nước nghèo

1.1.2 Khái niệm về ODA

Hỗ trợ phát triển chính thức hay viện trợ phát triển chính thức được gọi tắt là ODA bắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh - Oficial Development Assistance Mặc dù ODA được sử dụng phổ biến và mang tính toàn cầu, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về Hỗ trợ phát triển chính thức Mỗi chính

1 Nguồn: Nguyễn Hữu Hiểu (2009), Tìm hiểu nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA, lấy từ

trang web http://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/09/090408.html

Trang 18

9

phủ, mỗi tổ chức có thể đưa ra khái niệm về ODA theo cách riêng của mình Tuy nhiên có một số định nghĩa về ODA tương đối giống nhau và sát thực tiễn nhất, ví dụ như:

Ủy ban Viện trợ Phát triển (DAC) của OECD đã đưa ra khái niệm

ODA như sau: "ODA là nguồn vốn dành cho các nước đang phát triển và các

tổ chức đa phương, được các cơ quan chính thức của các chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ Khoản vay này phải thỏa mãn các điều kiện sau: (i) Mục đích chính là thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển ; (ii) Vốn không hoàn lại chiếm ít nhất 25%."

Ủy ban Viện trợ Phát triển đưa ra khái niệm về ODA dưới góc độ của nhà tài trợ cho các nước đang và kém phát triển nhằm giúp các nước này phát triển kinh tế - xã hội thông qua các Hiệp định quốc tế Tuy nhiên, khái niệm này của Ủy ban viện trợ phát triển quá chú trọng đến nguồn tài trợ song phương, phù hợp với thực tế là Ủy ban này là cơ quan chủ trì về viện trợ song phương của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

(OECD).Còn Ngân hàng Thế giới (WB) lại định nghĩa: "Hỗ trợ phát triển

chính thức ODA là một bộ phận của Quỹ Hỗ trợ Phát triển trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại phải chiếm ít nhất 25% trong tổng số viện trợ."

Ngân hàng Thế giới đưa ra khái niệm về ODA bao gồm cả viện trợ song phương và đa phương, tuy nhiên khái niệm này nhấn mạnh đến khía cạnh tài chính của ODA (ODA là tập hợp con của Quỹ Hỗ trợ Phát triển Chính thức) mà không đề cập đến mục tiêu của ODA).Theo quy chế Quản lý

và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định

Trang 19

10

số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam, ODA được

định nghĩa như sau: "Hỗ trợ phát triển chính thức gọi tắt là ODA được hiểu là

hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ."

Hình thức cung cấp ODA bao gồm:

- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả

lại cho nhà tài trợ;

- ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu

tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các

khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc;

- ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các

khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương

mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với

các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc

Mặc dù thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về ODA nhưng nói

chung những quan điểm ấy đều có chung bản chất: Hỗ trợ phát triển chính

thức (ODA) là hoạt động viện trợ đầu tư bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (United Nations -UN), các tổ chức tài chính quốc tế cho chính phủ một nước khác giúp chính phủ nước đó giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế xã hội

1.1.3 Các hình thức ODA

Trang 20

11

Dựa vào các phương pháp phân loại khác nhau mà ta có các hình thức ODA khác nhau, sau đây là một số phương pháp phân loại phổ biến:

1.1.3.1 Phân loại theo phương thức hoàn trả: ODA gồm ba loại:

- Viện trợ không hoàn lại: Là dạng viện trợ mà bên nhận không phải

hoàn trả dưới bất kỳ hình thức nào, loại viện trợ này thường chiếm 25% tổng

số vốn ODA Tỷ lệ viện trợ phụ thuộc vào hoàn cảnh của nước nhận viện trợ

và thường được thực hiện dưới các dạng cơ bản như: hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ bằng hiện vật

- Viện trợ có hoàn lại: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền

(tùy theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả

nợ thích hợp Khoản vay này được cân đối sao cho “yếu tố không hoàn lại” ít

nhất đạt 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc và phải được hoàn trả lãi và gốc theo hiệp định ký kết giữa nước viện trợ và nước nhận viện trợ

- ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA bằng tiền mặt hoặc hiện vật

kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần ODA vay ưu đãi theo các điều kiện của nhà tài trợ

1.1.3.2 Phân loại theo nguồn cung cấp: ODA bao gồm hai loại:

- ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này tới

nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ Ưu điểm của ODA song phương là thủ tục cung cấp và tiếp nhận đơn giản và nhanh chóng hơn so với ODA đa phương Tuy nhiên, các nước cung cấp yêu cầu nội dung của các khoản viện trợ phải rất chi tiết và cụ thể, kèm theo các ràng buộc về kinh tế và chính trị

Trang 21

12

- ODA đa phương: là viện trợ của các nước giàu thông qua các tổ chức

quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các tổ chức khu vực như Liên minh Châu Âu (EU), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hay các tổ chức đa phương như UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc)… ODA đa phương thường chỉ chiếm 20% tổng số ODA trên thế giới và hình thành từ sự đóng góp của các thành viên

1.1.3.3 Phân loại theo mục đích sử dụng: ODA gồm bốn loại:

- Hỗ trợ cán cân thanh toán: Gồm các khoản ODA để hỗ trợ ngân sách

của chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng:

+ Chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận

+ Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hóa): Chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán trên thị trường nội địa và thu về nội tệ Ngoại tệ hoặc hàng hóa chuyển vào trong nước theo hình thức này có thể được chuyển hóa thành hỗ trợ ngân sách

- Tín dụng thương mại: Tương tự như viện trợ hàng hóa nhưng có kèm

theo điều kiện ràng buộc

- Viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án): Nước viện trợ và nước

nhận viện trợ ký kết hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định tính chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào

- Viện trợ dự án: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện

ODA Trong đó, nước nhận viện trợ phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA

1.1.3.4 Phân loại theo điều kiện: ODA gồm 3 loại:

Trang 22

13

- ODA không ràng buộc: Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng

buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng

- ODA có ràng buộc:

+ Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương)

+ Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được cung cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho những lĩnh vực nhất định hay những dự án cụ thể

- ODA ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần

ODA chi ở nước viện trợ (như mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của nước cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu

1.1.4 Một số đặc điểm của ODA

Như đã nêu trong khái niệm ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi Do vậy, ODA có những đặc điểm chủ yếu sau:

1.1.4.1 Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA

Tính ưu đãi của vốn ODA được thể hiện như sau:

- Vốn ODA có thời gian cho vay dài, có thời gian ân hạn dài Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC (Japan Bank for International Cooperation – Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản) có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm

Trang 23

14

- Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian

ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại Sự

ưu đãi ở đây là so sánh với tập quán thương mại quốc tế

- Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, và vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:

+ Thứ nhất, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người

thấp Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn

+ Thứ hai, mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù

hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết

Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Hay có thể coi đó là tiền thuế của nhân dân hai phía (nước cung cấp ODA và nước tiếp nhận ODA), một khi nhà tài trợ phát hiện nguồn vốn ODA được sử dụng sai mục đích là họ

Trang 24

15

ngừng cấp ngay Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA

1.1.4.2 Tính ràng buộc của nguồn vốn ODA

ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về đặc điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật (vay và trả bằng Yên Nhật) Tính ràng buộc này được thể hiện cụ thể như sau:

- ODA gắn liền với yếu tố chính trị: ODA được sử dụng như một công

cụ chính trị xác định vị trí ảnh hưởng của mình tại nước hoặc khu vực tiếp nhận ODA Một số nước, tiêu biểu là Mỹ đã dùng ODA làm công cụ thực

hiện ý đồ “Gây ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn” Các nước này một

mặt dùng viện trợ để bày tỏ sự gần gũi tiến đến thân thiết về mặt chính trị, mặt khác tiếp cận với các quan chức cao cấp của các nước đang phát triển mở

đường cho hoạt động ngoại giao trong tương lai Qua đó, họ “lái” các nước

này chấp nhận một lập trường nào đó trong ngoại giao, đồng thời can thiệp vào sự phát triển chính trị của nước đang phát triển Viện trợ kinh tế cũng là thủ đoạn chính trong việc tiến hành thâm nhập văn hoá, tư tưởng đối với nước nhận viện trợ

- ODA gắn với điều kiện kinh tế: Bên cạnh yếu tố chính trị, các nhà tài

trợ còn sử dụng ODA để mưu cầu kinh tế Bỉ và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa dịch vụ của mình, Canada yêu cầu cao nhất tới 65%; còn Thụy Sỹ là 1,7% và Hà Lan là 2,2% Nhìn chung 22% viện trợ

Trang 25

16

của DAC phải được sử dụng để mua hàng hoá của các quốc gia viện trợ Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư

Như vậy viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là sự trợ giúp vô tư, mà còn là một công cụ lợi hại để kiếm lời cả về kinh tế và tài chính cho nước tài trợ Những nước cấp viện trợ gò ép các nước nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên viện trợ Khi nhận viện trợ các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện của các nhà tài trợ, không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài Quan hệ

hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hoà bình

1.1.4.3 ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ

Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ nguồn vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu để thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA cần phải phối hợp với các nguồn vốn khác để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu

1.1.5 Các nguồn cung cấp ODA trên thế giới

ODA trên thế giới được cung cấp chủ yếu theo hai dạng song phương

và đa phương

Trang 26

17

1.1.5.1 Các đối tác cung cấp ODA song phương

Các đối tác cung cấp ODA song phương chủ yếu bao gồm các nước công nghiệp phát triển như: Áo, Australia, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ai- len, Italia, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, , Anh, Mỹ, Đây là những nước có tiềm lực kinh tế lớn đồng thời cũng là những nước cung cấp ODA chủ yếu trên thế giới

Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) như: Cô-oét, Ả Rập Xê Út, các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất,… cũng là những nhà tài trợ ODA song phương trên thế giới

Ngoài ra, trước năm 1991, ODA song phương còn được cung cấp bởi Liên Xô (là nước cung cấp ODA chủ yếu trong khối Đông Âu) và một số nước Đông Âu khác như Bungari, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức,…

1.1.5.2 Các đối tác cung cấp ODA đa phương

Bên cạnh việc cung cấp ODA song phương, ODA còn được chuyển giao thông qua các tổ chức viện trợ đa phương bao gồm:

- Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Bao gồm Ủy ban châu Âu

(European Commission - EC) và các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc như: Cao

uỷ Liên Hiệp Quốc về Người tỵ nạn (The United Nations High Commissioner

for Refugees - UNHCR), Quỹ Dân số của Liên Hiệp Quốc (The United

Nations Fund for Population Activities - UNFPA), Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (The United Nations Industrial Development Organization - UNIDO), Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (The United Nations Development Programme - UNDP), Chương trình phối hợp của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (The Joint United Nations

Trang 27

18

Programme on HIV/AIDS - UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên Hiệp Quốc (The United Nations Office on Drugs and Crime - UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên Hiệp Quốc (The United Nations Capital Development Fund - UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (Global Environment Facility - GEF), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (The United Nations International Children's Emergency Fund - UNICEF), Quỹ Quốc tế

và Phát triển Nông nghiệp (International Fund for Agricultural Development - IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (The United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization - UNESCO), Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization (United Nations) - ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (Food and Agriculture Organization (United Nations) - FAO), Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO)

- Các định chế tài chính và các quỹ gồm: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF);

Tập đoàn Ngân hàng Thế giới (WB) gồm 5 tổ chức: Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (International Bank for Reconstruction and Development – IBRD), Công ty Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation – IFC), Cơ quan Bảo hiểm Đầu tư Đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency – MIGA) và Trung tâm Quốc tế Giải quyết Tranh chấp về Đầu tư (International Center for Solving Investment Dispute – ICSID); Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank - ADB); Ngân hàng phát triển châu Phi (African Development Bank - AFDB); Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (North European Investment Bank - NIB); Quỹ Phát triển Bắc Âu (North European Development Fund - NDF); Quỹ Phát triển Quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OPEC Fund for International Development - OFID - trước đây là Quỹ OPEC); Quỹ Kuwait; Hiệp hội Phát triển Quốc tế (International Development Association - IDA)

Trang 28

19

- Các tổ chức phi chính phủ (NGOs): là các tổ chức không thuộc chính

phủ hay nhà nước thành viên, được thành lập với mục đích đẩy mạnh các mục tiêu chính trị và/hay xã hội như bảo vệ môi trường thiên nhiên (ví dụ Greenpeace), khuyến khích việc tôn trọng các quyền con người (ví dụ Amnesty International, Human Rights Watch), cải thiện mức phúc lợi cho những người bị thiệt thòi (ví dụ như Oxfam, Tổ chức chữ thập đỏ và lưỡi liềm

đỏ quốc tế, World Vision,… ), hoặc đại diện cho một nghị trình đoàn thể (ví

dụ như Vietnam les enfants de la dioxine - VNED)

1.1.6 Xu hướng và triển vọng của nguồn vốn ODA

Bên cạnh những đặc điểm chung đã nêu trong phần một số đặc điểm của nguồn vốn ODA thì ODA còn có những xu hướng như sau:

Thứ nhất, tỉ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương có xu thế giảm đi Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và

xu thế hội nhập đã tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế, chính trị giữa các quốc gia ngày càng được đẩy mạnh và tăng cường Hoạt động của một số tổ chức đa phương tỏ ra kém hiệu quả làm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức này Điều đó là nguyên nhân chính tạo nên sự chuyển dịch, tỉ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương có xu hướng giảm đi

Thứ hai, sự cạnh tranh ngày càng tăng trong quá trình thu hút ODA

Trên thế giới, một số nước mới giành được độc lập hoặc mới tách ra từ các nhà nước liên bang tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA Số nước có nhu cầu tiếp nhận ODA là rất lớn vì vậy sự cạnh tranh giữa các nước ngày càng trở nên gay gắt Các vấn đề mà các nước cung cấp ODA quan tâm đến tạo nên sự cạnh tranh giữa các nước tiếp nhận là năng lực kinh tế của quốc gia

Trang 29

20

tiếp nhận, các triển vọng phát triển, ngoài ra còn chịu nhiều tác động của các

yếu tố khác như: nhãn quan chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi, dựa

trên sự quan tâm nhân đạo và hiểu biết về sự cần thiết đóng góp vào ổn định kinh tế - xã hội quốc tế Cùng mối quan hệ truyền thống với các nước thế giới

thứ ba của các nước phát triển, hay tầm quan trọng của các nước đang phát triển với tư cách là bạn hàng (thị trường, nơi cung cấp nguyên liệu, lao động) Mặt khác, chính sách đối ngoại, an ninh và lợi ích chiến lược, trách nhiệm toàn cầu hay cá biệt cũng là nhân tố tạo nên xu hướng phân bổ ODA trên thế giới theo vùng Ngoài ra còn có thêm lý do đó là sự chuẩn bị đáp ứng nhu cầu riêng biệt về thủ tục, quy chế, chiến lược, viện trợ khác nhau của các nhà tài trợ trên thế giới cũng tạo nên sự chênh lệch trong quá trình thu hút và

sử dụng ODA giữa các quốc gia hấp thụ nguồn vốn này Chính sự cạnh tranh gay gắt đã tạo nên sự tăng giảm trong tiếp nhận viện trợ của các nước đang phát triển

Thứ ba, sự phân phối ODA theo khu vực nghèo của thế giới không đồng đều Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt như vậy có thể có rất nhiều lý

giải khác nhau, có thể là do những mong muốn của các quốc gia đi viện trợ như mở rộng quan hệ hợp tác về chính trị hay kinh tế, mục đích xã hội, điều

đó phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn chủ quan của nhà tài trợ Lúc đầu họ chỉ quan tâm đến việc thiết lập các mối quan hệ với các nước láng giềng của mình, nhưng sau họ lại nhận thấy rằng cần thiết lập các quan hệ với các nước khác trên thế giới để tìm kiếm thị trường trao đổi buôn bán hay đầu tư mà việc đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao bằng cách viện trợ ODA Mặt khác chính những yếu tố trong nội bộ của quốc gia cũng tạo nên những khác biệt lớn trong quá trình nhận viện trợ như các mối quan hệ với các nước phát triển, hay những thành tích trong phát triển đất nước hay cũng có thể là do nhu cầu hết sức cần thiết như chiến tranh, thiên tai

Trang 30

21

Thứ tư, triển vọng gia tăng nguồn vốn ODA ít lạc quan Mặc dù Đại

hội đồng Liên Hiệp Quốc đã khuyến nghị dành 1% GNP của các nước phát triển để cung cấp ODA cho các nước nghèo Nhưng nước có khối lượng ODA lớn như Nhật Bản, Mỹ thì tỷ lệ này mới chỉ đạt ở mức trên dưới 0,3% trong nhiều năm qua Tuy có một số nước như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch đã có tỷ lệ ODA chiếm hơn 1% GNP, song khối lượng ODA tuyệt đối của các nước này không lớn Thêm vào đó tình hình kinh tế phục hồi chậm chạp ở các nước đang phát triển cũng là một trở ngại gia tăng ODA Ngoài ra, hàng năm các nước cung cấp ODA dựa vào kết quả hoạt động của nền kinh tế của mình để xem xét khối lượng ODA có thể cung cấp được Nhưng hiện nay các nước phát triển đang có những dấu hiệu đáng lo ngại trong nền kinh tế của mình như khủng hoảng kinh tế hay hàng loạt các vấn đề xã hội trong nước, chịu sức ép của dư luận đòi giảm viện trợ để tập trung giải quyết các vấn đề trong nước

Ngoài ra, do sự phục hồi kinh tế chậm ở các nước phát triển, nguồn vốn chuyển dịch vào các nước đang phát triển có thể sẽ giảm sút trong các năm tới ODA là một khoản vốn mà các nước phát triển hỗ trợ cho các nước đang phát triển và đã được thực hiện từ rất lâu, qua các giai đoạn nhất định, có những xu thế vận động riêng, nhìn chung lại, xu hướng vận động hiện nay hàm chứa cả các yếu tố thuận lợi lẫn khó khăn cho một số nước đang phát triển như nước ta đang tìm kiếm nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, tuy nhiên các yếu tố thuận lợi là cơ bản Xét trên phạm vi quốc tế, ODA có thể huy động được lại tuỳ thuộc vào chính sách đối ngoại khôn khéo và khả năng hấp thụ vốn nước ngoài của chính nền kinh tế nước đó Qua đó ta có thể thấy rõ được những đặc điểm riêng biệt của ODA so với các nguồn vốn khác

1.2 ODA của Australia cho Việt Nam

Trang 31

22

1.2.1 Thể chế chính trị và kinh tế của Australia

Là một quốc gia nằm ở phía Tây Nam Bán cầu, Australia là quốc gia duy nhất chiếm trọn một lục địa và có diện tích đất liền lớn thứ 6 trên thế giới với hơn 7,6 triệu km2

Với số dân hơn 22 triệu người (thống kê tính đến tháng 02/2010)2, Australia là một xã hội đa văn hóa gồm những người bản xứ và các cư dân di

cư đến từ hơn 160 nước trên thế giới

Và giống như các nước khác thuộc khối liên hiệp Anh, về chính trị, Australia theo thể chế Quân chủ, người đứng đầu với quyền lực cao nhất là

Nữ hoàng Tuy nhiên, do đặc thù lịch sử phát triển là một xã hội đa văn hoá, thực chất Australia là một nước Cộng hoà Liên Bang Người đứng đầu là Toàn quyền Australia do Nữ hoàng bổ nhiệm Cơ cấu bộ máy chính trị của quốc gia với người lãnh đạo là Thủ tướng Quốc hội được chia làm 2 nhánh:

Tư pháp và Toà án tối cao

Về kinh tế, trong thương mại quốc tế, Australia tập trung vào các dịch

vụ và các sản phẩm chế tạo có giá trị cao Chính sách kinh tế đối ngoại của Australia tập trung chính vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương Australia

rất chú trọng hoạt động Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của mình với

ngân sách dành cho các chương trình viện trợ chiếm khoảng 1% ngân sách chi tiêu của chính phủ Trong năm tài khóa 2011 – 2012, Australia đã hỗ trợ toàn thế giới 4,8 tỷ USD vốn ODA (khoảng 0,35% tổng thu nhập quốc dân (GNI)),

và cùng xu hướng với các nhà tài trợ khác, chính phủ Australia sẽ tiếp tục

2 Nguồn: http://www.abs.gov.au/

Trang 32

23

tăng nguồn vốn này Dự kiến vào năm tài khóa 2015 – 2016, viện trợ chính thức của Australia sẽ đạt khoảng 0,5% tổng thu nhập quốc dân (GNI)3

1.2.2 Vị thế của Australia trong Thương mại Quốc tế

Australia là một trong số những nước có nền kinh tế phát triển cao Tổng GDP của Australia trong năm 2011 đạt 1.371,76 tỷ USD (khoảng 2,21% GDP thế giới)4 Cùng với việc khẳng định vị thế kinh tế của mình trên trường quốc tế bằng chính các thành tựu kinh tế đạt được, Australia vẫn không ngừng chú trọng phát triển các chiến lược kinh tế đối ngoại, các chương trình viện trợ nhằm nâng cao vị trí và ảnh hưởng của mình đối với các nước khác Chương trình viện trợ của Australia với việc hỗ trợ các nước đang phát triển giảm đói nghèo đã đạt được những mức phát triển bền vững

Trọng tâm của chương trình tại vùng châu Á - Thái Bình Dương thể hiện sự tham gia mạnh mẽ của Australia với khu vực và cam kết làm việc trong mối quan hệ đối tác để đáp ứng những thách thức phát triển quan trọng trong khu vực này Bên cạnh là một trong những nhà tài trợ hàng đầu cho khu vực Thái Bình Dương, Australia cũng đáp ứng hào phóng những yêu cầu về khắc phục khủng hoảng và cứu trợ nhân đạo và đóng góp có lựa chọn cho những nhu cầu phát triển ở Nam Á, châu Phi và Trung Đông Trên bình diện kinh tế, Australia đã và đang trở thành một đối tác kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới

1.2.3 Vị thế của Australia đối với Việt Nam

3 Nguồn: http://www.budget4change.org/countryprofile/australia/ và AusAid (2011), Budget

Strategy and Outlook 2011-2012 ( lấy từ trang web http://www.ausaid.org.au )

4 Nguồn: http://www.tradingeconomics.com/australia/gdp

Trang 33

24

Australia và Việt Nam tuy là hai đất nước thuộc hai châu lục với hai hệ thống chính trị khác nhau nhưng lại có mối quan hệ thân thiết, gắn bó Tình hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Australia không ngừng được củng cố và phát triển qua chặng đường gần 39 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (26/12/1973) Đặc biệt 20 năm gần đây đã chứng kiến sự khởi sắc trong quan hệ hai nước với những chuyến viếng thăm của lãnh đạo cấp cao hai

nước, cụ thể là phía Việt Nam thăm Australia có Thủ tướng Võ Văn Kiệt (05/1993); Tổng Bí thư Đỗ Mười (07-08/1995); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức

Mạnh (03/1998); Thủ tướng Phan Văn Khải (03-04/1999, 05/2005); Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (10/2006); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (02/1995, 02/1997, 09/2000), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm dự Hội nghị APEC (10/2007), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (23-27/02/2008), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (09-15/03/2008), Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (03-12/05/2008), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (13-

14/10/2008), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (06-09/09/2009)…và nhiều đoàn

khác cấp Bộ/Thứ trưởng các ngành, các đoàn thuộc Quốc hội; còn về phía

Australia thăm Việt Nam có Thủ tướng Paul Keating (04/1994); Toàn quyền

Bill Hayden (04/1995); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Thương mại Tom Fisher (08/1996); Bộ trưởng Ngoại giao Alexander Downer đã thăm 6 lần

(07/1996, 07/1997, 04/1998, 05/2000, 07/2001, 07/2003); Thủ tướng John

Howard trong dịp dự Hội nghị Cấp cao APEC và kết hợp thăm Việt Nam

(11/2006); Bộ trưởng Ngoại giao Stephen Smith (01-02/07/2008); Chủ tịch

Hạ viện Herri Jenkins (05-09/01/2009) và Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Chris Evans (12-14/01/2009); Thủ tướng Julia Gillard thăm không chính thức nhân Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ V (10/2010); Bộ trưởng Ngoại giao Kevin Rudd (04/2011); Toàn quyền Quentin Bryce (05/2011) thăm chính thức

Trang 34

25

để tăng cường hợp tác cả song phương và trên các diễn đàn khu vực5 Hai

nước đã ký kết Chương trình Hành động Việt Nam - Australia giai đoạn

2010-2013 (10/2010), tạo khuôn khổ pháp lý cho hợp tác nhiều mặt thời gian

trước mắt và tích cực duy trì các cơ chế hợp tác song phương như Đối thoại

Chiến lược, Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế Thương mại JTEC, Tư vấn Lãnh sự, Đối thoại về các tổ chức quốc tế và các vấn đề pháp lý Trong các

chuyến thăm này, nhiều hiệp định về kinh tế, thương mại được ký kết; đầu

tư của Australia vào Việt Nam và kim ngạch thương mại song phương không ngừng gia tăng Hai nước đã ủng hộ và chia sẻ quan điểm trên một số diễn đàn quốc tế như Australia ủng hộ Việt Nam gia nhập ASEAN, giúp Việt Nam trong quá trình tham gia APEC, ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO hay Việt Nam ủng hộ Australia gia nhập ASEM

Về thương mại, Việt Nam là bạn hàng thứ 15 của Australia, Australia là bạn hàng thứ 13 của Việt Nam Kim ngạch thương mại giữa hai nước luôn tăng đều và khá cao, từ mức 32,3 triệu USD năm 1990 lên 5,585 tỷ USD năm

2008 (Việt Nam xuất 4,225 tỷ USD, nhập khẩu là 1,360 tỷ USD) Tuy nhiên,

do tác động của khủng hoảng tài chính, kim ngạch thương mại song phương năm 2009 chỉ đạt 3,327 tỷ USD (trong đó Việt Nam xuất 2,277 tỷ USD, nhập 1,050 tỷ USD); tính đến hết năm 2010 kim ngạch thương mại song phương đạt 3,776 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2009 (trong đó Việt Nam xuất 2,5 tỷ USD, nhập khẩu 1,16 tỷ USD)6 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Australia là những mặt hàng có chứa hàm lượng nguyên liệu và lao động cao: dầu thô, hải sản, giày dép, quần áo, quả và hạt tươi hoặc khô, nhựa Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam: sữa và các sản phẩm từ sữa,

5 Nguồn: http://www.vietnam.embassy.gov.au/hnoivietnamese/relations.html và

6 Nguồn: http://www.vnconsul-sydney.gov.vn/

Trang 35

26

ngũ cốc và các sản phẩm kể cả lúa mỳ, nhôm, thiết bị và máy điện tử, dầu

thực vật, các loại thuốc, động cơ mô tô, máy phát điện…

Về đầu tư, tính đến tháng 08/2011, Australia có 243 dự án tại nước ta với tổng vốn đầu tư 1,23 tỷ USD, đứng thứ 20/92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam7 Đầu tư của Australia tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghiệp nặng, công nghiệp thực phẩm, giáo

dục, tài chính, y tế…

Chính phủ Australia luôn coi trọng quan hệ và mong muốn thúc đẩy hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, thể hiện rõ và sinh động qua viện trợ phát triển chính thức dành cho Việt Nam Các dự án sử dụng nguồn vốn ODA được triển khai rất có hiệu quả; giải ngân vốn luôn đạt 100% Australia dành cho Việt Nam 119,8 triệu AUD trong năm tài khoá 2010-2011 và 137,9 triệu AUD năm tài khoá 2011-2012 Nhân dịp Thủ tướng Australia sang Việt Nam

dự Hội nghị Cấp cao Đông Á tháng 10/2010, hai bên đã ký Thoả thuận nguyên tắc về dự án kết nối khu vực trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, trong đó Australia viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 160 triệu AUD để

thực hiện Dự án Kết nối khu vực trung tâm đồng bằng sông Mê Kông bao

gồm xây dựng cầu Cao Lãnh, Vàm Cống và các tuyến nối Một số dự án lớn

do Australia viện trợ: Dự án xây cầu Mỹ Thuận (68 triệu AUD); Dự án cấp

nước cho 5 thị xã Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Vĩnh Long, Long An (25

triệu AUD) và các dự án cấp nước sạch, chăm sóc sức khoẻ, kiểm soát nguồn nước và môi trường

Về lĩnh vực hợp tác thì phát triển nông nghiệp, nông thôn và quản lý nhà nước, giáo dục và đào tạo vẫn là những lĩnh vực trọng tâm trong chương

7 Nguồn: http://www.vnconsul-sydney.gov.vn/

Trang 36

27

trình hợp tác phát triển Việt Nam - Australia Hợp tác trong lĩnh vực y tế được

thực hiện thông qua việc triển khai dự án Phòng chống HIV/AIDS khu vực

châu Á Đồng thời, Giai đoạn 2 dự án Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Australia (VAMESP II) được thực hiện có ý

nghĩa quan trọng trong tiến trình hài hoà thủ tục giữa Chính phủ Việt Nam với các nhà tài trợ Về giáo dục, Australia cam kết tài trợ cho Việt Nam khoảng

398 học bổng ngắn và dài hạn/năm, trong đó có 225 suất học bổng sau đại học

từ năm 2009 (tăng 50 suất so với năm 2008) và 30 học bổng tại Học viện

Hoàng gia Melbourne RMIT, cơ sở đào tạo cấp đại học nước ngoài đầu tiên

tại Việt Nam Hiện có 25.000 sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam đang học tập tại Australia (nước có số lượng lưu học sinh lớn nhất) Ngoài ra, có khoảng 15.000 người đang học ở các cơ sở của Australia tại Việt Nam, trong

đó có 6.000 sinh viên Đại học RMIT Nhiều trường Đại học của Việt Nam có những chương trình liên kết đào tạo ở bậc đại học và sau đại học với các

trường của Australia Hai nước đã ký Thoả thuận Hợp tác Giáo dục tháng 02 năm 2008)

Quan hệ hợp tác giữa hai nước đang được mở rộng sang cả an ninh,

quốc phòng Hai bên đã tiến hành hàng năm Đối thoại chính thức về an ninh

khu vực; Trao đổi tùy viên quân sự và hợp tác chống tội phạm, ma túy Hợp

tác hai nước trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thanh niên, du lịch, thể thao cũng ngày càng được mở rộng, góp phần tăng cường hiểu biết và hữu nghị giữa nhân dân hai nước8

Bước vào thế kỷ 21, hai nước Việt Nam và Australia có một hành trang đáng kể để tăng cường hơn nữa tình hữu nghị và hợp tác nhiều mặt Đó là sự chân thành, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, là ý nguyện cùng xây dựng hòa

8 Nguồn: http://www.vnconsul-sydney.gov.vn/vi/

Trang 37

28

bình, hợp tác vì thịnh vượng và phát triển của mỗi nước cũng như của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và toàn thế giới

1.2.4 Đặc điểm nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam

Mục tiêu chung của Chương trình hỗ trợ phát triển Việt Nam trong

khuôn khổ ODA của Australia vào Việt Nam là xoá đói giảm nghèo, phát

triển kinh tế và xã hội bền vững Các chương trình viện trợ của Chính phủ

Australia do AusAID thực hiện dựa trên quan hệ đối tác và hợp tác chặt chẽ giữa các chính phủ Việt Nam và Australia để quyết định và thực hiện các

chương trình này Đặc điểm nổi bật của chương trình ODA của Australia với

Việt Nam là các khoản viện trợ thường là những khoản viện trợ không hoàn lại Các khoản viện trợ này được thực hiện thông qua các chương trình viện

trợ nhằm đạt được mục tiêu lớn nhất nói trên

Phần lớn các dự án do Australia tài trợ cho Việt Nam đều có các chuyên gia hay tình nguyện viên của Australia sang Việt Nam trực tiếp hướng dẫn thực hiện Ví dụ, hơn ba trăm công nhân, kỹ sư, chuyên gia của Australia

sang Việt Nam trong dự án xây dựng cầu Mỹ Thuận; sáu tình nguyện viên

trong “Chương trình các nhà đại sứ trẻ” Điều này chứng tỏ Australia có quan

tâm thực sự tới hiệu quả trực tiếp của các chương trình chứ không chỉ bỏ một khoản tiền tài trợ để phía nhận viện trợ tùy ý sử dụng

Ngoài ra, với quan điểm của AusAID là cần phải có sự tham gia đóng

góp vốn của cả hai phía thì các dự án mới có thể mang tính khả thi và đạt được hiệu quả cao, lâu dài nên có thể nói các dự án được Australia viện trợ

đều có sự tham gia đóng góp vốn từ cả hai phía Australia và Việt Nam

Trang 38

29

Một đặc điểm cơ bản nữa là tất cả các dự án do Australia tài trợ phải

phù hợp với các chính sách của AusAID về giới tính, phát triển, dân số và môi trường

Chính vì vậy mà một số lĩnh vực ưu tiên được Australia viện trợ cho Việt Nam gồm:

- Xóa đói giảm nghèo, ưu tiên các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa

và vùng dân tộc thiểu số;

- Y tế, dân số và phát triển;

- Phát triển cơ sở hạ tầng;

- Ngăn ngừa thiên tai và biến đổi khí hậu;

- Giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực;

- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm cả lĩnh vực cấp nước

và vệ sinh môi trường;

- Quản lý nhà nước;

- Bình đẳng giới

Ngoài ra, chương trình viện trợ phát triển của Australia còn hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị ứng phó với những thách thức trên vị thế của nước có thu nhập trung bình thấp, chống nạn tham nhũng và thúc đẩy bình đẳng giới

Các chương trình viện trợ này được thực hiện thông qua các hình thức như sau:

Trang 39

30

- Viện trợ song phương: Australia làm việc chặt chẽ với chính phủ Việt

Nam dựa trên sự đảm bảo rằng mỗi chương trình đều phản ánh được mục tiêu phát triển của nước nhận viện trợ Các chương trình đó có thể kết hợp từ hàng loạt các dự án trên từng cộng đồng nhỏ để phát triển trên khu vực lớn hơn Các lĩnh vực Việt Nam thường nhận được viện trợ song phương là:

+ Các dự án cụ thể như xóa bỏ bệnh tật, cải thiện nguồn cung cấp nước hoặc trồng rừng;

+ Chương trình giáo dục và đào tạo;

+ Trợ giúp về công nghệ, cung cấp các thiết bị và kiến thức chuyên môn cho nông nghiệp, công nghiệp và các hoạt động khác;

+ Viện trợ lương thực;

+ Cứu trợ nhân đạo khẩn cấp;

+ Các dự án cộng đồng như dự án liên quan tới xây dựng giếng nước, trường học và chăm sóc sức khỏe cộng đồng

- Viện trợ đa phương: Australia hỗ trợ các tổ chức đa phương như các

tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc (UN), Ngân hàng Thế giới (WB),… nhằm tăng cường hiệu quả trong xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững để hỗ trợ và tăng cường hiệu quả của viện trợ song phương Khoản viện trợ này của Australia dành cho các chương trình, dự án quy mô lớn về các vấn đề xuyên quốc gia như sự nóng lên toàn cầu, kiểm soát dịch bệnh, phát triển cơ sở hạ tầng,…

- Hợp tác với các tổ chức phi chính phủ: Australia tài trợ cho các tổ

chức phi chính phủ để cung cấp các chương trình viện trợ ở mức độ cộng đồng, như các khoản tài trợ, viện trợ lương thực, thuốc men và nơi trú ẩn cho người tị nạn do ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt,…

Trang 40

31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA AUSTRALIA CHO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993 – 2010

2.1 Tổng quan về nguồn vốn ODA của Australia cho Việt Nam

2.1.1 Tổng quan về tình hình thu hút nguồn vốn ODA của Australia cho

Việt Nam

Trong lịch sử viện trợ của Australia cho Việt Nam, Australia luôn là một trong những nhà tài trợ song phương lớn nhất với vốn cam kết năm sau cao hơn năm trước Australia luôn ủng hộ chính sách phát triển của Việt Nam

và có sự hỗ trợ toàn diện trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội Trong khi một

số quốc gia như Thụy Điển và Anh sắp ngừng viện trợ cho Việt Nam thì Australia vẫn cam kết tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong công tác xóa đói giảm nghèo cũng như thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ Hiện nay, nhiều hoạt động vẫn được hai chính phủ đồng tài trợ để đảm bảo sự cam kết thành công mạnh mẽ của cả hai phía Trong những lĩnh vực được lựa chọn, Australia kết hợp những nỗ lực của mình với các đối tác tài trợ khác như WB

và UNDP để đưa hiệu quả tác động lên mức cao nhất Bên cạnh đó, còn có viện trợ từ các chương trình khu vực Đông Á của AusAID cho Việt Nam bao gồm giảm nhẹ thiên tai, ngăn ngừa HIV/AIDS, hỗ trợ thông qua ASEAN và APEC

Hầu hết nguồn vốn ODA của Australia đều do Cơ quan Phát triển Quốc

tế Australia (AusAID) quản lý và điều phối Tổ chức này có nhiệm vụ đưa ra các khuyến nghị về chính sách và hỗ trợ cho hoạt động của Bộ trưởng phụ trách các vấn đề phát triển và hợp tác với các quốc gia đang phát triển, các doanh nghiệp Australia, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các tổ chức

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Lê Quốc Hội (2007), Định hướng sử dụng ODA, Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng sử dụng ODA
Tác giả: Lê Quốc Hội
Năm: 2007
13. Hà Thị Ngọc Oanh (2004), Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - những hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - những hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Ngọc Oanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
14. Phạm Thị Túy (2009), Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Túy
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
15. UNDP (2000), Tổng quan viện trợ phát triển chính thức ở Việt Nam, UNDP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan viện trợ phát triển chính thức ở Việt Nam
Tác giả: UNDP
Năm: 2000
17. World Bank (1997), Thực trạng viện trợ 1996 một sự đánh giá độc lập về viện trợ quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng viện trợ 1996 một sự đánh giá độc lập về viện trợ quốc tế
Tác giả: World Bank
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
18. World Bank (2000), Thực trạng của viện trợ 2000: Một đánh giá độc lập về giảm nghèo và hỗ trợ phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng của viện trợ 2000: Một đánh giá độc lập về giảm nghèo và hỗ trợ phát triển
Tác giả: World Bank
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
19. World Bank, ADB, UNDP (2000), Việt Nam 2010 tiến vào thế kỷ 21 – Báo cáo Phát triển Việt Nam 2001 - Tổng quan, Hà Nội.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam 2010 tiến vào thế kỷ 21 – Báo cáo Phát triển Việt Nam 2001 - Tổng quan", Hà Nội
Tác giả: World Bank, ADB, UNDP
Năm: 2000
20. AusAID (1997), Better Aid for a Better Future, AusAID, Canberra, Commonwealth of Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Better Aid for a Better Future
Tác giả: AusAID
Năm: 1997
22. AusAID (2010), Achieving the millennium development goals: Australia's support 2000 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Achieving the millennium development goals
Tác giả: AusAID
Năm: 2010
23. AusAID (2010), Annual thematic performancereport 2009: Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annual thematic performancereport 2009
Tác giả: AusAID
Năm: 2010
25. AusAID (2010), AusAID Annual Report 2009 – 2010, Commonwealth of Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: AusAID Annual Report 2009 – 2010
Tác giả: AusAID
Năm: 2010
27. AusAID (2011), Annual thematic performance report 2009: Health Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annual thematic performance report 2009
Tác giả: AusAID
Năm: 2011
28. AusAID (2011), Annual thematic performance report 2009: Rural Development Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annual thematic performance report 2009
Tác giả: AusAID
Năm: 2011
30. AusAID (2011), AusAID Annual Report 2010 – 2011, , Commonwealth of Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: AusAID Annual Report 2010 – 2011
Tác giả: AusAID
Năm: 2011
33. AusAID (2012), AusAID Annual Report 2011 – 2012, Blue Star Print ACT, Commonwealth of Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: AusAID Annual Report 2011 – 2012
Tác giả: AusAID
Năm: 2012
35. AusAID (2012), Australian’s International development Assisstance Programme 2012 – 2013, CANPRINT Communications Pty Ltd, Commonwealth of Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australian’s International development Assisstance Programme 2012 – 2013
Tác giả: AusAID
Năm: 2012
37. AusAID (2012), Progress Report for the Disaster Risk Reduction Policy, Disaster Risk Reduction Unit, AusAID Sách, tạp chí
Tiêu đề: Progress Report for the Disaster Risk Reduction Policy
Tác giả: AusAID
Năm: 2012
40. PHAM, Hoang Mai (1996), The Role of the Government in the Utilisation of Official Development Assistance in Vietnam, Contemporary Southeast Asia, Vol 18:1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of the Government in the Utilisation of Official Development Assistance in Vietnam
Tác giả: PHAM, Hoang Mai
Năm: 1996
41. NGUYEN, Quang Thai (2002), Vietnam’s Socio ‐ Economic Development in the Context of the 21st Century, Vietnam’s Socio ‐ Economic Development, No. 31, August Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam’s Socio"‐ "Economic Development in the Context of the 21st Century
Tác giả: NGUYEN, Quang Thai
Năm: 2002
42. UNDP (1996), Developing Capacities in Aid Coordination and Management: Vietnam – A Successful Government ‐ UNDP Partnership, Management Development and Governance Division, UNDP, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Developing Capacities in Aid Coordination and Management: Vietnam – A Successful Government"‐"UNDP Partnership
Tác giả: UNDP
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Lượng vốn của Australia cho Việt Nam giai đoạn 2001 – 2013 - Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Autralia cho Việt Nam
Bảng 2.1 Lượng vốn của Australia cho Việt Nam giai đoạn 2001 – 2013 (Trang 42)
Bảng 2.3: Viện trợ của Australia cho Việt Nam trong lĩnh vực cấp  nước và cải thiện điều kiện vệ sinh giai đoạn 1995 – 2012 - Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Autralia cho Việt Nam
Bảng 2.3 Viện trợ của Australia cho Việt Nam trong lĩnh vực cấp nước và cải thiện điều kiện vệ sinh giai đoạn 1995 – 2012 (Trang 60)
Bảng 2.4: Tiến trình thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ của  Việt Nam - Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Autralia cho Việt Nam
Bảng 2.4 Tiến trình thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ của Việt Nam (Trang 85)
Bảng 3.1: Nguồn vốn ODA của một số nước thành viên DAC năm  2000, 2010 và 2011 - Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Autralia cho Việt Nam
Bảng 3.1 Nguồn vốn ODA của một số nước thành viên DAC năm 2000, 2010 và 2011 (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w