Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về chống bán phá giá - Phân tích thực trạng một số vụ Mỹ và EU kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá - Từ bài học kinh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
NGUYỄN THỊ QUYÊN
VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ
VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hµ Néi – 2007
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
NGUYỄN THỊ QUYÊN
VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ
VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU
Chuyên ngành: Kinh thế thế giới và QHKTQT
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QHKTQT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TẠ KIM NGỌC
Hµ Néi - 2007 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 5
1.1 Lý luận chung về bán phá giá 5
1.1.1 Khái niệm bán phá giá 5
1.1.2 Xác định việc bán phá giá 7
1.1.3 Xác định thiệt hại 14
1.1.4 Tác động của bán phá giá đến nước nhập khẩu 15
1.1.5 Những điều kiện để được phép tiến hành hành động chống bán phá giá 16
1.2 Kinh nghiệm của một số nước trong việc đối phó với các vụ kiện bán phá giá 18
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 18
1.2.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 23
1.2.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 27
1.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ EU 33
2.1 Khái quát hoạt động xuất khẩu của Việt Nam 33
2.1.1 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ 35
2.1.1.1 Kim ngạch xuất khẩu 36
Trang 42.1.1.2 Cơ cấu hàng xuất khẩu 36
2.1.2 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang EU 38
2.1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu 38
2.1.2.2 Cơ cấu hàng xuất khẩu 38
2.2 Một số vụ kiện chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ và EU 41 2.2.1 Tổng quan về tình hình bị kiện bán phá giá hàng xuất khẩu của 2.2.1 Tổng quan về tình hình bị kiện chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam 41
2.2.2 Các nguyên nhân gây ra vụ kiện 44
2.2.3 Các vụ kiện bán phá giá trên thị trường Mỹ 47
2.2.3.1 Hiệp hội các nhà nuôi các nheo Mỹ (CFA) kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá Tra, cá Basa 48
2.2.3.2 Vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá mặt hàng tôm đông lạnh trên thị trường Mỹ 54
2.2.4 Các vụ kiện bán phá giá trên thị trường EU 57
2.2.4.1 Vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá giày mũ da 57
2.2.4.2 Hiệp hội các nhà sản xuất xe đạp Châu Âu (EBMA) kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá xe đạp 63
2.3 Tác động của các vụ kiện chống bán phá giá 65
2.3.1 Tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh 65
2.3.2 Tác động tới tăng trưởng kinh tế 67
2.3.3 Tác động tới công ăn việc làm 68
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ EU 71
Trang 53.1 Dự báo khả năng bị kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất
khẩu của Việt Nam tại Mỹ và EU 71
3.2 Những giải pháp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá tại thị trường Mỹ và EU 77
3.2.1 Giải pháp từ phía nhà nước 78
3.2.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 81
3.2.3 Giải pháp từ phía Hiệp hội 84
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 2.6 Thuế phá giá áp cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam
theo Quyết định của USDOC 56
Bảng 2.7 Bảng giá giày của các nước Việt Nam, Trung Quốc và Braxin 62
Trang 7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTA Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ
CEPT Hiệp định ưu đói về thuế quan cú hiệu lực chung DSB Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO
DSU Thoả thuận về giải quyết tranh chấp
GATT Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
USITC Uỷ ban Th-ơng mại quốc tế Hoa Kỳ
VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong thời đại toàn
cầu hoá kinh tế Hầu như hiếm có quốc gia nào đứng ngoài dòng chảy toàn cầu hoá và hội nhập, kể cả các quốc gia chậm phát triển về nhiều mặt Việt Nam cũng nằm trong số đó Kể từ sau năm 1986, Việt Nam không ngừng tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới và đã khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế Hội nhập kinh tế đã đem lại cho Việt Nam những lợi ích to lớn về mọi mặt từ kinh tế, chính trị đến văn hoá
Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích thu được chúng ta cũng gặp không ít những thách thức rất lớn từ bên ngoài Trong quá trình hội nhập chúng ta cũng phải đối mặt với những rào cản từ thị trường bên ngoài Đây là chuyện khó tránh khỏi trong cuộc chơi thương mại Điển hình là Hiệp hội các nhà nuôi cá da trơn Mỹ (CFA) kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá Tra, cá basa trên thị trường Mỹ và phần thắng thuộc về CFA, kết quả làm cho hàng nghìn hộ nông dân nuôi cá Tra, basa lâm vào tình cảnh khó khăn Ngoài
ra còn hàng loạt các vụ kiện doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá khác như: vụ kiện tôm của phía Mỹ, giầy mũ da của phía EU… gây bất ổn cho các doanh nghiệp Việt Nam
Việt Nam là một nước đang trong quá trình chuyển đổi, kinh nghiệm làm
ăn quốc tế chưa nhiều và đang trong giai đoạn thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu để đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước, nhưng lại gặp phải rất nhiều vụ kiện chống bán phá giá gây ra nhiều những bất ổn với các doanh nghiệp Việt Nam Trong bối cảnh đó, nghiên cứu các vụ kiện chống bán phá giá và đề ra các giải pháp để đối phó với các vụ kiện giúp các doanh nghiệp Việt Nam hiểu biết đầy đủ hơn về thể chế của WTO từ đó tránh được những
Trang 9thiệt hại rất lớn cho các doanh nghiệp và giúp họ tham gia sâu rộng hơn vào thị trường quốc tế
Nhận thức được ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên đây, tác giả chọn đề tài
“Vấn đề chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ
và Liên minh Châu Âu” cho đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trước xu thế hội nhập và tự do thương mại, Việt Nam đang phải đối phó với những rào cản thương mại hết sức tinh vi trong đó việc đối phó với các biện pháp chống bán phá giá gây nhiều sự quan tâm của các cơ quan cũng như các doanh nghiệp Hiện tại có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề này như:
- Bán phá giá - phương pháp xác định mức phá giá và mức độ thiệt hại của
tác giả Đoàn Văn Trường - NXB Khoa học và Kỹ Thuật năm 2006
- Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam Những vẫn đề
lý luận và thực tiễn của tác giả Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Sơn - Nhà xuất bản tư
- Một số bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế chuyên ngành như :
- “Đương đầu với các vụ kiện chống bán phá giá sau WTO” của tác giả
Dương An đăng trên Tạp chí thương mại số 48/2006
Trang 10- “Đối phó với vụ kiện chống bán phá giá giầy dép vào EU” của tác giả
Đoàn Tất Thắng đăng trên Tạp chí thương mại số 28/2005
- “Chống bán phá giá đã trở thành trở ngại hàng đầu trong thương mại
quốc tế” của tác giả Đoàn Văn Trường đăng trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế
tháng 5/2006
- “Một số giải pháp nhằm đối phó với vụ kiện bán phá giá tôm” của tác giả
Đoàn Tất Thắng đăng trên Báo đầu tư số 38/2004
- “Một số gợi ý đối với Việt Nam trong việc sử dụng cơ chế chống bán phá
giá” của tác giả Th.s Mai Thế Cường đăng trên Tạp chí Những vấn đề kinh
đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra một số biện pháp bảo vệ các
doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các vụ kiện nước ngoài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về chống bán phá giá
- Phân tích thực trạng một số vụ Mỹ và EU kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá
- Từ bài học kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan đề xuất một
số biện pháp bảo vệ các doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các vụ kiện nước ngoài về chống bán phá giá
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt
Nam tại thị trường Mỹ và Liên minh Châu Âu
- Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt
Nam tại thị trường Mỹ và Liên minh Châu Âu, một số vụ kiện điển hình về chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt nam như: Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ (CFA) kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá Tra, cá Basa trên thị trường Mỹ, vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá mặt hàng tôm đông lạnh, EU kiện giày mũ da của Việt Nam bán phá giá,
vụ kiện bán phá giá đối với xe đạp của Việt Nam
- Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1994 (đây là năm đầu tiên các
doanh nghiệp Việt Nam bị kiện chống bán phá giá) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin, kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa, khái quát hóa, logíc và lịch
sử, tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê học để xử lý số liệu
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích, làm rõ thực trạng một số vụ kiện của Mỹ và EU kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá các mặt hàng như: cá Tra, cá Basa, tôm đông lạnh, giày mũ da và xe đạp
- Đề xuất những giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các
vụ kiện chống bán phá giá
7 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bán phá giá và kinh nghiệm của một số nước trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá
Trang 12- Chương 2: Thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ và EU
- Chương 3: Những giải pháp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá
hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ và EU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC ĐỐI PHÓ VỚI CÁC
VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1 Lý luận chung về bán phá giá
1.1.1 Khái niệm bán phá giá
Có nhiều cách hiểu khác nhau về bán phá giá, ban đầu bán phá giá được hiểu đơn giản là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn tại thị trường nội địa Theo cách hiểu này, muốn xác định được hành vi bán phá giá trước hết phải xác định được giá trị nội địa hay còn gọi là giá bán hàng hóa tương tự tại nước xuất khẩu Tuy nhiên thực tế cho thấy, việc xác định giá hàng hóa nội địa không phải đơn giản và đôi khi không thể thực hiện Mặt khác, có những trường hợp việc so sánh giá xuất khẩu và giá bán tại thị trường nội địa đưa đến kết luận không chính xác do bản thân giá nội địa cũng thấp hơn chi phí sản xuất (mặc dù cao hơn giá xuất khẩu)
Quan điểm thứ hai coi phá giá là bán hàng ra nước ngoài thấp hơn chi phí sản xuất Hiện nay quan điểm này ngày càng được nhiều người ủng hộ nhưng cũng gây không ít tranh cãi Những ý kiến ủng hộ cho rằng định nghĩa như trên phản ánh rõ nét bản chất không lành mạnh của hành phi phá giá, là những toan tính phi kinh tế nhằm mục đích gây cho đối thủ cạnh tranh những khó khăn hoặc trở ngại trong kinh doanh để chiếm đoạt thị trường của họ Các cuộc tranh cãi xuất phát từ nhận thức truyền thống về phá giá là sự so sánh (phân biệt) giá quốc tế, chi phí sản xuất chỉ là yếu tố cấu thành chủ yếu của
Trang 13giá chứ chưa phải là giá bán của hàng hóa Mặt khác với những truyền thống kinh doanh khác nhau thì quan niệm về các yếu tố cấu thành chi phí cố định hay chi phí biến đổi của sản phẩm ở các quốc gia khác nhau cũng không giống nhau Cho nên, nếu xác định phá giá theo quan điểm này sẽ rất khó khăn cho quá trình áp dụng và thực sự không công bằng khi lấy quan niệm về
cơ cấu chi phí trong tập quán kinh doanh của quốc gia này để kết luận về hành
vi bán hàng của các doanh nghiệp ở các quốc gia khác có cơ cấu chi phí khác nhau
Quan điểm thứ ba là kết hợp của hai quan điểm trên, Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) năm 1947 điều 6 đã nêu rõ:
“Bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng hóa của một nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó khi bán trong nước”
Kế thừa GATT, Hiệp định về chống bán phá giá trong khuân khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã xác định:
“Một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể
so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”
Kết hợp những quan điểm trên ta thấy một sản phẩm bị coi là phá giá nếu giá xuất khẩu của nó thấp hơn giá so sánh của sản phẩm tương tự trong quá trình kinh doanh thông thường trên thị trường của nước xuất khẩu
Như vậy, trung tâm khái niệm bán phá giá là có sự cách biệt về giá, khi giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó khi bán ở trong nước xuất khẩu Do đó, muốn xác định một hàng hóa đang bán phá giá hay không trước tiên là phải tìm cách xác định được giá trị thông thường và giá xuất khẩu của hàng hóa đó, từ đó xác định mức phá giá
Trang 14Bán phá giá thường bị coi là hành vi thương mại quốc tế không công bằng
Do đó chính phủ nhiều nước cho rằng, họ cần phải có hành động chống lại hành vi đó nhằm bảo vệ ngành công nghiệp trong nước mà thông thường là thông qua việc đánh thuế chống bán phá giá để bù đắp lại những thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do hành vi đó gây ra, kết quả là dẫn đến một vụ kiện chống bán phá giá
Thuế chống bán phá giá: Là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vào một mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn sự tiếp diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước
1.1.2 Xác định việc bán phá giá
Theo quan điểm trên, kết luận về hành vi bán phá giá không phải là sự so sánh giữa giá xuất khẩu và giá trên thị trường nước nhập khẩu hoặc với chi phí sản xuất của hàng hóa mà dựa trên mối quan hệ giữa giá của sản phẩm xuất khẩu với giá trị thông thường của nó
* Phương pháp xác định giá trị thông thường
Giá trị thông thường là giá bán có lãi của sản phẩm tương tự được bán với
số lượng thích đáng trên thị trường nội địa tới người tiêu dùng độc lập
Như vậy, giá trị thông thường của hàng hóa được xác định bởi các điều
kiện: sản phẩm tương tự, số lượng thích đáng, có lãi và khách hàng độc lập
- Sản phẩm tương tự (SPTT): là sản phẩm giống hệt sản phẩm đang được
xem xét về mọi mặt Nếu không có sản phẩm giống hệt, thì được hiểu là một sản phẩm không giống hoàn toàn nhưng có các đặc điểm tính chất gần giống với các sản phảm đang được xem xét
- Số lượng thích đáng là số lượng sản phẩm được bán trong tiến trình buôn
bán thông thường ở trong nước xuất khẩu ít nhất phải bằng 5% khối lượng xuất khẩu của sản phẩm đó
Trang 15- Tiến trình buôn bán thông thường là tiến trình cần đáp ứng hai điều kiện
là bán có lãi và khách hàng độc lập
+ Bán có lãi là giá bán trung bình cao hơn chi phí đơn vị sản phẩm
+ Khách hàng độc lập là các khách hàng không có mối quan hệ đặc biệt
với bên xuất khẩu như là quan hệ họ hàng, góp vốn cổ đông, có quyền kiểm soát chi phối ….Bất kỳ giao dịch buôn bán nào giữa các bên có quan hệ chi phối, liên kết đều là cơ sở không tin cậy cho việc xây dựng giá xuất khẩu hay giá trị thông thường bởi vì các bên có quan hệ chi phối này có thể định giá ưu đãi cho nhau trong buôn bán hoặc chuyển nhượng sản phẩm dựa trên cơ sở giá vốn hoặc giá vốn cộng thêm một khoản lợi nhuận cố định
Các phương pháp xác định giá trị thông thường trong các tình huống khác nhau như:
- Giá trị thông thường dựa trên giá ở nước xuất khẩu: Trong trường hợp này giá trị thông thường được thiết lập trên cơ sở giá có thể so sánh được đã trả hoặc phải trả trong điều kiện thương mại thông thường của sản phẩm tương tự khi sản phẩm này tiêu thụ tại nước xuất khẩu
- Giá trị thông thường dựa trên giá của nước xuất xứ hàng hóa: Trong trường hợp chỉ đơn thuần được vận chuyển qua nước xuất khẩu, hoặc sản phẩm đó không được sản xuất tại nước xuất khẩu hoặc không có giá để so sánh đối với những sản phẩm này tại nước xuất khẩu, giá trị thông thường được thiết lập trên cơ sở giá có thể so sánh được đã được trả hoặc phải trả, trong điều kiện thương mại bình thường đối với sản phẩm tương tự khi sản phẩm này được tiêu thụ tại nước xuất xứ hàng hóa đó
- Giá trị thông thường dựa trên cơ sở giá xuất khẩu sang một nước thứ ba: Khi không có việc bán sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc khi việc bán như vậy không cho phép so sánh chính xác do điều kiện thị trường đặc thù riêng (như nước không có nền kinh tế thị trường),
Trang 16hoặc số lượng bán hàng thấp tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu (việc bán hàng nội địa thấp hơn 5% khối lượng hàng xuất khẩu), giá trị thông thường của sản phẩm bị điều tra có thể thiết lập trên cơ sở giá có thể so sánh của sản phẩm tương tự đang được bán hoặc được xuất khẩu sang một nước thứ ba tương ứng với điều kiện giá này mang tính chất đại diện
- Giá trị thông thường tính toán: Khi không có việc bán sản phẩm tương tự trong điều kiện thương mại thông thường tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu, hoặc khi những việc bán hàng như vậy không cho phép so sánh chính xác do điều kiện thị trường đặc thù riêng (như nước không có nền kinh tế thị trường) hoặc số lượng bán hàng thấp tại thị trường xuất khẩu (việc bán hàng nội địa thấp hơn 5% khối lượng hàng xuất khẩu), hoặc khi không xác định được giá trị thông thường trên cơ sở giá xuất khẩu sang một nước thứ ba (hoặc không muốn sử dụng phương pháp này) thì có thể sử dụng giá thông thường tính toán Giá thông thường tính toán gồm: chi phí sản xuất (bao gồm lao động trực tiếp + các nguyên liệu trực tiếp + chi phí quản lý hành chính sản xuất), các chi phí quản lý và bán hàng nội địa, tỷ lệ lãi (trên các bán hàng nội địa)
- Giá trị thông thường trong trường hợp bán hàng với giá thấp hơn chi phí sản xuất
Việc bán các sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc bán sang một nước thứ ba với giá thấp hơn chi phí sản xuất của một đơn
vị sản phẩm (bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi, cộng với các chi phí quản lý, chi phí bán hàng và chi phí chung) có thể coi là giá bán không theo các điều kiện thương mại thông thường, và có thể không được xem xét tới trong quá trình xác định giá trị thông thường của sản phẩm Việc này chỉ được thực hiện khi cơ quan điều tra xác định được rằng việc bán hàng như vậy nằm
Trang 17trong một khoảng thời gian kéo dài với một số lượng đáng kể, và ở mức giá
mà không cho phép thu hồi tất cả các chi phí trong khoảng thời gian hợp lý
- Xác định giá trị thông thường đối với nước không có nền kinh tế thị trường Trường hợp nước xuất khẩu sản phẩm bị điều tra là nước không có nền kinh tế thị trường, cơ quan điều tra có thể coi những phương pháp xác định giá trị thông thường đã nêu trên là không phù hợp, mà sẽ xác định giá trị thông thường trên cơ sở:
- Giá có thể so sánh đã trả hoặc phải trả, trong quá trình thương mại bình thường, với lượng mua bán sản phẩm tương tự dự kiến được tiêu thụ ở một nước có nền kinh tế thị trường thích hợp
*Phương pháp xác định giá xuất khẩu
Giá xuất khẩu được hiểu là giá thực tế phải trả cho sản phẩm bị điều tra khi bán ra nước ngoài từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu hoặc được hiểu là giá mà nhà sản xuất nước ngoài bán cho nhà nhập khẩu đầu tiên
Giá xuất khẩu dựa trên giá thực tế đã trả: giá xuất khẩu phải đáp ứng 3 điều kiện sau:
+ Giá đã thực sự hoặc giá phải trả (giá trong hóa đơn)
+ Giá xuất khẩu tới cộng đồng
+ Giá tới một khách hàng độc lập
- Giá xuất khẩu tính toán: Sử dụng trong các trường hợp khi: không
có giá đã trả thực sự hoặc giá phải trả, tức không có giá xuất khẩu; không có khách hàng độc lập
- Giá xuất khẩu do cơ quan có thẩm quyền tự quyết định
Trong trường hợp không có giá xuất khẩu hoặc cơ quan có thẩm quyền cho rằng mức giá xuất khẩu không đáng tin cậy do nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hoặc một bên thứ ba nào đó có quan hệ họ hàng hoặc có thỏa thuận về
bù trừ khi đó: Giá xuất khẩu có thể được xây dựng trên cơ sở mức giá khi sản
Trang 18phẩm nhập khẩu được bán lại đầu tiên cho một người mua hàng độc lập do một cơ quan có thẩm quyền tự quyết định
*Phương pháp xác định mức phá giá
- So sánh giữa giá xuất khẩu với giá trị thông thường
Giá xuất khẩu sẽ được so sánh một cách công bằng với giá trị thông thường
để xác định mức phá giá Việc so sánh này sẽ được tiến hành ở cùng mức độ thương mại, thường là ở mức giao hàng tại nhà máy và với lượng mua bán được thực hiện ở thời điểm gần nhất có thể hoặc thời điểm càng giống nhau càng tốt
Trong từng trường hợp cụ thể, có thể có sự chiếu cố hợp lý về những khác biệt có thể ảnh hưởng tới việc so sánh giá trong đó bao gồm khác biệt về điều kiện bán hàng, thuế, dung lượng thương mại, khối lượng, đặc tính vật lý và bất kỳ sự khác biệt nào khác có biểu hiện ảnh hưởng đến việc so sánh giá Trong trường hợp giá xuất khẩu được xây dựng trên cơ sở sản phẩm nhập khẩu được bán lại lần đầu tiên cho một người mua hàng độc lập tính đến các chi phí bao gồm các loại thuế và chi phí phát sinh trong giai đọan từ nhập khẩu đến khi bán lại và thu lợi nhuận, các cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định giá trị thông thường ở một thương mại tương đương với mức thương mại mà giá thành xuất khẩu được xây dựng
Các cơ quan có thẩm quyền phải cho các bên hữu quan biết rõ những thông tin nào cần thiết phải có để so sánh một cách công bằng và không được phép
áp đặt vô lý trách nhiệm đưa ra chứng cứ đối với các bên hữu quan
Khi việc so sánh cần tính đến việc chuyển đổi tiền tệ, thì phải sử dụng tỷ giá hối đoái vào ngày bán hàng
Những biến động của tỷ giá hối đoái sẽ được bỏ qua trong quá trình điều tra
và các cơ quan có thẩm quyền sẽ cho phép các nhà xuất khẩu có được ít nhất
Trang 1960 ngày để điều chỉnh giá xuất khẩu của họ để giá này phản ánh những xu hướng bền vững của tỷ giá tiền tệ trong thời gian điều tra
- Tính toán mức phá giá
Việc tính toán mức phá giá dựa trên sự so sánh giữa giá trị thông thường được xác định trên cơ sở bình quân gia quyền với giá trị bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được hoặc so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở giao dịch so với giao dịch hoặc thông qua so sánh giữa giá trị thông thường bình quân gia quyền với giá xuất khẩu của từng giao dịch
Kết luận về việc hàng hóa bị điều tra có bán phá giá hay không phụ thuộc vào kết quả của sự so sánh giá So sánh giữa giá trị thông thường và giá trị xuất khẩu tìm ra được biên độ phá giá bằng công thức:
Biên độ phá giá= Giá trị thông thường – Giá xuất khẩu
Biên độ phá giá được hiểu là sự chênh lệch giữa giá trị thông thường và giá trị xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ nước này sang nước khác mà sản phẩm này đang bị nước nhập khẩu điều tra phá giá Thông thường người
ta tính biên độ phá giá bằng một con số tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm trên giá xuất khẩu Biên độ phá giá có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định có phá giá hay không, mức phá giá cũng như biện pháp chống bán phá giá Nếu biên độ phá giá là số dương (>0) thì kết luận có bán phá giá và ngược lại
- Xác định biên phá giá đơn lẻ
Biên phá giá đơn lẻ sẽ được xác định cho mỗi nhà xuất khẩu hoặc nhà sản
xuất sản phẩm bị điều tra
Trong trường hợp số lượng nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc các dạng sản phẩm liên quan quá lớn đến mức không thể thực hiện được nếu tính biên phá giá riêng đơn lẻ cho mỗi nhà xuất khẩu, nhà sản xuất sản phẩm bị điều tra có thể giới hạn việc xem xét trong phạm vi số lượng hợp lý
Trang 20các bên liên quan hoặc sản phẩm bị điều tra bằng việc sử dụng phương pháp chọn mẫu có giá trị về mặt thống kê
Trường hợp các cơ quan điều tra giới hạn việc xem xét như đã nêu trên, cơ quan điều tra sẽ quyết định biên phá giá riêng lẻ cho bất cứ nhà xuất khẩu hay nhà sản xuất nào tình nguyện nộp các thông tin cần thiết trong quá trình điều tra Tuy nhiên số nhà xuất khẩu hay nhà sản xuất lớn đến mức việc xem xét đơn lẻ sẽ là gánh nặng quá đáng cho cơ quan điều tra và cản trở việc hoàn thành đúng thời hạn điều tra, cơ quan điều tra có thể giảm việc quyết định biên phá giá đơn lẻ dựa trên cơ sở những trả lời tự nguyện và giới hạn việc xem xét trong phạm vi các nhà xuất khẩu và nhà sản xuất theo mẫu
*Ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá
Tác động của bán phá giá được đánh giá một cách đơn giản theo hình dưới đây Trước khi có việc hàng hóa của một nước được bán sang nước khác với giá thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hàng cân bằng tại điểm E với giá P1 và sản lượng Q1, hoàn toàn là hàng sản xuất trong nước.Tuy nhiên, khi có hàng hóa nước ngoài bán vào với mức giá thấp hơn là P2, lượng tiêu thụ tăng lên Q2, lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ còn là Q’2, lượng hàng nhập khẩu sẽ là Q2-Q’2
Trang 21Từ hình này cho thấy thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một lượng bằng diện tích hình thang ABDE, thặng dư của nhà sản xuất trong nước giảm
đi bằng diện tích hình thang ABCE Như vậy, có thể thấy tác động của việc bán phá giá là gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nhưng lại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Về tổng thể toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CDE
Việc “bán phá giá” thường được coi là có tác động tiêu cực, làm giảm lợi nhuận của người bán hàng khác hoặc gây thiệt hại cho ngành sản xuất cho cùng mặt hàng của nước nhập khẩu nên người ta tìm biện pháp để chống lại hành động này Tuy nhiên, cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất của mọi trường hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá giá đều
có hại không để từ đó có biện pháp đối phó thích ứng
Trang 22sản xuất trong nước (thiệt hại tương lai), hoặc làm trì trệ sự phát triển của một ngành sản xuất trong nước
Như vậy, để xác định thiệt hại, cần xem xét các nhân tố sau:
- Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá có tăng đáng kể không?
- Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá sản phẩm tương tự, tức giá của hàng nhập khẩu đó có rẻ hơn giá sản phẩm tương tự sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không? Có làm sụt giá hoặc kìm hãm giá sản phẩm tương tự ở thị trường nước nhập khẩu không?
Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước: đánh giá gộp tác động, nếu biên độ phá giá>=2% giá xuất khẩu và khối lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước >=3% khối lượng nhập khẩu sản phẩm tương tự
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một ngành sản xuất trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố sau: năng suất, thị phần, biên độ phá giá, giá nội địa ở nước nhập khẩu, suy giảm thực tế và nguy cơ suy giảm doanh số bán hàng, số lượng hàng tồn kho, sản lượng, tình trạng thất nghiệp, lương, tác động tiêu cực đến luồng tiền, tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư, đầu
tư, khả năng huy động vốn và tốc độ tăng trưởng
Để xác định nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cần xem xét:
- Tốc độ tăng nhập khẩu
- Khả năng tăng năng lực xuất khẩu của nhà xuất khẩu dẫn đến tăng nhập khẩu
- Tình hình nhập khẩu làm sụt giá sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu
- Số lượng hàng tồn kho sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu
(Trong đó ngành sản xuất trong nước là toàn bộ các nhà sản xuất trong nước sản xuất sản phẩm tương tự hoặc một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm đa
số tổng sản lượng trong nước)
1.1.4 Tác động của bán phá giá đến nước nhập khẩu
Trang 23Nhìn dưới góc độ tích cực thì phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng tại nước nhập khẩu, mức độ thiệt hại mà doanh nghiệp xuất khẩu phải gánh chịu do phá giá là mức độ lợi ích mà người tiêu dùng trong nước nhập khẩu được thụ hưởng Bên cạnh đó dưới góc độ của chính sách cạnh tranh, bán phá giá có ý nghĩa trong việc tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước (nước nhập khẩu) phải có phản ứng để nâng cao năng lực cạnh tranh tốt hơn trước khi yêu cầu công quyền can thiệp để bảo vệ sản xuất trong nước
- Bán phá giá gây ra những thiệt hại đối với thị trường nước nhập khẩu thể hiện thông qua những tổn hại mà ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu phải gánh chịu và sự đe dọa đối với lợi ích người tiêu dùng khi sản phẩm nhập khẩu thực sự chiếm được vị trí độc quyền trong thị trường nhập khẩu.Trong điều kiện kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh doanh, hành vi bán hàng dưới mức chi phí là những lợi ích mang lại cho người tiêu dùng chỉ mang tính tạm thời, ngắn hạn Để đẩy mạnh nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận, những khoản lỗ ấy phải được bù đắp, với mục đích chiếm đoạt thị truờng các nhà xuất khẩu đã thực hiện hành vi bán phá giá sau đó họ giành được vị trí độc quyền Khi đã có vị trí độc quyền, tất cả lợi ích mà doanh nghiệp phải hy sinh hoặc những chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu được thu hồi thông qua định giá độc quyền Nguy cơ về lợi ích chung của xã hội và lợi ích của người tiêu dùng buộc nhà nước phải xuất hiện với những công cụ hữu hiệu để ngăn chặn và loại bỏ những hành vi không lành mạnh ra khỏi thị trường
- Bán phá giá là bóp méo những nguyên lý cơ bản của thị trường nước nhập khẩu Nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường là sự tự do và cạnh tranh lành mạnh, trong quan hệ thương mại quốc tế, thị trường tự do được xây dựng trên
lý thuyết lợi thế so sánh của thị trường và các thành viên Một khi có hiện tượng bán phá giá xảy ra với mục đích đẩy đối thủ cạnh tranh đến bờ vực phá
Trang 24sản, lúc đó sự tự do và tính chất lành mạnh của thị trường nước nhập khẩu đã
bị tổn hại nghiêm trọng Hành vi thủ tiêu nền sản xuất nội địa của nước nhập khẩu cũng gắn liền với việc hủy diệt những lợi thế có thể có của nước nhập khẩu trong cạnh tranh quốc tế
- Bán phá giá tác động xấu đến sự phát triển của ngành sản xuất nội địa Nhà nước chỉ can thiệp khi hành vi phá giá gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại vật chất tới ngành sản xuất trong nước Khi nhà nước muốn loại bỏ hành
vi phá giá ra khỏi thị trường nhập khẩu, nhà nước đã gặp khó khăn trong việc giải quyết xung đột giữa quyền lợi của người tiêu dùng đang được hưởng (mua hàng với giá rẻ) và lợi ích của nhà sản xuất trong nước (phải hạ giá thành để cạnh tranh với hàng hóa phá giá, và việc mất dần thị phần của họ) Khó khăn chính của nhà nước là khó lựa chọn lợi ích nào là lợi ích chính yếu
mà mình phải bảo vệ, bởi lẽ nếu chỉ vì lợi ích hiện tại của người tiêu dùng thì
có thể dẫn tới kết quả là trong tương lai phải chấp nhận sự hủy diệt của cả một ngành sản xuất trong nước Nếu chỉ bảo vệ ngành sản xuất trong nước thì đôi khi biện pháp chống bán phá giá lại là một công cụ vô lý, làm cho các nhà sản xuất không vì lợi ích của người tiêu dùng để nỗ lực giảm chi phí sản xuất Do vậy sự hiện diện của bán phá giá hàng hóa chưa đủ cơ sở để yêu cầu nhà nước
và pháp luật phải xuất hiện chỉ khi nào có thiệt hại đối với nhà sản xuất nội địa thì nhà nước mới can thiệp Vì vậy, sự xuất hiện kịp thời của nhà nước và pháp luật bằng những biện pháp xử lý phù hợp với mức độ tác động tiêu cực của hiện tượng bán phá giá là cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của thị thương mại quốc tế và sự ổn định của thị trường quốc gia
1.1.5 Những điều kiện quy định để đƣợc phép tiến hành hành động
chống bán phá giá
Hiệp định về thực thi Điều VI GATT 1994 thường được gọi với tên “Hiệp định chống bán phá giá của WTO” (Xem thêm phụ lục II), cũng như của các nước
Trang 25(Mỹ, Canada, EC, Autralia, Trung quốc, Singapore ) đã quy định thành phương sách chung đối với hành động chống bán phá giá Hành động chống bán phá giá được tiến hành khi đã chứng minh được hiện tượng bán phá giá thoả mãn đủ 4 điều kiện:
- Hàng hoá đang bán phá giá, có nghĩa là hàng hoá xuất khẩu tới nước nhập khẩu đang bán ở mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của nó khi bán hàng hoá đó ở trên thi trường của nước xuất khẩu
- Có sự tổn thương vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe doạ gây ra đối với công nghiệp nội địa sản xuất các hàng hoá tương tự với hàng hoá bán phá giá
- Phải có những tổn thương vật chất (hoặc đe doạ gây tổn thương vật chất)
do hành động bán phá giá gây ra
- Xem xét ảnh hưởng đến quyền lợi của cộng đồng
Hành động chống bán phá giá chỉ được tiến hành khi ảnh hưởng của nó bao trùm lên quyền lợi của cộng đồng
* Các trường hợp đình chỉ cuộc điều tra chống bán phá giá
Một cuộc điều tra bị đình chỉ ngay lập tức nếu như cơ quan điều tra thấy rằng không có đầy đủ bằng chứng về việc bán phá giá hoặc về tổn hại đủ để biện minh cho việc triển khai điều tra trường hợp bán phá giá đó
Các trường hợp điều tra cũng bị đình chỉ ngay lập tức trong trường hợp các
cơ quan điều tra xác định rằng biên độ phá giá không đáng kể hoặc trong trường hợp khối lượng hàng nhập khẩu bán phá giá đo gây ra không đáng kể
- Biên độ phá giá được coi là mức tối thiểu / không đáng kể nếu biên độ đó thấp hơn 2% của giá xuất khẩu
- Khối lượng hàng nhập khẩu thông thường sẽ bị coi là không đáng kể nếu như khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá từ một nước cụ thể nào đó chiếm ít hơn 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu,
Trang 26ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các sản phẩm tương tự từ mỗi nước có khối lượng nhập khẩu dưới 3% nhưng tổng số các sản phẩm tương tự của những nước này được nhập vào nước nhập khẩu chiếm hơn 7% nhập khẩu sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu
1.2 Kinh nghiệm của một số nước trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước chịu nhiều vụ kiện chống bán phá nhất trên thế giới Chỉ trong hơn 10 năm nay (từ năm 1987 đến năm 1998) đã có 262 vụ điều tra chống bán phá giá đối với Trung Quốc, chiếm 1/6 tổng số các vụ điều tra chống phá giá trên thế giới Tính từ năm 1995 đến năm 2005, Trung Quốc là
bị đơn của 469 vụ kiện chống bán phá giá trong đó phần lớn các vụ kiện đều
đi đến kết quả là các sản phẩm của Trung Quốc đều bị áp dụng thuế chống bán phá giá, bị buộc nâng giá hoặc bị hạn chế về số lượng xuất khẩu Điều đáng lưu ý là mức thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc thông thường rất cao do Trung Quốc vẫn bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường
Sức ép từ các vụ kiện chống bán phá giá đối với Trung Quốc gia tăng sau thời điểm Trung Quốc gia nhập WTO Thực tiễn cho thấy, việc gia nhập WTO
đã tạo cho các doanh nghiệp cơ hội về thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, cùng với tăng trưởng xuất khẩu, các doanh nghiệp Trung Quốc phải đối mặt với nhiều nguy cơ bị kiện chống bán phá giá hơn Theo thống kê của WTO, trong gai đoạn 1995-2000, trung bình Trung Quốc phải chịu 34,5 vụ kiện/ năm Con
số này đã tăng lên 51,25 vụ kiện/ năm kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO Sức ép càng trở nên nặng nề hơn khi Chính phủ Trung Quốc trong quá trình đàm phán gia nhập WTO đã chấp nhận vị thế kinh tế phi thị trường sau ít nhất
15 năm kể từ thời điểm gia nhập
Trang 27Chính phủ Trung Quốc luôn hết sức coi trọng công tác mậu dịch công bằng trong đó có việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá từ các đối tác thương mại nước ngoài Trước khi gia nhập WTO, để đáp ứng yêu cầu về việc gia nhập WTO, lợi dụng triệt để những quyền lợi mà WTO dành cho các nước thành viên và để đảm bảo lợi ích xuất khẩu và lợi ích của toàn Trung Quốc, tháng 11/2001, được sự phê duyệt của Quốc vụ viện Trung Quốc, Bộ Thương mại Trung Quốc đã thành lập riêng Cục Thương mại công bằng xuất nhập khẩu để xử lý các vụ việc liên quan đến chống bán phá giá, chống trợ cấp và
tự vệ
Để có được kết quả tích cực trong các vụ kiện chống bán phá giá, Trung Quốc đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội ngành hàng cũng như các doanh nghiệp liên quan, trong đó hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo, chủ động kháng kiện Mặc dù các tranh chấp chống bán phá giá vừa là vấn đề của Chính phủ, vừa là vấn đề của doanh nghiệp nhưng cần lưu ý hỗ trợ của Chính phủ là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm đối với các nền kinh tế hiện bị coi là “phi thị trường” Hỗ trợ của Chính phủ trong trường hợp này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả vụ kiện Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước của Trung Quốc cũng như cộng đồng các doanh nghiệp đều thống nhất quan điểm hỗ trợ của Nhà nước chỉ nên dừng lại hướng dẫn về mặt thông tin cho các doanh nghiệp bị kiện và tiến hành các đàm phán cấp Chính phủ - Chính phủ với các cơ quan có thẩm quyền của nước khởi kiện trong trường hợp cần thiết
Là quốc gia bị kiện phá giá nhiều nhất thế giới, song kể từ tháng 5 năm
1994, Trung Quốc đã có những quy định về việc chống bán phá giá tại thị trường Trung Quốc Trung Quốc được đánh giá là quốc gia sử dụng nhiều và hiệu quả nhất cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nhằm đưa lại một nền thương mại tự do và bình đằng trên toàn cầu
Trang 28Trên thực tế, Trung Quốc tiến hành nhiều cuộc đàm phán với các nước khởi kiện và đạt được nhiều kết quả nhất định Gần đây qua đàm phán với phía Ấn Độ, Trung Quốc đã có thể trì hoãn thời gian tiến hành điều tra đối với hàng tơ lụa xuất khẩu vào Ấn Độ Ngoài ra, có thể kể đến cuộc đàm phán với Nam Phi (năm 2003), với Peru (năm 2002)… [3].Trong các cuộc đàm phán này Trung Quốc đều nhắm vào hai mục tiêu chính là đình chỉ vụ kiện hoặc đẩy lùi thời gian khởi kiện để các doanh nghiệp liên quan có thời gian chuẩn
bị kháng kiện tốt hơn và giảm thiệt hại do vụ kiện mang lại Trung Quốc cho rằng đàm phán có thể không đạt được mục tiêu đình chỉ vụ kiện nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng tích cực đến kết quả vụ kiện Vì vậy, cần tiến hành các đàm phán song phương cần thiết với các bên liên quan ở nước khởi kiện ngay trước khi vụ kiện xảy ra và cả trong thời gian vụ kiện
Khả năng thành công trong đàm phán còn phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữa doanh nghiệp, các thương hội và các cơ quan quản lý nhà nước, nghĩa là song song với các đàm phán cấp Chính phủ với Chính phủ, phải tiến hành các đàm phán cấp doanh nghiệp Ví dụ, để góp phần giải quyết các tranh chấp mặt hàng tơ lụa giữa Ấn Độ và Trung Quốc, ngoài các đàm phán giữa Cục mậu dịch công bằng xuất khẩu của Trung Quốc với Vụ ngoại thương (Văn phòng
về Chống bán phá giá và chống trợ cấp) của Ấn Độ, kể từ 2001-2004, Thương hội dệt may của Trung Quốc hàng năm đã tổ chức các cuộc gặp gỡ giao lưu với Thương hội dệt may của Ấn Độ Các đàm phán cấp doanh nghiệp với doanh nghiệp này đã góp phần quan trọng kéo dài thời gian khởi kiện, tạo điều kiện tốt để các doanh nghiệp Trung Quốc chuẩn bị kháng kiện Năm
2002, sau một thời gian kiên trì đàm phán, thương lượng trao đổi với phía chính phủ Australia, nước này đã công nhận ngành xi măng của Trung Quốc hoạt động theo định hướng thị trường và đã đưa ra phán quyết về điều tra chống bán phá giá có lợi cho Trung Quốc Năm 2001 trong vụ kiện bán phá
Trang 29giá kính chắn gió ô tô, phía Canada xác nhận vị thế kinh tế thị trường cho ngành công nghiệp sản xuất kính chắn gió ô tô Trung Quốc, Canada và Australia là hai nước phương tây đầu tiên xác nhận vị thế kinh tế thị trường cho một ngành công nghiệp của Trung Quốc [6].
Một điều đáng lưu trong đàm phán là với mỗi thị trường cần đặt những trọng tâm đàm phán phù hợp Ngoài ra, cần có các hoạt động lôi kéo các nhà nhập khẩu, người tiêu dùng cũng như các bên cùng có lợi ích khác ở nước khởi kiện tham gia vào quá trình đối thoại Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy với các thị trường khu vực Châu Á như Ấn Độ, Pakistan… đàm phán cấp Chính phủ- Chính phủ sẽ phát huy tác dụng tốt Ngược lại, đối với khu vực thị trường Châu Âu và Hoa kỳ, càng chú trọng vào đối thoại cấp doanh nghiệp - doanh nghiệp vì đối thoại cấp Chính phủ – Chính phủ thường ít mang lại hiệu quả tốt
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng EU và Mỹ là một trong các đối tác khó đàm phán Bản thân các nhà đàm phán Trung Quốc cũng chưa đạt được thành công nào đáng kể thông qua đối thoại với các đối tác ở hai khu vực thị trường trọng yếu này
Trung Quốc cũng đã chống bán phá giá bằng cách sử dụng nước thứ ba để chống lại như mặt hàng oxyde kẽm, đèn huỳnh quang (CFL- i) Trung Quốc
đã bị các nước EU kiện, để lẩn tránh thuế chống bán phá giá mặt hàng này, Trung Quốc đã xuất khẩu qua một nước thứ ba là Việt Nam rồi từ đó xuất sang EU
Ngoài công tác đàm phán, Trung Quốc cũng đã xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo sớm cho các doanh nghiệp xuất khẩu Lợi ích của thông tin cảnh báo sớm thể hiện ở chỗ nó cho phép các doanh nghiệp liên quan một khoảng thời gian dài hơn để chuẩn bị tổ chức kháng kiện Vì vậy, công tác cung cấp các thông tin cảnh báo sớm về vụ kiện một cách kịp thời và đầy đủ được các
Trang 30hiệp hội ngành hàng cũng như các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt chú trọng Kênh chuyển thông tin cảnh báo sớm của Trung Quốc là các thương hội ngành hàng Ngoài ra, các công ty tư vấn luật cũng góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn cho quá trình kháng kiện Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã đặt quan hệ đối tác lâu dài với các công ty luật chuyên về chống phá giá, “các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp hoặc hiệp hội đã chủ động trích một nguồn kinh phí cố định thuê các công ty luật hoặc các công ty phân tích thị trường để rà soát, thu thập thông tin, đánh giá và cảnh báo sớm cho họ về nguy cơ xảy ra vụ kiện”, giúp họ định hình chiến lược phát triển dài hạn, xây dựng kế hoạch xuất khẩu và hình thành cơ chế ngăn chặn đối với các
vụ kiện chống bán phá giá Nói cách khác, các công ty luật sẽ giúp các doanh nghiệp khách hàng chủ động phản ứng rất nhanh ngay trong quá trình các nguyên đơn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, giúp họ chuẩn bị từ khâu trả lời bản câu hỏi, chuẩn bị tư liệu chứng minh, chuẩn bị cho thẩm tra tại chỗ, bình luận,vv Khi có các thông tin cảnh báo sớm từ các nguồn như cơ quan hải quan hoặc
cơ quan thống kê, các thương hội luôn luôn nắm vai trò chủ đạo tổ chức kháng kiện Đặc thù của Trung Quốc là họ có một số lượng lớn các doanh nghiệp nằm rải rác trên toàn quốc Vì vậy, công tác tập hợp lực lượng và thống nhất chiến lược kháng kiện là cực kỳ khó khăn Trong hoàn cảnh đó, các thương hội phải là diễn đàn quan trọng gắn kết các doanh nghiệp liên quan với nhau, giúp họ trao đổi thông tin, và tư vấn cho các doanh nghiêp định hình chiến lược kháng kiện Các tư vấn của thương hội có thể bao gồm
từ việc cung cấp các thông tin liên quan đến vụ kiện, tư vấn chuẩn bị hồ sơ kiện, thuê luật sư… Trong quá trình diễn ra vụ kiện, thương hội phải tiếp tục theo dõi và phối hợp với đội ngũ luật sư để phối hợp các doanh nghiệp đưa ra bình luận về các vấn đề quan trọng của vụ kiện như về mẫu điều tra, vấn đề kinh tế phi thị trường, về thiệt hại, về phương pháp tính theo biên độ phá giá
Trang 31Trong công tác kháng kiện, đặc biệt Trung Quốc chú trọng đến việc lựa chọn các công ty tư vấn luật Việc lựa chọ các công ty tư vấn luật sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả vụ kiện Vì vậy, các doanh nghiệp bị đơn cần cân nhắc
kỹ lưỡng và đặc biệt cần tham khảo ý kiến của thương hội khi quyết định chọn thuê công ty tư vấn Trước đây khi xảy ra vụ kiện, các doanh nghiệp Trung Quốc thường chọn các công ty luật nước ngoài tại địa bàn nước khởi kiện vì họ cho rằng chỉ có công ty luật nước ngoài mới hiểu rõ hệ thống luật pháp của nước khởi kiện Tuy nhiên, trong quá trình kháng kiện, các doanh nghiệp Trung Quốc đã gặp hai khó khăn lớn Thứ nhất, là khó khăn về chi phí thuê luật sư vì thông thường mức chi phí các doanh nghiệp phải trả cho các hãng luật nước ngoài là rất cao, ví dụ mức phí thuê một công ty tư vấn của Hoa Kỳ có những vụ việc đã lên tới hàng triệu USD Khó khăn thứ hai là bản thân các hãng luật nước ngoài có kiến thức hạn chế về luật pháp của Trung Quốc cũng như hệ thống doanh nghiệp và thông lệ sản xuất kinh doanh tại Trung Quốc Vì vậy, phương án thuê luật sư kháng kiện tốt nhất là kết hợp cả công ty nước ngoài và các công ty tư vấn Trung Quốc
Điều đáng lưu ý là những bài học được đúc rút qua các vụ kiện chống bán phá giá này đã được phổ biến lại cho cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu thông qua các khoá đào tạo, các hội thảo, các diễn đàn và nhiều loại hình phổ biến kiến thức khác Vì vậy, có thể nói, tuy trình độ nhận thức chưa thật đồng đều và ở mức cao như mong muốn, ngày nay cac doanh nghiệp xuất khẩu Trung Quốc đã nhận thức một cách rõ ràng hơn về các vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý khi xảy ra các tranh chấp về chống bán phá giá Đây cũng là kinh nghiệm phòng chống các vụ kiện bán phá giá đáng học tập
1.2.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Các vụ kiện mà Thái Lan phải đối mặt chủ yếu do các nước phát triển như Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ, Australia tiến hành Đây cũng là điều khá dễ
Trang 32hiểu khi các nước phát triển thường sử dụng nhiều, thậm chí lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá để bảo hộ ngành công nghiệp nội địa của họ trước sự phát triển mạnh mẽ của các con rồng Châu Á nói chung Thái Lan nói riêng Theo thống kê của Ban Thư ký WTO, từ năm 1995 đến 2005, các nước thành viên của WTO đã tiến hành 365 cuộc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với các mặt hàng xuất khẩu của các nước thành viên ASEAN, chiếm 12,6% trên tổng các cuộc điều tra chống bán phá giá trên thế giới Indonexia, Thái Lan, Malaysia là ba nước bị khởi kiện chống bán phá giá nhiều nhất, chiếm tổng số 83,51% trên tổng số cuộc điều tra đối với các nước thành viên ASEAN Điển hình Indonexia với 121 cuộc điều tra, Thái Lan với
111 cuộc điều tra Trong số 10 nước thành viên của ASEAN chỉ có 6 nước là Indonexia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Việt Nam và Philiphine là bị khởi kiện chống bán phá giá, các thành viên khác tính đến thời điểm này hoàn toàn chưa bị khởi kiện Một trong những nguyên nhân là do kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Lào, Campuchia, Myamar, Brunei là rất nhỏ ( Xem bảng 1.1)
Bảng 1.1 : Số liệu điều tra chống bán phá giá đối với các nước thành viên
Trang 33Theo số liệu của WTO, Thái Lan chủ yếu bị kiện đối với các sản phẩm hoá chất và phụ trợ, nhựa, cao su, gỗ và giấy, may mặc, đá, xi măng, thuỷ tinh kim loại thường, máy móc và thiết bị âm thanh điện tử Đây cũng là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước ASEAN Trong đó, Thái Lan đã bị kiện tới 22 vụ liên quan đến hoá chất và phụ trợ Riêng đối với các sản phẩm kim loại thường, Indonexia, Thái Lan và Malaysia cũng bị kiện khá nhiều, theo đó Thái Lan chiếm tới 19 vụ và Indonexia là 16 vụ Hàng dệt may cũng là một trong những mặt hàng đã bị kiện khá cao Thái Lan đã bị kiện tới 12 lần trong khi Indonexia bị kiện 10 lần và Malaysia bị kiện 7 lần
Ở Thái Lan, không phải Chính phủ mà là Nghiệp đoàn các nhà sản xuất Thái Lan (The Federation of Thai Industries) tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Thái Lan trong các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp với khoảng 6000 hội viên thuộc 35 ngành sản xuất khác nhau, chủ thể đầu tiên đứng mũi chịu sào trong nhiều vụ việc mà nhà sản xuất Thái Lan bị kiện chống bán phá giá ở nước ngoài hoặc có nguy cơ bị kiện Nghiệp đoàn sẽ tập hợp các nhà sản xuất có sản phẩm liên quan, các nhà sản xuất đầu vào, đầu ra
để bàn các phương án hành động chung Theo yêu cầu của các doanh nghiệp thành viên, Nghiệp đoàn thành lập ra một ủy ban trong mỗi vụ việc làm đầu mối phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp thông qua một loạt các hoạt động như thống nhất việc mời luật sư đại diện, hướng dẫn cách trả lời các bảng câu hỏi, vận động các doanh nghiệp hợp tác trong quá trình điều tra Nghiệp đoàn cũng là nơi cung cấp thông tin về sản phẩm, về các thị trường và
về tình hình xuất nhập khẩu sản phẩm tại Thái Lan cũng như các thị trường khác để các doanh nghiệp nhanh chóng nhận thức được các nguy cơ liên quan (bị kiện chống bán phá giá ở nước ngoài hoặc các nhà sản xuất nước ngoài bán phá giá vào thị trường nội địa) Trong một số trường hợp, Nghiệp đoàn có thể hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp trong các vụ kiện Trong các vụ
Trang 34kiện chống bán phá giá, vai trò của luật sư là hết sức quan trọng Vì vậy, thông thường các doanh nghiệp thường thông qua Nghiệp đoàn hoặc Hiệp hội cùng lựa chọn một (hoặc một số) công ty tư vấn đại diện cho mình, thông thường doanh nghiệp Thái Lan thuê luật sư của chính nước đã kiện mình làm luật sư tư vấn Trong một chừng mực nhất định, Chính phủ Thái Lan cũng cung cấp một số trợ giúp cho các doanh nghiệp Thái Lan bị kiện ở nước ngoài như hướng dẫn trả lời các bảng câu hỏi, đưa ra các tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ một phần tài chính nhưng trách nhiệm chủ yếu trong các vụ kiện vẫn thuộc về các doanh nghiệp Thái Lan Về cơ bản, các doanh nghiệp Thái Lan khá chủ động tham gia tích cực vào các vụ kiện chống bán phá giá và điều này cũng đưa đến những kết quả tích cực [21]
Cũng như các nước đang phát triển khác, Thái Lan đã đang và sẽ vẫn tiếp tục là nạn nhân của sự lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình xử lý các vụ kiện chống bán phá giá, các nhà sản xuất, xuất khẩu Thái Lan thường thiếu kiến thức về những quy định, những yêu cầu, nguyên tắc mà thủ tục kiện bán phá giá đòi hỏi và do đó họ thường bị đặt vào một vị thế yếu hơn và chịu thiệt thòi khi xử
lý vụ kiện
Để phòng chống, Thái Lan cũng sớm hình thành chính sách chủ động kháng kiện, cơ chế cảnh báo sớm, tăng cường vai trò của hiệp hội ngành hàng, sự hỗ trợ của các cơ quan chính phủ
Một điều đặc biệt là các nước ASEAN nói chung và Thái Lan nói riêng là thành viên WTO đã tích cực sử dụng cơ chế đa phương để giải quyết các tranh chấp chống bán phá giá Thái Lan với tư cách thành viên của WTO cũng rất tích cực tham gia vào diễn đàn giải quyết tranh chấp trong khuân khổ WTO khi các nước thành viên khác của WTO có các quyết định về điều tra và
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá không phù hợp với quy định của
Trang 35WTO.Thông qua tổ chức này, Thái Lan có thể có được tiếng nói công bằng hơn với các nước phát triển hơn đã có sự phân biệt đối xử hay lạm dụng biện pháp chống bán phá giá mà WTO đã cho phép Trong vụ tôm mà Việt Nam cũng là một trong 6 bị đơn, ngày 9/12/2004 Thái Lan đề nghị tham vấn với
Mỹ thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO về các biện pháp chống bán phá giá tạm thời mà Mỹ đã áp dụng khi cho rằng các biện pháp này đã vi phạm các quy định tại điều 1,2,4,2.4.2,6.8,6.13,7.1 và các đoạn 3,5,6,7 của Phụ lục II của Hiệp định chống bán phá giá WTO Vụ kiện lên WTO của Thái Lan cũng đã được dư luận ủng hộ và có thêm Braxin cũng tham gia
Ngoài ra, cơ chế giải quyết tranh chấp này còn cho phép các nước thành viên WTO phản đối chính thức về những sai lệch trong hệ thống pháp luật của các nước thành viên WTO khác trong đó có cả pháp luật về chống bán phá giá Ngày 21/12/2000, Thái Lan đã cùng với Úc, Braxin, Chi Lê, Ấn Độ và
EU đã kiện lên WTO về những thay đổi năm 2000 đối với đạo luật thuế quan của Hoa Kỳ năm 1930 đã trái với quy định của WTO Từ các vụ kiện này có thể giúp các nước thành viên giám sát lẫn nhau trong việc ban hành chính sách và pháp luật phù hợp với những cam kết trong hệ thống thương mại đa phương này Bên cạnh đó, Thái Lan là một trong những nước khá chủ động tham gia vào các diện đàn quốc tế và khu vực, vào tháng 12/2002 giám đốc Phòng thương mại Thái Lan, Chủ tịch Phòng thương mại quốc tế ICC Thái Lan đã được bầu vào Tòa trọng tài quốc tế ở Pari – cơ quan giải quyết tranh chấp kinh doanh và thương mại quốc tế Đây được coi là bước tiến mới của Thái Lan có tiếng nói trong việc giải quyết những xung đột thương mại trong tương lai [10, tr 101]
1.2.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Trong vòng vài thập kỷ qua, sự tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu Từ đầu những năm 60 thế kỷ trước, Hàn Quốc đã đưa ra
Trang 36khẩu hiệu: “Xuất khẩu để xây dựng đất nước” và đặt trọng tâm kinh tế vào hoạt động thương mại quốc tế Tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc năm
2004 là 303,5 tỷ USD, năm 2005 đạt 350 tỷ USD Với quy mô xuất khẩu lớn như vậy, việc các doanh nghiệp và sản phẩm Hàn Quốc thường xuyên phải đối phó với các vụ kiện thương mại chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ
là điều dễ hiểu
Theo số liệu thống kê của WTO, kể từ năm 1995 đến hết năm 2005, Hàn Quốc phải đối mặt với tổng cộng 218 cuộc điều tra chống bán phá giá từ các nước thành viên WTO, trong đó 127 vụ kiện có kết luận bán phá giá và áp thuế Các vụ kiện tập trung chủ yếu vào một số thị trường đối tác chính của Hàn Quốc, trong đó có EU, Mỹ, Trung Quốc và Australia
Các sản phẩm mà phía Hàn Quốc bị kiện chống bán phá giá thường là những sản phẩm như: sản phẩm ngành hoá chất và các ngành liên quan; nhựa
và đồ nhựa; cao su và đồ cao su; bột giấy làm từ gỗ và các nguyên liệu sợi xenlulô khác; dệt may và các sản phẩm dệt may; kim loại thường và các sản phẩm từ kim loại thường; máy móc và đồ gia dụng cơ khí; thiết bị ghi và phát
âm thanh hình ảnh truyền hình
Trong việc xử lý các vụ kiện chống bán phá giá tại thị trường nước ngoài,
có thể thấy Hàn Quốc chú trọng đến việc sử dụng khuân khổ đa phương, đặc biệt là các công cụ của WTO để gây sức ép trở lại với đối tác Biện pháp này được chủ yếu sử dụng chống lại Mỹ Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) đã ghi nhận nhiều vụ khiếu nại do Hàn Quốc thực hiện thành công với biện pháp chống bán phá giá của đối tác thương mại như sau:
- Trong vụ khiếu nại Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với ti vi màu của Hàn Quốc, tháng 7/1997 Hàn Quốc đã gửi yêu cầu tham vấn về việc Mỹ duy trì thuế chống bán phá giá 12 năm cho sản phẩm xuất khẩu này của Hàn
Trang 37Quốc Sau đó Mỹ đã tuyên bố chính thức huỷ bỏ việc áp thuế này vào ngày 27/8/1998 trong cuộc họp của DSB ngày 22/9/1998, Hàn Quốc đã chính thức rút đơn yêu cầu
- Trong vụ khiếu nại Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm bộ nhớ điện tử (DRAMS), do Mỹ không đồng ý việc huỷ bỏ việc áp thuế, ngày 6/11/1997 Hàn Quốc đã gửi yêu cầu thành lập Hội đồng giải quyết vụ việc lên WTO Sau khi xem xét vụ việc, đến ngày 18/3/1999, DSU phê chuẩn thông cáo của Hội đồng rằng, trong trường hợp này Hoa Kỳ đã vi phạm Điều 11.2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO Sau đó Hoa Kỳ đã phải sửa đổi một
số quy định của USDOC cho phù hợp với chuấn mực của WTO, và đến 22/10/2000 các bên thông báo đạt được thoả thuận chung, trong đó có việc đình chỉ biện pháp chống bán phá giá sau cuộc rà soát cuối kỳ
- Trong vụ khiếu nại Mỹ áp dụng chống bán phá giá đối với hai sản phẩm thép thanh và thép lá, Hàn Quốc yêu cầu DSU xem xét về sai sót của USDOC trong việc tính toán biên độ phá giá Trong vụ này EU và Nhật Bản tham gia với tư cách là bên thứ ba có liên quan Bất chấp kháng nghị của phía Mỹ, ngày 01/02/2001, DSU đã phê chuẩn thông cáo của Hội đồng giải quyết vụ việc và đặt ra thời hạn 7 tháng để sửa đổi sai sót Tháng 8/2001 USITC đã phải ra thông báo về việc tính toán lại biên độ phá giá và giảm mức thuế chống bán phá giá Trong cuộc họp của DSU ngày 10/9 cùng năm, Mỹ thông báo chấp nhận những khuyến nghị của DSU và Hàn Quốc tuyên bố chấp nhận giải pháp đưa ra
Thắng lợi trong các vụ việc khiếu nại trên giúp Hàn Quốc có thêm kinh nghiệm và vững tin rất nhiều trong việc sử dụng các công cụ giải quyết tranh chấp của WTO bảo vệ mình Tiếp theo các vụ khiếu nại đối với biện pháp chống bán phá giá, Hàn Quốc còn tiếp tục mở rộng hoạt động khiếu nại sang các lĩnh vực khác, ví dụ như khiếu nại Mỹ trong các vụ việc áp dụng biện
Trang 38pháp tự vệ đối với sản phẩm thép nhập khẩu và điều tra chống trợ cấp đối với DRAMS, khiếu nại EU về các biện pháp hạn chế thương mại vận tải hằng hải Kết hợp với việc sử dụng biện pháp khiếu nại, Hàn Quốc có định hướng tốt trong việc xây dựng cơ chế liên minh, hợp tác để tăng vị thế trong tranh chấp thương mại Ví dụ như việc Bộ thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc chủ động thành lập Ban liên hiệp Chính phủ và doanh nghiệp của Hàn Quốc và Châu Âu nhằm đối phó với các vụ kiện Mỹ trong ngành thép Tháng 11/2001, bất chấp sự phản đối của phía Mỹ, Hàn Quốc cùng Nhật Bản, Brazil
đã thành công trong việc đưa vấn đề chống bán phá giá vào chương trình nghị
sự của vòng đàm phán Doha của WTO, cáo buộc Mỹ lạm dụng biện pháp chống bán phá nhằm mục đích bảo hộ, yêu cầu cụ thể và chuẩn mực hoá các quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO
Cũng có thể thấy rằng tuỳ vào từng đối tượng và vụ việc cụ thể, Hàn Quốc
có các cách xử lý mềm dẻo và linh hoạt Chẳng hạn như đối với Trung Quốc, quốc gia mới gia nhập WTO và là thị trường láng giềng, Hàn Quốc không sử dụng biện pháp khiếu nại lên WTO mà thương lượng trực tiếp với các bên liên quan để giảm nhẹ thiệt hại Các công ty Hàn Quốc cũng tích cực đầu tư trực tiếp vào thị trường Trung Quốc, đẩy mạnh sản xuất tại chỗ thay cho việc xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này Hay ngay cả đối với Mỹ, Hàn Quốc cũng sử dụng song song hai biện pháp khiếu nại lên WTO và thương lượng trực tiếp để gây sức ép từ nhiều phía, ví dụ như trong các vụ kiện ti vi mầu nói trên, sau khi thương lượng đạt được thoả thuận với phía Mỹ, Hàn Quốc đã thông báo rút đơn khiếu nại tại WTO [10, tr 88,89]
1.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu, phân tích thực tiễn và kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, có thể rút ra bài học hữu ích cho Việt Nam Điều cần nhấn mạnh ở đây là cùng với việc
Trang 39phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu, phần lớn các nước đều phải đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá Số lượng các vụ kiện chống bán phá giá tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Phần lớn các sản phẩm hàng hoá là đối tượng bị kiện thường tập trung vào những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, giá nhân công thấp và có lợi thế về điều kiện tự nhiên, môi trường Để chống lại các vụ kiện chống bán phá giá ta cần phải:
- Cách làm có hiệu quả nhất là các doanh nghiệp chủ động đứng lên kháng kiện không những giúp doanh nghiệp tự bảo vệ mình mà còn bảo vệ cho cả ngành công nghiệp, cho các doanh nghiệp liên quan Thuế chống bán phá giá
sẽ được áp đặt cho tất cả các doanh nghiệp có hàng xuất khẩu với các mức khác nhau, vì thế khi bị kiện, rất cần có sự tham gia ủng hộ của tất cả các doanh nghiệp Nếu đứng ngoài sẽ bị áp đặt mức thuế suất cao nhất Điều cốt yếu nhất là các doanh nghiệp đã ý thức được tính hệ trọng của vấn đề, cùng thống nhất có thái độ tích cực tiến hành kháng cáo Ngoài ra ở một số nước công nghiệp phát triển có hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện nếu biết vận dụng vũ khí pháp luật để đấu tranh có lý, có tình, thì sẽ có thể bảo vệ được quyền lợi của các doanh nghiệp xuất khẩu Do đó cung đoàn kết thống nhất để tích cực kháng kiện là một bài học quan trọng
- Phối hợp, đoàn kết các doanh nghiệp dưới sự chỉ đạo, điều phối chung của Hiệp hội ngành hàng Để có chiến lược, chiến thuật kháng kiện hiệu quả, hiệp hội ngành hàng cần hướng dẫn, chỉ đạo doanh nghiệp để: Có chiến lược tổng thể và chiến thuật, giải pháp cho từng giai đoạn điều tra một cách chủ động và linh hoạt; Xác định các bị đơn bắt buộc có thể bị kiện; nghiên cứu phương án lựa chọn quốc gia thay thế; thu thấp số liệu về khối lượng và doanh số bán hàng từ các nhà sản xuất/ xuất khẩu lớn nhất để xác định những ai trong số các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng trở thành bị đơn bắt buộc
Trang 40- Hoàn thiện hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán, chế độ lưu giữ tài liệu, hệ thống quản trị kinh doanh, nâng cao năng lực nguồn nhân lực nhằm dáp ứng tương thích với trình độ yêu cầu quốc tế là những điều kiện cơ bản để kháng kiện thành công Đáng tiếc là các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu trong những lĩnh vực này
- Bên cạnh việc tận dụng tư cách của thành viên WTO khi đưa ra những vấn đề, những quyết định sơ bộ, cuối cùng và các nội dung khác của các vụ kiện chống bán phá giá ra khiếu nại tổ chức này, các nước này còn thúc đẩy mạnh mẽ các biện pháp vận động hành lang cấp Chính phủ- Chính phủ, quan
hệ công chúng, đàm phán song phương, mặc cả thương mại để giải quyết vụ kiện có lợi cho mình Ngoài ra trong việc giải quyết tranh chấp thương mại hàng hoá quốc tế, một phương thức nữa mà Việt Nam có thể tham khảo các nước láng giềng với ta đã thực hiện bằng việc đưa các chuyên gia hàng đầu của mình tham gia tích cực trên các diễn đàn, các tổ chức uy tín quốc tế để tạo tiếng nói mạnh mẽ hơn, chính thức hơn trên sân chơi quốc tế Một sân chơi
mà từ trước đến nay dường như các luật chơi của nó lại được đưa ra và điều khiển bởi các nước phát triển
- Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật chống bán phá giá cho cộng đồng các doanh nghiệp đều được các nước đặc biệt quan tâm Công tác thị trường, cung cấp thông tin, nghiên cứu điều tra, đánh giá và cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá nhằm đưa ra những biện pháp phòng chống sớm cũng được các nước đặc biệt quan tâm Là một bộ phận không thể tách rời trong công tác cảnh báo sớm này là thuê luật sư
có kinh nghiệm và có năng lực, đó là điều kiện quan trọng đảm bảo giành quyền thắng lợi trong vụ kiện
- Vấn đề “kinh tế thị trường” cũng là một công tác trọng tâm mà Chính phủ Trung Quốc đặc biệt triển khai trong công tác đối ngoại thời gian qua với