1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

134 517 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lý do trên em chọn đề tài “ Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình nhằm góp phầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Mã số : 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS VŨ THỊ DẬU

Hà Nội - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iii

DANH MỤC HỘP iiii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1.Tập đoàn kinh tế Nhà nước 9

1.1.1.Khái niệm 9

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển TĐKT nhà nước 12

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của các TĐKT Nhà nước 15

1.2 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nước Trung Quốc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 24

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Trung Quốc 24

1.2.2 Bài học kinh nghiệm 32

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 36

2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam 36

2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị 36

2.1.2 Giai đoạn thí điểm mô hình TĐKT Nhà nước (2005 đến 2009) 40

2.1.3 Giai đoạn mở rộng thí điểm (2009- 2010) 50

2.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới sự phát triển của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 53

2.2.1 Cơ hội và thách thức đối với TĐKTNN khi Việt Nam thực hiện các cam kết

Trang 5

2.2.2 Tác động của HNKTQT và thực trạng phát triển của các TĐKTNN ở Việt

Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 58

2.3 Đánh giá chung về sự phát triển của tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 68

2.3.1 Những kết quả đạt được 69

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 75

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ (GIAI ĐOẠN 2011 – 2015) 94

3.1 Bối cảnh kinh tế mới và định hướng phát triển của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ( giai đoạn 2011 – 2015) 94 3.1.1 Bối cảnh kinh tế mới 94

3.1.2 Quan điểm và định hướng phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 101

3.2 Giải pháp phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới 105

3.2.1 Nhóm giải pháp đối với bản thân các tập đoàn kinh tế Nhà nước 105

3.2.2 Những đề xuất, kiến nghị với Nhà nước 106

KẾT LUẬN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 6

4 HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 7

2.5 Hiệu suất sử dụng tài sản và hiệu quả sản xuất kinh doanh 78

Trang 9

DANH MỤC HỘP

2.1 Các TĐKT Nhà nước được thành lập từ năm 2005-2006 45 2.2 Các TĐKT Nhà nước được thành lập từ năm 2009 - 2010 51

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Cuối thế kỷ XIX, tích tụ và tập trung sản xuất đã dẫn tới hình thành các tập đoàn kinh tế (TĐKT) ở các nước tư bản phát triển Quá trình tồn tại và phát triển của các TĐKT đã cho thấy những ưu thế của mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh này trong việc phát huy lợi ích kinh tế quy mô lớn, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Khi toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu hướng khách quan, thì rất nhiều nước chú trọng phát triển TĐKT, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ

Trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi có bối cảnh đặc thù, phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội nghĩa, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, DNNN

có vai trò quan trọng trong việc hội nhập kinh tế quốc tế, từ sau đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, Việt Nam đã chủ trương xây dựng các TĐKTNN trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế Thực hiện chủ trương đó, từ năm

2005 đến nay Việt Nam thí điểm thành lập được 12 tập đoàn kinh tế nhà nước theo tinh thần Nghị quyết TW 3 và Nghị quyết TW 9 (khóa IX) trên cơ sở tổ chức lại các Tổng công ty nhà nước Kể từ khi các TĐKTNN thí điểm xuất hiện, thì TĐKTNN trở thành một vấn đề rất nóng và gây nhiều tranh cãi trong các kỳ đại hội của Đảng

và các phương tiện thông tin đại chúng, cũng như trong giới các chuyên gia kinh tế

Về mặt lý luận, việc Việt Nam chủ động xây dựng TĐKT là hợp lý vì các điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam cơ bản đã tạo ra được các điều kiện cho phép xây dựng mô hình TĐKT và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế để tồn tại và phát triển Việt Nam cũng cần và phải tạo ra, phát huy những lợi thế so sánh để đi tắt, đón đầu, phát triển đột phá về kinh tế, tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và quốc tế Hơn nữa, hoạt động kém hiệu quả của các DNNN nhà nước đặc biệt là các TCTNN cũng khiến cho vấn đề cải cách DNNN nhà nước trở thành nhu cầu cấp thiết

Trang 11

Về mặt thực tiễn, thực tế TĐKTNN ở Việt Nam cũng đã ra đời và hoạt động mặc dù dưới dạng thí điểm và bước đầu đạt được những thành tựu nhất định, đáp ứng một phần mục tiêu do Nhà nước đề ra Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan các TĐKTNN ở Việt Nam cũng bộc lộ những bất cập như hiệu quả, sức cạnh tranh của các tập đoàn vẫn còn thấp, đầu tư dàn trải, thông tin không minh bạch, còn nhiều yếu kém trong quản lý, phát triển chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế có được, chưa đạt được mục tiêu đề ra là tạo sự liên kết kinh tế, gắn bó lợi ích và thị trường, là trụ cột đồng thời là “quả đấm thép” làm đối trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế, thậm chí có tập đoàn còn có nguy cơ phá sản Bên cạnh đó lại xuất hiện những biểu hiện nôn nóng, chủ quan trong việc thiết lập mô hình TĐKT, chưa bám sát điều kiện cụ thể cho sự ra đời mô hình tập đoàn Trong khi đó, đối với nền kinh tế Việt nam hiện nay TĐKTNN đang được khoác một vai trò rất quan trọng: “là xương sống của nền kinh

tế quốc dân”, “công cụ mạnh trong tay nhà nước” để để phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và là “quả đấm thép” trong hội nhập kinh tế quốc tế

Trước sức cạnh tranh quốc tế khốc liệt, nguy cơ sụp đổ của các tập đoàn này

là rất lớn Bài học kinh nghiệm về sự sụp đổ của các TĐKT Hàn Quốc và Hoa Kỳ buộc chúng ta phải xem xét lại vấn đề này trước khi quá muộn Do đó, nghiên cứu nhằm đánh giá lại thực trạng phát triển các TĐKTNN trong bối cảnh hội nhập kinh

tế quốc tế sâu rộng và chỉ ra các giải pháp để xây dựng, phát triển chúng thành các TĐKT mạnh, bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn

Xuất phát từ lý do trên em chọn đề tài “ Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở

Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn tốt nghiệp cao

học của mình nhằm góp phần vào kho tàng công trình nghiên cứu khoa học về TĐKTNN hiện nay

Trang 12

Ở ngoài nước, cũng không có công trình khoa học và bài báo nói trực tiếp về TĐKTNN, mà chỉ nói chung về sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp thuộc

sở hữu nhà nước ở các nước tư bản phát triển phương Tây những năm 1950 -1980 Song, bản thân TĐKTNN cũng chỉ là loại hình DNNN quy mô lớn, do đó, cũng có thể hiểu được cơ sở hình thành và phát triển của chúng trên cơ sở các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước Các tác phẩm tiêu biểu như:

- Bài đăng tạp chí online: The Return of State – owned Enterprise Should we afraid? Của Aldo Musacchio, Francisco Flores – Macias(2009) đăng trên Havard

International Review của đại học Havard

- Pier Angelo Toninelli (2000) với cuốn sách The rise and Fall of State –

Owned Enterprise in the Western World do đại học Cambridge xuất bản

- Robert Millward, The Rise and Fall of State Enterprise in Western Europe

1945 -90, Economics or Technology or Ideology?

- Robert Millward với cuốn sách Private and public enterprise in Europe, energy, telecomunications and transpot 1830 -1990 do đại học Cambridge xuất bản

Ngoài ra còn có tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản của V.I Lênin nói về các mô hình tổ chức độc quyền

Ở Việt Nam, TĐKT không phải là một vấn đề mới, đã có rất nhiều tác giả trong nước nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, có thể phân loại các công trình nghiên cứu về TĐKT đã có theo ba nhóm:

Nhóm thứ nhất, chiếm đa số là các công trình tập trung làm rõ về mặt lý luận

khái niệm, đặc điểm, vai trò, vị trí của các TĐKT cũng như sự cần thiết phải xây dựng mô hình TĐKT ở Việt Nam Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu như:

Công trình của GS.PTS Nguyễn Đình Phan (chủ biên), Thành lập và quản lý các Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996; sách

“Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do GS.TS Vũ Huy

Từ chủ biên, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2002; sách “Tập đoàn kinh tế và một

Trang 13

số vấn đề về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” của tác giả Minh Châu, NXB

Bưu điện, Hà Nội 2005 hay sách “Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam “ Sách chuyên khảo của tác giả Bùi Văn Huyền, NXB Chính trị Quốc gia,

2008

Luận án tiến sĩ “Những giải pháp cơ bản nhằm hình thành và phát triển tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, Hà nội 1999 của Nguyễn Thị Bích Loan, luận án “Điều kiện và giải pháp hình thành các tập đoàn kinh tế ở nước ta - qua sắp xếp lại các tổng công ty 91” của Đào Xuân Thuỷ, Hà nội 2007 hay Bùi Văn Huyền với luận án “Sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” LATS Kinh tế 2008,

Về đề án cấp Nhà nước có “Đề án hình thành và phát triển TĐKT trên cơ sở

các Tổng công ty Nhà nước” của Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương

Ngoài ra, các bài viết trao đổi về xây dựng mô hình TĐKT nhà nước ở Việt

Nam đã đăng tải nhiều trên báo, tạp chí như: “Tập đoàn kinh tế - mô hình chiến lược để đổi mới và phát triển các loại hình doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Minh Đức, đăng trên Nghiên cứu kinh tế số 7 (năm 2004) “Hình thành tập đoàn kinh tế bước đột phá trong đổi mới các tổng công ty nhà nước” của tác giả Hoàng Thị Tuyết đăng trên Tạp chí Tài chính số 4 (2005), “Cần có một tư duy mới trong thành lập tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” của tác giả Đặng Khánh Duy đăng trên tạp chí Kinh tế và phát triển số 98 (8/2005), “Nhân rộng mô hình tập đoàn kinh tế” của

tác giả Bảo Duy đăng trên báo Đầu tư chứng khoán số 303(2005), tác giả Hữu

Hạnh có bài “Chờ đón các tập đoàn kinh tế mạnh của Việt Nam” đăng trên Tạp chí thương mại số 5-7 (2006), “Chuyển các tổng công ty 91 sang mô hình tập đoàn kinh tế liệu có hiệu quả?” của tác giả Như Hồng, Tạp chí thương mại số 14

(2006) Kết quả nghiên cứu của nhóm này đã đưa ra một số kết luận cho thấy, sự thừa nhận xuất hiện TĐKTNN ở Việt Nam là có cơ sở về mặt lý luận và cần thiết

vì đã có một số tiền đề cơ bản cho phép tạo dựng mô hình TĐKT trong hoàn cảnh đặc thù ở nước ta hiện nay

Trang 14

Nhóm thứ hai, gồm các công trình ra đời sau khi Chính phủ chủ trương hình

thành các TĐKT nhà nước trên cơ sở các Tổng công ty 90 và 91 TS Vũ Phương

Thảo đã xuất bản sách “Cải tổ các Chaebol Hàn Quốc và những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” NXB Đại học quốc gia, Hà nội 2005, các luận văn thạc sĩ như luận văn của Nguyễn Thị Cẩm Vân “Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Nguyễn Thị Thu Thủy “Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Trung Quốc

và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”(2006), “Nghiên cứu mô hình tập đoàn ở một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam” Thạc sĩ Phan Minh Tuấn có bài

“Tập đoàn kinh tế Trung Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam” đăng trên tạp chí

Thông tin khu công nghiệp Việt Nam, số 31(4/2003) Các công trình này đã nghiên cứu mô hình TĐKTNN của Trung Quốc và các nước Đông Á khác như Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc để rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng cho việc xây dựng và phát triển TĐKTNN ở Việt Nam

Nhóm thứ ba gồm các công trình chỉ đề cập một mặt cụ thể của việc quản lý tập đoàn, chủ yếu là quản lý tài chính “Giải pháp toàn diện cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay” là luận án tiến sĩ Kinh tế của

Phạm Quang Trung, Hà nội 2000 Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Ngọc Sự

“Các giải pháp tài chính trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển Tổng công

ty Dầu khí Việt Nam theo hướng tập đoàn kinh tế”, 2006; “Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế” Luận án tiến sĩ kinh tế của Vũ Hà Cường, 2007 Kỷ yếu hội thảo

“Tập đoàn kinh tế lý luận và thực tiễn”, ngày 25/5/2009, tại Hà Nội, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia - Sự thật, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW và Thời báo kinh

tế Việt Nam phối hợp với công ty Thanh niên Việt Nam tổ chức, 2009 và một số luận văn tốt nghiệp, bài báo trên các website

Do thời điểm nghiên cứu, nên các công trình đã có chỉ xem xét TĐKT trên giác độ lý luận và mặc nhiên xem TĐKT là TĐKTNN (vì chỉ có chủ trương thí điểm thành lập các TĐKT từ các tổng công ty nhà nước) Nhưng đến nay, khi thực

Trang 15

tế đã có 12 TĐKTNN được thí điểm thành lập và TĐKT không chỉ còn là mô hình

tổ chức kinh doanh riêng có của các DNNN trong thành phần KTNN nữa mà còn có

sự xuất hiện của các TĐKT tư nhân thì vấn đề TĐKTNN đã thực sự có cơ sở để nghiên cứu sâu hơn Và hiện chưa có công trình nào tiếp cận TĐKTNN với tư cách

là một thực thể đã tồn tại (không còn là một thực thể trong thời kỳ “ thai nghén”) và làm rõ sự thích nghi sống còn và phát triển của thực thể đó trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là WTO - môi trường mở ra nhiều thời cơ song cũng không ít thách thức khi Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng những luận cứ khoa học về TĐKTNN để phân tích các TĐKTNN Việt Nam (chủ yếu 8 tập đoàn thành lập trước 2009) nhằm đánh giá sự phát triển của các TĐKT Nhà nước này trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập WTO, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu xây dựng TĐKT Nhà nước phát triển mạnh và bền vững khi Việt Nam thực hiện các cam kết WTO

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở khoa học của sự hình thành và phát triển của TĐKTNN ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá sự phát triển của các tập đoàn kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế

- Luận chứng những phương hướng, quan điểm, và đưa ra giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát triển các TĐKTNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2011- 2015

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 16

- Đề tài nghiên cứu tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới sự phát triển của các TĐKTNN Việt Nam, nhưng chủ yếu nghiên cứu tác động của hội nhập WTO

Phạm vi thời gian: từ 2005 đến 2009

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kế thừa các công trình đã nghiên cứu để khái quát hóa những nguyên lý cơ bản về TĐKTNN và kinh nghiệm quốc tế về phát triển TĐKTNN

Tác giả luận văn tập hợp số liệu của Tổng cục thống kê; nghiên cứu các báo cáo, tài liệu của Ban đổi mới và phát triển DNNN về TĐKTNN, tiến hành phân tích thực trạng xây đựng và phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam, đánh giá tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới sự phát triển của các TĐKTNN Việt Nam

Trên cơ sở phân tích những hạn chế, nguyên nhân và tác động của các nhân

tố trong bối cảnh mới của hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tới, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển TĐKTNN Việt Nam

Trong quá trình thực hiện, đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế như phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp logic kết hợp với lịch sử trong phân tích các nội dung của đề tài

Luận văn sử dụng các công cụ phân tích kinh tế như: dãy số liệu, biểu đồ, đồ thị để minh họa một số nội dung

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng và phát triển các

Trang 17

- Kết quả nghiên cứu là 01 chuyên đề trong đề tài cấp ĐHQG mã số QK 08

02 Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Thị Dậu

- Là tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập trong ngành kinh tế

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tập đoàn kinh tế nhà nước - Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam trong

bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 3: Định hướng và giải pháp tiếp tục phát triển tập đoàn kinh tế nhà

nước Việt Nam giai đoạn 2011- 2015

Trang 18

Chương 1: TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC - CƠ SỞ LÝ

LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.Tập đoàn kinh tế Nhà nước

1.1.1.Khái niệm

TĐKT đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ thứ XX ở các nước tư bản

phát triển Tùy theo mỗi nước và hoàn cảnh lịch sử nhất định mà có những tên gọi

và định nghĩa khác nhau về TĐKT và hiện chưa có một thuật ngữ, định nghĩa nào

được xem là chuẩn mực Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến TĐKT người

ta thường sử dụng các từ: “Consortium”, “Conglomerate”, “Conson”, “Cartel”, “Trust”,

“Syndicate” hay “Group”, Enterprise group…Ở châu Á, trong khi người Nhật gọi TĐKT là “Keiretsu” hoặc “Zaibatsu” thì người Hàn Quốc lại gọi là “Cheabol”; còn

ở Trung Quốc, cụm từ “Jituan Gongsi” được sử dụng để chỉ khái niệm này (chính xác hơn là Tổng công ty), Ấn Độ là Bussiness house Có một điều đáng lưu ý là khi tồn tại như là một thực thể có tư cách pháp nhân, thì TĐKT lại được gọi là Conglomerate và/hoặc Holding company

Trên cơ sở tổng hợp các báo cáo nghiên cứu, có thể hiểu Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp sản xuất, kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp có mối quan hệ ổn định, lâu dài với nhau theo nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực, với liên kết chủ yếu

là công ty mẹ - công ty con Công ty mẹ và các công ty con (công ty thành viên) có

tư cách pháp nhân, công ty mẹ là hạt nhân liên kết, thường nắm quyền kiểm soát, chi phối các hoạt động của công ty con Các công ty thành viên cũng có những liên kết với nhau xuất phát từ lợi ích và chiến lược của mỗi công ty Nó hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước

TĐKT có các đặc trưng chủ yếu như: quy mô lớn về vốn, doanh thu và lao động; phạm vi hoạt động rất rộng, không chỉ giới hạn trong lãnh thổ một quốc gia

mà có thể ở nhiều quốc gia và thậm chí là phạm vi toàn cầu; hầu hết các TĐKT đều thực hiện hình thức sở hữu hỗn hợp, một số ít sở hữu nhà nước và sở hữu gia đình.Có một số TĐKT ngay từ đầu đã hoạt động kinh doanh đa ngành, nhưng cũng

Trang 19

có một số phát triển dần từ đơn ngành đến đa ngành Nhưng kinh doanh đa ngành,

đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các TĐKT Đặc trưng cơ bản, là tiền đề cần thiết để hình thành TĐKT và nó cũng thể hiện xu thế tất yếu trong điều kiện sự phát triển của lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa ngày càng cao là có sự liên kết ổn định lâu dài giữa các thành viên trong TĐKT Trong các quan hệ liên kết, liên kết về vốn là liên kết phổ biến và cơ bản nhất TĐKT là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong nó các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nhưng bản thân TĐKT lại không có tư cách pháp nhân Luật công ty của các quốc gia cũng không sử dụng thuật ngữ “firm”, “enterprise group”, business group” hay “group” mà chỉ là đăng ký là

“công ty- company” (từ company trong tiếng Anh tương ứng với corporation trong tiếng Mỹ) Do đó, ngoài những quan hệ về vốn, thị trường, công nghệ, các thành viên trong tập đoàn bình đẳng trước pháp luật, được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật, được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật có liên quan Cũng chính vì không có tư cách pháp nhân nên tập đoàn không chịu trách nhiệm liên đới về mặt pháp lý trong quá trình hoạt động đối với các công ty thành viên

Cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh tế khá đa dạng, không có khuôn mẫu thống nhất Cơ cấu tổ chức được xây dựng trên nền tảng văn hóa, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lược xây dựng và phát triển của mỗi tập đoàn Nhìn chung, cơ cấu tập đoàn thường có một công ty mẹ và các công ty con, trong đó, các công ty mẹ thường đảm nhiệm các chức năng như phát triển thị trường, ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn vận động những quan hệ khác Các công ty con độc lập với công ty mẹ, quan hệ với công ty mẹ thông qua vốn đầu tư, công nghệ, thị trường Các công ty con hoạt động độc lập trước pháp luật, có thể đầu tư vào nhau, thậm chí công ty con có thể đầu tư ngược vào công ty

mẹ Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con tùy thuộc từng mô hình tập đoàn TĐKT Nhà nước (TĐKTNN) cũng giống như các TĐKT nói chung, đều có

các đặc trưng của TĐKT và cũng có đủ 4 tiêu chí đó là: chịu sự quản lý theo luật pháp; hoạt động trong thể chế tài chính công khai, minh bạch; có thể huy động vốn

từ khu vực tư nhân hoặc khu vực công dưới dạng bán trái phiếu hay cổ phần theo

Trang 20

những quy định chặt chẽ của luật pháp và của thể chế tài chính quốc gia, song không được phép có ngân hàng riêng; có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa

và thế giới

Tính đặc thù của mô hình này thể hiện ở hai khía cạnh quan trọng, đó là:

Thứ nhất, TĐKTNN thuộc sở hữu Nhà nước và sự hình thành các TĐKTNN

có sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước

Đối với TĐKTNN, nhà nước là chủ sở hữu và về mặt cơ cấu sở hữu, Công ty

mẹ trong TĐKTNN chiếm cổ phần chi phối, các công ty con có thể là công ty nhà nước hoặc cổ phần Khi mới thành lập, vốn nhà nước có thể chiếm tới 100% nhưng sau đó tỷ lệ này giảm dần, đến mức đủ đảm bảo chi phối, tỷ lệ tùy theo quy định của từng nước cũng như trình độ tích tụ vốn của TĐKT

Quá trình hình thành, phát triển các TĐKT ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau mang những đặc điểm khác nhau và chịu sự chi phối của hàng loạt những yếu tố tác động như thể chế, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, môi trường kinh doanh, sự đồng bộ của các yếu tố thị trường, vai trò của nhà nước hay chính quyền Khái quát lại có hai con đường chủ yếu hình thành các TĐKT [23,tr.33]

Con đường truyền thống, sự hình thành TĐKT là kết quả của quá trình tích

tụ và tập trung vốn, tái đầu tư, mở rộng sản xuất, thôn tính và sát nhập các công ty, liên kết tự nguyện…

Con đường rút ngắn, TĐKT được hình thành trên cơ sở đầu tư của nhà nước Thực tế là, ở một số nước, nếu chỉ dựa vào quá trình phát triển tuần tự, tích tụ và tập trung vốn sẽ rất ít có cơ hội cho doanh nghiệp ở các nước phát triển muộn hơn, do

đó, ngoài cách thức truyền thống, nhiều nhà nước đã trực tiếp can thiệp vào việc tổ chức một số TĐKT nhằm rút ngắn thời gian hình thành các TĐKT Sự can thiệp này diễn ra ở hai mức độ Ở mức độ thấp, nhà nước chỉ tạo điều kiện hỗ trợ về vốn thông qua các chính sách ưu đãi về vốn và khuyến khích về thuế trong một số ngành hoạt động theo chính sách công nghiệp (ví dụ: Nhật Bản với việc hình thành các

Trang 21

hỗ trợ và can thiệp của Chính phủ, nhưng các TĐKT ra đời theo con đường này vẫn chưa phải là TĐKTNN

TĐKTNN hình thành khi có sự can thiệp của nhà nước ở mức độ cao hơn, nhà nước đầu tư vốn thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong một số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền nhà nước, sau một thời gian hoạt động, nhà nước cơ cấu lại khu vực này theo mô hình TĐKT thông qua các quyết định hành chính hoặc tự sát nhập với nhau Mặc dù TĐKTNN vẫn hoạt động theo thị trường, nhưng nhà nước can thiệp cả vào các hoạt động, chỉ định lãnh đạo, vốn, đầu tư, quan hệ trong ngành Mức độ sở hữu của nhà nước càng cao thì phạm vi điều tiết càng rộng và mức độ điều tiết càng mạnh

Thứ hai, TĐKTNN có 3 chức năng chính, bao gồm: chống nguy cơ độc

quyền tư nhân đối với những sản phẩm kinh tế cần thiết cho sự phát triển kinh tế chung của cả nước; nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế so với các quốc gia khác trên thị trường thế giới và đáp ứng những yêu cầu có liên quan mật thiết đến an ninh và quốc phòng

Ở các nước như Việt Nam và Trung Quốc, TĐKTNN bên cạnh 3 chức năng chính như trên, TĐKTNN ở các nước này còn được đặt trọng trách là “quả đấm thép” khẳng định vai trò chủ đạo của Kinh tế nhà nước để thực hiện định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế Chức năng này xuất phát từ con đường phát triển ở các nước này có những đặc thù riêng, xuất phát từ chức năng xã hội của

nhà nước

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển TĐKT nhà nước

TĐKTNN không phải là một mô hình mới, mô hình này đã xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIX ở các nước tư bản phát triển Nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất hiện này là do quá trình tích tụ, tập trung tư bản và trình độ xã hội hóa sản xuất cao

độ dẫn đến nhà nước tham gia vào nền kinh tế với vai trò điều tiết vĩ mô, chủ thể kinh tế và thay đổi sở hữu của các công ty từ tư nhân sở hữu sang tập thể sở hữu (hình thành công ty cổ phần)

Trang 22

Bên cạnh đó, một số sản phẩm hay ngành kinh tế tự nó mang tính độc quyền rất cao, nếu đặt trong khu vực tư nhân thì ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh so với các nước xung quanh

Vì vậy, các thế lực kinh tế và chính trị của các quốc gia này (thể hiện tập trung trong vai trò của nhà nước) đã đi đến quyết định thành lập các TĐKT thuộc sở hữu của Nhà nước tập trung vào các ngành cung cấp than, điện, nước, hàng không, giao thông vận tải thủy – bộ, bưu chính viễn thông,…

Sau đó trong những thập kỷ đầu tiên của thời kỳ tái thiết và phát triển kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ II (1950-1960) TĐKTNN bước vào giai đoạn phát triển bùng nổ thứ hai Nét nổi bật trong giai đoạn này là TĐKTNN xuất hiện dưới các yếu tố chi phối mới như: những đòi hỏi cấp bách của tái thiết sau chiến tranh, sự phát triển bùng nổ của công nghệ mới, chuyển từ sử dụng năng lượng than là chủ yếu sang năng lượng dầu và bước phát triển của chủ nghĩa tư bản sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước với sở hữu nhà nước tư bản được mở rộng Một số nước có mô hình kinh tế thị trường xã hội như Đức, Đan Mạch, Thụy Điển

sự phát triển của các TĐKTNN còn được thúc đẩy do mục tiêu phát triển kinh tế thị trường đi kèm với tăng cường các yếu tố công bằng và an sinh xã hội trong phát triển kinh tế TĐKTNN trong giai đoạn này tăng nhanh về số lượng và mở rộng vào các lĩnh vực dầu khí, công nghệ tin học, bảo hiểm, nhà ở…

Tuy nhiên thập kỷ 1960-1980 khả năng cạnh tranh của các TĐKTNN ngày càng giảm sút so với khu vực kinh tế tư nhân và nhìn chung, tính hiệu quả của chúng đối với toàn bộ nền kinh tế ngày càng thấp, thậm chí là hiệu quả âm, gây cản trở cho sự phát triển của nền kinh tế Trước tình hình trên, các quốc gia đang phát triển đã loại bỏ phần lớn các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước bằng cách bãi

bỏ những quy định có liên quan và tư nhân hóa hầu hết các tập đoàn này, chỉ duy trì các tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước đối với những sản phẩm mà khu vực kinh tế tư

nhân làm không hiệu quả hoặc không làm được Điều đáng lưu ý là nguyên nhân của sự loại bỏ bắt nguồn từ bản chất sở hữu Nhà nước của những tập đoàn này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 23

Hiện nay, TĐKTNN vẫn được duy trì ở các nước phát triển, và ở cả các

nước công nghiệp mới (NICs) và một số nước đang phát triển có thu nhập cao, tuy nhiên, trừ trường hợp ngoại lệ là Singapore, các nước còn lại vẫn đứng trước nhiều khó khăn trong quá trình xử lý những vấn đề liên quan đến hoạt động của các tập đoàn này

Trái với các nước công nghiệp phát triển ở các nước đang phát triển từ những năm 1960 và 1970 đến nay TĐKTNN đang tiếp tục được mở rộng Sự xuất hiện của các TĐKTNN ở các nước đang phát triển là cần thiết khách quan của công tác quản

lý vĩ mô trong bối cảnh tất cả các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước như một công cụ can thiệp vào nền kinh tế Và nó cũng là kết quả của sự nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, nền độc lập về chính trị mà nhiều nước đang phát triển giành được đã khiến họ khao khát độc lập về kinh tế Công nghiệp hóa nhanh chóng nền kinh tế đất nước được coi là chìa khóa để phát triển và việc sở hữu tập trung các khu vực then chốt

và kế hoạch hóa tập trung được xem như là con đường nhanh nhất để hoàn thiện nền độc lập về chính trị và kinh tế Điều này đã được thực tiến nhiều nước đặc biệt

là Ấn độ chứng minh

Sự hình thành và phát triển TĐKTNN còn có những lý do kinh tế và chính trị Trong lĩnh vực kinh tế, ở các nước đang phát triển, kinh tế tư nhân còn non yếu

vì vậy phát triển kinh tế nhà nước và hình thành TĐKTNN có thể tạo ra được nhiều việc làm, nguồn tích lũy lớn và phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến, tạo đối trọng

để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài

Trong lĩnh vực chính trị, TĐKTNN là yếu tố cần thiết để nhà nước thực hiện chủ quyền dân tộc, giúp nhà nước thực hiện các mục tiêu như phân phối lại thu nhập, điều chỉnh lại sự phát triển mất cân đối giữa các ngành, các vùng, các tầng lớp dân cư, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác tương trợ vì lợi ích chung của quốc gia, hạn chế độc quyền trong tay một số cá nhân không có lợi cho sự phát triển chung của nền kinh tế

Trang 24

Một số nước như Việt Nam, Trung Quốc yếu tố chính trị còn được nhấn mạnh thêm nữa do các nước này lựa chọn con đường đi lên CNXH, về vai trò và vị trí của Nhà nước và kinh tế nhà nước có nhiều điểm khác biệt so với các nước tư bản

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của các TĐKT Nhà nước

1.2.3.1 Điều kiện kinh tế- xã hội

Là những tổ hợp kinh tế lớn với những liên kết kinh tế đa dạng, TĐKT chỉ có thể hình thành và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội phù hợp bao gồm trình độ phát triển của nền kinh tế, trình độ khoa học công nghệ cao, toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế được đẩy mạnh, gắn với vai trò của nhà nước Những nhân tố này vừa đóng vai trò là tất yếu khách quan nhưng cũng đồng thời là môi trường phát triển của các TĐKT Đối với TĐKTNN hai nhân tố quyết định đến

sự hình thành, phát triển và diệt vong của nó là Nhà nước và khu vực hóa, toàn cầu hóa, HNKTQT

Thứ nhất, trình độ phát triển của nền kinh tế

TĐKT chỉ được ra đời khi nền kinh tế đạt đến trình độ xã hội hóa sản xuất cao độ Xã hội hóa sản xuất là sự liên kết nhiều quá trình kinh tế riêng biệt thành quá trình kinh tế - xã hội Nó là một quá trình được hình thành, hoạt động và phát triển liên tục, tồn tại như một hệ thống hữu cơ Xã hội hóa sản xuất được quy định bởi sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và của sản xuất hàng hóa Bởi vì chính

sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và của sản xuất hàng hóa thúc đẩy sự phân công và hợp tác lao động phát triển, phá vỡ tính chất khép kín, biệt lập của các chủ thể kinh tế, của các vùng, các địa phương và của các quốc gia, thu hút chúng vào quá trình kinh tế thống nhất – tức xã hội hóa sản xuất phát triển cả chiều rộng

và chiều sâu Xã hội hóa sản xuất một mặt phản ánh sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để mỗi doanh nghiệp đa dạng hóa sở hữu, mở rộng phạm vi và lĩnh vực kinh doanh, tăng cường hợp tác dưới nhiều hình thức

Sản xuất xã hội hóa thúc đẩy cạnh tranh ngày càng gay gắt tạo điều kiện cho

Trang 25

tích tụ và tập trung sản xuất ngày càng cao Cạnh tranh có tác động trở lại làm cho

xã hội hóa sản xuất đạt đến trình độ cao hơn Với các điều kiện đó, mỗi doanh nghiệp cần tạo lập các liên kết kinh tế, nâng cao năng lực nhằm từng bước đáp ứng được yêu cầu về vốn, về tập trung sản xuất, về thị trường đồng thời đòi hỏi lựa

chọn hình thức phù hợp, từ đó thúc đẩy hình thành các TĐKT

Hai là, trình độ phát triển khoa học – công nghệ

Từ thập kỷ 30 của thế kỷ XIX đến nay, sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho các TĐKT phát triển nhanh chóng.Việc ứng dụng thành tựu của cuộc khoa học công nghệ vào sản xuất đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, làm biến đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế của các nước tư bản Một số ngành sản xuất mới xuất hiện như ngành hàng không, ngành đường sắt, ngành giao thông vận tải đường bộ, ngành sản xuất xe hơi, điện, khoa học vũ trụ, Kinh doanh trong những ngành này đòi hỏi quy mô lớn, vốn đầy tư nhiều vì những ngành sản xuất mới đòi hỏi cần có những nghiên cứu cơ bản, hệ thống, mang tính ứng dụng cao Muốn vậy, phải có một đội ngũ chuyên gia hàng đầu, trang thiết

bị hiện đại Các xí nghiệp nhỏ tự tích lũy, tích tụ tư bản thì không thể đủ tư bản để kinh doanh Đứng trước yêu cầu đó, sự phối hợp, liên kết nhiều công ty thành tập đoàn kinh tế lớn, có khả năng tài chính đủ mạnh để đầu tư nghiên cứu, phát triển, đi đầu trong những lĩnh vực mới, ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất là một đòi hỏi khách quan

Sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ có ảnh hưởng ngày càng lớn đến

sự phát triển kinh tế Đặc biệt trong kinh tế tri thức, khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng nhất Những thành quả của khoa học công nghệ được áp dụng ngày càng rộng rãi vào sản xuất đã nâng cao sức sản xuất lên rất nhiều trong vài thập kỷ trở lại đây Đặc biệt, sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách thức sản xuất, quản lý truyền thống và ảnh hưởng cả đến sinh hoạt, văn hóa của xã hội loài người Tin học hóa cũng làm xuất hiện những ngành tập trung công nghệ cao, vốn lớn, đổi mới nhanh thiết bị và chu

Trang 26

kỳ sản xuất ngắn có triển vọng phát triển Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phụ thuộc vào việc ứng dụng tiến

bộ công nghệ, thời gian thay đổi công nghệ và việc chuyển hóa thành công những thành tựu khoa học công nghệ thành hàng hóa Và càng ngày, ưu thế cạnh tranh chính là các quy trình trên diễn ra với tốc độ nhanh, chu kỳ sản phẩm rút ngắn Mặt khác, khoa học công nghệ, sản xuất và thị trường nối tiếp nhau ngày càng nhanh và chặt chẽ Thị trường trở thành trung tâm Việc lựa chọn công nghệ sản xuất, sản phẩm hay quy mô sản xuất của mỗi doanh nghiệp đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường với mục tiêu hàng đầu là tối đa hóa lợi nhuận Những yếu tố nói trên cho thấy, sự tồn tại của các TĐKT là khách quan, phù hợp, đồng thời là môi trường quan trọng thúc đẩy sự liên kết các công ty riêng lẻ, hình thành những tập đoàn kinh

tế lớn

Như vậy, tiến bộ khoa học công nghệ vừa là tiền đề, vừa là hệ quả tất yếu của việc hình thành các TĐKT, đồng thời cũng là nhân tố quan trọng để mỗi doanh nghiệp, mỗi tập đoàn giành thắng lợi trong cạnh tranh

Thứ ba, Nhà nước với việc phát triển TĐKTNN

- Giai đoạn hình thành nhà nước tạo tiền đề cho sự ra đời các TĐKTNN bằng cách thông qua các quy định, sắc lệnh để tích tụ, tập trung vốn, liên kết các doanh nghiệp lại với nhau hoặc thông qua con đường mua bán, sát nhập, tạo mới các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước

- Giai đoạn phát triển

Ở tầm vĩ mô Nhà nước tạo lập môi trường kinh tế chính trị - xã hội với những nền tảng cần thiết cho tập đoàn kinh tế Nhà nước hoạt động như hệ thống pháp luật đảm bảo môi trường bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau Bên cạnh đó, trong từng giai đoạn phát triển khác nhau, nhà nước cũng ban hành các quy định và chính sách liên quan đến phát triển TĐKTNN trong từng giai đoạn khác nhau

Trang 27

Tầm vi mô, các nhà nước cũng cũng luôn có những can thiệp vào các hoạt động tác nghiệp của các TĐKTNN ở những mức độ nhất định Từ việc ra các chính sách tài chính, tiền tệ, đến sự hỗ trợ về vốn, đào tạo nhân lực, tìm kiếm thị trường, kiểm soát vốn, danh mục đầu tư, mua bán, sát nhập để các TĐKTNN hoạt động có hiệu quả hơn

Thứ tƣ, mức độ hội nhập kinh tế quốc tế

Bản chất khách quan của khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế được quy định bởi 4 yếu tố chủ yếu: sự phát triển cao của lực lượng sản xuất trong thời đại khoa học- công nghệ; sự gia tăng phân công lao động quốc tế; sự phát triển của kinh tế thị trường trên phạm vi toàn thế giới và sự xuất hiện những vấn đề toàn cầu Trình độ khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng cao làm gia tăng mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới về kinh tế, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới như cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế sâu sắc hơn, kích thích gia tăng sản xuất không chỉ cấp độ quốc gia, mà còn mở rộng trên phạm vi toàn thế giới…

Ở các nước tư bản phát triển, môi trường kinh tế thế giới làm thay đổi chính sách công nghiệp và gia tăng cạnh tranh Các TĐKT độc quyền như Các ten, Xanhdica, Tơ rớt… suy giảm vì sự cạnh tranh gia tăng do kết quả của tự do hóa thương mại từ cuối những năm 1960 và việc sửa lại các luật chống độc quyền Kết quả là các tập đoàn liên kết theo chiều ngang giảm và các TĐKT liên kết dọc và hỗn hợp gia tăng Toàn cầu hóa cũng thúc đẩy nhanh sự hình thành và phát triển của các TĐKT xuyên quốc gia và đa quốc gia với phương châm lấy thế giới làm nhà máy của mình, lấy các nước làm phân xưởng của mình, thông qua phân công và hợp tác lao động quốc tế để lợi dụng kỹ thuật, vốn, sức lao động thị trường của các nước Các TĐKT xuyên quốc gia và đa quốc gia là bước phát triển cao của các TĐKT khi

mà quy mô, phạm vi hoạt động, cũng như càng hình thức liên kết trong TĐKT

Trang 28

ngày càng mở rộng Các TĐKT xuyên quốc gia và đa quốc gia trở thành lực lượng xung kích của quá trình toàn cầu hóa Trước xu thế này, TĐKTNN cũng phải có sự thay đổi về mô hình và cách thức liên kết, lĩnh vực hoạt động

Bên cạnh đó, ở các nước này TĐKTNN còn phải đối mặt với nguy cơ suy thoái Hai lý do khiến cho TĐKTNN có khả năng giảm về số lượng là:

Thứ nhất, do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự

xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, kinh tế tri thức đã tác động sâu sắc tới vai trò của nhà nước khiến cho việc hình thành TĐKTNN là không cần thiết

Những thành tựu trong lĩnh vực công nghệ ngày nay đã làm cho khái niệm độc quyền tự nhiên trở nên không còn ý nghĩa trong lĩnh vực sản xuất điện, các loại hình giao thông vận tải (đường sắt, hàng không), dịch vụ viễn thông (điện thoại, điện báo), điện và nhiều lĩnh vực khác Trước đây do độc quyền tự nhiên các lĩnh vực này được ấn định cho nhà nước Ngày nay, nhà nước có thể rút dần ra khỏi các hoạt động này

Nhà nước bây giờ cũng không cần thiết phải can thiệp vào thị trường với tư cách là nhà cung cấp một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó khi mà các cá nhân trong nước có thể tiếp cận với nhiều sự lựa chọn bên ngoài và có nhiều nhà đầu tư nước ngoài cung ứng trong nước hơn Ví dụ dịch vụ y tế và giáo dục…

Vai trò của nhà nước quốc gia, tính độc lập của các quốc gia có sự thay đổi đáng kể buộc vai trò của nhà nước phải trở nên tinh vi hơn, đạt đến một tính chất mới Các công ty xuyên quốc gia, các tập đoàn tài chính khổng lồ đang chi phối hoạt động kinh tế toàn cầu Bằng sức mạnh của mình, chúng đang thao túng, khống chế, thu hẹp quyền lực, phạm vi hiệu quả tác dụng của các chính sách kinh tế của các nhà nước quốc gia riêng rẽ Bên cạnh đó, sự can thiệp và những điều kiện của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế và khu vực, sự chi phối, khống chế của các cường quốc lớn (chủ yếu là các nước G7), sự vận động, gây sức ép của các tổ chức phi chính phủ, đang tạo ra những áp lực, ảnh hưởng, làm giảm sút vai trò của nhà nước, gây nên sự bất lực của nhiều chính phủ

Trang 29

Tính độc lập của các chính sách quốc gia cũng bị giảm sút Sức ép quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những chính sách không chỉ phù hợp với điều kiện trong nước mà còn phải tính đến những yếu tố quốc tế Mỗi chính sách, mỗi chiến lược phát triển mà một quốc gia đưa ra cần phải được xem xét, cân nhắc trong sự phụ thuộc, ràng buộc chặt chẽ với thông lệ quốc tế, với các đường lối, chính sách của nhiều quốc gia khác và các diễn biến của các quá trình vận động trên phạm vi toàn cầu

Nguồn thu ngân sách nhà nước cũng giảm sút do không duy trì các nguồn thuế suất cao và hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ khiến cho khả năng kiểm soát và điều tiết cấp vĩ mô của nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ giảm

Nói cách khác là trong bối cảnh kinh tế mới và quá trình toàn cầu hóa sâu, rộng, sức ép quốc tế cũng gây khó khăn và đặt ra vấn đề giảm bớt điều tiết với mô hình tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước khi trong thế giới chủ nghĩa tư bản đang đi theo lý thuyết tân tự do, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh

tế và thúc đẩy cạnh tranh

Một ví dụ đưa ra là Tập đoàn điện thoại và điện báo Nhật Bản (NTT: Nippon telephone and Telegraph Public Corporation) do nhà nước sở hữu (từ 1953 cho đến 1985), thường được nước ngoài nêu ra là có tác dụng quyết định thành công của ngành công nghiệp vi điện tử Nhật Bản NTT đã từng là thị trường lớn (nếu không nói là thị trường duy nhất) cho các máy bán dẫn tiên tiến, và nước ngoài cho rằng là hãng này đã thiên vị một cách có ý thức của các hãng Nhật Bản trong thu mua để góp phần tạo ra một cơ sở thị trường giúp cho các hãng Nhật Bản sau này thâm nhập vào thị trường xuất khẩu Sự tin tưởng vào thái độ thiên vị đó, đã góp phần tạo

ra bầu không khí đẻ ra quy ước thương lượng mậu dịch đa phương (MTN) - một hiệp định quốc tế nhằm hạn chế những hoạt động như vậy Khó khăn lớn trong cách cuộc thương lượng là làm thế nào để các nước khác (chủ yếu là Mỹ) biết được NTT không phải thiên vị với các hang Nhật Bản một cách không công bằng trong các vụ thu mua Thủ tướng Nhật lúc đó là Nakasone đã bắt đầu khuyến khích các cơ quan

Trang 30

chính phủ thu mua sản phẩm nước ngoài Trong khi đó, quốc Hội Mỹ lại đang có những cố gắng nhằm hạn chế sự thâm nhập tương ứng của nước ngoài vào thị trường viễn thông Mỹ Câu chuyện hài hước này đã là nguyên nhân xung đột liên miên giữa Nhật và Mỹ Và rõ ràng là trước những sức ép của những bạn hàng cạnh tranh và Mỹ, Nhật cũng đã phải nhượng bộ Mặc dù quyết định của thủ tướng Nhật

đã làm giảm hiệu lực của chính sách thu mua, vốn là công cụ hữu hiệu trong chính sách công nghiệp của Nhật Và sức ép của việc mở cửa thị trường có kiểm soát cho nước ngoài gia nhập và làn sóng cải tiến công nghệ, cùng với sự cần thiết phải giảm chi phí hành chính khi tình hình tài chính xấu đi sau cuộc khủng hoảng dầu lửa thứ nhất NTT cũng bị tư hữu hóa [28]

Thứ hai, TĐKTNN trong bối cảnh mới hoạt động không hiệu quả và chậm

thích nghi Nguyên nhân này gây ra bởi bản chất thuộc sở hữu của nhà nước Bất

kỳ nước nào, dù theo thể chế chính trị nào, khi thành lập TĐKTNN đều can thiệp sâu vào hoạt động của nó bao gồm cả mức giá, cơ cấu giá, sáp nhập, chất lượng dịch vụ cung cấp, các quy tắc an toàn, cơ cấu tài chính, thủ tục kế toán, chương trình đầu tư, phát hành chứng khoán, trái khoán, vay mượn, chỉ định các nhà quản

lý chóp bu và quan hệ ngành Mức độ sở hữu của nhà nước càng cao thì phạm vi can thiệp càng mạnh Và theo những điều luật khác nhau, các bộ liên quan có quyền kiểm soát chính thức với các TĐKTNN trong các ngành được điều tiết Ví dụ: ở Việt Nam Bộ công thương kiểm soát Tập đoàn than khoáng sản, Tập đoàn NTT của Nhật bị kiểm soát bởi Bộ Bưu điện và Viễn Thông Thêm vào đó, các hành động và quyết định của TĐKTNN còn chịu sự giám sát của Quốc hội hoặc của các hội đồng địa phương Mối quan hệ giữa các quyền điều tiết của các cơ quan pháp (Quốc hội

và hội đồng địa phương) và của các bộ liên quan không giống nhau Ban đầu, sự thay đổi về tổ chức này ở các TĐKTNN là thành công (hiệu quả của chúng trong sản xuất kinh doanh) nhưng sau này thì ngày càng suy giảm Sở dĩ như vậy, không những chỉ do địa vị độc quyền của chúng mà còn vì nhiều nguyên nhân khác Một

là sự can thiệp mạnh mẽ của Quốc hội đã làm suy yếu quyền độc lập ra quyết định của các Tập đoàn và làm xói mòn năng lực và ý chí của họ trong việc cải thiện quản

Trang 31

lý Hai là, những đòi hỏi quá đáng hoặc không hợp lý của Quốc hội với các TĐKTNN có thể dẫn đến thua lỗ rất lớn Chẳng hạn, việc xây dựng nhiều đường sắt địa phương mặc dầu dự đoán lỗ về tài chính đã dẫn đến thua lỗ tài chính của Japan National Railways của Nhật Bản Hay là những sai lầm của Chính phủ Anh trong việc đặt mục tiêu quá lớn và tin tưởng vào bản báo cáo đánh giá giá trị thị trường hàng không dân dụng không chuẩn xác trong ngành công nghiệp máy bay dân dụng của Anh khiến cho “Bristish Aerospce” không có sức cạnh tranh Ba là, chủ sở hữu Nhà nước vừa có vai trò điều tiết vĩ mô (quyền lực chính trị) và vừa có vai trò sở hữu (quyền lực kinh tế), và rất khó để tách rời quyền lực chính trị của Nhà nước ra khỏi quyền sở hữu kinh tế trong các TĐKTNN Sự cố kết giữa một bên là quyền lực chính trị phức tạp của nhà nước và một bên là quyền lực kinh tế (đặc biệt là quyền của Nhà nước đối với các TĐKT Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu) trước sau sẽ dẫn tới việc hình thành các thế lực “hoạt động ngầm” Quyền lực ngầm cộng với sự giằng xé giữa quyền lực chính trị và kinh tế cũng như quá trình quản lý bất cập do các chính khách kinh doanh (những người vốn thông thạo về chính trị hơn là kinh tế) khiến cho TĐKTNN khó có thể tự do xử lý vấn đề kinh doanh hiệu quả Cuối cùng là do có quá nhiều các cơ quan có thẩm quyền điều tiết tham gia vào việc điều tiết của nhà nước cho nên thật khó có thể nhận ra trách nhiệm cuối cùng là ở đâu

Đây là vấn đề mà các quốc gia phát triển phải tìm cách loại trừ và phòng ngừa bằng cách liên tục cải cách, phát triển thể chế kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và nhà nước xã hội dân sự

Ở các nước đang phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến các TĐKTNN ở những nước này theo một xu thế khác Trước xu thế hội nhập kinh tế mạnh mẽ, dù kinh tế yếu cũng buộc phải đối mặt với cạnh tranh gia tăng và sức ép

từ các nước phát triển khi phải chơi trong sân chơi của họ Và để tồn tại, các nước đang phát triển không còn cách nào khác là phải nhanh chóng tạo ra những tổ chức kinh tế mạnh đủ để đối chọi với những đối thủ mạnh Chính điều này cũng là nguyên nhân chính làm dấy lên xu hướng tập đoàn hóa ở các nước đang phát triển bằng con đường đầu tư của Chính phủ

Trang 32

Các nhân tố khác

Mặc dù không muốn bàn luận nhiều về chính trị, nhưng khi nói đến TĐKTNN, rất khó để loại bỏ quyền lực chính trị ra khỏi mô hình này vì bản thân chủ sở hữu của nó nhà nước là một tổ chức có chức năng chính trị Và để làm rõ thêm về mô hình này, phải làm rõ những quan điểm về sự điều tiết của nhà nước vì muốn hay không nhà nước cũng là nhân tố quyết định sự ra đời cho loại hình tập đoàn này Khi phân tích các trường hợp đặc biệt, tác giả muốn hướng đến làm rõ sự khác biệt và một số tác động đến mô hình TĐKTNN ở các nước theo con đường XHCN như Việt Nam, Trung Quốc, Vì vấn đề đặt ra là ở các nước này vai trò của Nhà nước và sự phát triển kinh tế có những yếu tố phức tạp hơn rất nhiều Ở các nền kinh tế này, toàn bộ quyền lực chính trị, kinh tế được tập trung trong tay nhà nước và các nhà nước XHCN ngay từ khi ra đời đã được đề cao chức năng xã hội, nhà nước chăm lo mọi mặt của đời sống nhân dân, bảo vệ phúc lợi kinh tế của công dân Nguồn lực kinh tế nhà nước nắm, là nguồn lực thuộc về toàn xã hội, đại diện cho cả quốc gia Hầu hết các nước này vốn không phải là những nước có nền kinh

tế mạnh (nếu không muốn nói là yếu) và đang phát triển trong một quá trình kép: vừa tiến hành và hoàn thiện nền kinh tế thị trường, vừa tiến hành công nghiệp hóa, vừa tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế trong một thế giới biến đổi nhanh, vừa thực hiện xây dựng CNXH Nghĩa là kết hợp giữa một nhà nước có vai trò điều tiết mạnh với việc phát triển một thị trường tự do trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ở một số điểm nhất định mô hình này gần với mô hình kinh tế thị trường xã hội Đức và Thụy Điển Bỏ qua vấn đề mô hình kinh tế thị trường xã hội sau một thời gian phát huy tác dụng cũng bắt đầu có sự trì trệ, cái tác giả muốn đề cập ở đây là những rắc rối trong hội nhập kinh tế quốc tế của các TĐKTNN XHCN trong lòng hệ thống luật chơi tư bản theo trường phái tân tự do và những kỳ thị không đáng có về chính trị Rõ ràng, chức năng xã hội được đề cao và đang trong quá trình công nghiệp hóa khiến cho các nước này dù muốn hay không cũng phải thành lập các TĐKTNN, tuy nhiên để nó hoạt động hiệu quả trong quá

Trang 33

trình hội nhập thì còn rất nhiều điều phải làm và sẽ phải đối mặt rất nhiều với những tranh chấp quốc tế và dư luận không đáng có

1.2.3.2.Xu thế phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh thị trường

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, để tồn tại doanh nghiệp buộc phải nhìn nhận và ứng phó với những sự thay đổi thị trường, áp lực cạnh tranh Vì vậy, xu hướng mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động là tất yếu khách quan TĐKT

là một mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh thích ứng khi các doanh nghiệp đã đạt được trình độ nhất định về vốn, thị phần, năng lực sản xuất, trình độ quản lý… và thiết lập các liên kết giữa công ty mẹ với doanh nghiệp thành viên Quá trình liên kết được thiết lập bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định như tự nguyện, cùng có lợi Và việc phát triển TĐKT theo mô hình nào tùy thuộc vào chiến lược và lợi nhuận của công ty Cũng như các TĐKT nói chung, chỉ có con đường hoạt động hiệu quả là yếu tố giúp TĐKT tồn tại và phát triển Muốn vậy, bản thân TĐKTNN phải có những chiến lược kinh doanh, quản lý tốt, nắm bắt thị trường và đẩy mạnh khoa học công nghệ nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh về sản phẩm và doanh nghiệp

1.2 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nước Trung Quốc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Trung Quốc

Trước năm 1978, cũng như nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác, do bị bao vây, cấm vận và những hạn chế chủ quan, nền kinh tế Trung Quốc hầu như đóng cửa, khép kín với các nước tư bản phát triển nên luôn lâm vào tình trạng trì trệ, tụt hậu

và khủng hoảng Từ năm 1979 đến nay, kinh tế Trung Quốc liên tục đạt mức tăng trưởng bình quân hằng năm cao nhất thế giới từ 9,5% trở lên (so với mức bình quân của thế giới khoảng 3,5%) và là nước có mức thu hút đầu tư nước ngoài và kim ngạch thương mại đứng thứ hai thế giới Nhân tố cơ bản có ý nghĩa quyết định làm cho nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng và phát triển nhanh trong suốt bốn thập kỷ

Trang 34

qua là do nước này đã thực thi quá trình cải cách kinh tế theo hướng mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đúng đắn Trung Quốc đã coi quá trình toàn cầu hóa là đặc trưng cơ bản của thế giới đương đại và xu thế tất yếu khách quan có tác động đối với sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc Vì thế, Trung Quốc phải tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và muốn HNKTQT, phải đẩy mạnh cải cách kinh tế theo hướng thị trường, từng bước tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực và toàn cầu với mục đích là đưa các doanh nghiệp và nền kinh tế Trung Quốc thâm nhập vào hệ thống phân công lao động quốc tế, trước hết là hệ thống công các công

ty xuyên quốc gia và đa quốc gia Trung Quốc cũng xác định rõ, toàn cầu hóa vừa

có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế, nhất là nền kinh tế của các nước đang phát triển, do đó cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng để thích ứng với toàn cầu hóa, nếu không chuẩn bị tốt thì hội nhập kinh tế quốc tế sẽ bị thua thiệt nhiều hơn so với lợi ích thu được

Điểm mấu chốt trong HNKTQT của Trung Quốc là phát triển kinh tế thị trường TĐKT là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường vì vậy Trung Quốc đã rất chú trọng đến vấn đề hình thành TĐKT Do tính đặc thù của Trung Quốc là hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước nên từ năm 1978 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành cải cách doanh nghiệp Nhà nước với một trong những nội dung quan trọng là hình thành các TĐKTNN mạnh có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế TĐKTNN Trung Quốc được gọi là tập đoàn doanh nghiệp và được định nghĩa cụ thể trong quy định của Nhà nước Trung Quốc như sau:

Tập đoành doanh nghiệp là một tập hợp các doanh nghiệp tồn tại độc lập một cách hợp pháp; hình thành một công ty mẹ, các công ty con (trong đó công ty

mẹ chiếm cổ phần đa số) và doanh nghiệp hoặc tổ chức thành viên

Quá trình hình thành và phát triển các TĐKTNN ở Trung Quốc đã trải qua

ba giai đoạn khác nhau Sự phát triển cụ thể từng giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Sự phôi thai của các TĐKTNN (1950-1980)

Đặc điểm chính của giai đoạn này là tạo điều kiện cho việc cùng quản lý

Trang 35

giữa các doanh nghiệp có liên quan mà không làm thay đổi cơ cấu sở hữu Từ cuối thập kỷ 50, Trung Quốc đã xây dựng thử nghiệm các tổ chức Tập đoàn xí nghiệp, các liên hiệp xí nghiệp theo kiểu Tơrớt như Công ty nhôm Trung Quốc Song do quốc “cách mạng văn hoá”, nên đã ngừng lại Hội nghị toàn thể lần thứ ba BCHTƯ Đảng khoá XI đã mở ra giai đoạn mới cho sự phát triển mô hình Tập đoàn Kể từ năm 1978, cải cách doanh nghiệp đã mang lại nhiều quyền tự chủ hơn cho các DNNN Các lãnh đạo doanh nghiệp bắt đầu chịu trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp Sự phối hợp của các doanh nghiệp trở nên quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Đầu năm 1980, Quốc vụ viện Trung Quốc đã thực hiện chính sách nhằm tận dụng các lợi thế so sánh, xây dựng một môi trường cạnh tranh và thúc đẩy hợp tác, theo đó nhiều tập đoàn dựa trên việc cùng quản lý đã được thành lập Việc cùng quản lý đã loại bỏ được những rào cản giữa các lĩnh vực và các ngành công nghiệp, tái thiết lại các ngành công nghiệp, tạo điều kiện cho chuyên môn hóa và tránh được những trùng lắp về dự án Tuy nhiên, hạn chế của việc cùng quản lý cũng rất lớn Khi Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng những TĐKT lớn cạnh tranh toàn cầu thì việc mở cửa thực sự thị trường về hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động có kỹ năng cao từ cuối năm 1980 được đẩy mạnh Trong khi đó việc cùng quản lý khiến cho việc thay đổi cơ cấu sở hữu, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và cơ quan hành chính nhà nước (chủ sở hữu của các DNNN) và sự thay đổi của hoạt động tài chính và cách thức phân chia lợi nhuận là không được phép

Giai đoạn 2: Sự hình thành các TĐKTNN Trung Quốc (1986-1991)

Vào ngày 23/03/1986 Quốc vụ viện Trung Quốc đã ban hành văn bản chính thức “Quy chế thúc đẩy sự liên kết và hợp tác kinh tế theo chiều ngang” Các DNNN được khuyến khích thành lập các TĐKT mà không có bất kỳ một hạn chế nào về địa bàn, lĩnh vực và ngành nghề Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “tập đoàn doanh nghiệp” xuất hiện trong văn bản chính thức của Nhà nước Trung Quốc, đánh dấu sự ra đời của các tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc hay (TĐKTNN Trung Quốc) Vào cuối năm 1986, Trung Quốc đã có tới 31.000 loại hình tổ chức, liên kết

Trang 36

doanh nghiệp khác nhau trong các lĩnh vực Sự hợp tác của các doanh nghiệp đầu tiên xuất hiện trong lĩnh vực sản xuất sau đó lan ra các lĩnh vực khác như nghiên cứu, đổi mới công nghệ, cung cấp nguyên liệu thô, bán sản phẩm, tiếp cận nguồn tín dụng và đầu tư các dịch vụ, chia sẻ thông tin Trên cơ sở những lĩnh vực này, nhiều đơn vị dù có quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo đều liên kết thông qua vốn, sản phẩm, công nghệ, chiến lược phát triển, dịch vụ, thông tin Tuy nhiên, chính sách của Chính phủ không cho phép việc sát nhập và mua lại giữa các DNNN Các doanh nghiệp có thể thiết lập hợp hợp tác chiến lược nhưng không được phép tái cơ cấu để tận dụng những lợi thế của việc liên kết Để giải quyết vấn đề này, Ủy ban cải cách

cơ cấu nhà nước và Ủy ban kinh tế nhà nước đã đề xuất tiếp tục thúc đẩy hình thành các TĐKT dựa trên hợp tác doanh nghiệp “ Đề xuất thành lập và phát triển các tập đoàn doanh nghiệp” vào tháng 12/1987 Đề xuất thành lập và phát triển các TĐKT

đã dẫn đến làn sóng phát triển đầu tiên của các TĐKT.Sau năm 1987, liên tiếp có 15 TĐDN được đưa vào kế hoạch Nhà nước, được nhà nước tạo điều kiện để phát triển nhanh hơn, có quyền tự chủ kinh doanh nhiều hơn Sau đó, 17 TĐDN được Ngân hàng nhân dân Trung Quốc cho phép lập công ty tài vụ, đây là một thuận lợi lớn để tăng năng lực huy động vốn trong toàn bộ Tập đoàn Với sự giúp đỡ, chỉ đạo của nhà nước, các TĐDN ở Trung Quốc được thành lập ở khắp nơi

Vào cuối năm 1989, Trung Quốc đã có 1.630 TĐKT đăng ký thành lập Tuy nhiên hầu hết là các TĐKT liên kết lỏng lẻo, vẫn chịu sự can thiệp lớn của Chính phủ

Để thúc đẩy sự phát triển của các TĐKT, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn “Đề án thí điểm TĐKT” vào tháng 12/1991 Mục tiêu chủ yếu của việc thí điểm là xác định những mô hình hiệu quả cao cho TĐKT, cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách để đưa ra các chính sách thuận lợi cho TĐKT và thúc đẩy lớn mạnh hơn sự phát triển của TĐKT Trung ương Đảng, Quốc vụ viện Trung Quốc quyết định chọn 100 TĐDN lớn cấp quốc gia để thí điểm, đồng thời ở các tỉnh cũng thành lập nhiều TĐDN cấp tỉnh

Các biện pháp cụ thể về việc xây dựng các TĐKT cũng được đưa ra Những

Trang 37

biện pháp này mang lại cho doanh nghiệp nhiều quyền kiểm soát hơn Công ty mẹ (công ty tập đoàn) được:

1) Báo cáo trực tiếp cho cơ quan chính phủ có thẩm quyền về kế hoạch hằng năm và

kế hoạch phát triển của mình

2) Ký kết các hợp đồng trực tiếp với các cơ quan chính phủ được chỉ định và sau đó ký hợp đồng phụ với các công ty con hoặc các doanh nghiệp thành viên của mình

3) Chịu trách nhiệm đối với việc hoàn trả các khoản vay cho các đầu tư lớn trong tập đoàn

4) Quản lý các hoạt động kinh doanh và thương mại khác

5) Báo cáo tất cả việc mua bán tài sản cho Ủy ban quản lý và giám sát tài sản của Nhà nước

6) Bổ nhiệm lãnh đạo của các công ty thành viên

Việc quản lý công ty mẹ được đảm bảo thông qua:

- Thành lập mối quan hệ công ty mẹ - công ty con thông qua đầu tư

- Trực tiếp quản lý DNNN thành viên được phê duyệt

Xu hướng kinh doanh quốc tế hoá, xuyên quốc gia hoá cũng được các tập đoàn doanh nghiệp ở Trung Quốc chú trọng từ rất sớm Năm 1988, được Quốc vụ viện chính thức phê chuẩn, Tổng công ty Xuất nhập khẩu công nghiệp hoá chất bắt đầu làm thử kinh doanh quốc tế hoá, chuyển từ chuyên doanh xuất nhập khẩu sang kinh doanh đa ngành đồng thời cũng “là DN đầu tiên bước lên vũ đài cạnh tranh quốc tế” Tính đến cuối năm 1991, tập đoàn doanh nghiệp Hoá chất Trung Quốc đã thành lập 54 chi nhánh ở các nơi trên thế giới, đạt mức doanh thu 35 tỷ USD, đầu tư

ra nước ngoài 200 triệu USD, có lượng tích luỹ kinh doanh quốc tế 12,3 tỷ USD, thu ngoại tệ cho Nhà nước 11,6 tỷ USD, nộp Ngân sách 10,8 tỷ NDT Tổng đầu tư vào mỏ sắt Slana ở Áo là 280 triệu đồng tiền Áo, trong đó Tổng công ty Xuất nhập khẩu luyện kim Trung Quốc góp 40% vốn (đây là mức đầu tư cao nhất Trung Quốc

Trang 38

tại thời điểm đó vào một hạng mục nước ngoài)

Vào năm 1997, thí điểm lần hai được bắt đầu với 63 TĐKT khác Thí điểm lần này tập trung vào các vấn đề tiếp cận tín dụng và đầu tư vốn ở các TĐKT Công

ty mẹ và công ty con của TĐKT cần phải được liên kết chủ yếu trên vốn đầu tư ban đầu Sự phát triển trong tương lai của TĐKT cần phải hướng đến mục tiêu nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, ngoại thương và trao đổi thông tin Một cuộc cải cách khác là tách rời DNNN với các cơ quan hành chính của chính phủ Thay vào đó, chính phủ Trung Quốc đã thành lập Ủy ban trung ương các DNNN lớn, cơ quan trực tiếp giám sát các TĐKT Từ đó trở đi, sự phát triển của TĐKT chuyển sang một giai đoạn mới

Giai đoạn 3: Tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế (2000 đến nay)

Từ cuối những năm 70, Trung Quốc đã chuyển sang chính sách mở cửa ra bên ngoài, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là từ sau năm 2000, Trung Quốc mở rộng mạnh mẽ các quan hệ song phương, liên kết khu vực Năm

2000, sau một thời gian mâu thuẫn, Trung Quốc và ASEAN bắt đầu có các đối thoại

về các mối quan hệ kinh tế và vào tháng 11 năm 2002 đã đạt được thỏa thuận xây dựng trong vòng 10 năm khu thương mại tự do chung Năm 2001, Trung Quốc cũng gia nhập WTO Điều đáng nói là Trung Quốc không chỉ tham gia vào thị trường thế giới như một nước đang phát triển chỉ quan tâm đến lợi ích của nước mình, mà còn tham gia để khẳng định vị trí của một cường quốc kinh tế mới nổi

Các tập đoàn quốc gia thành công ở các nước tư bản như tập đoàn Nokia, Wall Mark, Sony hướng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đi đến kết luận rằng việc phát triển các TĐKT là một cách hiệu quả để đuổi kịp với các tập đoàn khổng lồ trong một thời gian ngắn và có thể đây là cách duy nhất mà các doanh nghiệp Trung Quốc có thể cạnh tranh với các tập đoàn quốc tế Trong kế hoạch năm năm lần thứ

X, năm 2000, Trung Quốc đã đề ra mục tiêu thành lập các TĐKT có tiềm lực to lớn trong đổi mới công nghệ, thương hiệu, quyền tài sản và cạnh tranh quốc tế mạnh với chủ trương phát triển khoảng 30 -50 tập đoàn đạt tiêu chuẩn quốc tế trong tương lai

Trang 39

gần Và năm 2000, Trung Quốc đã thành lập Ủy ban giám sát và quản lý tài sản nhà nước, trong đó có việc quản lý và giám sát tài sản nhà nước tại các tập đoàn

Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc đã phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế nhiều hơn Thị trường nội địa ngày càng được quốc tế hóa, nền kinh tế Trung Quốc phải áp dụng các chính sách mở cửa trong mọi lĩnh vực Nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư thêm vào Trung Quốc và điều chỉnh các chiến lược hoạt động Để chiếm ưu thế và tìm thấy vị thế của mình trong quá trình toàn cầu hóa, các TĐKT Trung Quốc sẽ phải có khả năng cạnh tranh quốc tế và không thể dựa vào sự bảo hộ của Chính phủ Điều đó sẽ buộc các TĐKT Trung Quốc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước và cần dựa vào lợi thế về các nguồn lực và lao động rẻ Do đó, các ngành sử dụng nhiều lao động và vốn tương đối lớn là những ngành chính có thể mang lại sự tăng trưởng cho các TĐKT Trung Quốc Những năm gần đây, với ảnh hưởng mạnh mẽ của xu hướng mở cửa, hội nhập, các TĐDN Trung Quốc nhanh chóng vươn ra thị trường quốc tế, ví dụ: Công ty Gang thép Bắc Kinh đã mua 70% cổ phần của Công ty công trình Mácta (Mỹ) - một xí nghiệp luyện kim nổi tiếng thế giới, tạo nên một ưu thế mới trong cạnh tranh quốc tế; Công ty đầu tư tín dụng quốc tế của Trung Quốc hợp tác với ba công ty của Nhật Bản lập ra Công ty Thương mại tại Tokyo; Ngân hàng Trung Quốc bắt tay với Ngân hàng nước ngoài lập ra doanh nghiệp tài chính ở Hồng Công

Quá trình phát triển của các tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc cho thấy vai trò quan trọng của mô hình này đối với sự phát triển kinh tế đất nước Với quy mô lớn, hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực, các tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc từng bước trở thành trụ cột trong sự phát triển kinh tế đất nước, có ảnh hưởng đế các chỉ tiêu kinh tế quốc gia như thu nhập quốc dân, tổng sản phẩm quốc dân, tốc

độ tăng trưởng vv Các TĐKTNN Trung quốc đã tạo điều kiện nội tại cho sự phát triển, phân bố hợp lý các nguồn lực, khai thác lợi thế quy mô, đồng thời chúng còn đóng vai trò quan trọng điều chỉnh cơ cấu ngành, vùng Hệ thống các tập đoàn đã

Trang 40

thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình hoạt động, qua đó góp phần điều chỉnh và tối ưu hóa các nguồn lực đầu vào cho sản xuất nhằm tạo năng suất cao Hình thành và phát triển tập đoàn doanh nghiệp còn góp phần tạo động lực mới, tạo cơ hội hợp tác cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khắc phục điểm yếu và phát huy lợi thế trong hoạt động Tập đoàn doanh nghiệp cũng độc lập hơn đối với các cơ quan hành chính của nhà nước.Việc hình thành sự hợp tác làm giảm đáng kể

sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp, từ đó các công ty cũng

có thể độc lập hơn trong sản xuất kinh doanh mà độc lập là yếu tố quan trọng trong

sự phát triển của các công ty Bên cạnh đó, các TĐKTNN cũng giúp chính phủ quản

lý các DNNN và thực hiện các chính sách vĩ mô Trong một TĐKT thường có rất nhiều thành viên, nên chính phủ có thể quản lý gián tiếp các rất nhiều doanh nghiệp thành viên thông qua quản lý, kiểm soát tập đoàn thông qua quan hệ về vốn hoặc quan hệ hợp tác sản xuất chứ không phải bằng các biện pháp hành chính như trước kia Sự ra đời và phát triển của các tập đoàn doanh nghiệp còn thúc đẩy nghiên cứu, triển khai, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, tăng cường nghiên cứu cơ bản, phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm tìm kiếm những sản phẩm mới, công nghệ sản xuất mới nhằm giảm giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh- điều mà các doanh nghiệp độc lập hay các doanh nghiệp nhỏ khó thực hiện được Qua thực tiễn hoạt động của các tập đoàn doanh nghiệp mô hình này có tiềm năng, điều kiện trong hội nhập kinh tế quốc tế và thực sự trở thành lực lượng chủ lực trong tiến trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế Chỉ có các tập đoàn mới có

đủ khả năng, điều kiện tạo ra những sản phẩm mới, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng

và có sức cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu Bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống TĐKTNN Trung Quốc cũng có những hạn chế

Các TĐKTNN Trung Quốc có quy mô tương đối nhỏ, không có năng lực đặc biệt, sức mạnh kinh tế thấp Một số tập đoàn được thành lập bằng những mệnh lệnh hành chính của Chính phủ, sáp nhập các công ty kinh doanh có hiệu quả với các công ty thua lỗ đã không thu được kết quả Việc tổ chức xây dựng tập đoàn chưa đi sâu vào chất lượng mà chỉ đơn giản là gia tăng về số lượng TĐKT và khối lượng

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Kim Anh (2008), “Một số vấn đề về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam và các ngân hàng do tập đoàn kinh tế mới thành lập”, Tạp chí quản lý kinh tế số 19, Tr.54-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam và các ngân hàng do tập đoàn kinh tế mới thành lập”, "Tạp chí quản lý kinh tế số 19
Tác giả: Nguyễn Kim Anh
Năm: 2008
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (17/10/2002), Báo cáo nghiên cứu “ Cải cách doanh nghiệp Nhà nước – Kinh nghiệm Trung Quốc so sánh với Việt Nam”, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu “ Cải cách doanh nghiệp Nhà nước – Kinh nghiệm Trung Quốc so sánh với Việt Nam”
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (10/10/2003), Báo cáo khảo sát “ Trung Quốc sau đại hội 16 của Đảng cộng sản:Những vấn đề và triển vọng phát triển”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát “ Trung Quốc sau đại hội 16 của Đảng cộng sản: "Những vấn đề và triển vọng phát triển”
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (24- 25/02/2005), Hội thảo “ Kinh nghiệm quốc tế về tập đoàn kinh tế” do chính phủ Việt Nam và Ôxtrâylia tài trợ, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo “ Kinh nghiệm quốc tế về tập đoàn kinh tế” do chính phủ Việt Nam và Ôxtrâylia tài trợ
6. Bộ kế hoạch và đầu tư (2007), Chuyên đề phục vụ lãnh đạo “Xu thế hình thành tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xu thế hình thành tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”
Tác giả: Bộ kế hoạch và đầu tư
Năm: 2007
8. Chính phủ (1995), Nghị định số 39/CP ngày 27/6/1995 của Chính phủ ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Nhà nước, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: của Chính phủ ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1995
9. Chính phủ (2004), Nghị định số 153/2004/ NĐ-CP ngày 09/08/2004 của Chính phủ về tổ chức, quản lý Tổng công ty nhà nước và chuyển đổi Tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo mô hình Công ty mẹ - công ty con, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tổ chức, quản lý Tổng công ty nhà nước và chuyển đổi Tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo mô hình Công ty mẹ - công ty con
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
10. Chỉ thị số 11/2004/CT-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 ( khóa IX) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3
11. Trần Tiến Cường ( chủ biên) (2005), Tập đoàn kinh tế - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế - Ứng dụng vào Việt Nam, NXB Giao thông vận tải, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn kinh tế - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế - Ứng dụng vào Việt Nam
Tác giả: Trần Tiến Cường ( chủ biên)
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2005
12. Trần Tiến Cường, Trưởng ban DN – Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương (2003), Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển của các tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc – Những kinh nghiệm tham khảo, đôi điều so sánh và những vấn đề về phát triển tập đoàn kinh tế của Việt Nam, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển của các tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc – Những kinh nghiệm tham khảo, đôi điều so sánh và những vấn đề về phát triển tập đoàn kinh tế của Việt Nam
Tác giả: Trần Tiến Cường, Trưởng ban DN – Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương
Năm: 2003
13. Vũ Thị Dậu, Nguyễn Minh Phong (2010) “03 bài học cảnh báo từ “sự kiện Vinashin””, Tạp chí Hội nhập và phát triển, số tháng 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 03 bài học cảnh báo từ “sự kiện Vinashin””, "Tạp chí Hội nhập và phát triển
14. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng" Nguyễn Tấn Dũng
15. Nguyễn Văn Đăng ( chủ biên) Tổng công ty nhà nước hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế - Nxb Giao thông năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng công ty nhà nước hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế
Nhà XB: Nxb Giao thông năm 2005
16. Vũ Thị Xuân Hương, Phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam, LSTS kinh tế, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam
21. Nguyễn Đăng Nam ( 2003), Bình luận về báo cáo: “ Các tập đoàn doanh nghiệp của Trung Quốc: Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển” của GS Baoli Xu và Minggao Shen, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận về báo cáo: “ Các tập đoàn doanh nghiệp của Trung Quốc: Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển” của GS Baoli Xu và Minggao Shen
22. Nguyễn Đình Nhơn (2006), Kinh nghiệm từ những tập đoàn hàng đầu thế giới, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm từ những tập đoàn hàng đầu thế giới
Tác giả: Nguyễn Đình Nhơn
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2006
23. Bùi Văn Huyền (2008), Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt nam
Tác giả: Bùi Văn Huyền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
25. Đinh Văn Sơn (2010), “Một số ý kiến về tái cấu trúc các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí khoa học thương mại số 35,Tr.8-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về tái cấu trúc các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí khoa học thương mại
Tác giả: Đinh Văn Sơn
Năm: 2010
26. Nguyễn Ngọc Sự, Các giải pháp tài chính trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển Tổng công ty Dầu khí Việt Nam theo hướng tập đoàn kinh tế : LATS Kinh tế, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tài chính trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển Tổng công ty Dầu khí Việt Nam theo hướng tập đoàn kinh tế
27. Trần Ngọc Thơ ( 2005), “ Hội chứng tập đoàn kinh tế”, tạp chí phát triển kinh tế ( số tháng 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hội chứng tập đoàn kinh tế”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT (Trang 6)
2.1  Top  10  bảng  xếp  hạng  500  doanh  nghiệp  lớn  nhất  Việt  Nam  năm 2009 - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
2.1 Top 10 bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009 (Trang 7)
Hình 2.1. Thị phần bảo hiểm nhân thọ năm 2009 - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hình 2.1. Thị phần bảo hiểm nhân thọ năm 2009 (Trang 68)
Bảng 2.1. Top 10 bảng xếp hạng  500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009  Xếp hạng  Tên công ty - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.1. Top 10 bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009 Xếp hạng Tên công ty (Trang 75)
Bảng 2.2. Quy mô các tập đoàn kinh tế Nhà nước- Tài sản và vốn chủ sở hữu - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.2. Quy mô các tập đoàn kinh tế Nhà nước- Tài sản và vốn chủ sở hữu (Trang 76)
Hình 2.2. Số vốn cắt giảm đầu tƣ tại một số tập đoàn trong năm 2008  Nguồn :www.tapchicongsan.org.vn - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hình 2.2. Số vốn cắt giảm đầu tƣ tại một số tập đoàn trong năm 2008 Nguồn :www.tapchicongsan.org.vn (Trang 82)
Bảng 2.4. Vốn đầu tư Nhà nước và tỷ trọng vốn đầu tư Nhà nước trong vốn  chủ sở hữu - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.4. Vốn đầu tư Nhà nước và tỷ trọng vốn đầu tư Nhà nước trong vốn chủ sở hữu (Trang 85)
Bảng 2.6. Mức độ an toàn của vốn đầu tƣ - Phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.6. Mức độ an toàn của vốn đầu tƣ (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm