Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ III có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác BVMT và PTBV của đất nước, thể hiện tiếng nói chung của tất cả các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS VŨ HỒNG TIẾN
HÀ NỘI - 2011
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 6
1.1 Môi trường sinh thái 6
1.1.1 Khái niệm môi trường sinh thái 6
1.1.2 Phát triển bền vững và vai trò của môi trường sinh thái đối với phát triển bền vững 10
1.2 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với môi trường sinh thái 14
1.2.1 Tác động của môi trường sinh thái đối với phát triển kinh tế 14
1.2.2 Những tác động của phát triển kinh tế đến môi trường sinh thái 27
1.2.3 Sự cần thiết khách quan phải bảo vệ môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế bền vững 31
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với môi trường sinh thái 35
1.3.1 Phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở một số địa phương 35
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm đối với Hải Dương 41
Chương 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HẢI DƯƠNG 44
2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội tác động đến môi trường sinh thái ở Hải Dương 44
2.1.1 Một số tiềm năng thế mạnh của Hải Dương 44
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương 46
2.2 Khái quát về hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái ở Hải Dương 53
2.2.1 Những kết quả đạt được 53
2.2.2 Một số hạn chế 56
2.3 Hiện trạng môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế ở Hải Dương 58
2.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường sinh thái ở Hải Dương 58
2.3.2 Tác động tiêu cực của phát triển kinh tế tới môi trường sinh thái ở Hải Dương 67
2.3.3 Những nguyên nhân chính tác động xấu tới môi trường sinh thái do phát triển kinh tế ở Hải Dương 79
2.3.4 Những vấn đề môi trường bức xúc đặt ra ở Hải Dương 82
Trang 4Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA
MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG
Ở HẢI DƯƠNG 84
3.1 Vấn đề kinh tế môi trường trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 84
3.1.1 Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Bộ Chính trị 84
3.1.2 Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 89
3.1.3 Phương hướng bảo vệ môi trường giai đoạn 2011 - 2015 được nêu ra tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 3 90
3.2 Mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái ở Hải Dương 96
3.2.1 Mục tiêu tổng quát 96
3.2.2 Mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái giai đoạn 2006 - 2020 99
3.2.3 Định hướng chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Hải Dương từ năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 100
3.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa môi trường sinh thái với phát triển kinh tế bền vững ở Hải Dương 101
3.3.1 Nâng cao nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và môi trường sinh thái, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, vận động về bảo vệ môi trường 101
3.3.2 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường 104
3.3.3 Giải pháp về quy hoạch 105
3.3.4 Bố trí, sử dụng kinh phí và nguồn nhân lực hợp lý cho hoạt động bảo vệ môi trường 108
3.3.5 Giải pháp về khoa học và công nghệ, thông tin liên lạc 109
3.3.6 Thực hiện xã hội hoá và đầu tư bảo vệ môi trường 111
3.3.7 Giải pháp về chính sách phát triển 112
KẾT LUẬN 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 126
Trang 5MTST Môi trường sinh thái
ONMT Ô nhiễm môi trường
PTBV Phát triển bền vững
PTKT - XH Phát triển kinh tế - xã hội PTKT Phát triển kinh tế
PTKTBV Phát triển kinh tế bền vững TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TN&MT Tài nguyên và môi trường TTKT Tăng trưởng kinh tế
UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong vài chục năm trở lại đây, do sức ép về dân số và PTKT làm cho các nguồn TNTN ngày càng cạn kiệt, MTST mất cân bằng, suy thoái nghiêm trọng, thậm chí ở một số vùng bị phá hủy hoàn toàn Những vấn đề MTST toàn cầu như: biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, ĐDSH giảm sút, ô nhiễm không khí, nguồn nước đang là thách thức đối với sự tồn tại của loài người Việc duy trì chất lượng MTST nhằm hướng tới PTBV đang là yêu cầu đặt ra đối với toàn thế giới cũng như mỗi một quốc gia
Ở Việt Nam, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, đất nước đã thay
da đổi thịt, hàng loạt các KCN, khu chế xuất, các khu đô thị mới lần lượt mọc lên cùng với sự PTKT - XH là ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng gia tăng TNTN bị khai thác cạn kiệt đã gây ra những trở ngại to lớn cho giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh tế Hậu quả ô nhiễm nặng nề do bất chấp về môi trường trong quá trình PTKT - XH đang diễn ra ở hầu khắp các địa phương trong
cả nước nhưng đáng tiếc là điều đó hình như chưa "thấm" vào ý thức của nhiều người Kinh nghiệm cho thấy việc xử lý hậu quả ô nhiễm khó khăn và tốn kém hơn nhiều so với việc đầu tư, xử lý, ngăn chặn ô nhiễm ngay từ đầu
Trong những năm qua, Hải Dương đã có bước tiến mới trong PTKT ở tất
cả các lĩnh vực: sản xuất công nghiệp; sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các làng nghề; các hoạt động du lịch, dịch vụ, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản, y tế, giáo dục, đô thị hóa Song, vấn đề MTST trong PTKT hiện chưa được quan tâm đúng mức Do vậy, MTST ở Hải Dương đã có sự ô nhiễm, tuy chưa đến mức độ nghiêm trọng, song từng thành phần môi trường như đất, nước, không khí, bụi ở một số khu vực có xu hướng ô nhiễm gia tăng và biểu hiện sự suy thoái đặc biệt là tại các khu công nghiệp, CCN tập trung, môi trường làng nghề… PTKTBV không chỉ coi trọng TTKT mà phải đi đôi với bảo vệ MTST, điều đó đồng nghĩa với việc cần phải có những giải pháp tích cực và hữu hiệu để
ưu tiên giải quyết vấn đề MTST trong PTKT ở Hải Dương
Vì vậy, đề tài nghiên cứu "Môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế
ở Hải Dương" nhằm giải quyết các đòi hỏi bức xúc cả về lý luận và thực tiễn
đang đặt ra
Trang 72 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề MTST và PTKT đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin đề cập đến nhiều trong các tác phẩm của mình Đồng thời cũng được nghiên cứu trong nhiều tác phẩm của các nhà kinh tế học như: Kinh tế học của Paul Samuelson và Wiliam D Nordhous, Kinh tế học của David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbusch
Mác-Vấn đề này cũng được đặt ra tại Hội nghị môi trường và PTBV có sự tham gia của các nguyên thủ quốc gia tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) 1992,
và Hội nghị về PTBV có tại Johannesburg (Nam Phi) 2002
Ở nước ta, vấn đề BVMT được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh CNH, HĐH Luật Bảo vệ môi trường ra đời năm 1993, sau đó là hàng loạt các văn bản dưới luật liên quan đến vấn đề này được ban hành và được tổ chức thực hiện trong phạm vi cả nước Đặc biệt vào năm 1998, lần đầu tiên Hội nghị môi trường toàn quốc được tổ chức Tiếp đó, ngày 22 tháng 4 năm 2005, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ hai đã được tổ chức tại Hà Nội
Qua hai kỳ Hội nghị môi trường toàn quốc, đã có gần 1000 báo cáo tham luận và hơn 2000 đại biểu tham dự Những báo cáo tham luận này tập trung vào
10 vấn đề chính: Môi trường đô thị và công nghiệp; môi trường nông thôn, miền núi, biển và ven bờ; hiện trạng môi trường Việt Nam; công nghệ môi trường; quản lý môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; phương pháp luận nghiên cứu môi trường; kinh tế môi trường; giáo dục đào tạo và nâng cao nhận thức về môi trường
Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ 3 (diễn ra trong hai ngày 17 và
18/11/2010) có quy mô lớn nhất từ trước đến nay với thông điệp: Bảo vệ môi trường - tương lai cho phát triển bền vững Hội nghị đưa ra mục tiêu tổng kết,
đánh giá kết quả đạt được và những bài học kinh nghiệm sau gần sáu năm triển khai Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 11/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; năm năm thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; tiếp tục quán triệt Chỉ thị số 29-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về việc tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW
Trang 8Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ III có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác BVMT và PTBV của đất nước, thể hiện tiếng nói chung của tất cả các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và cộng đồng cùng cam kết và thống nhất hành động triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về BVMT trong thời gian tới, phấn đấu đạt được các chỉ tiêu về môi trường mà Quốc hội đã đặt ra trong 5 năm tới và trong năm 2011 nhằm bảo đảm các mục tiêu PTKT - XH đã đề ra, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng gia tăng ONMT, suy thoái tài nguyên, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững
Ngoài ra, vấn đề MTST trong PTKT cũng đã được quan tâm nghiên cứu
cả về lý luận cũng như thực tiễn trong các văn kiện của Đảng, tạp chí nghiên cứu
lý luận, nghiên cứu kinh tế, nghiên cứu chuyên ngành và những công trình khoa học được đăng tải dưới hình thức bài tạp chí, sách chuyên khảo, luận văn, luận
án Có thể kể đến một số công trình của một số tác giả sau có liên quan ít nhiều đến đề tài nghiên cứu:
- GS.TS Trần Văn Chử, Tài nguyên môi trường và PTBV ở Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2004
- Phạm Thị Ngọc Trầm, Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp, Nxb CTQG, HN, 1997
- Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường (2005) "Xung đột giữa PTKT
Các công trình trên đã đề cập đến thực trạng suy thoái MTST, làm rõ cơ
sở lý luận cũng như các vấn đề thực tiễn đặt ra và đưa ra nhiều giải pháp để PTKT và BVMT Phần lớn các công trình nói trên, vấn đề MTST và PTKT được nghiên cứu trong mối quan hệ độc lập tương đối, mối quan hệ giữa chúng chủ yếu ở tầm quốc gia Vấn đề MTST trong PTKT gắn với bảo vệ MTST ở một địa phương (tỉnh) chưa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là đối với Hải Dương
Vì vậy, đề tài "Môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế ở Hải
Trang 9Dương" được nghiên cứu nhằm góp phần luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn
về mối liên hệ giữa PTKT và MTST, hướng tới đề xuất các giải pháp để cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ MTST đảm bảo PTKT nhanh, bền vững trên địa bàn tỉnh Hải Dương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp giải quyết mối
quan hệ biện chứng giữa MTST với PTKT bền vững ở tỉnh Hải Dương
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa MTST với PTKT
- Đánh giá tác động của PTKT đến MTST và vai trò của MTST đối với PTKT ở Hải Dương
- Luận giải những phương hướng, giải pháp bảo vệ MTST phục vụ PTKT bền vững ở Hải Dương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa MTST với PTKT bền vững ở Hải Dương, trong đó nhấn mạnh sự tác động của PTKT đến MTST và sự cần thiết phải bảo vệ MTST để PTKT bền vững ở Hải Dương
* Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: từ năm 1997 - 2020
- Phạm vi lãnh thổ: trên địa bàn tỉnh Hải Dương
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp tiếp cận nghiên cứu:
Quán triệt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan
hệ giữa MTST và PTKT, đồng thời vận dụng phép duy vật biện chứng, phương pháp lôgic - lịch sử để nghiên cứu các nội dung của đề tài
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: hệ thống hóa và xử lý tài liệu, phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh…
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, điều tra, khảo sát, thu thập số liệu…
6 Đóng góp của luận văn
Trang 10- Khái quát những vấn đề lý luận về MTST và vai trò của nó đến PTKT
- Phân tích, đánh giá những tác động của PTKT đến MTST ở Hải Dương
- Đánh giá hậu quả của ô nhiễm MTST đối với PTKT, qua đó đề ra những giải pháp giải quyết vấn đề MTST nhằm PTKT bền vững ở Hải Dương
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, quản lý kinh tế, giảng viên các trường đại học, cao đẳng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn có 3 chương, 9 tiết
Chương 1: Môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế - cơ sở lý luận và
kinh nghiệm ở một số địa phương
Chương 2: Thực trạng môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh
tế ở Hải Dương
Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu giải quyết mối quan hệ giữa
môi trường sinh thái với phát triển kinh tế bền vững ở Hải Dương
Trang 11Chương 1 MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Môi trường sinh thái
1.1.1 Khái niệm môi trường sinh thái
Trên thế giới hiện nay, dù là nước đang phát triển hay phát triển, nước giàu hay nước nghèo thì một vấn đề chung đặt ra là làm thế nào để có mối quan
hệ hài hòa giữa TTKT và BVMT Bởi vì, muốn tăng trưởng phải khai thác, sử dụng nhiều tài nguyên, và phát thải cũng nhiều hơn, tất nhiên là không tránh được những tác động tiêu cực đến môi trường Tại các nước đang phát triển, mối quan hệ giữa nghèo khổ và suy thoái môi trường đã tạo nên một vòng luẩn quẩn là: sống dựa nhiều vào nguồn lợi thiên nhiên, thiếu tri thức, thiếu vốn, thiếu công nghệ nên năng suất lao động thấp, sử dụng năng lượng và nguyên liệu với hiệu suất và hiệu quả thấp lại tốn nhiều tài nguyên và môi trường không xử lý được…
Đã có nhiều báo cáo khoa học của các nước khác nhau nêu lên những vấn
đề mới trên phạm vi toàn cầu liên quan đến các cơ chế điều tiết của sinh quyển như: lỗ hỏng tầng ôzôn, hiệu ứng nhà kính, tính ĐDSH bị suy giảm Nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, những chiều hướng xấu của vấn đề MTST đặc biệt là những vấn đề về sự biến đổi của môi trường, nguồn sống của loài người đang bị cạn kiệt, MTST bị hủy hoại
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm “Môi trường sinh thái” Để hiểu rõ hơn khái niệm “Môi trường sinh thái” chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm liên quan như: “môi trường”, “sinh thái”, “hệ sinh thái”
* Khái niệm môi trường
Theo định nghĩa của UNESCO (năm 1981), “Môi trường của con người
bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống
và lao động, họ khai thác TNTN và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhau cầu của mình” [32, tr.11]
Luật Môi trường sửa đổi năm 2005 quan niệm: “Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
Trang 12sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [34, tr.11]
Theo Từ điển Tiếng Việt, môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên,
xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy [44, tr.790]
Còn theo quan niệm của tác giả Lê Huy Bá trong cuốn “Tài nguyên môi
trường và phát triển bền vững” được nhiều người đồng tình thì: “Môi trường là
các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, lý học, hóa học, sinh học cùng tồn tại trong một không gian bao quanh con người Các yếu tố đó có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cá thể sinh vật hay con người để cùng tồn tại và phát triển Tổng hòa của các chiều hướng phát triển của từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật của hệ sinh thái và của
xã hội con người” [4, tr.7]
* Khái niệm sinh thái, hệ sinh thái
Theo Từ điển Tiếng Việt, “sinh thái” là quan hệ giữa sinh vật, kể cả con
người và môi trường; “sinh thái” là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống
Sinh vật và môi trường xung quanh thường xuyên có tác động qua lại với nhau tạo thành một đơn vị hoạt động thống nhất Các sinh vật trong một đơn vị bất kỳ như thế sẽ gồm rất nhiều các loài sinh vật sinh sống và đó chính là quần
xã sinh vật, chúng tương tác với môi trường vật lý bằng các dòng năng lượng và vật chất tạo nên cấu trúc dinh dưỡng và chu trình tuần hoàn vật chất giữa thành
phần hữu sinh và vô sinh thì được gọi là “hệ sinh thái” [44, tr.791]
* Khái niệm môi trường sinh thái
Theo Từ điển Tiếng Việt, MTST là toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ
của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến đời sống của xã hội loài người [44, tr.790]
Còn theo Phạm Thị Ngọc Trầm, MTST bao gồm tất cả những điều kiện
xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể - bảo vệ con người MTST là tất cả những điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội [43, tr.16]
Từ các ý kiến trên, chúng tôi cho rằng: MTST là toàn bộ môi trường tự nhiên liên quan đến sự sống của con người và xã hội loài người Nó là sản phẩm
và cũng là điều kiện của quá trình sinh tồn của con người và các loài sinh vật khác trong mối quan hệ cộng sinh và quy định, chế ước lẫn nhau
Như vậy, có thể hiểu MTST là một chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ và
Trang 13tương tác với nhau giữa điều kiện tự nhiên và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Sự rối loạn, bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên Hoạt động của con người và xã hội được xem là một khâu, một yếu
tố trong hệ thống, thông qua quá trình lao động, con người khai thác, bảo vệ, bồi đắp cho thiên nhiên
Do sự PTKT, môi trường tự nhiên bị đe dọa nghiêm trọng, phá hủy sự cân bằng sinh thái và để lại những hậu quả không lường được Sự thay đổi của các nhân tố MTST có thể chia thành các nhân tố điều khiển được và các nhân tố không điều khiển được Các nhân tố điều khiển được là sự gây ô nhiễm bầu khí quyển, nguồn nước, sự xói mòn đất và sự hủy diệt giới động thực vật… Những nhân tố không điều khiển được là loại đất, địa hình vùng, chế độ gió, chế độ nhiệt, tình hình động đất trên lãnh thổ…Việc tính đến các nhân tố không điều khiển được của môi trường cho phép xây dựng sát thực tế hơn các phương án PTKT chấp nhận được trên vùng lãnh thổ đã cho Đối với các nhân tố điều khiển được của môi trường tự nhiên cần có các thông số kỹ thuật, kinh tế và xã hội cần thiết mới có thể xác định được mục tiêu tối ưu của các phương án
Bảo vệ MTST đã, đang và sẽ là vấn đề mang tính toàn cầu Nội dung cơ bản của BVMT là: bảo vệ rừng và đảm bảo độ che phủ trên lãnh thổ, chống ô nhiễm không khí, nước và đất, giải quyết và tận dụng các phế thải, chống xói mòn, hoang mạc hóa đất đai, quản lý nơi cư trú cho các loài sinh vật, bảo vệ và chống sự tiêu diệt các loài sinh vật quý hiếm, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNTN
Muốn giải quyết tốt vấn đề MTST cần nắm được các khái niệm liên quan:
* Bảo vệ môi trường: Là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,
sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho con môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNTN
BVMT còn là tập hợp các biện pháp giữ gìn, bảo vệ, phục hồi, sử dụng một cách hợp lý môi trường sinh học, MTST; nghiên cứu, thử nghiệm các thiết
bị, áp dụng các khoa học công nghệ, ít hoặc không có phế thải nhằm tạo ra cuộc sống tối ưu cho con người
* Tiêu chuẩn môi trường: Theo Luật BVMT của Việt Nam "Tiêu chuẩn
môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn
Trang 14cứ để quản lý môi trường" [15]
* Ô nhiễm môi trường: là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm
tiêu chuẩn môi trường Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại [31]
- Ô nhiễm môi trường nước: là sự thay đổi thành phần và tính chất của
nước chủ yếu do con người gây ra, ảnh hưởng đến đời sống con người và sinh vật, ảnh hưởng đến sự PTKT - XH
- Ô nhiễm không khí: là sự biến đổi trong thành phần không khí làm cho
nó không sạch, bụi, có mùi khó chịu
- Ô nhiễm đất: ô nhiễm đất xảy ra khi có mặt một số chất lạ và hàm lượng
của chúng vượt quá khả năng chịu tải của đất
- Ô nhiễm tiếng ồn: âm thanh gây nên do những rung động trong không
khí gây kích thích cảm giác nghe Ô nhiễm tiếng ồn thường do các phương tiện giao thông, các máy móc hoạt động trong sản xuất, sinh hoạt
* Chất gây ô nhiễm: là những chất làm cho môi trường trở thành độc hại
Khi đó môi trường không những mất hết những giá trị của mình mà còn trở thành độc hại đối với con người và sinh vật
* Chất thải rắn: là vật liệu ở dạng rắn (từ thực phẩm không còn sử dụng
được, các loại thải rắn như bao bì, chai lọ, các loại vôi, gạch vụn từ công trình xây dựng…) bị loại bỏ thường có nguồn gốc từ các khu thương mại, dân cư, nhà máy, trong sản xuất nông nghiệp
* Chất thải nguy hại: là loại chất thải có nồng độ độc tố cao, có ảnh
hưởng trực tiếp đến môi trường
* Tai biến môi trường: Là quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi
trường Quá trình tai biến phản ánh tính nhiễu loạn, tính bất ổn của hệ thống Tai biến môi trường thường có 2 loại:
- Loại cấp diễn: xảy ra nhanh, mạnh, đột ngột và cũng nhanh chóng kết thúc, được xen kẽ một khoảng thời gian dài bình yên như: động đất, sóng thần, bão, lũ lụt…
- Loại trường diễn: xảy ra chậm, trường kỳ như sa mạc hóa, nhiễm mặn đất ven biển… [31]
* Suy thoái môi trường: sự thay đổi chất lượng và số lượng của thành
phần môi trường; gây ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và thiên nhiên
* Sự cố môi trường: là những tai biến, rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
Trang 15động của con người hoặc những biến đổi bất thường của thiên nhiên gây ra suy thoái môi trường
* Công nghệ sạch: là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không
gây ONMT, thải hoặc phát thải ra ở mức thấp nhất chất gây ra ONMT
* Kiểm soát ô nhiễm: là việc thực hiện tất cả các hoạt động nhằm làm cho
môi trường nói chung, các thành phần môi trường nói riêng không bị ô nhiễm hoặc nếu có bị ô nhiễm thì có thể chủ động khắc phục được [34]
Qua các khái niệm trên có thể thấy quá trình PTKT gắn với BVMT là việc
sử dụng hợp lý các nguồn lực (đặc biệt là TNTN) bằng các biện pháp, công cụ, phương tiện… làm cho nền kinh tế tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài với CCKT hợp lý, phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm để bảo vệ MTST, hướng tới PTBV
1.1.2 Phát triển bền vững và vai trò của môi trường sinh thái đối với phát triển bền vững
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển, tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế
Thuật ngữ "phát triển" đã được sử dụng quen thuộc trên các phương tiện thông tin, trong các công trình nghiên cứu khoa học và trong cuộc sống hàng ngày Phát triển là một xu hướng tự nhiên đồng thời cũng là quyền của mỗi cá nhân hay mỗi quốc gia Con người vừa là đối tượng, vừa là động lực của phát triển Mục tiêu của phát triển là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con người
* Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa Phát triển là xu hướng tự nhiên của mỗi cá nhân hoặc cộng đồng của con người
[11, tr.208]
* TTKT là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản
lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định [12, tr.38]
Theo lý thuyết TTKT hiện đại, các yếu tố tác động đến tăng trưởng bao gồm nguồn lao động, vốn sản xuất, TNTN và khoa học công nghệ TTKT trước hết thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó TTKT là tiền đề vật chất để giải quyết tình trạng đói nghèo và hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội khác Vì thế, TTKT nhanh là mục tiêu theo đuổi của các quốc gia
Trang 16* Phát triển kinh tế: là sự TTKT gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế
kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội [12, tr.44]
Như vậy, TTKT chưa phải là PTKT Tăng trưởng mới chỉ là điều kiện cần
để PTKT Điều kiện đủ của PTKT là trong quá trình TTKT phải đảm bảo được tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục tiêu và đảm bảo TTKT trong tương lai
1.1.2.2 Phát triển bền vững và vai trò của môi trường sinh thái đối với phát triển bền vững
Có thể nói rằng, mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác đều không thể đình chỉ tiến hóa và ngừng sự phát triển của mình Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường PTBV là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, do đó, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất Dưới đây là một số định nghĩa về PTBV:
- Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết PTBV, nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, BVMT một cách khoa học đồng thời với sự PTKT
- PTBV là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương
tự trong tương lai [6, tr.23]
Định nghĩa này bao gồm 2 nội dung then chốt: các nhu cầu của con người
và những giới hạn đối với khả năng của môi trường đáp ứng các nhu cầu hiện tại
và tương lai của con người
- PTBV là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và phát triển các nguồn TNTN để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau [30, tr.17]
Tuy nhiên, định nghĩa được sử dụng nhiều hơn cả trong các nghiên cứu về PTBV là định nghĩa của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED)
đưa ra năm 1987: "PTBV là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Định nghĩa này được mở rộng ra với 3 cấu thành về sự PTBV:
+ Về kinh tế: một hệ thống bền vững về kinh tế phải thể hiện ở sự tăng
Trang 17trưởng và phát triển lành mạnh của các ngành kinh tế đặc biệt là các ngành kinh
tế liên quan đến sử dụng TNTN, có thể tạo ra hàng hóa và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ về nợ bên ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến mỗi ngành sản xuất
+ Về xã hội: hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm: y tế, giáo dục…, công bằng giới tính, sự tham gia và trách nhiệm chính trị cho mọi người, đảm bảo sức khỏe, giảm đói nghèo, hạn chế các tệ nạn xã hội
+ Về môi trường: hệ thống PTBV thể hiện ở sử dụng hợp lý TNTN, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường Việc khai thác các nguồn lực không thể tái tạo không được vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì ĐDSH, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh
tế, hạn chế ONMT, có chính sách và kế hoạch hành động cải thiện môi trường
Như vậy, "PTBV là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thể hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa TTKT, đảm bảo tiến bộ xã hội và BVMT" [32, tr.7]
BVMT là một trong 3 thành tố hay trụ cột của PTBV ở bất kỳ quốc gia nào trong thế giới đương đại và tương lai Trong thời đại ngày nay, BVMT và PTBV không còn là vấn đề riêng của một quốc gia, một khu vực mà đã thực sự trở thành mối quan tâm toàn cầu Thực tế cho thấy tính nguy cấp, phức tạp và nan giải của các vấn đề môi trường đang đòi hỏi chúng ta cần phải nhìn nhận và đánh giá đúng đắn vai trò của môi trường trong quá trình thực hiện PTBV
Có thể nói môi trường và PTBV là một vấn đề có tính cấp thiết liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và xuyên suốt nhiều thời đại Quản lý môi trường, bảo vệ, cải thiện môi trường, sử dụng hợp lý các yếu tố môi trường và các điều kiện thuận lợi của môi trường nhằm phục vụ sự tồn tại và PTKT - XH loài người là những nội dung quan trọng trong hoạt động hiện nay và mai sau của toàn nhân loại
Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã đặt PTBV trên cơ sở nâng cao, cải thiện chất lượng sống của con người theo phạm vi, khả năng chịu được của các
hệ sinh thái Đó là mục tiêu về PTBV, chỉ tiêu đánh giá cho quá trình PTKT -
Trang 18XH của mỗi quốc gia trên thế giới
PTKTBV là bộ phận cấu thành quan trọng của PTBV ở mỗi quốc gia hiện nay Đó là sự biến đổi về quy mô, cơ cấu, chất lượng của nền kinh tế gắn với việc đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội và sử dụng hợp lý tài nguyên, BVMT
Như vậy, nội dung cơ bản của PTKTBV bao gồm: đạt mức tăng trưởng tương đối cao và ổn định, với cơ cấu kinh tế hợp lý và tiến bộ, sử dụng nguồn lực tiết kiệm và hiệu quả
Để đảm bảo PTKTBV cần chú ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, TTKT hợp lý, có chất lượng cao và duy trì trong khoảng thời
gian dài
Thứ hai, TTKT gắn với việc hình thành CCKT và chuyển dịch CCKT
theo xu hướng phát triển một cách hợp lý được thể hiện bằng tỷ lệ % đóng góp vào GDP của các ngành kinh tế đất nước
Thứ ba, PTKT với việc duy trì sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế đất nước
Đó là những cân đối cần quan tâm của đất nước như: đầu tư và tiêu dùng, đầu tư trong nước và ngoài nước
Thứ tư, sự lan tỏa của TTKT đến các vấn đề xã hội, dẫn đến xóa đói, giảm
nghèo và công bằng xã hội
Việt Nam đang thực hiện đường lối đổi mới, tiến hành CNH , HĐH trên quan điểm PTBV với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong những năm đầu thế kỷ XXI, quan điểm PTBV của Việt Nam đã được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội Đảng IX, về chiến lược PTKT - XH giai
đoạn 2001 - 2010, theo đó PTBV của Việt Nam là: "Phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường ", "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học" [26, tr.162-163] Đến Đại hội Đảng XI,
trong chiến lược PTKT - XH giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định: “phát triển
nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược… Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu” [28, tr.98-99]
1.2 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với môi trường sinh thái
1.2.1 Tác động của môi trường sinh thái đối với phát triển kinh tế
Trang 19Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, đã có một thời PTKT được đặt lên hàng đầu, được ưu tiên số một trong các chính sách của chính phủ, thậm chí lấn át các yếu tố khác như xã hội, môi trường Người ta cho rằng, khi kinh tế đã phát triển thì có thể dùng nguồn lực kinh tế để khắc phục những vấn đề tài
nguyên, môi trường và xã hội Đã có những giai đoạn, khuynh hướng “phát triển
với bất cứ giá nào” đã gây ra những hậu quả nặng nề cho văn hóa, xã hội, môi
trường mà nhiều quốc gia phát triển đến nay vẫn còn phải khắc phục Trong thời điểm hiện nay, cuộc chạy đua PTKT giữa các quốc gia, các khu vực kinh tế trên thế giới đang diễn ra gay gắt thì khuynh hướng phát triển với bất cứ giá nào vẫn được tôn sùng đặc biệt trong các quốc gia đang phát triển Người ta có thể hy sinh các yếu tố khác như chênh lệch giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong xã hội, suy thoái về đạo đức, lối sống hay thậm chí hy sinh cả môi trường để PTKT Sự khát khao PTKT với bất cứ giá nào đã mang lại hậu quả là môi trường bị suy thoái, tài nguyên tái tạo và không tái tạo bị khai thác quá mức dẫn đến những nền tảng cho PTKT bị yếu kém, thu hẹp Bên cạnh đó, dân số ngày càng tăng lên gây nên sự nghèo khổ cùng cực của con người Với những nước nghèo như Việt Nam mà cuộc sống của người dân còn bị phụ thuộc chính vào khai thác các loại TNTN thì tính bền vững về sinh thái và kinh tế cũng quan trọng như tính bền vững về xã hội trong quá trình phát triển Cũng vì vậy, nếu sự phá hủy môi trường, làm tổn hại đến các hệ sinh thái, cơ sở cho sự sinh trưởng của các sản lượng sinh học như đất, nước, các quần thể động thực vật, rừng, biển và bờ biển với nhịp điệu như hiện nay thì sự PTBV không thực hiện được
Ngược lại với khuynh hướng trên là khuynh hướng "tăng trưởng bằng
không hoặc âm” để bảo vệ các nguồn tài nguyên hữu hạn hoặc chủ trương không
sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo để bảo vệ chúng, nhưng quan điểm này là không tưởng nhất là đối với các nước đang phát triển, vì nguồn TNTN mãi mãi vẫn là nguồn vốn cơ bản để PTKT Các nước phát triển ngày nay thường hạn chế khai thác tài nguyên trong nước, thay vào đó là tăng cường khai thác tài nguyên ở các nước đang phát triển thông qua các dự án đầu tư hoặc nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng hóa
Như vậy, PTKT và môi trường không phải là 2 vấn đề đối kháng nhau đối với một quốc gia phát triển Tại Hội nghị Môi trường toàn quốc ngày 22/4/2005
tại Hà Nội, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhận định: "Đây là thời điểm mà
BVMT đang trở thành vấn đề thời sự của toàn cầu Kinh nghiệm cho thấy, những
Trang 20quốc gia đi theo con đường hy sinh môi trường để PTKT đều phải trả giá đắt Vì
sự trường tồn của Trái đất - Ngôi nhà chung của chúng ta, vì lợi ích của mỗi quốc gia và lợi ích của mỗi người dân chúng ta, chúng ta phải không ngừng nâng cao tính bền vững của quá trình phát triển” [37] Ở Việt Nam, trải qua hơn
20 năm đổi mới đã thể hiện được tính đúng đắn của đường lối phát triển Kinh tế tăng trưởng liên tục, xã hội ổn định, chúng ta là một trong những quốc gia tích cực tham gia vào công tác BVMT, duy trì và bảo vệ các nguồn TNTN, tham gia nhiều công ước quốc tế trong lĩnh vực BVMT, ĐDSH và PTBV Chúng ta đã xây dựng "Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam" với những mục tiêu chính là đáp ứng những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đảm bảo sự phát triển hài hòa cả 3 mặt: kinh tế, xã hội, môi trường Mối quan hệ giữa PTKT và BVMT ở nước ta đã được khẳng định tổng quát trong Chỉ thị số 36 CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, trong đó nhấn
mạnh: "BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ
trương và các kế hoạch PTKT - XH của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảo PTBV, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước" [9]
Để PTBV chúng ta vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân đồng thời lại phải bảo toàn được hệ sinh thái và ĐDSH Con người chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của thế giới chúng ta và sự bảo toàn các hệ sinh thái là một phần trong những cố gắng lớn lao để đảm bảo cuộc sống
cả loài người Bất cứ một kế hoạch BVMT thực sự nào cũng đều phải bao gồm những biện pháp kinh tế nhằm xóa đói, giảm nghèo vì nạn đói nghèo là một trong những nguyên nhân chính phá hoại môi trường Có thể nói PTKT phải gắn với BVMT và BVMT để tạo nguồn lực cho PTKT là mục tiêu của mỗi quốc gia
1.2.1.1 Tác động tích cực của môi trường sinh thái đối với phát triển kinh tế
- Môi trường là sinh thái, sinh quyển cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người
Trong hoạt động sống của mình, con người cần phải có một không gian sống nhất định như: nhà để ở, nơi nghỉ ngơi, đất để sản xuất nông nghiệp, lâm sản, thủy sản Trung bình mỗi ngày, mỗi người đều cần khoảng 4m3 không khí sạch để hít thở, 2,5 lít nước để uống và với một lượng lương thực, thực phẩm tương ứng với 2000 - 2400 kcal Như vậy, chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi người Tuy nhiên, lịch sử loài
Trang 21người đã cho thấy rõ là trong khi trái đất không thay đổi về độ lớn nhưng dân số thế giới lại không ngừng gia tăng, vì vậy, diện tích đất bình quân đầu người (không gian sống) ngày càng chật hẹp và giảm sút nhanh chóng Ở Việt Nam, diện tích không gian sống của con người ngày càng bị thu hẹp, bình quân đất canh tác nông nghiệp hiện nay khoảng 0,1 ha/người, trong khi bình quân của thế giới là 0,27 ha/người Trước tình hình đó đã xuất hiện quan điểm coi việc dân số gia tăng không kiềm chế được là cuộc khủng hoảng chủ yếu mà nhân loại ngày nay đang phải đương đầu, là nguyên nhân chính của nạn đói nghèo, lạc hậu, mức sống thấp, suy dinh dưỡng và bệnh tật, sự xuống cấp của môi trường và một loạt các vấn đề xã hội khác Bên cạnh đó, sự phân bố dân số không đồng đều càng làm găy gắt hơn về không gian sống ở nơi mật độ dân số tập trung cao, đặc biệt
là tại thành phố lớn và các KCN tập trung của nhiều quốc gia
- MTST là nơi cung cấp điều kiện sống, nguồn TNTN làm thành đối tượng lao động và các nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất ra của cải vật chất của loài người
Từ thời nguyên thủy đến nay, để tồn tại và phát triển thì con người đã liên tục khai thác và sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên vào các hoạt động sống của mình Nguồn tài nguyên chứa trong môi trường rất đa dạng và phong phú nhưng không phải là vô tận Sự khai thác quá mức đã làm cho nhiều nguồn tài nguyên ở nhiều nơi bị cạn kiệt Sự tăng cường thăm dò, khảo sát TNTN cùng với sự mở mang các vùng đất mới hoặc việc sử dụng những công nghệ mới thay thế nguyên, nhiên, vật liệu… chính là những biện pháp tình thế của con người hiện nay để bù đắp sự suy giảm chức năng của môi trường mà nguyên nhân chính là do con người gây ra
- MTST là nơi chứa đựng chất thải của quá trình sinh hoạt và quá trình sản xuất của con người
Trong thời kỳ sơ khai, khi dân số nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Vì đồng thời với quá trình con người thải các loại chất khác nhau vào môi trường là quá trình môi trường không ngừng phân hủy, hấp thụ và trung hòa các chất thải để chúng trở thành vô hại, ít gây độc nhờ các lực lượng tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học…) Khả năng tiếp nhận và phân hủy chất thải trong một khu vực nhất định được gọi là khả năng
Trang 22đệm của khu vực đó Khi lượng chất thải vượt quá khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy thì chức năng này bị vi phạm, chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường sẽ bị ô nhiễm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người, trở thành lực cản của tiến bộ xã hội
- Môi trường là nơi giảm nhẹ những tác động bất lợi từ thiên nhiên
Sự phát sinh, phát triển của sự sống trên trái đất nhờ vào hoạt động của hệ thống các thành phần môi trường như khí quyển (không khí), thủy quyển (nước),
và thạch quyển (đất, đá) Khí quyển giữ cho trái đất tránh được các bức xạ quá cao, ổn định nhiệt độ trong khả năng chịu đựng của con người Thủy quyển thực hiện chu trình tuần hoàn nước, giữ cân bằng nhiệt độ, các chất khí Thạch quyển liên tục cung cấp năng lượng, vật chất cho các quyển khác của trái đất, giảm tác động có hại của thiên nhiên đối với con người và sinh vật
Có thể nói, bầu không khí trong đó có tầng ôzôn như một tấm lá chắn giúp con người và các sinh vật trên trái đất chống lại các tác động có hại từ thiên nhiên như: tia cực tím, bão từ, thiên thạch…, đồng thời là nơi che chở gió bão, băng tuyết, điều hòa không khí…
Tóm lại, mọi sự sống trên trái đất và mọi quá trình hoạt động của con người đều được tiến hành trong môi trường, dựa vào môi trường và sử dụng các yếu tố sẵn có của môi trường Xuất phát từ những nhận thức đó, chúng ta khẳng định MTST có vai trò to lớn, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi loại sinh vật sống trên trái đất
1.1.2.2 Tác động tiêu cực của môi trường sinh thái đến phát triển kinh tế
và những vấn đề đặt ra
Ở nước ta, các báo cáo về PTKT những năm qua cho thấy GDP tăng trưởng mạnh mẽ nhưng lại bỏ qua cái giá của sự tăng trưởng đó là tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên, bệnh tật, mất rừng… Nếu tốc độ tăng trưởng GDP trong vòng 10 năm tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó GDP công nghiệp tăng 8-9%/năm, mức độ đô thị hóa từ 23%/năm lên 33%/năm năm 2000 thì năm
2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp tăng gấp 2,4 lần, lượng ô nhiễm do nông nghiệp và sinh hoạt cũng tăng gấp 2 lần [51]
Theo các chuyên gia về môi trường, phải tính cả giá này mới có được chỉ
số GDP thực sự Theo Văn phòng Chiến lược quản lý môi trường Thành phố Hồ
Trang 23Chí Minh khi nghiên cứu một số vùng trọng điểm phía Nam, để tạo ra 1 tỷ đồng, các hoạt động kinh tế trong vùng đã thải ra 3,1 tấn BOD5, 5,9 tấn chất rắn lơ lửng, thải vào không khí 2,9 tấn CO2 và thải ra đất 4,4 tấn CTR Còn nếu chỉ tính tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2002-2005, tốc độ tăng GDP cả kỳ là 1,35 lần thì tốc độ gia tăng lượng rác sinh hoạt lên đến 2,7 lần [1] Như vậy, chỉ
số đo lường sự PTKT hiện nay không phản ánh trạng thái thực của một nền kinh
tế PTBV Nghĩa là, chỉ hô hào sự tăng trưởng GDP hàng năm mà không biết rằng cùng với sự tăng trưởng đó có bao nhiêu nguồn vốn tự nhiên bị hao mòn, chất lượng môi trường và cuộc sống giảm đến đâu Ở Mêhico, chi phí cho môi trường làm giảm đến 12% GDP Còn ở Trung Quốc, tính toán thử 1 năm thì thấy tổn thất
do suy thoái tài nguyên là GDP giảm đi xấp xỉ 10% [2] Điều đó để cảnh báo rằng, nếu PTKT mà không chú ý đến các vấn đề về môi trường thì sẽ có sự tăng trưởng giả tạo, ảnh hưởng tới PTBV
Ngày nay, những biến đổi về môi trường đã dẫn đến những tác động không nhỏ đến PTKT của Việt Nam như:
- Tác động của suy thoái môi trường:
Suy thoái đất của nước ta chủ yếu là xói mòn, hoang mạc hóa Hiện nay
có khoảng 17,7 triệu ha đất dốc bị xói mòn, khoảng 7.055.000 ha trong số 33 triệu ha đất tự nhiên đang chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa Tình hình suy giảm đất canh tác, sự suy thoái chất lượng đất và sa mạc hóa đang diễn ra với tốc
độ nhanh Xói mòn đất dẫn đến mất lớp đất trồng trọt, nghèo hóa đất, mất diện tích canh tác và giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, giảm chất lượng sản phẩm hàng hóa nông, thủy sản ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và xuất khẩu
Việc khai thác quá mức nguồn lợi hải sản đã khiến trữ lượng hải sản trong những năm gần đây giảm sút nhanh chóng Trữ lượng năm 2003 là 3.072.800 tấn, giảm 25% so với năm 1990 (4,1 triệu tấn), đến năm 2010 chỉ còn 2.270.000 tấn Nhiều loài tôm, cá có giá trị kinh tế bị giảm sút, nhiều loài thủy hải sản có nguy cơ tuyệt chủng Báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc nhân ngày ĐDSH quốc tế 22/5/2005 đã nên rõ, có đến 90% nguồn lợi thủy sản của thế giới đã bị mất đi từ khi ngành đánh cá được cơ giới hóa, 1/3 các loài lưỡng thể, 1/5 các loài có vú và các loài tùng bách đang bị tuyệt chủng [8] Con người đã làm cho ĐDSH bị biến đổi rất nhanh trong 50 năm qua so với bất cứ thời đại nào trong lịch sử Các tác giả đã tính toán rằng, trên 60% những dịch vụ
Trang 24cung cấp bởi các hệ sinh thái nền cho an sinh nhân loại đang bị thoái hóa nhanh Các dịch vụ đó là khả năng điều hòa khí hậu, thanh lọc khí trời và nước, khống chế dịch bệnh và giảm thiểu thiên tai Sự phá hủy ĐDSH do con người gây ra đã đưa đến những hệ lụy mà ngày nay chúng ta đang gánh chịu Khí trời quá nóng, sông ngòi, ao hồ cạn kiệt, nguồn lợi lâm, thủy sản bị khai thác kiệt quệ khó có khả năng hồi phục Cháy rừng diễn ra nghiêm trọng do thời tiết cùng với nạn đốt rừng làm rẫy, khai thác than trái phép hay do vô ý chỉ tính riêng năm 2010 đã xảy ra 880 vụ cháy rừng làm thiệt hại 5.600 ha rừng; diện tích rừng bị phá là 1.674 ha với hơn 3.300 vụ phá rừng [63] Ô nhiễm nước biển gây ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế biển Ô nhiễm ở các bãi tắm và các điểm du lịch đang và
sẽ ảnh hưởng đến phát triển du lịch vùng ven biển, làm giảm lượng khách du lịch đến các vùng biển Các kim loại nặng đổ ra biển sẽ tích tụ trong cơ thể các sinh vật biển, khi con người ăn phải những loại sinh vật này sẽ bị nhiễm độc
Toàn bộ quá trình khai thác khoáng sản đều gây chấn động đến hệ sinh thái như làm trôi đất và làm thay đổi môi trường sống của động thực vật hoang
dã do khi thi công các công trình, khai thác hầm lò đòi hỏi phải gạt bỏ một lượng lớn đất mặt, gây sạt lở mặt đất và tạo ra các bãi thải đất bốc và bãi thải quặng, các bãi thải này làm mức độ ô nhiễm nặng hơn do bùn chảy và quặng có chứa kim loại có tính axit ngấm vào tầng nước mặt Trong những năm qua, việc khai thác tài nguyên khoáng sản chủ yếu là khai thác lộ thiên dẫn đến ONMT xung quanh rất trầm trọng Khoáng sản hầu hết là tài nguyên không tái tạo, sản lượng khai thác tăng lên thì tuổi thọ của mỏ sẽ bị rút ngắn làm tổn hại đến tính bền vững của PTKT Nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu đối với việc khai thác,
sử dụng khoáng sản ngày càng tăng Diện tính rừng cũng bị ảnh hưởng do việc làm đường, đổ đất đá thải, khai thác gỗ chống lò, đất bị bóc mất màu, dễ bị xói mòn Các bãi khai thác cát trên sông gây thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến tính bền vững của hệ thống đê điều, đe dọa đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của các vùng dân cư
- Thiệt hại kinh tế do tác động của tai biến môi trường
Do tác động của tự nhiên và các hoạt động của con người (khai phá đất rừng để làm ruộng bậc thang, mở đường, khai thác khoáng sản, xây dựng các hồ chứa nước lớn…), hiện tượng sạt lở bờ sông, bờ biển và nứt đất, xói nở xảy ra ở nhiều nơi nghiêm trọng nhất là ở các tỉnh miền núi và miền Nam Trung bộ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long làm thay đổi kết cấu đất gây nguy hiểm cho
Trang 25các công trình xây dựng, cầu cống, nhà cửa, đe dọa nghiêm trọng đến cuộc sống của con người Các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành công nghiệp, năng lượng ở Việt Nam và trên thế giới cũng góp phần không nhỏ làm thay đổi khí hậu và các dòng đối lưu trong khí quyển, hậu quả là làm gia tăng những cơn bão bất thường gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của Chỉ tính trong năm
2009, tổng thiệt hại do các đợt thiên tai, lũ lụt trên cả nước gây ra là 23.745 tỷ đồng với 426 người chết, 28 người mất tích, 1.390 người bị thương cùng nhiều thiệt hại về nhà cửa, tài sản, hoa màu và các công trình công cộng Nước ta đứng thứ tư toàn cầu về thiệt hại do thiên tai, lũ lụt, mỗi năm thiệt hại 1,5% GDP [63]
- Tác động của lắng đọng axit đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các công trình xây dựng:
Lắng đọng axit đang là vấn đề nhiễm bẩn môi trường quan trọng bao gồm lắng đọng khô (khí, bụi có tính axit) và lắng đọng ướt (mưa, sương mù có tính axit) Quan trắc mưa axit năm 2009 cho thấy ở tất cả 9/9 địa điểm quan trắc mưa axit (Lào Cai, Hà Nội, Quảng Ngãi, Nha Trang, Biên Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Vũng Tàu và Mỹ Tho) đều xuất hiện các trận mưa với pH 5,5 (mưa axit) Mưa axit có nguyên nhân do con người đốt nhiều than đá, dầu
mỏ trong quá trình sản xuất Trong than đá và dầu mỏ thường chứa lưu huỳnh, còn trong không khí lại rất nhiều nitơ Trong quá trình đốt sinh ra các khí SO2,
NO2 Các khí này hòa tan với hơi nước tạo thành các hạt axit H2SO4, HNO3 Khi trời mưa các axit này hòa tan khiến cho nước mưa trở nên độc hơn đối với cây trồng, vật nuôi và con người Mưa axit đổ vào ao hồ sẽ làm cho các sinh vật trong ao hồ suy yếu hoặc chết hoàn toàn Ao hồ sẽ trở thành các thủy vực chết Mưa axit cũng làm tăng độ chua của đất, hòa tan một số nguyên tố cần thiết cho cây trồng trong đất dẫn đến cây cối kém phát triển, lá cây gặp mưa axit sẽ bị cháy lá, mầm bị chết khô làm cho khả năng quang hợp của cây cối giảm dẫn đến năng suất thấp Mưa axit còn phá hủy các vật liệu làm bằng kim loại như: sắt, đồng, kẽm…, làm giảm tuổi thọ các các công trình xây dựng, cầu đường…
Hiện nay, trong cả nước, mưa axit chiếm tới 30-50% số lần mưa Những nơi có tần suất cao lên tới 50%, điển hình như Việt Trì, Tây Ninh và Huế Trong
đề tài “Đánh giá hiện trạng mưa axit ở Việt Nam” của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, ở các thành phố công nghiệp lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM, lượng mưa axít luôn cao hơn gấp 2 tới 3 lần so với các khu vực có giá trị sinh thái cao như Cúc Phương, Nha Trang, Cà Mau
Trang 26- Tác động của hiệu ứng nhà kính đối với sản xuất và sinh hoạt của con người:
Hiệu ứng nhà kính là kết quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất (tương tự như nhà kính trồng cây) Trong vòng 30 năm trở lại đây, các khí gây hiệu ứng nhà kính đã gia tăng chóng mặt Nguyên nhân là do sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch trong ngành năng lượng làm cho nồng độ khí CO2 của khí quyển tăng lên, còn lại là do các hoạt động đốt phá rừng và các hoạt động khác Một số khí gây hiệu ứng nhà kính điển hình như: CO2 đóng góp đến 50%, CFC đóng góp 17%, còn lại là NH4, N2O, O3 và một số khí khác Theo
dự báo của Văn phòng Công ước về biến đổi khí hậu, lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2010 sẽ khoảng 150 triệu tấn CO2 và đến năm 2020 sẽ lên đến 270 triệu tấn trong đó hoạt động công nghiệp và năng lượng sẽ lên tới 105,5 triệu tấn
CO2 vào năm 2010 và 196,9 triệu tấn CO2 vào năm 2020 Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi thì nhiệt độ bề ngoài trái Đất tăng lên khoảng3oC, dự báo nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng 1,5 - 4,5oC vào năm 2050 Nguyên nhân làm nhiệt độ trái đất tăng do sử dụng năng lượng chiếm 39%, hoạt động công nghiệp là 24%, do phá rừng 24%, hoạt động nông nghiệp chiếm 13% [31]
Sự gia tăng nhiệt độ trái đất sẽ làm tan băng và dâng cao mực nước biển Như vậy, nhiều vùng sản xuất lương thực trù phú, các khu đông dân cư, các vùng đồng bằng lớn, nhiều đảo thấp sẽ bị chìm trong nước biển Khí hậu trái đất nóng lên khiến hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy, hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nhiều loại bệnh tật mới đối với con người xuất hiện, các dịch bệnh lan tràn, sức khỏe con người bị suy giảm
Ngoài các tác động trực tiếp tổn hại đến kinh tế, ONMT còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người - nguồn lực của PTKT
Một trong những tác động nghiêm trọng nhất của ONMT đến PTKT là gây giảm sút nghiêm trọng sức khỏe con người, nguồn lực quan trọng của PTKT Mỗi năm, ở nước ta đã có hàng nghìn người tử vong hoặc phải cấp cứu tại các cơ
sở y tế do ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, tiếng ồn hoặc do ngộ độc hóa chất gây tốn kém rất lớn về tiền bạc và còn ảnh hưởng đến sức khỏe trong nhiều năm tiếp theo mà nền kinh tế phải gánh chịu
Ô nhiễm nguồn nước trong quá trình khai thác khoáng sản, sản xuất công
Trang 27nghiệp và sinh hoạt đô thị đã gây tác động rất lớn đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây các bệnh như: tiêu chảy, kiết lị, tả, thương hàn, giun, sán, ung thư… Có đến 88% trường hợp tiêu chảy do thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường kém
Ô nhiễm không khí cũng đã gây ra nhiều bệnh đường hô hấp cho con người như hen, lao, bụi phổi, viêm phế quản, ung thư Ở Việt Nam có đến 800 ngành nghề độc hại, nguy hiểm được Nhà nước quy định thì công nghiệp có hơn
500 ngành nghề Bệnh bụi phổi là căn bệnh phổ biến nhất trong trong số các bệnh của công nhân trong các ngành công nghiệp Theo thống kê của Trung tâm
Y tế môi trường lao động công nghiệp thì tổng số công nhân tiếp xúc với bụi có nồng độ SiO2 tự do cao trong môi trường lao động là gần 150.000 người (chiếm 35,71% số lao động trong toàn ngành, riêng ngành than 70.000 người, thép 20.000 người, hóa chất 31.500 người, sành, sứ, thủy tinh, vật liệu chịu lửa 8.000 người) [41]
Tại Hội thảo "Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu và tác động sức khỏe
ở Việt Nam" diễn ra ngày 11/9/2010 tại Hà Nội, các nhà khoa học khẳng định: Ô nhiễm không khí công nghiệp có thể gây ra các bệnh nghề nghiệp như bụi phổi silic, bụi phổi bông, lao phổi, đặc biệt là bệnh bụi phổi silic chiếm tới 74,5% số tích lũy bệnh trên phạm vi cả nước Ô nhiễm không khí công nghiệp không chỉ tác động trong môi trường lao động mà còn tác động tới cộng đồng dân cư xung quanh qua việc phát thải các chất độc hại vào môi trường không khí Trong số 25 bệnh nghề nghiệp được Nhà nước bảo hiểm thì có tới 18 bệnh liên quan tới ô nhiễm không khí
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ô nhiễm không khí đô thị làm khoảng 800.000 người chết và 4,6 triệu người giảm tuổi thọ trên thế giới mỗi năm 2/3 số người chết và giảm tuổi thọ do ô nhiễm không khí thuộc các nước đang phát triển ở châu Á [58]
Trang 28Bảng 1.1 Tác động bệnh lý của một số hợp chất khí độc hại do ô nhiễm
đối với sức khỏe của con người Chất khí ô
nhiễm
Nguồn phát sinh Tác động bệnh lý đối với người
1 Anđêhyt Từ phân ly các chất dầu
mỡ và glyxcrin bằng phương pháp nhiệt
Gây buồn phiền, cáu gắt, làm ảnh hưởng đến bộ máy hô hấp
2 Amoniac Quá trình hóa học để
sản xuất phân đạm, sơn hay thuốc nổ
Gây viêm tấy đường hô hấp
3 Asen hyđrua Quá trình hàn nối sắt
thép hoặc quá trình hàn nối cục hàn có chứa axit asen
Làm giảm hồng cầu trong máu, tác hại thận, gây bệnh vàng da
4 Cacbon oxit Ống xả khí xe máy, ô tô,
ống khói đốt than Giảm bớt khả năng lưu chuyển oxi trong máu, gây bệnh tim mạch
Gây tác hại đối với tế bào thần kinh, đau đầu và làm cho khô họng, mờ mắt
7 Hydro florua Tinh luyện dầu khí,
khắc kính bằng axit, sản xuất aluminium và phân bón, sản xuất sành sứ, gốm, thủy tinh
Gây mệt mỏi toàn thân, viêm da, gây bệnh về thận và xương
8 Hydrosunfua Công nghiệp hóa chất
và tinh luyện nhiên liệu
có nhựa đường, công nghiệp cao su, phân bón
Mùi giống như mùi trứng thối, gây buồn nôn, gây kích thích mắt
và họng
9 Nitơ oxit Công nghiệp hóa học và
nhuộm Gây bệnh phổi và bộ máy hô hấp, tử vong do bệnh viêm đường hô
hấp
10.Cacbon
xyclorua
Quá trình đốt than và dầu khí
Gây ho, buồn phiền, nguy hiểm đối với người bị bệnh phổi
11 Salfurơ Gây tức ngực, đau đầu, nôn mửa,
tử vong do bệnh hô hấp
Nguồn: [40]
Tiếng ồn cũng gây nhiều tác hại đối với sức khỏe của con người Tiếng ồn làm giảm thính lực của con người, làm tăng các bệnh về thần kinh, giảm khả năng tập trung tư tưởng, giảm độ minh mẫn và giảm khả năng làm việc Theo một công trình nghiên cứu khoa học tại Mỹ, năng suất lao động của các viên
Trang 29chức trong tình trạng yên tĩnh cao hơn khi có tiếng ồn 9%, còn khi làm việc ở văn phòng có mức ồn 100dBA sẽ phạm sai sót nhiều hơn gấp 2 lần so với làm việc ở mức ồn 70dBA Khi tiếng ồn đạt tới 50dBA vào ban đêm, giấc ngủ sâu bị tổn thất 60% Khi tiếng ồn ban ngày từ 70-80dBA sẽ gây mệt mỏi Thống kê gần đây của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy, trong số trẻ em nghe kém cả hai tai, có đến 61% không phải là hậu quả của bệnh mà do ảnh hưởng của tiếng ồn
Do sử dụng nhiều hóa chất trong nông nghiệp, tình hình ngộ độc thực phẩm hiện nay có chiều hướng gia tăng Theo Cục An toàn vệ sinh thực phẩm
Bộ Y tế, trong năm 2008, trên toàn quốc đã xảy ra 205 vụ ngộ độc thực phẩm (NĐTP) làm 7.828 người mắc và 61 người tử vong Có 76,20% số tỉnh/thành phố (48/63 tỉnh) xảy ra các vụ NĐTP Năm 2009, cả nước xảy ra 147 vụ ngộ độc làm 5.026 người mắc với 3.958 trường hợp nhập viện và 33 người tử vong So với năm 2008, số vụ ngộ độc 26,5%; số người mắc giảm 30,6% và ca tử vong giảm 45% Riêng năm 2010, toàn quốc đã xảy ra 132 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.676 người mắc, 3.281 người nhập viện và có 41 trường hợp tử vong [63]
Không chỉ có vậy, hóa chất trong sản xuất nông nghiệp còn tiềm ẩn những tổn hại cho con người, kinh tế và môi trường trong thời gian lâu dài như ô nhiễm nguồn nước, gây độc hại cho đất dẫn đến giảm năng suất cây trồng
Trong ngành công nghiệp chế tạo, việc sản xuất một số sản phẩm điện, điện tử, điện lạnh dùng khí CFC gia tăng trong những năm gần đây sẽ làm thoái hóa ôzôn trong tầng bình lưu dẫn đến nguy cơ thủng tầng ôzôn Các tia cực tím của mặt trời qua "lỗ thủng" của tầng ôzôn chiếu trực tiếp xuống trái đất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của các loài động thực vật trên trái đất, đặc biệt nguy hiểm đối với con người đó là gây ung thư da, một căn bệnh nan y mà đến nay chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu
1.2.2 Những tác động của phát triển kinh tế đến môi trường sinh thái
Lịch sử đã chứng minh quan hệ giữa con người với thiên nhiên là quan hệ qua lại, tác động tương hỗ với nhau Thiên nhiên cung cấp nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin (kể cả thông tin di truyền) cần thiết cho hoạt động sống, sản xuất và quản lý của con người Giữa PTKT và MTST có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: MTST là địa bàn và đối tượng của PTKT, còn PTKT là nguyên nhân tạo nên các biến đổi về MTST Sự tác động của PTKT đến MTST diễn ra theo 2
Trang 30hướng: tích cực và tiêu cực
1.2.1.1 Những tác động tích cực
- Tạo ra thêm nhiều loại môi trường
Trong quá trình tác động vào MTST, con người đã đồng thời tạo ra các loại môi trường nhân tạo, môi trường xã hội ngày càng đa dạng, phong phú (môi trường đô thị, lối sống công nghiệp…) Xét sâu xa, đó là nguồn gốc phát triển của các PTSX, sự tiến hóa của xã hội loài người Mỗi loại môi trường với những đặc trưng riêng sẽ có tác dụng khác nhau đến loại hình và quy mô của PTKT
- Khai thác và sử dụng các nguồn nguyên liệu mới, nguyên liệu sạch, thân thiện với môi trường
Cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, con người đã sử dụng được sức gió, sức nước, bức xạ mặt trời, thủy triều… tạo ra nguồn nguyên liệu, năng lượng sạch vô tận cho sản xuất và sinh hoạt của con người Nhiều yếu tố của môi trường trước đây được coi là vô dụng (địa nhiệt, thủy triều…) hay nhiều khu vực trước đây là bất lợi, không có giá trị kinh tế thì nay lại trở thành nguồn lực quý giá hay là nơi được các ngành công nghiệp, nông nghiệp, hay dịch vụ,
du lịch khai thác và đưa vào sử dụng có hiệu quả
- PTKT góp phần bảo vệ, cải tạo MTST hoặc tạo ra kinh phí cho sự cải tạo đó
Khoa học - kỹ thuật phát triển cho phép con người đi sâu nghiên cứu và ứng dụng phổ biến công nghệ sạch trong sản xuất của cải vật chất, cho phép ngăn chặn, khắc phục những hậu quả do thiên nhiên gây ra PTKT đi đôi với BVMT sẽ làm cho MTST trở nên trong lành, khai thác hiệu quả, sử dụng hợp lý, tiết kiệm TNTN sẽ góp phần bảo vệ, giữ gìn MTST
Ngày nay, con người tác động đến MTST làm biến đổi MTST không chỉ trên bề mặt trái đất, mặt biển mà còn cả tầm cao vũ trụ, chiều sâu lòng đất, lòng đại dương Trái đất trở nên "nhỏ bé" hơn trước khả năng của con người, và dường như MTST cũng ngày càng trở nên mỏng manh trước "vũ lực" của con người
1.2.2.2 Những tác động tiêu cực
PTKT có những tác động xấu đến môi trường, làm biến đổi môi trường theo hướng tiêu cực, điều đó được thể hiện chủ yếu trên các phương diện sau:
- Khai thác cạn kiệt các nguồn TNTN hữu hạn
Như trên đã trình bày, để sản xuất ra CCVC đáp ứng nhu cầu ngày càng
Trang 31cao của con người và xã hội loài người thì phải khai thác các nguồn TNTN (đất, nước, rừng, động thực vật, than đá, dầu khí, quặng…) Quá trình này ngày càng
có quy mô rộng lớn với nhiều hình thức phong phú và đa dạng hơn Nếu mức độ khai thác nhỏ hơn khả năng phục hồi của TNTN thì môi trường sẽ được cải thiện Ngược lại, nếu mức khai thác lớn hơn khả năng phục hồi thì môi trường không những không được phục hồi mà còn có thể ngày càng bị suy thoái, cạn kiệt Điều đó không những làm đình trệ sự PTKT của thế hệ hiện tại mà còn là ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai
Theo nhiều dự báo, nếu con người cứ khai thác như mức hiện nay, trong
số các tài nguyên khoáng vật (tài nguyên không tái tạo được) có thể duy trì: sắt được 173 năm, than được 150 năm, nhôm được 55 năm, đồng được 48 năm, vàng được 29 năm; các nguồn tài nguyên sinh vật, rừng rậm trong 170 năm nữa
sẽ bị đốn hết, trong đó, mưa rừng nhiệt đới có thể hết nhẵn sau 40 năm nữa Các nhà khoa học chỉ ra rằng, hiện nay trên trái đất đã không còn tìm thấy một vùng đất nào hoàn toàn không bị ô nhiễm Sự ô nhiễm nghiêm trọng môi trường trái đất không chỉ tạo ra khủng hoảng sinh thái mà còn tạo ra khủng hoảng sinh tồn của con người” [63]
Hiện nay, tài nguyên rừng đang bị tàn phá nghiêm trọng Vào thời tiền sử, diện tích rừng đạt 8 tỉ ha (chiếm 2/3 diện tích lục địa), đến thế kỷ XIX còn khoảng 5,5 tỉ ha và hiện nay còn khoảng 2,6 tỉ ha (cứ mỗi phút toàn cầu mất khoảng 30 ha rừng) và theo dự báo, với tốc độ này, chỉ khoảng 160 năm nữa toàn
bộ rừng trên trái đất sẽ biến mất
Ở nước ta, rừng đã từng bị suy giảm nhanh Đầu thế kỷ XX, độ che phủ đạt 50% sau đó giảm mạnh, đến cuối những năm 80 chỉ còn gần 30% Việc phá rừng một cách bừa bãi đã dẫn đến tình trạng suy thoái đất đai, hoang mạc hóa, hiệu ứng nhà kính, tăng nhiệt độ trái đất… Đất đai là tài nguyên vô giá cũng đang bị xâm hại nặng nề Số liệu của Liên hợp quốc cho thấy, cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu có khoảng 10 ha đất trở thành sa mạc Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm nhanh từ 0,5 ha/người xuống còn 0,27 ha/người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ còn khoảng 0,14 ha/người
Các tổn thất về tài nguyên đất, rừng đã dẫn đến tổn thất về đa dạng sinh học và nguồn gen đặc hữu: ước tính chúng ta có khoảng 12.000 loài thực vật, khoảng gần 1000 loài chim, 300 loài thú, hơn 300 loài bò sát lưỡng thể, trong đó
Trang 32có nhiều loài quý hiếm Nếu chúng ta không biết bảo vệ chúng thì sẽ dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng
- Thải các chất độc hại vào môi trường
Ngay trong khi khai thác TNTN thì con người cũng chỉ sử dụng những sản phẩm cần thiết, phần dư thừa vẫn để lại môi trường Một số chất dư thừa này
là nguyên nhân gây ONMT như: phần đất đá, quặng dư thừa kém chất lượng ở các mỏ khoáng sản, phần khí ở các mỏ dầu khí…
Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt: chế biến nông - lâm - thủy sản, hoạt động nông nghiệp truyền thống, xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe… không thể tránh được việc thải các chất thải trong đó có nhiều chất độc hại vào môi trường Chúng có thể là các chất khí như CO, CO2, SO2, H2S,
NH3… xâm nhập vào khí quyển làm ô nhiễm không khí; các CTR như các tạp chất, các hợp chất kim loại, các loại xơ, bụi, rác… được chôn vùi xuống lòng đất làm ô nhiễm nguồn đất; nước thải của sản xuất, sinh hoạt có chứa hợp chất vô
cơ, hữu cơ, kim loại nặng… được đổ ra sông suối, ao hồ, biển làm ô nhiễm nguồn nước Quá trình tiêu dùng cũng thải ra nhiều tạp chất như vỏ, bao bì thức
ăn thừa… vào môi trường, trong quá trình phân hủy chúng sẽ tạo ra các độc tố gây ONMT
Trên thế giới, mỗi năm có hơn 40 triệu tấn chất thải ôxit nitơ, trong đó có 64% là do chất đốt nhiên liệu hóa thạch, 22% bắt nguồn từ đất, 14% là từ các quá trình cháy khác Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc phá hủy 30% tầng ôzôn
- Làm biến đổi, mất cân bằng sinh thái và hủy hoại trực tiếp MTST
* Trong quá trình PTKT, con người đã làm biến đổi MTST tự nhiên, tác động này hiện nay là rất lớn và đa dạng, cụ thể như sau:
+ Chuyển nhiều đất rừng thành đất nông nghiệp, làm mất đi nhiều loại động vật và thực vật quý hiếm, xúc tiến quá trình rửa trôi, xói mòn đất, thay đổi khả năng điều hòa nước và biến đổi khí hậu
+ Cải tạo đầm lầy thành các khu đô thị, các khu nuôi trồng thủy sản, các khu canh tác nông nghiệp, làm mất đi các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng lớn đối với môi trường sống của nhiều loài sinh vật và con người
+ Chuyển đất rừng, đất nông nghiệp thành các KCN, khu dân cư tạo nên
sự mất cân bằng sinh thái khu vực và ô nhiễm cục bộ
+ Nhiều hoạt động KT - XH gây ô nhiễm, suy thoái môi trường ở các mức
Trang 33độ khác nhau
* PTKT tác động tới cân bằng sinh thái thể hiện qua một số ví dụ sau: + Săn bắn và đánh bắt quá mức làm suy giảm nhiều loài dẫn đến mất cân bằng sinh thái và làm tuyệt chủng nhiều loài động vật quý hiếm
+ Chặt phá rừng tự nhiên để lấy gỗ, lấy đất canh tác làm mất nơi cư trú của nhiều loài động và thực vật
+ Du nhập các loài sinh vật lạ, ảnh hưởng tới nơi sinh sống và nguồn thức
ăn của những sinh vật bản địa, dẫn đến tuyệt diệt
+ Đưa các hệ sinh thái tự nhiên nhiều chất độc nhân tạo mà sinh vật không
có khả năng phân hủy như thuốc trừ sâu, các chất hữu cơ tổng hợp, dầu mỡ và những kim loại nặng
* PTKT còn góp phần hủy hoại trực tiếp MTST
Ngoài khai thác các nguồn TNTN và thải các chất thải vào môi trường làm biến đổi MTST, các hoạt động của con người còn hủy hoại trực tiếp MTST Chẳng hạn như: khai thác rừng bừa bãi làm mất độ che phủ của rừng gây xói mòn đất, "sa mạc hóa" nguồn đất; phá rừng đầu nguồn gây ra ngập úng, lũ quét, khô hạn ở nhiều vùng làm mất đi điều kiện sống bình thường của các sinh vật ở nước ta; đắp đập, ngăn sông làm thủy điện sẽ gây nhiều tác động khác nhau tới môi trường: thay đổi dòng chảy, gây xói mòn ở hạ lưu, thay đổi khí hậu của một vùng rộng lớn…; sự cố do sản xuất hay vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu như:
dò gỉ nhà máy điện nguyên tử, đắm hoặc tràn tàu chở dầu trên sông, biển, tro bụi núi lửa… là những thảm họa vô cùng to lớn để lại những hậu quả nặng nề và lâu dài cho MTST và đời sống xã hội
Trong thời gian gần đây thế giới đang phải hứng chịu những hậu quả từ những tai họa của thiên nhiên: động đất, sụt núi, lở đất, băng tan, sóng thần, núi lửa, hiệu ứng nhà kính, hiệu ứng Elnino… có nguyên nhân một phần là do các hoạt động hủy hoại môi trường của con người, và tác nhân chính là PTKT [22, tr.144-148]
1.2.3 Sự cần thiết khách quan phải bảo vệ môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế bền vững
Phát triển là xu thế tất yếu của mọi xã hội, là quy luật của tiến hóa trong thiên nhiên Không thể ngừng hay hãm lại sự phát triển của xã hội loài người mà
phải tìm ra con đường phát triển thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn giữa môi
Trang 34trường và phát triển
Năm 1970, Câu lạc bộ Roma đã đưa ra một khuyến cáo làm chấn động dư luận thế giới Khuyến cáo này dựa trên kết quả nghiên cứu các mối quan hệ giữa dân số, TNTN, lương thực, sản xuất công nghiệp, ONMT cho thấy rằng: dân số, lương thực và hàng hóa công nghiệp sẽ tiếp tục tăng lên theo cấp số nhân, cho tới ngày TNTN cạn kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề sẽ làm suy giảm, thậm chí đình chỉ một số hoạt động sản xuất công, nông nghiệp Nhân loại quá đông đúc sẽ lâm vào tình trạng đói ăn, thiếu đồ dùng, sức khỏe giảm sút, bệnh tật lan tràn và do đó sẽ suy tàn Nền văn minh công nghiệp xây dựng hơn 300 năn vừa qua sẽ sụp đổ, diệt vong như bao nền văn minh trước đây đã theo nhau tàn lụi trong quá khứ! Trái Đất, ngôi nhà chung của loài người chỉ chịu được một tải trọng nhất định, sự phát triển của nhân loại là có giới hạn Vượt quá giới hạn này
sẽ đi tới diệt vong [11, tr.43]
Nhiều người đã cho rằng kết luận này quá bi quan, nhưng không phải không có phần đúng về lý luận cũng như về thực tiễn thế giới đương thời Con người đã từng coi tự nhiên là đối tượng để khai thác, bóc lột mà quên mất rằng
tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người Nó cũng cần được chăm sóc, bảo vệ
để tồn tại và phát triển Trong quá trình tác động, cải biến tự nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình, con người đã vi phạm nhiều đến đạo đức sinh thái và mức
độ đó ngày càng nghiêm trọng hơn theo đà tăng trưởng của kinh tế Điều đó đã dẫn đến sự trả thù của tự nhiên bằng những thảm họa khôn lường (động đất ở Haity ngày 12/1/2010 với hơn 230.000 người chết, lũ lụt lịch sử ở Pakistan tháng 8/2010 cướp đi sinh mạng của 1.600 người, động đất, lở đất ở Trung Quốc tháng 4/2010 cướp đi sinh mạng hơn 2000 người, núi lửa ở Iceland hoạt động mạnh liên tục trong những ngày trung tuần tháng 4 tạo ra những đám tro bụi khổng lồ
đã buộc phần lớn các sân bay ở châu Âu phải đóng cửa khiến hàng nghìn chuyến bay bị hủy và hàng triệu hành khách bị mắc kẹt, gần đây nhất là trận động đất, sóng thần ở Nhật Bản ngày 11/3 với hơn 20.000 người chết…) Điều này đã được Ph.Ăngghen nhắc nhở rằng: không nên quá khoái chí về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên, bởi vì sự thật nhắc nhở chúng ta hoàn toàn không thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên bao hàm ở chỗ là chúng ta khác tất cả các sinh vật khác, biết nhận thức được những quy luật của giới tự nhiên và sử dụng những quy luật đó
Trang 35một cách đúng đắn [35, tr.655]
Đồng thời ông cũng cảnh báo: “chúng ta cũng không nên quá tự hào về
những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần chúng ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta” [35, tr.654]
Đã có rất nhiều bài học cho các nước vì quá coi trọng TTKT nhanh, tạo được sự bứt phá lớn về kinh tế, mong vượt lên các nước khác về kinh tế, song đã phải trả giá đắt về việc làm cạn kiệt và suy thoái môi trường Trung Quốc - quốc gia có sự phát triển thần kỳ về nền kinh tế đã trở thành gánh nặng cho môi trường Trung Quốc hiện có 16 trong 20 đô thị ô nhiễm nhất trên thế giới; 4 đô thị tệ nhất nằm ở vùng Đông Bắc giàu than đá (70% nhu cầu năng lượng của Trung Quốc lấy
từ than đá) Mưa acid chứa sunphur dioxide từ các nhà máy điện than đá thải ra rơi trên 1/4 lãnh thổ Trung Quốc, làm giảm năng suất mùa màng và xói mòn mọi công trình xây dựng Đất đai Trung Quốc cũng tàn lụi vì phát triển Phá rừng, song song với khai thác quá mức đồng cỏ để nuôi súc vật và canh tác đã biến các vùng
ở Đông Bắc Trung Quốc thành sa mạc Sa mạc Gôbi đang dần xâm chiếm miền Tây và Bắc Trung Quốc, lan rộng mỗi năm khoảng nửa triệu héc ta 1/4 lãnh thổ Trung Quốc nay đã thành sa mạc do mất rừng Cục Lâm vụ Trung Quốc ước lượng là hiện tượng sa mạc hoá đã biến 400 triệu dân Trung Quốc thành người tị nạn môi sinh, phải tìm kiếm nơi ở mới Đất đai bị ô nhiễm cũng gây lo ngại về an toàn thực phẩm Sông Dương Tử và sông Hoàng Hà là hai nguồn cung cấp nước quan trọng nhất cho Trung Quốc bị ô nhiễm nặng Sông Dương Tử tiếp nhận 40% nước cống, hơn 80% nước thải chưa qua xử lý Sông Hoàng Hà cung cấp nước cho 150 triệu người và nước tưới cho 15% đất nông nghiệp Trung Quốc, nhưng 2/3 nước sông này không an toàn và 10% vào loại nước cống thải Báo cáo tiên đoán lượng mưa ở lưu vực 3 con sông trong 7 lưu vực chính của Trung Quốc, nghĩa là các vùng xung quanh sông Hoài, sông Liêu và sông Hải sẽ giảm, làm mất
đi 37% sản lượng lúa mì, lúa gạo và bắp vào năm 2050 Để sản xuất một đơn vị hàng hoá, Trung Quốc phải tiêu thụ tài nguyên gấp 7 lần so với Nhật Bản, 6 lần so với Hoa Kỳ và 3 lần so với Ấn Độ [63]
Cũng giống như một số nước đang phát triển khác, tình trạng ONMT do TTKT gây ra ở Việt Nam là điều không tránh khỏi, đang là một trong những vấn
đề bức xúc đòi hỏi phải giải quyết hiện nay Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế quốc tế, TTKT Việt Nam trong những năm qua rất ngoạn mục Tuy nhiên, cảnh báo của nhiều tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam rằng, chúng ta
Trang 36không thể chạy theo các chỉ số TTKT mà bất chấp tình trạng môi trường sống đang bị hủy diệt quá nhanh Nói cách khác, môi trường bị hủy diệt chính là mặt trái của tăng trưởng ở Việt Nam
Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đã chỉ ra rằng, bây giờ
là thời điểm mà Việt Nam cần kiên trì theo đuổi phát triển bền vững Nếu không giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường thì Việt Nam sẽ có thể xóa đi tất cả các thành tựu đã đạt được từ trước tới nay… Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã nhấn mạnh: 20 năm tăng trưởng kinh tế liên tục, nhưng cứ tăng 1 GDP mà không có chiến lược môi trường thì sẽ mất đi 3GDP về môi trường Nhận thức rõ mối quan hệ giữa MTST với PTKT và vai trò quan trọng của MTST đối với PTBV nên ở nước ta quan điểm BVMT trong PTBV đã trở thành tiêu chí cơ bản trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1/2011), Đảng ta chủ trương:
“Coi trọng bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của cán bộ lãnh đạo các cấp về BVMT Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi gây ONMT Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng và tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi; xử lý các cơ sở gây ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường
Đưa nội dung BVMT vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án đầu tư Các dự án, công trình đầu tư xây dựng mới bắt buộc phải thực hiện nghiêm các quy định BVMT Quản
lý, khai thác hiệu quả, tiết kiệm TNTN, đảm bảo cân bằng sinh thái Chú trọng PTKT xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển ''năng lượng sạch'', ''sản xuất sạch'', ''tiêu dùng sạch'' Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta; thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu; tích cực tham gia, phối hợp cùng cộng đồng quốc tế hạn chế tác động biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất
Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực BVMT” [28, tr.221]
Như vậy, vấn đề MTST trong giai đoạn CNH, HĐH là hết sức quan trọng
Trang 37Để đảm bảo PTBV thì bên cạnh TTKT, phải coi trọng BVMT ngay trong từng giai đoạn, từng bước đi và trong suốt quá trình phát triển
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với môi trường sinh thái
1.3.1 Phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở một
Thành phố tập trung cao độ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố và tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị “về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước” và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng:
- Về PTKT: Tổng sản phẩm trong nước (GDP): bình quân trong 5 năm đạt 11,15%, gấp 1,5 lần mức tăng bình quân chung của cả nước CCKT chuyển dịch theo hướng tiên tiến, tỷ trọng GDP của các nhóm ngành công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ từ 87% năm 2005 (dịch vụ 50,8%) lên 90% năm 2010 (dịch vụ 53%) Quy mô kinh tế tăng đáng kể so với năm 2005, GDP năm 2010 gấp 1,7 lần, GDP bình quân đầu người tăng 63,4% (năm 2010 đạt 1.742USD/người); tỷ trọng GDP (theo giá so sánh) trong GDP cả nước chiếm khoảng 4,4% (năm 2005 là 3,6%)
+ Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá: Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân 5 năm (2006-2010) tăng 14,93%/năm tiếp tục giữ vai trò chủ lực Kinh tế dịch vụ phát triển đa dạng, đúng định hướng, chất lượng và hiệu quả được nâng lên; GDP chiếm tỷ trọng cao; tăng trưởng bình quân 12,39%/năm Hoạt động dịch vụ cảng biển phát triển nhanh Sản lượng hàng
Trang 38thông qua các cảng trên địa bàn đạt mục tiêu Đại hội đề ra trước 2 năm Năm
2009 đạt 32,5 triệu tấn, tăng 13,7% [48]
Kinh tế nông nghiệp chuyển dịch nhanh hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo đảm an ninh lương thực Giá trị sản xuất tăng bình quân 4,54%/năm, tiếp tục là trung tâm sản xuất giống thuỷ - hải sản ở miền Bắc
Kinh tế biển, khai thác khá toàn diện các yếu tố tài nguyên, lợi thế biển và cảng biển, là một trong những trọng điểm kinh tế biển của cả nước Xây dựng, triển khai quy hoạch PTKT biển Hải Phòng đến năm 2020 phù hợp với quy hoạch chung của cả nước Xây dựng Quy hoạch chung Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải đến năm 2025 theo hướng là một trung tâm kinh tế biển đa ngành, đa lĩnh vực của Vùng Duyên hải Bắc Bộ và cả nước [56]
- Về khai thác TNTN và BVMT:
Công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, công tác BVMT được chú trọng Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xây dựng và thực hiện, đảm bảo yêu cầu về chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch PTKT - XH, quốc phòng - an ninh Thể chế hoá chính sách của Nhà nước về quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản phù hợp với yêu cầu thực tiễn, tạo sự chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực
Thành phố đã thực hiện quan điểm đầu tư phát triển gắn với BVMT đạt kết quả bước đầu; kiên quyết không chấp thuận dự án công nghiệp có thiết bị, công nghệ không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường Công tác quản lý, giám sát môi trường đô thị, các trọng điểm du lịch, sản xuất công nghiệp, nhất là ở các cơ
sở mới đầu tư có nhiều tiến bộ Các biện pháp quản lý, BVMT ở những khu vực trọng điểm, nguy cơ ô nhiễm cao được tăng cường Việc xây dựng cơ chế, chính sách và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý, BVMT được chú trọng Cải tạo, nâng cấp một số cơ sở hạ tầng, hệ thống thiết bị phục vụ công tác BVMT, góp phần cải thiện năng lực, trình độ bảo vệ và khả năng ứng cứu, khắc phục sự cố về môi trường
Tỉnh đã tổ chức thanh tra, kiểm tra, việc sử dụng các nguồn tài nguyên và BVMT tại các doanh nghiệp, đã phát hiện xử phạt hành chính và yêu cầu khắc phục hậu quả đối với 18 đơn vị Kiểm tra sau ĐTM 31 doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn các quận Kiến An, Hồng Bàng và các huyện Thủy Nguyên,
An Dương Cấp 45 sổ đăng ký Chủ nguồn thải chất thải nguy hại, 18 báo cáo
Trang 39ĐTM; 32 Đề án BVMT Hướng dẫn 28 chủ dự án thực hiện các yêu cầu về BVMT đối với các dự án sau khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM của Uỷ ban nhân dân thành phố
Thành công trên xuất phát từ việc thực hiện tương đối hiệu quả các giải pháp PTKT, phát triển và quản lý đô thị, BVMT:
- Tập trung triển khai Quyết định số 1448/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 bằng các Đề án, Dự án cụ thể
Tổ chức công bố công khai các quy hoạch và cắm mốc các quy hoạch được duyệt để quản lý Khẩn trương rà soát, xây dựng quy chế quản lý quy hoạch, quản lý đô thị, kiểm tra, xử lý vi phạm
- Tập trung đầu tư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật một số khu đô thị, xây dựng nhanh một số dự án khu đô thị trọng điểm; các dự án quản lý và xử lý CTR Hải Phòng, Dự án nâng cấp đô thị, Dự án thoát nước mưa, thoát nước thải
và quản lý CTR Hải Phòng giai đoạn I…, quan tâm đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng xã hội; thực hiện các giải pháp quản lý và phát triển đô thị, nhất là trật tự đô thị, khắc phục tình trạng yếu kém trong quản lý trật tự, an toàn giao thông và văn minh đô thị; tuyên truyền, giáo dục nếp sống và văn minh đô thị Quan tâm công tác cải tạo, chỉnh trang nâng cấp đô thị cũ; phát triển mạnh quỹ nhà chung cư, nhà ở xã hội cho công nhân, sinh viên và người có thu nhập thấp
- Quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản theo quy hoạch được phê duyệt, đảm bảo nguồn lực khoáng sản được sử dụng hợp lý, tiệt kiệm, có hiệu quả Tích cực phòng ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường, đặc biệt khu vực phục vụ việc xây dựng các công trình, dự án; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở các KCN, các khu đông dân cư; xử lý ONMT trên các hồ ao, kênh mương
- Lồng ghép các mục tiêu PTBV trong công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, trong các chương trình, dự án đầu tư Triển khai thực hiện tốt Chương trình Nghị sự 21 về PTBV Chủ động có các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu
1.3.1.2 Quảng Ninh
Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Phía Tây tựa
Trang 40lưng vào núi rừng trùng điệp Phía Đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc
Bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông và bãi triều, bên ngoài là hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ Dân số Quảng Ninh hiện nay có 1.144.381 người (năm 2009), trong đó dân số thành thị là 575.939 người (chiếm tỷ lệ 50,3%); Dân số ở khu vực nông thôn là 568.442 người
Quảng Ninh có nhiều tiềm năng và thế mạnh để PTKT với nguồn TNTN phong phú, có nhiều loại khoáng sản có giá trị công nghiệp, quan trọng nhất là than đá chiếm trên 90% trữ lượng cả nước, tiếp đến là đá vôi, sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng, các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, Pyrophylit, cát thủy tinh, đá Granit, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên
Trong những năm qua, Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành tựu trong PTKT và BVMT, cụ thể là:
- Về TTKT và phát triển các ngành sản xuất, kinh doanh: Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng GDP đạt kế hoạch đề ra; CCKT chuyển dịch tích cực TTKT năm 2010 (GDP, giá so sánh 1994) tăng 12,7% so với năm 2009 (kế hoạch tăng 11-12%) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: Khu vực nông nghiệp 5,8%; công nghiệp và xây dựng 54,1%; dịch vụ 40,1% (năm 2009: nông nghiệp 6,3%; công nghiệp và xây dựng 54,6%; dịch vụ 39,2%)
GDP bình quân đầu người ước đạt 1.587 USD (cả nước là 1.168 USD) [59]
- Về tài nguyên và môi trường:
Đã tiến hành rà soát hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn, nhất là những địa bàn có lợi thế phát triển; tập trung khắc phục, ngăn ngừa, xử lý ONMT So với năm 2008, năm 2010 tỷ lệ vi phạm pháp luật về đất đai, môi trường, khoáng sản và tài nguyên nước giảm 70%; đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực này giảm 5%, hạn chế tình trạng đơn thư khiếu nại kéo dài vượt cấp; hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đã trú trọng đến công tác BVMT; công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã đạt được những kết quả nhất định, nhất là các công trình trọng điểm như: Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 18A (đoạn Mông Dương - Móng Cái); Dự án cải tạo, nâng cấp đường sắt (đoạn Đông Triều - Hạ Long) Nhiều doanh nghiệp đã phát huy lợi thế từ đất, tạo lợi nhuận cao, thúc đẩy sự PTKT chung của tỉnh
Công tác quản lý, BVMT dần vào nề nếp và có chuyển biến tích cực, ý thức BVMT của các cấp, các ngành, các địa phương và cộng đồng xã hội được