Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 - 2010”, Tổng Cục du lịch Việt Nam, nhà xuất bản Thống kê, 1994; “Quản trị kinh doanh khách sạn”, Nguy
Trang 1đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học kinh tế
-*** -
Hồng thị minh
Phát triển du lịch theo h-ớng bền vững ở khu vực tỉnh Hà
Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
Luận văn thạc sỹ KINH Tế Chính trị
Hà Nội - 2008
Trang 2đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học kinh tế
-*** -
Hồng thị minh
Phát triển du lịch theo h-ớng bền vững ở khu vực tỉnh Hà
Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 5
1.1 Du lịch và vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội của đát nước 5
1.1.3 Vai trò của phát triển du lịch đối với đời sống kinh tế - xã hội 13
1.2.4 Lợi ích của việc phát triển du lịch bền vững 22 1.3 Khái quát về phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Việt Nam 24
1.3.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển bền vững du lịch Việt Nam 26
1.3.3 Những thành tựu trong phát triển du lịch theo hướng bền vững của
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG Ở KHU VỰC TỈNH HÀ TÂY CŨ (NAY THUỘC HÀ NỘI)
Trang 42.3.1 Những thành tựu và tác động kinh tế - xã hội 59
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU
LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG KHU VỰC TỈNH HÀ TÂY CŨ (NAY
3.3 Các giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực
tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
70
3.3.2 Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển du lịch bền vững 71
3.3.5 Đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư vào phát triển du lịch 78
3.3.6 Tăng cường bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường sinh thái 81
3.3.7 Thành lập và củng cố các hiệp hội ngành nghề trong du lịch 83
Trang 5Hà tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
50
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế khách quan, Đảng ta nhất quán đường lối hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó đặt ra cho ngành du lịch nói chung và mỗi doanh nghiệp kinh doanh du lịch nói riêng phải ra sức nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng hợp tác quốc tế về du lịch cả chiều rộng lẫn chiều sâu, từng bước tích luỹ kinh nghiệm hội nhập Việt Nam trong tiến trình hội nhập cùng phát triển đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm đến an toàn, được
ưa chuộng nhất Châu Á Du lịch được khẳng định là một trong những ngành kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế liên quan, thúc đẩy giao lưu, tăng cường hiểu biết giữa các quốc gia, giữa các dân tộc
Ngày nay, xét dưới góc độ kinh tế, du lịch đang trở thành ngành kinh tế trọng điểm của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Sự cạnh tranh trên thị trường du lịch trong nước và quốc tế ngày càng gay gắt Do đó, làm thế nào để thu hút khách du lịch đến với đất nước mình đang là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng Thời gian qua, nhờ các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong đó chính sách mở cửa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế đã giúp cho ngành du lịch Việt Nam có những tiến bộ đáng kể Năm 2006, Việt Nam đón 3,5 triệu lượt khách quốc tế tăng 3% so với năm 2005, năm 2007 là hơn 4,1 triệu lượt khách quốc tế, tăng 16% so với năm 2006 và mục tiêu năm 2010 Việt Nam
sẽ là điểm đến của 6 triệu lượt khách quốc tế
Nằm trong xu thế chung đó, Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) - một khu vực
có nhiều danh lam thắng cảnh - cũng đã có những chính sách, chiến lược riêng nhằm thu hút khách du lịch đến với tỉnh mình, góp phần giải quyết việc làm và
Trang 7nâng cao thu nhập cho dân cư Lợi thế của Hà Tây là có tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng Ở đây có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, nhiều lễ hội, nhiều địa phương có những sự tích và huyền thoại gắn liền với truyền thống lịch sử Việt Nam Những tiềm năng giàu có trên tạo điều kiện thuận lợi cho Hà Tây (cũ) phát triển một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, trong đó du lịch được coi là một trong những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Thực tế trong những năm gần đây cho thấy, ngành du lịch ở khu vực tỉnh
Hà Tây (cũ) có bước phát triển đáng kể Tốc độ gia tăng khách du lịch, doanh thu từ du lịch đóng góp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và ngân sách ngày càng tăng Tuy nhiên, sự phát triển sự phát triển của ngành du lịch Hà Tây (cũ) vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của ngành như: các kế hoạch phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, chưa đồng bộ nên hiệu quả chưa cao, vấn đề khai thác và bảo tồn các danh thắng, cảnh quan còn nhiều bất cập, môi trường ô nhiễm, nhiều khu di tích đang xuống cấp, thậm chí có nguy cơ bị hư hỏng nặng Từ tháng 8/2008 Hà Tây trở thành một bộ phận hữu cơ của thành phố Hà Nội Đây là cơ hội lớn cho sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung, sự phát triển của du lịch nói riêng của khu vực tỉnh Hà Tây (cũ) Với những tiềm năng và lợi thế đặc thù,
du lịch khu vực tỉnh Hà Tây (cũ) cần được tiếp tục đầu tư nghiên cứu, tìm ra những giải pháp phù hợp để hướng tới sự phát triển bền vững du lịch ở khu vực này trong sự phát triển bền vững của du lịch Hà Nội Vì vậy, tôi chọn đề tài:
“Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc
Hà Nội)” để thực hiện luận văn tốt nghiệp
Trang 8Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 - 2010”, Tổng Cục du lịch Việt Nam, nhà xuất bản Thống kê, 1994;
“Quản trị kinh doanh khách sạn”, Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Lan Hương, nhà xuất bản Lao động - xã hội, 2004;“Hoàn thiện hoạch định chiến lược xúc tiến điểm đến của ngành du lịch Việt Nam”, luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn
Đảng, 2007; … Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu về phát triển
du lịch từng vùng hoặc từng địa phương cụ thể, Tiêu biểu là: “Hà Tây đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề”, bài viết của Lại Hồng Khánh, 2005, Tạp chí Du lịch Việt Nam; “Phát triển kinh tế du lịch ở vùng du lịch Bắc Bộ và tác động của nó đối với quốc phòng - an ninh”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Đình Sản, 2007;
Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam nói chung, ở một địa phương nói riêng mới chỉ được đề cập ở những khía cạnh riêng biệt của
nó trong một số công trình Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt và hệ thống về phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Việt Nam nói chung, ở các địa phương (trong đó có khu vực tỉnh Hà Tây cũ) nói riêng Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)” vẫn còn rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng phát triển
du lịch theo hướng bền vững của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển du lịch của khu vực này theo hướng bền vững
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững
Trang 9- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
- Đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy du lịch ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) phát triển theo hướng bền vững
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển du lịch theo hướng bền vững Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu du lịch của khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) trong những năm gần đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê kinh
tế, so sánh và dự báo…
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá và góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận chung về phát triển du lịch theo hướng bền vững
- Phân tích, đánh giá, làm rõ những thành tựu cũng như những hạn chế trong phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch của khu vực tỉnh
Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) theo hướng bền vững
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được cấu thành 3 chương:
Chương1: Những vấn đề chung phát triển du lịch bền vững
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh
Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng
bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
Trang 10CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1.3 DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA ĐẤT NƯỚC
1.3.1 Khái niệm du lịch
Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Từ xa xưa, con người đã luôn có tính tò mò, muốn khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh, bên ngoài nơi sinh sống của họ Con người luôn muốn biết những nơi khác có cảnh quan ra sao, muốn biết về các dân tộc, nền văn hoá, các loài động, thực vật
và địa hình những vùng khác hay quốc gia khác
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (WTTC) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới Đối với nhiều quốc gia thì du lịch là nguồn thu lớn nhất và vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Du lịch nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Mặc
dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ lâu đời và phát triển với tốc
độ nhanh chóng, nhưng khái niệm “du lịch” vẫn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau ở các quốc gia khác nhau
Du lịch là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng Do đó, để đưa ra một định nghĩa của hiện tượng đó vừa mang tính chất bao quát, vừa mang tính chất lý luận và
Trang 11thực tiễn là một vấn đề hết sức khó khăn Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về du lịch Chẳng hạn như:
Năm 1811 lần đầu tiên ở Anh có định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là
sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giải trí”
Định nghĩa về du lịch trong Từ điển bách khoa quốc tế về du lịch - Le Ditionnaire international du tourisme - do Viện Hàn lâm khoa học quốc tế về du
lịch xuất bản: “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp để liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thoả mãn các nhu cầu của họ.”
Như vậy, có các định nghĩa khác nhau về du lịch Ở Việt Nam, trên cơ sở những khái niệm khác nhau của các nước và từ điều kiện thực tiễn của đất nước thì tựu chung lại thống nhất ở khái niệm du lịch được nêu tại điều 10 trong Pháp
lệnh Du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nới cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Khoa Du lịch và khách sạn của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
đã đưa ra định nghĩa du lịch với tư cách là một ngành kinh tế trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam trong
những thập niên gần đây: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lạ,i lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế - chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm
du lịch và bản thân doanh nghiệp”
Trang 12Như vậy, nên tách thuật ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó Thứ
nhất, du lịch là sự di chuyển, là lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tư nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng Thứ hai, du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh
1.3.2 Những điều kiện để phát triển du lịch
Có thể thấy mọi quốc gia trên thế giới và bất kỳ một khu vực nào, muốn phát triển được nền du lịch của mình đều phải dựa trên cơ sở của những điều kiện nhất định Những điều kiện này có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau tạo thành môi trường nền tảng cho du lịch phát triển
1.3.2.1 Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội:
Môi trường chính trị hoà bình, ổn định sẽ đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá… giữa các quốc gia Bầu không khí hoà bình trên thế giới ngày càng được cải thiện, các quốc gia đã chuyển từ xu thế đối đầu sang đối thoại Điều này làm cho du lịch tăng trưởng một cách mạnh mẽ trong những năm gần đây
Du khách chỉ muốn đến những đất nước hoặc những vùng du lịch có môi trường chính trị bình ổn như không có nạn phân biệt chủng tộc, tôn giáo; không
có bạo động; không có nạn khủng bố… Ở những nơi này du khách cảm thấy an toàn, yên tâm gặp gỡ dân bản xứ, giao thiệp và làm quen với phong tục tập quán địa phương Do đó, du lịch phát triển được là nhờ điều kiện chính trị hoà bình,
ổn định và ngược lại, điều kiện này càng được củng cố khi mở rộng và phát triển quan hệ trao đổi du lịch giữa các quốc gia và dân tộc
Trang 13Ngoài ra, thiên tai cũng có những tác động không tốt đến sự phát triển của
du lịch Nó làm giảm nhu cầu đi du lịch của dân cư và cũng làm cho khả năng cung ứng của dịch vụ du lịch bị hạn chế Sự phát sinh và lây lan của các loại dịch bệnh là những nguy cơ đe doạ sức khoẻ và tính mạng của du khách cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của du lịch Vì một mặt , du khách
sẽ không đến những vùng dịch bệnh, mặt khác chính quyền địa phương và các đơn vị kinh doanh du lịch cũng không dám mạo hiểm đưa khách du lịch đến khu vực ổ dịch
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế:
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của du lịch là điều kiện phát triển kinh tế nói chung Vì sự phát triển của du lịch lệ thuộc vào hiệu quả của các ngành kinh tế khác Trong các ngành kinh tế,
sự phát triển của ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Do ngành du lịch tiêu thụ một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm Một số ngành công nghiệp nhẹ (công nghiệp thuỷ tinh, công nghiệp sành sứ, đồ gốm, dệt may…) cũng giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp vật tư cho du lịch.Tính cao cấp và tính thứ yếu của tiêu dùng du lịch đòi hỏi hàng hoá và dịch vụ du lịch phải có chất lượng cao Vì vậy, những địa phương có nền kinh tế phát triển, với nhiều ngành kinh tế có khả năng tạo ta các sản phẩm cao cấp sẽ là nơi có điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch Cũng ở chính những địa phương này, du lịch sẽ mang lại lợi ích thực sự cho cộng đồng dân cư
1.2.2.3 Chính sách phát triển du lịch:
Chính sách phát triển của Nhà nước trung ương và chính quyền sở tại sẽ giữ vai trò quyết định đến hoạt động du lịch của một quốc gia hoặc của một địa phương Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng,
Trang 14mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền không hỗ trợ cho hoạt động du lịch thì các hoạt động này cũng khó có thể phát triển được
1.2.2.4 Nhu cầu du lịch
Khi trình độ kinh tế, xã hội và dân trí ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người không chỉ dừng ở mức ăn mặc, giải trí thông thường mà còn hướng đến những nhu cầu cao hơn về thưởng thức cái đẹp, năng cao hiểu biết xã hội…
Du lịch chính là hoạt động giúp con người thoả mãn những nhu cầu đó Vậy nhu cầu du lịch là gì? Theo các chuyên gia tâm lý học thì nhu cầu là cái tất yếu, tự nhiên, nó là thuộc tính tâm lý của con người, là sự đòi hỏi tất yếu của con người
để tồn tại và phát triển Nếu được thoả mãn sẽ gây ra những xúc cảm dương tính
và ngược lại sẽ gây cảm giác ấm ức, khó chịu (xúc cảm âm tính)
Nhu cầu du lịch xét một cách tổng thể chính là một loại nhu cầu đặc biệt, thứ cấp và tổng hợp của con người Tính đặc biệt là do nó khác với những nhu cầu hàng ngày của con người, khi tham gia du lịch du khách sẽ chi tiêu phóng khoáng hơn, đòi hỏi chất lượng phục vụ tốt hơn Tính thứ cấp vì con người chỉ
có thể đi du lịch khi đã thoả mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày Tính tổng hợp là vì trong mỗi chuyến du lịch du khách có nhiều nhu cầu khác nhau và để thoả mãn những nhu cầu đó phải có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
Thực tế cho thấy, ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu đại chúng và các yếu tố tự thân chính làm gia tăng nhu cầu du lịch là thời gian nhàn rỗi, thu nhập và trình độ giải trí
Thời gian nhàn rỗi là điều kiện để con người thực hiện các chuyến đi du
lịch Thông thường thời gian của dân cư được chia thành hai phần: thời gian trong giờ làm việc và thời gian ngoài giờ làm việc Xu hướng chung trong nền kinh tế hiện đại ngày nay là giảm bớt thời gian làm việc và tăng tương ứng thời gian nhàn rỗi Nhiều nước đã chuyển sang chế độ một tuần làm việc 5 ngày,
Trang 15hoặc rút ngắn thời gian làm việc vào các ngày nghỉ lễ mà vẫn được trả lương Thực tế, thời gian nhàn rỗi được con người sử dụng vào các mục đích khác nhau như sử dụng thời gian nhàn rỗi tích cực (học tập, nghiên cứu để nâng cao trình
độ của bản thân, hoặc tham gia các hoạt động phát triển thể lực, vui chơi, giải trí…) và sử dụng thời gian nhàn rỗi tiêu cực (đánh bạc, nhậu nhẹt, để thời gian trôi qua vô ích…) Trên cơ sở đó, du lịch sẽ đưa ra những chiến lược quảng bá nhằm hướng người dân sử dụng thời gian nhàn rỗi vào mục đích nâng cao hiểu biết, sức khoẻ thông qua con đường du lịch Các cơ sở du lịch sẽ là những địa chỉ có ích cho việc sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hợp lý góp phần xây dựng một xã hội ổn định, công bằng và văn minh
Thu nhập hay khả năng tài chính của dân cư cũng là yếu tố làm gia tăng
nhu cầu du lịch Với mức sống cao thì họ mới có khả năng thanh toán cho các nhu cầu về du lịch Vì khi đi du lịch du khách thường có xu hướng tiêu nhiều tiền cho các loại hàng hoá và dịch vụ Thu nhập của nhân dân là điều kiện quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch Con người khi muốn đi du lịch không chỉ cần có thời gian nhàn rỗi mà còn phải có đủ tiền mới
có thể thực hiện được mong muốn đó Thu nhập của dân cư tăng thì nhu cầu du lịch cũng tăng theo, trong khi đó thu nhập của dân cư lại phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập quốc dân của đất nước
Trình độ văn hoá: sự tăng trưởng của du lịch còn phụ thuộc vào trình độ
văn hoá Trình độ văn hoá của cộng đồng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Số người đi du lịch nhiều, lòng ham hiểu biết
và hưởng thụ của dân cư tăng lên và từ đó hình thành thói quen đi du lịch Nếu trình độ văn hoá của nhân dân ở khu vực phát triển du lịch cao thì cung cách phục vụ du khách sẽ văn minh, tiến bộ hơn Còn trình độ văn hoá của du khách cũng được thể hiện thông qua cách cư xử của du khách với nơi du lịch Nếu du khách và dân địa phương có hiểu biết cao sẽ làm cho hoạt động du lịch tăng
Trang 16thêm giá trị, ngược lại chính những hành vi thiếu văn hoá của họ có thể là nhân
Một là điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên Bất kỳ một
vùng lãnh thổ nào cho dù có điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội rất phát triển mà không có tài nguyên du lịch thì khó có thể phát triển được du lịch
Điều kiện tự nhiên bao gồm các bộ phận hợp thành chủ yếu sau:
Vị trí địa lý (khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách) Nếu nơi nhận khách cách xa nơi gửi khách sẽ làm cho khách hàng phải trả thêm chi phí
đi lại, thời gian du lịch bị rút ngắn và làm cho sức khoẻ bị tổn hại vì đường đi kéo dài Ngày nay, với sự phát triển của ngành Giao thông vận tải (nhất là lĩnh vực Hàng không) đã khắc phục đáng kể những khó khăn về khoảng cách đối với
du khách và nơi tiếp nhận khách
Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên cảnh quan du lịch Địa hình càng đa dạng, độc đáo càng có sức hấp dẫn đối với du khách Trong đó kiểu địa hình karst (núi và hang động), địa hình bờ nước là những tài nguyên du lịch rất quý giá
Những khu du lịch có khí hậu ôn hoà cũng thường được du khách lựa chọn Vì những nơi có quá nhiều gió, không khí quá lạnh hoặc quá nóng, mưa quá nhiều… sẽ làm ảnh hưởng đến các hoạt động du lịch và sức khoẻ của du
Trang 17khách Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau như hoạt động du lịch tắm biển thích hợp với nhiệt độ từ 20o
C - 25oC, hoạt động du lịch leo núi thích hợp với khí hậu ít mưa… Do đó, để du lịch hoạt động có hiệu quả thì các đơn vị kinh doanh cần phải căn cứ vào đặc điểm khí hậu của vùng để phát triển loại hình du lịch tương ứng
Nước là một yếu tố không thể thiếu được để phát triển du lịch Ngày nay nguồn nước không chỉ có tác dụng tạo ra một bầu không khí trong lành mà ở một số nơi nước còn có tác dụng chữa bệnh (nước khoáng, nước nóng…) Đây chính là điều kiện để không ít nơi mở rộng loại hình du lịch chữa bệnh
Hệ động thực vật cũng là một trong những nhân tố góp phần thu hút khách
du lịch Có những loài động thực vật là đối tượng cho săn bắn, du lịch, cũng có những loại phục vụ cho nghiên cứu Rất nhiều người muốn được nhìn thấy tận mắt cảnh sinh sống của các loài động vật hoang dã Hình thức du lịch về với thiên nhiên đang trở thành xu thế phổ biến
Hai là bên cạnh tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn cũng có một
vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch Tài nguyên nhân văn là những giá trị lịch sử, văn hoá, các thành tựu về kinh tế, chính trị có ý nghĩa đặc trưng cho từng vùng Tất cả các quốc gia đều có giá trị lịch sử, nhưng mỗi nước lại có nét hấp dẫn khác nhau Thông thường các giá trị lịch sử lôi cuốn các khách du lịch nội địa muốn tìm hiểu về lịch sử dân tộc mình, nhưng cũng có những giá trị lịch sử của một số dân tộc lại gây tò mò cho các du khách nước ngoài (Trung Quốc, ấn Độ, Ai Cập…) Tương tự như giá trị lịch sử, giá trị văn hoá thu hút khách du lịch với mục đích nghiên cứu, tham quan Vì giá trị văn hoá thường gắn liền với hoạt động văn hoá (triển lãm nghệ thuật, hội trợ, festival,…) hoặc các phong tục tập quán cổ truyền Đây chính là những tiềm năng đầu tiên giúp cho du lịch của các quốc gia đi lên
Trang 18Ba là các điều kiện về sẵn sàng đón tiếp du khách Nó bao gồm các điều
kiện về tổ chức (năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy lãnh đạo địa phương và trung ương, các thể chế quản lý, các tổ chức kinh doanh du lịch…), các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch như khách sạn, nhà hàng, công viên, hệ thống giao thông,… Hiệu quả khai thác sử dụng các tài nguyên du lịch có tốt hay không thì phần lớn là những điều kiện vật chất - kỹ thuật này quyết định Ngoài ra, các điều kiện về kinh tế cũng có ảnh hưởng đến sự sẵn sàng phục vụ
du khách Vì nếu như kinh tế của địa phương đó phát triển thì sẽ cung ứng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ tốt cả về số lượng và chất lượng, tạo ra nguồn vốn dồi dào để đầu tư cho du lịch Bởi đây là ngành kinh tế liên tục đổi mới
Như vậy, đối với các quốc gia có tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng sẽ
là những thuận lợi rất lớn để cho hoạt động du lịch phát triển Những điều kiện ở trên tuy có mối quan hệ tương tác với nhau, nhưng mỗi điều kiện lại có những ảnh hưởng độc lập nhất định đến sự phát triển của du lịch Do đó, nếu thiếu một trong những điều kiện này sẽ làm cho hoạt động du lịch trì trệ, phát triển thiếu cân đối, giảm sút hoặc hoàn toàn ngừng hẳn Tất cả các điều kiện này được đảm bảo sẽ giúp cho du lịch phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững
1.3.3 Vai trò của phát triển du lịch đối với đời sống kinh tế - xã hội
Du lịch có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Nó là một trong những điều kiện góp phần phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, lạc hậu, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư
- Du lịch góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là kinh tế nông thôn Vì hầu hết các địa bàn có hoạt động du lịch phát triển đều nằm ở các vùng nông thôn của nước ta ở nông thôn dân cư chủ yếu sống bằng nghê nông (trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi…), mà phần lớn là sản xuất quy mô nhỏ, lao động thủ công, thu nhập thấp, thời gian nhàn rỗi nhiều, nên tình trạng thiếu việc làm, thừa lao
Trang 19động ở khu vực này là rất lớn Do đó, nếu phát triển được du lịch thì sẽ thu hút một lượng lao động lớn chuyển sang làm việc tại các nhà hàng, khách sạn … Hơn nữa du lịch phát triển còn giúp cho các làng nghề truyền thống phục hồi và phát triển bước đầu tạo ra sự thay đổi về tỷ trọng giữa các ngành nghề nông thôn, thu hút lao động từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thúc đẩy hoạt động thương mại
- Góp phần xoá đói giảm nghèo Đây là một trong những vấn đề khó khắc phục nhất đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Vì muốn xoá đói giảm nghèo triệt để không thể chỉ tiến hành dựa vào sự đồng cảm, mối quan tâm, chia sẻ của cộng đồng (kêu gọi đóng góp lập quỹ xoá đói nghèo) mà yếu tố quyết định là phải tạo ra nguồn nội lực để mỗi gia đình, cá nhân có thể tự lao động, sản xuất nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống của chính mình và đảm bảo không tái nghèo Du lịch phát triển sẽ tạo ra cho dân cư nhiều việc làm,
do họ có thể tham gia vào các dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch (bán hàng lưu niệm, hướng dẫn du khách, cho thuê nhà nghỉ…) Tuy nhiên, để thực sự xoá đói giảm nghèo thì cũng cần phải có các chính sách hỗ trợ của Nhà nước như cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, đào tạo nghề…
- Du lịch có vai trò quan trọng trong việc tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Do khách du lịch quốc tế là đối tượng có khả năng chi trả cao cho các dịch
vụ của du lịch như ăn uống, lưu trú, mua hàng lưu niệm, giao thông vận tải,…
- Hoạt động du lịch tác động mạnh đến dòng chảy của tiền tệ Một số lượng tiền lớn sẽ di chuyển từ nơi có thu nhập cao (đô thị, các trung tâm công nghiệp) đến những vùng có thu nhập thấp hơn (nông thôn, miền núi) Cho nên,
du lịch có vai trò tích cực trong việc cân bằng lại sự chênh lệch về thu nhập giữa các vùng Quá trình di chuyển tiền tệ thông qua tiêu dùng du lịch đến các vùng kém phát triển phần nào rút ngắn khoảng cách và cải thiện tình trạng bất bình đẳng về mức sống ở những vùng khó khăn hơn
Trang 20- Hoạt động du lịch góp phần kích thích cơ sở hạ tầng phát triển Vì du lịch
là hoạt động liên ngành - liên vùng, cần phải có sự hỗ trợ lớn của các ngành khác Du lịch muốn phát triển được phải dựa trên cơ sở của một sâu chuỗi: giao thông vận tải (sân bay, bến cảng, cầu phà…), nhà hàng, khách sạn, các cơ sở y
tế, bưu điện, hệ thống cấp - thoát nước… có chất lượng tốt, hiện đại Do đó, du lịch cũng có vai trò trong việc nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật quốc gia
- Du lịch thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các nguồn đầu tư
từ nước ngoài thông qua các dự án xây dựng các khu du lịch tổng hợp, các khu
du lịch trọng điểm
- Du lịch cũng thu hút một bộ phận lớn dân cư tham gia vào các dịch vụ, xây dựng, bán sản phẩm du lịch… nên có khả năng giảm tình trạng thất nghiệp ở các địa phương Ngoài ra, du lịch còn có vai trò trong việc hạn chế nguồn di dân
từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm những cơ hội việc làm và môi trường sống tốt hơn
- Khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống lâu đời thông qua việc phát triển các loại hình du lịch văn hoá: du lịch làng nghề, các lễ hội, các di tích lịch sử…
Có thể thấy, du lịch là một trong những ngành mang lại cho đời sống kinh
tế - xã hội của đất nhiều giá trị tích cực Tác động của nó là rất sâu rộng
1.2 PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.2.1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
“Phát triển bền vững” là một khái niệm rất mới, nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của nhân loại Các tổ chức nghiên cứu kinh tế, môi trường khác nhau cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững Năm 1987, Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã công bố báo
cáo: Tương lai chung của chúng ta Báo cáo này đã đề cập và phân tích mối
Trang 21quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển Trong đó “môi trường là nơi chúng ta đang sống; phát triển là những gì chúng ta làm để cố gắng cải thiện tất
cả mọi thứ ở bên trong nơi chúng ta sống, và do vậy hai vế này không thể tách rời nhau” Cũng trong báo cáo này “phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của những thế hệ tương lai”
Do đó, phát triển bền vững là sự phát triển lành mạnh, trong đó sự phát triển của cá nhân này không làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác, sự phát triển của cá nhân không làm thiệt hại đến lợi ích chung của công đồng, sự phát triển của cộng đồng người này không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng người khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của thế hệ mai sau và sự phát triển của thế hệ loài người không đe doạ sự sống còn hoặc suy giảm nơi sinh sống của các loài khác trên hành tinh Bởi vì, sự sống của con người là dựa trên cơ sở duy trì được sản lượng, năng suất tự nhiên, khả năng phục hồi và đa dạng của sinh quyển
Như vậy, phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Quan điểm này được tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô
và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn Tăng trưởng về số lượng phải đi đôi với
Trang 22nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế… Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người Thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội… Phải rất coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”,
Trên cơ sở đó, có thể hiểu phát triển du lịch bền vững là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến với các vùng, điểm du lịch, đồng thời bảo vệ và năng cao chất lượng của ngành này cho tương lai Nó được định ra để hướng việc quản lý toàn bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách mà chúng ta có thể thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống
1.2.2 Nội dung phát triển du lịch bền vững
Hiện tại có ba trụ cột của phát triển bền vững đã được thừa nhận và bất kỳ một ngành kinh tế nào cũng phải hướng tới đạt được cả ba mục tiêu căn bản đó:
- Sự bền vững về kinh tế, nghĩa là tạo sự tăng trưởng, hiệu quả và ổn định cho tất cả các tầng lớp trong xã hội và đạt được hiệu quả giá trị cho tất cả mọi hoạt động kinh tế
- Sự bền vững xã hội, đó là tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất
cả mọi người trong xã hội Đó là sự phát triển nội sinh do chính xã hội đó thực hiện chứ không phải là một sự phát triển ngoại sinh, sống nhờ hoàn toàn vào nguồn lực từ bên ngoài Nó đòi hỏi phải phân chia lợi ích một cách công bằng, với trọng tâm là giảm đói nghèo
- Sự bền vững về môi trường, có nghĩa là bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên không thể thay mới, không thể tái sinh và quý hiếm đối với cuộc sống con người
Trang 23Vì vậy, để phát triển bền vững về du lịch thì chúng ta cần phải đảm bảo cho sự phát triển du lịch trong mối tác động qua lại của cả ba cực nói trên
Đối với phát triển bền vững về kinh tế, du lịch tăng trưởng sẽ đóng góp một phần lợi nhuận không nhỏ vào ngân sách Nhà nước, thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng hợp lý hơn
Đối với phát triển bền vững về xã hội, du lịch cần phải đảm bảo đem lại lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn, việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư và ổn định về xã hội, đồng thời bảo tồn các giá trị về văn hoá, xã hội (giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống)
Đối với phát triển bền vững về môi trường thì đòi hỏi trong khi phát triển
du lịch, việc khai thác, sử dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại phải đảm bảo không phương hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai Điều này được thể hiện rõ ở vấn đề sử dụng tài nguyên một cách hợp lý đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái
1.2.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Ngành du lịch có một vị trí đặc biệt trong sự đóng góp vào phát triển bền vững và là một trong những thách thức của bản thân ngành đó Đó là do động lực tăng trưởng tự thân nó và thêm vào đó là những đóng góp to lớn của nó đối với nền kinh tế quốc dân Hơn nữa, du lịch lại là một hoạt động có sự tương quan chặt chẽ giữa người tiêu dùng (khách du lịch), các nhà kinh doanh du lịch, môi trường với cộng đồng địa phương Chính những mối quan hệ tương tác này đòi hỏi sự phát triển bền vững trong ngành du lịch cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
1.2.3.1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng
Trang 24Trong khi khai thác tiềm năng du lịch, các tổ chức phải chịu trách nhiệm chủ yếu đối với việc duy trì và cải thiện môi trường ở nơi được xem là đối tượng kinh doanh chủ yếu của hoạt động du lịch Trước khi thực hiện các dự án phát triển du lịch cần phải khảo sát, nghiên cứu địa bàn kỹ càng để giảm thiểu được các tác động tiêu cực tới tài nguyên, môi trường và cuộc sống của cộng đồng dân cư tại địa phương Các đơn vị cũng cần đảm bảo cho sự phát triển đa dạng các hoạt động kinh doanh dịch vụ, với sự tham gia đầy đủ nhất của cộng đồng địa phương Cần phải chia sẻ công bằng giữa phúc lợi và chi phí trong việc trong việc bảo vệ tài nguyên và môi trường giữa các cộng đồng và các nhóm liên quan, giữa người giàu và người nghèo, giữa thế hệ hiện tại và thế hệ mai sau Do
đó, nguyên tắc này thể hiện trách nhiệm và đạo đức của con người đối với sự phát triển nói chung
1.2.3.2 Cải thiện chất lượng cuộc sống con người
Mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững là không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Cho nên, du lịch muốn phát triển bền vững thì cũng phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của dân cư Trên thực tế
du lịch phát triển thì sẽ có khả năng tạo ra nhiều việc làm (phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn du khách, bán hàng lưu niệm…), góp phần giúp địa phương giải quyết được vấn đề thất nghiệp tại chỗ, tăng thêm đáng kể thu nhập cho dân cư Khi người dân có thêm thu nhập thì họ còn có điều kiện để cải thiện đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần (nâng cao trình độ văn hoá, vui chơi, giải trí…) và hạn chế các tệ nạn xã hội
1.2.3.3 Phát triển du lịch gắn liền với việc bảo vệ sự sống và bảo tồn tính đa dạng
Du lịch muốn phát triển được thì phải phụ thuộc chủ yếu vào các tiềm năng tự nhiên và nhân văn Vì vậy, sự phát triển du lịch phải trên cơ sở bảo vệ
Trang 25được cấu trúc, chức năng và tính đa dạng của toàn bộ những tiềm năng này Trong khi sử dụng các tài nguyên du lịch, các tổ chức phải tôn trọng tính đa dạng của thiên nhiên và văn hoá - xã hội tại nơi diễn ra hoạt động phát triển du lịch Đảm bảo sự phát triển về nhịp độ, quy mô và các loại hình kinh doanh du lịch không làm ảnh hưởng đến sự nhạy cảm của tính đa dạng tự nhiên và tính đa dạng của văn hoá - xã hội bản địa Đảm bảo không phá hủy đa dạng sinh thái tự nhiên Khuyến khích đa dạng kinh tế - xã hội bằng việc lồng ghép du lịch vào các hoạt động của cộng đồng địa phương Không khuyến khích việc thay thế các ngành nghề truyền thống lâu đời bằng một nghề chuyên môn hoá phục vụ du lịch Chia sẻ những lợi ích thu được góp phần vào việc bảo tồn tính đa dạng thiên nhiên, đa dạng sinh thái, đa dạng văn hoá và xã hội
1.2.3.4 Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội
Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
-xã hội, trong đó phải tính đến mối liên hệ giữa phát triển du lịch với phát triển các ngành kinh tế, với việc đảm bảo môi trường và phát triển văn hoá - xã hội của địa phương Giảm thiểu các tổn hại về môi trường, xã hội và văn hoá thông qua việc đánh giá tác động tới môi trường một cách toàn diện, với sự tham gia của cộng đồng địa phương và các cấp chính quyền Các cơ quan chức năng phải thường xuyên giám sát các tác động của du lịch trong quá trình phát triển để có những điều chỉnh phù hợp, đảm bảo hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường khu vực
1.2.3.5 Thay đổi thái độ và thói quen sống của dân cƣ
Hiện nay, có rất nhiều tài nguyên du lịch đang bị chính con người (vô ý hoặc cố ý) tàn phá rất nặng nề Nhiều khu di tích, địa điểm du lịch đang bị xuống cấp nghiêm trọng, thậm trí bị phá huỷ Cho nên, việc giáo dục cho người
Trang 26dân có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các di tích thắng cảnh sẽ giúp cho công tác bảo tồn di tích có hiệu quả hơn Có như vậy, việc khai thác các tiềm năng du lịch mới có thể thực hiện được lâu dài, nhất là lợi ích của các thế
hệ tương lai cũng không bị ảnh hưởng Trong quá trình đào tạo cần chú trọng nâng cao hiểu biết về bản chất phức tạp của du lịch hiện tại trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường để nâng cao ý thức trách nhiệm và tự hào trong công việc để đảm bảo đội ngũ cán bộ công nhân viên người địa phương là nhân
tố tích cực bảo vệ tài nguyên, môi trường và quyền lợi của cộng đồng địa phương Dành một tỷ lệ thoả đáng từ nguồn thu du lịch cho các chương trình giáo dục nâng cao hiểu biết của cộng đồng, xã hội đối với các di sản và môi trường
1.2.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
Tôn trọng nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng địa phương được cùng điều hành và tham gia hoạt động du lịch Khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương vào việc triển khai thực hiện các dự án phát triển du lịch trên địa bàn của họ Huy động tối đa khả năng của con người và cơ sở vật chất
kỹ thuật của cộng đồng địa phương vào việc phục vụ hoạt động phát triển du lịch
1.2.3.7 Thường xuyên trao dồi, tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương và các đôi tác liên quan
Thông báo cho người dân địa phương về những lợi ích tiềm tàng cũng như những thay đổi tiềm ẩn do những hoạt động phát triển du lịch gây nên Qua
đó cùng cộng đồng địa phương xác định những phương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai thác có hiệu quả những tiềm năng về tài nguyên, đem lại lợi
Trang 27ích cho người dân và sự phát triển bền vững của du lịch Để du lịch phát triển bền vững cần phải thiết lập sự trao đổi thường xuyên với cộng đồng địa phương, với các cấp chính quyền và các ngành có liên quan bằng nhiều hình thức như: hội thảo, gặp gỡ, trưng cầu ý kiến ngay trong quá trình quy hoạch, lập dự án phát triển du lịch để đảm bảo rằng phương án chọn lựa sẽ đem lại quyền lợi cho các bên tham gia cũng như gắn trách nhiệm của họ đối với sự phát triển du lịch
Hiện nay, không một địa phương nào có thể phát triển du lịch một cách cục bộ, đóng kín được, vì sự phát triển bền vững phải là sự liên minh vững chắc của toàn khu vực Do sự phát triển của ngành du lịch ở các vùng sẽ không đồng đều nên khi ngành du lịch kiến tạo được một mối liên hệ vững chắc giữa các vùng thì lợi ích do du lịch mang lại sẽ được san sẻ một cách công bằng Bên cạnh đó, các tài nguyên như nước, không khí, rừng, biển… chỉ có thể bảo vệ bằng sự quản lý chung, mục đích chung và giải pháp chung Toàn thể các vùng đều được lợi từ sự phát triển du lịch bền vững và bị thiệt hại nếu không thực hiện được điều đó
1.2.3.8 Cho phép địa phương tự quản lý lấy môi trường của mình
Phần lớn các sáng tạo, hiệu quả của các cá nhân và tổ chức đều xảy ra trong cộng đồng Các cộng đồng thường tạo ra những điều kiện thuận lợi và sẵn sàng thực hiện các hành động có ích cho xã hội, vì các cộng đồng hơn ai hết có thể hiểu và quan tâm đến đời sống của chính mình Nhờ nắm vững tình hình môi trường xung quanh nên khi họ có quyền hạn, họ sẽ tự quản lý được môi trường sống một cách thích hợp nhất, tiết kiệm và hiệu quả, nhờ đó chất lượng của ngành du lịch cũng được cải thiện
1.2.3.9 Tăng cường tiếp thị một cách có trách nhiệm
Đảm bảo việc tiếp thị du lịch "xanh" không là một mánh khoé kinh doanh
mà phản ánh đúng chính sách và những hoạt động có lợi cho môi trường Hướng
Trang 28dẫn khách những điều "cần làm" và những điều "không nên làm" về phương diện môi trường ở những điểm tham quan du lịch Làm cho khách du lịch nhận thức được những tác động tiềm tàng và trách nhiệm của họ đối với cộng đồng địa phương nơi họ đến Cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ nhất và không thiên lệch để họ có thể hiểu mọi khía cạnh môi trường có liên quan đến chuyến đi du lịch, giúp họ có được sự lựa chọn thích hợp Cung cấp đầy đủ những thông tin cho du khách về việc cần tôn trọng những di sản văn hoá và thiên nhiên ở những nơi mà họ sẽ tới Phát triển du lịch nên chú ý tới sự thích hợp với tiềm năng tài nguyên và khả năng tiếp nhận môi trường của lãnh thổ về quy mô, số lượng và loại khách du lịch Không khuyến khích các hoạt động du lịch đến những nơi có nền văn hoá hoặc môi trường nhạy cảm, dễ bị tổn hại
Phát triển du lịch bền vững phải dựa trên những nguyên tắc trên đây, những nguyên tắc này liên kết cộng đồng con người lại với nhau Nhưng chúng hướng dẫn hành động của con người chứ không phải là mệnh lệnh Nó kết nối các dân tộc với nhau để cùng hành động thúc đẩy du lịch phát triển lành mạnh
1.2.4 Lợi ích của việc phát triển du lịch bền vững
Trong thời đại ngày nay và cả trong thời gian tới đây việc phát triển du lịch theo hướng bền vững đã trở thành xu thế chung Đó là do đặc tính của ngành du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp, phức tạp nên cần phải có sự quy hoạch phát triển đồng bộ Sản phẩm của ngành du lịch là kết quả của tài nguyên có khả năng phục hồi, tài nguyên khó phục hồi và tài nguyên không thể phục hồi, nên cần có sự sắp xếp chặt chẽ Do nhu cầu của du khách hay xã hội về du lịch ngày càng nhiều với loại hình và chất lượng phục vụ ngày càng cao hơn, vì mức sống của con người đang được nâng lên một cách nhanh chóng và trình độ văn hoá ngày càng được cải thiện, bởi vậy, phát triển du lịch bền vững mang lại rất nhiều lợi ích cho các bên tham gia vào hoạt động này
Trang 29Ngoài những lợi ích mang tỉnh tổng thể đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong dài hạn và qua nhiều thế hệ thì phát triển du lịch bền vững cũng mang lại lợi ích cho các bên tham gia Cụ thể:
- Lợi ích cho nhà cung cấp: các nhà cung cấp hoạt động du lịch thu được rất nhiều lợi ích Nếu tạo được nhiều sản phẩm du lịch đáp ứng được ngày càng lớn nhu cầu của du khách thì sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Do tính chu kỳ sống của sản phẩm du lịch và điểm du lịch nên khi phát triển du lịch bền vững sẽ kéo dài tuổi thọ của các điểm du lịch Nhờ đó các nhà cung cấp sẽ yên tâm đầu
tư lâu dài, mở rộng quy mô hoạt động, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh và tất yếu lợi nhuận sẽ tăng lên đáng kể
- Lợi ích cho khách du lịch: do các điểm du lịch đã được chú ý đầu tư, quy hoạch, khai thác có kế hoạch, đặc biệt là công tác bảo tồn, giữ gìn môi trường được triển khai sâu rộng, nên du khách sẽ được tiếp cận, nghiên cứu và khám phá các nền văn hoá, các phong tục tập quán lâu đời trường tồn qua thời gian
Du khách có điều kiện chiêm ngưỡng các phong cảnh tự nhiên hoang sơ kết hợp với sự tu bổ của con người Thêm vào đó, du khách sẽ được sử dụng các sản phẩm du lịch tốt nhất với chi phí thấp nhất
- Lợi ích cho điểm du lịch: Ban quản lý các khu du lịch bằng việc cung cấp các sản phẩm du lịch cho các đơn vị kinh doanh và khách du lịch thu được một khoản lợi nhuận đáng kể Khoản thu nhập này sẽ giúp cho họ tiếp tục đầu tư cải tạo, nâng cấp, bảo tồn các tài nguyên du lịch Do chất lượng các sản phẩm du lịch ngày càng tốt hơn, lôi cuốn được nhiều du khách hơn, nên sẽ góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp tại chỗ, tăng thu nhập cho dân cư sở tại, phát triển đời
sống văn hoá, tinh thần
Có thể thấy, du lịch phát triển theo hướng bền vững sẽ là một trong những ngành mang lại cho đời sống kinh tế - xã hội của địa phương nhiều giá trị tích cực và tác động của nó là rất sâu rộng, lâu dài
Trang 301.3 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế, trong bối cảnh đổi mới đất nước với những thành tựu đã đạt được về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã coi “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Thời gian vừa qua, ngành du lịch Việt Nam
đã có nhiều bước phát triển mới, nhất là khi thực hiện theo chiến lược phát triển
du lịch bền vững do Tổng cục Du lịch đề ra
1.3.1 Tiềm năng du lịch của Việt Nam
Với một vị trí địa lý thuận lợi, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, Việt Nam có điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp nhiều ngành, trong đó du lịch là một ngành kinh tế có vai trò rất quan trọng và
có triển vọng phát triển rất lớn
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S năm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương Phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Cămpuchia, phía đông nam trông ra biển Thái Bình Dương và biển Đông Việt Nam có diện tích 331.211,6 km2, tổng số dân là 85.154 nghìn người (năm 2007), đường bờ biển dài 3.260 km, biên giới đất liền dài 4.510 km Trên đất liền từ cực Bắc đến cực Nam (theo đường chim bay) dài 1.650 km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600 km (Bắc Bộ), 400 km (Nam Bộ), nơi hẹp nhất 50 km (Quảng Bình)
Lãnh thổ Việt Nam có ba phần tư là đồi núi, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, hai đồng bằng lớn, nhiều sông ngòi Vùng núi Đông Bắc kéo dài từ thung lũng Sông Hồng đến vịnh Bắc Bộ Tại đây có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn), hang Pắc Bó, thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), núi Yên Tử, Vịnh Hạ Long - di sản văn hoá thế giới - (Quảng Ninh) Vùng núi Tây Bắc (giáp Trung Quốc) kéo dài từ phía
Trang 31Bắc tới phía Tây tỉnh Thanh Hoá Đây là vùng núi cao hùng vĩ có Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1.500 m so với mặt nước biển, nơi nghỉ mát lý tưởng, tập trung đông đảo các dân tộc H’Mông, Dao, Kinh, Tày, Dáy… Ngoài ra, còn có vùng núi với di tích chiến trường lừng danh Điện Biên Phủ và đỉnh núi Phan Si Păng (cao 3.143m), là núi cao nhất Đông Dương… đặc biệt có đường mòn Hồ Chí Minh được cả thế giới biết đến bởi những kỳ tích của người Việt Nam trong các cuộc kháng chiến vĩ đại Vùng núi Nam Trường Sơn nằm ở phía tây các tỉnh Nam Trung Bộ Sau vùng núi đá đồ sộ là Tây Nguyên, vùng đất đầy huyền thoại này còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn về động, thực vật, nhất là nền văn hoá đặc sắc của các bộ tộc ít người
Việt Nam có một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú Rừng Việt Nam có nhiều loài cây gỗ quý như đinh, lim, sến, táu, pơ mu… Đây là những tiền đề để chúng ta phát triển du lịch với các khu du lịch tự nhiên, du lịch sinh thái, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên như Cúc Phương, Cát Bà, Ba Vì… Tính chung thì các loài thực vật bậc cao có 12.000 loài, cây dược liệu có 1.500 loài Về động vật ước tính Việt Nam có 1.000 loài chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát và ếch nhái Các sản phẩm từ động, thực vật chính là tài nguyên cho
du lịch, vì nó cung cấp một nguồn lương thực, thực phẩm phong phú cho văn hoá ẩm thực Việt Nam
Diện tích mặt nước kể cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn là nguồn tài nguyên phong phú về tôm, cá… với rất nhiều loài quý hiếm Chỉ tính riêng ở biển đã có 6.845 loài động vật, trong đó có 2.038 loài cá, 300 loài cua, 300 loài trai ốc, 75 loài tôm, 653 loài rong biển… Có nhiều loài thân mềm ngon và quý như sò huyết, hải sâm, ngọc trai… có tiềm năng phục vụ cho xuất khẩu và phát triển du lịch Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp: Trà Cổ, Lăng Cô, Non Nước, Nha Trang, Mũi Né… có nơi núi ăn lan ra biển tạo nên những vẻ đẹp kỳ vĩ (Vịnh Hạ Long)
Trang 32Tài nguyên khoáng sản đa dạng: trữ lượng than ước tính trên 6 tỉ tấn, dầu khí, Urani, kim loại đen (sắt, măng gan, titan…), kim loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc…), khoáng sản phi kim loại (apatit, pyrit…)…
Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên 7000 di tích lịch sử, văn hoá mang dấu ấn của quá trình dựng nước và giữ nước (trong đó có 2.500 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) như đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu… Đặc biệt
là quần thể di tích Cố đô Huế, phố cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới Hàng nghìn đền, chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật - văn hoá khác nằm rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng như thế, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong việc khai thác, nhưng những năm gần đây du lịch Việt Nam cũng đã thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước, góp phần đáng kể cho tổng thu nhập của nền kinh tế quốc dân Hơn thế, với tiềm năng và sản phẩm du lịch của mình, ngành du lịch đang tạo điều kiện tốt cho bạn bè khắp năm châu ngày càng hiểu biết về con người và đất nước Việt Nam
1.3.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển bền vững du lịch Việt Nam
1.3.2.1 Quan điểm
Việt Nam có nhiều ưu thế để phát triển du lịch bền vững Để có thể khai thác hiệu quả các ưu thế đó, hạn chế sự lãng phí các nguồn tài nguyên du lịch, góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững, Đảng ta đã đề ra quan điểm về phát triển
du lịch: “… phát triển du lịch thật sự là một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước…” (tr.178, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn
Trang 33quốc lần thứ IX), và “… nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động du lịch Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến du lịch để đầu tư phát triển một
số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm; đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn Phát triển và đa dạng hoá các loại hình và điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Xây dựng
và nâng cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh liên kết với các nước trong hoạt động du lịch …” (tr.287, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX) Quan điểm này được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “… khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch …” (tr.202, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X)
Các quan điểm trên của Đảng là xuất phát từ đặc điểm du lịch là một ngành kinh tế mang tính tổng hợp Sự phát triển của ngành du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành liên quan khác Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam
Trong khu vực và trên thế một số nước có nhiều điều kiện tương đồng với chúng ta, thậm chí còn thua kém, song do sớm có chủ trương, chính sách phát triển du lịch phù hợp nên đến nay ngành du lịch của họ đã đạt trình độ phát triển khá cao, trở thành ngành kinh tế chủ yếu, có đóng góp không nhỏ vào tổng thu nhập quốc dân Là một nước có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, nên Việt Nam đã đẩy mạnh đầu tư đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Để du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển nhanh và bền vững Việt Nam đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực này Các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước vừa phát huy được nhiều nguồn lực, vừa đưa du lịch nước ta phát triển đúng định hướng XHCN, ổn định thị trường kinh doanh du lịch
Trang 34Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta diễn ra trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen lẫn nhau, chi phối lẫn nhau Do đó, yêu cầu phát triển du lịch nhanh là để thu hẹp khoảng cách tụt hậu so với các nước trên thế giới Tuy nhiên, trong quá trình phát triển phải đảm bảo yếu tố bền vững để hướng đến hiệu quả lâu dài
1.3.2.2 Mục tiêu
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đưa ra mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian tới Mục tiêu tổng quát: phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hoá lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch tầm khu vực, phấn đấu đến năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực
Để thực hiện mục tiêu tổng quát Đảng ta cũng đề ra những mục tiêu cụ thể như:
Mục tiêu về kinh tế: ngành du lịch tạo ra sự tối ưu hoá về đóng góp của
ngành vào thu nhập quốc dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tăng cán cân thanh toán Đồng thời Quy hoạch tổng thể Phát triển du lịch Việt Nam cũng dự báo vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI, du lịch sẽ thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn Đây là mục tiêu cơ bản nhất, vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển của du lịch Việt Nam
Mục tiêu về văn hoá - xã hội: phát triển du lịch tạo ra nhiều việc làm mới
cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, làm cho thu nhập của dân cư tăng lên và chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện Mặt khác, phát triển
du lịch sẽ góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Trong
Trang 35quá trình phát triển du lịch bền vững cũng cần phải chú ý ngăn chặn các tệ nạn
xã hội xâm nhập vào đời sống xã hội
Mục tiêu về môi trường: môi trường tự nhiên luôn là một tài nguyên quan
trọng của du lịch, do vậy, các dự án đầu tư, quy hoạch du lịch cần phải gắn liền với bảo vệ cảnh quan và môi trường tự nhiên, tôn trọng các quy luật, các giá trị
tự nhiên nhằm khai thác, phát triển du lịch một cách hiệu quả và bền vững
Mục tiêu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội: an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội ổn định là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch Vì nó đảm bảo an toàn cho khách trong suốt cuộc hành trình Nhờ đó, du lịch sẽ phát triển, kinh tế hưng thịnh và tạo tiền đề vật chất cho nền an ninh quốc phòng vững chắc hơn Bên cạnh nhiệm vụ kinh tế thì đảm bảo an ninh quốc gia luôn là nhiệm vụ cơ bản của ngành du lịch trong bất kỳ hoàn cảnh nào
Mục tiêu về hỗ trợ phát triển: các ngành khác có nhiệm vụ hỗ trợ cho du
lịch phát triển như cung cấp thông tin, công nghệ, phương tiện, những định hướng chiến lược cơ bản phát triển kinh tế - xã hội… nhằm giúp cho việc lập kế hoạch phát triển du lịch, phối kết hợp nghiên cứu, thống kê… giúp cho sự phát triển của ngành từ trung ương đến địa phương; mặt khác, du lịch phát triển sẽ hỗ trợ các ngành kinh tế khác; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thị trường tiêu thụ, mở rộng giao lưu, chuyển giao công nghệ…
Mục tiêu cụ thể: phấn đấu tốc độ tăng GDP của ngành du lịch bình quân
thời kỳ 2001 - 2010 đạt 11 - 11,5%năm với các chỉ tiêu cụ thể sau:
Năm 2010 khách quốc tế vào Việt Nam du lịch từ 5,5 đến 6 triệu lượt người, khách nội địa từ 25 đến 26 triệu lượt người, thu nhập du lịch đạt 4 đến 4,5 tỷ USD
Tỷ trọng ngành du lịch đóng góp trong GDP cả nước năm 2010 là 27%
Trang 36Đến năm 2020 Du lịch tạo 1,4 triệu việc làm cho xã hội, trong đó có khoảng 350.000 việc làm trực tiếp Phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu trong khu vực
1.3.3 Những thành tựu trong phát triển du lịch theo hướng bền vững của
Việt Nam
Trong thời gian vừa qua ngành du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến vượt bậc Cụ thể:
Thứ nhất, công tác xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật đã
đạt được những thành công đáng ghi nhận Để cho du lịch hoạt động và phát triển một cách vững chắc, Chính phủ đã ban hành Luật Du lịch, và một số Nghị định định hướng cho du lịch: Nghị định số 39/2000/NĐ-CP quy định về cơ sở lưu trú du lịch; Nghị định số 45/2000/NĐ-CP về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài và của doanh nghiệp du lịch nước ngoài ở Việt Nam; Nghị định số 27/2001/NĐ-CP về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch.Trong năm 2007, dưới sự hỗ trợ của một số Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương
và địa phương, Tổng Cục Du lịch đã hoàn thành và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 1/6/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Du lịch Năm 2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2002/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực du lịch đến ngày 9/10/2007 Chính phủ tiếp tục ban hành thêm Nghị định số 149/2007/NĐ-CP để hoàn thiện thêm các quy chế xử lý các vi phạm hành chính trong ngành… Các văn bản này thể hiện những nỗ lực của Ngành và các cấp liên quan trong tiến trình phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững để du lịch Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới Các văn bản này còn tạo môi trường pháp lý ổn định cho các hoạt động du lịch, nâng cao năng lực quản
lý của nhà nước về du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 37Thứ hai, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng lên
đáng kể
Bảng 1: SỐ LƯỢNG KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM
(Năm 2006 - tháng 11/2008)
Năm 2006 (Lượt người)
Năm 2006
so với 2005 (%)
Năm 2007 (Lượt người)
Năm 2007
so với 2006 (%)
11 tháng/2008 (Lượt người)
11 tháng/2008
so với cùng kỳ
2007 (%)
Tổng số 3.583.486 3,0 4.171.564 16,0 3.877.745 1,1 Theo phương
Đi công việc 575.812 16,2 643.611 11,7 777.538 31,3
Thăm thân nhân 560.903 10,4 603.847 7,6 461.437 8,34
Trang 38lượt người, tăng 16,0% so với năm 2006 Đây là một tín hiệu rất tốt cho ngành
Du lịch Việt Nam sau nhiều cố gắng Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, ngành xác định năm 2008 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, là năm để tất
cả các cấp, các ngành bứt phá về tốc độ để sớm đạt được những chỉ tiêu 5 năm
đề ra Năm 2008 là năm du lịch Việt Nam đạt được nhiều tín hiệu khả quan Tháng 1/2008 được đánh giá là tháng có tốc độ tăng cao nhất về số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong những năm vừa qua (đạt 420.000 lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2007), lượng khách quốc tế đến Việt Nam tháng 1/2006 (đạt 337.048 lượt người, tăng 11,9% so với cùng kỳ 2005), tháng 1/2007 (đạt 369.017 lượt người, tăng 9,5% so với cùng kỳ 2006) Trong 11 tháng của năm 2008 tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 3.877.745 lượt người, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước
Thứ ba, do lượng du khách quốc tế và khách nội địa tăng lên hàng năm,
cho nên, doanh thu của ngành du lịch Việt Nam cũng có những bước tăng trưởng đáng kể Năm 2006 thu nhập xã hội của ngành đạt 51.000 tỷ đồng tăng 8,5% so với năm 2005, năm 2007 đạt 56.000 tỷ đồng tăng 9,8% so với năm
2006 Mục tiêu hết năm 2008 doanh thu xã hội của du lịch đạt từ 60.000 đến 62.000 tỷ đồng tăng từ 10,7% đến 13,4% so với năm 2007
Thứ tư, trong năm 2004, mặc dù có nhiều ưu đãi nhưng Nhà nước mới chỉ
hỗ trợ 500 tỷ đồng cho đầu tư hạ tầng du lịch, đến năm 2005 thì con số này được Nhà nước tăng thêm 50 tỷ nữa (550 tỷ đồng) Trong năm 2007, đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng du lịch đạt được thành tựu với 750 tỷ đồng đầu tư nâng cấp, xây mới cơ sở hạ tầng du lịch ở 59 tỉnh thành trong cả nước Các đề án Quy hoạch trọng điểm do Chính phủ giao, Ngành cũng đã hoàn thành như: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đảo Phú Quốc, Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch thác Bản Giốc… Bên cạnh đó, Ngành còn nghiên cứu và tham mưu cho Chính phủ
về việc điều chỉnh Quy hoạch Tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn
2006 - 2010 làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển hàng năm của Ngành trong tình hình mới
Trang 39Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch Việt Nam tiếp tục tăng nhanh Năm 2007 có 47 dự án đầu tư vào du lịch được cấp phép với tổng số vốn lên đến 1,863 tỷ USD tăng 19,57% so với cùng kỳ năm 2006 Trong số 28 nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực Du lịch, Hồng Kông đứng đầu với 33 dự
án với số vốn là 570,6 triệu USD, Singapore có 20 dự án với số vốn đầu tư là 466,82 triệu USD, Pháp có 18 dự án với số vốn đầu tư là hơn 214 triệu USD…
Thứ năm, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
du lịch được quan tâm, đẩy mạnh theo hướng đổi mới phương thức đào tạo Tranh thủ nguồn tài trợ quốc tế, ngành Du lịch đã triển khai dự án nâng cấp trang thiết bị các cơ sở đào tạo trực thuộc và hoàn thiện chương trình đào tạo một cách khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế Cử cán bộ đi học hỏi, cọ xát thực tiễn để nâng cao trình độ ở những nước bạn có nền Du lịch phát triển hơn như
Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan… Ngành thành lập thêm một số trường trung học nghiệp vụ Du lịch tại Nha Trang, Đà Lạt, Cần Thơ Tổng Cục Du lịch cũng đã trình Chính phủ xem xét, phê duyệt chương trình “Phát triển nguồn nhân lực Du lịch đến năm 2015, tầm nhìn 2020”
Thứ sáu, tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
ngành du lịch diễn ra theo dúng lộ trình và đạt những thành tựu đáng kể Đến nay, công tác cổ phần hoá cơ bản đã hoàn thành Trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp, Tổng cục Du lịch đã chỉ đạo các doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích và quyền lợi của người lao động, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình cổ phần hoá để các doanh nghiệp sớm ổn định tổ chức và hoạt động bình thường
Thứ bảy, công tác xúc tiến quảng bá du lịch ngày càng được chú trọng đầu
tư nhiều hơn Nội dung và hình thức xúc tiến quảng bá du lịch được cải tiến và triển khai mạnh mẽ ở cả trong và ngoài nước, góp phần nâng cao hình ảnh du lịch Việt Nam với các sự kiện thường niên như: tổ chức Festival du lịch Việt Nam hàng năm do các tỉnh có tiềm năng du lịch lần lượt đăng cai (Thừa Thiên Huế, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh…) và Ngành cũng tổ chức các hoạt động
Trang 40quảng bá du lịch đặc trưng cho từng địa phương nhằm thúc đẩy du lịch ở đó phát triển như: năm Du lịch Thái Nguyên 2007, Tuần lễ hội Du lịch văn hoá Tuyên Quang , Cao Bằng, Hà Giang năm 2007, lễ hội Carnival đường phố Hạ Long, lễ hội biển ở Nha Trang, Đà Nẵng, Festival “Ninh Thuận - tiềm ẩn những sắc màu” (2008), … Ngoài ra, trong năm 2008 được sự ủng hộ và cho phép của Chính phủ, Tổng Cục du lịch đã phối hợp với một số ban ngành tổ chức cuộc thi Hoa hậu du lịch 2008, sự kiện có tính xuyên suốt trong năm 2008 là Năm Du lịch quốc gia với chủ đề “Du lịch Miệt vườn sông nước Cửu Long” và cũng trong năm này 3 tỉnh Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai tiếp tục phối hợp tổ chức chương trình “Du lịch về cội nguồn” (chương trình này đã tiến hành được 3 năm) Bên cạnh đó, Ngành cũng tham gia các hội chợ Du lịch quốc tế và tổ chức sự kiện
“Những ngày Du lịch Việt Nam ở nước ngoài”, đón các đoàn Famtrip, Press trip vào khảo sát du lịch Việt Nam… Đặc biệt, lần đầu tiên Ngành được Chính phủ cho phép quảng bá du lịch Việt Nam trên kênh truyền hình CNN để giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bè bạn quốc tế Điều này, cho thấy
vị thế của ngành trong nền kinh tế quốc dân ngày càng quan trọng
Thứ tám, ngành du lịch đóng góp tích cực tới bảo vệ môi trường, bảo tồn
và bảo vệ đa dạng sinh học và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Như ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ chủ yếu phát triển hình thức Du lịch sinh thái (sông nước, miệt vườn, thăm các tràm chim…) đã mang lại cho người dân nhiều lợi ích: họ có việc làm từ việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, từ đó người dân cũng nâng cao ý thức bảo tồn các nguồn tài nguyên này để khai thác lâu dài và đời sống được cải thiện Do đó, cho thấy phát triển Du lịch và cuộc sống cộng đồng có quan hệ chặt chẽ với nhau
Thứ chín, ngành Du lịch đẩy mạnh mở rộng mối quan hệ hợp tác song
phương, đa phương tạo điều kiện cho Du lịch phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức WTO Trong năm
2007, Du lịch Việt Nam đã ký thêm hai Hiệp định hợp tác Du lịch cấp Chính