Trong công trình này, tác giả đã làm rõ vai trò của làng đối với sự phát triển của đất nước; đi sâu phân tích thực trạng làng nghề về lao động, tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH QUANG TY
HÀ NỘI - 2011
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8
1.1 Các khái niệm cơ bản, tiêu chí và cách phân loại làng nghề 8
1.1.1 Các khái niệm và đặc điểm sản xuất - kinh doanh của làng nghề 8
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển của làng nghề 18
1.2 Vai trò của hệ thống làng nghề Việt Nam nói chung đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 24
1.2.1 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế 24
1.2.2 Vai trò của làng nghề trong phát triển văn hóa - xã hội 28
1.2.3 Góp phần hình thành phát triển những giá trị kinh tế mới 29
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển làng nghề và một số bài học rút ra cho huyện Thạch Thất 31
1.3.1 Về kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 31
1.3.2 Những vấn đề rút ra có thể tham khảo cho huyện Thạch Thất trong phát triển làng nghề 43
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN THẠCH THẤT TRONG NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI VỪA QUA 46
2.1 Khái niệm về làng nghề huyện Thạch Thất 46
2.1.1 Khái lược về lịch sử huyện Thạch Thất 46
2.1.2 Thế mạnh của các làng nghề huyện Thạch Thất 47
2.2 Thực trạng phát triển các làng nghề của huyện Thạch Thất nhìn trên một số “lát cắt” chính 53
2.2.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh 53
2.2.2 Thực trạng các yếu tố đầu vào của làng nghề 59
2.2.3 Thực trạng về đầu ra của sản phẩm 71
2.3 Đánh giá tổng quát thực trạng phát triển làng nghề của huyện Thạch Thất 74
2.3.1 Những thành tựu chủ yếu và nguyên nhân 74
2.3.2 Những mặt hạn chế, yếu kém chính và nguyên nhân 82
Trang 4Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN
KINH TẾ LÀNG NGHỀ HUYỆN THẠCH THẤT GIAI ĐOẠN
2011-2020 89
3.1 Cơ sở để đề xuất quan điểm và phương hướng phát triển các làng nghề 89
3.1.1 Về cơ sở để đề xuất phương hướng 89
3.1.2 Kiến nghị về quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế làng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất 90
3.2 Các giải pháp chủ yếu 93
3.2.1 Mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm 93
3.2.2 Đảm bảo về nguyên liệu cho các làng nghề 95
3.2.3 Đẩy mạnh đào tạo lực lượng lao động cho các làng nghề 95
3.2.4 Huy động nguồn vốn và chính sách đầu tư 98
3.2.5 Đảm bảo về môi trường để phát triển bền vững 99
3.2.6 Tăng cường áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới 100
3.2.7 Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, thiết chế văn hóa, quy hoạch chi tiết 101
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 5WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6và một số nước phương Tây thu gom với số lượng khá lớn nhằm mục đích sinh lợi Tuy nhiên, trong thời kỳ Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hoạt động sản xuất và lưu thông theo phương thức thị trường tự do bị ngăn trở, cấm đoán, và mặt khác do tác động bất lợi của chiến tranh, nhiều làng nghề đã mai một, thậm chí mất hẳn Sự thụt lùi của các làng nghề Việt Nam ở thời kỳ này đã kéo theo nhiều hậu quả bất lợi về cả kinh tế, văn hóa và xã hội
Trong 25 năm đổi mới vừa qua (1986-2010), với chủ trương nhất quán chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng khuyến khích các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh phát triển Trong bối cảnh đó, các làng nghề có cơ hội phục hồi và đã có những bước phát triển mang tính đột phá Những sản phẩm mới của các làng nghề Việt Nam không chỉ xuất hiện ngày càng nhiều ở thị trường trong nước, mà còn xâm nhập vào thị trường của nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, nhiều thách thức cũng đang đặt ra đối với các làng nghề Việt Nam, đặc biệt là về chiến lược phát triển dài hạn, về nguồn vốn đầu tư, về lực lượng lao động chuyên sâu, về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, về khả năng cạnh tranh với các sản phẩm tương ứng của các nước,…
Trang 72
Thạch Thất vốn là một huyện thuộc xứ Đoài - Sơn Tây, sau đó thuộc tỉnh Hà Tây và nay thuộc thành phố Hà Nội Đây là một vùng đất có những làng nghề nổi tiếng, với bề dày lịch sử hàng trăm năm Động thái phát triển của các làng nghề của địa phương này qua thời kỳ trước và trong đổi mới đã
và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài
“Phát triển làng nghề ở huyện Thạch Thất Thành phố Hà Nội” để thực hiện
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu
Phát triển kinh tế làng nghề là một trong những vấn đề quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế chủ đề này đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đến nay đã có nhiều công trình khoa học được công bố Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình ít nhiều có liên quan đến định hướng nghiên cứu của đề tài luận văn:
- “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô Hà Nội”, TS Mai Thế Hởn, Hà Nội, 2002
Trong công trình này, tác giả đã làm rõ vai trò của làng đối với sự phát triển của đất nước; đi sâu phân tích thực trạng làng nghề về lao động, tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm và kỹ thuật công nghệ, và đề xuất bốn phương hướng, bảy giải pháp thúc đẩy làng nghề phát triển theo hướng CNH, HĐH Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập tới mối quan hệ phát triển làng nghề với việc xây dựng và củng cố mối quan hệ công - nông - trí thức, và quan hệ giữa
“bốn nhà”; sự ảnh hưởng của phát triển làng nghề tới việc giữ gìn, phát triển một số giá trị văn hóa truyền thống; sự tác động của trực tiếp của làng nghề tới việc làm thu nhập, mức sống, trình độ học vấn, ổn định chính trị, quyền làm chủ của nhân dân Trong các chính sách và giải pháp đưa ra, tác giả chưa đề cập đến phát triển làng nghề như một giải pháp quan trọng góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện có hiệu quả một số vấn
đề xã hội, qua đó thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 8đó là công tác truyền nghề và năng lực quản lý của doanh nghiệp làng nghề trong quá trình tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, là một trong những khâu quan trọng trong việc phát triển kinh tế trong làng nghề truyền thống
- “Bảo tồn và phát triển làng nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội, năm 2009
Công trình nghiên cứu khoa học này trước hết đã chỉ ra được vai trò có
ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Làng nghề góp phần tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu, làm tăng kim ngạch xuất khẩu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu còn chỉ ra vai trò của làng nghề trong việc bảo tồn, chấn hưng và phát triển làng nghề không chỉ phát triển kinh tế theo ý nghĩa thông thường, mà còn là phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc trong tăng trưởng kinh tế Với mục tiêu đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề, đề tài đã chỉ ra thực trạng phát triển của các làng nghề Việt Nam hiện nay; cơ hội lớn với các làng nghề hiện nay là việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ đó tạo ra nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề, doanh nghiệp làng nghề cũng không bị phân biệt đối xử trong các vụ tranh chấp thương mại nhờ có cơ chế giải quyết tranh chấp chung; tuy nghiên đề tài cũng chỉ ra những khó khăn và yếu kém đang gặp phải: Về nguồn nhân lực, vốn sản xuất, mặt bằng sản xuất, nguồn
Trang 94
nguyên liệu đầu vào, máy móc thiết bị sản xuất còn chậm cải tiến, năng lực quản lý của các doanh nghiệp làng nghề cũng như cơ chế chính sách và lãnh đạo địa phương, đặc biệt là tình hình ô nhiễm hiện nay ở các làng nghề, Qua phân tích những cơ hội và thách thức đối với làng nghề Việt Nam công trình nghiên cứu chỉ ra những hướng bảo tồn và những giải pháp nhằm thực hiện
- Hội thảo quốc tế: “Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống”, 8/1996 tại Hà Nội
- “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, tác giả Bùi Văn
Vượng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998
- “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa”, TS Dương Bá Phượng, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2001
- Hội thảo: “Phát triển bền vững làng nghề Hà Tây: Thực trạng và giải pháp”, Hà Đông, 11/2006
- “Diễn đàn làng nghề năm 2007”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, tổ chức 17/11/2007, tại số 2 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội
- Hội thảo “Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội”, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 17/9/2010, tại Hà Nội
- Luận văn thạc sĩ: “Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam”, Vũ Thị Thu, Hà Nội, 1998
- Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Nguyễn Thị
Thọ, Hà Nội, 2005
- Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề Hà Tây trong hội nhập kinh
tế quốc tế”, Nguyễn Thị Nghĩa, Hà Nội, năm 2008
- Đề tài nghiên cứu: “Phát triển bền vững các làng nghề huyện Thạch Thất - Thành phố Hà Nội”, Đỗ Thị Lan, Hà Nội, năm 2009
…
Những công trình nói trên và còn nhiều công trình khác đã nghiên cứu,
đề cập đến nhiều vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn phát triển của các làng nghề Việt Nam nói chung và ở một số địa phương nói riêng Đây là nguồn tư liệu tham khảo rất có ý nghĩa đối với chúng tôi trong việc thực hiện đề tài
Trang 105
luận văn Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu sâu, hệ thống về phát triển kinh tế làng nghề ở huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về làng nghề, làng nghề truyền thống, làng có nghề, làng nghề mới, luận văn tập trung phân tích một cách khách quan thực trạng của các làng nghề ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, làm rõ những thành tựu đã đạt được và những tồn tại đang mắc phải; từ đó tìm ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế làng nghề của địa phương này một cách có hiệu quả và theo hướng phát triển bền vững
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế làng nghề huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, chỉ ra nguyên nhân của các thành tựu và hạn chế
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần thúc đẩy các làng nghề của huyện Thạch Thất phát triển có hiệu quả và bền vững hơn trong giai đoạn 2011-2020
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển kinh tế làng nghề tại huyện Thạch Thất trong thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu thực trạng phát triển của các làng nghề huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội trong những năm đổi mới vừa qua; từ
Trang 116
đó đề xuất những giải pháp góp phần thúc đẩy các làng nghề của địa phương phát triển theo hướng hiệu quả và bền vững trong giai đoạn 2011-2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn áp dụng một số phương pháp cụ thể thích hợp với đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, trong đó sẽ chú trọng điều tra khảo sát thực tế; phân tích, tổng hợp các dữ liệu và số liệu
có liên quan; đối chiếu - so sánh; khái quát hóa…
Luận văn cũng sẽ khai thác, kế thừa một cách thích hợp kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước
6 Một số đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về phát triển làng nghề
trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
- Phân tích, phản ánh một cách khách quan thực trạng phát triển làng nghề của huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội trong những năm đổi mới vừa
qua; chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thành tựu và hạn chế
- Đề xuất, luận chứng những giải pháp mới, thiết thực góp phần thúc đẩy phát triển làng nghề của huyện Thạch Thất theo hướng hiệu quả, bền
vững trong giai đoạn 2011-2020
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương1: Làng nghề và phát triển làng nghề trong điều kiện kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng phát trỉển làng nghề huyện Thạch Thất trong
những năm đổi mới vừa qua
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
làng nghề huyện Thạch Thất giai đoạn 2011 - 2020
Trang 127
Trang 138
Chương 1 LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Các khái niệm cơ bản, tiêu chí và cách phân loại làng nghề 1.1.1 Các khái niệm và đặc điểm sản xuất - kinh doanh của làng nghề
Tác giả Bùi Văn Vượng đã định nghĩa về làng nghề: Làng nghề là làng
ấy tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ cũng có một số nghề phụ khác song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp có phường, có ông trùm, ông phó cả,… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu được bằng nghề đó và có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa
và có quan hệ tiếp thị với thị trường xung quanh và với thị trường đô thị, thủ
đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu” [44, tr.110]
Cũng có quan niệm khác được trình bày trong cuốn “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa”, TS Trần Minh Yến
đưa ra quan niệm như sau: Làng nghề là một thiết chế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa
lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ
Trang 14Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phun, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên một xã, thị trấn (được gọi là chung là làng), có hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm
khác nhau”
* Làng nghề truyền thống:
Là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống Làng nghề truyền thống còn là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Trong làng nghề truyền thống còn có các hộ gia đình chuyên làm nghề và được truyền từ đời này sang đời khác, giữa các hộ có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những chế ước xã hội và gia tộc
Từ khái niệm làng nghề truyền thống, chúng ta có thể hiểu nghề truyền thống là gì Nghề truyền thống là những nghề thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Mỗi nghề bao giờ cũng phải có ông tổ của nghề được dân làng ghi công ơn và thờ phụng từ đời này sang đời khác Nghề truyền thống của nước ta rất đa dạng và phong phú, có những nghề hình thành và tồn tại hàng trăm năm, nhiều sản phẩm đã từng nổi tiếng trong nước và cả trên thế
Trang 15* Làng có nghề:
Là làng được hình thành cùng với sự phát triển nền kinh tế chủ yếu là
do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên [41, tr.109]
mở rộng, đã xuất hiện các làng nghề buôn bán Nếu xét ở góc độ rộng, làng nghề là những làng tạo thu nhập, tạo việc làm có thao tác riêng biệt nói chung Xem xét ở góc độ này thì ở Việt Nam có thể chia ra làm 4 loại như sau:
+ Làng nông nghiệp: Là làng thuần nông
+ Làng buôn: Là làng nông nghiệp có thêm nghề buôn
+ Làng chài: Là làng của vạn chài, kẻ chài ven sông, ven biển
+ Làng nghề: Là làng nông nghiệp và có thêm nghề thủ công
Phân loại theo góc độ số lượng làng nghề thì làng nghề lại được chia thành: Làng một nghề, làng nhiều nghề, làng có nghề [46, tr.110]
Phân loại theo thời gian hình thành, thì có làng nghề truyền thống, làng nghề mới
* Tiêu chí công nhận và cách phân loại làng nghề
Không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng được gọi là làng nghề, cho dù làng nào, nghề nào cũng mang bản sắc, mang nét tinh túy
Trang 1611
riêng Về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế, chỉ có những nghề có khả năng đem lại cuộc sống ấm no, thu hút được đông đảo người dân tham gia sản xuất, lâu dần tụ thành các làng cùng sản xuất, cùng kinh doanh mới được coi là làng nghề Hiện nay, Chính phủ cũng như các địa phương đã quy định các tiêu chuẩn công nhận làng nghề để tiện cho việc quản lý và phát triển Các quy định này đã cụ thể hóa các tiêu chuẩn xây dựng, phát triển ngành nghề, làng nghề, nghề cổ truyền và nghề mới trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương; mặt khác góp phần khuyến khích, động viên thợ thủ công có công trình có trình độ cao về kỹ thuật, tay nghề và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, sáng tác, tập trung trí tuệ sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, mang bản sắc văn hóa dân tộc, có tính nghệ thuật cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
Theo Thông tư số 116/2006 THÔNG TIN-BNN, ngày 18 tháng 12 năm
2006 Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP
ngày 7 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn,
tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, và làng nghề truyền thống được quy định như sau:
Tiêu chí công nhận nghề truyền thống:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận;
Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc
- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Tiêu chí công nhận làng nghề:
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau đây:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 1712
Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống [1, tr.112]
Năm 2009, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã có Quyết định số 85/2009 QĐ - UBND ban hành ngày 2/7/2009 về Quy chế xét công nhận danh
hiệu “Làng nghề truyền thống Hà Nội” Quy chế này được xây dựng dựa trên
những căn cứ: Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ
về phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn Về cơ bản, tiêu chuẩn công nhận làng nghề mà
UBND thành phố Hà nội đưa ra là nhất quán với Thông tư mà Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn đưa ra, nhưng thành phố có đưa thêm các quy định khác trong tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:
(1) Về thời gian: Là làng có nghề đã được hình thành trên 50 năm tính đến ngày làng được đề nghị xét danh hiệu làng nghề truyền thống
(2) Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làng chiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng
(3) Về sử dụng lao động: Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn
(4) Đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn lao động theo các quy định hiện hành
(5) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Thành phố và địa phương
(6) Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hóa dân tộc, phải gắn với tên tuổi của làng
(7) Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường theo quy định tại Điểm 4 vẫn được xem xét công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống khi đã có các đề án, dự án nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề ra các biện pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường [39, tr.111]
1.1.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của làng nghề
Trang 1813
- Đặc điểm về sản phẩm:
Phần lớn sản phẩm đều mang tính đơn chiếc, riêng lẻ Đặc điểm này hình thành là do hầu như toàn bộ các thao tác của người thợ đều phải dựa vào những công cụ thủ công và công nghệ truyền thống Sản phẩm được sản xuất ra
do từng cá nhân thực hiện bằng công cụ thủ công nên không thể sản xuất hàng loạt Chính điều này tạo nên cho sản phẩm một sắc thái riêng và sự hấp dẫn riêng Tuy nhiên, cũng chính từ đặc điểm này mà sản phẩm truyền thống thường có giá thành cao, mẫu mã hàng có tính tương đối ổn định (tính bảo thủ) Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong cạnh tranh, mở rộng thị trường, đồng thời nó cũng ảnh hưởng tới tuổi thọ làng nghề
Sản phẩm làng nghề rất đa dạng và phong phú về chủng loại do việc đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh tế và văn hóa của người dân Sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu, các mặt hàng được xuất khẩu như hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, chạm trổ, thêu ren, dệt tơ tằm, Những mặt hàng này đã và đang được ưa chuộng trên thế giới, đây cũng là điều kiện tốt để các làng nghề phát triển sản xuất
Đặc biệt, sản phẩm làng nghề thường mang tính nghệ thuật cao, sử dụng nhiều sức lao động và thể hiện tinh hoa của người thợ làng nghề Sản phẩm của mỗi làng, mỗi vùng, mỗi dòng họ, đều mang trình độ kỹ thuật riêng
và đặc trưng riêng mà các nơi khác không thể có, hoặc nếu có nhưng không phổ biến Như vậy, có thể nói sản phẩm làng nghề là kết quả của hoạt động vừa mang tính giản đơn vừa mang tính phức tạp của lao động thủ công, đồng thời lại là sản phẩm của hoạt động kinh tế mang tính nghệ thuật cao Sản phẩm làng nghề luôn phản ánh sâu sắc tu tưởng tình cảm và quan niệm thẩm
mỹ của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam
- Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh:
Ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đại bộ phận các gia đình nông dân đều vào hợp tác xã thì nghề thủ công lại được coi như là nghề phụ, bổ sung cho sản xuất nông nghiệp Trong mỗi hợp tác xã nông nghiệp thường có một ngành nghề tập hợp những người dân làm các nghề khác nhau, kể cả kiêm nhiệm cũng như chuyên nghiệp Lao động trong các làng nghề thủ công được tính công điểm và hưởng theo chế độ công
Trang 1914
điểm trong hợp tác xã nông nghiệp, trong các làng nghề lác đác cũng có xí nghiệp quốc doanh Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đa số các hợp tác xã đều bộc lộ rõ hơn những yếu kém trong việc tổ chức sản xuất và quản lý, điều đó dẫn đến năng suất lao động thấp, năng lực kinh doanh không linh hoạt, sức cạnh tranh của sản phẩm kém Trước tình trạng ấy, các hợp tác
xã và các xí nghiệp quốc doanh cần phải đổi mới và cũng có những doanh nghiệp không trụ vững trước những tác động và đòi hỏi của cơ chế thị trường Hiện nay, khi cơ chế thị trường mở rộng, chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tự do thương mại được Chính phủ khuyến khích, thì các các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ngày càng được đa dạng hóa, và được phát triển theo mức độ của lực lượng sản xuất Tựu trung lại, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề tồn tại theo các dạng sau đây:
+ Hộ gia đình: Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, nó phù hợp với quy mổ sản xuất nhỏ và vừa Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị kinh tế, vừa là một đơn vị sinh hoạt Các thành viên trong gia đình đều có chung một cơ sở kinh tế, cùng sở hữu đối với tài sản dung cho sinh hoạt và đối với tư liệu sản xuất [19, tr.109] Lao động làm việc trong phạm vi gia đình với mục đích không phải là lấy tiền công mà là để đóng góp phần mình vào sản lượng và thu nhập chung của gia đình Người chủ hộ đồng thời
là người thợ giỏi, nắm quyền quản lý, quyết định và điều hành mọi công việc
từ đầu tư vốn, phân công lao động cho đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm và phân phối thu nhập Với những đặc điểm đó, hình thức sản xuất hộ gia đình không giống với bất kỳ một hình thức tổ chức sản xuất nào Tuy nó có một số ưu thế nhất định như: huy động và sử dụng mọi thành viên trong gia đình tham gia kinh doanh, tận dụng được thời gian lao động và mặt bằng sản xuất kinh doanh; nhưng ngược lại nó cũng bộc lộ những nhược điểm cơ bản Do đặc trưng của sản xuất gia đình là quy mô nhỏ, vốn ít, lao động ít, kiến thức tay nghề thông qua do cha truyền con nối, nên hạn chế khả năng cải tiến, và đổi mới kỹ thuật công nghệ, hạn chế việc đào tạo và nâng cao trình độ quản lý, trình độ và tay nghề, không có khả năng sản xuất lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường Tuy nhiên, trong điều kiện ngày nay, gắn liền với những đặc tính kinh
Trang 20+ Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện một số hộ gia đình để cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó
+ Hợp tác xã: Hợp tác xã kiểu mới ra đời dựa trên cơ sở tự nguyện hợp tác của các chủ thể kinh tế tự chủ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát hút sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương và đất nước
+ Hình thức tổ chức tiểu chủ: Đây là hình thức đang được phát triển ở các làng nghề có trình độ tập trung sản xuất tương đối cao Ngoài nguồn lao động tập trung trong gia đình, họ còn thuê lao động làm thêm bên ngoài
+ Hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn: Đây
là những loại hình tổ chức kinh doanh có thẻ phát triển ở những làng nghề có trình độ tập trung hóa cao, có quan hệ rộng với các thị trường, có khả năng đổi mới công nghệ để mở rộng quy mô sản xuất Một số tư nhân có vốn, có kinh nghiệm về tổ chức sản xuất kinh doanh, có kiến thức và chuyên môn đứng lên thành lập doanh nghiệp do họ đảm nhiệm Doanh nghiệp này có thể trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh hoặc làm khâu cung ứng dịch vụ cho làng nghề
1.1.1.3 Nhận định tổng quát về làng nghề
- Về bản chất kinh tế - xã hội của làng nghề:
Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân trong một nền kinh tế tự cấp tự túc, nghề thủ công đã xuất hiện từ hàng tram năm trước đây, với vai trò là các nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân trong lúc thời gian nông nhàn giữa các mùa vụ Chính tính thời vụ trong sản
Trang 2116
xuất nông nghiệp đã tạo ra sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định
và do nhu cầu về sản phẩm tiểu thủ công nghiệp cho khu vực nông thôn ngày càng cao, bởi vậy số sản phẩm làm ra không những đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng mà còn có thể đem trao đổi trên thị trường, và chủ yếu
là thị trường nông thôn Như vậy, trong các làng nghề người thợ thủ công đồng thời là người nông dân Người nông dân ngoài thời gian lao động dành cho nông nghiệp họ còn phải kiếm thêm việc làm để tăng thu nhập Sự gắn bó với nông nghiệp, nông thôn của làng nghề truyền thống còn được hiểu là: các
cơ sở sản xuất của làng được phân bố tại chỗ trên địa bàn nông thôn, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn như: tiêu thụ nguyên vật liệu, cung cấp vật tư, sản phẩm hàng hóa làm ra, thu hút lao động nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp và hoạt động dịch vụ cùng phát triển, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân
- Về vị thế và xu hướng phát triển của làng nghề trong nền kinh tế thị trường hiện nay:
Xưa kia, những nghề chỉ mang tính chất là nghề phụ của người nông dân, nhưng do được chuyên môn hóa theo sự phân công lao động nhất định nên năng suất lao động, chất lượng sản phẩm làm ra ngày càng tăng lên, số sản phẩm làm ra không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng mà còn có thể dư thừa để đem trao đổi trên thị trường Hoạt động nghề thủ công ngày càng gắn liền với các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, gắn liền với thị trường Sự trao đổi ngày càng được mở rộng hơn bởi sự tăng lên của nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Trên cơ sở đó họat động thương nghiệp nhỏ ở nông thôn cũng phát triển
và trở thành cầu nối của sự giao lưu giữa hoạt động sản xuất công nghiệp với hoạt động nông nghiệp
Ngày nay, khi đời sống kinh tế ngày càng tăng lên, nhu cầu cũng như thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng trở nên khắt khe hơn, điều đó lại đặt ra cho những người sản xuất nêu muốn tồn tại cùng với nghề, muốn sản phẩm của nghề đứng vững và phát triển trên thị trường thì bắt buộc họ phải đầu tư công sức, tiền của để phát triển nghề Thực tế cho thấy, trước sự phát triển của kinh tế thị trường nhưng những sản phẩm của làng nghề vẫn đứng vững Điều này chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng làng nghề hay những sản phẩm làng
Trang 2217
nghề vẫn còn chỗ đứng trong tâm trí của mỗi con người đất Việt Cùng với quá trình phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế thị trường Việt Nam, các làng nghề của nước ta một mặt, vẫn sẽ tiếp tục duy trì những bản sắc những giá trị truyền thống; mặt khác sẽ phải thích ứng với môi trường mới, cung ứng những sản phẩm thủ công ngày càng đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn thị hiếu của người tiêu dùng trong nước và quốc tế Trong bối cảnh đó các làng nghề của Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh theo những chuẩn mực mới có vai trò kinh tế, xã hội và văn hóa ngày càng lớn hơn…
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển của làng nghề
1.1.2.1 Cơ sở hạ tầng
Cở sở hạ tầng, đặc biệt là những cơ sở vật chất - kỹ thuật xã hội có sức ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề Đây có thể coi là nền tảng, là điều kiện chung cho mọi quá trình sản xuất như: Giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc,… Quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa có thuận lợi hay không là do yếu tố này quyết định Cơ sở hạ tầng ngày nay càng trở nên quan trọng khi Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế Việc tăng cường đầu tư vào phát triển cơ sở
hạ tầng cho các khu vực kinh tế cần phải được chú trọng, có như vậy năng lực sản xuất của các ngành mới được tăng lên và là cơ sở để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội hơn Yêu cầu đặt ra là việc giao hàng đúng thời hạn, thông tin về thị trường phải được cập nhật hàng ngày, vấn đề quảng bá sản phẩm rất cần đến phương tiện thông tin hiện đại, có như vậy mới nâng cao được sức cạnh tranh của sản phẩm Vì thế muốn làng nghề phát triển mạnh, chiếm lĩnh thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với nền sản xuất hàng hóa theo những chuẩn mực mới mang tính toàn cầu, cũng như phù hợp với phát triển của làng nghề
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng xã hội cũng cần được quan tâm, ngoài những thành tích nói chung mà các ngành như y tế, giáo dục - đào tạo đã đạt được thì vẫn cần xây dựng một hệ thống giáo dục với đầy đủ các cấp học, bậc học Mạng lưới trường lớp được phát triển nhiều hình thức đa dạng (như công lập, dân lập, tư thục,…) cần mở thêm các trường đại học, cao đẳng, trường
Trang 2318
trung học chuyên nghiệp, các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề gắn chặt với yêu cầu đảm bảo chất lượng, có như vậy mới đáp ứng nhu cầu lao động tại chỗ, mới tạo ra được một đội ngũ công nhân lành nghề, tạo ra được năng suất
và chất lượng sản phẩm tốt Ngoài ra, hệ thống y tế cũng cần chú trọng hơn nữa, có thêm nhiều bệnh viện, phòng khám đa khoa, sẽ góp phần chăm lo sức khoa học của người dân được tốt hơn, từ đó mới đảm bảo cho làng nghề phát triển bền vững
1.1.2.2 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Quá trình đổi mới mô hình phát triển kinh tế cùng với hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Đảng và Nhà nước ta đã có những tác động to lớn, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của làng nghề Sự chuyển biến quan trọng này đã được tác động bởi Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương (năm 1981), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI của Đảng Trong các văn kiện này Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đề ra nhiều biện pháp , chính sách phát triển toàn diện kinh tế-xã hội nông thôn Đặc biệt là chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, với chính sách này các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể trước đây bị hạn chế thì nay được khuyến khích phát triển, kinh tế hộ gia đình được công nhận là chủ thế kinh tế độc lập, các loại hình doanh nghiệp được khuyến khích phát triển ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, với một sự thay đổi về chất trong quan hệ sản xuất, chính sách này đã có tác đụng thúc đẩy tất
cả các thành phần kinh tế trong các làng nghề phát triển, làm cho kinh tế làng nghề được phục hồi và phát triển mạnh Đồng thời chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã kích thích sản xuất phát triển, mở rộng thêm nhiều thị trường mới Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta ngày càng nhận thức rõ hơn và vận dụng đúng đắn hơn các quy luật kinh tế, mà trong đó khâu đột phá là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất và áp dụng các quy luật phân phối theo cơ chế thị trường Nhà nước đã từng bước trở lại đúng với chức năng của mình đối với nền kinh tế - đó là: Định hướng cho sự phát triển, cung cấp các dịch vụ, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; thực hiện tái
Trang 2419
phân phối bảo đảm gắn tăng trưởng với công bằng xã hội; gắn phát triển kinh
tế với bảo vệ môi trường sinh thái; kiểm tra, kiểm soát đảm bảo việc tuân thủ pháp luật và thúc đẩy thị trường phát triển lành mạnh Điều này có ý nghĩa đối với sự phát triển của làng nghề bằng một loạt các chính sách về vốn đầu tư, khoa học công nghệ, lao động, thuế,… đồng thời các văn bản luật ra đời như: Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đất đai,… đã tạo môi trường pháp
lý thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề
1.1.2.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của làng nghề bao gồm các nghệ nhân, những thợ thủ công, những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh…Trong đó những nghệ nhân có vai trò đặc biết quan trọng trong việc truyền nghề dạy nghề, đồng thời là người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm chất nghệ thuật Bên cạnh đó, một lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu lao động trẻ, có khả năng thích ứng với những điều kiện kinh tế thị trường, là những nhân tố quyết định toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của lao động làng nghề lại là chất lượng lao động về trình độ chuyên môn và trình độ nhận thức áp dụng các phương tiện máy móc vào sản xuất
1.1.2.4 Vốn đầu tư cho sản xuất
Vốn đầu tư cho sản xuất là nguồn lực quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Trước đổi mới, với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang nặng tính tự cấp tự túc thì yếu tố vốn sản xuất không đóng vai trò quan trọng, mọi vấn đề đều do Nhà nước lập kế hoạch và giao cho các đơn vị thực hiện Người sản xuất chỉ phải chú tâm vào việc sản xuất và hoàn thành sản xuất, giao nộp sản phẩm đúng thời hạn ngoài ra không quan tâm đến những yếu tố nào khác Ngày nay, trong cơ chế thị trường mọi việc đã thay đổi một cách căn bản, trước sức ép cạnh tranh về giá cũng như sức ép về chất lượng sản phẩm, yêu cầu đặt ra cho mỗi hộ sản xuất là muốn tồn tại tất yếu phải mở rộng sản xuất, cải tiến thiết bị, tang cường ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ; có như vậy mới nâng cao được năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh Để có được điều này họ phải tìm kiếm nguồn vốn đầu tư Chỉ khi có nguồn vốn mọi ý tưởng sản xuất kinh doanh mới có thể thực hiện được Ngày nay, với chính sách của Đảng và Nhà
Trang 2520
nước ta khuyến khích mọi hình thức hoạt động của ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng thì việc có nhu cầu đi vay vốn và vay vốn cũng trở nên đơn giản hơn rất nhiều so với thời kỳ kế hoạch hóa tập trung Ngày nay, sự phát triển thị trường luôn đòi hỏi một lượng vốn lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển Song đây vẫn là khó khăn cần phải được tháo gỡ với sự hỗ trợ tích cực và cụ thể từ phía Nhà nước, đặc biệt là việc đề ra những chính sách phù hợp với đặc điểm sản xuất của các làng nghề
1.1.2.5 Sự biến đổi của nhu cầu thị trường
Trước đây, trong nền kinh tế hiện nền kinh tế hàng hóa tập trung, khu vực kinh tế tư nhân nói chung và các quan hệ tự do sản xuất lưu thông hàng hóa bị cấm đoán Sang thời kỳ đổi mới, kinh tế hàng hóa, thị trường trở thành yếu tố quan trọng Mọi hoạt động sản xuất, trao đổi, tiêu dùng, về cơ bản đều
do những quy luật của thị trường quyết định Trong nền kinh tế hàng hóa thì hàng hóa sản xuất ra là để trao đổi và mua bán dựa trên nguyên tắc là trao đổi ngang giá Bởi vậy, người sản xuất không thể sản xuất những gì mình thích hay sản xuất ra những gì mình có thể mà phải sản xuất theo sự đòi hỏi, nhu cầu thị hiếu của người tiêu dung Nếu người sản xuất đáp ứng được những nhu cầu ấy thì họ tồn tại trên thị trường, còn nếu không họ sẽ bị đánh bật ra khỏi thị trường trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Ngày nay, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì yếu tố thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới lại càng trở nên quan trọng Nhu cầu thị trường ngày càng đa dạng và phong phú hơn, đã tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực kinh tế nói chung cũng như các làng nghề Việt Nam nói riêng với các chủng loại sản phẩm mang tính độc đáo riêng có của nó Cũng chính bởi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho sản phẩm của làng nghề cũng phải dần đổi mới làm sao để vừa đảm bảo tính nghệ thuật và lại đảm bảo giá trị sử dụng cao, cùng với nó
là cách thức quảng bá sản phẩm một cách chuyên nghiệp, có như vậy sản phẩm làng nghề mới tồn tại và phát triển trước sức sức mạnh cạnh tranh của thị trường Điều này đã được thực tế chứng minh Chẳng hạn làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) do luôn biết cách đổi mới sản phẩm, biết cách quảng bá thương hiệu mà dần dần gốm mang thương hiệu Bát Tràng ngày càng chiếm
Trang 26mã và nâng cao chất lượng sản phẩm Có thể nói rằng trình độ tiên tiến của máy móc tỷ lệ thuận với năng lực cạnh trạnh của một doanh nghiệp, nếu một doanh nghiệp có thiết bị máy móc hiện đại, năng suất cao và chất lượng tốt, thì sản phẩm của doanh nghiệp ấy sẽ có chỗ đứng trên thị trường Tuy nhiên,
để phát triển và nâng cao vị thế của sản phẩm làng nghề còn nhiều yếu tố khác song chúng ta không thể phủ nhận vai trò của máy móc, thiết bị khoa học công nghệ trong bất cứ quy trình sản xuất nào Đối với sản phẩm làng nghề chính yếu tố này tạo nên sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đối với các sản phẩm cùng loại cũng như các sản phẩm làng nghề nói chung, miễn là sản phẩm làm ra vừa đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng vừa đảm bảo kiểu dáng đẹp, mẫu mã bắt mắt; đồng thời chất lượng tốt, giá thành hạ, cách thức quảng bá sản phẩm làng nghề một cách chuyên nghiệp,… Tất cả những điều này hội tụ lại ở một sản phẩm thì doanh nghiệp ấy sẽ thành công trên thị trường Tuy nhiên, đối với những sản phẩm làng nghề thì ngoài yếu tố áp dụng những trang thiết bị hiện đại thì yếu tố truyền thống cũng không thể thiếu trong mỗi sản phẩm bởi chính điều đó sẽ tạo nên tính đặc sắc cho sản phẩm làng nghề
1.1.2.7 Yếu tố truyền thống
Đặc trưng nổi bật của sản phẩm làng nghề chính là sự tồn tại lâu đời của nó và tính thủ công, sự tham gia của thiết bị máy móc chỉ ở một số khâu nào đó còn lại bắt buộc phải có sự tham gia của bàn tay người nghệ nhân Mỗi làng nghề tồn tại được đều dựa vào tính đặc sắc của sản phẩm làng nghề Đó chính là bí quyết nghề nghiệp các kỹ năng, kỹ xảo được lưu truyền từ đời này sang đời khác Để có được yếu tố đó, các tổ nghề phải sinh tử với nghề, phải thật sự sống với nghề mới có thể có những bí quyết nghề riêng mà không phải
ai cũng có được Chính yếu tố này đảm bảo nét văn hóa đặc trưng của từng
Trang 271.1.2.8 Nguyên vật liệu sản xuất của làng nghề
Đây là một bộ phận quan trọng của yếu tố đầu vào, nó tham gia quyết định chất lượng và giá thành của sản phẩm Nếu sản phẩm có nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng cao, thì sản phẩm đó rất thuận lợi trong quá trình sản xuất Còn ngược lại, nguyên liệu khó khăn, giá cả không ổn định sẽ gây trở ngại lớn nền sản xuất Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu cho các làng nghề đều xuất phát từ các sản phẩm mang tính tự nhiên như: gỗ, mây, tre, tơ tằm, đất,… và có xu hướng ngày càng trở nên khan hiếm, chính điều này đã làm ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm Do vậy để tạo đủ nguồn nguyên liệu ổn định về chất lượng không phải là dễ, sự tính toán đến các nguồn nguyên liệu thay thế cũng đang được các nhà doanh nghiệp tính đến nếu muốn sản phẩm làng nghề vẫn tồn tại trên thị trường
1.2 Vai trò của hệ thống làng nghề Việt Nam nói chung đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế
Vấn đề phát triển nghề và làng nghề đã được đề cập trong Văn kiện Hội
nghị lần thứ bảy Ban chấp hành (Khóa VII): “Phát triển các ngành nghề và làng nghề truyền thống và các nghề mới bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác
và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống của nhân dân” [8, tr.110]
Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay nước ta có 2.790 làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1350 làng nghề Rất nhiều trong số này đã
có hàng trăm năm tuổi như làng nghề nổi tiếng Bát Tràng Làng đúc đồng Đại
Trang 2823
Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển; nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình), hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường năm 2008, làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng, chiếm khoảng 60%, miền Trung, chiếm khoảng 30% và miền Nam khoảng 10% Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm của làng nghề được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Dưới đây chúng tôi xin đề cập và phân tích những vai trò nổi bật của làng nghề về phương diện phát triển kinh tế
1.2.1.1 Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên một bước về chất làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu giá trị sản lượng, cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lực từ các lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp trong nông thôn và từ các nơi khác Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trong quá trình phát triển, các làng nghề đã đóng góp vai trò tích cực vào việc tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, và dịch
vụ Chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang lao động
ở ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có thu nhập cao hơn Khi nghề thủ công phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần túy, mà bên cạnh đó là các nghề thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ cùng tồn tại và phát triển Mặt khác, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập về giá trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp
Do đó, từng bước tiếp cận với nền kinh tế thị trường, các nhà doanh nghiệp có
xu hướng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp, khu vực sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp tăng lên; sự phát triển này đã khẳng định một hướng đi đúng tạo cơ sở kinh tế cho nhiều vùng thuần nông mà trước đây chỉ chuyên sản xuất lúa và
Trang 2924
chăn nuôi có hướng đi mới trong việc phát triển kinh tế của vùng đó Sự phát triển của làng nghề đã và đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều địa phương Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp
và dịch vụ đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ còn lại khoảng 20% - 40% Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/năm
Thống kê của Sở Công thương Hà Nội cho thấy nếu như năm 2006 Hà Nội có 1180 làng nghề và làng có nghề với 162.151 hộ gia đình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, năm 2010 có 1350 làng nghề và làng có nghề tăng 170 làng với 168.676 hộ gia đình, tăng 6.525 hộ [21, tr.108]
Quy mô làng nghề ngày càng phát triển, số hộ tham gia sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng, số hộ thuần nông giảm dần Xét
ở góc độ phân công lao động nghề thì hầu hết các làng nghề có tác dụng tích cực tới sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng tới chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Sự phát triển của làng nghề có tác động rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự phát triển rộng khắp của các làng nghề
đã thu hút được nhiều lao động nông nhàn Làng nghề là điểm thực hiện tốt việc phân công lao động tại chỗ, bố trí lực lượng lao động hợp lý theo hướng
“ly nông bất ly hương” là rất hợp lý
1.2.1.2 Phát triển làng nghề là động lực trực tiếp giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn
Theo ước tính, các làng nghề Việt Nam đang sử dụng trên dưới 1,5 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và từ 4 - 5 triệu lao động thời vụ Rõ ràng làng nghề có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, trực tiếp giải quyết việc làm
ở nông thôn Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 - 250 lao động Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 3025
trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động Thành phố Hà Nội năm 2010 với tổng số lao động trong các làng nghề là 625.854 lao động tăng 246.269 người so với năm 2006 [21, tr.109] Số lượng làng nghề, làng có nghề ngày càng tăng đã thu hút được nhiều lao động tham gia trong đó có hàng nghìn lao động ở địa phương khác đến làm việc ở các làng nghề như làng nghề gốm xứ Bát Tràng huyện Gia Lâm, làng nghề đan cỏ tế Phú Túc, Phú Xuyên, làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Minh Khai, Hoài Đức… đã góp phần tăng giá trị kinh tế cho làng
Sự phát triển của các làng nghề đã kéo theo sự hình thành và phát triển của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới và thu hút nhiều lao động Vai trò tạo việc làm của các làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan tỏa các làng nghề khác, vùng khác
Nó là bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn, được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần tăng thêm thu nhập cho người lao động nông thôn Ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì ở nơi đó có thu nhập cao và mức sống cao hơn so với các vùng thuần nông Nếu như thu nhập bình quân của một lao động trong hộ chuyên ngành nghề nông nghiệp khoảng 7 triệu đồng/năm, thì thu nhập bình quân từ các làng nghề khoảng 11,84 triệu/người/năm Tuy nhiên, thu nhập bình quân của lao động trong từng làng nghề, làng có nghề, ở các quận huyện thành phố không không đồng đều, trong nội thành Hà Nội các huyện như: Đông Anh,
Từ Liêm, Gia Lâm, đạt từ 21-43 triệu/người/năm Các huyện như Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ,… thu nhập trung bình từ 10-20 triệu/người/năm Các huyện như Thạch Thất, Chương Mỹ, Ba Vì,… đạt từ 6,5-9 triệu/người/năm Vì vậy thu nhập từ các làng nghề không những đã tạo
ra sự thay đổi trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của địa phương mà các làng nghề còn góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống, tạo ra diện mạo đô thị hóa mới cho nông thôn
1.2.1.3 Tận dụng được thời gian và lực lượng lao động, hạn chế được
sự di dân tự do
Do đặc điểm sản xuất của các làng nghề là sử dụng lao động thủ công
là phần nhiều, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở người lao động nên bản thân
Trang 3126
nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ lúc nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động Trẻ em tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề, hay giúp việc Cùng với việc tận dụng được thời gian và lực lượng lao động, sự phát triển của làng nghề có vai trò tích cực trong việc hạn chế sự di dân tự do ở nông thôn Hiện tượng di dân
từ nông thôn ra thành thị thực chất đa phần gắn liền với tình trạng thất nghiệp
và thiếu việc làm ở nông thôn Đây là một quá trình hình thành một cách tự phát, và tự điều tiết bởi sự tác động quy luật cung - cầu lao động Di dân từ nông thôn ra thành thị không những giảm sức ép việc làm ở khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu lao động đơn giản ở thành phố, mà trong trừng mực nào đó nó làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống xã hội, giảm bớt đói nghèo cho người dân nông thôn Nhưng sự di dân tự do lại làm nảy sinh nhiều vẫn
đề xã hội, gây áp lực đối với các điều kiện và dịch vụ cơ sở hạ tầng xã hội ở thành phố Bởi vậy, việc làng nghề phát triển tạo ra nhiều việc làm cho người dân lúc nông nhàn là một trong những vai trò tích cực trong vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị, chính điều này đã giúp cho thành thị giảm sức ép về việc làm và mật độ dân cư ở thành phố lớn
1.2.1.4 Tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Những năm qua, các làng nghề Việt Nam có tốc độ phát triển khá mạnh Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ mới đạt 274 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt khoảng 650 triệu USD, năm 2010 đạt xấp xỉ 1,5 tỉ USD Các mặt hàng được bán trên 100 nước và vùng lãnh thổ Các làng nghề giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế Những thay đổi này vừa mang lại những thuận lợi vừa tạo ra thách thức đối với các làng nghề trong quá trình phát triển Mở cửa, hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài Đó là những mặt hàng xuất khẩu mạnh của nước ta trong nhiều năm qua, mà phần nhiều có xuất xứ từ các làng nghề truyền thống trong cả nước, như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ Theo thống kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng
1.2.2 Vai trò của làng nghề trong phát triển văn hóa - xã hội
Trang 3227
Làng nghề không chỉ là nơi phát triển sản xuất kinh doanh mà còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, vật chất, tinh thần quý báu Nó vừa mang giá trị văn hóa đẹp đẽ của làng quê Việt Nam (tính cộng đồng đoàn kết, trọng tình cảm, lối sống nhân đạo), lại vừa có giá trị độc đáo của văn hóa nghề: Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, việc tôn kính tổ nghề cũng như việc tôn vinh nghề nghiệp, hay việc tổ chức các lễ hội, các cuộc thi sản phẩm làng nghề thể hiện khát vọng vươn tới cái đẹp, hướng tới sự hoàn mỹ; đồng thời qua các lễ hội cũng là một dịp nhằm quảng bá hình ảnh cũng như nét đẹp của làng nghề Việt Nam
Mỗi một sản phẩm làng nghề vừa là sản phẩm mang giá trị kinh tế, vừa thể hiện một quá trình lao động sáng tạo không ngừng, đồng thời nó lại là tác phẩm nghệ thuật độc đáo và mang nét đặc trưng của từng vùng, từng địa phương Qua mỗi sản phẩm ta lại thấy những khát vọng, tư tưởng tình cảm, sự biểu đạt triết lý trong cuộc sống mà người nghệ nhân gửi gắm vào đó Bởi vậy, những vật phẩm của nhiều làng nghề còn mang giá trị giáo dục, đồng thời còn là một bảo tàng sống phản ánh những nét đặc sắc nhất của văn hóa dân tộc Việt
1.2.3 Góp phần hình thành phát triển những giá trị kinh tế mới
Như những ngành nghề khác trong nền kinh tế, kinh tế làng nghề ngày càng phát triển và tạo ra những giá trị kinh tế mới đóng góp vào nền kinh tế quốc dân nói chung Tuy nhiên, do sự khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra vào năm 2008 đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới sự phát triển làng nghề như việc tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu chậm, việc thu mua nguyên liệu từ nước ngoài trở nên khó khăn, dẫn đến việc một số làng nghề gặp khó khăn trong việc sản xuất do việc bị cắt giảm hợp đồng các mặt hàng xuất khẩu, thu nhập của người lao động giảm Hậu quả của cuộc khủng hoảng
đã làm cho 9 làng nghề phá sản, 124 làng nghề phải sản xuất cầm chừng chiếm khoảng 10% tổng số làng nghề, và rất nhiều các hộ sản xuất và doanh nghiệp ảnh hưởng theo
Sau 3 năm, đến nay cơn kịch phát của cuộc khủng hoảng đã qua nhưng hậu quả của nó vẫn chưa thực sự đi qua Trước tình hình đó Chính phủ đã phê duyệt chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề giai đoạn 2009-2010 và
Trang 3328
tầm nhìn đến năm 2020 Nhà nước cũng đã đầu tư kinh phí cho nghiên cứu,
về dự báo thị trường làng nghề, cơ cấu nguyên liệu, sản phẩm, giá thành, giá bản sản phẩm, đặc biệt là nghiên cứu những thị trường mới Theo Báo cáo về tình hình phát triển làng nghề năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay giá trị mặt hàng mây tre, tre cói và thảm đạt 225,660 triệu USD, tăng 1,96% so với năm 2008, mặt hàng gốm sứ đạt 343,122 triệu USD, tăng 3.72% so với năm 2008; sản phẩm gỗ đạt 2.804,254 triệu USD, tăng 16,64% so với năm 2008…
Đến nay, nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề được xuất khẩu tới trên 100 nước và vùng lãnh thổ, một số hàng được nước ngoài đánh giá cao Giá trị hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu tăng lên nhanh và đang có nhiều triển vọng: năm 2000 mới đạt 273,7 triệu USD; năm 2007 đã đạt 750 triệu USD Đó là chưa kể mặt hàng gỗ và đồ gỗ mỹ nghệ, năm 2007 kim ngạch xuất khẩu 2,3 tỷ USD đến năm 2009 kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt xấp xỉ 3 tỷ USD, dự kiến trong năm 2011 đạt kim ngạch xuất khẩu từ 4,1 - 4,2 tỷ USD
Cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu, riêng tỉnh Bình Dương có đến 200 doanh nghiệp là trung tâm sản xuất đồ gỗ xuất khẩu của cả nước Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ đạt khoảng
450 triệu USD, chiếm tới 39% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ cả nước, tiếp đó là thị trường EU khoảng 240 triệu USD Mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều mang bản sắc văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm về thẩm mỹ, tư tưởng, đặc điểm nhân văn, trình độ khoa học kỹ thuật rất độc đáo của dân tộc Việt Nam Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu mang trong mỗi sản phẩm tinh hoa văn hóa của dân tộc ta, đóng góp vào kho tàng văn hóa của nhân loại, làm phong phú thêm văn hóa thế giới Chúng ta đang cố gắng vừa giới thiệu với bạn bè thế giới những sản phẩm độc đáo mang truyền thống dân tộc, vừa sáng tạo thêm những mẫu mã mới theo thị hiếu tiêu dùng của khách hàng trong và ngoài nước [43, tr.112]
Đặc biệt, hình thức du lịch làng nghề ngày càng trở nên hấp dẫn, đã có nhiều khu du lịch kết hợp với làng nghề, hình thành những làng nghề du lịch, những điểm và các tuyến du lịch làng nghề, tạo ra những sản phẩm du lịch ngày càng hấp dẫn Khách du lịch được tận mắt chiêm ngưỡng những tác phẩm
Trang 3429
tiểu thủ công thể hiện bản sắc của từng làng nghề Chúng ta đang cố gắng kết hợp việc bán hàng thủ công mỹ nghệ làm hàng lưu niệm cho du khách - với những mặt hàng thường xuyên cải tiến, kết hợp với giới thiệu công nghệ chế tác tại chỗ, để du khách có thể hiểu được quy trình sản xuất cũng như tay nghề khéo léo của nghệ nhân; du khách cũng có thể được hướng dẫn để tự mình chế tác một sản phẩm làm kỷ niệm Có thể ví dụ những nơi đã thành công như Trung tâm xúc tiến thương mại du lịch làng nghề ở Mạo Khê (Quảng Ninh) do Công ty Quang Vinh chủ trì dưới sự bảo trợ của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam; hoặc như Làng nghề đèn lồng Hà Linh (Hội An, Quảng Nam) Nhiều làng nghề cũng đang xúc tiến xây dựng các phòng trưng bày, nhà truyền thống giới thiệu với du khách về lịch sử hình thành làng nghề và phát triển của các sản phẩm mang đặc sắc địa phương Nhiều vấn đề về bảo tồn không gian làng nghề, kết hợp du lịch làng nghề với quần thể kiến trúc địa phương (đền, chùa, miếu, nơi thờ các vị tổ nghề), mở mang đường giao thông, khắc phục ô nhiễm môi trường, v.v… cũng đang được các làng nghề chú trọng xử lý
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển làng nghề
và một số bài học rút ra cho huyện Thạch Thất
1.3.1 Về kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
Trên thực tế không phải sản phẩm làng nghề Hà Nội nào cũng là sản phẩm độc quyền mà ở các làng nghề của tỉnh khác cũng sản xuất ra những sản phẩm đó Để sản phẩm của làng nghề mình có khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị trường, ngoài việc đảm bảo đầu vào nguyên liệu có chất lượng
và ổn định, việc tăng cường đổi mới các thiết bị khoa học công nghệ, thu hút nguồn vốn đầu tư, mở rộng địa bàn sản xuất,… thì việc học hỏi kinh nghiệm không chỉ các tỉnh lân cận trong nước mà cần phải học hỏi ngay chính các huyện, các vùng trong chính nội thành Hà Nội
1.3.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh vốn xưa nay không chỉ nổi tiếng với những làn điệu dân ca quan họ, với hội Lim bên sông Cầu mà còn nổi tiếng với những thương hiệu các sản phẩm làng nghề tiêu biểu như gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, giấy dó Phong Khê,… Với tổng số 62 làng nghề hiện nay, giá trị sản xuất của các làng nghề ở Bắc Ninh luôn chiếm tỷ lệ cao trong giá trị sản xuất công nghiệp ngoài
Trang 3530
quốc doanh và chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh Năm 2003, giá trị sản xuất công nghiệp của làng nghề trên địa bàn đạt 4.300 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh đạt 2.368 tỷ đồng và giá trị sản xuất công nghiệp trong các làng nghề đạt 1.776 tỷ đồng (tính theo giá cố định năm 1994) Năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp trong các làng nghề 14.398 tỷ đồng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh [26, tr.112] Để có được những thành tựu ấy, các cấp lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh và người dân Kinh Bắc cũng đã trải qua nhiều khó khăn và những nỗ lực
để có được sự phát triển như hiện nay, dưới đây là một số kinh nghiệm phát triển làng nghề:
Thứ nhất, xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề
Bắc Ninh coi việc quy hoạch tạo mặt bằng cho sản xuất ở các làng nghề
là một khâu đột phá quan trọng trong phát triển làng nghề Hình thành các khu, cụm công nghiệp làng nghề, thực chất là chuyển một phần diện tích đất canh tác nông nghiệp của chính làng nghề sang đất chuyên dùng cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong các làng nghề di dời ra khu sản xuất tập trung, tách sản xuất ra khỏi khu dân
cư Theo kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh, việc làm này cần phù hợp với đặc điểm riêng của từng làng, từng nghề Vì vậy, tỉnh Bắc Ninh có chủ trương chỉ thực hiện việc di rời đối với những khâu sản xuất đồng bộ, những công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm Đối với hoạt động sản xuất những chi tiết nhỏ
lẻ, không ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ của cộng đồng thì vẫn được sản xuất, kinh doanh ở từng hộ gia đình nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện
và tập quán lao động của người dân trong làng nghề Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, vừa qua các ngành chức năng của tỉnh phối hợp với các địa phương
đã tiến hành xây dựng được 21 khu công nghiệp làng nghề với tổng diện tích đất qui hoạch là 460,87 ha Để các khu, cụm công nghiệp làng nghề được hình thành và hoạt động có hiệu quả, Bắc Ninh đã thành lập ra ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề
có nhiệm vụ giúp các cấp, các ngành, trước hết là Uỷ ban nhân dân cấp xã, huyện thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý này là một đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp
Trang 3631
nhân, được sử dụng con dấu và mở tài khoản theo quy định hiện hành của Nhà nước Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề là cơ quan trực tiếp quản lý các khu công nghiệp làng nghề, đồng thời là đầu mối phối hợp với các
cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, các tổ chức kinh tế -
xã hội và Uỷ ban nhân dân các xã có khu công nghiệp làng nghề để giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của các ngành chức năng thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Cơ quan này là đầu mối triển khai, thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan, trực tiếp xây dựng điều lệ quản lý các khu công nghiệp làng nghề, trực tiếp triển khai qui hoạch chi tiết
- Thứ hai, vấn đề vốn cho sản xuất kinh doanh
Để giải quyết những khó khăn về vốn cho sản xuất kinh doanh của các làng nghề, Bắc Ninh đã chú trọng đến hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh thực hiện chủ trương tất cả các dự án khả thi của các hộ sản xuất đều được Ngân hàng cho vay 70% giá trị mua sắm tài sản cố định bằng nguồn vốn vay trung hạn và hỗ trợ cho vay từ 30-50% vốn lưu động Nhiều làng nghề được Ngân hàng cho vay đã nhanh chóng nâng cao được năng lực sản xuất, kinh doanh, có doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm, như làng mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, sắt Đa Hội… Có thể nói, chính sách của Nhà nước, của tỉnh
và các điều kiện về nguồn lực… là những nhân tố cơ bản tác động tích cực tới quá trình hình thành, phát triển các làng nghề Bắc Ninh là tỉnh đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển làng nghề Vì vậy, tham khảo kinh nghiệm phát triển nghề và làng nghề của tỉnh Bắc Ninh là điều cần thiết
- Thứ ba, cách thức quảng bá thương hiệu làng nghề
Lấy truyền thống trăm năm, nghìn năm để thay thế cho việc quảng bá thương hiệu làng nghề là nếp nghĩ của khá nhiều người làm nghề thủ công Theo họ, vì đã có truyền thống lâu đời nên sẽ có nhiều người biết đến sản phẩm của làng nghề mình Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiệu quả của cách làm này chưa cao Trong số các làng nghề, có lẽ các doanh nhân làng nghề đồ gỗ
Trang 3732
Đồng Kỵ (thị xã Từ Sơn) là những người “nhanh chân” trong việc xây dựng thương hiệu Từ những năm đầu thập kỷ này, nhiều doanh nghiệp Đồng Kỵ đã chú ý xây dựng các gian hàng giới thiệu sản phẩm ở khắp các khu đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Chính những doanh nhân này cũng là những người đầu tiên xây dựng các trang web cá nhân của doanh nghiệp mình để quảng bá thương hiệu, sản phẩm ra thế giới Chính vì vậy khi nói đến sản phẩm gỗ mỹ nghệ người ta nhớ ngay đến đồ gỗ Đồng Kỵ trong khi Phù Khê, Hương Mạc mới là quê hương của mặt hàng này
1.3.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Nam
Hà Nam là một trong những tỉnh đồng bằng có các điều kiện kết cấu hạ tầng tương đối hoàn thiện và thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Để tạo điều kiện cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển, tỉnh đã quy hoạch
và xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung tại các vị trí thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp đến đầu tư sản xuất kinh doanh Đến nay, tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho xây dựng và phát triển 8 khu công nghiệp tập trung (trong đó có 4 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động) Khu công nghiệp Đồng Văn I, Khu công nghiệp Đồng Văn II, Khu Công nghiệp Châu Sơn, Khu Công nghiệp Hoà Mạc, Khu công nghiệp ITAHAN, Khu công nghiệp Ascendas - Protrade, Khu công nghiệp Liêm Cần
- Thanh Bình, Khu công nghiệp Liêm Phong Theo báo cáo của Sở Công thương, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN) làng nghề năm 2008 đạt 1.120,167 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2009 đạt 847.060 triệu đồng Theo Báo cáo tổng kết năm 2009 của tỉnh cho thấy: Giá trị sản xuất công nhiệp, tiểu thủ công nghiệp vượt kế hoạch và tăng 23,7% so với năm 2008.Tính tới thời điểm hiện nay, toàn tỉnh có 106 làng nghề, làng có nghề ở 81 xã, thị trấn; 15 nghệ nhân, 69 thợ giỏi và 02 người có công đưa nghề mới về tỉnh được công nhận; các làng nghề, làng có nghề thu hút được 110.650 lao động, chiếm 27,5% so với số lao động của tỉnh Những nghệ nhân, thợ giỏi TTCN được công nhận chủ yếu làm nghề thêu ren và mây giang đan, tập trung tại 02 làng nghề: thêu ren xã Thanh Hà (huyện Thanh Liêm) và mây giang đan Ngọc Động, xã Hoàng Đông (huyện Duy Tiên) Năm 2007 - 2008 trên địa bàn tỉnh có 12.617 lao động được đào tạo, truyền nghề, đạt 84,11% so với mục tiêu của đề án
Trang 3833
Năm 2009 có 6.333 lao động được đào tạo, truyền nghề, nhân cấy nghề TTCN [47, tr.112] Qua những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đúc rút được những kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, tỉnh tập trung triển khai đề án phát triển làng nghề với
phương châm “đưa nghề về làng”, vừa để tăng thêm thu nhập, đồng thời giải quyết vấn đề việc làm cho nhiều lao động trong tỉnh Đến nay, toàn tỉnh có 39 làng nghề và 67 làng có nghề, thu hút trên 11 vạn lao động, chiếm 27,5% tổng
số lao động của tỉnh Các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp đều có mức tăng khá
so với kế hoạch và so với năm 2008 như: Lụa tơ tằm, thêu ren, may mặc,…
Thứ hai, tỉnh cũng chú trọng thực hiện tốt các phong trào thi đua trong
các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, vận tải, bưu chính, viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm nhằm góp phần tạo nên bước phát triển chung của toàn tỉnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Các phong trào thi đua trong lĩnh vực kinh tế tỉnh Hà Nam năm 2009 và năm 2010 thực sự là những hoạt động thiết thực, phù hợp với điều kiện của địa phương, góp phần không nhỏ vào việc đưa phong trào thi đua yêu nước ngày càng sâu rộng hơn trong lao động, sản xuất
Thứ ba, tỉnh tăng cường công tác truyền nghề, nhân cấy nghề, nâng cao
tay nghề cho người lao động; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện và hiệu quả của các đề án, dự án; tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác khuyến công, đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các cơ sở sản xuất về khoa học kỹ thuật; phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành với các địa phương trong việc theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề, doanh nghiệp làng nghề để giải quyết hoặc đề xuất
cơ quan có thẩm quyền giải quyết khó khăn vướng mắc; tổ chức các cuộc toạ đàm, tham quan mô hình, học hỏi trao đổi kinh nghiệm về phát triển nghề…
1.3.1.3 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 2.095.239 km2, dân số: 7.123.340 người, là một trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm kinh tế của cả nước Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả
Trang 3934
nước Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước Với định hướng đề ra là tập trung phát triển các ngành nghề, cho đến nay, TP.HCM vẫn còn lưu giữ được nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng từ lâu đời như: nghề đúc lư đồng thờ ở Gò Vấp, thêu tranh ở một số quận trung tâm, làm hàng mã của người Hoa Chợ Lớn, xe nhang - làm tượng Phật ở Bình Chánh; đan mây, tre, lá ở Thái Mỹ; tráng bánh ở Phú Hoà Ðông (Củ Chi); làm sơn mài Thủ Ðức… Mỗi làng nghề đều có giá trị văn hoá và sức hấp dẫn riêng
Thành phố đã xây dựng 4 làng nghề truyền thống như: làng nghề đan lát xã Thái Mỹ và làng nghề bánh tráng xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi; làng nghề nuôi cá sấu phường Thạnh Xuân, quận 12; làng nghề sản xuất muối
xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ Các làng nghề tiếp tục hình thành và phát triển, được sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương, được hỗ trợ vốn vay theo Chương trình 419-UB giải quyết được nguồn nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Thu nhập ngày càng cao khiến cho cơ cấu chi tiêu của người dân chuyển dịch theo hướng tích cực: chi cho ăn uống ngày càng giảm và tương ứng là sự gia tăng tỉ phần chi tiêu cho các hoạt động mua sắm, giải trí khác Thông qua những kết quả đạt được của thành phố Hồ Chí Minh,
có thể rút ra được những kinh nghiệm cho sự phát triển của các làng nghề nói chung như sau:
Thứ nhất, là về nguyên vật liệu
Đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các làng nghề thông qua việc đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tại địa phương (lúa, nuôi cá sấu, tre trúc) hoặc hợp tác sản xuất, cung cấp nguyên liệu với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tại các địa phương lân cận
Thứ hai, là về khoa học công nghệ
Kết hợp đan xen giữa cổ truyền và hiện đại, giữa thủ công và cơ giới, đảm bảo tiêu chuẩn về kỹ thuật, công nghệ, vệ sinh môi trường Nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm thông qua chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất Xây dựng thương hiệu hàng hoá cho từng làng nghề Xây dựng website để giới thiệu sản phẩm, mua bán qua mạng Đưa sản phẩm của làng nghề tham gia chợ đầu mối về nông sản (Bình Chánh, Thủ Đức)
Trang 4035
Thứ ba, là về cơ sở hạ tầng
Ưu tiên nhựa hóa đường giao thông, thông tin liên lạc vào các khu vực sản xuất tập trung Nghiên cứu xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải
Thứ tư, là về phát triển nguồn nhân lực
Nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động, phấn đấu 100% lao động có trình độ từ cấp 2 trở lên sau năm 2005 Hình thức đào tạo: bổ túc văn hóa Nâng cao trình độ tay nghề: phấn đấu mỗi năm đào tạo trên 500 lao động hoạt động nghề nghiệp Có chính sách khuyến khích nghệ nhân truyền nghề
Thứ năm, là về chính sách đầu tư, tín dụng
Ngân sách thành phố hổ trợ thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực: cải tiến qui trình, công nghệ, thiết bị máy móc, hiện đại hoá các làng nghề; nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm (thị trường, nhãn hiệu hàng hoá, xúc tiến thương mại, triển lãm, giới thiệu sản phẩm ); đầu tư phát triển vùng nguyên liệu ở địa phương; đào tạo nâng cao tay nghề, năng lực quản lý; được ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước, thông tin
Thứ sáu, là Mô hình phát triển làng nghề
Các mô hình phát triển làng nghề được vay tín dụng ưu đãi theo chủ trương của Nhà nước và Thành phố, đặt biệt là chương trình kích cầu thông qua đầu tư (theo Văn bản số 81 ngày 19/9/2001), chương trình hổ trợ lãi vay cho hộ nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp (Văn bản 419 ngày 5/2/2002), chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư sản xuất, kinh doanh dịch vụ về giống cây trồng, vật nuôi (Quyết định số 56 ngày 25/4/2003), Quyết định 132 ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ, các nguồn vốn từ Liên minh HTX TP, Quỹ Xóa đói giảm nghèo, chương trình quốc gia giải quyết việc làm… Nghiên cứu hình thành quỹ hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn [47, tr.112]
1.3.1.4 Kinh nghiệm của một số huyện thuộc thành phố Hà Nội
- Kinh nghiệm của huyện Hoài Đức
Hoài Đức là huyện ngoại thành nhưng có tốc độ phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ… khá cao Tốc độ tăng trưởng công nghiệp, tiểu thủ công