Tính cấp thiết của đề tài Một trong những nội dung trọng tâm của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là khôi phục các làng nghề truyền thống, hình thành và phát triển các làng nghề mới, vì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
Nguyễn Thị Mai Hương
Phát triển bền vững làng nghề
ở bắc ninh
Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ DANH TỐN
Hà Nội - 2011
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ ……… 5
1.1.Một số vấn đề lý luận chung về phát triển bền vững làng nghề…… 5
1.1.1.Làng nghề……….5
1.1.2.Phát triển bền vững làng nghề……… 20
1.2 Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề ở một số nước và địa phương trong nước ……… 27
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước Châu Á ……… 27
1.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành trong nước ……….31
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm có thế áp dụng ở Bắc Ninh … 37
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ Ở BẮC NINH ……… 39
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề ở Bắc Ninh ……… 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên ……….39
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội ………40
2.2 Cơ chế, chính sách của tỉnh Bắc Ninh về phát triển bền vững làng nghề 45
2.3 Tình hình phát triển bền vững làng nghề ở Bắc Ninh ………48
2.3.1 Về kinh tế ……….48
2.3.2 Về xã hội ……… 66
2.3.3 Về môi trường sinh thái trong quá trình phát triển làng nghề …… 71
2.4 Đánh giá chung về phát triển làng nghề bền vững ở Bắc Ninh ………… 75
Trang 42.4.1 Những thành tựu ………75
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong phát triển bền vững làng nghề ở Bắc Ninh ……….79
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ BẮC NINH TRONG THỜI GIAN TỚI… 87
3.1 Bối cảnh mới và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững làng nghề ở Bắc Ninh……….87
3.2 Phương hướng phát triển bền vững làng nghề ở Bắc Ninh ……….90
3.2.1 Phát triển làng nghề theo hướng đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại ……… 90
3.2.2 Khôi phục làng nghề truyền thống đi đôi với phát triển làng nghề mới gắn với thị trường ………92
3.2.3 Phát triển làng nghề gắn với đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ……….94
3.2.4 Phát triển làng nghề gắn với tạo nhiều việc làm, thu nhập tăng lên và ổn định cho người lao động, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn 95 3.2.5 Phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc ở làng nghề ……… 95
3.2.6 Phát triển làng nghề gắn với bảo vệ môi trường sinh thái ……… 96
3.3 Những giải pháp cơ bản phát triển bền vững làng nghề Bắc Ninh ….97
3.3.1 Quy hoạch phát triển làng nghề ……… 97
3.3.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ……… 99
3.3.3 Đổi mới công nghệ……… 100
3.3.4 Xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở……… 101
3.3.5 Phát triển thị trường và thương hiệu sản phẩm ………104
Trang 53.3.6 Giải quyết hài hoà các vấn đề xã hội ở các làng nghề ………109
3.3.7 Tăng cường công tác quản lý môi trường tại các làng nghề, xây dựng
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
12 TTCN Tiểu thủ công nghiệp
13 UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Phân bổ các loại hình làng nghề ở Việt Nam 11
2 Bảng 1.2.Tốc độ phát triển làng nghề qua các năm
Trang 8Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nội dung trọng tâm của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là khôi phục các làng nghề truyền thống, hình thành và phát triển các làng nghề mới, vì nó tạo ra nhiều việc làm, thu hút lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp vào các hoạt động dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nông dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế mở, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu Đây là nhiệm vụ không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng XHCN
Tỉnh Bắc Ninh có mật độ dân số là 1227 người/ km2, đứng thứ hai của khu vực Đồng bằng sông Hồng (sau tỉnh Hưng Yên) và đứng thứ 3 trong cả nước (sau Thành Phố Hồ Chí Minh và tỉnh Hưng Yên), ruộng đất bình quân đầu người và năng suất lao động lại thấp, sản lượng không ổn định Do đó, vấn đề việc làm đặt ra gay gắt Hơn nữa khi sản xuất nông nghiệp phát triển dựa trên cơ sở ứng dụng Khoa học - công nghệ tiên tiến làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, cùng với quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá cùng diễn
ra mạnh mẽ khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp thì điều đó vừa tạo điều kiện vừa đòi hỏi tất yếu phải phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, trong đó phát triển Làng nghề là hướng cơ bản khả thi trong chiến lược phát triển của tỉnh Bắc Ninh Hiện nay, Bắc Ninh có tới
62 làng nghề, trong đó có 31 làng nghề truyền thống và 31 làng nghề mới Bên cạnh những làng nghề đang phát triển mạnh mẽ và trở lên giàu có góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cũng có không ít làng nghề đang
bị điêu đứng và đứng trước nguy cơ mất nghề Nhiều làng nghề hoạt động không ổn định, nhiều vấn đề xã hội bức xúc đã và đang nảy sinh ở các làng
Trang 9nghề Không chỉ vậy, hoạt động của các làng nghề ở Bắc Ninh đang phải đối mặt với thách thức to lớn là ô nhiễm môi trường trở thành phổ biến và đã đến mức báo động do lượng phát thải từ quá trình sản xuất chưa được kiểm soát
và xử lý khoa học, triệt để Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chung của tỉnh bởi làng nghề vốn được coi như một thế mạnh của tỉnh Bắc Ninh Do vậy, quá trình phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay đòi hỏi cấp thiết phải giải quyết hài hoà các vấn đề phát triển kinh tế, phát triển xã hội Vấn đề này cần được nghiên cứu, luận giải để làm rõ và đưa ra giải pháp
phát triển đúng đắn Chính vì vậy, tôi chọn vấn đề: “Phát triển bền vững làng
nghề ở Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Phát triển làng nghề nói chung và phát triển bền vững làng nghề nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và hoạch định chính sách, nghiên cứu trên nhiều phương diện Tiêu biểu như:
- Hội thảo Quốc tế về bảo tồn và phát triển Làng nghề truyền thống
Việt Nam: “Về các giải pháp phát triển Tiểu thủ công nghiệp theo hướng
CNH, HĐH ở vùng Đồng bằng Sông Hồng” Năm 2009
- Mai Thế Hởn (2000), “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá
trình CNH, HĐH vùng ven thủ đô Hà Nội”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế,Hà Nội
- Trần Minh Yến (2004), “Làng nghề truyền thống trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb Khoa học xã hội
- Sở Kế hoạch và đầu tư Bắc Ninh (2008), “Làng nghề ở Bắc Ninh -
Tiềm năng và hội nhập”
- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Bắc Ninh (2007), “Thực trạng
và giải pháp đào tạo nghề ở làng nghề tỉnh Bắc Ninh”
- Phạm Sơn (2004), “Làng nghề và thống kê làng nghề”, Tạp chí Thông
tin Khoa học Thống kê
Trang 10-Trần Anh Phương (2008) “Phát triển bền vững ở Việt Nam: Thực
trạng và vấn đề đặt ra” Tạp chí cộng sản, số 6/2008
- Nguyễn Trung Chánh(2010): “Phát triển làng nghề Bắc Ninh theo
hướng bền vững”, Tạp chí cộng sản, số 7/2010
- “Doanh nghiệp làng nghề với quá trình hội nhập, cơ hội , thách thức
và giải pháp” Kết quả hội thảo tổ chức bởi Trung tâm kinh tế Châu á - Thái
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh theo hướng bền vững Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển bền vững các làng nghề của Bắc Ninh trong thời gian tới
Với mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng của phát triển bền vững làng nghề trong những năm gần đây ở Bắc Ninh
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề ở Tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh mới
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển bền vững của các làng nghề ở Tỉnh Bắc Ninh dưới góc độ khoa học Kinh tế Chính trị
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh từ khi tái lập Tỉnh (năm 1997) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như trìu tượng hóa khoa học, kết hợp logic với lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh đối chiếu, thống kê kinh tế, Các phương pháp này được sử dụng phù hợp với từng nội dung trong luận văn
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề
- Phân tích và làm rõ thực trạng phát triển làng nghề ở Tỉnh Bắc Ninh theo hường bền vững từ năm 1997 đến nay
- Đưa ra phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề ở Tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh mới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 12
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về phát triển bền vững làng nghề
1.1.1 Làng nghề
1.1.1.1 Khái niệm
Lịch sử phát triển Việt Nam gắn liền với đơn vị hành chính làng xã, cũng là nơi sinh sống và làm việc của người dân Trong luỹ tre làng là cả xã hội thu nhỏ với các mối liên kết đan xen trong cuộc sống và trong công việc Làm ruộng không chỉ là một nghề nghiệp chủ yếu mà còn là một cách sống, một đặc trưng văn hoá của hầu hết cư dân ở các làng xã ở Việt Nam Trong quá trình phát triển, một bộ phận dân cư tách ra và làm nghề khác Ban đầu, các nghề phi nông nghiệp xuất hiện ở một số hộ gia đình, nhưng rồi trong quá trình phát triển và chuyên môn hoá sản xuất, số hộ gia đình và số người làm nghề tăng lên, dần chiếm đa số Lúc này, làng nghề được hình thành, trở thành tên gọi thậm chí là “thương hiệu” trong vùng và cả nước Ví dụ như
“Gạch Bát Tràng”, “Giấy Yên Thái”, “Vàng bạc Châu Khê”, “Đúc đồng Đại Bái”… với trình độ tinh xảo và phân công lao động khá cao Do đó, quá trình phát triển làng nghề ở Việt Nam chính là quá trình phát triển kinh tế nông thôn, đồng thời là lịch sử phát triển của nền tiểu thủ công nghiệp Việt Nam
Khái niệm làng nghề có rất nhiều Dưới đây là một số khái niệm về làng nghề được tổng hợp từ các nguồn tài liệu:
Trang 13Vài năm trở lại đây, số người dân Bát Tràng chuyển sang làm nghề thương mại và dịch vụ tăng mạnh
Khái niệm thứ hai
Làng nghề là làng làm nghề thủ công, nhưng không nhất thiết là đa số dân làng Thợ thủ công cũng làm nghề nông nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá đã trở thành thợ chuyên sản xuất hàng thủ công.[15, tr6]
Khái niệm này có thể dẫn tới việc hiểu tiêu chí đánh giá làng nghề quá đơn giản Làng nghề được công nhận phải được xem xét dưới góc độ vai trò của nghề đó đối với sự phát triển kinh tế của làng với những tiêu chí cụ thể về
số lao động tham gia và tỷ trọng thu nhập từ nghề đó
Khái niệm thứ ba
Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, có liên kết trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ và có cùng tổ nghề.[15, tr7]
Khái niệm này đã khái quát về khía cạnh nghề nghiệp trong cách hiểu
về làng nghề nhưng cái thiếu là chưa phản ảnh được hết tính chất của làng nghề với vai trò là một thực thể sản xuất kinh doanh có ý nghĩa đối với các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội
Khái niệm thứ tƣ
Làng nghề là cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách khỏi nông nghiệp để sản xuất, kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng số giá trị sản phẩm của cả làng.[15, tr8]
Khái niệm này mặc dù rất đơn giản về tiêu chí nhưng phản ánh được tính chất của làng nghề trên góc độ kinh tế Việc xác định làng nghề chỉ nên
Trang 14dựa chủ yếu vào tiêu chí kinh tế bởi làng nghề thực chất là một mô hình phát triển kinh tế đặc thù
Trước đây, làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, tên làng nghề gắn liền với tên nghề Nhưng hiện nay, trong xu hướng lĩnh vực thương mại và dịch vụ đóng vai trò quan trọng đã dẫn tới sự hình thành các làng nghề hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Qua một số khái niệm nói trên, có thể thấy rằng:
Làng nghề là một không gian kinh tế nhất định, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, chủ yếu liên quan tới các nghề thủ công và một số dịch
vụ, trong đó lao động và thu nhập từ nghề này chiếm tỷ trọng lớn hơn
Làng nghề có thể được xem xét dưới nhiều góc độ, với nhiều cách hiểu khác nhau và cũng phù hợp với sự phát triển hiện nay Do đó, để làm rõ khái niệm về làng nghề, Thông tư số 116/2006/TT - BNN của Bộ NN và PTNT, ngày 18/12/2006 đã đưa ra những tiêu chí cụ thể sau:
- Số hộ làm nghề đó chiếm từ 25%
- Thu nhập từ nghề đó chiếm trên 50%
- Giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của làng
- Thời gian phát triển ổn định từ 2 năm trở lên
1.1.1.2 Đặc điểm
Làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Làng nghề Việt Nam đa dạng về cơ cấu ngành hàng và
chủng loại mặt hàng Đặc điểm này xuất phát từ chính cơ sở hình thành ban đầu của làng nghề là khai thác lợi thế tại chỗ và phục vụ nhu cầu dân cư trong vùng Ngoài ra, trong bối cảnh nền sản xuất nhỏ, nặng về tự cung tự cấp nên làng nghề là nguồn cung cấp nhiều loại hàng hoá thiết yếu cho dân cư trong nhiều thế kỷ Do đó, cơ cấu mặt hàng của làng nghề Việt Nam rất đa dạng,
Trang 15phong phú Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện tại có 2.017 làng nghề với hơn 40 nhóm nghề chính, sản xuất ra hàng trăm nghìn chủng loại sản phẩm [21]
Trong điều kiện phát triển kinh tế, tăng cường hội nhập quốc tế và nhất
là trong xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làng nghề có cơ hội mở rộng ngành hàng, lĩnh vực mới Hiện nay, làng nghề không chỉ còn bó gọn trong một số ngành hàng tiểu thủ công nghiệp được cha ông để lại mà mở thêm nhiều lĩnh vực mói như công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Ví dụ, ở Bắc Ninh các làng nghề đã có nhiều mặt hàng mới, tỷ trọng các ngành cơ khí, vật liệu xây dựng, thực phẩm tăng rõ rệt so với trước đây
Thứ hai: Làng nghề thường gắn với nông nghiệp, nông thôn Nông
thôn là nguồn cung cấp nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ chủ yếu cho các sản phẩm làng nghề
Các làng nghề nông sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ (TCMN)… lấy nguyên liệu chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp Điều đó thể hiện rõ sự phân bố làng nghề ở Việt Nam thường gắn với vùng nguyên liệu, như Nga Sơn (Thanh Hoá), Kim Sơn (Ninh Bình) nổi tiếng về các làng nghề chiếu cói
là nhờ có vùng nguyên liệu cói
Về nhân lực, làng nghề phụ thuộc hoàn toàn vào lao động nông nghiệp Hiện có 100% lao động làng nghề xuất thân từ nông thôn với hình thức làm việc bán thời gian là chủ yếu Thu hút lao động nông nhàn là thế mạnh (cho phép giảm chi phí tối đa) và cũng là điểm chủ yếu của làng nghề, bởi vậy khi nhận được đơn hàng vào dịp nông vụ, các làng nghề không có đủ lao động để đáp ứng tiến độ giao hàng
Sản phẩm làng nghề được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường nông thôn và khách hàng chủ yếu là người làm nông nghiệp Đa số làng nghề có đích nhắm
Trang 16tiêu thụ sản phẩm là thị trường trong vùng Điều này có thể thấy rất rõ ở đa số ngành hàng từ chế biến thực phẩm đến cơ khí…
Thứ ba: Quy mô sản xuất ở các làng nghề hiện còn nhỏ bé, thể hiện ở
quy mô sử dụng lao động, doanh thu… Việt Nam có khoảng 11 triệu người thuộc hơn 1,4 triệu hộ gia đình làm việc ở các làng nghề Trong đó, mô hình
tổ chức gia đình là chủ yếu Năm 2005, tại đồng bằng sông Hồng, hình thức sản xuất hộ gia đình chiếm 99% các loại hình tổ chức sản xuất (Thái Bình, Hải Dương là 99,1%, Hà Tây là 99,6% …) Các hình thức tổ chức sản xuất HTX, tổ hợp, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần không đáng kể [6, tr20]
Quy mô nhỏ của sản xuất làng nghề còn thể hiện ở tiêu chí vốn Điều tra của Bộ NN & PTNT cho thấy vốn sản xuất bình quân mỗi hộ gia đình làm nghề là 25,73 triệu đồng.[6, tr25]
Trung bình mỗi cơ sở sản xuất làng nghề chỉ có 5 - 6 lao động Tương ứng với quy mô sử dụng lao động là doanh thu thấp Quy mô sản xuất nhỏ có thể thấy qua con số đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu của làng nghề Năm
2006, xuất khẩu của làng nghề chỉ đạt 650 triệu USD, tính trung bình mỗi lao động ở làng nghề chỉ đóng góp cho xuất khẩu 60 USD/năm, cho thấy năng lực sản xuất làng nghề còn hạn chế
Thứ tư: Đa dạng mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh Làng nghề có
nhiều mô hình tổ chức sản xuất bởi đặc thù tận dụng tối đa thời gian nhàn rỗi của dân cư nông thôn Hình thức hộ gia đình chiếm đa số với tỷ lệ lên tới 80 - 90%, có nơi gần 100% Các mô hình sản xuất theo kiểu Doanh nghiệp còn ít,
mô hình công ty cổ phần mới có ở Hà Nội, Bắc Ninh… và số lượng rất nhỏ
Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện cả nước có 40.500 cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề theo mô hình doanh nghiệp, trong đó công ty TNHH chiếm 14,16%, HTX 5,76%, doanh nghiệp tư nhân 80% Số lượng
Trang 17doanh nghiệp làng nghề còn quá ít so với mô hình sản xuất hộ gia đình (1,4 triệu hộ).[22]
Theo số liệu thống kê ở tỉnh Bắc Ninh, khu vực làng nghề toàn tỉnh có
308 công ty TNHH, 202 DN tư nhân, 214 HTX so với 18.415 hộ cá thể Những con số trên cho thấy sự đa dạng về mô hình tổ chức sản xuất làng nghề nhưng sản xuất hộ gia đình vẫn là chủ yếu.[22]
Thứ năm: Trình độ sản xuất thủ công là chủ yếu Trình độ sản xuất
thấp của làng nghề chính là một lý do mà khu vực này được xếp vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp Công cụ sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công, nếu có máy móc cũng là loại lạc hậu với tuổi thọ trung bình là 20 - 30 năm Gần đây để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, làng nghề đã có chuyển biến lớn về đầu tư các thiết bị mới, hiện đại cho sản xuất Song đầu tư chưa đồng bộ, sự thay đổi này không tạo đột biến về công nghệ Do đó, bản chất sản xuất làng nghề vẫn là thủ công kết hợp một phần máy móc, chưa mang tính chất dây chuyền công nghiệp
Thứ sáu: Tiêu thụ hàng hoá trung gian Nhìn chung, hàng hoá làng
nghề chủ yếu tiêu thụ tại thị trường nội địa, thông qua các chợ địa phương, các đại lý nhỏ Tiêu thụ hàng hoá làng nghề gặp nhiều khó khăn Làng nghề chưa có hệ thống tiêu thụ sản phẩm, chủ yếu dựa vào tư thương Do đó, nhiều làng nghề không có thị trường tiêu thụ ổn định Xuất khẩu thấp không xứng đáng với tiềm năng và hầu hết phải thông qua trung gian
1.1.1.3 Khái quát về phát triển làng nghề ở Việt Nam
Làng nghề rất phổ biến ở nông thôn Việt Nam, ở nhiều địa phương hầu như làng nào cũng có một nghề Một số tỉnh, thành phố có nhiều làng nghề như Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh…với tỷ lệ làng nghề lên tới 70 - 80% Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay nước ta có 2.790 làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường, làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng
Trang 18sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%)
Bảng 1.1 Phân bổ các loại hình làng nghề ở Việt Nam
Ƣơm tơ, dệt nhuộm,
đồ da
Chế biến nông sản, thực phẩm
Tái chế phế liệu
Thủ công,
mỹ nghệ
Vật liệu xây dựng, gốm sứ
Nghề khác
(Nguồn: Cục công nghiệp địa phương, số liệu thống kê năm 2008)
Trong xu hướng kinh tế chuyển dịch tăng công nghiệp và dịch vụ, làng nghề cũng hình thành với nhiều nghề thủ công nghiệp và dịch vụ Các làng nghề đổi mới về sản phẩm, một số đã đạt trình độ khá cao, cung ứng nguyên phụ liệu, phụ tùng cho các ngành công nghiệp
Tiềm năng của làng nghề thể hiện qua tốc độ phát triển trong những năm gần đây Trung bình mỗi năm, Việt Nam có thêm hàng trăm làng nghề Theo thống kê của Bộ NN và PTNT, tốc độ tăng bình quân số làng nghề là 8,9% - 9,8%/năm Thời gian tới, khi các chương trình phát triển kinh tế nông thôn phát huy hiệu quả sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành và phát triển làng nghề Dự báo, mức tăng trưởng bình quân của làng nghề có thể đạt 15%/ năm Trong đó, Chương trình “Mỗi làng một nghề” của Bộ NN và PTNT với các mục tiêu và biện pháp hỗ trợ cụ thể với tổng số vốn gần 1.500 tỷ đồng sẽ mang lại sự nhảy vọt về chất lượng và số lượng làng nghề trong cả nước
Trang 19Bảng 1.2: Tốc độ phát triển làng nghề qua các năm trong cả nước
Thứ nhất, Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
Đánh giá này có thể được nhìn nhận trên bình diện quốc gia và địa phương Hiện nay giá trị sản xuất của các làng nghề chiếm 9% GDP của cả nước Theo số liệu thống kê, làng nghề đã khẳng định vị trí chủ lực ở nhiều tỉnh Năm 2009, giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội đã đạt khoảng 7.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố Trong đó, riêng 256 làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống (tính đến hết năm 2008) đã đạt giá trị sản xuất 4.791 tỷ đồng Ở Bắc Ninh, làng nghề chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất
công nghiệp toàn tỉnh
Thứ hai, Thu hút đầu tư nước ngoài và cung cấp nguồn hàng xuất khẩu chủ lực
Không chỉ đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, làng nghề còn được nhìn nhận với ý nghĩa là lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt với những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn như nông sản, TCMN, gốm sứ… Hiện chưa có thống kê về đầu tư nước ngoài vào làng nghề nhưng theo các chuyên gia, nguồn vốn này không nhỏ và thường được thực hiện dưới hình
Trang 20thức không chính thức Đa số đầu tư nước ngoài được thực hiện thông qua họ hàng, mối quan hệ kinh doanh…
Hoạt động xuất khẩu của làng nghề bắt đầu khá sớm, từ thời nhà Lý với các sản phẩm như đồ gốm, gỗ, nội thất, mây tre đan, giấy, lụa, bạc… Hàng hoá được giao tại cảng Vân Đồn, Vân Ninh và sau này là Phố Hiến, Hội An, Phan Thiết, Bến Nghé, Nhà Rồng…
Sau khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam đã trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá của Pháp nên đã hạn chế phát triển làng nghề thủ công truyền thống Tuy nhiên, các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu từ Pháp không thể làm mất đi các nghề thủ công, vì nhu cầu tiêu thụ hàng hoá khá lớn, với ưu thế giá rẻ
Ngày nay, sản phẩm làng nghề Việt Nam tiếp tục xuất khẩu đi nhiều nước Theo Bộ NN&PTNT, hiện có 40% sản phẩm làng nghề được xuất khẩu đến hơn 100 nước Một số sản phẩm làng nghề có tiêng trên Thế giới như đũi Nam Cao (Thái Bình), lụa Vạn Phúc (Hà Nội), khảm trai Đông Giao (Hải Dương), gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh)
Xuất khẩu của làng nghề có tiếm năng lớn và tăng trưởng cao Trong 5 năm (2001 - 2005), hàng TCMN do làng nghề sản xuất trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn, tăng trưởng bình quân 19%/năm Nếu tính cả gỗ mỹ nghệ vào nhóm hàng làng nghề, kim ngạch xuất khẩu của khu vực này còn lớn hơn rất nhiều Thực tế, gỗ mỹ nghệ chủ yếu được sản xuất bởi các làng
nghề nhưng hiện tại vẫn được tính vào nhóm hàng đồ gỗ Theo “Thời báo
kinh tế 2009 - 2010 - Việt Nam và Thế giới” kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản
phẩm gỗ năm 2005 đạt 1,561 tỷ USD, năm 2006 là 1,943 tỷ USD, năm 2009
là 2,598 tỷ USD
Tại các địa phương, làng nghề cũng đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu Tỉnh Nam Định, mỗi năm, làng nghề đem về 30 triệu USD
Trang 21kim ngạch xuất khẩu Tỉnh Hà Tây cũ, xuất khẩu làng nghề đóng góp tới 40% kim ngạch toàn tỉnh Tinh Bắc Ninh, sản phẩm làng nghề là nguồn hàng xuất khẩu quan trọng với kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ 1.200 - 1.500 tỷ đồng
Một số ví dụ cụ thể về xuất khẩu của các làng nghề: Thêu ren Minh Lãng (Thái Bình) mỗi năm xuất khẩu trên 2 triệu USD, chạm bạc Đồng Sâm (Thái Bình) xuất khẩu gần 1 triệu USD/ năm, xuất khẩu của làng nghề gỗ mỹ nghệ Đông Giao (Hải Dương) đạt 3 triệu USD, làng nghề dệt La Phù xuất khẩu 90% sản lượng
Thứ ba, tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho người dân
Theo số liệu của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, với hơn 2000 làng nghề, khu vực kinh tế này thu hút 11 triệu lao động thường xuyên và 4 triệu lao động thời vụ, chiếm 30% lực lượng lao động cả nước với 1,4 triệu hộ gia đình tham gia sản xuất Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cứ xuất khẩu được 1 triệu USD, các làng nghề tạo việc làm cho 3.000 - 4.000 lao động thường xuyên Theo Bộ công thương, hiện cả nước có khoảng hơn 100 nghề thủ công có thu nhập bình quân cao gấp 3 - 4 lần so với làm nông nghiệp
Hiện tại, một số làng nghề đã thu hút trên 60% tổng số lao động của địa phương Ngoài lao động thường xuyên, làng nghề còn thu hút nhiều động thời
vụ Trung bình mỗi hộ sản xuất có thể thu hút 5 lao động thường xuyên và 8 -
10 lao động thời vụ Các làng nghề chế biến nông sản thu hút số lao động thời
vụ thường gấp 4 - 7 lần số lao động thường xuyên Làng nghề phát triển còn tạo điều kiện cho nhiều nghề khác, nhất là dịch vụ liên quan phát triển, tạo thêm việc làm Ở một số làng nghề, lao động gián tiếp có thể bằng 1/4 lao động trực tiếp Làng gỗ Mỹ nghệ Đông Giao (Hải Dương), lao động gián tiếp bằng 20% lao động trực tiếp, làng gốm Bát Tràng lao động gián tiếp là 25%
Khả năng tạo việc làm và tăng thu nhập của làng nghề sẽ phát huy tích cực hơn thông qua việc phát triển sản xuất làng nghề lên mô hình doanh
Trang 22nghiệp Mô hình doanh nghiệp có khả năng tạo việc làm lớn hơn trong trung
và dài hạn Trung bình, một doanh nghiệp làng nghề có khả năng thu nhận số lao động gấp 5 - 10 lần so với một gia đình
Với chương trình “Mỗi làng một nghề”, làng nghề sẽ còn đóng vai trò quan trọng hơn đối với tạo việc làm và tăng thu nhập cho khu vực nông thôn Chương trình này được Bộ NN&PTNT triển khai và kết thúc vào năm 2010 nhằm nâng mức tăng trưởng bình quân của làng ngành nghề nông thôn ổn định và đạt 15%/năm; tạo thêm việc làm cho trên 300.000 lao động thường xuyên mỗi năm
Ở địa phương, vai trò tạo việc làm của làng nghề cũng rất lớn Ngay Hà Nội, khu vực làng nghề với hơn 80 làng nghề và 6500 cơ sở sản xuất đã tạo việc làm ổn định cho 240.500 lao động Mục tiêu của Hà Nội là quy hoạch phát triển, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động ở làng nghề lên gấp đôi vào năm 2010, phấn đấu mỗi làng nghề thu hút 8.000 - 10.000 lao động Bắc Ninh với hơn 60 làng nghề, tạo việc làm cho hơn 100.000 lao động với thu nhập bình quân từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng/người/tháng
Như vậy, thu nhập của người lao động ở các ngành nghề phi nông nghiệp phổ biến khoảng 600.000 - 2.000.000 đồng/người/tháng, cao hơn nhiều so với làm ruộng Đặc biệt phát triển làng nghề còn có một ý nghĩa rất
to lớn là tận dụng lao động già, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận
Các làng nghề đã góp phần quan trọng vào phát triển thị trường lao động ở nông thôn Hiện tại ở nhiều làng nghề, số lao động làm thuê tại các cơ
sở nghề đang tăng lên nhanh chóng Số lao động làm thuê tại các làng nghề không chỉ làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp mà cả trong lĩnh vực nông nghiệp bởi phần lớn các hộ làm nghề đều có ruộng đất, họ phải thuê lao động canh tác trên ruộng đất của mình Lao động làm thuê của các làng nghề
Trang 23không chỉ là người của các làng xã đó mà chủ yếu là lao động từ các làng xã khác trong vùng Những lao động làm thuê trong các cơ sở nghề tại các làng nghề có thu nhập cao hơn so với thu nhập từ làm ruộng Mặt khác, những người lao động này đã học tập được kỹ năng và tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất của nghề, không ít trong số họ đã trở về quê mình mở cơ sở sản xuất làm vệ tinh cho làng nghề hoặc cơ sở sản xuất nghề độc lập
Thứ tư, đóng góp cho phát triển xã hội và con người
Đời sống của người dân ở nhiều vùng nông thôn khá lên nhờ khôi phục
và phát triển làng nghề Nhiều làng nghề đã trở thành điển hình về làm giàu ở nông thôn Nghành nghề nông thôn đóng vai trò động lực cho chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Làng nghề làm tăng đáng kể thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân; góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng “Ly nông bất ly hương”
Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, thu nhập của làng nghề cao hơn so với làng nghề thuần nông từ 3 - 4 lần Tỷ lệ hộ nghèo đói ở các địa phương có làng nghề phát triển chỉ là 3,7%, so với tỷ lệ bình quân cả nước là 10,4%
Thu nhập của người làm nghề được cải thiện đã cho phép tăng các khoản chi tiêu gia đình cho giáo dục, chăm sóc sức khoẻ Theo thống kê của
Sở Y tế Hải Dương, chi phí cho dịch vụ y tế ở các làng nghề thường cao hơn
so với làng thuần nông trung bình 50% Ở Hà Tây cũ, 100% làng nghề có trạm xá với trang bị tốt hơn Tương tự về giáo dục, ở các làng nghề, tỷ lệ học sinh phổ cập phổ thông trung học và tỷ lệ sinh viên thường cao hơn hẳn Chất lượng văn hoá - xã hội ở làng nghề tốt hơn so với làng nghề thuần nông Kinh
tế khởi sắc, các làng nghề với điều kiện đảm bảo an ninh tốt hơn, tệ nạn xã hội giảm mạnh
Trang 24Cũng nhờ làng nghề phát triển, cơ sở hạ tầng ở những địa phương này được cải thiện rõ rệt Qua khảo sát cho thấy, 100% làng nghề có đường ô tô đến trung tâm Các công trình điện và sản lượng điện tiêu thụ của làng nghề tăng cả về chất lượng và số lượng Cho đến nay, 100% làng nghề được dùng điện lưới quốc gia và đều có trạm biến thế riêng Bưu chính viễn thông tăng mạnh, tỷ lệ máy điện thoại trên 100 dân cao gấp hàng chục lần so với làng thuần nông
Hệ thống chợ ở các địa phương có nghề cũng phát triển tốt hơn Hệ thống chợ vừa đóng vai trò kênh tiêu thụ hàng hoá vừa là nguồn cung cấp hàng thiết yếu giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Chợ ở những nơi có làng nghề tăng lên không chỉ về mặt số lượng mà cả về số buổi họp trong tháng Mặc dù, vấn đề ô nhiễm môi trường ở nhiều làng nghề đáng báo động, nhưng về cơ bản công trình nước sạch được chú ý hơn
Làng nghề Yên Ninh (Nam Định), nhờ phát huy tiềm năng nghề truyền thống, bộ mặt kinh tế - xã hội thay đổi mạnh mẽ Đến nay, Yên Ninh có 80%
số hộ gia đình xếp loại khá và giàu; đời sống văn hoá, tinh thần cũng ngày càng được nâng cao với 98% hộ gia đình có phương tiện nghe, nhìn
Bảo tồn và phát triển làng nghề là giải pháp tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu, thực hiện hiệu quả chiến lược “Rời ruộng nhưng không rời làng”, giảm áp lực cho các
Trang 25ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm từ 60% - 80% GDP và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40% trong GDP
Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn thay đổi theo hướng tăng nhanh lao động có nghề phi nông nghiệp và giảm mạnh lao động thuần nông Đây chính là tiền đề, cơ sở cho phát triển nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Vai trò làng nghề đối với việc phát triển kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH thể hiện rõ hơn trong một số lĩnh vực như cơ khí, vật liệu xây dựng, dệt may… Tại làng nghề cơ khí Tráng Liệt (Hải Dương) chuyên sản xuất máy nông nghiệp và bơm nước, khoảng 70% số lao động có thời gian làm việc 1 năm trở lên đều có khả năng làm việc ở các nhà máy công nghiệp Thực tế chuyển dịch lao động từ các làng nghề sang các cơ sở, nhà máy sản xuất công nghiệp diễn ra khá phổ biến ở các làng nghề
Thứ sáu, Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc
Trước hết nên xác định làng nghề là một bộ phận kinh tế - văn hoá, xã hội quan trọng Là mô hình phát triển kinh tế, làng nghề nhất là các làng nghề truyền thống mang rõ nét của yếu tố văn hoá, xã hội Do đó, phục hồi và phát triển làng nghề truyền thống chính là giải pháp tốt nhất cho lưu giữ, bồi đắp
và phát triển truyền thống văn hoá dân tộc Những công trình tôn vinh tổ nghề như đến thờ, đình làng, chùa, miếu… và các hoạt động văn hoá liên quan tới làng nghề chính là di sản vật thể và phi vật thể bảo tồn truyền thống dân tộc
Ngay cả ở thành phố lớn, do quá trình đô thị hoá, làng nghề dần mai một, thậm chí mất đi nhưng các di sản làng nghề vẫn còn tồn tại và nhờ đó yếu tố truyền thống vẫn được giữ gìn Ở Hà Nội, các làng nghề đã mất nhưng chứng tích làng nghề vẫn còn được giữ gìn khá nguyên vẹn, kể cả những làng nghề trong phố
Trang 26Làng nghề và các sản phẩm làng nghề còn là công cụ để quảng bá hình ảnh, văn hoá, truyền thống Việt Nam ra Thế giới Mỗi năm, hàng triệu sản phẩm làng nghề xuất khẩu ra thế giới không chỉ có ý nghĩa thu về nhiều ngoại
tệ cho đất nước mà còn là thông qua đó, hình ảnh Việt Nam được giới thiệu trực tiếp với quốc tế bằng những nét văn hoá, sự tinh xảo truyền thống dân tộc Sản phẩm làng nghề chính là thứ tốt nhất để du khách quốc tế tự cảm nhận, tự khám phá Việt Nam
Thứ bảy, Tiềm năng cho phát triển du lịch
Du lịch làng nghề đang được xác định là định hướng lớn trong phát triển du lịch ở rất nhiều địa phương Ở khía cạnh tiềm năng cho phát triển du lịch chủ yếu là các làng nghề truyền thống Ở Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia… từ lâu đã hình thành các tour du lịch làng nghề và phát triển rất tốt Làng nghề có thể tăng thêm hiệu quả nhờ du lịch, qua đó phát triển bền vững hơn
Hiện tại, rất nhiều làng nghề đã thực hiện thành công mô hình du lịch làng nghề Bản Lác (Mai Châu - Hoà Bình) hiện phát triển mạnh du lịch, thậm chí du lịch trở thành hoạt động chính, còn nghề truyền thống chỉ đóng vai trò phục vụ cho du lịch Ở Hội An, người dân lập xưởng nghề thủ công như thêu thùa, chạm khắc, dệt thổ cẩm, dệt lụa, dệt chiếu, may đo theo yêu cầu của khách Khách đến xem thợ làm thủ công rồi mua những thứ mà họ thích Làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), du khách có thể xem các nghệ nhân thực hành làm tranh rồi mua những sản phẩm của làng nghề
Làng nghề có thể xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm thông qua hoạt động
du lịch, do đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Đây là mô hình cần được phát triển mạnh mẽ bởi nó bao hàm được cả khía cạnh kinh tế, văn hoá, xã hội Hiện nay, Hà Nội, Bắc Ninh, Huế, Đà nẵng, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình
Trang 27Phước, Bến Tre là những địa phương đi đầu trong quy hoạch xây dựng mô hình du lịch làng nghề và bước đầu tạo ra những sản phẩm du lịch tốt
Tuy vậy, phát triển du lịch làng nghề ở nước ta hiện nay vẫn chưa có chiến lược Nhiều làng nghề khi quy hoạch đã bỏ qua thế mạnh văn hoá, du lịch và một số nơi nếu có cũng chỉ hình thức Các làng nghề phát triển du lịch như gốm Bát Tràng, Lụa Vạn Phúc, mộc Đồng Kỵ, Tranh Đông Hồ, Đá Non Nước… nhưng vẫn chỉ là tự phát Nguyên nhân là thiếu sự phối hợp giữa các ngành liên quan trong xây dựng quy hoạch du lịch làng nghề
và bình đẳng giữa các thành viên Tuy nhiên, trong một thời gian khá dài, người ta thường đặt mục tiêu kinh tế quá cao, xem tăng trưởng về kinh tế là
độ đo duy nhất của sự phát triển
Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự gia tăng nhanh dân số thế giới trong những thập niên vừa qua và các tác động của chúng đến môi trường trái đất đã dẫn loài người đến việc xem xét và đánh giá mối quan hệ: con người - trái đất, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường Ngày nay, con người đã biết nguồn tài nguyên của trái đất không phải là vô tận, không thể khai thác hoặc thống trị theo ý mình; khả năng đồng hoá chất thải của môi trường trái đất là có giới hạn nên con người cần thiết phải sống hài hoà với tự nhiên; sự cần thiết phải tính đến lợi ích chung của cộng đồng, của các thế hệ tương lai
và các chi phí môi trường cho sự phát triển v.v… Bên cạnh đó, cần thiết phải
Trang 28đảm bảo một môi trường sống lành mạnh để con người tự do phát huy khả năng của mình, được chia sẻ lợi ích một cách bình đẳng, đảm bảo các quyền được sống, làm việc và mưu cầu hạnh phúc… Tất cả yêu cầu trên dẫn đến sự
ra đời một quan niệm mới: “phát triển bền vững” (PTBV)
Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu được sử dụng trong bản báo
cáo “Chiến lược bảo tồn Thế giới” (Word Conservation Strategy) do Uỷ ban
Bảo tồn và Thiên nhiên Thế giới (IUCN) đề xuất năm 1980 với nội dung khá đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu thiết yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái” [33]
Khái niệm PTBV được phổ biến rộng rãi nhất hiện nay được sử dụng nhiều hơn cả trong các nghiên cứu về PTBV được đưa ra năm 1987 trong báo cáo của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED với tiêu đề
“Tương lai của chúng ta - Our common Futur” Báo cáo nêu rõ: “Phát triển
bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ tương lai”.[33]
Định nghĩa PTBV này có nội dung bao quát, không bị gò bó bởi những chuẩn mực hoặc quy tắc đã định sẵn, có thể dễ dàng áp dụng vào điều kiện thực tế trong mọi hoàn cảnh của mỗi quốc gia, mỗi vùng, lãnh thổ Vì vậy, khái niệm PTBV này được nhiều nước chấp nhận
Khái niệm này sau đó được bổ sung và hoàn chỉnh trong Hội nghị RiO -92, Rio-92+5, Johannesburg 2002, văn kiện và công bố của các tổ chức quốc
tế Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp nhau của 3 hệ thống tương tác lớn của thế giới: hệ tự nhiên, hệ kinh tế và
hệ xã hội Hiện nay, nhiều lý thuyết và mô hình phát triển bền vững được đưa
ra trên cơ sở nội dung phát triển bền vững nói trên, trong đó người ta bổ sung
Trang 29thêm các yếu tố khác nhau như văn hoá, tôn giáo, chính trị, công nghệ… Tuy nhiên, hạt nhân của sự phát triển bền vững là sự hài hoà giữa ba mặt: kinh tế,
xã hội, môi trường
Định nghĩa này được mở rộng ra với ba cấu thành về sự phát triển bền vững:
+ Về kinh tế: Một hệ thống bền vững về kinh tế phải thể hiện ở sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của tất cả các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên, có thể tạo ra hàng hoá và dịch vụ liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ về nợ bên ngoài, tránh
sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến mỗi ngành sản xuất
+ Về xã hội: Hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, công bằng giới tính, sự tham gia và trách nhiệm chính trị cho mọi người, đảm bảo sức khoẻ, giảm đói nghèo, hạn chế các tệ nạn xã hội
+ Về môi trường: Hệ thống phát triển bền vững thể hiện ở sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường Việc khai thác các nguồn lực không thể tái tạo không được vượt mức đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế, hạn chế ô nhiễm môi trường, có chính sách và kế hoạch hành động cải thiện môi trường
b Đặc trưng của PTBV
Thứ nhất, phát triển bền vững khác với phát triển truyền thống Sự
khác biệt này thể hiện ở sự kết hợp hài hoà các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Nói cách khác, phát triển bền vững đảm bảo sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn
Trang 30Thứ hai, mục tiêu của PTBV là vì con người Con người là trung tâm
của mối quan tâm lâu dài của sự phát triển Sự phát triển của các thế hệ hiện tại không làm tổn hại đến sự phát triển của các thế hệ tương lai mà tạo điều kiện để các thế hệ tiếp nối thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của họ
Thứ ba, PTBV không phải là một vấn đề kỹ thuật cần giải quyết, mà là
một tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo một lộ trình thích hợp, tập trung chú ý vào một tập hợp có giá trị và những nguyên tắc mang tính lý luận về đạo đức
để hướng dẫn hành động
Thứ tƣ, PTBV là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều giai đoạn khác
nhau, từ thấp lên cao
c Các tiêu chí đánh giá phát triền bền vững
+ Phát triển bền vững về kinh tế: Độ đo kinh tế của sự phát triển bền
vững về kinh tế được tính trên giá trị GDP hoặc GNP Tuy nhiên, chỉ số này không tính đến sự suy giảm chất lượng môi trường và suy thoái tài nguyên thiên nhiên Từ GNP người ta đưa ra các chỉ số SNP (tổng sản phẩm quốc dân bền vững) hoặc chỉ số SNI (tổng thu nhập quốc dân bền vững) Để tính được SNP hoặc SNI phải sử dụng các nguyên tắc quản lý môi trường, người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) hoặc người sử dụng môi trường phải trả tiền (UPP)
+ Phát triển bền vững về xã hội
Để đo mức độ bền vững về xã hội của sự phát triển người ta dùng chỉ
số về phát triển con người (HDI), chỉ số tự do (HFI), mức độ tăng trưởng việc làm, thu nhập, tình hình cung cấp dịch vụ y tế, số học sinh tiểu học được phổ cập…Việt Nam đã xây dựng chỉ tiêu phát triển về xã hội gồm 5 nhóm chỉ tiêu: xoá đói, giảm nghèo; lao động và việc làm; phổ cập giáo dục; khoa học
và công nghệ; y tế, văn hoá, xã hội
+ Phát triển bền vững về môi trường
Độ đo môi trường của sự phát triển bền vững có thể đánh giá thông qua chất lượng các thành phần môi trường không khí, nước, đất, sinh thái; mức độ
Trang 31duy trì các nguồn tài nguyên thiên tái tạo; việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên không tái tạo; nguồn vốn xã hội dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường; khả năng kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động kinh tế xã hội, tiềm ẩn các yếu tố tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân v.v…
Để đo mức độ bền vững về môi trường của sự phát triển người ta dùng các chỉ số như mức độ ô nhiễm môi trường đất, không khí, nước, mức độ suy giảm đa dạng sinh học, diện tích từng tự nhiên và rừng trồng…
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới theo hướng thị trường, đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế dựa trên quan điểm phát triển bền vững với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đã được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010
Theo đó, phát triển bền vững của Việt Nam là: “Phát triển nhanh, có hiệu quả
và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng cã hội và bảo vệ môi trường”[tr 25,8] Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
(1/2011) đã xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, theo
đó quan điểm: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển
bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”1
, là quan điểm đầu tiên
trong năm quan điểm phát triển
1
"Khai mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI", 13/01/2011 Báo Nhân dân
Trang 32cho sự ra đời và phát triển của các làng nghề mới nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề trên thị trường; góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; bảo vệ môi trường tại các làng nghề được
Nội dung phát triển bền vững làng nghề
- Phát triển bền vững về kinh tế nghĩa là tạo ra sự tăng trưởng ổn định, hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề, thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH Điều này được thể hiện ở tốc độ tăng tăng trưởng kinh tế của làng nghề, tỷ trọng đóng góp của các làng nghề trong GDP của địa phương
- Phát triển bền vững làng nghề về mặt xã hội: là góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, ổn định xã hội, hạn chế bất bình đẳng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho các tầng lớp dân cư tại các làng nghề nói riêng và ở địa phương và cả nước nói chung, góp phần bảo tồn giữ gìn những nét văn hoá đặc sắc của mỗi vùng miền của dân tộc
- Phát triển bền vững làng nghề về môi trường, có nghĩa là vừa sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên mà các làng nghề khai thác và sử dụng làm nguyên nhiên liệu, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái tại các làng nghề
b Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững làng nghề
* Nhận thức về nội dung và vai trò của phát triển bền vững
Đó là nhận thức của những người hoạt động sản xuất và kinh doanh trong các làng nghề, nhận thức của các cấp lãnh đạo, các đoàn thể ở các địa phương có làng nghề Chỉ khi nào những người trực tiếp sản xuất kinh doanh
và các cấp quản lý nhận thức được nội dung, vai trò của phát triển bền vững thì họ mới có những hoạt động, chính sách không chỉ hướng sự phát triển của làng nghề vào mục tiêu hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng kinh tế mà quan trọng hơn là hướng đến sự phát triển lâu dài và ổn định, giải quyết vấn đề xã
Trang 33hội và bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá làng nghề trên thị trường trong và ngoài nước Để đạt được sự phát triển bền vững thì các cấp lãnh đạo, các đoàn thể của địa phương phải có phương pháp tuyên truyền, khuyến khích và tạo điều kiện để các hộ sản xuất, doanh nghiệp phát triển các ngành nghề theo hướng bền vững
Chính sách của Nhà nước
Các chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển bền vững của các làng nghề Đó là hệ thống các chính sách như: chính sách đất đai, chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách khoa học công nghệ, chính sách văn hoá, giáo dục, chính sách bảo vệ môi trường Các chính sách này tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các làng nghề Sự phối hợp đồng bộ các chính sách trên là điệu kiện căn bản để phát triển làng nghề theo hướng bền vững
Các nguồn lực
+ Nguồn nhân lực: là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của
sự phát triển Nguồn nhân lực của làng nghề bao gồm những nghệ nhân, những người thợ thủ công và chủ cơ sở sản xuất kinh doanh Những nghệ nhân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời họ là những người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm yếu tố văn hoá dân tộc Mặt khác, lực lượng lao động trẻ có khả năng thích ứng với những điều kiện mới của nền kinh tế, là nhân tố quyết định toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh ở các làng nghề
+ Nguồn vốn: là nguồn lực vật chất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của các làng nghề Sự thiếu thốn về vốn không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh mà còn dẫn tới sự hạn chế trong đầu tư cho công nghệ sạch, cho xử lý ô nhiễm môi trường
Trang 34+ Trình độ kỹ thuật và công nghệ: ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và giá thành của sản phẩm, vì vậy ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các hàng hoá, đến sự phát triển ổn định của các làng nghề Kỹ thuật lạc hậu cũng là một tác nhân cơ bản dẫn đến lãng phí trong sử dụng nguồn tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường
1.2 Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề ở một số nước và địa
xí nghiệp Hương Trấn với nhiều ngành nghề đa dạng như chế biến nông sản,
Trang 35công nghiệp và thủ công nghiệp, các nghề thủ công truyền thống, giao thông vận tải và dịch vụ thương nghiệp Sự phát triển của các xí nghiệp Hương trấn
đã góp phần đáng kể trong việc làm thay đổi bộ mặt nông thôn Trung Quốc lúc bấy giờ
Với chủ trương “ly điền bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành” (nghĩa là rời ruộng không rời nhà, vào nhà máy không vào thành phố), các xí nghiệp Hương Trấn ở Trung Quốc đã thu hút được hơn 100 triệu lao động tham gia dưới các hình thức khác nhau Các xí nghiệp Hương Trấn đã cho thấy vai trò của nó trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Sở dĩ có sự thành công trong quá trình phát triển làng nghề ở Trung Quốc là
do các yếu tố sau:
Thứ nhất, về phía chính phủ, Chính phủ Trung Quốc coi phát triển làng nghề là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc CNH nông thôn Trung Quốc Vì vậy, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp nhằm kích thích các xí nghiệp Hương Trấn phát triển như chính sách thuế, chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, chính sách xuất khẩu, chính sách bảo hộ hàng nội địa…Chính những chính sách đó của Chính phủ Trung Quốc
đã tạo động lực cũng như những nguồn lực cần thiết cho các xí nghiệp Hương trấn và các làng nghề thủ công truyền thống ở Trung Quốc phát triển mạnh
mẽ Đối với người sản xuất, sự quan tâm đúng mức của Nhà nước sẽ khiến họ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh
Thứ hai, về phía các cơ sở sản xuất trong các làng nghề Họ rất quan tâm tới lợi ích của người lao động Chính sự tăng lên về thu nhập của người lao động đã làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng của người dân nông thôn
Thứ ba, các cơ sở sản xuất còn luôn quan tâm tới việc đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật hiện đại vào sản xuất Nhờ đó, sản phẩm của họ
Trang 36không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn xâm nhập vào cả thị trường thế giới bới việc đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại đã giúp họ có thể tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Đổi mới công nghệ cũng góp phần quan trọng vào hạn chế ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, các xí nghiệp Hưng trấn
Thứ tư, Trung Quốc đã ban hành chiến lược bảo vệ môi trường từ cuối thế kỷ XX Bước sang thế kỷ XXI, công tác bảo vệ môi trường sinh thái nói chung, môi trường sinh thái tại các khu vực nông thôn có các xí nghiệp Hưng trấn nói riêng được đẩy mạnh hơn Xuyên suốt chiến lược bảo vệ môi trường của Trung Quốc là hai trụ cột cơ bản:
Một là, Xây dựng hành lang pháp lý bảo vệ môi trường Nhà nước đã ban hành “Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa”, coi đây là chủ thể của hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường
Hai là, có những biện pháp cụ thể trong chiến lược bảo vệ môi trường:
- Tăng cường hoàn thiện ngành bảo vệ môi trường với hệ thống hoạt động tới từng làng xã Trung Quốc đã thực thi 4 biện pháp cụ thể lớn nhằm phát triển ngành bảo vệ môi trường:
1) Thiết lập và hoàn thiện chính sách cho ngành bảo vệ môi trường 2) Đẩy nhanh phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ bảo vệ môi trường
3) Tăng cường quản lý, giám sát và chuẩn hoá thị trường bảo vệ môi trường
4) Nghiên cứu xây dựng cơ chế phát triển ngành bảo vệ môi trường phù hợp với yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Những biện pháp cụ thể khác:
Trang 37+ Thúc đẩy các lực lượng thị trường
+ Khuyến khích đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch…
Thứ năm, sự phát triển làng nghề ở Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với sự phát triển du lịch từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các vùng nông thôn
1.2.1.2 Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những nước đầu tiên ở Châu Á tiến hành CNH đất nước Trong quá trình CNH, bên cạnh việc xây dựng các khu công nghiệp với quy mô lớn, hiện đại, Nhật Bản còn rất chú trọng xây dựng các cơ sở công nghiệp gia đình ở nông thôn đặc biệt là các hộ làm nghề thủ công Chính vì thế, hiện nay ở nhiều nơi trên đất nước Nhật Bản vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề thủ công với nhiều ngành nghề đa dạng như chế biến lương thực, đan lát, dệt chiếu, thủ công mỹ nghệ, dệt lụa, rèn nông cụ… Đối với người dân Nhật Bản, 867 nghề thủ công truyền thống là cả một kho tàng quý báu của dân tộc trong đó có những nghề được coi như những di sản văn hoá như nghề dệt vải, rèn nông cụ…
Sự phát triển của các làng nghề ở Nhật Bản tuy không trải khắp các vùng nông thôn của Nhật Bản song nó cũng đem lại những giá trị kinh tế - xã hội to lớn Với phong trào “mỗi làng một sản phẩm” (do ông Morihiko Hiramatsu sáng lập) có năm các làng nghề ở tỉnh Oita đã đóng góp vào GDP của Nhật Bản 1,2 tỷ USD
Kinh nghiệm cho thấy, sở dĩ sự phát triển của các làng nghề ở Nhật Bản gặt hái được nhiều thành công là vì các làng nghề ở Nhật Bản luôn được hưởng sự hỗ trợ về mặt tài chính,vốn sản xuất kinh doanh từ Chính phủ Nhật Bản Nhờ đó các doanh nghiệp của các làng nghề có điều kiện vay vốn đầu tư vào sản xuất hoặc máy móc, thiết bị, cải tiến được công nghệ sản xuất từ đó
có thể giành thắng lợi khi cạnh tranh trên thương trường Bên cạnh đó, Chính
Trang 38phủ Nhật Bản còn ban hành “Luật nghề truyền thống” mà trên cơ sở đó buộc các làng nghề phải xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của thị trường Theo đó các Hiệp hội khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống cũng được thành lập nhằm khôi phục và trấn hưng ngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ trong cả nước đồng thời tuyên truyền để các tầng lớp dân cư của Nhật Bản hiễu rõ hơn về vai trò của làng nghề truyền thống Nhật Bản còn cho tiến hành xây dựng các trung tâm thủ công truyền thống tầm cỡ quốc gia với chức năng cung cấp những thông tin tổng hợp về sản phẩm công nghệ truyền thống làm cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng Để có thể lưu giữ và quảng bá cho các sản phẩm của làng nghề, Chính phủ Nhật Bản chỉ đạo cho các bộ phận chuyên môn xây dựng các phim truyền hình với những cảnh quay các công đoạn quan trọng nhất của một quy trình sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống qua đó muốn người xem nhận thấy những nét đặc sắc trong những sản phẩm thủ công của Nhật Bản
Nhật Bản cũng là một quốc gia đặc biệt chú trọng đến bảo vệ môi trường tại các làng nghề Tại các cơ sở sản xuất, họ chú trọng đến phát triển sản xuất các sản phẩm sạch không gây ô nhiễm môi trường Các sản phẩm này được đem xuất khẩu tới nhiều nước phát triển có quy định ngặt nghèo về tiêu chuẩn sản xuất sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường, độ an toàn, vệ sinh đối với sản phẩm ngoại nhập Chính sự quan tâm đúng mức của Chính phủ Nhật Bản đã tạo động lực thúc đẩy các làng nghề phát triển bền vững
1.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành trong nước
1.2.2.1 Hà Nội
Thành phố Hà Nội trước kia đã nổi tiếng với những làng nghề phong
phú, thể hiện qua câu thành ngữ quen thuộc "Hà Nội 36 phố phường" Theo
thời gian, bộ mặt đô thị của khu phố cổ đã có nhiều thay đổi, nhưng những
Trang 39con phố nơi đây vẫn giữ nguyên những cái tên thuở trước và không ít trong số
đó vẫn là nơi buôn bán, kinh doanh những mặt hàng truyền thống cũ Sau khi
Hà Tây được sát nhập vào Hà Nội, thành phố còn có thêm nhiều làng nghề danh tiếng khác Theo con số cuối năm 2008, toàn Hà Nội có 1.264 làng nghề, là nơi tập trung làng nghề đông đúc bậc nhất Việt Nam Những làng nghề nổi tiếng như: Làng Bát Tràng nằm ở phía Nam thành phố, từ lâu đã nổi tiếng với sản phẩm gốm mang tên chính ngôi làng này Nhiều mẫu mã, các loại men truyền thống được những nghệ nhân của làng phục hồi, sản phẩm gốm Bát Tràng nhanh chóng đạt được danh tiếng Bát Tràng hiện nay không chỉ là một làng nghề sản xuất thuần túy Với nhiều công trình tín ngưỡng, văn hóa cùng sản phẩm gốm nổi tiếng, ngôi làng trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng của thành phố Hà Nội; Một làng nghề nổi tiếng khác của Hà Nội ngày nay là làng lụa Vạn Phúc vốn thuộc thành phố Hà Đông trước đây Sản
phẩm lụa của làng từ rất lâu đã nổi tiếng với tên gọi lụa Hà Đông, từng được
ca ngợi trong âm nhạc, thi ca và điện ảnh…
Năm 2009, giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội đã đạt khoảng 7.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố Trong đó, riêng 256 làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống (tính đến hết năm 2008) đã đạt giá trị sản xuất 4.791 tỷ đồng.[19]
Trong số hơn 1.200 làng nghề của Hà Nội, có gần 100 làng nghề đạt doanh số 10 - 20 tỷ đồng/năm, 70 làng nghề đạt 20-50 tỷ đồng/năm, 20 làng nghề đạt trên 50 tỷ đồng/năm
Đặc biệt, một số làng nghề đạt doanh số rất cao như làng gốm sứ Bát Tràng đạt 283 tỷ đồng/năm; làng nghề mộc Vạn Điểm (huyện Thường Tín) đạt 105 tỷ đồng/năm[19]
Trang 40Hàng chục nhóm ngành nghề đang có hướng phát triển mạnh như gốm
sứ, dệt may, da giày, điêu khắc, khảm trai, thêu ren, sơn mài, mây tre đan, dát vàng bạc quỳ, đúc đồng, kim hoàn, chế biến nông sản thực phẩm, cơ kim khí, các làng nghề của Hà Nội đã thu hút được gần 1 triệu lao động tham gia sản xuất, chiếm hơn 64% tổng số lao động trong độ tuổi của làng và chiếm hơn 42% tổng số lao động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên toàn thành phố
Nhiều làng nghề đang trở thành trung tâm thu hút lao động như gốm sứ Bát Tràng, chẻ tăm hương Quảng Phú Cầu (huyện ứng Hòa)
Có được những kết quả như trên là do có Thành phố Hà Nội đã có những chính sách, kế hoạch nhằm bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, coi : “Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội là yêu cầu, nguyện vọng
và nhiệm vụ tất yếu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo việc làm ổn định và nâng cao đời sống cho người dân” Cụ thể: UBND thành phố đã xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề
án phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó tập trung vào việc hỗ trợ phát triển sản xuất, khôi phục và phát triển các nghề và làng nghề truyền thống, tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước Để tôn vinh, bảo tồn, phát triển, nuôi dưỡng người tài và làng nghề, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quy chế xét công nhận danh hiệu Làng nghề truyền thống Hà Nội và phong tặng danh hiệu nghệ nhân Hà Nội Như vậy, những người thợ thủ công truyền thống, nhất là nghệ nhân, thợ giỏi và các nhà doanh nghiệp trong ngành hàng này đã có môi trường pháp lý phù hợp để sáng tạo, phát huy tài năng và sở trường tối đa trong sản xuất kinh doanh, góp phần làm giàu cho thành phố Đồng thời, các nghề và làng nghề Hà Nội đã có điều kiện thuận lợi để bảo tồn và phát triển