1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam

105 486 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU đã phản ánh rất đầy đủ tất cả các xu thế phát triển về kinh tế nói chung và thương mại nói riêng trên thế giới hiện nay.. Tiến tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

***********

VŨ THỊ NGUYỆT NGA

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC – LIÊN MINH CHÂU ÂU

(EU) VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

Mã số : 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Tạ Kim Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Mục lục

Bảng các chữ viết tắt

Lời mở đầu 1

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế và sự cần

thiết khách quan của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU

1.2 Các xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới và sự cần thiết của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU

1.4 Lợi ích của Trung Quốc trong quan hệ thương mại với EU 22

Chương 2 Thực trạng quan hệ thương mại Trung Quốc - EU trong giai

đoạn từ 1990 đến nay và tác động của nó đến Việt Nam

24

2.1 Chính sách lâu dài của EU đối với Trung Quốc 24

Trang 4

2.1.1 Tổng quan về quan hệ Trung Quốc – EU 24 2.1.2 Chiến lược lâu dài của EU đối với Trung

2.4 Tác động của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU đến nền kinh tế

Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

52

2.4.1 Những đặc điểm của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU 49 2.4.2 Tác động của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU đến nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

52

Chương 3 Giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại

Việt Nam – EU

63

3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình phát triển quan hệ thương mại với EU

63

3.2 Quan điểm của Việt Nam về việc phát triển quan hệ thương mại Việt

Nam – EU

66

3.2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam – EU và triển vọng 66 3.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – EU

67

3.3 Những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – EU 71

3.3.1 Cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam 71

Trang 5

3.3.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng xuất khẩu 74 3.3.3 Phát triển nguồn nhân lực 79 3.3.4 Tăng cường xúc tiến thương mại của Việt Nam đối với

EU

82

Kết luận 87 Các bảng số liệu

Tài liệu tham khảo

Trang 6

BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

Bảng 1 Khu vực xuất khẩu của Trung Quốc (% tổng lượng hàng xuất khẩu)

(Tài liệu tham khảo số 30)

Năm Hoa Kỳ EU Nhật Bản NIEs Khu vực

Bảng 2 Tỷ lệ hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước và khu vực khác

nhau trong năm 1999 (%)

(Tài liệu tham khảo số 31)

Châu

Á

Mỹ Latinh

Châu Phi

Khu vực khác

Trang 8

- Các sản phẩm công

nghiệp khác

Bảng 3 Luồng FDI trong giai đoạn 1987 – 2000

(Tài liệu tham khảo số 29)

Đơn vị: Triệu USD

Bảng 4 Ngoại thương và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc ở một số năm

(Tài liệu tham khảo số 17)

1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

(tỷ USD)

Trang 9

2 Tổng sản phẩm quốc dân

(Tỷ Nhân dân tệ)

3 Tỷ giá hối đoái

(Nhân dân tệ/USD)

Bảng 5 Tổng kim ngạch ngoại thương sau khi Trung Quốc gia nhập WTO

(Tài liệu tham khảo số 4) Đơn vị: Tỷ USD, và tỷ lệ %

Năm Tổng kim ngạch xuất nhập

khẩu

Tỷ lệ tăng so với năm trước

Bảng 6 Mức độ bảo hộ đối với các ngành công nghiệp tại Trung Quốc (%)

(Tài liệu tham khảo số 27)

Ngành công nghiệp 1995 2001 Sau khi Trung Quốc gia

nhập WTO

Trang 10

Bảng 7 Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch

xuất khẩu của Việt Nam ( 1994 – 2000)

(Tài liệu tham khảo số 9)

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thế giới trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 được khắc họa bởi rất nhiều đặc điểm phát triển mới, trong đó nổi bật là: các nền kinh tế quốc gia lớn, nhỏ ngày càng tương thuộc chặt chẽ với nhau và đang kết nối thành một mạng lưới thống nhất trên quy mô toàn cầu; các nền kinh tế quốc gia và khu vực đang xúc tiến quá trình liên kết, hội nhập và mở cửa theo hướng tự do hoá

Theo xu hướng trên, xuất hiện hàng loạt các mô hình liên kết kinh tế khu vực và thế giới nhiều cấp độ Trong các mô hình liên kết kinh tế hiện nay,

mô hình có hiệu quả nhất là mô hình liên kết của liên minh Châu Âu (EU) Cho đến nay, EU đã trở thành một tổ chức của 25 quốc gia Châu Âu có tính thống nhất cao về kinh tế, chính trị và xã hội Và đặc biệt là vấn đề thống nhất tiền tệ và đẩy mạnh việc thành lập và hoàn thiện thị trường nội bộ EU thống nhất Với xu thế phát triển trên, EU ngày nay đã trở thành một cực kinh tế có vai trò rất quan trọng trên thế giới

Cũng trong những năm cuối của thế kỷ 20, tình hình thực tế của đất nước và bối cảnh quốc tế đã buộc Trung Quốc phải thay đổi phương thức quản lý, tiến hành cải cách, mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Với định hướng phát triển đó, EU đã trở thành một đối tác quan trọng của Trung Quốc Hiện nay, Trung Quốc và EU đã xác định được một quan hệ bền chặt hợp tác và cùng phát triển mọi mặt, trước nhất và quan trọng nhất là trên lĩnh vực thương mại Mối quan hệ này đã được hai bên xác định trong các chiến lược phát triển của mình

Dưới tác động đa chiều của các biến cố trong nền kinh tế thế giới, mối

Trang 13

thế phát triển rất phức tạp Quan hệ giữa Trung Quốc và EU không dừng ở mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc với các quốc gia thành viên EU

mà còn là ở mối quan hệ giữa Trung Quốc và toàn EU với tư cách là khối liên kết kinh tế lớn trên thế giới Có thể nói, mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU đã phản ánh rất đầy đủ tất cả các xu thế phát triển về kinh tế nói chung và thương mại nói riêng trên thế giới hiện nay Hơn thế nữa, mối quan

hệ này còn có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới Vì vậy, những nhận định về mối quan hệ thương mại Trung Quốc và EU không chỉ những phán đoán thông thường mà phải là kết quả của việc nghiên cứu nghiêm túc trên các cơ sở khách quan và một góc nhìn toàn diện

Trong quá trình phát triển, Trung Quốc và Việt Nam đã bộc lộ nhiều đặc điểm tương đồng Tiến trình và kết quả của mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU tác động trực tiếp tới quá trình phát triển hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam hiện nay

Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như vậy nên tôi chọn đề tài nghiên cứu

cho luận văn thạc sỹ của mình là: “Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên

minh Châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những thập kỷ gần đây, cả Trung Quốc và EU đang nổi lên là những đối trọng lớn trong nền kinh tế thế giới Những động thái của hai chủ thể này là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Trung Quốc và về EU Có thể

Trang 14

- “Chính sách lâu dài của Liên minh Châu Âu đối với Trung Quốc và quan hệ mậu dịch song phương”, theo tạp chí “Kinh tế thế giới” (Trung Quốc)

- “Tình hình và triển vọng kinh tế Trung Quốc” của các tác giả Trung Quốc: Mã Hồng và Tôn Tượng Thanh do NXB Chính trị quốc gia, HN, 1998

- “Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU” của Th.S Đỗ Thanh Hà, theo tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 15(58) tháng 4/2005 Cùng một số tác phẩm được xuất bản trong các tạp chí chuyên ngành khác

Tuy nhiên, phần lớn các công trình này đều chỉ là những nghiên cứu độc lập hoặc về Trung Quốc hoặc về EU, có rất ít tác phẩm nghiên cứu về mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU Vả lại, các tác phẩm này mới chỉ đề cập đến mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU ở một số khía cạnh nhất định Vì vậy, một nghiên cứu mang tính hệ thống và khái quát tất cả các đặc điểm của mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc – EU và tác động đến Việt Nam là một vấn đề hoàn toàn mới và cần thiết

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: quan hệ thương mại Trung Quốc - EU, bao gồm

cả các mối quan hệ song phương và đa phương Tác động của mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc – EU tới Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU đã hình thành từ lâu, nhưng thực sự khởi sắc từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc (từ

Trang 15

năm 1990 trở đi) và bộc lộ những xu thế vận động rõ nét Vì vậy, tôi chọn phạm vi nghiên cứu là từ năm 1990 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích

hệ thống, phương pháp so sánh và áp dụng phương pháp thống kê học để xử

lý số liệu

5 Những đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hoá lý thuyết về thương mại quốc tế, làm rõ cơ sở thực tiễn của mối quan hệ thương mại Trung Quốc - EU

- Phân tích thực trạng mối quan hệ thương mại Trung Quốc - EU,

- Phân tích những tác động của mối quan hệ thương mại Trung Quốc -

EU tới Việt Nam

- Khuyến nghị về những giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ Việt Nam - EU

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế và

sự cần thiết khách quan của quan hệ thương mại Trung Quốc - EU

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Trung Quốc - EU trong

giai đoạn từ 1990 đến nay và tác động của nó đến Việt Nam

Chương 3: Giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương

mại Việt Nam - EU

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC

TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA QUAN HỆ

THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC – EU

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế

Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán Sự trao đổi đó là một hình thức của quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia

Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, có thể là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực hoặc thị trường của nước xuất khẩu hay nước nhập khẩu, ở đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá của các bên tham gia trao đổi

Các bên tham gia thương mại quốc tế là những người khác quốc gia, có thể là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể hoặc tư nhân.Mục đích tham gia thương mại quốc tế của họ là có lợi trong việc trao đổi

Hàng hoá trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hoá vật chất, hàng hoá dịch vụ… Trao đổi quốc tế hàng hoá vật chất gọi là thương mại hàng hoá quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là ngoại thương Hàng hoá vật chất là những hàng hoá tồn tại dưới dạng vật chất, định lượng được, dự trữ được như hàng hoá lương thực thực phẩmvà phi lương thực thực phẩm Trong trao đổi, người mua và người bán mua bán với nhau quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hoá Do có sự cách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên giới từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Cùng với các nghiệp vụ

Trang 17

mua, bán hàng hoá có cả dịch vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo quản, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế…

Trao đổi quốc tế hàng hoá dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ Hàng hoá dịch vụ là những hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó định lượng được, không dự trữ được Quá trình cung cấp diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ (sử dụng) hàng hoá dịch vụ Trong trao đổi, người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (người nhận dịch vụ) mua bán với nhau về quyền sử dụng hàng hoá dịch vụ Do có sự cách biệt về địa lý giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ, hàng hoá dịch vụ có thể di chuyển hoặc không di chuyển qua biên giới

Phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa người mua và người bán là đồng tiền có khả năng chuyển đổi

Vai trò của thương mại quốc tế

Ngày nay, khối lượng thương mại thế giới thông qua xuất khẩu tăng lên rất nhanh Thông qua xuất nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mà ở nền kinh tế tự cung tự cấp không bao giờ có được Đặc biệt với các nước đang phát triển, nhờ thương mại quốc tế, họ có được cơ hội tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, tạo ra tích luỹ, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Các nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và quốc tế hoá theo hướng hình thành một thị trường thế giới đông nhất nên sự phụ thuộc giữa các quốc gia thông qua thương mại ngày càng tăng lên

Thương mại quốc tế là cầu nối trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng giữa các nước Chính vì vậy mà nó có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước:

Trang 18

+ Thương mại quốc tế tác động vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất và tiêu dùng theo

hướng phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

+ Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nước hay nói cách khác là nó làm thay đổi phương thức sản xuất và phương thức tiêu dùng Thương mại quốc tế cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn của khả năng sản xuất trong nước khi thực hiện chế độ tự cung, tự cấp, không buôn bán

+ Thương mại quốc tế còn làm cho thu nhập GDP tăng lên, cải thiện đời sống của nhân dân

+ Thương mại quốc tế giúp cho các nước thoả mãn nhu cầu về văn hoá, nâng cao trình độ văn hoá, quan hệ với nhiều nước trên thế giới, nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế

+ Thương mại quốc tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Một số lý thuyết thương mại quốc tế

Các lý thuyết về thương mại quốc tế đã có một lịch sử lâu đời Các lý thuyết dau bổ sung và hoàn thiện những lý thuyết trước nhằm giải thích sâu sắc hơn bản chất và những yếu tố quyết định thương mại quốc tế Sau đây, tôi xin trình bày một số lý thuyết thương mại quốc tế điển hình

Học thuyết trọng thương

Quan điểm của trường phái Trọng thương về thương mại quốc tế ra đời vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 Học thuyết Trọng thương cho rằng, mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ; muốn gia tăng khối lượng tiền tệ của một nước thì con đường chủ yếu phải phát triển ngoại thương tức là phát triển buôn bán với

Trang 19

nước ngoài; lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa trọng thương là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lừa gạt Trong trao đổi phải có một bên thua và một bên được và trong thương mại quốc tế thì dân tộc này làm giầu bằng cách

hy sinh lợi ích của dân tộc khác; phái Trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều khiển kinh tế thông qua bảo hộ, cụ thể là Nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith bắt đầu từ giữa thế kỷ 18 Adam Smith đã đưa ra các giả thiết sau:

+ Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng

+ Chi phí vận chuyển bằng 0

+ Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia

+ Thương mại là hoàn toàn tự do

Theo Adam Smith mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá và những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghĩa sử dụng những lợi thế tuyệt đối

đó cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí thấp hơn các nước khác Hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được hiện tượng: Một nước có lợi thế hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế nào cả thì chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế là ở đâu và thương mại quốc tế sẽ diễn ra như thế nào đối với các nước này

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh của David Ricardo

Để xây dựng lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh, Ricardo đã đưa ra một số giả thiết sau:

+ Chỉ có hai quốc gia và hai loại sản phẩm

Trang 20

+ Thương mại tự do

+ Không có chi phí vận chuyển

+ Chi phí sản xuất là cố định

+ Lao động được di chuyển trong phạm vi mỗi quốc gia nhưng không được di chuyển giữa các quốc gia

+ Lý thuyết tính giá trị bằng lao động

Theo lý thuyết này mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép

mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước Một quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác Những lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác

Hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được nguồn gốc phát sinh lợi thế của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, do vậy không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của qúa trình thương mại quốc tế

Lý thuyết về chi phí cơ hội của Haberler

Vào năm 1936, Haberler đã dựa trên lý thuyết chi phí cơ hội để giải thích quy luật lợi thế so sánh Theo lý thuyết này, chi phí cơ hội của một sản phẩm là số lượng của một sản phẩm khác mà người ta phải hy sinh để có đủ tài nguyên sản xuất tăng thêm một đơn vị sản phẩm thứ nhất

Theo lý thuyết của Haberler, trong điều kiện chi phí cơ hội là không đổi thì đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia là một đường thẳng biểu

thị sự kết hợp thay thế lẫn nhau giữa hai sản phẩm mà quốc gia có thể lựa

chọn trong điều kiện sử dụng toàn bộ nguồn lực với kỹ thuật là tốt nhất

Trang 21

Trong trường hợp không có thương mại, đường giới hạn khả năng sản xuất cũng chính là giới hạn tiêu dùng của quốc gia

Lý thuyết Heckscher - Ohlin

Khái niệm hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố: Lý

thuyết Haberler - Ohlin được xây dựng trên hai khái niệm cơ bản là hàm

lượng (hay độ sử dụng) các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố Một mặt hàng được coi là sử dụng nhiều (một cách tương đối) lao động nếu tỷ lệ giữa lượng lao động và yếu tố khác như vốn, đất đai sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng các yếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng thứ hai Tương tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và các yếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng được coi là có hàm lượng vốn cao

Lưu ý rằng, định nghĩa về hàm lượng vốn (hay hàm lượng lao động) không căn cứ vào tỷ lệ giữa vốn (hay lao động) mà được phát biểu dựa trên tương quan giữa lượng vốn và lao động cần thiết để sản xuất một đơn vị sản lượng

Một quốc gia được coi là dồi dào một yếu tố sản xuất của một quốc gia

được đo không phải bằng số lượng tuyệt đối mà bằng tương quan giữa số lượng yếu tố đó với các yếu tố sản xuất của quốc gia

Xuất phát từ các khái niệm cơ bản trên thì nội dung của định lý

Heckscher - Ohlin có thể tóm tắt như sau: "Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia"

Lý thuyết Heckscher - Ohlin được xây dựng dựa trên một loạt các giả thiết đơn giản sau đây:

+ Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất là lao động và vốn, 2 mặt hàng

+ Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa 2 quốc gia

Trang 22

+ Sản suất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo quy mô, còn mỗi yếu tố sản xuất thì có năng suất cận biên giảm dần

+ Hàng hoá khác nhau về hàm lượng các yếu tố sản xuất và không có

sự hoán đổi hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương quan nào

+ Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên thị trường hàng hoá lẫn thị trường yếu tố sản xuất

+ Chuyên môn hoá là không hoàn toàn

+ Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia

+ Sở thích là giống nhau giữa 2 quốc gia

+ Thương mại là tự do, chi phí vận chuyển bằng 0

Dựa trên lý thuyết Heckscher - Ohlin thì có thể hình dung rằng những nước giầu tài nguyên thiên nhiên sẽ là những nước xuất khẩu chính tài nguyên

đó trên thị trường thế giới Chẳng hạn, Arập Xêút xuất khẩu dầu lửa, Zambia xuất khẩu đồng, Jamaica xuất khẩu quặng bô xít v.v… Những nước có nguồn nhân công lớn và tương đối rẻ thì tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng chế biến sử dụng nhiều lao động

Các lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế

Các lý thuyết này có thể phân thành 3 nhóm dựa vào cách tiếp cận của chúng: lý thuyết dựa trên hiệu suất theo quy mô; lý thuyết liên quan đến công nghệ; lý thuyết liên quan đến cầu

a Thương mại quốc tế dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô

Một trong những lý do quan trọng dẫn đến thương mại quốc tế là tính hiệu quả tăng dần theo quy mô Sản xuất được coi là có hiệu quả nhất khi được tổ chức trên quy mô lớn Lúc đó một sự gia tăng đầu vào với tỷ lệ nào

đó sẽ dẫn tới sự gia tăng đầu ra (sản lượng) với tỷ lệ cao hơn

Trang 23

b Thương mại dựa theo sự biến đổi của công nghệ

Về thực chất, các lý thuyết thương mại liên quan đến công nghệ cũng theo đuổi cách tiếp cận chủ yếu của lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tương đối của David Ricardo, nhưng điểm khác là ở chỗ sự khác biệt về công nghệ được coi không phải là yếu tố tĩnh và tồn tại mãi mãi: nó chỉ là hiện tượng tạm thời và gắn liền với một quá trình động, liên tục phát triển

c Lý thuyết về khoảng cách công nghệ

Lý thuyết về khoảng cách công nghệ được Posner đưa ra vào năm

1961 Nó dựa trên ý tưởng rằng công nghệ luôn luôn thay đổi dưới hình thức

ra đời các phát minh và sáng chế mới và điều này tác động đến xuất khẩu của các quốc gia

d Lý thuyết vòng đời sản phẩm

Về thực chất lý thuyết vòng đời sản phẩm chính là sự mở rộng của lý thuyết khoảng cách công nghệ Các phát minh có thể ra đời ở các nước giàu, nhưng điều đó không có nghĩa là quá trình sản xuất sẽ chỉ được thực hiện ở các nước đó thôi Lý thuyết khoảng cách công nghệ chưa trả lời được câu hỏi

là phải chăng các hãng phát minh sẽ tiến hành sản xuất tại những nước có điều kiện thích hợp nhất (tài nguyên, các yếu tố sản xuất) đối với mặt hàng mới Theo Vernon (1966) các nhân tố cần thiết cho sản xuất một sản phẩm mới sẽ thay đổi tuỳ theo vòng đời sản phẩm đó

Lý thuyết về sự tác động của thương mại quốc tế với nước lớn và nước nhỏ

Các lý thuyết về thương mại quốc tế ở trên đã trình bày mối quan hệ thương mại giữa các nước với giả định các nước đều ngang bằng nhau xét về tổng thể Nhưng trên thực tế, tồn tại các mối quan hệ thương mại giữa các quốc gia mà khoảng cách về tiềm lực kinh tế giữa chúng là rất lớn

Trang 24

Giả định: Nước nhỏ là nước không có khả năng tác động đến các điều kiện mậu dịch Nước lớn là nước có khả năng tác động mạnh mẽ đến các điều kiện mậu dịch Các nhà kinh tế học đã chỉ ra tác động của thuế quan đến nước nhỏ là:

+ Khi có thuế quan thì phúc lợi sẽ trở nên ít hơn so với tự do mậu dịch + Phúc lợi giảm là kết quả của việc người tiêu dùng và sản xuất trong nước đều chịu những mức giá khác với mức giá thế giới Tổn thất về phúc lợi

là do sản xuất không hiệu quả

+ Thuế quan làm thu hẹp buôn bán Sau khi có thuế quan, xuất và nhập khẩu đều giảm

Khi đề cập đến thuế quan với một nước lớn thì tác động của thuế quan

là không rõ ràng Bởi theo nguyên tắc khi đánh thuế là khiến cho khối lượng thương mại giảm, lợi ích từ thương mại giảm Tuy nhiên, khác với nước nhỏ - điều kiện mậu dịch được ấn định, thì ở nước lớn điều kiện mậu dịch có thể tăng hoặc giảm, khi đó lợi ích từ thương mại cũng có thể tăng hoặc giảm Do vậy, nếu điều kiện mậu dịch giảm, thì cũng như trong trường hợp với nước nhỏ, lợi ích từ thương mại giảm Mặt khác, nếu điều kiện mậu dịch được cải thiện thì lợi ích từ thương mại tăng

Bằng nhiều cách, việc nghiên cứu thương mại quốc tế đã lý giải được những phúc lợi mà thương mại quốc tế đem lại Đây chính là luận điểm khẳng định tính tất yếu khách quan của thương mại quốc tế, là nguyên nhân tại sao

đã từ lâu các nước tích cực tham gia trao đổi với nhau thông qua nhiều hình thức và nhiều phương tiện Mối quan hệ thương mại Trung Quốc – EU không những không nằm ngoài quy luật này mà còn đang tích cực khai thác những lợi ích có được từ việc trao đổi với nhau đem lại

Các xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới và sự cần thiết của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU

Trang 25

Xu thế toàn cầu hóa kinh tế:

Toàn cầu hoá là kết quả của sự bùng nổ của công nghệ thông tin thế giới, nó bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại và về thực chất,

nó là hiện tượng kinh tế Toàn cầu hoá kinh tế, xét cho cùng, là hệ quả của những biến đổi trong lĩnh vực công nghệ truyền thông và thông tin và chính 3 nhân tố: công nghệ – kỹ thuật, thông tin và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá

Do đó, cũng có thể nói, xu thế toàn cầu hoá bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên quy mô quốc tế Bản chất của toàn cầu hoá là một tiến trình khách quan, là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các quy tắc thương mại và đây là một quá trình chưa kết thúc Với nền kinh tế toàn cầu hoá, việc tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trong phạm vi một nước đã nhanh chóng chuyển sang tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trên phạm vi thế giới và theo đó, sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều vượt ra ngoài biên giới quốc gia dân tộc

Vì vậy, toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước và các khu vực Theo cách hiểu này, toàn cầu hoá ngày nay là sản phẩm của văn minh nhân loại và do đó, nó là cơ hội để mọi quốc gia đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy sự phát triển toàn cầu

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thể hiện những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, toàn cầu hoá kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự phát triển nhanh chóng của các quan hệ kinh tế thương mại chu chuyển trên phạm vi quốc tế, trong đó, toàn cầu hoá về tài chính là đặc điểm nổi bật chi phối các

Trang 26

tiến trình tự do hoá về thương mại, dịch vụ và đầu tư đã kết với nhau thành một mạng trên quy mô toàn cầu

Thứ hai, tính chất xã hội hoá sản xuất quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu xác lập vai trò quyết định và năng động của công tác quản lý Công tác quản

lý được sự góp sức đắc lực của công nghệ thông tin

Thứ ba, hình thành sân chơi chung bình đẳng cho mọi nền kinh tế, bất

kể đó là nền kinh tế thuộc trình độ và xuất phát điểm phát triển như thế nào Thị trường trong toàn cầu hoá, do đó, được hiểu là thị trường mở và các nền kinh tế quốc gia tự nguyện mở cửa nền kinh tế nước mình để trên cơ sở các lợi thế so sánh vốn có sẽ hội nhập hiệu quả vào các thị trường khu vực và thế giới

Thứ tư, trong nền kinh tế toàn cầu, các chính sách kinh tế của quốc gia dân tộc có chủ quyền chịu sự quyết định của 4 chủ thể: quốc gia dân tộc có chủ quyền; các khối kinh tế khu vực (ví dụ: ASEAN, EU, ); các thể chế kinh

tế quốc tế (IMF, WB, ) và các công ty xuyên quốc gia Bốn chủ thể này trên thực tế luôn ảnh hưởng lẫn nhau, ràng buộc, hợp tác và đương nhiên có xung đột với nhau

Thứ năm, trong nền kinh tế toàn cầu hoá, xu hướng khu vực hoá và liên kết quốc tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết Kể từ đầu thập niên 90, hàng loạt các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế dưới nhiều cấp độ và mang tính thể chế ngày càng cao, đã ra đời Có thể khẳng định, khu vực hoá là biểu hiện của toàn cầu hoá ở phạm vi địa lý hẹp hơn

Ngày nay, các nước đang rất tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hoá thể hiện qua các quan hệ thương mại, đầu tư song phương và đa phương Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU không nằm ngoài xu hướng này Mục đích tham gia quá trình toàn cầu hoá của các nước là bởi kỳ vọng đạt được những lợi ích mà toàn cầu hoá mang lại:

Trang 27

+ Toàn cầu hoá thúc đẩy rất mạnh và rất nhanh sự phát triển và xã hội hoá của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế thế giới Theo đó, nó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt là sự giảm dần tỷ trọng các sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo và tăng mạnh tỷ trọng của các ngành dịch vụ, đặc biệt là các ngành dịch vụ dựa vào công nghệ mới Đây là tiền đề rất quan trọng cho sự phát triển xã hội mới – hiện đại của con người

+ Toàn cầu hoá truyền bá và chuyển giao trên quy mô lớn những thành quả mới mẻ, những đột phá sáng tạo về khoa học công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh đưa kiến thức, kinh nghiệm đến mọi quốc gia dân tộc, đến từng gia đình, từng người, dọn đường cho các quốc gia thực hiện công nghiệp hoá cũng như thực hiện bước chuyển sang kinh tế tri thức

+ Toàn cầu hoá kinh tế tạo khả năng phát triển rút ngắn và mang lại những nguồn lực rất quan trọng, rất cần thiết cho các nước đang phát triển và chuyển đổi; từ nguồn vốn tư bản hữu hình đến nguồn tri thức, kinh nghiệm, cả

về chiến lược dài hạn đến tổ chức tiến hành trên cả tầm vĩ mô quốc gia cũng như tầm vi mô của các doanh nghiệp và cá nhân

+ Toàn cầu hoá đã thúc đẩy cải cách sâu rộng nền kinh tế của mỗi quốc gia để bắt kịp và nâng cao khả năng cạnh tranh của nó trong nền kinh tế thế giới, chỉ rõ vị trí hàng đầu của yếu tố chất lượng, yếu tố thời gian, yếu tố nâng cao giá trị gia tăng để có sức cạnh tranh và hiệu quả trên những thị trường mới, đối tác mới với những cách thức hoạt động mới

+ Toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các dân tộc, kích thích các luồng và các dạng giao lưu, làm cho con người ở mọi châu lục ngày càng hiểu nhau, nắm được tình hình cập nhật ở mọi nước và theo đó, nó góp phần nâng cao dân trí và sự tự khẳng định của các dân tộc, của mỗi con người

Trang 28

Là hai nền kinh tế quan trọng trên thế giới, trong nội tại đang diễn ra quá trình phát triển và xã hội hoá mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, Trung Quốc và EU dường như không có sự lựa chọn nào khác là cùng cuốn theo chiều phát triển của xu thế toàn cầu hoá kinh tế Xu thế này bằng cách này hay khác, đã tác động khiến quan hệ thương mại Trung Quốc – EU ngày càng trở nên sâu sắc và thể hiện những xu hướng vận động rất đa dạng

Xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế là nội dung trọng tâm của các tiến trình quốc tế, các nước lớn không có lý do, cũng như tuỳ tiện tăng cường tiềm lực quân sự Để cho bầu không khí hoà bình, hợp tác và phát triển được coi là điều kiện cho sự phát triển kinh tế và các quan hệ quốc tế, các nước lớn

đã lần lượt điều chỉnh chiến lược của mình theo các quan hệ bạn bè, đối tác,

ổn định và cân bằng Đứng trước những mâu thuẫn, tranh chấp, con đường giải quyết của họ bắt đầu phổ biến là đối thoại, thoả hiệp, thương lượng và tránh xung đột đối đầu Các nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, tăng cường hiểu biết và đối thoại, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau đều được các nước lớn quán triệt sâu sắc trong khi xây dựng chính sách hữu nghị với các nước láng giềng Điều đặc biệt đáng chú ý là với tư cách những người

Trang 29

khởi xướng và dẫn dắt các quá trình liên kết khu vực và quốc tế, các nước lớn đều tỏ rõ vai trò quyết định của mình trong việc thúc đẩy các tiến trình này

Các nước đang phát triển và chuyển đổi cũng từng bước cải cách để chuyển đổi tích cực sang kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập quốc tế Họ lần lượt là thành viên của các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế và trong các diễn đàn quốc tế, tiếng nói của các nước nhỏ ngày càng có trọng lượng hơn Khi thương mại hàng hóa – dịch vụ toàn cầu đã kết nối thành một mạng thương mại điện tử rộng khắp, khi các dòng vốn quốc tế kết hợp chặt chẽ với nhau thì sự liên kết về chính sách phát triển ngày càng chặt chẽ hơn bao giờ hết và theo đó, cả thế giới đứng trước những rủi ro chung Sự đổ vỡ của một mắt xích nào trong hệ thống này sẽ dẫn đến sự đổ vỡ của cả hệ thống Do đó,

sự hợp tác để phát triển trên nhiều cấp độ: vĩ mô và vi mô, quốc gia và quốc

tế, khu vực và liên lục địa tất yếu sẽ là phổ biến Một thế giới hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển sẽ là dòng chảy chủ yếu của thế giới khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba

Xu hướng hoà bình hợp tác, phát triển là lâu dài bởi nó đáp ứng đúng nguyện vọng của tất thảy các quốc gia từ giàu có đến các nước chậm phát triển Sự đối đầu giữa Ixaraen và Palestin kéo dài nhiều thập kỷ đến nay giờ

đã chuyển sang đối thoại và hợp tác để giải quyết, quan hệ Trung – Nga từ chỗ bất đồng sâu sắc đã được cải thiện căn bản dựa trên cơ sở đối thoại, hợp tác và mối quan hệ ngày càng có phần “nồng nàn” hơn khi NATO mở rộng sang phía Đông: quan hệ căng thẳng giữa các nước Đông Dương và khối ASEAN đã chuyển sang đối thoại, hợp tác và đến này tất cả các nước này đều

đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN hoà bình, hợp tác và phát triển

Xu hướng hoà bình hợp tác, phát triển tác động đến sự phát triển kinh

tế của các quốc gia trên thế giới cũng theo cùng hướng với quá trình toàn cầu

Trang 30

hoá kinh tế Xu hướng này tác động đến các quốc gia trong những năm đầu thế kỷ XXI là lựa chọn chiến lược theo mô thức hội nhập tích cực vào nền kinh tế thế giới và khu vực để phát triển Nhờ đó, tạo cơ hội cho các nước đang phát triển có khả năng tiếp cận thị trường thế giới, với những công nghệ hiện đại, với những thành tựu mới trong quản lý, nhờ đó có cơ hội phát triển tăng tốc và rút ngắn được thời gian công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu tạo điều kiện cho các quốc gia kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy được nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo, đồng thời tranh thủ được tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển

Vị thế của EU trong nền kinh tế thế giới và chiến lƣợc của EU với châu Á

Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành của EU là bản "Tuyên bố Schuman" của Bộ trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 09 tháng

05 năm 1950 với đề nghị đặt toàn bộ nền sản xuất gang thép của Cộng hoà liên bang Đức và Pháp dưới một cơ quan quyền lực chung, trong một tổ chức

mở cửa để các nước châu Âu khác cùng tham gia Sau đó, hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng Than - Thép châu Âu (ECSC), một tổ chức tiền thân của

EU ngày nay được ký kết 14/04/1951 với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức,

Italia, Bỉ, Hà Lan và Luxemburg

Trải qua không ít những thăng trầm trong gần một nửa cuối thế kỷ XX, giờ đây châu Âu đang dần lấy lại vị trí "trung tâm thế giới" của mình Đặc biệt trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, EU đã thực sự khẳng định được vị thế

là một trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh

tế đáng kể và tương đối ổn định EU tích cực "Đẩy mạnh nhất thể hoá" trên tất

cả các lĩnh vực từ kinh tế, tiền tệ, ngoại giao, an ninh đến nội chính và tư pháp Các quốc gia thành viên từng bước tập trung quyền lực quá độ tiến đến

Trang 31

thành lập Liên bang châu Âu Với việc kết nạp thêm Áo, Thuỵ Điển và Phần Lan vào năm 1995, số thành viên của EU lên đến 15 và hiện nay đang trong quá trình mở rộng, kết nạp thêm các nước Trung và Đông Âu Vào tháng 5/2004, với việc kết nạp thêm 10 thành viên Trung và Đông Âu, EU chính thức mở rộng quy mô với 25 nước thành viên Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là thực hiện nhất thể hoá xuyên quốc gia thay thế cho hợp tác thông thường EU đã trở thành một thị trường thống nhất với sức mua của gần 500 triệu người tiêu dùng

Chiến lược của EU đối với Châu Á

Mặc dù quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU với các nước trong khu vực châu Á đã có từ lâu, nhưng trong một thời gian tương đối dài sau Thế chiến thứ II, các nước lớn trong EU rất ít chú ý đến châu Á Nói cách khác đi, sau Thế chiến thứ II, vị trí của EU ở châu Á suy giảm, quan hệ kinh

tế cũng vì thế trở nên mờ nhạt nhường bước cho sự lấn sâu của Mỹ và Nhật Bản Đến cuối thập kỷ 1960, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với thị trường rộng lớn ở châu Mỹ La Tinh và tiềm năng khai thác nguyên liệu to lớn ở châu Phi đã hấp dẫn các nhà kinh doanh đầu tư châu Âu nhiều hơn khu vực châu Á Trong giai đoạn này, quan hệ của các nước EU với khu vực châu Á chủ yếu là viện trợ kinh tế Tuy vậy, từ đầu thập kỷ 1980 đến nay các nước châu Mỹ La tinh lần lượt lâm vào khủng hoảng nợ “Sân sau” của EU thay đổi, đồng thời tiềm năng kinh tế ngày càng tăng của châu Á với những đại biểu là các nền kinh tế công nghiệp châu Á (NIEs) đã buộc EU bắt đầu phải quan tâm đến châu lục này Vào đầu những năm 1990, EU đã lập ra nhiều chiến lược khác nhau liên quan tới châu Á, tới một số khu vực hoặc quốc gia riêng biệt của châu lục này Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, EU cố gắng phát triển đối thoại về mặt chính trị với châu Á và tìm kiếm những phương tiện cho phép phối hợp với châu Á ngày càng nhiều hơn trong việc giải quyết các công việc

Trang 32

của quốc tế, nhằm tạo ra một đối tác cân bằng sức mạnh có khả năng giữ một vai trò làm ổn định và xây dựng thế giới hiện nay

Để tranh thủ những khả năng mới này, EU đang gắng góp phần tích cực vào các cuộc đối thoại khu vực về việc giải quyết các vấn đề an ninh, và rất chú ý theo dõi diễn biến tình hình đặc biệt trong các lĩnh vực kiểm soát vũ trang, không phổ biến vũ khí hạt nhân, các cuộc xung đột khu vực và an ninh trên các tuyến đường biển EU thông qua những chiến lược quyết tâm hơn, đặt trọng tâm vào việc khai thác mạnh mẽ hơn và có mục tiêu chính xác hơn đối với sự hợp tác kinh tế nhằm khuyến khích buôn bán và đầu tư của châu

Âu

Ngay từ năm 1990, EU đã xây dựng một kế hoạch hợp tác nhiều năm (1991-1995) với các nước châu Á với tổng ngân sách là 1,79 tỷ ECU Đồng thời, các nước lớn ở EU đã liên tiếp khởi thảo các chính sách và áp dụng nhiều biện pháp nhằm đẩy nhanh nhịp độ quay trở lại châu Á Tháng 10/1993

để tăng cường quan hệ với các nước châu Á, CHLB Đức đã công bố “kế hoạch ngoại giao châu Á” với mục tiêu trong vòng 5 năm tăng tỷ trọng xuất khẩu sang châu Á từ 7% lên 10%

Một trong những vấn đề cấp bách hiện nay của EU là phải tăng cường

sự hiện diện về kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duy trì ảnh hưởng nổi trội nhất của mình trong nền kinh tế thế giới Việc thiết lập được sự hiện diện mạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở Châu Á sẽ cho phép EU bảo đảm được lợi ích của mình tại khu vực này vào đầu thế kỷ 21 sẽ được quan tâm đầy đủ

Để đạt được điều đó, tháng 7/1994, EU đã công bố “Hướng tới chiến lược châu Á mới” và xúc tiến thực hiện chiến lược này với các mục tiêu chủ yếu là:

Thứ nhất, tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại Châu Á nhằm duy trì vai trò nổi trội của mình trong nền kinh tế thế giới

Trang 33

Thứ hai, góp phần vào sự ổn định ở châu Á bằng cách khuyến khích hợp tác và hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế: về mặt này, EU đang mở rộng

và làm sâu sắc các mối quan hệ chính trị và kinh tế của mình với các nước châu Á

Thứ ba, khuyến khích sự phát triển kinh tế của các nước và khu vực kém thịnh vượng nhất EU và các nước thành viên tiếp tục góp phần giảm bớt

sự nghèo nàn và tạo một sự tăng trưởng bền vững ở các nước của khu vực này

Thứ tư, góp phần phát triển và củng cố nền dân chủ, nhà nước pháp quyền, cũng như về phương diện tôn trọng quyền con người và các quyền tự

- Hợp tác đa phương: EU đã bắt đầu một cuộc đối thoại rộng rãi với châu

Á trong khuôn khổ của tổ chức Liên Hợp Quốc về các vấn đề cùng quan tâm

có liên quan tới hoà bình và an ninh quốc tế Trong những năm gần đây, EU

đã tăng cường mạnh mẽ sự hợp tác kinh tế của mình với các nước châu Á

- Trợ giúp phát triển: các chương trình trợ giúp của Eu tập trung vào 2 hướng hợp tác chủ yếu là: trợ giúp phát triển cho các nước và tầng lớp nhân dân nghèo khó nhất; hợp tác kinh tế với các nước hoặc các khu vực có tiềm năng tăng trưởng mạnh

- Hợp tác thương mại: chính sách thương mại của EU, nhìn chung cũng như các nước đối với châu Á là luôn hướng về một sự thúc đẩy tích cực việc

tự do hoá thương mại trong khuôn khổ của một hệ thống đa phương với sự

Trang 34

tôn trọng mọi nguyên tắc và mọi cam kết có liên quan Trong phạm vi châu

Âu, những hoạt động khuyến khích nền thương mại cũng như các dòng đầu tư sang thị trường châu Á đang được tiến hành ở mọi cấp độ khác nhau trong toàn khu vực

Chiến lược mới đối với châu Á đã được EU hoạch định ra EU nhận thấy rất rõ lợi ích của mình trong sự hợp tác kinh tế, thương mại đối với châu

Á, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khu vực Đông và Đông Nam Á đang trở thành những tiêu điểm trên vũ đài kinh tế

Lợi ích của Trung Quốc trong quan hệ thương mại với EU

Trong quan hệ thương mại với EU, Trung Quốc kỳ vọng đạt được những lợi ích sau:

+ Việc tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với các quốc gia châu

Âu có ý nghĩa to lớn, tác động tích cực đến việc hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc, EU sẽ ủng hộ Trung Quốc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy Trung Quốc nhanh chóng gia nhập WTO, thông qua viện trợ kinh tế

và tăng cường đối thoại trong các lĩnh vực chính sách quan trọng, giúp Trung Quốc thành công trong tiến trình cải cách xã hội

+ EU với tư cách là một Liên minh kinh tế và tiền tệ lớn, một trong ba trung tâm kinh tế của thế giới, bắt tay với EU, Trung Quốc có cơ hội hợp tác kinh tế thương mại với nhiều nền kinh tế khác trên thế giới

+ Bên cạnh đó, trên cơ sở lý thuyết về lợi thế so sánh tương đối thì cơ cấu kinh tế của Trung Quốc và các nước châu Âu hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau

+ Góp phần ngăn chặn chủ nghĩa đơn cực của Mỹ, Trung Quốc kiên trì quan điểm trật tự thế giới cần phát triển theo hướng đa cực hoá Trung Quốc

hy vọng Trung Quốc và EU sẽ chiếm những vị trí quan trọng trong trật tự đa cực hoá này

Trang 35

Qua những phân tích trên, quan hệ thương mại Trung Quốc – EU là tất yếu khách quan, phù hợp với những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay Mối quan hệ này đang vận động với tư cách là những xu thế lớn trong nền kinh tế thế giới, nó không chỉ tác động trực tiếp đến cuộc sống của gần 2 tỷ dân cư sống tại Trung Quốc và EU

mà còn tác động gián tiếp đến nhiều bộ phận dân cư ở các nước và khu vực khác Là một nước láng giềng với Trung Quốc, những tác động của quan hệ thương mại Trung Quốc – EU nhất định có những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam Phân tích những tác động này sẽ gợi mở những giải pháp cho Việt Nam nhằm thúc đẩy một cách hiệu quả quan hệ thương mại Việt Nam – EU nói riêng và hội nhập kinh tế thế giới nói chung

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC - EU TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1990 ĐẾN NAY VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ

ĐẾN VIỆT NAM

2.1 Chính sách lâu dài của EU đối với Trung Quốc

2.1.1 Tổng quan về quan hệ Trung Quốc – EU

Quan hệ Trung Quốc – EU được thiết lập từ năm 1978 Cho tới trước khi ASEM ra đời, quan hệ hai bên không mấy phát triển, mặc dù EU và Trung Quốc đã ký “Hiệp định hợp tác và mậu dịch EC – Trung Quốc năm 1985” để

Trang 36

thay cho Hiệp định năm 1978 Thông qua thư trao đổi vào năm 1994, Trung Quốc và EU đã thiết lập quan hệ đối thoại chính trị

Sau khi ASEM được thành lập, quan hệ Trung Quốc – EU đã phát triển rất nhanh Bởi vì, Trung Quốc là một trong những đối tác lớn và quan trọng nhất trong ASEM ở Châu Á và là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Chiến lược Châu Á mới của EU

Nhằm cung cấp cơ sở pháp lý cho việc phát triển quan hệ với Trung Quốc, từ năm 1996 tới nay, EU đã liên tục đưa ra các văn kiện về chính sách đối với Trung Quốc: Thông cáo “Xây dựng quan hệ đối tác với Trung Quốc” công bố năm 1998; “Xây dựng quan hệ đối tác với Trung Quốc” tháng 9, 2000; “ Chiến lược của EU đối với Trung Quốc: Thực hiện Thông cáo 1998

và các bước đi trong tương lai vì một chính sách hiệu quả hơn của EU” được công bố ngày 15 tháng 5 năm 2001 Những văn kiện này chứa đựng chính sách của Liên minh Châu Âu đối với Trung Quốc trong bối cảnh ASEM Mục tiêu được EU theo đuổi trong chính sách đối với Trung Quốc bao gồm:

+ Lôi cuốn hơn nữa Trung Quốc vào quan hệ song phương và cả trên trường quốc tế

+ Ủng hộ sự quá độ của Trung Quốc sang xã hội mở cửa dựa trên nguyên tắc lập pháp và quyền con người

+ Khuyến khích sự hội nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới bằng cách đưa Trung Quốc vào hệ thống thương mại toàn cầu, ủng hộ tiến trình cải cách kinh tế đang diễn ra ở Trung Quốc

+ Nâng cao vị thế của EU ở Trung Quốc

Gần đây, do những biến đổi trong môi trường chính trị và kinh tế quốc

tế và do sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ hợp tác giữa hai bên, chính sách của EU – Trung Quốc đã được điều chỉnh với việc công bố văn kiện: “ Một

Trang 37

quan hệ đối tác đang chín: Lợi ích cùng chia sẻ và những thách thức trong quan hệ EU - Trung Quốc” vào ngày 13 tháng 10 năm 2003

Văn kiện này gợi ý các phương cách phát triển hơn nữa quan hệ EU - Trung Quốc thông qua việc xác định các điểm hành động cụ thể và thực tiễn cho chính sách của EU đối với Trung Quốc trong 2,3 năm tới Trong văn kiện trên, EU khẳng định sẽ tăng cường đối thoại chính trị với Trung Quốc thông qua việc sử dụng các cơ chế hiện có Chủ đề đối thoại chính trị sẽ được mở rộng để bao gồm các vấn đề quản lý toàn cầu, khu vực và các vấn đề an ninh

Hợp tác EU - Trung Quốc được xúc tiến trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ

Trong lĩnh vực chính trị, hai bên đã tiến hành đối thoại ở nhiều cấp độ: Hội nghị cấp cao, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao, Giám đốc chính trị, các trưởng phái đoàn, các hội nghị có tính chất kỹ thuật của các quan chức cao cấp Các chủ thể đối thoại bao gồm các vấn đề khu vực và quốc tế đang diễn

ra trên thế giới, kể cả vấn đề nhân quyền

Trong lĩnh vực kinh tế, hợp tác EU – Trung Quốc đang phát triển rất thuận lợi Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc trong 20 năm qua đã tác động mạnh mẽ tới các quan hệ kinh tế và thương mại giữa EU – Trung Quốc Trong năm 2002, buôn bán hai chiều EU - Trung Quốc đã tăng

40 lần kể từ khi cải cách bắt đầu ở Trung Quốc với giá trị lên tới 115 tỷ Euro Trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, EU đã chuyển từ vị trí thặng dư sang thâm hụt tới 47 tỷ Euro, mức thâm hụt lớn nhất so với bất kỳ đối tác nào Trung Quốc trở thành đối tác ngoài EU lớn thứ hai, sau Mỹ của EU EU là thị trường xuất khẩu hàng hoá lớn thứ hai của Trung Quốc Trong những năm gần đây, các công ty châu Âu đã đầu tư lớn vào thị trường Trung Quốc Dòng FDI mới từ EU đưa vào sử dụng hàng năm đạt mức trung bình 4,2 tỷ đôla,

Trang 38

trong 5 năm qua, tổng số FDI của EU vào Trung Quốc lên tới trên 33,9 tỷ Euro

EU ủng hộ Trung Quốc tham gia WTO và xem việc giám sát Trung Quốc thực hiện các cam kết với tổ chức trên là một ưu tiên trong những năm tới

Hợp tác phát triển EU - Trung Quốc cũng được đẩy mạnh Liên minh Châu Âu đang tài trợ cho 40 dự án phát triển với tổng số vốn lên tới gần 260 triệu Euro Các dự án hợp tác của EU hiện nay vượt ra ngoài viện trợ phát triển truyền thống để hỗ trợ cho 11% dân số Trung Quốc đang sống dưới mức nghèo đói tuyệt đối (1 đôla Mỹ/ngày) Trong những năm sắp tới, Viện trợ phát triển của EU sẽ tập trung 3 lĩnh vực ưu tiên:

+ Hỗ trợ cải cách kinh tế và xã hội của Trung Quốc

+ Môi trường và phát triển bền vững

+ Cai trị tốt và tăng cường phát luật

Các dự án đang thực hiện hoặc đang được chuẩn bị bao gồm: ủng hộ tư cách thành viên WTO của Trung Quốc, hỗ trợ xã hội thông tin, cải cách an sinh xã hội và viện trợ để đấu tranh chống di cư bất hợp pháp Trong giai đoạn 2002 – 2006, kinh phí dành cho Chương trình hợp tác phát triển với Trung Quốc của Uỷ ban Châu Âu dự kiến lên tới 250 triệu Euro

2.1.2 Chiến lược lâu dài của EU đối với Trung Quốc

Coi trọng vị trí của Trung Quốc trên vũ đài quốc tế cả về kinh tế, chính trị, xã hội, EU đã bằng nhiều văn kiện với chủ trương tăng cường toàn diện mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế với Trung Quốc Tạp chí “Kinh tế và chính trị thế giới” (Trung Quốc) tháng 12/2001 đã khái quát chiến lược của EU đối với Trung Quốc trong năm điểm:

Trang 39

- Đảm bảo Trung Quốc liên tục phát triển, giúp Trung Quốc phát huy vai trò xây dựng và hợp tác

- Tiếp tục chú trọng và tăng cường đối thoại chính trị, khiến Trung Quốc hoà nhập hơn vào cộng đồng quốc tế

- Bằng các cuộc đối thoại nhân quyền tập trung và có hiệu quả hơn, ủng

hộ Trung Quốc chuyển sang xã hội mở cửa, đồng thời thông qua hợp tác để ủng hộ các cải cách hữu quan của Trung Quốc

- Ủng hộ Trung Quốc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy Trung Quốc nhanh chóng gia nhập WTO, thông qua viện trợ kinh tế và tăng cường đối thoại trong các lĩnh vực chính sách quan trọng, giúp Trung Quốc thành công trong tiến trình cải cách xã hội

Nâng cao hiệu quả viện trợ kinh tế cho Trung Quốc, tập trung các hạng mục viện trợ vào 3 lĩnh vực: ủng hộ tiến trình cải cách và phát triển liên tục, tăng cường hợp tác khoa học kỹ thuật, thúc đẩy pháp trị và quản lý tốt xã hội

Đi sâu nghiên cứu toàn diện quá trình phát triển của chính sách lâu dài của EU đối với Trung Quốc cho thấy chính sách này đã trải qua quá trình quanh co khúc khuỷu và hiện đang ở vào thời kỳ phát triển tốt đẹp Quá trình phát triển này cho thấy chính sách lâu dài của EU và các nước thành viên đối với Trung Quốc có 4 đặc điểm chủ yếu: tính tiệm tiến, mối quan hệ "kép", tính ổn định tương đối và tính hai mặt

2.1.2.1 Tính tiệm tiến:

Trong nửa cuối thế kỷ XX, chính sách của các nước Tây Âu đối vớiTrung Quốc đã trải qua quá trình quanh co khúc khuỷu từ chính sách theo đuôi Mỹ trong thập kỷ 40 đến cuối thập kỷ 60, khôi phục quan hệ ngoại giao trong thập kỷ 70, phát triển dần dần trong thập kỷ 80 và cho đến nay khi EU đưa ra chính sách toàn diện độc lập lâu dài phản ánh sự biến đổi của cả một

Trang 40

thời đại, cũng đánh dấu mối quan hệ Trung Quốc - Châu Âu bước vào giai đoạn phát triển mới, hiển nhiên quá trình này là một sự tiệm tiến

Nhìn lại quá trình phát triển tiệm tiến của quan hệ Trung Quốc - châu

Âu kể từ khi Trung Quốc mới được thành lập đến nay, quá trình này có thể chia thành 4 giai đoạn:

a Từ giai đoạn đầu mới thành lập nước đến cuối thập kỷ 60 là giai đoạn mở đầu của việc Trung Quốc phát triển quan hệ với các nước Tây Âu Lúc này đa số các nước Tây Âu duy trì sự nhất trí với Mỹ không thừa nhận Trung Quốc mới Phát triển thiết lập quan hệ ngoại giao là sự kiện gây chấn động Pháp trở thành nước lớn phương Tây thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện sớm nhất với Trung Quốc

b Thập kỷ 70, cùng với sự tan băng giá trong quan hệ Trung - Mỹ

và khôi phục chiếc ghế đại diện hợp pháp của Trung Quốc ở Liên Hợp quốc, các nước Tây Âu đã tăng cường thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Đến cuối thập kỷ 70, từ Andôra Mônacô và Vaticăng, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoai giao với tất cả các nước Tây Âu, thiết lập quan hệ chính thức với cộng đồng châu Âu - tiền thân của EU Trong giai đoạn này mối quan hệ giữa Trung Quốc với Tây Âu trên các mặt chính trị và văn hoá phát triển ổn định, quan hệ mậu dịch kinh tế phát triển tương đối nhanh

c Thập kỷ 80, trong 10 năm Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, mối quan hệ Trung Quốc - Tây Âu bước vào giai đoạn phát triển mới Sự hợp tác song phương trên các lĩnh vực phát triển nhanh chóng, đặc biệt là sự thăm viếng lẫn nhau của các nhà lãnh đạo cấp cao và việc tăng cường đàm phán chính trị khiến quan hệ song phương đã có bước tiến triển lớn về cả chiều rộng và chiều sâu Trong giai đoạn này, quan hệ Trung Quốc - Tây Âu phát triển thuận lợi chủ yếu có hai nguyên nhân: thứ nhất là do các nước Tây Âu xuất hiện từ nhu cầu phản đối sự bành trướng toàn cầu và đe

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Carlo Altomonte và Mario Nava (2004), Kinh tế và chính sách của EU mở rộng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và chính sách của EU mở rộng
Tác giả: Carlo Altomonte và Mario Nava
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[2] Cao Thượng Toàn (1997), “Kinh tế Trung Quốc trong thế kỷ 21”, Hướng đi của nền kinh tế Trung Quốc trong thế kỷ 21, Viện kinh tế thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Trung Quốc trong thế kỷ 21”, "Hướng đi của nền kinh tế Trung Quốc trong thế kỷ 21
Tác giả: Cao Thượng Toàn
Năm: 1997
[3] Lê Đăng Doanh (2003), “Năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam”, Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 55 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam”, "Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2003
[4] Du Minh Khiêm (2003), “Trung Quốc gia nhập WTO một năm nhìn lại”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc gia nhập WTO một năm nhìn lại”, N"ghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Du Minh Khiêm
Năm: 2003
[5] Trương Giang (2003), “Cải thiện tính cạnh tranh để hội nhập”, Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 61 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện tính cạnh tranh để hội nhập”, "Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trương Giang
Năm: 2003
[6] Đỗ Thanh Hà (2005), “Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU”, tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 15(58), Tr 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU”, "tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Đỗ Thanh Hà
Năm: 2005
[7] Hoa Ngọc Khiết (2004), “Về chính sách cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc của Liên minh châu Âu”, Kinh tế và chính trị thế giới, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc của Liên minh châu Âu”, "Kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: Hoa Ngọc Khiết
Năm: 2004
[8] Vũ Khoan (2003), “Nâng cao khả năng cạnh tranh để hội nhập thành công”, Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 9 –13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao khả năng cạnh tranh để hội nhập thành công”, "Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Vũ Khoan
Năm: 2003
[10] Vân Kiều (2003), “ Những khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường EU”, Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường EU”, "Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Vân Kiều
Năm: 2003
[11] Vũ Chí Lộc – Nguyễn Thị Mơ (2004), Luận cứ khoa học xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Âu giai đoạn 2001 – 2010, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Âu giai đoạn 2001 – 2010
Tác giả: Vũ Chí Lộc – Nguyễn Thị Mơ
Năm: 2004
[12] Võ Đại Lược – Tạ Kim Ngọc (1996), Các khối kinh tế và mậu dịch trên thế giới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khối kinh tế và mậu dịch trên thế giới
Tác giả: Võ Đại Lược – Tạ Kim Ngọc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[13] Mã Hồng và Tôn Tượng Thanh (1998), Tình hình và triển vọng kinh tế Trung Quốc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình và triển vọng kinh tế Trung Quốc
Tác giả: Mã Hồng và Tôn Tượng Thanh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
[14] Phạm Kim Nga (2001), “Trung Quốc gia nhập WTO. Những ảnh hưởng gợi mở đối với Việt Nam và các nước thành viên mới ASEAN”, Nghiên cứu Trung Quốc, Số 3(37), Tr6 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc gia nhập WTO. Những ảnh hưởng gợi mở đối với Việt Nam và các nước thành viên mới ASEAN”, "Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Phạm Kim Nga
Năm: 2001
[15] Tạ Kim Ngọc (2002), Chiến lược của EU từ sau chiến tranh lạnh đến nay, Viện kinh tế thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược của EU từ sau chiến tranh lạnh đến nay
Tác giả: Tạ Kim Ngọc
Năm: 2002
[16] Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1999), Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ 21, Tr 560 – 570 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ 21
Tác giả: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1999)
Năm: 1999
[17] Niên giám thống kê Trung Quốc (1978, 1980, 1989), Tài liệu dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc, Thư viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Trung Quốc
[18] Chris Patten (2002), “EU- Trung Quốc: quan hệ đối tác quan trọng”, Thông tấn xã Việt Nam, Brucxen Sách, tạp chí
Tiêu đề: EU- Trung Quốc: quan hệ đối tác quan trọng”, "Thông tấn xã Việt Nam
Tác giả: Chris Patten
Năm: 2002
[19] Paul RKrugman – Maurice Obstfeld (1991), Kinh tế học quốc tế. Lý thuyết và chính sách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học quốc tế. Lý thuyết và chính sách
Tác giả: Paul RKrugman – Maurice Obstfeld
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1991
[20] Nguyễn Phú Thái (2004), Vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách và mở cửa, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện kinh tế và chính trị thế giới, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách và mở cửa
Tác giả: Nguyễn Phú Thái
Năm: 2004
[21] Nguyễn Xuân Thắng (2003), Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Tỷ lệ hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước và khu vực khác - Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam
Bảng 2. Tỷ lệ hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước và khu vực khác (Trang 7)
Bảng 1. Khu vực xuất khẩu của Trung Quốc (% tổng lượng hàng xuất khẩu) - Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam
Bảng 1. Khu vực xuất khẩu của Trung Quốc (% tổng lượng hàng xuất khẩu) (Trang 7)
Bảng 4. Ngoại thương và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc ở một số năm - Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam
Bảng 4. Ngoại thương và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc ở một số năm (Trang 8)
Bảng 3. Luồng FDI trong giai đoạn 1987 – 2000 - Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam
Bảng 3. Luồng FDI trong giai đoạn 1987 – 2000 (Trang 8)
Bảng 5. Tổng kim ngạch ngoại thương sau khi Trung Quốc gia nhập WTO - Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam
Bảng 5. Tổng kim ngạch ngoại thương sau khi Trung Quốc gia nhập WTO (Trang 9)
Bảng 8. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và cán cân thương mại Việt Nam - Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam
Bảng 8. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và cán cân thương mại Việt Nam (Trang 10)
Bảng 7. Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch - Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam
Bảng 7. Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w