1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

135 1,6K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế, lợi thế so sánh là yếu tố cần thiết để các quốc gia phát h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

-

TRẦN THỊ LAN HƯƠNG

PHÁT HUY LỢI THẾ SO SÁNH TRONG

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO

VIỆT NAM

Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị

HÀ NỘI - 2005

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ -

TRẦN THỊ LAN HƯƠNG

PHÁT HUY LỢI THẾ SO SÁNH TRONG

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị

Mã số: 5.02.01

Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ VĂN HÀ

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC Á

HÀ NỘI - 2005

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LỢI THẾ SO SÁNH VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC KHAI THÁC LỢI

1.2 Vai trò của việc khai thác lợi thế so sánh ở các nước đang phát

triển

19

1.2.1 Tầm quan trọng của việc phát huy lợi thế so sánh đối với phát triển

kinh tế ở các nước đang phát triển

2.1.1 Điều kiện kinh tế ban đầu của ASEAN-5 khi tiến hành công nghiệp

hoá

34

2.2 Chính sách của các chính phủ để tận dụng những lợi thế so sánh

trong giai đoạn 1970-1996

52

Trang 4

2.2.5 Điều chỉnh chính sách phát huy lợi thế so sánh ở ASEAN-5 sau

khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997

69

2.3 Tác động của việc tận dụng lợi thế so sánh ở các nước ASEAN-5 76

2.3.2 Tác động đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế 76

2.3.3 Phát huy nội lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 78

2.3.6 Đánh giá những hạn chế của chính sách phát huy lợi thế so sánh 84

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ASEAN-5 TRONG

3.1 Các điều kiện phát triển kinh tế và việc sử dụng lợi thế so sánh

nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam

90

3.1.1 Nhận thức về lợi thế so sánh ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 90

3.1.2 Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam 97

3.1.3 Thách thức hiện nay trong việc phát huy lợi thế so sánh ở Việt Nam 101

3.2 Vận dụng bài học kinh nghiệm từ phát huy lợi thế so sánh của các

3.2.2 Kinh nghiệm xuất phát từ chính năng lực nội sinh 110

3.2.3 Kinh nghiệm từ sự thay đổi lợi thế so sánh trong từng giai đoạn 113

Trang 5

AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế, lợi thế so sánh là yếu tố cần thiết để các quốc gia phát huy những ưu thế sẵn có để trao đổi và bổ sung lẫn nhau nhằm đạt được sự huy động nguồn lực cho quá trình phát triển kinh tế Trong những thập kỷ qua, một số nước ASEAN

là Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Philipin và Singapo (ASEAN-5) phát huy được những lợi thế so sánh của mình để thực hiện chính sách mở cửa và công nghiệp hoá Nhờ tận dụng được những lợi thế so sánh về lao động đông và rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú và chưa được khai thác triệt để, đất đai màu mỡ

và vị trí địa lý thuận lợi và với mục đích thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu hàng hoá thu ngoại tệ phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, các nước ASEAN-5 đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 8%/năm trong thập kỷ 70, 6%/năm trong thập kỷ 80, một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao hơn bất

cứ khu vực nào khác trên toàn thế giới Nhờ đó, đã nâng cao được mức sống cho dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế hiện đại và thực hiện các chính sách kinh tế

xã hội khác một cách hiêụ quả Nhiều chuyên gia nghiên cứu quốc tế đã đánh giá các nước ASEAN-5 như những "con hổ" tạo nên sự "thần kỳ Châu Á"

Tuy nhiên, ngoài những nét tương đồng của khu vực Đông Nam Á, lợi thế

so sánh của các nước ASEAN-5 cũng có sự khác nhau, do vậy dẫn đến những công cụ chính sách thực hiện để phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước cũng có những khác biệt Đó cũng là một trong những lý do giải thích cho sự chênh lệch tương đối về trình độ phát triển của các nước tính đến cuối thập kỷ 90 Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh kinh tế quốc tế gay gắt như hiện nay, Singapo

và Malaixia đã tìm được những lợi thế so sánh mới trong những ngành công nghiệp tập trung nhiều vốn, công nghệ và lao động có kỹ năng và đang mất dần những lợi thế so sánh truyền thống về lao động rẻ, trong khi đó các nước ASEAN khác vẫn chủ yếu nằm ở sự phát triển các ngành công nghiệp tập trung những lợi thế so sánh truyền thống và chưa tìm ra được những bước đi thích hợp

Trang 7

để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội khác

Sự khác biệt trong tận dụng lợi thế so sánh ở các nước và mức độ thành công của mỗi nước trong phát huy lợi thế so sánh là những bài học kinh nghiệm

vô cùng quý giá cho các nước đi sau, trong đó có Việt Nam Thực hiện mở cửa

và cải cách kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá rút ngắn Để thực hiện công nghiệp hoá "rút ngắn", việc tận dụng và phát huy những lợi thế so sánh đồng thời với tích luỹ và tạo dựng những lợi thế so sánh mới là rất cần thiết Nghiên cứu những thành công và hạn chế trong việc phát huy những lợi thế so sánh ở các nước ASEAN-5 sẽ rất hữu ích để rút ra những kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam Xuất phát từ những thực tế

trên và với kiến thức đã được học, đề tài "Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình công nghiệp hoá ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" sẽ mang tính cấp thiết đối với quá trình công nghiệp hoá tiếp theo của Việt

Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, có rất nhiều học giả Việt Nam và nước ngoài nghiên cứu về các đề tài có liên quan đến luận văn dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể phân thành hai nhóm công trình nghiên cứu: a) của các học giả Việt Nam ; và b) của các học giả nước ngoài

Trong nhóm công trình thứ nhất, phải kể đến tác phẩm “ Công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại Châu Á - Thái Bình Dương” của tác giả Trần Văn Thọ (Nhà xuất bảnthành phố Hồ Chí Minh, năm 1997); “Vài khía cạnh kinh tế Việt Nam suy nghĩ từ kinh nghiệm của các nền kinh tế mới công nghiệp hoá” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (Nhà xuất bản khoa học xã hội, năm 1996); “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát huy lợi thế so sánh Kinh nghiệp của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á” của tác giả Đỗ Đức Định (chủ biên; Nhà xuất bản chính trị quốc gia 1999); "Cạnh tranh kinh tế" của tác giả Trần Văn Tùng (Nhà xuất bản thế giới; năm 2004) Các tác phẩm này đã tập trung phân tích những chính sách

và kinh nghiệm công nghiệp hoá của một số nền kinh tế Đông Á, trong đó có nhấn mạnh đến mô hình “đàn nhạn bay”, sự tận dụng nguồn tài nguyên và nhân

Trang 8

lực rẻ để phát triển thương mại và thu hút FDI của một số nước trong khu vực,

sự khác nhau giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, thực trạng công nghiệp hoá và lựa chọn các sản phẩm xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay, và những bài học, những biện pháp thiết thực rút ra từ các nước Châu Á mà Việt Nam nên tham khảo học tập Một số giáo trình giảng dạy kinh tế quốc tế của Việt Nam như “ Quan hệ kinh tế quốc tế” của tác giả Võ Thanh Thu (xuất bản năm 2003);

"Kinh tế học quốc tế" của tác giả Tô Xuân Dân (chủ biên) (xuất bản năm 1995);

“Kinh tế học phát triển: những vấn đề đương đại” do nhà xuất bản khoa học xã hội phát hành năm 2003 đã đề cập đến những xu hướng chủ yếu của thời đại ngày nay, lợi ích của việc phát huy lợi thế so sánh đối với các nước đang phát triển, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, kinh nghiệm phát huy lợi thế so sánh của một số nước Châu Á trong thời gian qua Các tác giả đều cho rằng thương mại theo hướng thúc đẩy xuất khẩu ở Đông Á cũng như ở Việt Nam có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như góp phần tăng cường sự hội nhập quốc tế của các nước

Về các thể loại báo, tạp chí, có rất nhiều tác giả đề cập đến việc phát huy lợi thế so sánh của một số nước Châu Á và kinh nghiệm cho Việt Nam Điển hình là các bài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm: một số kinh nghiệm quốc tế” của tác giả Vũ Anh Tuấn; (tạp chí Cộng sản số 10/2004); “Áp dụng phương pháp phân tích lợi thế so sánh để nghiên cứu tiềm năng hội nhập kinh tế của các nước ASEAN và cơ hội cho Việt Nam: của tác giả Lê Hà Thanh (bài hội thảo của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân); “Mô hình phát triển của ASEAN nhìn từ phía Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Quý (Tạp chí Nghiên cứu trao đổi, số 4/1999); “Hội nhập quốc tế: cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế nước ta” của tác giả Lê Đăng Doanh (Tạp chí Cộng Sản số 5/1999);… Nội dung các bài báo trên chủ yếu phân tích vai trò của công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, phân loại lợi thế so sánh động, lợi thế so sánh tĩnh, những kết quả tận dụng lợi thế so sánh, hướng đi cho Việt Nam trong thời kỳ đổi mới để phát huy lợi thế so sánh…

Trong các công trình nghiên cứu thuộc nhóm thứ hai, trước hết phải kể đến những bài viết của các tác giả như Matthias Busse “Do Labour Standard Affect

Trang 9

Comparative Advantage in Developing Countries” (2002); Mc Kinsey and Company “ASEAN Competitiveness Study: Preliminery Final Report” (2003);

"Competitive versus Comparative Advantge" của tác giả J Peter Neary (The Developing Economy; World Bank 2003) Những bài viết này đã phần nào đề cập những nguồn lực cơ bản của lợi thế so sánh ở các nước đang phát triển và các nước ASEAN, những lợi thế so sánh mới, sự khác nhau giữa lợi thế so sánh

và lợi thế cạnh tranh, việc tận dụng lợi thế so sánh động và tĩnh ở một số nước Bên cạnh đó, những ấn phẩm của Ngân hàng Thế giới (WB); Liên Hợp Quốc (UN) đã cung cấp những số liệu cập nhật về các chỉ số cơ bản của lợi thế so sánh và công nghiệp hoá của các nước ASEAN

Tình hình nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy chủ yếu các công trình nghiên cứu đều đi vào phân tích vai trò của thương mại quốc tế đối với các nước, hoặc một vài khía cạnh cụ thể nào đó của lợi thế so sánh như khai thác nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực, vị trí địa lý, sự màu mỡ của đất đai Đặc biệt, chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính chất bao quát toàn diện những khía cạnh, những vấn đề của lợi thế so sánh, những kết quả phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN, những nguyên nhân dẫn đến kết quả đó, cũng như những bài học cụ thể cho các nước đi sau trong đó có Việt Nam Vì lẽ đó, với việc lấy chiến lược phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN-5, những tác động cơ bản của nó đối với nền kinh tế các nước làm đối tượng nghiên cứu chính, luận

văn sẽ là một công trình nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện các chính sách kinh tế nhằm phát huy lợi thế so sánh ở các nước ASEAN-5, đánh giá thành công và hạn chế trong việc phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN-5, và rút ra những kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam

Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào việc thực hiện nhiệm

vụ cụ thể sau:

- Phân tích các lý thuyết về lợi thế so sánh, những thay đổi trong quan niệm

về lợi thế so sánh trong bối cảnh toàn cầu hoá

Trang 10

- Những lợi thế cơ bản của các nước ASEAN-5, những tương đồng và khác biệt về lợi thế so sánh của các nước

- Những công cụ chính sách để thực hiện việc phát huy những lợi thế so sánh đó và tác động của nó đối với nền kinh tế của mỗi nước Những nhìn nhận đánh giá mới về việc tận dụng lợi thế so sánh của các nước này sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997

- Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những chính sách của chính phủ các nước nhằm phát huy lợi thế so sánh: như chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu, chính sách thị trường, chính sách phát triển công nghệ, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách tài chính tiền tệ, phát triển thể chế Luận văn cũng tập trung nghiên cứu những tác động

cơ bản của việc phát huy lợi thế so sánh đối vơí các nước ASEAN-5 như: tác động đến tăng trưởng GDP, giải quyết công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, mở rộng quy mô kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế

Phạm vi nghiên cứu là 5 nước ASEAN gồm Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia

Về không gian, luận văn tập trung nghiên cứu việc phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN-5 kể từ năm 1970, khi các nước này bắt đầu chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu Đối với Việt Nam, thời gian nghiên cứu để

áp dụng kinh nghiệm phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN-5 sẽ được tính từ năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chính sách "Đổi mới" kinh tế

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc nghiên cứu các khoa học xã hội, tác giả còn sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích kinh tế nhằm tìm ra những căn cứ, số liệu minh hoạ cho các luận điểm, đồng thời góp phần dự đoán cho giai đoạn tiếp theo Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp phân kỳ, nghiên cứu so sánh nhằm tìm ra những

Trang 11

nét đặc thù của các giai đoạn khác nhau Đồng thời, hàng loạt các bảng biểu, hình vẽ, đồ thị sẽ được sử dụng để minh hoạ thêm cho vấn đề nghiên cứu

5 Những đóng góp mới của luận văn

Tác giả hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp cơ bản sau:

Thứ nhất, tóm tắt, đánh giá các lý thuyết chủ yếu về lợi thế so sánh, mối

quan hệ giữa việc tận dụng lợi thế so sánh và phát triển kinh tế, chỉ ra những nhân tố mới của lợi thế so sánh

Thứ hai, phân tích mối quan hệ giữa chính sách phát huy lợi thế so sánh và

kết quả tận dụng lợi thế so sánh của ASEAN-5 trong thời gian qua để đánh giá những mặt được và mặt chưa được khi thực hiện mục tiêu chính sách công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu

Thứ ba, những bài kinh nghiệm rút ra từ việc phát huy lợi thế so sánh của

các nước ASEAN-5 cho Việt Nam trong

6 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lợi thế so sánh và vai trò của việc khai thác lợi thế so sánh ở các nước đang phát triển

Chương 2: Lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở các nước ASEAN-5

Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của các nước ASEAN-5 trong phát huy lợi thế so sánh nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam

Trang 12

và sự khác nhau này buộc các nước phải chuyên môn hoá vào việc sản xuất một

số mặt hàng nhất định Nước có khoáng sản thì tập trung chuyên môn hoá vào phát triển công nghiệp, còn nước có đất đai phì nhiêu thì tập trung vào sản xuất nông sản Thông qua chuyên môn hoá, sản lượng của hai nước sẽ tăng lên, và thông qua trao đổi thương mại thì cả hai nước cùng có lợi

Quan điểm về lợi thế so sánh tuyệt đối chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt

giữa các nước trong trao đổi thương mại, tuy nhiên quan điểm này đã mở đầu

cho những lý thuyết khác nhau về lợi thế so sánh Trên thực tế, ngoài sự khác

biệt về tài nguyên thiên nhiên, địa lý, đất đai, các nước còn có sự khác nhau về năng suất lao động, dung lượng thị trường, các nguồn lực về con người, vốn…Các nhà kinh tế chính trị học sau Adam Smith đã giải thích sự khác biệt giữa các nước theo các tiêu chí bổ sung như trên Điển hình là lý thuyết của David Ricardo, Heckscher – Ohlin, Stuart Mill… Chúng được coi là những lý thuyết truyền thống để phân tích những nhân tố cơ bản của lợi thế so sánh và lợi ích thương mại của việc khai thác và phát huy các lợi thế so sánh

1.1.1 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

Ra đời vào thế kỷ 19, lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo được coi là mô hình đơn giản nhất giải thích về các nhân tố cơ bản của lợi thế so sánh và lợi ích thu được từ trao đổi thương mại Giả thiết của mô hình này gồm:

Trang 13

- Thế giới chỉ có hai quốc gia (Chẳng hạn là Trung Quốc và Việt Nam) và chỉ sản xuất hai mặt hàng (giấy và vải) Mỗi quốc gia có lợi thế về một mặt hàng

- Lao động (L) là yếu tố sản xuất duy nhất có thể di chuyển trong mỗi nước, nhưng không di chuyển giữa các nước

- Công nghệ sản xuất ở hai nước là cố định

- Chi phí sản xuất (K) cố định, không có chi phí vận tải

- Thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước

Căn cứ vào giả thiết trên, so với Việt Nam, Trung Quốc sẽ có lợi thế tương đối trong sản xuất giấy và Việt Nam có lợi thế tương đối trong sản xuất vải nếu như:

{Lvải/Lgiấy }ở Trung Quốc > {Lvải/Lgiấy} ở Việt Nam

hoặc:

{Lvải Trung Quốc/Lvải Việt Nam} > {Lgiấy Trung Quốc/Lgiấy Việt Nam} thậm chí Trung Quốc có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng trên, tức là:

Lvải Trung Quốc < Lvải Việt Nam và Lgiấy Trung Quốc < Lgiấy Việt Nam Khi đó, trong trao đổi thương mại giữa hai nước, Trung Quốc sẽ có lợi nhiều hơn nếu xuất khẩu giấy sangViệt Nam, và Việt Nam sẽ có lợi nhiều hơn khi xuất khẩu hàng dệt may sangTrung Quốc

Có thể minh hoạ mô hình Ricardo bằng ví dụ sau đây:

Số liệu trên cho thấy Trung Quốc có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng bởi vì yêu cầu chi phí đầu tư vào cả hai mặt hàng đó đều thấp hơn nếu

so sánh với Việt Nam Tuy nhiên, nếu phân tích theo mô hình lợi thế so sánh tương đối của Ricardo, ta thấy Lgiấy Trung Quốc/Lgiấy Việt Nam bằng 10/40 và

Lvải Trung Quốc/Lvải Việt Nam bằng 15/20 Do 10/40 < 15/20, nên Trung Quốc

Trang 14

được đánh giá là có lợi thế so sánh tương đối trong sản xuất giấy và Việt Nam có lợi thế tương đối trong sản xuất vải Việt Nam sẽ chuyên môn hoá sản xuất vải

và đem đổi vải lấy giấy củaTrung Quốc, bởi vì nếu không có sự trao đổi này, Việt Nam sẽ phải chi phí 40 giờ lao động thay vì 20 giờ lao động Còn với Trung Quốc, mặc dù có lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng nhưng vẫn chuyển lao động sang sản xuất giấy để thu lợi nhiều hơn

Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của Ricardo vì vậy còn có tên gọi là lý thuyết lợi thế chi phí tương đối Lý thuyết này đặt ra vấn đề là một sản phẩm có thể được sản xuất ở trong nước nhưng cũng có thể được nhập khẩu hoặc xuất khẩu Nguyên tắc của lợi thế so sánh theo quan điểm của Ricardo là: một nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra với chi phí tương đối thấp hơn các nước khác, và nhập khẩu hàng hoá mà họ sản xuất tương đối kém hiệu quả với chi phí tương đối cao hơn Việc chuyên môn hoá dựa trên cơ sở lợi thế so sánh sẽ giúp các nước có điều kiện trao đổi hàng hoá với nhau và cả hai cùng có lợi

Thông qua mô hình Ricardo, chúng ta hiểu được rằng tại sao thương mại quốc tế lại xuất hiện và nó có tác động như thế nào đến lợi ích của các nước Tuy nhiên, nếu so sánh với thực tiễn thương mại quốc tế hiện nay, mô hình này còn

nhiều hạn chế bởi: Thứ nhất, trên thực tế việc chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn mà mô hình đòi hỏi không thể xảy ra; Thứ hai, giả định về lao động không

thể di chuyển tự do giữa các nước là phán đoán không đúng với thực tế ngày

nay; Thứ ba, Ricardo đã bỏ qua vai trò lợi thế so sánh nhờ quy mô và mới chỉ để

cập tới nhân tố cung hàng hoá, mà chưa chú ý tới nhân tố cầu hàng hoá Các nhà kinh tế học đi sau đã khắc phục dần những hạn chế này của Ricardo

1.1.2 Lý thuyết lợi thế so sánh của Heckscher – Ohlin

Những phân tích của Ricardo về lợi thế so sánh đã được hai nhà kinh tế học Thuy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin làm sáng tỏ thêm vào những năm 30 của thế kỷ 20 Nếu như Ricardo cho rằng chỉ có một yếu tố duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất (đó là chi phí lao động để sản xuất ra một đơn vị hàng

Trang 15

hoá), thì Heckscher – Ohlin cho rằng: quan niệm lợi thế so sánh không chỉ gồm yếu tố lao động để sản xuất ra một hàng hoá mà còn bao gồm nhiều yếu tố khác như đất đai, vốn…Giả thiết của mô hình này là:

- Chỉ có hai quốc gia tham gia vào quá trình sản xuất và trao đổi thương mại (chẳng hạn Trung Quốc và Việt Nam); chỉ có 2 loại hàng hoá (vải và giấy), và hai yếu tố sản xuất là lao động (L) và vốn (K)

- Cả hai quốc gia sử dụng cùng một loại công nghệ sản xuất

- Hàng hoá vải sử dụng nhiều lao động và hàng hoá giấy được sử dụng nhiều vốn ở cả hai quốc gia

- Cả hai hàng hoá được sử dụng trong điều kiện tỷ lệ thu hồi theo quy mô là không đổi ở cả hai quốc gia

- Không có sự chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn ở hai quốc gia

- Sở thích của hai quốc gia là như nhau

- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

- Có sự dịch chuyển linh hoạt của các yếu tố lao động và vốn trong phạm vi quốc gia nhưng không có sự dịch chuyển quốc tế

- Không xét chi phí vận tải, thuế nhập khẩu hoặc các trở ngại thương mại khác (thương mại tự do)

- Toàn bộ tài nguyên được sử dụng triệt để ở cả hai nước

- Thương mại quốc tế giữa hai quốc gia được cân đối

Theo giả định trên, ngành dệt là ngành sử dụng nhiều lao động hơn, trong khi ngành giấy sử dụng nhiều vốn hơn nếu:

(K/L) để sản xuất giấy > (K/L) để sản xuất vải

Cho rằng, giá chi phí vay vốn (hay còn gọi là lãi suất) là (r) được tính bằng USD và tiền lương là (w) được tính bằng USD/giờ, Trung Quốc sẽ là nước dồi dào vốn hơn và Việt Nam dồi dào lao động hơn, nếu:

(r/w) ở Trung Quốc < (r/w) ở Việt Nam

Điều này có nghĩa là Trung Quốc (nơi có vốn tương đối rẻ, hay còn gọi là lãi suất tương đối thấp) sẽ có lợi thế so sánh trong sản xuất các hàng hoá sử dụng

Trang 16

nhiều vốn (chẳng hạn như giấy) và Việt Nam(nơi có vốn đắt hơn và khan hiếm hơn) sẽ có lợi thế trong sản xuất các hàng hoá sử dụng nhiều lao động (như dệt vải) Do vậy, khi quan hệ buôn bán với nhau, Trung Quốc sẽ xuất khẩu giấy và Việt Nam sẽ xuất khẩu vải

Theo Heckscher – Ohlin, ở cả Trung Quốc và Việt Nam, lao động và vốn được sử dụng để sản xuất ra các mặt hàng Tiền lương được trả cho công nhân và lãi suất được trả cho việc sử dụng vốn Như vậy, chi phí sản xuất vải và giấy ở mỗi nước hoàn toàn được xác định với các mức lương và lãi suất không đổi Điều này sẽ làm tăng chi phí ở cả hai ngành sản xuất, nhưng mức độ bị ảnh hưởng lại khác nhau Do ngành vải đòi hỏi nhiều lao động nên chi phí sẽ tăng cao hơn so với mức tăng của chi phí ngành giấy Như vậy, một sự gia tăng về tiền lương so với lãi suất sẽ làm tăng chi phí sản xuất của mặt hàng đòi hỏi nhiều lao động (vải) so với mặt hàng đòi hỏi nhiều vốn (giấy) Do các yếu tố sản xuất được giả định là không di chuyển được giữa hai nước và lao động của Việt Nam không cạnh tranh với lao động của Trung Quốc nên tiền lương và lãi suất ở Việt Nam và Trung Quốc sẽ không ngang bằng nhau Do có sự khác biệt giữa các yếu

tố sản xuất nên tiềm năng sản xuất của Việt Nam và Trung Quốc cũng khác nhau Nếu Việt Nam có sự dồi dào tương đối về lao động (phản ánh ở tỷ lệ tiền lương/lãi suất thấp hơn), Việt Nam sẽ có lợi thế tương đối hơn trong các hàng hoá sử dụng nhiều lao động so với Trung Quốc (có tỷ lệ tiền lương/lãi suất cao hơn)

Dựa trên nguyên tắc trên, Heckscher – Ohlin đưa ra một định lý như sau:

Một nước sẽ xuất khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất chúng cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó, và nhập khẩu những hàng hoá

mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở nước

đó Nói một cách vắn tắt, một nước tương đối giàu về lao động sẽ xuất khẩu

hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn Trong ví dụ trên, Trung Quốc sẽ có lợi thế về giấy, còn Việt Nam sẽ có lợi thế về vải Trung Quốc sẽ xuất khẩu giấy sang Việt Nam để đổi lấy vải

Trang 17

So với Ricardo, Heckscher – Ohlin đã cho rằng không có yếu tố chuyên môn hoá hoàn toàn trong sản xuất hàng hoá Các nước chỉ có sự khác nhau duy nhất là ở các nguồn lực – một nước có sự giàu có hơn về lao động nhưng lại khan hiếm hơn về vốn so với nước kia, trong khi có rất nhiều yếu tố giống nhau như nhu cầu hàng hoá, mức giá tương đối, công nghệ…Tuy nhiên, hạn chế của

mô hình Heckscher – Ohlin là: trên thực tế hiện nay, cạnh tranh hoàn hảo là không thể xảy ra và sự thay đổi công nghệ đã khiến cho các quốc gia có những thay đổi khác nhau về lợi thế so sánh Cũng giống như Ricardo, Heckscher – Ohlin cũng mới chỉ chú ý đến nhân tố cung tương đối của hàng hoá trên thị trường, mà chưa chú trọng đến sự thay đổi trong cầu tương đối, đặc biệt khi nó

bị hạn chế bởi khả năng thu nhập của dân chúng, do vậy nó chưa sát với thực tiễn của thương mại quốc tế, mà ở đó thương mại được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu dùng

1.1.3 Lý thuyết cầu tương hỗ của Stuart Mill

Khắc phục những hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, nhà kinh tế học người Anh Stuart Mill (1806 - 1873) đã đưa ra lý thuyết cầu tương

hỗ (hay cầu đối ứng), trong đó nhấn mạnh đến yếu tố cầu trong thương mại quốc

tế Ông cho rằng trong hoạt động trao đổi thương mại giữa hai nước, cung và cầu đều cần thiết, do vậy lợi thế so sánh không thể dựa trên chi phí so sánh mà dựa vào giá trị trao đổi Dựa trên những lý luận mà Ricardo đã nêu ra, Stuart Mill cho rằng một nước nếu mà sản phẩm của mình có nhu cầu, được ưa chuộng ở nước ngoài, thì nước đó thu được nhiều lợi nhuận nhất trong trao đổi hàng hoá Chẳng hạn, nếu sản phẩm giấy của Trung Quốc được dân chúng Việt Nam ưa chuộng, thì giá trị của nó sẽ tăng Nhờ đó, Trung Quốc có thể mua được nhiều hàng dệt may ở Việt Nam hơn và ngược lại

Để trình bày quan điểm của Stuart Mill, có thể đưa ra một ví dụ sau đây: Với mức tiền lương như nhau, công nhân ở Trung Quốc và Việt Nam sản xuất như sau:

Trang 18

Việt Nam sẽ có lợi khi xuất khẩu vải sang Trung Quốc Với 5 mét vải, Việt Nam mua được từ 100 đến 150 tấn giấy của Trung Quốc Nếu bằng hoặc lớn hơn 150 tấn thì Trung Quốc sẽ từ chối không trao đổi giấy lấy vải của Việt Nam bởi vì như vậy họ sẽ tự sản xuất vải ở trong nước 5 mét vải và số lượng từ 100 đến 150 tấn giấy chính là ranh giới để hai nước trao đổi hàng hoá với nhau Lượng hàng trao đổi giữa hai nước có thể là nhiều hoặc ít tuỳ thuộc theo nhu cầu

về sản phẩm của nước này ở nước kia Lượng hàng đó trong thương mại quốc tế

được biểu thị bởi cái tên gọi là đường cung Đường cung là đường biểu diễn mô

tả lượng hàng mà một nước muốn xuất khẩu để đổi lại một lượng hàng nhập khẩu từ nước kia Nó xác định lợi ích nhiều hay ít hơn ở từng nước phụ thuộc

vào đường cầu đối ứng Chẳng hạn, người Trung Quốc thích vải của người Việt

Nam hơn, họ sẽ sẵn sàng trao đổi một lượng giấy của mình lớn hơn để có vải, và trong trường hợp đó người Việt Nam có lợi Còn ngược lại, nếu người Việt Nam thích giấy của người Trung Quốc hơn, họ sẵn sàng trao đổi vải nhiều hơn để lấy giấy, và người Trung Quốc có lợi

Nhìn chung, so với Ricardo, Stuart Mill đã làm nổi bật hơn lợi ích của thương mại quốc tế thông qua phân tích cung cầu hàng hoá Tuy nhiên, hạn chế của ông là: ông vẫn chấp nhận nhiều giả thuyết cổ điển về lợi thế so sánh (thương mại quốc tế chỉ gồm hai nước, hai hàng hoá, không có sự thay đổi công nghệ, thương mại được thực hiện tự do…) Bên cạnh đó, thông qua phân tích cầu tương hỗ, Stuart Mill đi đến một kết luận là: trong thương mại quốc tế, nước nghèo thu lợi nhiều nhất, bởi vì nước giàu có nhiều tiền và nhiều ham muốn nên cầu của họ cao và họ sẵn sàng trả giá cao cho hàng hoá Kết luận này là thiếu chính xác trong nền kinh tế hiện đại

1.1.4 Một số lý thuyết truyền thống khác

Nếu như Ricardo nghiên cứu quy luật lợi thế so sánh tương đối trên cơ sở đưa ra những giả thuyết đơn giản hoá của lý thuyết giá trị lao động, thì Haberler (1936) lại đưa ra lý thuyết chi phí cơ hội để chứng minh cho quy luật lợi thế

Trang 19

tương đối Haberler cho rằng: trên thực tế lao động không bao giờ có sự đồng nhất: những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau với mức lương khác nhau, năng suất lao động và trình độ tay nghề khác nhau Hơn nữa, hàng hoá làm ra không chỉ bởi lao động mà còn bao gồm cả các yếu tố sản xuất khác như đất đai, vốn, kỹ thuật Việc so sánh hàm lượng lao động của các mặt hàng khác nhau sẽ đưa ra những nhận định sai lệch về giá trị tương đối, bởi vì việc sản xuất những mặt hàng đó đòi hỏi tỷ trọng khác nhau về các yếu tố sản xuất Theo

Haberler thì chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng các hàng hoá khác phải cắt giảm để nhường lại đủ các nguồn tài nguyên để sản xuất thêm một đơn

vị hàng hoá thứ nhất Như vậy, nước nào có chi phí cơ hội thấp trong việc sản xuất một loại hàng hoá nào đó thì họ có lợi thế tương đối (lợi thế so sánh) trong việc sản xuất hàng hoá đó và không có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá thứ hai

Để chứng minh cho luận điểm này, Haberler giả định khi không có thương mại quốc tế, Trung Quốc phải bỏ đi 2/3 số đơn vị vải của mình để giành lại đủ các nguồn tài nguyên cho việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm giấy Như thế chi phí cơ hội về giấy của Trung Quốc là 1 giấy = 2/3 đơn vị vải Còn ngược lại chi phí cơ hội về giấy ở Việt Nam là 1 giấy = 2 vải Như vậy, Trung Quốc có lợi thế tương đối trong việc sản xuất giấy còn Việt Nam có lợi thế tương đối trong việc sản xuất vải Theo quy luật lợi thế tương đối, Trung Quốc sẽ chuyên môn hoá sản xuất giấy, còn Việt Nam sẽ chuyên môn hoá sản xuất vải Theo Haberler, chi phí cơ hội 1 giấy = 2 vải ở Việt Nam và 1 giấy = 2/3 vải ở Trung quốc luôn là một hằng số Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí cơ hội rất ít khi là một hằng số Hầu hết các quốc gia đều ở trong tình trạng chi phí cơ hội tăng dần Bên cạnh lý thuyết lợi thế so sánh của Heckscher – Ohlin, nhà kinh tế học Paul Samuelson phát triển rộng lý thuyết này tạo nên một lý thuyết chung là lý thuyết Heckscher – Ohlin – Samuelson, viết tắt là H-O-S, hay còn gọi là lý

thuyết cân bằng giá cả yếu tố Theo quan điểm của Hẹckscher – Ohlin về sự

cung ứng các yếu tố tài nguyên trong sản xuất hàng hoá, trong đó nước có nhiều

Trang 20

tài nguyên thiên nhiên và lao động sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có thể sử dụng các yếu tố có sẵn, tương đối nhiều và rẻ ở trong nước; đồng thời nhập khẩu các sản phẩm mà việc sản xuất đòi hỏi rất nhiều yếu tố sản xuất

mà nước đó có ít và đắt (chẳng hạn như vốn), và ngược lại Thống nhất với quan điểm đó, Samuelson đã đặt ra vấn đề: nếu một nước tăng sản xuất hàng hoá bằng cách sử dụng những yếu tố dồi dào (chẳng hạn như lao động), thì nhu cầu đối với yếu tố dư thừa đó sẽ tăng lên dẫn đến tăng giá các yếu tố (như tiền lương); đồng thời nhu cầu đối với yếu tố khan hiếm (chẳng hạn như vốn) sẽ giảm dẫn tới giảm giá của yếu tố (như lãi suất) Như vậy, giá của hai yếu tố có xu hướng xích lại gần nhau, có nghĩa là giá của các yếu tố có xu hướng hội tụ trong một quốc gia Khuynh hướng đối lập này thậm chí có thể mở rộng ra đối với các quốc gia khác hoặc các đối tác thương mại khác liên quan đến vấn đề dư thừa hay khan hiếm tài nguyên

Từ cách đặt vấn đề như trên, mô hình H-O-S đưa ra một định lý như sau:

Thương mại quốc tế sẽ đưa đến sự cân bằng thu nhập tương đối và tuyệt đối của các yếu tố thuần nhất giữa các nước Do đó, thương mại quốc tế là một cách thay thế cho sự dịch chuyển quốc tế của các yếu tố Điều đó có nghĩa là: thương

mại quốc tế làm cho (w) tăng ở nước thứ nhất (nước có tiền lương thấp) và giảm

ở nước thứ hai (nước có tiền lương cao) Do đó thương mại quốc tế làm giảm sự khác biệt về (w) giữa hai nước khi có ngoại thương Tương tự, thương mại quốc

tế làm giảm lãi suất (r) ở nước thứ nhất (nước có vốn đắt) và tăng ở nước thứ hai (nước có vốn rẻ), do đó làm giảm sự chênh lệch về lãi suất khi có ngoại thương

Đi xa hơn nữa, thương mại quốc tế không chỉ có khuynh hướng làm giảm sự khác biệt quốc tế về thu nhập của các yếu tố thuần nhất, mà còn dẫn đến sự cân bằng giá cả tương đối của các yếu tố khi tất cả các giả thiết được giữ vững Thương mại quốc tế sẽ tiếp tục được mở rộng cho đến khi giá cả tương đối của hàng hoá được cân bằng hoàn toàn

Khắc phục giả thuyết của Ricardo về thương mại quốc tế chỉ thực hiện gồm hai nước, hai loại hàng hoá, vào năm 1965, nhà kinh tế học Balassa đã đưa ra

Trang 21

một cách tính về lợi thế so sánh biểu hiện (RCA), mà sau này nó được coi là

phương pháp tính lợi thế so sánh tương đối phổ biến nhất bởi nó đánh giá hoạt động thương mại quốc tế qua sự tham gia của nhiều quốc gia và nhiều loại hàng hoá Chỉ số RCA phản ánh hoạt động xuất khẩu của một loại hàng hoá cụ thể của một nước cụ thể so với hoạt động xuất khẩu chung của thương mại thế giới, trong bối cảnh có sự khác nhau về các nhân tố phi giá cả RCA được tính bằng công thức như sau:

RCAAiA ? ?i = ( EAiA ? ?i/EAA ? ?)/(EWiW ? ?i/EWW ? ? )

Trong đó:

EAiA ? ?i: Xuất khẩu hàng hoá i của nước A

AEE ? ?: Tổng xuất khẩu hàng hoá của nước

đó càng cao

Tóm lại, các lý thuyết lợi thế so sánh truyền thống như đã phân tích cho

thấy, các nhà kinh tế học đã có những cách tiếp cận khác nhau để lý giải các nhân tố cơ bản của lợi thế so sánh, tác động của việc khai thác lợi thế so sánh đối với sự phát triển kinh tế của một nước Các lý thuyết này có thể áp dụng cho cho đổi hàng hoá đối với nhiều nước trên nguyên tắc mỗi nước sẽ tập trung vào sản

Trang 22

xuất và xuất khẩu các mặt hàng có chi phí thấp một cách tương đối so với các nước khác và nhập khẩu các mặt hàng có chi phí cao một cách tương đối - sau khi tất cả các chi phí liên quan được cân nhắc, tính toán

Lý thuyết của Ricardo được nước Anh áp dụng triệt để nhất và lâu dài nhất

Từ năm 1846, Anh đã mở cửa hoàn toàn đối với nhập khẩu lương thực và nguyên liệu sản xuất với mức thuế quan bằng 0 Anh chủ động và đơn phương làm như vậy cũng nhằm thuyết phục các nước như Đức, Pháp chuyển sang chế

độ tự do thương mại Anh đã áp dụng chính sách tự do thương mại từ cuối thế kỷ XVIII đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất nhằm chinh phục thị trường quốc tế Nhờ chính sách này, nước Anh đã giữ được vị trí số một trong thương mại và đầu tư quốc tế trong hai thế kỷ và bằng chính sách này cũng tạo điều kiện cho sự cất cánh về kinh tế của Pháp, Mỹ, Đức

Ngày nay, đặc biệt là từ sau chiến tranh lạnh, những nguyên tắc của các lý thuyết lợi thế so sánh truyền thống đã được áp dụng rộng rãi trên thế giơí và có chiều hướng gia tăng Về mặt lý thuyết, các học thuyết của A.Smith, Ricardo, Samuelson, Hechscher-Ohlin, Haberler … đã cung cấp những cơ sở lý luận khoa học cho việc phân tích, giải thích cũng như dự đoán quá trình phát triển của thương mại quốc tế, cho thấy sự mở cửa kinh tế cho phép một nền kinh tế sử dụng các nguồn lực tốt hơn và thông qua chuyên môn hoá sâu hơn trong sản xuất hàng hoá và dịch vụ (mà quốc gia sản xuất tương đối rẻ) để trao đổi lấy những hàng hoá và dịch vụ do nước ngoài sản xuất hiệu quả hơn Nói một cách cụ thể, thương mại quốc tế giúp các quốc gia đang phát triển có thể nhập khẩu vốn và những lượng trung gian khác cần thiết để tăng trưởng trong dài hạn Nó cũng giúp cho các nước công nghiệp phát triển đẩy mạnh sản xuất, tăng thêm ngoại tệ nhờ xuất khẩu hàng hoá trung gian, tập trung nhiều vốn và nhập khẩu những nguồn nguyên liệu rẻ, hàng hoá chi phí thấp để bù đắp những thiếu hụt trong nước Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp cuả thương mại quốc tế ngày nay, song quy luật này vẫn đang là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và có ý nghiã chỉ dạo thực tiễn

Trang 23

quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những nước chưa phát triển, bởi vì những nước này đa số là những nước đông dân, dư thừa lao động và tài nguyên nhưng nghèo vốn và công nghệ để phát triển kinh tế

Tuy nhiên, các lý thuyết lợi thế so sánh truyền thống cũng gặp những hạn chế nhất định khi được xây dựng trên cơ sở những giả định trừu tượng để so

sánh hiệu quả của một yếu tố sản xuất (lao động) hoặc hai yếu sản xuất (lao động, vốn) hoặc ba yếu tố sản xuất (lao động, vốn, tài nguyên), trong khi dòng trao đổi hàng hoá giữa các nước còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Như đã

khẳng định ở trên, chuyên môn hoá hoàn toàn như trong mô hình Ricardo là không thực tế, bởi vì các yếu tố sản xuất là không đồng nhất và chúng được sử

dụng với những tỷ lệ khác nhau vào quá trình sản xuất Do đó, trong thực tế, chuyên môn hoá không hoàn toàn đã được sử dụng để xác định khả năng sản xuất của các nước Điều đó hàm ý rằng mỗi nước sẽ sản xuất nhiều hơn những mặt hàng mà nó có lợi thế so sánh, trong khi vẫn sản xuất những mặt hàng khác, nhưng với số lượng hạn chế hơn Nhu cầu của cá nhân cũng luôn thay đổi, không giống như sự cố định như cầu cá nhân trong mô hình Ricardo, do nó được xác định từ sở thích tiêu dùng của các cá nhân và bị giới hạn bởi khả năng thu nhập của họ

Bên cạnh đó, các lý thuyết lợi thế so sánh truyền thống mới chỉ giải thích được những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của dòng thương mại quốc tế, mà

chưa lý giải được tại sao mức cầu tương đối của từng nước và của thế giới lại thay đổi theo từng thời kỳ Hầu hết các lý thuyết lợi thế so sánh đều dựa trên giả

thuyết thương mại được thực hiện trong điều kiện tự do Nhưng trên thực tế, thuế quan nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu đã có tác động không nhỏ đến cung cầu hàng hoá thế giới Mỗi nước đều có thể được lợi hoặc bị thiệt hại từ thương mại quốc tế tuỳ thuộc vào xu hướng tăng trưởng kinh tế, vào việc áp dụng thuế quan nhập khẩu hay trợ cấp xuất khẩu

Các lý thuyết thương mại quốc tế truyền thống cũng không giải thích rõ nét được những lợi thế so sánh nhờ quy mô thị trường Trên thực tế, một nước, một

công ty có thể được coi là sản xuất hiệu quả nếu lợi nhuận thu được của nó tăng dần theo quy mô Do hiệu quả của các ngành, các công ty khác nhau, nên mỗi

Trang 24

nước có thể tập trung sản xuất một số lượng hạn chế các mặt hàng hoá nhưng với sản lượng lớn hơn Việc sản xuất hàng hoá này có thể dựa vào sự khác biệt của hàng hoá về giá cả, chất lượng, công nghệ Quy mô thị trường trong nước có hạn làm nảy sinh nhu cầu trao đổi và thông qua đó, hàng hoá trên thị trường mỗi nước đa dạng hơn và nhiều hơn Nhờ lợi thế về quy mô, giá cả hàng hoá sẽ giảm

và do vậy sẽ tăng nhanh được lợi ích từ thương mại

1.2 Vai trò của việc khai thác lợi thế so sánh ở các nước đang phát triển

1.2.1 Tầm quan trọng của việc khai thác lợi thế so sánh đối với phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển

Trong nhiều thập kỷ qua, nhiều nước đang phát triển đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế Điển hình là những nhóm nước phát triển nhanh như những nước Đông và Đông Nam Á, Mỹ La tinh, một số nước xuất khẩu dầu lửa…Sự phát triển nhanh của những nhóm nước này chủ yếu là do

họ có những chính sách thương mại tương đối cởi mở, tận dụng được nguồn tài nguyên phong phú và lực lượng lao động đông, giá rẻ để phát triển các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu Nhận thức được lợi ích to lớn từ thương mại quốc tế, nhiều nước đang phát triển đều có thái độ mở rộng cửa với thế giới bên ngoài để có khai thác được những lợi thế so sánh của mình để phát triển kinh tế Ngay từ thập kỷ 60, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapo, Inđônêxia, Achentina, Chilê, Côlômbia, Braxin, … đã tiến hành mở cửa kinh tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy xuất khẩu Thập kỷ 70 tiếp tục chứng kiến sự mở cửa kinh tế của các nước như Thái Lan, Malaixia, Philippin, Urugoay, Israel…Xuất phát điểm của hầu hết các nước này đều là những nền kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, tuy nhiên họ lại có những nguồn lực tương đối phong phú như đất đai màu

mỡ, giàu tài nguyên, hoặc lao động đông và chi phí thấp Theo nguyên tắc lợi thế

so sánh, các nước đang phát triển đã hướng tới xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng tài nguyên và lao động cao, và nhập khẩu những sản phẩm giàu hàm lượng vốn và công nghệ từ các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu để bổ sung

Trang 25

sự thiếu hụt nguồn lực, phục vụ tích cực cho sự phát triển kinh tế Mặc dù ở mỗi nước, các nguồn lực sẵn có đều có sự khác nhau; nước có nhiều dầu mỏ tập trung vào xuất khẩu dầu mỏ (như Inđônêxia, Philippin, Venezuala, Braxin), nước có vị trí địa lí thuận lợi sẽ tập trung vào phát triển thương mại tự do và dịch vụ thương mại (như Singapo, Hồng Kông), nước không có tài nguyên nhưng có lợi thế về lao động sẽ tập trung vào xuất khẩu hàng hoá tập trung nhiều lao động (như Hàn Quốc), nước có tài nguyên thiên nhiêu phong phú sẽ tập trung phát triển nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng (như Thái Lan, Malaixia), nhưng nhìn chung các nước đều có những chính sách thương mại và công nghiệp hoá hiệu quả để khai thác những lợi thế sẵn có và hướng ra xuất khẩu, thu ngoại tệ từ xuất khẩu

và nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế

Kể từ khi bắt đầu chiến lược thương mại hướng ngoại từ thập kỷ 60 cho đến cuối thập kỷ 90, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước đang phát triển ngày càng được mở rộng Tỷ lệ hàng hoá xuất khẩu trên GDP năm 1998 của các nước đang phát triển theo đánh giá của UNDP (2000) là 31,7%, nhập khẩu trên GDP

vị thế của nền kinh tế nhờ vào chiến lược mở rộng cửa đối với bên ngoài Nếu xét về biến số này, những quốc đảo điển hình như Đài Loan, Hồng Kông, Singapo và một số nước ASEAN đạt được những thành tích đáng kể nhất (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với tăng trưởng kinh tế

và xoá đói giảm nghèo ở một số nước đang phát triển (%)

Tăng trưởng trung Tăng trưởng trung Tỷ lệ dân số có thu nhập

Trang 26

bình của xuất khẩu hàng hoá (khối lượng) 1980-1994

bình của GNP trên đầu người 1970-1995

dưới 1 USD/người/ngày (tính theo phương pháp đồng giá sức mua), các năm khác nhau

Đông Á và Đông Nam Á

Trang 27

Thành tích trong khai thác và phát huy lợi thế so sánh của các nước Đông Á trong những thập kỷ qua đang hấp dẫn các nước đang phát triển còn lại, giúp họ

có thêm sức mạnh để thực hiện chính sách thương mại mở cửa và công nghiệp hoá của mình Số liệu của bảng 1.2 cho thấy, xuất khẩu hàng hoá của tất cả các nước đang phát triển đều có xu hướng tăng lên Tuy nhiên, sự gia tăng này là không đều giữa các nước Có những nước, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trong

10 năm (1986-1996) tăng rất cao như Campuchia (20 lần), Panama (9 lần), Hồng Kông và Mêhicô (4 lần) Còn lại ở hầu hết các nước, hoạt động xuất khẩu đều có chiều hướng gia tăng Điều đó cho thấy trong những thập kỷ gần đây, các nước đang phát triển đã nhận thức ngày càng rõ hơn về vai trò của thương mại trong phát triển kinh tế

Tuy nhiên, trong quá trình khai thác và phát huy lợi thế so sánh, các nước đang phát triển ngày nay đang có một sự phân tầng rõ rệt: các nước Đông Á đã thực hiện xong giai đoạn khai thác lợi thế so sánh truyền thống như tài nguyên nhiều nhưng chưa được khai thác, lao động đông, giá rẻ để chuyển sang các ngành có lợi thế so sánh về nguồn lao động được đào tạo cao hơn, hàng hóa chế biến tài nguyên nhưng có hàm lượng vốn và công nghệ nhiều hơn Trong khi đó

ở ở khu vực Mỹ Latinh, mức độ mở cửa kinh tế nhanh là một lợi thế, tuy nhiên khu vực này thiếu những chính sách nâng cấp công nghệ trong nước và phát triển nguồn nhân lực, nên hầu hết các nước mới ở trong giai đoạn phát huy lợi thế so sánh trong các ngành sử dụng nhiều tài nguyên và nguồn lao động rẻ, và ở trình

độ phát triển thấp hơn các nước Đông Á Tại châu Phi, mặc dù là nơi chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên quí giá của thế giới như kim cương, vàng bạc, và có nhiều tiềm năng về đất đai, phát triển nông nghiệp…, nhưng do nguồn nhân lực còn ở trình độ thấp, dịch bệnh hoành hành, cơ sở hạ tầng quá lạc hậu và chính sách mở cửa thương mại chưa hấp dẫn của các chính phủ khiến khu vực này chưa khai thác được những lợi thế so sánh của mình để phát triển kinh tế, và họ

có nguy cơ bị gạt ra ngoài lề sự phát triển của thế giới nếu như không có chính sách mở cửa thương mại và kêu gọi đầu tư từ bên ngoài thích hợp

Trang 28

Bảng 1.2 Tỷ trọng của thương mại hàng hoá trong GDP về hàng hoá (%)

Số liệu về một số nước đang phát triển cụ thể

mở Tuy nhiên, thực tiễn các nước đang phát triển cũng cho thấy, để có thể đứng vững trong nền kinh tế toàn cầu, các nước đang phát triển không thể chỉ dừng lại

ở chiến lược khai thác những lợi thế so sánh truyền thống, mà cần phải có những giải pháp hợp lý và khẩn trương nhất để nâng cao chất lượng các yếu tố đầu vào, đáp ứng nhu cầu mới của thời đại

Bảng 1 3: Cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực của các nước đang phát triển

Trang 29

Đông Á

(trừ Trung Quốc)

Mỹ Latinh

Châu Phi

Các nước kém phát triển nhất

Toàn bộ các nước đang phát triển

1.Thông tin liên lạc (1996-1998)

-số máy điện thoại (trên 1000 người) 431 118 14 4 58

- Thuê bao điện thoại di động (trên

1000 người)

2 Tiêu dùng điện năng (kilowatt

1.2.2.1 Bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới

Có ba nhân tố cơ bản của nền kinh tế thế giới đang làm thay đổi xu hướng truyền thống của thương mại thế giới Đó là:

Thứ nhất, những thay đổi trong ưu thế cạnh tranh dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang tác động mạnh đến xu hướng truyền thống của thương mại quốc tế Nhờ có những thành tựu to lớn về khoa học và

công nghệ, nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang một cơ sở công nghệ mới

về chất và mang tính toàn cầu Những công nghệ dựa trên kỹ thuật cơ khí, sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường đang dần bị loại bỏ Thay vào đó, một cơ sở công nghệ mới đang hình thành theo xu hướng tự động hoá ở mức cao, trình độ thông tin hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu và không gây ô

Trang 30

nhiễm môi trường Trong lĩnh vực thương mại, nguời thắng thế trong cuộc cạnh tranh này không thể chỉ dựa vào giá cả hay giảm chi phí, mà phần lớn là phải dựa vào chất lượng sản phẩm của họ thể hiện thông qua mức độ thoả mãn nhu câù của người tiêu dùng Để đạt được điều này, các chính phủ và các công ty phải rất nỗ lực trong hoạt động nghiên cứu triển khai (R%D) Như vậy, ngày nay, cạnh tranh dựa trên ưu thế về tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ với tư cách là đầu vào, đang giảm dần ý nghĩa và dần thay thế bằng những ưu thế về trình độ trí tuệ Trên thực tế, các nước phát triển hơn trên thế giới có được một nền tảng khoa học phát triển cao hơn và rộng hơn, do đó họ có ưu thế hơn về các sản phẩm có hàm lượng khoa học cao Sự phân bố sản xuất không đều này đã làm nảy sinh nhu cầu trao đổi Vì vậy, một chế độ thương mại tự do hơn ở các nước đang phát triển sẽ hấp dẫn các nước khác chuyển giao công nghệ mới cho

mà nó bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội Đó là kết quả của quá trình quốc tế hoá trong mọi lĩnh vực sản xuất, lưu thông, tư bản, tài chính - tiền tệ, kỹ thuật, hợp tác kinh tế dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ Nó đang trở thành một xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới, buộc mọi nước phải chấp nhận và cải cách nền kinh tế của mình sao cho có thể tranh thủ được những lợi ích tối đa mà quá trình này mang lại Để làm được điều đó, các nước đang cố gắng chuyển sang chính sách tự do hoá, mở cửa thị trường và loại bỏ những cơ chế điều hành mang tính cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh Chính sách tự do hoá đã tạo điều kiện cho việc khai thác công nghệ mới ở các thị trường có quy mô toàn cầu ở mọi nơi trên thế giới Nhiều nước đã

Trang 31

mạnh dạn dựa nhiều hơn vào thị trường quốc tế nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá cũng làm tăng tính phụ thuộc nhiều hơn của nhóm nước đang phát triển vào nhóm nước phát triển hơn

Thứ ba, sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức, trước hết ở các nước phát triển, các nước công nghiệp mới, đang ngày càng được khẳng định như là một xu thế tất yếu của nền kinh tế "hậu công nghiệp", góp phần quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nói chung trên thế giới và tăng cường tính toàn cầu của thị trường cũng như tính linh hoạt rộng khắp của quá trình kinh doanh Kinh

tế tri thức phát triển dựa trên sự phân bố và sử dụng tri thức, trước hết là thông tin và các công nghệ cao Trong nền kinh tế này, tri thức trở thành một bộ phận cấu thành chủ yếu của giá trị sản phẩm, tỷ lệ các giá trị các yếu tố vật chất truyền thống (nguyên nhiên liệu, vốn, sức lao động) ngày càng giảm; các ngành kinh tế dựa trên tri thức, đặc biệt là các ngành sử dụng công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, các loại hình dịch vụ cao cấp ) chiếm lĩnh vị trí then chốt trong sản xuất kinh tế Kinh tế tri thức cũng có tác dụng đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá

1.2.2.2 Những quan niệm bổ sung về lợi thế so sánh

Trước sự biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là từ cuối thế

kỷ XX, lí thuyết truyền thống về lợi thế so sánh đã không thể giải thích được những yếu tố chính quyết định hoạt động kinh tế của một nước Nó đặt ra một thách thức về mặt lí thuyết để lí giải và chỉ dẫn cho sự phân bổ nguồn lực hiệu quả trong một nền kinh tế mở Nó cũng không thể giải nghĩa ở những nước có sự tương đồng về chiến lược phát triển kinh tế, cùng tận dụng những lợi thế so sánh giống nhau về lao động, tài nguyên, đất đai, hoạt động kinh tế của nước này lại tốt hơn nước kia; hoặc giữa hai công ty khác nhau cùng sản xuất ra một loại sản phẩm, cùng hưởng những lợi thế so sánh và chính sách ưu đãi của một đất nước, cùng xuất khẩu hàng hoá đó ra một thị trường, công ty này lại thành công còn công ty kia thì không Trong thời đại toàn cầu hoá dựa trên sức mạnh của khoa

Trang 32

học và công nghệ, những lý thuyết về lợi thế so sánh cổ điển dường như đã có sự thay đổi Những lợi thế so sánh tự nhiên như: sự phong phú tương đối về lao động, tài nguyên đã tỏ ra phát huy tác dụng trong suốt thế kỷ XIX và gần hết thế

kỷ XX, tạo nên sự giàu có và tăng trưởng kinh tế cho nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, Châu Âu, một số nền kinh tế mới nổi Châu Á nhờ mở rộng phạm

vi hoạt động thương mại Tuy nhiên, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức đang làm thay đổi bản chất của hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động thương mại Về mặt lí thuyết, thương mại quốc tế luôn mang lại lợi ích cho các nước tham gia cho dù năng suất trong các ngành của nó luôn thấp hơn so với các nước khác Tuy nhiên, những giả thuyết làm cơ sở cho nó không thực tiễn trong hầu hết các ngành bởi nó dựa trên giả thuyết về công nghệ đồng nhất, không có lợi thế về quy mô, các yếu tố sản xuất không có sự dịch chuyển giữa các quốc gia Thực tiễn đã cho thấy, các yếu tố sản xuất đều mang tính lưu động giữa các quốc gia thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, sản xuất quốc tế và thương mại quốc

tế Vốn và công nghệ có thể được chuyển giao sang các nước có nguồn tài nguyên bổ sung (như lao động chẳng hạn) đáp ứng ở mức rẻ nhất Nói một cách khác, cung nguồn lực trên phạm vi toàn cầu (các yếu tố đầu vào) có thể phân bổ hay phân phối lại giữa các nước thông qua các công ty xuyên quốc gia Điều này

đã thúc đẩy thế giới ngày càng sản xuất hiệu quả hơn, thương mại thế giới ngày càng mở rộng hơn và sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc hơn

Hàng loạt những đóng góp vào sự phát triển lý thuyết lợi thế so sánh đã diễn ra kể từ thập kỷ 60 và được coi là những biến thể cơ bản của lí thuyết Ricardo và lý thuyết Heckscher – Ohlin Các lý thuyết này được chia thành 3 nhánh: (i) Các lý thuyết thương mại về công nghệ mới đã nhấn mạnh về đổi mới công nghệ và khoảng cách trình độ công nghệ giữa các công ty và các nước, và coi đây là một yếu tố quyết định trong hoạt động thương mại; (ii) Lý thuyết thương mại về buôn bán trong nội bộ ngành quan tâm đến vấn đề hiệu quả kinh

tế theo quy mô và tính đa dạng hoá về sản phẩm khi giải thích thương mại giữa

Trang 33

các nước; và (iii) Lý thuyết về chính sách thương mại chiến lược cung cấp các luận cứ cho sự can thiệp của chính sách nhà nước trong việc nâng cao phúc lợi

và các biện pháp can thiệp của nhà nước bao gồm: trợ cấp xuất khẩu, bảo hộ thị

trường, thay đổi lãi suất…Nhìn chung các lý thuyết về công nghệ đều cho rằng,

do có sự đổi mới công nghệ liên tục, tính chu kỳ "truyền thống" của sản phẩm đã

bị phá vỡ Việc phát minh ra sản phẩm mới có công nghệ cao mới là quan trọng, tạo nên lợi thế cho những nước có tiềm năng về công nghệ và nguồn nhân lực được đào tạo Về lĩnh vực thương mại, lợi thế so sánh vẫn phát huy tác dụng nhưng ở mức độ cao hơn Giá cả của các nguồn tài nguyên, của nguồn nhân lực không qua đào tạo ngày càng rẻ so với những thập kỷ 70 và 80 Tiềm năng về vốn cũng bị gạt ra khỏi quá trình cạnh tranh Tri thức và kỹ năng đang là các nguồn tạo ra lợi thế so sánh ưu việt nhất cho các quốc gia trong thời đại ngày nay Vì vậy, công thức cổ điển của lợi thế so sánh đã có sự thay đổi Joseph

Stiglitz(1998) cho rằng, trong hoạt động sản xuất và thương mại hiện nay, ngoài các yếu tố truyền thống như lao động, tài nguyên và vốn, cần có một yếu tố khác rất quan trọng, đó là thông tin và tri thức Bên cạnh đó, mối quan hệ và tầm

quan trọng của các yếu tố trong hoạt động thương mại cũng thay đổi Những yếu

tố trước đây được cho là nguồn lực khan hiếm, là lợi thế so sánh ưu việt nhất quyết định sự giàu có của các quốc gia là tài nguyên, lao động và vốn, thì ngày nay, yếu tố được coi là có tính chất quyết định nhất đến sự tăng năng suất và tạo

ra sự cạnh tranh quốc gia lại là tri thức Đây chính là yếu tố mô tả một quốc gia phát triển hay đang phát triển và nó là nguồn duy nhất tạo ra lợi thế so sánh bền vững và mang tính dài hạn

Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức với những ưu điểm của nó đang tạo ra ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thương mại quốc tế Trong giai đoạn hiện nay,

lý thuyết về lợi thế so sánh vẫn đúng, nhưng lợi thế so sánh của một nước sẽ được quyết định bởi những chính sách đầu tư của chính phủ Những nhân tố tĩnh

và sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, lao động đông và giá rẻ đang dần mất đi ưu thế và thay vào đó là phải có sự đầu tư công nghệ chế biến các nguồn tài nguyên,

Trang 34

đào tạo lại nguồn nhân lực Kinh tế tri thức xuất hiện cùng xu thế tự do hoá thương mại đang diễn ra rộng rãi đã khiến cơ cấu hàng hoá trong thương mại thế giới được mở rộng hơn, không chỉ bao gồm những sản phẩm nông - công nghiệp truyền thống, mà còn bao gồm cả sản phẩm kỹ thuật cao, công nghệ dịch vụ, ngoại tệ, cổ phiếu, chứng khoán, sản phẩm vô hình Vào cuối thế kỷ XX, tổng kim ngạch buôn bán kỹ thuật và công nghệ trên toàn thế giới đã lên tới trên 500

tỷ USD Sự phát triển của thị trường tin học cũng tăng nhanh chóng, đạt doanh thu khoảng 1000 tỷ USD vào cuối thập kỷ 90, trong đó Mỹ chiếm 42%, EU chiếm 29% và phần còn lại của thế giới chiếm 29% Cùng với sự lớn mạnh tỷ trọng của yếu tố tri thức trên thị trường thế giới, đã diễn ra sự phân chia lại lợi thế so sánh giữa các nước để bổ sung cho nhau, cùng hợp tác và phát triển Những lợi thế so sánh (kể cả lợi thế tĩnh và lợi thế động) đang có sự chuyển biến tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, trong đó những nước đi sau đang

cố gắng nắm bắt và tận dụng những lợi thế so sánh mới để mở rộng hoạt động thương mại và tạo ra một sự phát triển rút ngắn hơn

Các lí thuyết thương mại chú trọng đến hiệu quả kinh tế theo quy mô và tính đa dạng hoá sản phẩm trong thương mại quốc tế đều cho rằng: trong điều

kiện có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ, cơ cấu hàng hoá trong trao đổi thương mại có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Hàng hoá mang tính đa dạng hoá cao và luôn có sự thay đổi

Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ ngày nay, hàng hoá tạo ra trong trao đổi thương mại không còn có yếu tố khan hiếm như nền kinh tế hàng hoá truyền thống, mà có tính phong phú nhiều hơn Không giống như hầu hết các nguồn lực bị mất đi sau khi sử dụng những nguồn tài nguyên sẵn có, hàng hoá ngày nay có thể được tái chế và nhân tạo Hơn nữa, ngay trong những hàng hoá

sơ chế truyền thống, công tác thiết kế mẫu mã, tiếp thị, nhãn hiệu hàng hoá cũng làm cho sản phẩm lưu thông trên thị trường thế giới mang tính đa dạng hơn Sự tiến bộ của khoa học công nghệ cũng khiến chu kỳ sống của một sản phẩm chế tạo ngày càng rút ngắn lại, khoảng 1-3 năm thay vì trên 10 năm như trước kia

Trang 35

Theo đó, quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng

và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá diễn ra với tốc độ nhanh

- Thị trường và giá cả sản phẩm thay đổi nhanh chóng hơn và cạnh tranh mạnh mẽ hơn

Trong thị trường mang tính toàn cầu hoá, mọi hoạt động kinh doanh đều mang tính chất xuyên quốc gia Cùng với sự đa dạng hoá sản phẩm, cung cầu trên thị trường cũng có sự đa dạng hơn, bao gồm cả các sản phẩm vật thể, phi vật thể, từ các hàng hoá thô sơ, chưa qua chế biến đến các hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao, hàng hoá trí tuệ Tuy nhiên, nguồn cung cầu về các sản phẩm tri thức ngày càng có xu hướng gia tăng Yếu tố tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm

sơ chế đang bị gạt dần ra khỏi quá trình cạnh tranh, bởi các sản phẩm hiện đại sử dụng rất ít hàm lượng tài nguyên thiên nhiên và lao động Các nhà khoa học trên thế giới đã chỉ ra rằng: với các sản phẩm nông nghiệp vào những năm 60 của thế

kỷ trước, phần giá trị do công nghệ tạo ra chiếm 40%, phần do người sản xuất tạo ra là 60%; còn đến những năm 80 thì tỷ lệ tương ứng là 60% và 40%, và những năm 90 tỷ lệ này tương ứng là 80% và 20% Phân tích này cho thấy đã có

sự hoán vị lợi thế so sánh giữa tài nguyên, lao động và khoa học công nghệ trên thị trường hàng hoá thế giới

Cùng với chu kỳ rút ngắn của các sản phẩm, giá cả sản phẩm cũng đang có

sự thay đổi Những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao luôn ở mức giá cao hơn những sản phẩm tương đương nhưng có hàm lượng công nghệ thấp Đi kèm với sự ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới đang tăng lên nhanh chóng chưa từng có như hiện nay, tốc độ biến đổi giá cả của các sản phẩm càng mới lại càng nhanh Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tin học và truyền thông đang làm rút ngắn thời gian chọn lọc, đánh giá, sử dụng, sáng tạo thông tin, khiến giá trị sử dụng tri thức cũng bị rút ngắn lại nhanh chóng Cùng với sự ra đời của các sản phẩm mới, giá cả sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm công nghệ cao, càng có xu hướng giảm đi Một quy luật giá cả mới trong nền kinh tế

Trang 36

tri thức hiện nay là: các sản phẩm càng hiện đại thì tốc độ biến đổi giá cả càng cao Thực tiễn cho thấy, trong vòng 30 năm từ 1960 đến 1990 giá máy vi tính đã giảm đi 125 lần và sự sụt giảm giá cả các thiết bị phần mềm tin học trong thập kỷ

90 giảm nhanh chóng tính theo từng năm chứ không phải vài chục năm Cạnh tranh giá cả trong nền kinh tế tri thức trước hết là cạnh tranh thời gian, về tốc độ đổi mới công nghệ trong các sản phẩm Xu thế toàn cầu hoá cũng khiến các thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu hơn Những sản phẩm của hãng máy tính của một nước này sẽ được toàn thế giới biết đến nhanh chóng và so sánh với những sản phẩm của các nước khác Điều này tác động trực tiếp đến sự cạnh tranh giá cả và chất lượng sản phẩm, dẫn tới xu hướng sản phẩm trên thị trường ngày càng hiện đại và giá cả thị trường ngày càng giảm như hiện nay

- Những sản phẩm có hàm lượng lao động đã qua đào tạo đang dần chiếm

ưu thế trong thương mại quốc tế

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nghiên cứu đã tiến hành tranh luận vấn đề: liệu lực lượng lao động dồi dào, không kỹ năng và giá nhân công rẻ có còn là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển? Xét về yếu tố lao động, chất lượng của nguồn lao động đang được đánh giá là mang lại khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm Kinh nghiệm của nhiều nước đang phát triển cho thấy những nước hội nhập thành công vào xu thế toàn cầu hoá là những nước có sự tập trung đầu tư cho nguồn lực lao động lớn hơn, bao gồm cả đầu tư cho giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, giáo dục đại học Tại nhiều nước Đông Á, chính phủ các nước đã nhấn mạnh đến việc xuất khẩu các hàng hoá sử dụng nhiều tài nguyên nhưng đã thông qua chế biến, chế tạo Xuất khẩu hàng hoá thô, sơ chế không còn chiếm ưu thế

và nó mang lại giá trị xuất khẩu rất thấp Để có thể nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng nhanh năng suất, hầu hết các nước Đông Á đều chú trọng vào vấn

đề đào tạo kỹ năng cho người lao động Hoặc so với các nền kinh tế mới nổi ở Đông Á, Ấn Độ là một nước có trình độ phát triển kinh tế thấp hơn và nguồn lực lao động chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp nông thôn với trình độ tay nghề rất thấp Nhưng Ấn Độ đã là nước gây ảnh hưởng lớn đến thị trường thế

Trang 37

giới trong xuất khẩu phần mềm nhờ đào tạo được một đội ngũ kỹ sư tin học và thiết kế phần mềm có bài bản, từ đó tạo nên hiệu ứng đào tạo lan toả ra các vùng nông thôn khác Chính sách và sự đầu tư đúng đắn của chính phủ Ấn Độ đã giúp đất nước này bứt lên khỏi hàng ngũ những nước kém phát triển và đạt được những thành tựu to lớn những lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn của thế giới Cũng kể từ cuối thập kỷ 90, các nước Châu Phi cũng đang nỗ lực kêu gọi thế giới có những biện pháp giúp đỡ họ khai thác những lợi thế so sánh còn tương đối dồi dào, và biện pháp được chính phủ các nước Châu Phi và cộng đồng quốc tế chú trọng nhiều nhất là tăng cường đầu tư vào giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn lao động ở châu lục này

Các lý thuyết thương mại nhấn mạnh sự can thiệp của chính phủ lại cho

rằng để có thể phát huy tốt nhất những lợi thế so sánh vốn có, các chính phủ luôn can thiệp bằng cách bảo hộ thị trường thông qua các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để phát triển các ngành công nghiệp non trẻ, xây dựng những danh mục hàng hoá xuất khẩu mục tiêu trong từng giai đoạn để có những chính sách

hỗ trợ xuất khẩu tốt nhất Việc xây dựng các ngành công nghiệp non trẻ và áp dụng các biện pháp trợ giúp như thuế quan nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu… sẽ giúp các nước đang phát triển sản xuất có giá thành cao hơn ở trong nước có đủ thời gian để học cách vươn ra thị trường bên ngoài và đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, tiến tới giảm giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Trợ cấp xuất khẩu sẽ giúp các nước thực hiện được định hướng và mục tiêu xuất khẩu tốt hơn, từ đó tạo thêm những lợi thế về giá cả, chất lượng sản phẩm

và tăng nhanh xuất khẩu ra thị trường thế giới Tuy nhiên, các nhà kinh tế học đều cho rằng các biện pháp bảo hộ và trợ cấp chỉ mang tính chất tạm thời, nó giúp các nước phát huy lợi thế so sánh một cách tốt nhất, nhưng nó cũng sẽ được xóa bỏ dần dần khi trình độ phát triển kinh tế của các nước được nâng lên một bước Các lý thuyết thương mại hiện đại cũng đều cho rằng, trên thực tế một chế

độ thương mại tự do và không có thuế quan là không thể tồn tại

Trang 38

Từ phân tích trên đây, có thể nhận định rằng, với những đặc điểm mới của

thương mại quốc tế giai đoạn hiện nay, đang có nhiều tranh luận khá gay gắt về việc bổ sung những nhân tố mới cho hệ thống lý thuyết lợi thế so sánh Những vấn đề mới nổi như vừa đề cập cho thấy, trong quy luật mới của nền kinh tế thế giới đang tiếp diễn, đòi hỏi phải có một hệ thống lý thuyết lợi thế so sánh hoàn hảo hơn, đề cập rõ nét những lợi thế so sánh ‘tĩnh” (những lợi thế về đất đai, tài nguyên thô chưa qua chế biến, lao động rẻ nhưng chưa qua đào tạo), lợi thế so sánh động (tài nguyên đã qua chế biến, lao động có kỹ năng…), và sự hoán chuyển linh hoạt giữa lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh Lợi thế so sánh trong mỗi giai đoạn luôn có sự biến đổi và ở giai đoạn phát triển kinh tế cao hơn, lợi thế so sánh sẽ biến đổi nhanh hơn và chất lượng hơn Vấn đề là ở chỗ các nước đang phát triển phải làm thế nào để phát huy lợi thế so sánh tĩnh một cách hiệu quả nhất trong giai đoạn công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu giai đoạn đầu, và cần phải có những chính sách đầu tư hợp lý để nâng cao chất lượng của các yếu tố đầu vào, tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững nhất trong quá trình công nghiệp hoá hướng giai đoạn tiếp theo

Trang 39

Chương 2 LỢI THẾ SO SÁNH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Ở CÁC NƯỚC ASEAN-5

2.1 Các lợi thế so sánh chủ yếu ở các nước ASEAN-5

2.1.1 Điều kiện kinh tế ban đầu của ASEAN-5 khi tiến hành công nghiệp hóa

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, thế giới đã diễn ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng không chỉ ở các nước công nghiệp phát triển mà còn

ở một số nước đang phát triển, trong đó có sự phát triển nổi bật của các nước ASEAN-5 (bao gồm Singapo, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia và Philippin) Kể

từ thập kỷ 70, các nước này đã tiến hành chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức tăng thu nhập bình quân đầu người xếp vào bậc cao trong nhóm nước đang phát triển Chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu được coi là giai đoạn nối tiếp của chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu ở các nước ASEAN-5 Chiến lược này nhấn mạnh đến sự phát triển của ngoại thương, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Singapo là nước tiến hành công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu sớm nhất trong số các nước ASEAN (vào năm 1965), tiếp theo là Thái Lan, Malaixia, Philippin và Inđônêxia vào đầu thập kỷ 70 Nền tảng ban đầu của chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của các nước này bắt nguồn từ sự nghèo nàn về cơ sở vật chất kỹ thuật, thiếu vốn, thiếu công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu Tuy nhiên, bù lại, các nước này có được những nguồn tài nguyên chưa được khai thác hiệu quả (như Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia), một vị trí thuận lợi cho giao thương quốc tế (như Singapo).Tuy nhiên, bên cạnh sự tương đồng trước khi tiến hành công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, các nước ASEAN-5 cũng có những sự khác biệt và đa dạng về các cơ

sở kinh tế Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin bắt đầu tiến hành công

Trang 40

nghiệp hoá hướng về xuất khẩu từ một nước nông nghiệp, còn Singapo bắt đầu

từ một nền kinh tế công nghiệp Vào năm 1965, lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp chiếm tới 82% ở Thái Lan, 71% ở Inđônêxia, 60% ở Malaixia, 57%

ở Philippin, trong khi chỉ chiếm 6% ở Singapo Vào năm 1960, trong cơ cấu GDP, trừ Singapo nông nghiệp chỉ chiếm 4%, còn ở các nước khác tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế rất cao, chiếm tới 54% ở Inđônêxia, 40% ở Thái Lan, 37% ở Malaixia và 26% ở Philippin [56] Do có sự khác biệt về quy

mô dân số, tài nguyên, cơ cấu kinh tế, vị trí địa lý và thể chế chính trị, chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu ở Singapo đã mang tính mở cửa tự do hơn các nước khác, và thị trường tự do hơn của Singapo đã khiến đất nước này có tốc

độ tăng trưởng GDP và mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn các nước ASEAN khác trước khi tiến hành công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu Vào năm

1960, xuất khẩu đã chiếm tới 126,7% GDP ở Singapo, trong khi chỉ chiếm 53,3% ở Malaixia, 25% ở Inđônêxia, 19,6% ở Thái Lan, 12% ở Philippin, và thu nhập bình quân đầu người của các nước này đạt mức thấp: Inđônêxia đạt 196 USD, Thái Lan đạt 267 USD, Philippin đạt 397 USD, Malaixia đạt 698 USD, và chỉ có Singapo đạt 1043 USD nhờ phát triển giao thương quốc tế từ rất sớm Trong thập kỷ 60, tốc độ tăng trưởng GDP của Singapo đạt 8,8%, Thái Lan đạt 8,4%, Malaixia đạt 6,5%, Philippin đạt 5,1% và Inđônêxia đạt 3,9% [11] Có thể nói, trong giai đoạn công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, mặc dù còn có những thiếu thốn về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật và thu nhập bình quân đầu người còn thấp, nhưng cả năm nước trên đầu đã xây dựng được những nền tảng cơ bản để nước sang giai đoạn công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, đó là: nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng tốt và cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch cơ bản sang hướng công nghiệp

Sự khác biệt về thu nhập đầu người, cơ cấu GDP, cơ cấu lực lượng lao động, định hướng thương mại… của các nước ASEAN-5 có thể giải thích chủ yếu bằng lợi thế so sánh mà các nước đó đang nắm giữ và chính sách kinh tế của

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Ngọc Cường (1995), Các lý thuyết thương mại quốc tế; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết thương mại quốc tế
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Năm: 1995
2. Lê Đăng Doanh (1999). Hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thúc đối với nền kinh tế nước ta, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thúc đối với nền kinh tế nước ta
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 1999
3. Đỗ Đức Định (chủ biên) (1999), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá:Phát huy lợi thế so sánh - Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá:Phát huy lợi thế so sánh - Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á
Tác giả: Đỗ Đức Định (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1999
4. Đỗ Đức Định (1993), Nghiên cứu và so sánh các nước đang phát triển Châu Á - Thái Bình Dương và Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và so sánh các nước đang phát triển Châu Á - Thái Bình Dương và Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Định
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
6. Nguyễn Thị Hiền (2004), Nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: âng cao năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2004
7. Đỗ Đức Hiệp (2003), Công nghệ thông tin trong sự phát triển kinh tế các nước và Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 12 năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin trong sự phát triển kinh tế các nước và Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Hiệp
Năm: 2003
8. Hitoshi Sakai (2004), Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp chế tạo và môi trường đầu tư ở Việt nam, Bài hội thảo về kinh tế Việt nam do Asian Club tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp chế tạo và môi trường đầu tư ở Việt nam
Tác giả: Hitoshi Sakai
Năm: 2004
9.Nguyễn Trọng Hoài (2004), Từ lợi thế so sánh đến lợi thế cạnh tranh, Tạp chí phát triển kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ lợi thế so sánh đến lợi thế cạnh tranh
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài
Năm: 2004
10. Lê Thị Thanh Huyền (2004), Thứ hạng cạnh tranh: một cơ hội nhìn lại các nhân tố cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, Tạp chí tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thứ hạng cạnh tranh: một cơ hội nhìn lại các nhân tố cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Thanh Huyền
Năm: 2004
11. Lim Chong Yah (2002), Đông Nam Á, chặng đường dài phía trước, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á, chặng đường dài phía trước
Tác giả: Lim Chong Yah
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2002
12. Hoàng Xuân Long (2001), Thách thức và nguy cơ về khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới, số5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức và nguy cơ về khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Tác giả: Hoàng Xuân Long
Năm: 2001
13. Võ Đại Lược (1999), Những vấn đề đặt ra cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới, số2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đặt ra cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Tác giả: Võ Đại Lược
Năm: 1999
14. Võ Đại Lược (1997), Những xu hướng phát triển chủ yếu của thế giới và sự tác động của chúng tới các nước ASEAN; Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng phát triển chủ yếu của thế giới và sự tác động của chúng tới các nước ASEAN
Tác giả: Võ Đại Lược
Năm: 1997
18. Đinh Thị Thơm (1996), Một số vấn đề trong quá trình chuyển đổi chiến lược công nghiệp hoá ở các nước ASEAN, Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong quá trình chuyển đổi chiến lược công nghiệp hoá ở các nước ASEAN
Tác giả: Đinh Thị Thơm
Năm: 1996
19. Phạm Đức Thành (2004), Nâng cao chỉ số phát triển con người ở Việt Nam, T/c kinh tế và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chỉ số phát triển con người ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Đức Thành
Năm: 2004
20. Bùi Tất Thắng (2004), Toàn cầu hoá kinh tế và cơ may của công nghiệp hoá rút ngắn ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá kinh tế và cơ may của công nghiệp hoá rút ngắn ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Tất Thắng
Năm: 2004
21. Phạm Tất Thắng – Phan Tiến Ngọc (2004), Vấn đề xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Tác giả: Phạm Tất Thắng – Phan Tiến Ngọc
Năm: 2004
22. Lê Hà Thanh (2003), Áp dụng phương pháp phân tích lợi thế so sánh để nghiên cứu tiềm năng hội nhập kinh tế của các nước ASEAN và cơ hội cho Việt Nam; Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng phương pháp phân tích lợi thế so sánh để nghiên cứu tiềm năng hội nhập kinh tế của các nước ASEAN và cơ hội cho Việt Nam
Tác giả: Lê Hà Thanh
Năm: 2003
23. Trần Văn Thọ (1997), Công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại Châu Á - Thái Bình Dương; Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Trần Văn Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
24. Trần Văn Thọ (2004), Về phương hướng chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam, Bài hội thảo về kinh tế Việt nam do Asian Club tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phương hướng chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Thọ
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Lợi thế so sánh hàng công nghiệp chế tạo của một số nước  Châu Á - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.2. Lợi thế so sánh hàng công nghiệp chế tạo của một số nước Châu Á (Trang 45)
Bảng 2.3. Những chỉ số kinh tế chủ yếu của ASEAN-5 - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.3. Những chỉ số kinh tế chủ yếu của ASEAN-5 (Trang 47)
Bảng 2.4. RCAs trong các hàng hoá chế tạo ở 13 nước dẫn đầu nhóm  nước đang phát triển (1985-1998) - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.4. RCAs trong các hàng hoá chế tạo ở 13 nước dẫn đầu nhóm nước đang phát triển (1985-1998) (Trang 51)
Bảng 2.5. Cơ cấu hàng hoá chế tạo xuất khẩu của Malaixia trong giai  đoạn 1971-1994 (%) - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.5. Cơ cấu hàng hoá chế tạo xuất khẩu của Malaixia trong giai đoạn 1971-1994 (%) (Trang 54)
Bảng 2.6. Các chỉ số giáo dục ở ASEAN-5 - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.6. Các chỉ số giáo dục ở ASEAN-5 (Trang 67)
Bảng 2.7. Chỉ số nghiên cứu khoa học công nghệ và R&amp;D - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.7. Chỉ số nghiên cứu khoa học công nghệ và R&amp;D (Trang 70)
Bảng 2.8. Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu và GDP của ASEAN -5  trong giai đoạn 1980-1996 (%) - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.8. Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu và GDP của ASEAN -5 trong giai đoạn 1980-1996 (%) (Trang 83)
Bảng 2.9: Mối liên hệ giữa thương mại, tăng trưởng và các chỉ tiêu xã  hội ở ASEAN - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.9 Mối liên hệ giữa thương mại, tăng trưởng và các chỉ tiêu xã hội ở ASEAN (Trang 86)
Bảng 3.3. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991-2004 - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.3. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991-2004 (Trang 103)
Bảng 3.4. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam (1996-2003) (%) - Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.4. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam (1996-2003) (%) (Trang 104)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w