Tác giả đã chỉ ra những thay đổi cơ bản trong vai trò của chính quyền cấp tỉnh khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; phân tích vai trò của chính quyền cấp tỉnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-*** -
NGUYỄN THỊ HUỆ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀ NỘI NHỮNG NĂM 2005 - 2010 VÀ TẦM NHÌN 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ HUỆ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀ NỘI NHỮNG NĂM 2005 - 2010 VÀ TẦM NHÌN 2020
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MINH PHONG
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 6
1.1 Một số vấn đề về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: 6
1.1.1 Năng lực cạnh tranh: 6
1.1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh 6
1.1.1.2 Các cấp độ và chỉ số đo lường của năng lực cạnh tranh 12
1.1.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số PCI: 18
1.1.2.1 Khái niệm PCI 18
1.1.2.2 Nội dung chủ yếu và cách tính các chỉ số PCI 19
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng và ý nghĩa của PCI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương 24
1.1.2.4 Một số nhận xét về PCI 30
1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam về nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 31
1.2.1 Những bài học thành công: 32
1.2.2 Những bài học chưa thành công 43
1.2.3 Kinh nghiệm đối với Hà Nội 45
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 - 2010 47
2.1 Khái quát bối cảnh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Hà Nội 47
2.1.1 Môi trường tự nhiên 47
2.1.2 Kinh tế - chính trị: 52
2.1.3 Văn hoá – xã hội 56
Trang 42.2 Năng lực cạnh tranh của Hà Nội nhìn từ chỉ số PCI 63
2.2.1 Gia nhập thị trường 66
2.2.2 Tiếp cận đất đai 66
2.2.3 Minh bạch 67
2.2.4 Chi phí thời gian 68
2.2.5 Chi phí không chính thức 69
2.2.6 Tính năng động 70
2.2.7 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 70
2.2.8 Đào tạo lao động 71
2.2.9 Thiết chế pháp lý 72
2.3 Đánh giá chung 73
2.3.1 Những thành tựu: 73
2.3.2 Những hạn chế: 75
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế: 77
Chương 3: CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2015 VÀ TẦM NHÌN 2020 78
3.1 Bối cảnh mới: 78
3.1.1 Những thuận lợi: 81
3.1.2 Những khó khăn 81
3.1.3 Triển vọng về thứ hạng PCI của Hà Nội trong tương lai 82
3.2 Một số quan điểm về nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 84
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội trong trong giai đoạn 2010-2015 & tầm nhìn 2020 86
3.3.1 Củng cố, kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao năng lực, nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo và đội ngũ cán bộ công chức góp phần cải thiện tính năng động, tiên phong của chính quyền Thành phố 86
Trang 53.3.2 Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính giảm tối đa chi phí gia nhập thị trường và chi phí thời gian để thực hiện các quy định
của Nhà nước cho doanh nghiệp 87
3.3.3 Cải thiện hệ thống thông tin, đẩy mạnh công khai, minh bạch hóa thông tin cho doanh nghiệp 89
3.3.4 Tăng cường các biện pháp giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất cho doanh nghiệp 91
3.3.5 Phát triển hệ thống giáo dục – đào tạo tạo nguồn cung lao động qua đào tạo, lao động có tay nghề cho doanh nghiệp 93
3.3.6 Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 94
3.3.7 Các giải pháp khác 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Các từ viết tắt Tiếng Việt
2 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
3 CNTT Công nghệ thông tin
4 CN-XD Công nghiệp – Xây dựng
6 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
7 DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
8 HTKTĐN Hợp tác kinh tế đối ngoại
9 KCN Khu công nghiệp
10 KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
11 N-L-TS Nông – Lâm - Thuỷ sản
Các từ viết tắt Tiếng Anh
1 AOTS Hiệp Hội Tu nghiệp Kỹ thuật Hải ngoại Nhật Bản
2 ASEAN Hội hiệp các quốc gia Đông Nam Á
3 B.O.T Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao
4 B.T Hợp đồng xây dựng-chuyển giao
5 CCI Chỉ số Khả năng cạnh tranh hiện tại
6 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 77 GCI Chỉ số Khả năng cạnh tranh tăng trưởng
8 GDP Tổng sản phẩm trong nước
9 GMS Tiểu vùng Mê Kông mở rộng
10 GSO Tổng cục Thống kê Việt Nam
11 ICT – Index Chỉ số sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin – truyền
thông
12 IMD Viện Quốc tế về quản lý và phát triển
13 ISO Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
14 ISO 9000 Hệ thống quản lý chất lượng
15 ISO 14000 Bộ tiêu chuẩn quản lý môi trường
16 PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
17 SA 8000 Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội
18 SE-ME-WE 3 Tuyến cáp quang biển quốc tế nối từ Tây Âu - Trung
Đông đến Thái Bình Dương
25 WEF Diễn đàn Kinh tế thế giới
26 WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 85 Bảng 2.4: Xuất nhập khẩu của Hà Nội giai đoạn 2005-2010 55
6 Bảng 2.5: Đầu từ trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn
7 Bảng 2.6: Vị trí xếp hạng PCI của Hà Nội qua các năm 63
8 Bảng 2.7: PCI Hà Nội so sánh với các thành phố trực thuộc
9 Bảng 2.8: PCI Hà Nội so sánh với các tỉnh thấp nhất, cao nhất
10 Bảng 2.9: Điểm chỉ số thành phần của Hà Nội qua các năm 65
11 Bảng 2.10: Điểm chỉ số thành phần của Hà Nội năm 2009 so
sánh với điểm cao nhất, thấp nhất và điểm trung vị: 65
12 Bảng 2.11: Điểm chỉ số Gia nhập thị trường 66
13 Bảng 2.12: Điểm chỉ số Tiếp cận đất đai 67
15 Bảng 2.14: Điểm chỉ số Chi phí thời gian 69
16 Bảng 2.15: Điểm chỉ số Chi phí không chính thức 69
17 Bảng 2.16: Điểm chỉ số Tính năng động 70
18 Bảng 2.17: Điểm chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 71
19 Bảng 2.18: Điểm chỉ số Đào tạo lao động 72
20 Bảng 2.19: Điểm chỉ số Thiết chế pháp lý 73
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình toàn cầu hóa và ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia, địa phương và doanh nghiệp đã, đang và sẽ còn phải đối diện với sự cạnh tranh mạnh mẽ trên nhiều cấp độ và quy mô khác nhau Nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa không chỉ về kinh tế, mà còn tác động đến các mặt khác của đời sống chính trị - xã hội
Có nhiều cách thức và tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của một quốc gia và từng doanh nghiệp Tuy nhiên, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (Provincial Competitiveness Index)
để đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương PCI đã được Chính phủ Việt Nam cho phép sử dụng và công bố định kỳ hàng năm, được dư luận quan tâm và các địa phương ngày càng coi đây như một thước đo có uy tín để đánh giá những thành công và bất cập trong quản lý nhà nước trên địa bàn, nhằm tạo môi trường tốt hơn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh…
Với vị thế là thủ đô của một nước, song trong nhiều năm qua chỉ số PCI của Hà Nội thường đứng ở mức trung bình thấp (năm 2005: xếp hạng 14/42; năm 2006: xếp hạng 38/64; năm 2007: xếp hạng 27/64; năm 2008: xếp hạng 31/64) Tình trạng xếp hạng PCI của Hà Nội không cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả chung và riêng, cả khách quan và chủ quan, thậm chí
có nguyên nhân nằm ngay trong cách tính PCI
Nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội đã được cấp cao nhất của chính quyền thành phố coi là một trong các nhiệm vụ trọng tâm cần chỉ đạo trước yêu cầu phát triển Hà Nội thành trung tâm chính trị, văn hoá, hành chính và kinh tế hiện đại, tiên tiến của cả nước Đặc biệt, yêu cầu này càng bức xúc hơn trong bối cảnh Thủ đô đã mở rộng địa giới hành chính trên cơ sở sát nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của tỉnh Hoà Bình - hầu hết là các địa phương có mặt bằng kinh tế ở mức trung bình và thấp, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế
Trang 10Ngoài ra, việc nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh đối với Hà Nội còn có ý nghĩa tham khảo lớn cho các địa phương bởi tính chất điển hình của Thủ đô, cũng như bởi tính có thể so sánh trong nội dung tính PCI Đồng thời, việc nghiên cứu này còn có ý nghĩa nhất định trong việc góp phần hoàn thiện cách thức tính PCI với tư cách là phương thức mới, còn đang trong quá trình hoàn thiện…
Những trình bầy trên cho thấy đề tài: “Năng lực cạnh tranh của Hà
Nội những năm 2005-2010 và tầm nhìn 2020” là cấp thiết cả về lý thuyết và
thực tiễn kinh tế ở nước ta
2 Tình hình nghiên cứu
Năm 2005, Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) triển khai hệ thống khảo sát năng lực cạnh tranh môi trường đầu tư cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
TW ở Việt Nam (gọi tắt là năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) - Provincial Competitiveness Index, PCI Lần đầu tiên được giới thiệu, PCI đã gây ra những dư luận trái ngược nhau trong quan điểm và nhận thức cạnh tranh địa phương, kể cả một số chuyên gia kinh tế vốn lâu nay nhìn nhận các vấn đề bằng suy luận và học thuật cá nhân Trải qua 4 năm thực hiện, PCI đã dần được chấp nhận, mặc nhiên trở thành một trong các quan tâm hàng năm của giới kinh tế và lãnh đạo các địa phương cả nước Tuy nhiên, cho đến nay năng lực cạnh tranh cấp tỉnh mới chỉ được nghiên cứu từ góc độ là một dự án hợp tác khoa học quốc tế nêu trên và được chuyển giao, áp dụng vào thực tiễn dưới dạng thí điểm cách tính và công bố chỉ số PCI thông qua các báo cáo hàng năm về chỉ số PCI của Việt Nam Ngoài ra cũng có một số công trình khoa học, bài báo nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, điển hình như:
- Nguyễn Thế Vinh với “Vận dụng Marketing địa phương để nâng
cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” - Tạp chí Kinh tế và dự báo số 3 năm
2006, tr 29-30 Tác giả đặt vấn đề về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh dưới góc độ của Marketing địa phương – lý thuyết về xây dựng và quảng bá thương hiệu
- Trần Việt Hương với “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt
Nam năm 2006” - Tạp chí Kinh tế và dự báo số 6 năm 2006, tr 63-64 Tổng
hợp và phân tích Chỉ số CPI năm 2006
Trang 11- TS Nguyễn Thị Thu Hà với “Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay” –
NXBThông Tấn, 3/2009 Tác giả đã chỉ ra những thay đổi cơ bản trong vai trò của chính quyền cấp tỉnh khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; phân tích vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay; Chỉ ra phương hướng, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
Đặc biệt, thực hiện chủ trương của Thành uỷ, UBND Thành phố Hà
Nội đã có Quyết định số 1310/QĐ-UBND ngày 20/3/2009 ban hành “Đề án
nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010”
2009-Ngày 11/8/2009, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội kết hợp với phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức buổi toạ đàm: “Nâng cao chỉ
số năng lực cạnh tranh của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2009-2010” Buổi
toạ đàm đã nêu ra báo cáo phân tích chỉ số PCI của Thành phố Hà Nội và báo cáo tiến độ thực hiện đề án nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2009-2010 Tuy nhiên, đề án này còn mang tính ngắn hạn (2009-2010), chưa phân tích toàn diện và sâu sắc những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và đề ra các định hướng cũng như giải pháp mang tính trung và dài hạn, nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
Hà Nội trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sau vào khu vực và thế giới…
Có thể thấy rằng, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đang ngày càng được thừa nhận và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi địa phương, trong đó có Thủ đô Hà Nội Tuy vậy, nhiều vấn đề liên quan đến PCI chưa hoặc mới nghiên cứu mang tính chung chung hoặc chỉ mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của vấn đề trên nhiều cách tiếp cận khác nhau Đặc biệt, với giác độ địa phương, năng lực cạnh tranh của Hà Nội cũng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Trang 12- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Hà Nội trong giai đoạn
từ năm 2005 đến nay theo PCI; tập trung làm rõ những thành công và hạn chế, những điểm mạnh và điểm yếu, chỉ ra các nguyên nhân và triển vọng của chúng;
- Đề xuất các giải pháp góp phần cải thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hà Nội trong thời gian tới
- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
Hà Nội trong thời gian đến 2015, tầm nhìn 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về nội dung năng lực cạnh tranh của Hà Nội và một số địa phương khác trực tiếp dựa vào nội dung và kết quả tính về PCI của VCCI từ năm 2005 đến nay, để đánh giá về thực trạng năng lực cạnh tranh của Hà Nội, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội đến năm 2015-2020 theo yêu cầu hội nhập với khu vực và thế giới
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở bám sát các nguyên tắc duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, Luận văn sử dụng hài hoà các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống, như: tổng hợp, phân tích, trừu tượng hoá, thống kê, so sánh, kế thừa khoa học và phương pháp chuyên gia, đồng thời sử dụng các chuỗi số liệu tập hợp từ các cơ quan thống kê và của các cơ quan có liên quan…
6 Những đóng góp mới của luận văn
Góp phần phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Hà Nội theo những tiêu chí tính PCI, chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu, thành công, hạn
Trang 13chế và những nguyên nhân, đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể, cấp thiết góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội, nâng cao vị thế của Thủ đô đối với các địa phương khác ở Việt Nam và thủ đô các nước trong khu vực và trên thế giới
Ngoài ra, luận văn cũng sẽ góp phần chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp tính PCI, từ đó giúp hoàn thiện và vận dụng phù hợp với thực tiễn các địa phương
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Hà Nội giai đoạn 2005-2010
Chương 3: Các quan điểm và giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội trong giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn 2020
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1.1 Một số vấn đề về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh:
1.1.1 Năng lực cạnh tranh:
1.1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
a) Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh:
Hiện tượng cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường Trong lịch sử kinh tế, cạnh tranh cũng đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tập trung ở một
số lý thuyết và trường phái tiêu biểu sau:
* Lý thuyết của trường phái Cổ điển:
Cạnh tranh được nghiên cứu đầu tiên bởi trường phái trọng nông với lý thuyết “giá tự nhiên”, giá cả biến động quanh “giá tự nhiên” Khi xuất hiện một sự bất thường nào đó, thì giá thị trường có thể chênh lệch với “giá tự nhiên” trong một thời gian ngắn Trong trường hợp đó, cạnh tranh sẽ hoạt động tích cực để điều chỉnh bên cung và làm cho giá thị trường trở lại mức của “giá tự nhiên”
Adam Smith đã tiếp thu những nội dung này và phát triển thành lý thuyết “bàn tay vô hình” Adam Smith chính là người đầu tiên đưa ra những
lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh Thông qua cơ chế thị trường, việc tận dụng tự do cạnh tranh để theo đuổi lợi ích riêng dẫn đến việc mỗi chủ thể kinh tế sẽ nhận được những thành quả mà họ đã cống hiến cho thị trường Như vậy, sự hài hòa về lợi ích riêng của từng cá nhân trên thị trường được hình thành thông qua sự sắp đặt của “bàn tay vô hình”
Mô hình cạnh tranh của trường phái cổ điển có thể được hiểu như một quá trình điều phối không có sự điều khiển của nhà nước Tuy vậy, mô hình cạnh tranh của họ không đồng nghĩa với chính sách “laisser- fair” (để cho doanh nhân tự do hoạt động, Nhà nước không cần phải can thiệp) như nhiều người nhầm lẫn, mà đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra và bảo đảm một trật tự pháp
lý thuận lợi cho cơ chế cạnh tranh có thể vận động được
* Lý thuyết của C Mác:
Trang 15C Mác không có lý thuyết cạnh tranh riêng, mà ông đặt cạnh tranh trong lý thuyết giá trị thặng dư và cạnh tranh chủ yếu là giữa những người sản xuất Cạnh tranh diễn ra ở ba bình diện: cạnh tranh giá thành; cạnh tranh chất lượng; cạnh tranh giữa các ngành Nhìn chung, lý luận cạnh tranh của Mác thể hiện ở 4 nội dung cơ bản: (i) Quy luật cạnh tranh là quy luật cùng tác động với quy luật giá trị thặng dư; (ii) Cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia tăng giá trị thặng dư tương đối; (iii) Cạnh tranh thúc đẩy quá trình lưu thông các yếu tố sản xuất; (iv) Cạnh tranh là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận
* Lý thuyết của trường phái Tân Cổ điển:
Sự hài hòa về lợi ích trong lý thuyết của Adam Smith đã được trường phái Tân Cổ điển tiếp thu, nghiên cứu và xác định những điều kiện để có thể tạo ra sự tương ứng giữa lợi ích riêng và lợi ích tổng thể trong xã hội Kết quả những cố gắng của các nhà kinh tế theo trường phải Tân Cổ điển này đã mang lại mô hình cân bằng của cạnh tranh hoàn hảo Theo họ, cạnh tranh hoàn hảo
có những đặc điểm sau:
(i) Quyền sở hữu được xác định rõ ràng
(ii) Có một số lượng người bán và người mua rất lớn; do, vậy không
có một người bán hoặc người mua có khả năng khống chế được giá cả
(iii) Tất cả các doanh nghiệp đều có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận (iv) Tự do tham gia hay rút lui khỏi thị trường, chi phí cho việc này
là không lớn
(v) Hàng hóa được giao dịch trên thị trường là hàng hóa thuần chủng (vi) Thông tin trên thị trường phải tường minh
Như vậy, nội dung về cạnh tranh của trường phải Tân Cổ điển chủ yếu
là những vấn đề liên quan đến lý thuyết giá và cạnh tranh bằng giá Vì thế, lý thuyết này, trên thực tế đã không thể phản ánh được một cách toàn diện và đầy đủ các mối quan hệ trên thị trường, kể cả mối quan hệ giữa người bán với người mua, hoặc giữa những người bán hay giữa những người mua
Đối lập với phạm trù cạnh tranh hoàn hảo là phạm trù độc quyền Hình thái thị trường độc quyền là hình thái của thị trường, mà trong đó chỉ có một người bán (độc quyền bán) hoặc một người mua (độc quyền mua); hoặc chỉ
có một người bán và một người mua (độc quyền bán và mua) Trong hình thái
Trang 16thị trường này, phía độc quyền nắm được mọi quyền lực trong các hoạt động trên thị trường, do đó không xuất hiện hiện tượng cạnh tranh
* Lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh mang tính độc
quyền:
Mô hình cạnh tranh không hoàn hảo hoặc cạnh tranh mang tính độc quyền là phạm trù thứ 3 giữa 2 cực là độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo Sự khác biệt của nó so với 2 phạm trù kia là ở chỗ mô hình này thiếu một số nhân
tố hoàn hảo (những tiêu chuẩn cho một thị trường hoàn hảo là: tối đa tính sử dụng của bên cầu; tối đa lợi nhuận của bên cung; hàng hóa thuần chủng; không có sự ưu tiên cho cá nhân hoặc thời điểm nào; thị trường được coi như một điểm; sự hoàn hảo cho tính tường minh của thị trường; phản ứng của các thành viên thị trường cực kỳ nhanh nhạy) hoặc nhân tố độc quyền của thị trường
Cạnh tranh mang tính độc quyền, theo nghĩa rộng, là cạnh tranh trên những thị trường với một số ít đơn vị cung [29]
Trên thực tế, ở bất kỳ lúc nào, hầu hết các thị trường đều là thị trường với những hàng hóa tạp chủng do nhu cầu của xã hội luôn luôn đa dạng, đòi hỏi phải cung cấp những hàng hóa và dịch vụ khác nhau về chất lượng, mẫu
mã, giá cả Những sự khác biệt (khác biệt giá, khác biệt vùng, khác biệt về thời gian, khác biệt về con người…) trên cơ sở lý thuyết về cạnh tranh mang tính độc quyền đã tạo cơ sở cho các doanh nghiệp có thêm nhiều phương pháp
để xây dựng chiến lược marketing khác nhau phù hợp với vị thế của mình trên thị trường, đồng thời phù hợp với hình thái thị trường[30]
* Lý thuyết cạnh tranh hiệu quả:
Lý thuyết này được hình thành vào đầu những năm 40 trên cơ sở luận điểm “lấy độc trị độc” của John Maurice Clark là: những nhân tố không hoàn hảo trên thị trường có thể được sửa chữa bằng những nhân tố không hoàn hảo khác [27]
Luận điểm của Schumpeter - Nhà kinh tế học người Mỹ, gốc Áo
(1883-1950), giáo sư trường ĐH Harvard - về cạnh tranh đã ảnh hưởng một cách
mạnh mẽ đến sự phát triển tiếp theo của lý thuyết cạnh tranh Ông ta cho rằng, phải cạnh tranh bằng sản phẩm mới, bằng kỹ thuật mới, bằng nguồn cung ứng
Trang 17mới và hình thức tổ chức mới Cạnh tranh vì thế theo ông chính là: “sự phá hủy mang tính sáng tạo”[28]
Tóm lại, nội dung cơ bản của lý thuyết cạnh tranh hiệu quả là phân biệt
rõ những nhân tố không hoàn hảo nào là có ích, nhân tố nào là có hại cho chính sách cạnh tranh và nhận biết được điều kiện nào là điều kiện cần hoặc/và đủ cho tính hiệu quả của cạnh tranh trong nền kinh tế
Sự sống luôn luôn vận động và phát triển cùng với quy luật cạnh tranh tất yếu để tồn tại Cạnh tranh là động lực và cũng chính là phương thức để xã
hội đi lên Theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt [25]: Cạnh tranh là sự
giành giật nhau để chiếm phần thắng” Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm giành giật điều kiện sản xuất và nơi tiêu thụ có lợi nhất đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển
Sau Đại hội VII của Đảng, thuật ngữ cạnh tranh theo pháp luật hay cạnh tranh lành mạnh đã được sử dụng: cạnh tranh (Competition) là sự tranh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật thị trường hoặc khách hàng Thực chất, đó là sự tranh đua giành ưu thế hay giành độc quyền thị trường mua và thị trường bán hàng hóa, dịch vụ…
Mục đích trực tiếp của các hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành những lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố “đầu vào” của các chu trình sản xuất, kinh doanh và nâng cao mức giá “đầu ra” sao cho với chi phí thấp nhất mà vẫn có thể có được mức lợi nhuận cao nhất Bởi vậy thực chất của cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch
vụ (mua và bán) đó cũng chính là con đường, phương thức để giành lấy lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế khi tham gia thị trường
Cạnh tranh là một xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao 2 lưỡi Một mặt,
nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm
có chất lượng kém Mặt khác, nó buộc tất cả các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của các sản phẩm, dịch vụ, tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển
Trang 18trên thị trường Chính ở mặt này, cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp phải tăng cường sức cạnh tranh của mình lên đồng thời phải thay đổi mối tương quan về thế và lực để tạo ra các ưu thế trong cạnh tranh Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh do vậy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh
là tối đa hoá lợi ích: đối với doanh nghiệp là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng
b) Vai trò của cạnh tranh:
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có các vai trò tích cực:
Trên góc độ của nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu cũng như hạn chế được các méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách hiệu quả hơn và đồng thời góp phần nâng cao phúc lợi xã hội
Trên góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn cải tiến, nâng cao công nghệ, phương pháp sản xuất, quản lý nhằm nâng cao
uy tín và đạt được lợi nhuận cao trong kinh doanh
Trên góc độ người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo đảm người sản xuất không thể áp đặt giá cả tuỳ tiện Như vậy, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ
xã hội
Trên góc độ quốc tế, cạnh tranh thúc ép các doanh nghiệp phải tìm kiếm và mở rộng thị trường để bán sản phẩm, phải đầu tư nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng trên thị trường quốc tế Cạnh tranh quốc tế giúp các doanh nghiệp nhận ra những lợi thế cạnh tranh (lợi thế so sánh) và các điểm yếu của doanh nghiệp để có thể hoàn thiện và xây dựng các chiến lược cạnh tranh trong kinh doanh trên thị trường quốc tế
Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho đối tượng này và sự thiệt hại cho đối tượng khác Song xét dưới góc độ lợi ích xã hội chung thì cạnh tranh luôn có tác động tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn…)
c) Khái niệm năng lực cạnh tranh:
Trang 19Vai trò của cạnh tranh là rất lớn; sức ép của cạnh tranh là không nhỏ và ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cũng như của khoa học – kỹ thuật Như vậy, cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường, là một quá trình “động” và biến đổi không ngừng Để thắng được trong cạnh tranh, chiếm lĩnh được lòng tin của khách hàng buộc các quốc gia, các địa phương, các doanh nghiệp phải nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình Vậy năng lực cạnh tranh là gì?
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế
sử dụng nhiều nhất: Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu; Phương pháp thứ hai
do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp này đều do một số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh được định nghĩa là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tác động đến năng suất của chủ thể tham gia cạnh tranh[26] Đây là nhân tố đảm bảo thu nhập hay sự bền vững và là nhân tố cơ bản xác định tăng trưởng dài hạn của chủ thể đó
Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác Vị thế đó dựa trên những ưu thế nhất định, trong đó bao gồm những ưu thế về các yếu tố sản xuất cơ bản và những ưu thế do chính chủ thể đó “sáng tạo” nên Sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh, hay năng lực cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thế kinh tế Vị thế đó là những điều kiện để các chủ thế kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế và biết tạo ra những lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác
Trang 201.1.1.2 Các cấp độ và chỉ số đo lường của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được phân ra trên nhiều cấp độ, nhưng thông thường được phân làm 2 cấp độ: Năng lực cạnh tranh quốc gia; Năng lực cạnh tranh ngành/doanh nghiệp (Năng lực cạnh tranh sản phẩm thường được lồng ghép với việc phân tích cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp - ngành ở đây được hiểu là ngành hàng nhất định gắn với các sản phẩm cụ thể) Ở mỗi cấp
độ có hệ thống các tiêu chí ở cả trạng thái tĩnh và trạng thái động phản ánh cạnh tranh là một quá trình vận động không ngừng
a) Năng lực cạnh tranh quốc gia:
* Khái niệm: Năng lực cạnh tranh quốc gia (cũng có thể được hiểu là
lợi thế cạnh tranh quốc gia) được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
- Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia là “khả năng của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế khác tương đối vững chắc”
- Theo báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu, năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là “khả năng nước đó đạt những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tăng trưởng kinh tế cao, được xác định bằng thay đổi của GDP trên đầu người theo thời gian”
- Theo Uỷ ban công nghiệp của Mỹ, năng lực cạnh tranh quốc gia là
“mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất được các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó”
Như vậy, các định nghĩa về năng lực cạnh tranh quốc gia đều nhấn mạnh đến khía cạnh tăng trưởng kinh tế quốc gia, có sự bền vững, ổn định của nền kinh tế, nâng cao được thu nhập, đời sống của dân cư nước đó
*Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia:
Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là khác nhau và thay đổi theo thời gian Hiện nay, hệ thống chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia mà các nước đang áp dụng là của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)
Hệ thống các chỉ số này được sử dụng từ năm 1997 Đến năm 2000, chỉ số
Trang 21đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của WEF được kết hợp với hai chỉ số mới là chỉ số Khả năng cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index – GCI) và chỉ số Khả năng cạnh tranh hiện tại (Current Competitiveness Index – CCI) Hai chỉ số đánh giá thêm này được xây dựng chủ yếu dựa trên quan điểm về khả năng cạnh tranh quốc gia của Michael Porter, J.Sachs, A.Warner và các chuyên gia kinh tế của WEF
Chỉ số theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF): theo WEF, các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia được chia thành 8 nhóm:
(i) Độ mở kinh tế: Mức độ hội nhập của một nước vào nền kinh tế thế
giới xét trên mức độ tự do hoá thương mại quốc tế và chế độ đầu tư, bao gồm các chính sách về xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách tỷ giá, các dịch vụ trợ giúp xuất khẩu, khả năng chuyển đổi của đồng tiền đối với các giao dịch vãng lai…
(ii) Thế chế: Hiệu lực của pháp luật và thể chế xã hội đặt nền móng cho
nền kinh tế hiện đại mang tính cạnh tranh, bao gồm các yếu tố về thể chế, hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật, sự phù hợp của pháp luật với cơ chế thị trường, trong đó cạnh tranh theo pháp luật và độc quyền được coi là yếu tố quan trọng Ngoài ra, còn xem xét các yếu tố như sự khách quan và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, hiệu lực của hợp đồng thương mại, vai trò, hiệu lực của cơ quan trọng tài
(iii) Tài chính: Vai trò của thị trường tài chính trong việc điều chỉnh
tương quan tối ưu giữa tiêu dùng, tiết kiệm và hiệu quả của các cơ quan trung gian tài chính Đánh giá các chính sách tiền tệ, tỷ giá, sự đa dạng của các loại hình dịch vụ tài chính, chất lượng và trình độ phát triển của hệ thống tài chính, tiền tệ, khả năng ngăn ngừa các rủi ro tài chính
(iv) Lao động: Đánh giá về số lượng lao động, chất lượng đào tạo (đào tạo ngoại ngữ, chuyên môn, trình độ chuyên môn trên các ngành lĩnh vực khác nhau), sức khoẻ, kỷ luật lao động, tần số đình công trong nền kinh tế, mức độ thay đổi chỗ làm việc, chi phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm để
so sánh chi phí tiền công với năng suất lao động đạt được Chi phí tiền lương bao gồm cả chi phí đào tạo, thuế thu nhập và bảo hiểm, tức là tổng chi phí về lao động đối với doanh nghiệp
Trang 22(v) Công nghệ: Trình độ khoa học và công nghệ so với thế giới bao
gồm mức độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai; trình độ công nghệ và tích luỹ kiến thức công nghệ; khả năng tiếp thu công nghệ mới, sự phát triển của thị trường công nghệ
(vi) Kết cấu hạ tầng: Số lượng và chất lượng của hệ thống giao thông,
mạng viễn thông, cung cấp điện, nước, kho tàng và các phương tiện khác của
cơ sở hạ tầng nâng cao hiệu quả đầu tư, mức độ độc quyền trong các dịch vụ kết cấu hạ tầng, khả năng thu hút khu vực tư nhân trong nước và ngoài nước
để xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng
(vii) Quản trị: Chất lượng quản lý nói chung (chất lượng của quá trình
sản xuất, quản lý chất lượng đồng bộ, xu hướng của khách hàng, kinh doanh), chiến lược cạnh tranh, chiến lược chất lượng sản phẩm, khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực, chiến lược về tài chính, khả năng tiếp thị, phân tích các đối thủ cạnh tranh, chiến lược phát triển
(viii) Chính phủ: Vai trò của nhà nước trong việc điều hành nền kinh
tế bao gồm các chính sách tài khoá, mức độ can thiệp của chính phủ vào hoạt động của doanh nghiệp, sự minh bạch và công khai trong chính sách, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước (tính chuyên nghiệp, tệ quan liêu, nạn tham nhũng…)
Hàng năm, WEF sử dụng các tiêu chí cơ bản trên đây để thực hiện khảo sát khoảng 40.000 công ty trên toàn cầu để xếp loại năng lực cạnh tranh quốc gia Trong thực tế, việc xếp hạng năng lực cạnh tranh của các quốc gia được nhiều tổ chức nghiên cứu thực hiện, theo phương pháp luận tương tự như nhau trong cơ sở dữ liệu và trong số của các chỉ số khác nhau, phản ánh những quan điểm học thuật nhất định, nên kết quả đánh giá có thể chỉ trùng hợp về xu thế, song thứ bậc cụ thể không hoàn toàn giống nhau mà có thể có những xê dịch nhất định Vị trí xếp hạng của một nước ở vào một thời điểm nào đó không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của từng nước mà còn phản ánh tương quan so sánh nỗ lực đó với cải cách của các nước khác được xếp hạng Vì vậy, có thể một nước có tiến bộ nhưng vấn bị tụt hạng vì các nước khác còn
có tiến bộ nhanh hơn Các nhà đầu tư quốc tế rất quan tâm đến cách xếp hạng
Trang 23và các chỉ số về năng lực cạnh tranh này để tham khảo trong quá trình quyết định đầu tư
Chỉ số Khả năng cạnh tranh tăng trưởng (GCI): Chỉ số GCI được điểu
chỉnh từ chỉ số khả năng cạnh tranh quốc gia từ những năm trước, xác định nhân tố đóng góp cho tăng trưởng kinh tế tương lai, đo lường độ tăng trưởng GDP trên đầu người Các nhân tố này cho biết vì sao một quốc gia cải thiện mức sống hay sự thịnh vượng nhanh hơn các quốc gia khác
- Chỉ số sáng tạo kinh tế (Economic Creativity): Sự đổi mới, chuyển giao và lan toả công nghệ, các thể chế hỗ trợ Chỉ số này được tổng hợp từ hai nhóm chỉ số: chỉ số công nghệ và chỉ số khởi sự kinh doanh Chỉ số công nghệ được chọn từ Chỉ số đổi mới hoặc Chỉ số chuyển giao công nghệ (tuỳ thuộc và chỉ số nào lớn hơn) Chỉ số khởi sự kinh doanh được xây dựng từ bình quân giản đơn các chỉ số như khả năng bắt đầu hoạt động kinh doanh mới, khả năng tài trợ cho đầu tư mạo hiểm, khả năng vay nợ với thế chấp nhỏ
- Chỉ số tài chính: Hiệu quả của hệ thống tài chính thông qua tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư
- Chỉ số quốc tế: Đo mức độ hội nhập kinh tế của quốc gia với phần còn lại của thế giới
Chỉ số Khả năng cạnh tranh hiện tại (CCI): Chỉ số CCI xác định các
nhân tố đảm bảo mức năng suất hiện tại cũng như GDP trên đầu người của một nước, qua đó phản ánh thành tựu kinh tế hiện tại của nước đó Các nhân
tố này cho biết tại sao một quốc gia lại có thể duy trì mức sống hay sự thịnh vượng cao hơn các quốc gia khác Chỉ số CCI bao gồm 2 nhóm chỉ số là: Chỉ
số trình độ chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp (Company Operation and Strategy Index), Chỉ số Chất lượng môi trường kinh doanh của quốc gia (Quality of The Business Environment)
- Chỉ số trình độ chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp: Đánh giá tri thức, công nghệ, vốn vật chất, kỹ năng quản lý được thể hiện trong chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp Các thước đo là trình độ công nghệ sản xuất, mức độ hoạt động marketing, tính đặc thù của sản phẩm, sự tiếp cận thị trường quốc tế, mức độ tích tụ vốn của doanh nghiệp
Trang 24- Chỉ số Chất lượng môi trường kinh doanh: Đo lường chất lượng cơ sở
hạ tầng, kỹ năng, tích tụ công nghệ, các quy định và thể chế tạo thành môi trường hoạt động của doanh nghiệp
b) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành:
* Khái niệm: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành được định
nghĩa là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
Theo Humbert Lesca: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là “khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một mức lợi nhuận
ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp”
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn được định nghĩa là “khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất”
Những định nghĩa trên cho thấy, một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận sự tồn tại của đối thủ cạnh tranh, chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để có thể đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh
* Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp/ngành:
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định dựa trên các nhóm yếu tố chủ yếu sau:
- Chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hóa các đầu vào Các yếu tố liên quan là nguồn nhân lực, nguồn vốn, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, kết cấu hạ tầng về thông tin, các yếu tố về khoa học và công nghệ, các tài nguyên thiên nhiên
- Các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp là: các ngành cung ứng sản phẩm, dịch vụ có liên quan để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả
- Nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ Nhóm yếu tố này được xác định
Trang 25dựa trên quy mô của nhu cầu và sức mua, mức đàn hồi của thị trường, sự đòi hỏi về thay đổi sản phẩm thường xuyên của khách hàng
- Mức độ cạnh tranh trên lĩnh vực mà doanh nghiệp kinh doanh, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, …Môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ có thúc đẩy lớn hơn so với môi trường độc quyền
c) Năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm/dịch vụ:
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm là cơ sở tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và thể hiện tập trung ở 4 yếu tố là giá, chất lượng, tổ chức tiêu thụ sản phẩm và uy tín của doanh nghiệp
Một số tiêu chí xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm
- Hệ số khả năng cạnh tranh sản phẩm từ chất lượng và giá:
K = C/g Trong đó:
K là khả năng cạnh tranh của sản phẩm nào đó được xác định bằng hệ
số 1
C là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp của sản phẩm, bao gồm các chỉ tiêu
kỹ thuật và các chỉ tiêu kinh tế, xã hội khi sử dụng của sản phẩm
g là giá tiêu dùng của sản phẩm, bao gồm chi phí mua sắm và chi phí sử dụng sản phẩm
K = 1- 0,99 Sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao
Trang 26Trong đó:
H là hệ số lợi thế so sánh hiển thị
Xi là giá trị xuất khẩu của mặt hàng i
Ni là giá trị nhập khẩu của mặt hàng i
- Mức độ bảo hộ hữu hiệu:
ERP = [VADj – VAWj)/VAD]*100 Trong đó:
VADj: giá trị tăng thêm của ngành j theo giá nội địa (D)
D: giá biểu hiện mọi tác động của chính sách thương mại và các can thiệp chính phủ khác
VAWj: giá trị tăng thêm của ngành j theo giá thế giới (W)
ERP>0 có nghĩa là giá trị gia tăng của ngành là cao hơn trong mọi trường hợp thương mại tự do; ERP<0 và nếu VAw>0 thì ngành sẽ thuận lợi hơn khi tự do hóa thương mại; còn nếu VAw<0 thì ngành được bảo hộ quá cao
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ số này giúp xác định ngành nào sẽ có lợi thế và bất lợi do những thay đổi chính sách liên quan đến
tự do hóa thương mại Hiện nay, chỉ số này đang được WTO sử dụng trong cơ chế xem xét chính sách thương mại để báo cáo về các chính sách thương mại của các thành viên
1.1.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số PCI:
1.1.2.1 Khái niệm PCI
PCI là kết quả hợp tác nghiên cứu từ năm 2005 giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) - do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ Mục tiêu của chương trình này là nghiên cứu và hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, trở ngại của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh
và thực hiện quy định, thủ tục của Nhà nước Đồng thời, chương trình muốn cung cấp những thông tin hữu ích, giúp chính quyền địa phương xác định lĩnh vực cần ưu tiên nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh thu hút đầu
tư, giải quyết việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chỉ số PCI lý giải nguyên nhân vì sao một số tỉnh thành của đất nước lại tốt hơn các địa phương
Trang 27khác về sự phát triển năng động của khu vực kinh tế dân doanh, tạo việc làm
và tăng trưởng kinh tế
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi ở mức độ như thế nào cho sự phát triển của doanh nghiệp
1.1.2.2 Nội dung chủ yếu và cách tính các chỉ số PCI
Năm 2005, chỉ số tổng hợp này bao gồm 9 chỉ số thành phần, mỗi chỉ
số thành phần lý giải khá nhiều sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh của Việt Nam bao gồm:
(1) Chí phí gia nhập thị trường;
(2) Tiếp cận đất đai;
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin;
(4) Chi phí thời gian;
(5) Chi phí không chính thức;
(6) Thực hiện chính sách của Trung ương;
(7) Ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước;
(8) Tính năng động và tiên phong;
(9) Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Năm 2006 có thêm 2 chỉ số thành phần mới được đưa vào (Đào tạo lao động và Thiết chế pháp lý) để phản ánh hai khía cạnh quan trọng khác về nỗ lực của chính quyền tỉnh nhằm cải thiện môi trường kinh doanh ở địa phương Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu của các chỉ số thành phần hiện có cũng được cải tiến và hoàn thiện hơn bao gồm các chỉ số:
(1) Chi phí gia nhập thị trường;
(2) Tiếp cận đất đai;
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin;
Trang 28(4) Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; (5) Chi phí không chính thức;
(6) Ưu đãi đối với DNNN (Môi trường cạnh tranh);
(7) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh;
(8) Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân;
(9) Đào tạo lao động;
(10) Thiết chế pháp lý
Tới thời điểm năm 2009, Chỉ số PCI bao gồm 09 chỉ số thành phần là: Chi phí gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; Chi phí không chính thức; Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý
Trong đó:
(1) Chi phí gia nhập thị trường: đo lường về: i) Thời gian doanh nghiệp
phải chờ để đăng ký kinh doanh và xin cấp đất; ii) Thời gian chờ để nhận được tất cả các loại giấy phép cần thiết để tiến hành hoạt động kinh doanh; iii)
Số giấy phép, giấy đăng ký và quyết định chấp thuận cần thiết để chính thức hoạt động; và iv) Mức độ khó khăn theo đánh giá của doanh nghiệp để có được tất cả các giấy đăng ký, giấy phép và quyết định chấp thuận
(2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: đo lường về hai
khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: i) Việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không; và ii) Doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: đo lường khả năng tiếp cận
các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách, quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp
Trang 29(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: đo lường
thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Năm 2009, chỉ số này cũng bao gồm một bộ các chỉ tiêu đo lường sự tiến bộ của Cải cách Hành chính công
(5) Chi phí không chính thức: đo lường các khoản chi phí không chính
thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức này có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không
(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: Đo lường tính
sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: đo lường sự sẵn có của các dịch vụ hỗ
trợ kinh doanh như xúc tiến thương mại cho khu vực tư nhân, cung cấp các thông tin kinh doanh cho doanh nghiệp, dịch vụ tìm kiếm đối tác kinh doanh
và các dịch vụ công nghệ; số lượng các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân, và chất lượng của các dịch vụ này
(8) Chất lượng đào tạo lao động: đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh
để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm
(9) Thiết chế pháp lý: đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối
với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương
b) Cách tính chỉ số PCI:
Trang 30Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sẽ không đi sâu vào các phương pháp kỹ thuật để tính toán PCI mà chỉ giới thiệu quá trình xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh PCI như thế nào và các phương pháp được sử dụng
Quy trình xây dựng chỉ số PCI gồm 3 bước:
Bước 1: Thu thập số liệu: có hai loại dữ liệu được thu thập để xây dựng các chỉ số thành phần Thứ nhất là dữ liệu từ các phiếu điều tra đối với các doanh nghiệp dân doanh Thứ hai là dữ liệu từ niêm giám thống kê, từ nguồn của bên thứ ba khác như Ngân hàng Nhà nước, các công ty kinh doanh bất động sản và các hiệp hội doanh nghiệp
Bước 2: Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần Mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa theo thang điểm 10 (điểm 10 tương ứng với tỉnh có thực tiễn tốt nhất, điểm 1 tương ứng với tỉnh có thực tiễn kém nhất)
Quy chuẩn điểm số:
(1) Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốt
9*
Điểm của tỉnhi – Điểm nhỏ nhất của mẫu Điểm lớn nhất của mẫu – Điểm nhỏ nhất của mẫu +1 (2) Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt
11 - 9*
Điểm của tỉnhi – Điểm nhỏ nhất của mẫu Điểm lớn nhất của mẫu – Điểm nhỏ nhất của mẫu +1
Bước 3: Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI: PCI sử dụng phương pháp trọng số, mỗi chỉ số thành phần được tính toán trọng số tương ứng với mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với sự phát triển kinh tế tư nhân Để tính toán được trọng số đối với từng chỉ số thành phần, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến đo lường tác động của từng chỉ số thành phần tới một số chỉ tiêu có vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế
tư nhân Trong đó các biến số phản ánh kết quả phát triển kinh tế được tính toán dựa trên ấn phẩm: Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm năm 2000 – 2004 của GSO gồm có: (i) Tỷ lệ doanh nghiệp dân doanh đang hoạt động trên địa bàn tỉnh trên số dân của tỉnh theo số liệu năm 2004; (ii)
Trang 31Vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính bình quân đầu người (2000 – 2004); (iii) Lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp tính theo triệu đồng (2000 – 2004) Trong từng trường hợp, nhóm nghiên cứu hồi quy các biến số đại diện cho các chỉ tiêu phát triển kinh tế nêu trên, có khống chế ảnh hưởng
mà các điều kiện truyền thống ban đầu đem lại cho sự phát triển kinh tế tư nhân để tính toán mức độ đóng góp tương đối (trọng số) của chúng đối với các chỉ số thành phần Các điều kiện truyền thống cụ thể là:
(1) Khoảng cách tới thị trường, được tính bằng km từ trung tâm tỉnh lỵ tới Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh;
(2) Chất lượng nguồn nhân lực, được tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số tốt nghiệp phổ thông trung học trong năm 2000, đại diện cho lực lượng lao động phù hợp mà các doanh nghiệp dân doanh có thể tuyển dụng;
(3) Cơ sở hạ tầng ban đầu, được đại diện bằng số máy điện thoại bình quân đầu người trong năm 1995
Những trọng số này được làm tròn tới 5% gần nhất để phân thành ba loại cơ bản như trong Bảng 1.1
Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần:
Trọng số trung bình
Trọng số làm tròn
Loại trọng số
Trang 32Những trọng số này được gắn vào từng chỉ số thành phần tương ứng để tính ra chỉ số PCI tổng hợp cuối cùng
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng và ý nghĩa của PCI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương
a) Các nhân tố ảnh hưởng:
PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh mà không tính đến các yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội, những lợi thế sẵn có của địa phương
PCI được xây dựng trên cơ sở điều tra các doanh nghiệp dân doanh bằng cách mỗi năm, PCI gửi phiếu thống kê đến các doanh nghiệp trong các tỉnh thành và căn cứ theo phản hồi từ đây để xếp hạng Ngoài ra PCI còn sử dụng thêm nguồn dữ liệu từ niêm giám thống kê, từ nguồn của bên thứ ba khác như Ngân hàng Nhà nước, các công ty kinh doanh bất động sản và các hiệp hội doanh nghiệp Do đó có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng tới PCI gồm có:
* Nhân tố khách quan: nhân tố khách quan chủ yếu thuộc về phần kỹ
thuật liên quan đến phương pháp tính toán chỉ số PCI, phương pháp điều tra, tính thời gian và tính chính xác, tin cậy của thông tin
- Phương pháp tính toán chỉ số PCI Mỗi phương pháp có những lợi thế
và hạn chế của nó Cách thức tính toán, sự lựa chọn phương pháp tính toán là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn tới kết quả của PCI Phương pháp tính toán phải làm sao loại bỏ được những nhân tố ngẫu nhiên, sự chênh lệch vốn có thuộc về điều kiện tự nhiên, văn hóa – xã hội, kinh tế - chính trị giữa các tỉnh để có thế có một đánh giá khách quan về năng lực điều hành của chính quyền cấp tỉnh tại mỗi địa phương Phương pháp tính toán cũng cần phải loại bỏ được những sai số do thống kê hay do tính toán để có thể đưa ra một kết quả tương đối chính xác, có ý nghĩa thực tế và ý nghĩa so sánh giữa các địa phương Để loại bỏ tính ngẫu nhiên PCI sử dụng phương pháp tính toán có điều chỉnh theo trọng số, trong đó những chỉ số quan trọng sẽ được tính trọng số cao hơn, những chỉ số ít quan trọng hơn thì có trọng số thấp hơn
Trang 33- Phương pháp điều tra cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới kết quả và chất lượng của PCI Những phương pháp điều tra khác nhau đem lại các kết quả khác nhau do tỷ lệ phản hồi và những thông tin mà các phương pháp điều tra mang lại Tỷ lệ phản hồi trong nghiên cứu PCI là khá cao (năm
2009, 3.225 trong số 9.890 doanh nghiệp phản hồi điều tra ) Điều tra PCI là điều tra chọn mẫu, phân tầng theo cấp tỉnh PCI có trọng số là mẫu điều tra PCI được gắn trọng số theo tỷ lệ số doanh nghiệp tại tỉnh để đảm bảo mẫu toàn quốc có tính đại diện
- Tính thời gian cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới kết quả PCI Những thay đổi trong chính sách điều hành của địa phương, những thay đổi của bản thân các doanh nghiệp trên địa bàn hay những thay đổi về tình hình kinh tế trong nước và quốc tế những điều này ảnh hưởng rất lớn tới kết quả điều tra PCI Việc tiến hành điều tra vào các thời điểm khác nhau trong năm, trước và sau mỗi biến động của tình hình trong và ngoài nước, của địa phương hay những thay đổi trong chính sách pháp luật đem lại những kết quả không giống nhau Lựa chọn thời điểm điều tra phải đảm bảo tính ổn định của kết quả để
có thể so sánh giữa các năm đối với một địa phương cũng như giữa các địa phương khác nhau trong một năm
- Tính chính xác, tin cậy của thông tin: Thông tin là nguồn đầu vào tối quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thông qua một quy trình xử lý với hệ thống các phương pháp được sử dụng Thông tin phải đảm bảo tính chính xác, kịp thời, đáng tin cậy để từ đó có thể đưa ra những nhận định (trong nghiên cứu, phân tích) hay những quyết định (trong quản lý) về vấn đề liên quan mà thông tin phản ánh Hiện nay các thông tin về kinh tế - xã hội của Việt Nam chủ yếu do Tổng cục thống kê cung cấp thông qua Niên giám thống kê hàng năm Tuy nhiên tính kịp thời của nguồn thông tin này không cao (thường nửa cuối năm sau mới có đầy đủ các thông tin chính thức – là ấn phẩm Niên giám thống kê – của năm trước) Mặt khác, trình độ phát triển của
hệ thống thông tin của Việt Nam là không cao nên gây nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các thông tin
* Nhân tố chủ quan:
Trang 34- Nhân tố chủ quan trước hết thuộc về doanh nghiệp được sử dụng làm khách thể điều tra Các doanh nghiệp tham gia vào điều tra PCI là rất đa dạng: thuộc các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau (sản xuất/xây dựng, dịch vụ/thương mai, nông lâm thủy sản, tài nguyên thiên nhiên); theo các loại hình pháp lý (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán, công ty hợp danh ); theo thời điểm thành lập doanh nghiệp (đăng ký trước khi Luật Doanh nghiệp ra đời, đăng ký sau khi Luật Doanh nghiệp ra đời); theo quy mô người lao động (dưới 5 người, từ 5-9 người, từ 10-49 người, từ 50-200 người, trên 200 người); theo quy mô hoạt động – giá trị tổng tài sản, tỷ VNĐ (dưới 0.5, từ 0.5-1, từ 1-5, từ 5-10, từ 10-50, trên 50); theo lịch sử công ty (khởi sự là doanh nghiệp tư nhân, khởi sự là hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tiền thân là DNNN địa phương, tiền thân là DNNN Trung ương); theo trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp (Cử nhân, bằng Thạc sỹ quản lý kinh doanh, lãnh đạo
cơ quan nhà nước, quân nhân, trước là quản lý tại DNNN, trước là nhân viên tại DNNN – chưa từng quản lý); theo khách hàng chính (cá nhân và công ty Việt Nam, DNNN, cơ quan nhà nước, xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp, cá nhân hoặc công ty nước ngoài hoạt động tại Việt Nam) Những doanh nghiệp khác nhau sẽ có những ý kiến khác nhau về những vấn đề liên quan và quyết định kết quả của PCI
- Nhân tố chủ quan thứ hai thuộc về bản thân chính quyền địa phương, bởi Chính quyền địa phương chính là đối tượng điều tra Những chính quyền tốt sẽ có những ý kiến đánh giá tốt và thể hiện qua kết quả của PCI Chính quyền của các tỉnh, thành phía Nam luôn được đánh giá cao hơn các tỉnh, thành phía Bắc và điều này đã phản ánh trong kết quả của PCI, khi các tỉnh, thành có điểm số PCI cao thuộc về các tỉnh, thành phía Nam
b) Ý nghĩa của PCI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương:
Là một chỉ số đánh giá còn khá mới, nhưng PCI cũng đã có ý nghĩa nhất định trong đo lường năng lực thể chế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mỗi địa phương
Một là, PCI thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, tạo một môi
trường cạnh tranh lành mạnh Một môi trường cạnh tranh lành mạnh là một
Trang 35môi trường trong đó các doanh nghiệp hoạt động một cách bình đằng trong khuôn khổ pháp luật, vừa cạnh tranh vừa hợp tác cùng phát triển và thúc đẩy
sự phát triển của địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động PCI trở thành thước
đo quan trọng để các địa phương tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới.Với PCI, địa phương khó giấu được khiếm khuyết trong điều hành kinh tế cấp tỉnh Chỉ số PCI giúp khoanh vùng các khoảng trống để các địa phương tiếp tục cải cách Ví dụ, nhìn vào các thông số PCI, hạ tầng cơ
sở và công nghệ thông tin, các tỉnh sẽ tự lý giải được tại sao một số nơi PCI không cao nhưng vẫn có tốc độ tăng trưởng cao, sức hút mạnh với đầu tư trong và ngoài nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, các tỉnh cũng thấy được thực tế, dù tỉnh mình có hạn chế về địa lý, về điều kiện tự nhiên để phát triển cơ sở hạ tầng, thì vẫn còn khoảng trống rất lớn để cải thiện năng lực cạnh tranh
Hai là, nâng cao năng lực điều hành của chính quyền địa phương: PCI
khuyến khích sự năng động sáng tạo của địa phương để hướng các thành phần
dễ bị tổn thương nhất: các doanh nghiêp vừa và nhỏ Đóng góp cụ thể nhất cho phát triển bền vững chính là lắng nghe họ, xem họ cần gì để phục vụ Cạnh tranh trong PCI là sự cạnh tranh về sự hài lòng của doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ công Vấn đề không phải là thứ hạng cao thấp, mà vấn đề nằm ở mức độ thân thiện, làm hài lòng cộng đồng doanh nghiệp ở địa phương
đó Đó là sự cạnh tranh về nỗ lực hoàn thiện trong khuôn khổ quản trị của từng tỉnh, bằng sự chủ động, sáng tạo, tận tụy và thân thiện Ở nhiều quốc gia, thay vì xem GDP/đầu người là bao nhiêu để đánh giá sự thành công của điều hành, quản lý, chỉ số hạnh phúc và hài lòng của dân chúng được đặt là ưu tiên hàng đầu PCI chính là dạng chỉ số như vậy, đo sự hài lòng của doanh nghiệp với quản trị địa phương PCI giúp địa phương có được phương pháp để "vượt qua chính mình", cung cấp năng lực nội sinh để địa phương cải cách, không chờ vào thúc ép cải cách từ trên xuống Không có năng lực nội sinh này, mọi
hỗ trợ, thúc ép trở thành vô nghĩa PCI cũng góp phần thúc đẩy sự giao lưu, học tập kinh nghiệm lẫn nhau giữa các địa phương trong việc điều hành của chính quyền cấp tỉnh PCI không chỉ tác động tới những người đứng đầu cấp tỉnh mà còn tác động tới các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là ở các sở,
Trang 36ban ngành Trong hoàn cảnh gần nhau, cùng gặp những vấn đề như nhau, các địa phương có thể học tập, trao đổi lẫn nhau Các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long là ví dụ điển hình 3 năm trước, các tỉnh này nằm trong vị trí tốt rất ít, nhưng họ đã chuyển giao kinh nghiệm cho nhau rất nhanh, tạo hiện tượng lan tỏa PCI từ Cà Mau Nhìn vào bước tiến của Đà Nẵng, các đô thị như Hà Nội, Tp.HCM có thể học tập để vươn lên Tuy nhiên, không thể đem công thức đó, cách thức đó sao chép y nguyên giữa các địa phương, đề phòng xu hướng sao chép nội dung các chỉ đạo, nghị quyết của nhau Nếu chỉ làm kiểu hình thức,
ra nghị quyết mà không căn cứ thực chất để có một nghị quyết sát, đúng thì chỉ là hình thức, và làm nản lòng dân Song song với nỗ lực cải cách của địa phương, PCI đã trở thành một công cụ giám sát quan trọng của cơ quan dân
cử địa phương Trong kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai tháng 12/2007, PCI trở thành một trong những vấn đề được các đại biểu đưa lên chất vấn Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh, khi mà 5/10 chỉ số PCI của tỉnh này giảm điểm PCI phản ánh chính xác những đánh giá của doanh nghiệp về từng chuyển động chính sách của chính quyền địa phương, do đó, trở thành công cụ quan trọng để Hội đồng nhân dân các địa phương sử dụng cho chất vấn chính quyền Những chậm trễ về thủ tục hành chính gây phiền
hà, làm giảm điểm gia nhập thị trường, những chi phí không chính thức còn cao, những bất cập trong vấn đề nhân lực Cơ quan Đảng và cơ quan dân cử
có thể cùng chính quyền bắt tay tìm hiểu từng chỉ số, nguyên nhân thành công, thất bại trong các nỗ lực cải cách, để khắc phục và đẩy mạnh tốt hơn, sử dụng nguồn lực đúng và hiệu quả hơn trong điều kiện nguồn lực của từng địa phương có giới hạn PCI cho phép phân định tương đối rõ trách nhiệm với những câu hỏi khảo sát cụ thể Những sự tăng giảm chỉ số cần được quy rõ trách nhiệm của người liên quan Về chỉ số lao động, địa phương có thể thấy rõ: chỉ số thấp là do sở làm tốt chưa, trước hết là các trường đào tạo nghề của tỉnh; giáo dục phổ thông đã tạo được sự tin cậy của dân chưa, chính sách của
Sở Lao động – Thương binh – Xã hội đã tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển nhân lực như thế nào, đã có chính sách để thu hút nguồn lao động hấp dẫn ở bên ngoài thế nào
Trang 37Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, vai trò điều hành kinh tế của chính quyền địa phương càng trở nên đặc biệt quan trọng đối với những quyết định đầu tư của doanh nghiệp Việc bảo đảm các chính sách và quyết định rõ ràng, minh bạch và công bằng là hết sức cần thiết, giúp doanh nghiệp dự báo chính xác hơn về triển vọng kinh doanh trong dài hạn Chỉ số PCI trở thành một trong những công cụ định hướng tốt giúp chính quyền địa phương khắc phục những điểm yếu, phát huy những điểm mạnh để giúp các doanh nghiệp vượt qua những giai đoạn khó khăn của thời kỳ khủng hoảng kinh tế
Ba là, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển: PCI thúc đẩy sự
cải thiện môi trường kinh doanh, tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp dân doanh Khi môi trường kinh doanh được cải thiện một mặt thu hút các nhà đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, mặt khác khi khu vực kinh tế tư nhân phát triển sẽ thúc đẩy nền kinh tế của địa phương phát triển bởi đây là khu vực kinh tế năng động nhất, phát triển mạnh nhất và nó cũng là động lực của sự phát triển của nền kinh tế quốc gia nói chung cũng như nền kinh tế địa phương nói riêng Theo Thống kê của
các nhóm nghiên cứu PCI, việc tăng một điểm của chỉ số Tính minh bạch
trong PCI sẽ giúp tăng 13% số doanh nghiệp trên 1.000 dân, 17% đầu tư bình quân đầu người và 62 triệu đồng lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp Cải thiện
một điểm trong chỉ số Đào tạo lao động giúp tăng 30% số doanh nghiệp trên
1.000 dân, 47% đầu tư bình quân đầu người và 58 triệu đồng lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp
Bốn là, thay đổi bộ mặt xã hội – đô thị của địa phương: những nỗ lực
trong cải thiện điểm số PCI cũng là những nỗ lực trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thông qua các hoạt động nâng cao chất lượng hệ thông hạ tầng cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng dịch vụ
hỗ trợ doanh nghiệp, dịch vụ xã hội Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân thông qua những nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương, nâng cao chỉ số PCI sẽ góp phần vào giải quyết vấn đề lao động việc làm của địa phương Thu hút khu vực kinh tế tư nhân vào các chương trình mục tiêu của địa phương (phát triển hạ tầng cơ sở, giải quyết vấn đề lao động việc làm, an
Trang 38sinh xã hội ) không chỉ là vì sự phát triển của khu vực này mà cũng là vì sự phát triển của chính địa phương
1.1.2.4 Một số nhận xét về PCI
Báo cáo PCI năm 2009, được công bố ngày 14-1-2010, đánh dấu năm thứ 5 xây dựng và công bố Báo cáo đã đạt được những thành công nhất định, được đông đảo dư luận quan tâm và cũng được nhiều đối tượng khác nhau sử dụng kết quả (nhà nghiên cứu, nhà chính trị, nhà quản lý, các tổ chức quốc tế, các nhà đầu tư )
Tuy nhiên, PCI cũng còn một số hạn chế:
Một là, chưa phản ánh đúng nội hàm của khái niệm: tên gọi là Chỉ số
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, nhưng thực chất nghiên cứu PCI chỉ tập trung đánh giá chất lượng điều hành kinh tế tế để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) – tổ chức quốc tế nghiên cứu và công bố Báo cáo hàng năm về Năng lực cạnh tranh quốc gia – thì năng lực cạnh tranh (của quốc gia, địa phương, doanh nghiệp và sản phẩm)
là sự tích hợp của nhiều yếu tố, phản ánh qua 8 tiêu chí chủ yếu: độ mở kinh tế; thể chế; tài chính; lao động; công nghệ; kết cấu hạ tầng; quản trị và Chính phủ Như vậy, PCI mới chỉ phản ánh một phần trong tổng hòa nhiều yếu tốt của năng lực cạnh tranh của địa phương
Hai là, một số chỉ tiêu chưa phản ánh khách quan các nỗ lực của chính
quyền địa phương trong việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân Ví dụ:
Sự ổn định của mặt bằng sản xuất, câu hỏi B.4.3 và B.4.4 đề cập đến tính ổn định (khả năng bị thu hồi đất) và bồi thường thỏa đáng Điều này là khác nhau rất nhiều giữa các tỉnh có trình độ phát triển kinh tế khác nhau – đây là một yếu tố thuộc về điều kiện truyền thống Những tỉnh kém phát triển thường có khả năng bị thu hồi đất ít hơn rất nhiều so với những tỉnh phát triển do tính kém năng động và kém cạnh tranh của nền kinh tế (tác động tới nhu cầu sử dụng đất và tính hàng hóa của đất đai), mặt khác giá đất của những tỉnh này cũng ít biến động hơn so với các tỉnh phát triển nên việc xác định giá bồi thường thỏa đáng cũng dễ dàng hơn Như vậy có thể thấy yếu tố của điều kiện truyền thống vẫn còn ảnh hưởng tới kết quả của một số chỉ số
Trang 39Ba là, số liệu “cứng” sử dụng không thống nhất theo thời gian, thường
bị lạc hậu Trong tính toán PCI năm 2008 sử dụng những số liệu của Tổng cục Thống kê công bố từ Điều tra doanh nghiệp năm 2005 và 2006 Mặc dù, những chỉ tiêu đánh giá điều kiện truyền thống không thể thay đổi nhanh chóng, song số liệu lạc hậu sẽ ảnh hưởng tới chất lượng và giảm tính thuyết phục của kết quả
Bốn là, do đặc thù của phương pháp thu thập thông tin thông qua điều
tra xã hội học và do tỷ lệ phản hồi của các doanh nghiệp điều tra chưa cao (tỷ
lệ phản hồi năm 2006 là 20,45%, năm 2007 là 21%, năm 2008 là 26%, năm
2009 là 25%), có sự chênh lệch đáng kể giữa những nỗ lực của chính quyền địa phương trong cải thiện môi trường đầu tư và đánh giá của doanh nghiệp
về những kết quả của nỗ lực đó Trong nhiều trường hợp, những doanh nghiệp cảm thấy “bị thiệt thòi” nhất trong cạnh tranh để phát triển ở địa phương chính là những doanh nghiệp nhiệt tình nhất trong việc trả lời phiếu điều tra, còn những doanh nghiệp thấy tương đối hài lòng với môi trường đầu tư và kinh doanh trên địa bàn lại kém hào hứng trong việc tham gia vào các cuộc điều tra dạng này
Ngoài ra, cách lấy mẫu bình quân như nhau (100) về số lượng doanh nghiệp để khảo sát cho mỗi tỉnh, trong khi giữa các tỉnh không bằng nhau về tổng số lượng doanh nghiệp và định hướng phát triển kinh tế chủ lực cũng sẽ gây thiệt thòi cho các tỉnh , địa phương đặc thù (như Hà Nội…)
Về tổng thể, có thể nói dù còn có những hạn chế, song PCI vẫn là một
dự án nghiên cứu nghiêm túc, có kết quả được áp dụng hiệu quả trong thực tế Một số tỉnh đã xây dựng các chương trình, kế hoạch để cải thiện môi trường đầu tư của địa phương, trong đó đặc biệt chú trọng các biện pháp cải thiện các chỉ số thành phần của PCI được công bố
1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam về nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Trước và sau khi VCCI tiến hành chương trình điều tra, xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) vào năm 2005, Bình Dương được biết đến như
là một địa phương thành công trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo lập môi trường kinh doanh hấp dẫn thu hút đầu tư cho phát triển kinh tế - xã
Trang 40hội địa phương Trong 2 năm trở lại đây (2008-2009), Đà Nẵng vươn lên như
là một hiện tượng trong cải thiện năng lực cạnh tranh, một điểm đến nhiều hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Mặc dù không phải là một địa phương có vị trí nổi bật trên bảng xếp hạng của PCI, không hấp dẫn như Bình Dương hay là một hiện tượng nổi bật như Đà Nẵng, nhưng có thể nói Vĩnh Phúc là một địa phương có môi trường kinh doanh được đánh giá vào loại tốt nhất ở khu vực phía Bắc, tỉnh cũng đã có những biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh một cách đáng thuyết phục Trên cơ sở những thành tựu mà các địa phương trên đạt được về mặt thành tích như Bình Dương, Đà Nẵng hay những nỗ lực của một địa phương có nhiều nét tương đồng với Hà Nội, những bài học về nâng cao năng lực cạnh tranh của các địa phương này có thể coi là khá thiết thực đối với Hà Nội Kinh nghiệm chỉ ra được nhìn nhận trên 2 góc độ:
1.2.1 Những bài học thành công:
Một là, đẩy mạnh cải cách hành chính:
Cải cách hành chính là một trong những nội dung quan trọng đối với hoạt động thu hút đầu tư Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc là những địa phương ở Việt Nam đi đầu về cải cách hành chính Sự đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính đã được các địa phương này thực hiện tới mức tối đa, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và thực sự
đã khiến các nhà đầu tư hài lòng, không chỉ muốn đến đầu tư mà còn muốn thực hiện chương trình đầu tư lâu dài ở các địa phương này
Đà Nẵng đã triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa” từ năm 2001 Đến nay đã triển khai từ thành phố đến quận, huyện
và phường, xã; ngoài ra còn có các đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn (Thuế, Kho bạc, Bảo hiểm xã hội, Hải quan, Ngân hàng chính sách xã hội, Điện lực, Cảng vụ Đà Nẵng) và nhiều đơn vị trực thuộc sở, ngành Đà Nẵng
là một trong những đơn vị đi đầu thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số doanh nghiệp và khắc dấu, trả kết quả tại một đầu mối duy nhất là Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư; đối với các dự án đầu tư nước ngoài (ngoài khu công nghiệp) sẽ do Trung tâm Xúc tiến Đầu tư thực hiện