Sau hơn hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, nền kinh tế hội nhập sâu và
Trang 1Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học kinh tế
****‡****
PhạM Anh Bình
Mối quan hệ giữa tăng tr-ởng kinh tế
và công bằng xã hội ở Việt Nam
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị Mã số: 60.31.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Lờ Danh Tốn
Hà nội,2008
Trang 2MỤC LỤC
TRANG
Mở đầu
Chương 1 Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - một số vấn đề lý luận
chung và kinh nghiệm quốc tế 7
1.1 Lý luận chung về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 7
1.1.1 Tăng trưởng kinh tế 7
1.1.2 Công bằng xã hội 13
1.2 Quan điểm lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 19
1.2.1 Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 19
1.2.2 Quan điểm lý thuyết về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội 23
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 26
1.3.1 Kinh nghiệm của các nước ASEAN 26
1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 30
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35
Chương 2: Thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 38
2.1 Sự hình thành và hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình đổi mới 38
2.2 Tình hình tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay 42
2.2.1 Tổng quan về tăng trưởng kinh tế 42
2.2.2 Thực hiện công bằng xã hội 67
2.3 Đánh giá chung về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới 85
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 85
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 91
2.3.3 Những vấn đề đặt ra 105
Chương 3 : Quan điểm và giải pháp giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới 108
3.1 Bối cảnh mới và tác động của nó đến việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam 108
Trang 33.1.1 Bối cảnh quốc tế 108
3.1.2 Bối cảnh trong nước 111
3.2 Quan điểm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới 113
3.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 115
3.3.1 Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Nhà nước là điều kiện tiên quyết nhằm quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội 115
3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN 119
3.3.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế và hệ thống chính sách xã hội 121 3.3.4 Mở rộng và phát huy dân chủ 128
3.3.5 Phòng, chống tham nhũng và lãng phí 129
3.3.6 Cải thiện và bảo vệ môi trường 130
Kết luận 133
Tài liệu tham khảo 135
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế giới ngày nay, thì sự tiến bộ mỗi quốc gia trong khoảng thời gian nhất định thường được đánh giá ở hai mặt là sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Thực hiện sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Đảng và nhà nước ta rất chú trọng gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến
bộ và công bằng xã hội, thực hiện tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển là quan điểm lớn của Đảng Chúng ta nhấn mạnh tính chất bền vững của phát triển, với ba chiều cạnh: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường, đó cũng là cái đích hướng tới của thế giới ngày nay
Hiện nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Một số nước đi theo quan điểm tăng trưởng trước thực hiện công bằng xã hội sau; một số nước lại đi theo quan điểm ngược lại Thực tế cho thấy cả hai xu hướng trên đều vấp phải những trở ngại lớn Do
đó, quan điểm kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã hình thành đang trở thành sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
ở tất cả các quốc gia Điều này càng trở nên cần thiết đối với Việt Nam
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, đời sống nhân dân được cải thiện
rõ rệt, nền kinh tế hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới…
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu đã đạt được Việt Nam còn có rất nhiều vấn
đề phức tạp và nan giải: vấn đề phân hóa giầu nghèo, sự chênh lệch về phát triển giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi, bất bình đẳng trong thu nhập, còn hàng triệu hộ trong diện đói nghèo, sự gia tăng của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tham nhũng … Từ những thực tế trên thì việc nghiên cứu để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực cả về lý luận lẫn thực tiễn Chính vì vậy, tôi
Trang 5chọn vấn đề “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2.Tình hình nghiên cứu
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã được nghiên cứu rất nhiều qua các giai đoạn và góc độ khác nhau Trong thời gian qua, có nhiều công trình của các tác giả khác nhau nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến như:
- Dương Bá Phượng (chủ biên): “ Tổng Luận Phát triển kinh tế và công bằng xã hội” , Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Kinh tế học, năm 1995
- Lê Bộ Lĩnh (chủ biên): “ Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một
số nước Châu Á và Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc Gia, năm 1998
- Lê Văn Sang, Kim Ngọc (đồng chủ biên): “ Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “Thần kỳ” và Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, NXB Chính trị Quốc Gia, 1999
- Phạm Hảo, Võ Xuân Tiên, Mai Đức Lộc (đồng chủ biên): “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung”, Học viện chính trị Quốc Gia, năm 2001
- Chuyên đề của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: “ Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội bền vững ở Việt Nam”, CIEM - FES, thông tin chuyên đề số 7, 2004
- Đinh Văn Ân (chủ biên) “Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, biền vững và chất lượng cao ở Việt Nam”, NXB Thống kê Hà Nội, 2005
- Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) : “20 năm đổi mới thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển văn hóa”, NXB Chính trị Quốc gia, 2008
Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, vấn đề thu nhập, mức sống của các tầng lớp
xã hội, sự phân hóa giầu nghèo của dân cư, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần tạo ra sự công bằng trong xã hội
Trang 6Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống từ góc độ của khoa học kinh tế chính trị vấn đề giải quyết mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam ở Việt Nam trong những năm gần đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, mối quan hệ của hai vấn đề này, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
ở Việt Nam trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội và mối quan hệ giữa chúng
- Nghiên cứu kinh nghiệm về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước trên thế giới
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn giới hạn ở việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là trong những năm gần đây
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgíc kết hợp với lịch sử để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá và góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
- Phân tích và làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
- Đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội -Một số vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế
Chương 2: Thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Chương 3: Quan điểm và giải pháp giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 8Chương 1
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI - MỘT
SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1 Lý luận chung về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm
Việc nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế đã được bắt đầu ngay từ khi khoa học kinh tế chính trị mới hình thành Việc nghiên cứu về chủ đề này đã được đặt nền móng từ những nhà kinh tế học chính trị tư sản cổ điển Anh như A Smith
(1723 - 1790) và D Recardo (1772 - 1823) Tăng trưởng kinh tế được hiểu một
cách phổ quát theo quan điểm kinh tế học là sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian (thường là một năm) Điều đó cũng có nghĩa là: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về số lượng,chất lượng các hàng hoá dịch vụ
Tăng trưởng kinh tế là khái niệm phản ánh về sự gia tăng về lượng của một
nền kinh tế, nó chưa nói lên bản chất xã hội của nền kinh tế đó Đây là kinh tế “tự thân”, kinh tế vì kinh tế Để khắc phục tình trạng này các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm Phát triển kinh tế để phản ánh cả mặt “chất” và mặt “lượng” của nền kinh tế
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội hàm rộng hơn Tăng trưởng kinh tế, bao gồm cả sự tăng trưởng kinh tế (sự tăng trưởng về lượng) và sự đạt được các chỉ tiêu về chất - trước hết là chất lượng cuộc sống (mức tiêu dùng vật chất; mức hưởng thụ về tiêu dùng dịch vụ và phúc lợi xã hội; sự bình đẳng của con người ) Trong báo cáo về phát triển kinh tế thế giới năm 1992 Ngân hàng thế giới đã đưa
ra khái niệm về phát triển kinh tế như sau: “ Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng
về cơ hội là những thành phần cơ bản nhất của phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản để có được phát triển kinh tế.”
Trang 91.1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:
* Các nguồn lực kinh tế
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển và các nước phát triển, các nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực phát triển kinh tế phải đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là vốn(tư bản), nguồn tài nguyên, công nghệ và nhân lực Bốn nhân tố này khác nhau ở các quốc gia và cách kết hợp chúng cũng khác nhau đưa đến những kết quả tương ứng
- Vốn (tư bản):
Vốn được hiểu là một bộ phận tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Vốn thường tồn tại dưới hai dạng: Vốn tài chính và vốn vật chất Vốn tài chính là vốn tồn tại dưới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán còn vốn vật chất là vốn tồn tại dưới dạng nhà xưởng, máy móc thiết bị tham gia vào quá trình sản xuất Vốn tài chính và vốn vật chất có mối quan hệ gắn bó với nhau và không ngừng chuyển hoá cho nhau
Đây là là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ vốn mà người lao động được sử dụng máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ vốn trên một đơn vị lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được vốn phải thực hiện đầu tư, điều này rất quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có có
tỷ lệ đầu tư lớn tính trên tổng GDP thường tăng trưởng kinh tế cao và bền vững Tuy nhiên, vốn không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân đầu tư cho sản xuất mà
nó cũng là tư bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho cho sản xuất và thương mại phát triển Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia ), thủy lợi
Vốn đầu tư chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển Đầu tư ở Trung Quốc tăng từ 30,2% những năm 70 lên 35,7% những năm 80,tỷ lệ tăng trưởng tăng lên tương ứng từ 5,9% lên 9,0%
Trang 10Ngược lại đầu tư của Đài Loan giảm từ 29,6% xuống 23,7% khiến tỷ lệ tăng trưởng giảm từ 10% xuống 8%
- Tài nguyên thiên nhiên: Là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển
Những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, tài nguyên trong lòng đất, rừng và
nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng để phát triển kinh tế
Trước đây, tài nguyên là nhân tố quan trọng nhất của quá trình tăng trưởng Đặc biệt là tài nguyên đất đai trong nền kinh tế nông nghiệp Ricardo đã từng cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn hiện nay, nguồn tài nguyên bị khai thác và sử dụng ồ ạt nên ngày càng cạn kiệt, nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái sinh Các nhà kinh tế học đã chỉ ra vấn đề này qua việc phát hiện ra quy luật về sự khan hiếm của tài nguyên Ngay cả tài nguyên trước đây được coi là vô tận như nước, cũng đang trở nên suy giảm bởi sự sử dụng và khai thác bừa bãi của con người
Vì vậy, vấn đề hàng đầu hiện nay của toàn cầu là việc sử dụng các nguồn tài nguyên thế nào cho hợp lý Công nghệ tiết kiệm tài nguyên và không làm tổn hại môi trường đã được sử dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến Tuy nhiên, ở các nước kém phát triển, do sự lạc hậu và yếu kém về kinh tế, vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên vẫn chưa được quan tâm một cách hợp lý
- Khoa học - công nghệ: Tiến bộ công nghệ là nhân tố giữ vị trí quan
trọng đối với quá trình tăng trưởng Sự phát triển của kĩ thuật - công nghệ là một trong các nhân tố chính tạo nên những đặc điểm của tăng trưởng kinh tế hiện đại Tiến bộ công nghệ dẫn đến việc dịch chuyển đường giới hạn khả năng sản xuất ra phía ngoài, sản lượng tăng, thúc đẩy kinh tế phát triển, khoa học và công nghệ giúp cho cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… có những bước tiến như vũ bão góp phần tăng hiệu quả sản xuất
- Tài nguyên con người: Ngày nay, lực lượng lao động và vấn đề con
người được coi là nhân tố quan trọng nhất của quá trình tăng trưởng Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay
Trang 11mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Chính vì vậy vấn đề mà tất cả các quốc gia quan tâm hiện nay là vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
* Vai trò của chính phủ đối với sự tăng trưởng kinh tế
Nhà nước cũng là một nhân tố đặc biệt có ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng cũng như phát triển kinh tế của một quốc gia Cho đến nay, mặc dù có rất nhiều dạng kinh tế thị trường khác nhau, nhưng trên thực tế, chưa bao giờ tồn tại dạng kinh tế thị trường không có nhà nước, thoát ly khỏi nhà nước, mặc dù về tư tưởng và lý luận, những người theo trường phái tự do cực đoan, hay theo phái vô chính phủ thường phủ nhận vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Trong lịch sử các học thuyết kinh tế, tất cả các trường phái kinh tế lớn đều
đề cập đến vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, từ trường phái Trọng nông đến các trào lưu kinh tế học hiện đại Thị trường có các khuyết tật vốn có của nó và vì thế điều tiết của nhà nước là tất yếu khách quan nhằm đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả của nền kinh tế
Trong báo cáo về tình hình phát triển kinh tế thế giới, Ngân hàng thế giới
(Wold Bank) đã kết luận rằng: “Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong phát triển
kinh tế và xã hội; không phải với tư cách một người trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng; mà là một đối tác, là chất xúc tác và là người tạo điều kiện cho sự tăng trưởng đó”
* Đặc điểm dân tộc, tôn giáo, văn hóa của quốc gia
- Đặc điểm dân tộc: các dân tộc sống chung trong một cộng đồng quốc gia thường luôn có những đặc điểm khác nhau về văn hóa, kinh tế, tập quán sống và sản xuất Nếu tăng trưởng kinh tế đem lại lợi ích cho dân tộc này thì gây tổn hại lợi ích cho dân tộc khác mà cũng sẽ là lực cản cho sự tăng trưởng và phát triển, sẽ khó tránh khỏi những xung đột về sắc tộc
- Đặc điểm tôn giáo: Trong mỗi một quốc gia thường có nhiều tôn giáo Các tôn giáo thường có quan niệm, triết lý, tư tưởng riêng khó thay đổi Các thiên kiến tôn giáo thường tạo ra tâm lý xã hội biệt lập của tôn giáo mình Nếu các
Trang 12chính sách đúng đắn thì có thể tạo ra sự hòa hợp giữa các tôn giáo, đây sẽ là nhân
tố tích cực tác động tới sự tăng trưởng và phát triển
- Đặc điểm văn hóa: Văn hóa dân tộc là phạm trù rộng lớn bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổ thông, khoa học, văn hóa, nghệ thuật đến lối sống, tập quán, cách ứng xử và nó được hình thành và tích lũy trong suốt quá trình phát triển của dân tộc, đồng thời cũng gắn với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Có thể nói trình độ văn hóa của một dân tộc là nhân tố cơ bản tạo ra chất lượng một đội ngũ lao động, nhân tố quyết định ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ lao động
* Quan hệ kinh tế quốc tế
Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là một đặc trưng của quá trình tăng trưởng hiện đại, đồng thời cũng là nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng đó Ngày nay, các quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ dừng lại ở phạm vi liên quốc gia hay khu vực mà mang tính toàn cầu Các khối liên kết khu vực được hình thành và ngày càng mở rộng như Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức mậu dịch
tự do Bắc Mỹ(NAFTA), Khối liên hợp chung châu Âu (EU)… Bên cạnh đó, các
tổ chức kinh tế mang tính toàn cầu cũng phát triển mạnh và ngày càng giữ vai trò chi phối nền kinh tế quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức tiền tệ quốc
tế (IMF), Tổ chức thương mại thế giới (WTO)… Sự lan nhanh và sâu rộng của tính toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới làm cho nền kinh tế các quốc gia chịu tác động mạnh mẽ từ bên ngoài cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực Các quốc gia có thể phát huy lợi thế so sánh của mình cũng như có khả năng tận dụng lợi thế nhờ quy
mô trong hoạt động ngoại thương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế là một cơ hội để các quốc gia đang phát triển khắc phục được yếu kém và lạc hậu về kinh tế; thu hút các nguồn vốn đầu tư, viện trợ nước ngoài, tạo ra nguồn lực lớn cho quá trình tăng trưởng; từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới
Tuy nhiên, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế làm cho cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và phức tạp, đồng thời nó làm cho các nền kinh tế của các nước kém phát triển phụ thuộc quá nhiều vào thị trường và nguồn đầu tư nước ngoài
Trang 131.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội, tổng sản phẩm quốc dân, tổng sản phẩm
quốc dân thuần tuý
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Dưới dạng định nghĩa tổng quát, tổng
sản phẩm quốc nội được hiểu là giá trị của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất và cung ứng trên phạm vi một quốc gia hay lãnh thổ trong một thời gian xác định, thường là một năm GDP phản ánh năng lực sản xuất hay thu nhập trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mà không kể đến quyền sở hữu các thu nhập
và các nguồn lực sản xuất thuộc về ai
GDP là một chỉ số kinh tế quan trọng, phản ánh quy mô hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia Để tính GDP thường có có ba cách tiếp cận cơ bản, tiếp cận từ sản xuất, tiêu dùng và phân phối
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): Hiểu theo nghĩa tổng quát, đó chính
là toàn bộ giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các công dân của một nước sản xuất và cung ứng trong một thời gian nhất định (thường là trong một năm) ở trong nước và ở nước ngoài
GNP = GDP + thu nhập ròng từ nước ngoài Như vậy, GNP cho thấy năng lực sản xuất hoặc mức thu nhập thực sự của các công dân của một quốc gia, bất kể dịch vụ yếu tố sản xuất được cung cấp ở nước nào
- Tổng sản phẩm quốc dân thuần túy (NNP): Đó là phần giá trị còn lại
của tổng sản phẩm quốc dân khi đã trừ đi giá trị khấu hao tài sản cố định
Tổng sản phẩm quốc dân thuần túy hay còn được gọi là thu nhập quốc dân tính đến khối lượng tiền mà nền kinh tế có sẵn để chi tiêu cho hàng hoá và dịch
vụ sau khi trừ ra một khoản tiền đủ để vốn của nó nguyên vẹn bằng cách tính khấu hao
Thu nhập bình quân tính theo đầu người
Chỉ số thu nhập bình quân/ đầu người phản ánh mức sống và thu nhập của dân cư, được tính bằng GNP, GDP thực tế chia cho tổng số dân của một quốc gia
Trang 14Chỉ số này cung cấp những căn cứ để có thể có được những kết luận tin cậy hơn về số lượng hàng hoá và dich vụ trung bình mà mỗi cá nhân được hưởng Tuy nhiên, cũng như các chỉ số trên, chỉ số thu nhập bình quân mới là thước đo
“trung bình” không phản ánh được phúc lợi xã hội Các hàng hoá và dịch vụ mà mỗi cá nhân được hưởng phụ thuộc vào việc phân phối thu nhập trong nền kinh
tế
1.1.2 Công bằng xã hội
1.1.2.1 Quan niệm về công bằng xã hội
Công bằng xã hội (Social Justice) và bình đẳng xã hội (Social Equality) là hai khái niệm rất gần giống nhau, nhưng là hai khái niệm khác nhau Nói tới công bằng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa các thành viên trong xã hội về một phương diện nào đấy hoàn toàn xác định, thường là quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, gắn liền với quan hệ phân phối của cải làm ra của xã hội nhiều hơn Nói tới bình đẳng xã hội, là nói tới sự ngang bằng nhau giữa các thành viên trong xã hội về mọi phương diện, thường gắn liền với địa vị xã hội của những lớp người Công bằng xã hội là một nội dung cụ thể của bình đẳng xã hội Thực hiện công bằng xã hội là thực hiện một phần nội dung của bình đẳng xã hội, là một bước tiến trong quá trình thực hiện bình đẳng xã hội hoàn toàn Công bằng xã hội là một phạm trù chính trị - xã hội thể hiện mối quan
hệ giữa các thành viên trong xã hội dựa trên nguyên tắc thống nhất ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ
Trong lịch sử nhân loại, quan niệm về công bằng xã hội biến đổi liên tục, đôi khi giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội được đồng nhất làm một Thời kỳ cổ đại, quan niệm về công bằng xã hội cũng trải qua những tiến triển nhất định Các nhà triết học cổ đại giải thích công bằng là một cái cần thiết, tất yếu, phát sinh từ sự sắp xếp của vũ trụ, của trật tự tự nhiên (Héraclite), còn bất công là chống lại tự nhiên (Démocrite) Socrate cho rằng, công bằng có tính khách quan và khó đạt được đại đa số người Đến Platon, thì phạm trù công bằng
xã hội được xác định hoàn toàn có tính giai cấp Aristote là người đầu tiên xem
Trang 15xét tính công bằng như một hình thái đặc biệt có bản chất xã hội Ở La Mã, do luật pháp phát triển, phạm trù công bằng thiên về khía cạnh pháp luật là chủ yếu Các nhà khai sáng thế kỷ 17-18 quan niệm về công bằng trên cơ sở phải thừa nhận quyền tự do cá nhân, bác bỏ hệ thống đẳng cấp phong kiến Kant xuất phát từ khái niệm tự do, nhưng lại gắn chặt với công thức trừu tượng và mệnh lệnh Hegel coi công bằng là hạt nhân của toàn bộ triết học pháp quyền Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 là đỉnh cao những tư tưởng chính trị - xã hội và triết học tư sản về vấn đề công bằng, đặt ra việc thiết lập những quyền tự nhiên và không thể tước đoạt của con người Quan điểm của Chủ nghĩa Mác về công bằng và bình đẳng xã hội được trình bày rõ trong tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gotha" Sự công bằng trong Chủ nghĩa xã hội được thực hiện thông qua phân phối theo lao động: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, ai không làm không hưởng Nó là nguyên tắc ngang nhau giữa cống hiến và hưởng thụ Song, sự bất bình đẳng hoàn toàn vẫn chưa được loại trừ, vẫn còn có kẻ giàu, người nghèo, kẻ lĩnh ít, người lĩnh nhiều, phải đến Chủ nghĩa Cộng sản mới có thể thanh toán được Bình đẳng xã hội sẽ được thực hiện trên cơ sở mở rộng dần những điều kiện và lĩnh vực để thực hiện công bằng
xã hội
Tiếp thu và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác, các học giả thuộc các nước XHCN đã đưa vấn đề công bằng xã hội trở thành mục tiêu của xã hội XHCN và là một phạm trù cơ bản của đạo đức học Mác - Lênin Công bằng xã hội được giải quyết chủ yếu thông qua quan hệ phân phối theo nguyên tắc phân phối theo lao động, dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Các cương lĩnh hành động của các Đảng Cộng sản và công nhân cầm quyền chỉ đạo chính quyền các nước XHCN thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động khi định chế độ tiền lương và phân phối thu nhập cho các thành viên trong xã hội Song, thực tế ở các nước XHCN theo mô hình Xô - viết cho thấy khó khăn lớn vấp phải trong quá trình thực hiện là không thể đánh giá được chính xác mức độ đóng góp của từng thành viên vào "Quỹ tiêu dùng xã hội chung", không tìm được một thước đo chung đánh giá chính xác mức độ về thời gian, năng suất và hiệu
Trang 16quả lao động của từng cá nhân, để từ đó xác định đúng đắn mức độ hưởng thụ tương xứng Rốt cuộc, nguyên tắc phân phối công bằng trên thực tế đã bị vi phạm, các yếu tố khuyến khích lợi ích bị thui chột, tài sản công cộng trở thành vô chủ, sử dụng lãng phí, tài nguyên bị tàn phá nặng nề, môi trường sống bị huỷ hoại nghiêm trọng, động lực phát triển bị đình trệ
Trong những năm gần đây, nhiều học giả phương Tây đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa phát triển và công bằng xã hội Công bằng xã hội được xem xét thông qua mối quan hệ chủ yếu giữa "giàu" và "nghèo" Giàu và nghèo là hai thái cực đánh giá nấc thang phát triển kinh tế của một quốc gia, mức sống của các tầng lớp dân cư Khoảng cách giữa giàu và nghèo càng lớn thì mức độ công bằng
xã hội càng thấp và ngược lại Bởi vậy, thực hiện công bằng xã hội là thực hiện một quá trình rút ngắn mức độ chênh lệch, giảm bớt độ lớn về khoảng cách giữa nước giàu và nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo Ở đây khái niệm công bằng xã hội cũng phản ánh chủ yếu thông qua phân phối thu nhập, song họ đã gắn chặt với điều kiện và cơ chế rút ngắn khoảng cách giữa giàu và nghèo, là làm tăng trình độ phát triển kinh tế của nước nghèo, là nâng cao mức sống của người nghèo
Nhìn chung, khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế là cái có thể xác định bằng những con số, công bằng xã hội mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tùy thuộc vào
quan điểm của con người Theo nghĩa rộng, công bằng xã hội là công bằng về các
quyền của con người và về điều kiện thực hiện các quyền đó của các cá nhân - con người ( hay rộng hơn, của các chủ thể xã hội)
Trong kinh tế học người ta chia công bằng xã hội thành hai dạng là công
bằng theo chiều dọc và công công bằng theo chiều ngang Công bằng theo chiều ngang có nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng theo chiều dọc là nghĩa là đối xử khác nhau đối với những người có
khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau Nếu như công bằng theo chiều ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trường thì công bằng theo chiều dọc cần có sự điều tiết của chính phủ Việc nhận định và kết hợp công bằng theo chiều dọc và theo chiều ngang sẽ đảm bảo công bằng thực sự Như vậy, công
Trang 17bằng xã hội là khái niệm rất rộng, bao gồm cả yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, và văn hóa Xét một cách tổng thể công bằng xã hội gắn với phát triển toàn diện con người và là kết quả của sự phát triển đó
1.1.2.2 Các thước đo đánh giá sự bất bình đẳng và công bằng xã hội
Chỉ số phát triển con người (HDI)
Báo cáo về phát triển con người, từ báo cáo đầu tiên năm 1990 đã công bố
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) như một đơn vị
đo lường sự phát triển con người HDI được đo bằng ba tiêu chí: tuổi thọ trung bình, trình độ dân trí và GDP/người
Tuy nhiên, chỉ số HDI không phải là một chỉ số hoàn hảo về sự phát triển con người bởi còn nhiều yếu tố mà chỉ số này chưa đề cập đến hoặc không thể tính toán được
Thước đo bình đẳng về phân phối thu nhập
Để đo bất bình đẳng về phân phối thu nhập các nhà kinh tế và các nhà thống kê sử dụng nhiều trong phân tích và nghiên cứu kinh tế là đường cong Lorenz và hệ số Gini và cơ cấu thu nhập theo nhóm
- Đường cong Lorenz : Đây là một biện pháp được phổ biến để phân tích
các số liệu thống kê về thu nhập cá nhân Biện pháp này do nhà thống kê người
Mỹ Conrad Lorenz phát minh vào năm 1905
Đường cong Lorenz cho thấy mối quan hệ định lượng thực sự giữa tỷ lệ phần trăm số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm trong tổng thu nhập mà họ thực
sự nhận được Đường Lorenz càng nằm xa đường chéo (đường công bằng hoàn toàn) thì mức độ bất công càng lớn
Trang 18Hình 1: Đường cong Lorenz
- Hệ số Gini: Hệ số này được đo bằng tỉ số của diện tích phần nằm giữa
đường chéo và đường Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó Lần đầu tiên hệ số này được phát minh và thực hiện bởi nhà thống kê người ý C Gini vào năm 1912 Hệ số Gini là phép đo tổng hợp về tính bất công trong phân phối thu nhập, giao động từ 0 (công bằng hoàn toàn) đến 1 (bất công hoàn toàn)
100%
100%
Thu nhập cộng dồn (%)
Trang 19- Cơ cấu thu nhập tính theo nhóm : Chỉ số này được tính bằng tỷ số thu nhập
của 20% dân nghèo nhất so với thu nhập của 20% dân giàu nhất Tỷ số này được
sử dụng làm thước đo mức độ bất công giữa hai thái cực rất giàu và rất nghèo trong một nước
- Tiêu chuẩn “40” của Word Bank: được đề xuất vào năm 2002 nhằm đánh
giá sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập: Tỷ lệ thu nhập chiếm trong tổng thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp trong xã hội Theo chỉ tiêu này, có
3 mức độ bất bình đẳng cụ thể sau:
+ Khi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ lớn hơn 17% của tổng thu nhập thì tình trạng bất bình đẳng thấp + Khi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội có tỷ
lệ từ 12% đến 17% của tổng thu nhập thì tình trạng bất bình đẳng tương đối + Khi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 12% của tổng thu nhập thì tình trạng bất bình đẳng cao
Mức độ nghèo khổ
Để xác định mức độ nghèo khổ, người ta phải đưa ra đường giới hạn nghèo khổ Chẳng hạn, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khuyến nghị về chuẩn nghèo đói cho các quốc gia vào những năm cuối thế kỷ trước: Đối với những nước kém phát triển: các cá nhân được coi là nghèo khi có thu nhập dưới 0,5 USD/ ngày; đối với những nước đang phát triển là 1USD/ngày; đối với các nước thuộc Châu Mỹ Latinh và Caribê là dưới 2 USD/ngày; các nước Đông Âu là dưới 4 USD/ngày; các nước công nghiệp phát triển là dưới 14,4 USD/ngày Tuy nhiên, các quốc gia thường đưa ra chuẩn riêng của mình và thông thường là thấp hơn mức thang nghèo đói của WB khuyến nghị
Trang 201.2 Quan điểm lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.2.1 Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội
Giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội có mối quan hệ như thế nào
và làm thế nào để giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đang là vấn đề được lưu tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia trên thế giới hiện nay Có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội và việc giải quyết mối quan hệ này Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau khi xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Quan điểm thứ nhất (Simon Kuznets - 1995) đã đưa ra quan điểm lý thuyết
“chữ U ngược” về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, nghĩa
là mức độ bất bình đẳng về thu nhập có xu hướng tăng trong các giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, sau đó sẽ giảm bớt đi, khi nền kinh tế đạt tới một trình độ phát triển cao hơn Không ít công trình nghiên cứu, khảo sát của nhiều học giả ở nhiều quốc gia đã chứng minh cho quan điểm này Những người theo quan điểm này (Bigsten và Levin,2001) cho rằng bất bình đẳng có thể làm động lực cho tăng trưởng tốt hơn, rồi từ đó tạo điều kiện và cơ hội để xóa đói giảm nghèo nhanh hơn, thì bất bình đẳng là điều chấp nhận được Nhà nghiên cứu Ahlwalia (1976)
đã sử dụng số liệu của phân phối thu nhập của hơn 60 quốc gia trên thế giới và đi đến những kết luận cụ thể hơn Ông cho rằng bằng điều tra số liệu đã cho thấy bất bình đẳng gia tăng mạnh ở giai đoạn đầu của sự phát triển Như vậy theo quan điểm này thì trong giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế sẽ tạo ra sự bất bình đẳng nhất định
Giống như Simon Kuznets, nhà kinh tế học W Arthur Lewis trong tác phẩm kinh tế học :“Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế” đã cho rằng tăng trưởng không chỉ đem lại bất công mà khi tăng trưởng kinh tế đạt đến một trình độ nhất định thì nó lại là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội vì tăng trưởng kinh tế làm tăng của cải xã hội từ đó mở rộng phạm vi lựa chọn của con người
Trang 21Quan điểm thứ hai (Deumnger và Squire, 1988) cho rằng không có bằng chứng chứng minh mối quan hệ theo mô hình “chữ U ngược” trong quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng về thu nhập khi xem xét các nước riêng lẻ, nghĩa là tăng trưởng kinh tế không làm bất bình đẳng gia tăng ngay cả trong giai đoạn đầu của phát triển ở các nước kém phát triển Các công trình nghiên cứu của Ngân hàng thế giới trong thập kỷ 90 cũng xác nhận quan điểm này Công trình nghiên cứu mới nhất của Adams (2002) dựa trên số liệu của “Khoảng thời gian quan sát” (mỗi khoảng thời gian quan sát được tính là hai lần điều tra mức sống cấp quốc gia được nghiên cứu) của 50 nước trong thời kỳ 1988 đến 1999 Kết quả nghiên cứu này cũng khẳng định tăng trưởng kinh tế có lợi cho việc xóa đói giảm nghèo, vì tăng trưởng kinh tế không có ảnh hưởng nhiều đến bất bình đẳng
Mỗi một giả thuyết, hay quan niệm nói trên là xuất phát từ sự phân tích quá trình tăng trưởng và sự công bằng xã hội đã diễn ra ở một số nước nhất định ở những thời kỳ khác nhau mà khái quát lên, cho nên tính đúng đắn có thể mang tính phiến diện, song chúng ta cũng không thể phủ nhận hoàn toàn
Sự phân tích một cách đúng đắn là đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng khách quan Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội quyện vào nhau trong sự mâu thuẫn tương tác thúc đẩy nhau cùng tiến lên Sự tăng trưởng kinh tế tạo ra những điều kiện cho phép giải quyết công bằng xã hội ngày một tốt hơn, đến lượt nó khi sự công bằng xã hội được mở rộng
và tốt hơn sẽ tạo ra những động lực mới thúc đẩy sự phát triển tiếp theo Vòng xoáy trôn ốc của sự tiến bộ đó vận động không ngừng Sự tăng trưởng càng cao,
xã hội càng có điều kiện để rút ngắn những khoảng chênh lệch bất công giữa các vùng, các khu vực, các nhóm dân cư và giữa các thành viên trong từng cộng đồng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của một quốc gia, của nhân loại vẫn luôn luôn diễn ra sự bất công, chưa thể nào xoá sạch
Giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mặt của một quá trình phát triển biện chứng khách quan, vừa mâu thuẫn đối kháng nhau, nhưng lại liên
hệ tác động qua lại rất chặt chẽ, cái nọ làm tiền đề cho cái kia, cùng vận động phát triển theo chiều hướng tiến bộ không ngừng Một quốc gia, dân tộc đang ở
Trang 22giai đoạn trình độ kém phát triển, nghèo nàn, lạc hậu thì những yếu tố vật chất giúp cho việc giải quyết công bằng xã hội gặp rất nhiều khó khăn Chẳng hạn, để tạo ra nhiều chỗ làm việc với mục đích làm cho mọi người có sức lao động đều có việc làm tăng thu nhập, hoặc muốn tăng cường đầu tư cho giáo dục y tế… để nâng cao dân trí và sức khoẻ cho mọi người nhằm tạo ra công bằng xã hội và tạo tiền đề cho phát triển mạnh mẽ thì phải cần có dồi dào các nguồn vốn cùng các yếu tố vật chất - kỹ thuật, mà các nước nghèo, lạc hậu sẽ không thể có đủ Nghĩa
là, đối với các nước nghèo, chậm phát triển sẽ không có khả năng thực hiện các chương trình công bằng xã hội cho tất cả mọi người Vì vậy, nếu tiến hành đầu tư dàn trải nhằm thực hiện đầy đủ các chương trình đảm bảo công bằng xã hội sẽ hạn chế sự phát triển, vì tiềm lực kinh tế không đủ Muốn có sự tăng trưởng, đặc biệt với tốc độ cao, cần phải tập trung ưu tiên ở những chương trình có hiệu quả nhất, ở một số lĩnh vực, một số ít ngành và một số khu vực dân cư có tiềm năng phát triển hơn cả Số đó sẽ là những động lực đầu tàu lôi kéo các lĩnh vực, vùng, khu vực phát triển theo Trong điều kiện đó, tất yếu phải "hy sinh" những lĩnh vực, vùng, khu vực dân cư khác chưa được tập trung đầu tư và công bằng xã hội còn bị vi phạm nhiều
Hơn nữa, ở các nước nghèo, lạc hậu, sự chênh lệch về năng lực cống hiến, lao động của các thành viên trong xã hội rất khác xa nhau Tài năng và sức khoẻ khác nhau dẫn tới cống hiến khác nhau Cống hiến khác nhau dẫn tới hưởng thụ khác nhau Thực hiện sự công bằng xã hội theo nguyên tắc ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, sẽ tạo thành những động lực thúc đẩy hăng hái cống hiến và
sự phát triển được nhân lên Song, nó lại tạo nên một sự bất bình đẳng lớn, đó là
sự phân hoá giàu - nghèo càng gia tăng Khoảng chênh lệch giữa người giàu và người nghèo sẽ càng xa đối với những nước nghèo cần ưu tiên cho phát triển nhanh Đồng thời, ở các nước nghèo, kém phát triển càng không có những điều kiện, yếu tố vật chất - kỹ thuật, kinh tế - xã hội cho phép đánh giá chính xác mức
độ cống hiến của từng thành viên để trả thù lao tương xứng một cách công bằng Điều đó tất sẽ dẫn tới sự thiếu công bằng trong việc trả công, hưởng thụ so với lao động của từng người Song, nếu sử dụng cơ chế phân phối bình quân sẽ làm thui
Trang 23chột hệ thống khuyến khích lợi ích, không tạo ra động lực cho phát triển Về thực chất, cơ chế đó sản sinh ra sự thiếu công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ Hưởng thụ ngang nhau nhưng cống hiến không ngang nhau Bởi vậy, hoặc chấp nhận sự bất công kiểu này hoặc kiểu khác với mức độ chênh lệch giữa cống hiến
và hưởng thụ của các thành viên trong cộng đồng không lớn, nhưng nó lại tạo ra những động lực khuyến khích sự hăng hái, tích cực cống hiến, thi đua cạnh tranh giữa các thành viên, từ đó thúc đẩy sự phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, là điều hợp lý nên theo
Sau khi đã tập trung những nguồn lực có thể có đầu tư cho phát triển theo những chiến lược ưu tiên thu được kết quả tốt đẹp, nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, trình độ phát triển được nâng lên một bước đáng kể, thì cơ
sở vật chất - kỹ thuật, tiềm lực kinh tế sẽ cho phép tiến thêm một bước lớn trong việc giải quyết công bằng xã hội và mở rộng đầu tư phát triển tiếp theo Lúc này,
sẽ có nhiều điều kiện và cơ hội để mở rộng các chương trình đầu tư nhằm giải quyết công ăn việc làm, các chương trình phát triển giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, y tế, nghỉ ngơi, các chương trình cứu tế xã hội, hỗ trợ người nghèo, cũng như các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nghèo, xa xôi, hẻo lánh.v.v… Các chương trình đó sẽ là những nhân tố làm tăng tính công bằng giữa các nhóm và các thành viên trong cộng đồng, nhưng đồng thời lại góp phần tạo nên những nguồn lực mới thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tiếp theo nhanh chóng hơn Đương nhiên, vẫn không thể dàn trải hết tất cả các chương trình trong cùng một thời điểm Mức độ gia tăng số lượng các chương trình, cùng với số lượng người được hưởng lợi từ các chương trình đó tuỳ thuộc vào tiềm lực kinh tế của từng thời kỳ, tức vào trình độ phát triển kinh tế ở mỗi thời điểm Hơn nữa, ở những khu vực, bộ phận đã được ưu tiên đầu tư trước đây sẽ có những tiềm lực lớn hơn đáng kể, cho phép phát triển nhanh hơn và vẫn luôn luôn đi trước với một khoảng cách nào đó Như vậy, sự không công bằng vẫn tiếp tục diễn ra, mặc
dù đã có sự tiến thêm một bước đáng kể trong việc giải quyết công bằng xã hội
Sự mở rộng tiếp theo các chương trình đầu tư phát triển và giải quyết công bằng xã hội sẽ giảm dần sự bất công và hình thành nên những động lực phát triển
Trang 24mới làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn, trình độ phát triển được nâng cao thêm, phồn thịnh giàu có hơn, lại cho phép mở rộng tiếp thêm các chương trình đầu tư phát triển cho tất cả các vùng, các khu vực, cũng như các chương trình phát triển việc làm, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ, nghỉ ngơi cho mọi thành viên, cùng với các chương trình cứu tế và phúc lợi xã hội khác Vả lại, lúc này trình độ khoa học - kỹ thuật, thiết bị công nghệ, cơ sở vật chất, năng lực quản lý kinh tế - xã hội cũng tiến thêm đáng kể, có thể cho phép khả năng đánh giá ngày càng chính xác hơn mức độ cống hiến của từng thành viên và định ra mức hưởng thụ cũng tương xứng hơn, cho phép giải quyết công bằng xã hội tăng lên
1.2.2 Quan điểm lý thuyết về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
1.2.2.1 Quan điểm “tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, coi các vấn đề xã hội nảy sinh là cái giá phải trả của kinh tế thị trường”
Những người theo quan điểm này cho rằng : Tăng trưởng kinh tế tất yếu dẫn đến bất bình đẳng và chính sự bất bình đẳng là điều kiện thúc đẩy tăng trưởng Lập luận của họ là : Chỉ tầng lớp có thu nhập cao mới có khả năng tích luỹ và đó
là nguồn đảm bảo đầu tư chủ yếu cho tăng trưởng Bất kỳ sự phân phối nào làm giảm mức độ tập trung thu nhập này đều ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế Người đầu tiên đặt nền móng cho lập luận này là D Ricardo Ông cho rằng tăng trưởng kinh tế có được nhờ mức tiết kiệm cao của tầng lớp tư sản, do đó ông chống lại việc phân phối lại thu nhập gây bất lợi cho giai cấp này Những lập luận đầy đủ nhất về tăng trưởng đối lập với công bằng được trình bày trong lý thuyết nhị nguyên của W Arthur Lewis, nhà kinh tế học Jamaica, trong lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên hay còn gọi là mô hình kinh tế hai khu vực Mô hình của Lewis cũng được các nhà kinh tế học John Fei và Guatav Raris áp dụng vào phân tích quá trình tăng trưởng ở các nước đang phát triển Tư tưởng cơ bản của mô hình này là chuyển số lao động dư thừa trong ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển
Trang 25Theo Lewis, bất bình đẳng không những là kết quả tất yếu của tăng trưởng
mà còn là nguyên nhân thúc đẩy tăng trưởng Sự chênh lệch trong thu nhập của lao động trong hai ngành công nghiệp và nông nghiệp là tiền đề cho mô hình của ông Tuy nhiên, Lewis không cho rằng bất bình đẳng thu nhập là vĩnh viễn, mà chỉ trong giai đoạn đầu của sự phát triển Sự tăng lên nhất thời của bất bình đẳng
là cái giá phải trả cho thành công và tất cả mọi người nếu biết chờ đợi sự phát triển đi theo đúng tiến trình của nó, họ sẽ được hưởng thành quả Khi lao động dư thừa được chuyển hết sang khu vực hiện đại, lao động sẽ trở thành nguồn lực khan hiếm, tạo thành sức ép tăng lương Tiền lương tăng sẽ giảm bất bình đẳng và nghèo khổ
Mô hình của Lewis đã được thừa nhận khá rộng rãi ở các nước đang phát triển trong nhiều thập kỷ Tuy vậy, nó cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết và bị phê
phán từ nhiều phía Thứ nhất, Lewis đã giả định chỉ trong nông nghiệp mới dư
thừa lao động, còn trong công nghiệp đạt được mức hữu nghiệp toàn thể Thực tế
ở các nước đang phát triển cho thấy hiện tượng thất nghiệp ở khu vực công
nghiệp cũng ngày càng tăng Thứ hai, mô hình chỉ phù hợp khi nhà tư bản sử
dụng công nghệ nhiều lao động, thực tế thường diễn ra ngược lại Đồng thời lao động dư thừa trong nông nghiệp là lao động không có chuyên môn, còn lao động
được sử dụng trong các ngành công nghiệp phải có kỹ năng nhất định Thứ ba, ở
các nước Châu Á gió mùa, nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong các đỉnh cao của thời vụ, chỉ dư thừa lao động trong thời kỳ nhàn rỗi
1.2.2.2 Quan điểm “Ưu tiên công bằng xã hội hơn tăng trưởng kinh tế”
Một xã hội công bằng luôn là ước muốn và mục tiêu của loài người Trong khi đó, ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển, sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế đã diễn ra song hành, nói đúng hơn là kéo theo sự gia tăng của bất công và
tệ nạn xã hội Từ thực tế đó đã hình thành nhiều quan điểm cho rằng, cần ưu tiên công bằng xã hội hơn là tăng trưởng và càng đạt được công bằng nhanh chóng thì càng chứng tỏ xã hội phát triển nhanh
Trang 26Quan điểm này được biểu hiện rõ thông qua chính sách “phân phối trước, tăng trưởng sau” của các nước theo hướng xã hội chủ nghĩa trong nhiều thập kỷ sau đại chiến thế giới II Lập luận mang tính truyền thống và phổ biến của các nước XHCN trước đây là: bất bình đẳng và bất công chính là nguyên nhân cản trở
sự phát triển Vì vậy, trước tiên cần phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội bằng nhiều biện pháp khác nhau để kích thích tăng trưởng Vấn đề phân phối được coi là nội dung quan trọng nhất của quan hệ sản xuất, có tác dụng
mở đường và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Cơ chế phân phối được thiết lập sao cho đảm bảo thu nhập phụ thuộc vào đóng góp lao động Tuy nhiên, xét
về mặt thực tế, nền tảng của các quan hệ phân phối vẫn là chủ nghĩa bình quân, duy trì bình đẳng theo quan điểm bình quân; hơn nữa, các nước này đã thực hiện chính sách phúc lợi rộng rãi bất chấp trình độ phát triển kinh tế đã đạt được
Trong thời kỳ đầu, các mô hình trên là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn vơi mọi tầng lớp nhân dân, tạo ra được một nguồn động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế Tuy nhiên, qua thời gian, các mô hình này ngày càng bộ lộ nhiều nhược điểm Trước hết, để tập trung giải quyết công bằng xã hội cần có nguồn vốn lớn mà điều này không thể đạt được nếu không có nền tài chính vững mạnh Trong khi đó, nếu xét thực chất, hầu hết các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trước đây đều
là những nước có xuất phát điểm thấp, khả năng tích luỹ nội bộ kém Vì vậy, các chính sách giải quyết công bằng xã hội phần lớn chỉ được thực hiện một cách hình thức, rất xa so với mục tiêu mong muốn và rất ít hiệu quả Mặt khác, người lao động được Nhà nước bao cấp theo kiểu phân phối hiện vật kéo dài trong suốt nhiều thập kỷ, do vậy trở nên thụ động, ỷ lại và dần dần xuất hiện tình trạng kìm hãm hoặc thậm chí triệt tiêu động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
1.2.2.3 Quan điểm “Thực hiện đồng thời tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội”
Như đã phân tích, cả hai quan điểm trên đều tồn tại những mặt bất hợp lý; vì vậy, các nhà nghiên cứu đã và đang hướng tới một quan điểm chung nhất, kết hợp
cả hai xu hướng trên: Tăng trưởng kinh tế phải được thực hiện đồng thời với việc
giải quyết bất bình đẳng xã hội Theo quan điểm của Tổ chức thương mại Thế
Trang 27giới (WTO) thì “không có bằng chứng nào cho thấy sự tăng trưởng kinh tế lại đi
đôi một cách tích cực với tình trạng bất bình đẳng về thu nhập, hoặc sự bất bình đẳng ấy đưa tới những nhịp độ tăng trưởng cao hơn”
Để thực hiện quan điểm kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, các nhà nghiên cứu cấp tiến đã đưa ra hai hướng đi chính :
Một là, hướng sự hoạt động kinh tế vào việc giải quyết các nhu cầu cơ bản của con người Theo họ, thị trường không thể phân bổ thích đáng lợi nhuận do
tăng trưởng kinh tế đem lại, đặc biệt là trong giai đoạn đầu Các chính phủ cần chuyển giao thu nhập từ những tầng lớp được lợi nhiều hơn sang những tầng lớp yếu thế trong xã hội bằng các hoạt động trợ cấp, các chương trình xoá đói giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ xã hội miễn phí Mục tiêu đầu tiên mà các chính phủ cần đạt được là từng bước xoá bỏ tầng lớp nghèo tuyệt đối và hạn chế tầng lớp nghèo tương đối
Hai là, tái phân phối cùng với tăng trưởng hay tăng trưởng cùng chia sẻ
Đây là ý tưởng của Ngân hàng thế giới được thể hiện trong công trình nghiên cứu cùng tên Phân phối lại cùng với tăng trưởng nhấn mạnh vào việc tăng khả năng sản xuất và tiêu dùng của dân chúng, tức là tăng khả năng tiếp cận với các nguồn lực để phát triển và mở ra những cơ hội mới làm tăng thu nhập
Hướng đi thứ nhất nhằm tháo gỡ các vấn đề có tính cấp bách của các quốc gia đang phát triển Hướng đi này có thể được thực hiện thông qua việc huy động các nguồn vốn viện trợ trong và ngoài nước Hướng đi thứ hai giải quyết theo chiều sâu, mang tính lâu dài, tháo gỡ được vấn đề bức xúc nhất của các nền kinh
tế đang phát triển bằng cách huy động sức dân
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.3.1 Kinh nghiệm của các nước ASEAN
Việc xoá bỏ nghèo, đói, bệnh tật và nạn mù chữ là mối quan tâm chủ yếu của các quốc gia thành viên ASEAN Các nước do đó luôn tăng cường hợp tác
Trang 28trong phát triển kinh tế và xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh nâng cao công bằng xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nước mình
Trong vòng 3 thập kỉ, các nước này đã đạt tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc Từ năm 1960 -1994, thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng 8 lần ở Singapore, 4-6 lần ở Thái Lan , Indonesia và Malaisia; trong khi đó, con số này ở các nước phát triển là 2,5 lần và thế giới là 1,5 lần
Thành tựu tăng truởng kinh tế nhanh chóng đã đi liền với việc cải thiện căn bản các chỉ số phát triển xã hội Tỉ lệ dân cư sống dưới mức nghèo khổ từ năm 1987-1993 giảm 9% Qua 3 thập kỷ chỉ số HDI của Singapore tăng từ 0,519 năm
1960 lên 0,900 năm 1994 Malaisia, Philippine, Indonesia đều đạt được sự cải thiện đáng kể về chỉ tiêu này
Các nước ASEAN đã có rất nhiều kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế công bằng xã hội
- Kinh nghiệm của Singapore: Sự bất bình đẳng về thu nhập của nước này
giảm chủ yếu là do tốc độ tăng của GDP trung bình hằng năm đạt mức kỷ lục 12,1% trong giai đoạn 1965 -1975 đã tạo ra việc làm đầy đủ Sự mở rộng việc làm của các ngành chế tạo và thương mại và sự tham gia của lao động nữ cũng góp phần làm giảm sự bất cân đối
Từ sau năm 1983 sự chênh lệch và thu nhập có xu hướng tăng trở lại, nguyên nhân chủ yếu là do sự tăng lương mạnh, đặc biệt là đối với những người
có thu nhập cao nhất, và có sự mở rộng nhanh chóng của các ngành thương mại
và dịch vụ Chính sách tái thiết nền kinh tế công bố vào năm 1979 chuyển các hoạt động kinh tế tập trung nhiều lao động và giá trị gia tăng thấp sang các hoạt động kinh tế tập trung nhiều kỹ năng, có giá trị gia tăng và kỹ thuật cao đã có sự tác động đến sự khác biệt về lương nghề nghiệp và lương giáo dục Tuy ở Singapo sự chênh lệch về thu nhập có lúc tăng, lúc giảm, nhưng sự tăng giảm này không lớn Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở nước này có “ xu hướng bất bình đẳng ổn định” với hệ số Gini từ 0,45 đến 0,5
Có thể nói, Singapore là một trong những khuôn mẫu điển hình trong việc xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch và có hiệu quả Giống như Nhật Bản, đội
Trang 29ngũ các công chức ở nước này được tuyển dụng rất khắt khe và chính họ là trụ cột cho việc vạch ra và thực thi các chính sách kinh tế, không bị lệ thuộc vào sức ép chính trị hoặc sức ép từ các nhóm lợi ích tư nhân Các công chức ở Singapore cũng được dành cho những quyền lợi rất lớn nhằm ngăn ngừa nạn tham nhũng và
sự mua chuộc của các nhóm lợi ích khác nhau Những công chức trong bộ máy Nhà nước nếu dính vào bất kì một vụ tham nhũng nào đều bị đuổi việc và không được hưởng lương hưu; thậm chí khu vực tư nhân cũng không tiếp nhận những người này Quan điểm chung của xã hội Singapore đã khiến cho những công chức tham nhũng không có chỗ đứng trong xã hội Vì vậy Singapore đã được mệnh danh là “quốc gia không có tham nhũng”
- Kinh nghiệm của Malaixia: Việc công bố chính sách kinh tế mới (NEP)
trong kế hoạch lần thứ 2 của Malaixia trong giai đoạn 1971 -1975 là điểm khởi đầu mới trong chính sách thu nhập của Mailaixia từ đó cho đến nay
Để thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội chính phủ Malaixia đã thực hiện một loạt các biện pháp:
Thứ nhất, sự thành công trong các chương trình phát triển nông thôn cho
người nghèo, như Kế hoạch đất đai liên bang (FEALDA), các Chương trình cải tạo đất đai của Ủy ban cải tạo và hợp nhất đất đai liên bang (FERCRA), Kế hoạch trồng lại các đồn điền cao su của Ủy ban phát triển đồn điền công nghiệp cao su (RISDA)
Thứ hai, việc tăng cường giáo dục cho người dân đã đem lại cơ hội việc
làm lớn hơn và thu nhập cao hơn, làm giảm một cách có hiệu quả chênh lệch về thu nhập nói chung và sự bất bình đẳng thu nhập theo nhóm dân tộc nói riêng
Thứ ba, sự chuyển hướng sang công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu, cần
nhiều lao động trong thập niên 70 và đầu thập kỷ 80 Điều đó đã mở ra cơ hội làm việc trong các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ, tăng sự tham gia của lực lượng lao động
Thứ tư, việc lập lại các mối hệ sở hữu theo hướng ưu tiên cho người Mã
Lai, giảm sự tập trung của cải trong tay những người không phải gốc Mã Lai - vốn là nguyên nhân trong sự bất bình đẳng về thu nhập
Trang 30Thứ năm, sự tăng trưởng kinh tế ở Malaisia đã được tiến đồng thời trong
sự cải thiện trong phân phối thu nhập, nhất là việc tăng tỷ lệ tiền lương trong thu nhập gia đình, kết hợp tăng tỷ lệ tiền lương trong thu nhập gia đình với mở rộng giáo dục và tăng tỷ lệ biết chữ Phụ nữ cũng thu được nhiều lợi ích trong sự tăng trưởng do tìm được những việc làm ổn định trong các ngành điện tử và may mặc
ở các công ty xuyên quốc gia đang mở rộng hoạt động
- Kinh nghiệm của Inđônêxia: Khi so sánh các hộ nông thôn và thành thị,
người ta thấy rằng ở Inđônêxia sự bất bình đẳng thu nhập giữa các hộ gia đình ở thành thị cao hơn rất nhiều so với sự chênh lệch về thu nhập của các hộ gia đình ở nông thôn với nhau
Kinh nghiệm ở Inđônêxia cho thấy tăng kinh tế nhanh nhất thiết dẫn đến
sự tăng bất bình đẳng Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ở Inđônêxia là khá cao, bắt đầu từ cuối những năm 1960, và sự tăng trưởng kinh tế cao này tác động đến nạn nghèo khổ ở Inđônêxia, làm giảm sự nghèo đói đáng kể trong suốt 20 năm Thu nhập của người nghèo cũng tăng lên đã làm giảm sự bất bình đẳng về thu nhập
Giải thích cho sự giảm nghèo và giảm bất bình đẳng ở Inđônêxia, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra hai lý quan trọng:
Thứ nhất, các chính sách định giá nông nghiệp và một vài chính sách đa
dạng hóa mùa màng hướng nhiều hơn vào các ngành không sản xuất lúa gạo có thể thu được lợi nhuận, sự kết hợp giữa thương mại và điều tiết công nghiệp và điều chỉnh tỷ giá ngoại hối thực tế đã dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của các ngành sản xuất không phải là dầu lửa
Thứ hai, sự quản lý của chính phủ là bước đệm giúp người nghèo giảm bớt
được chi tiêu công cộng Đầu tư công cộng lại bị cắt giảm, nhưng tiêu dùng công cộng lại được duy trì, ngoài ra chi tiêu liên quan đến đói nghèo như phát triển
nguồn nhân lực được duy trì, chi tiêu công cộng cho người nghèo cũng tăng
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được các nền kinh tế ASEAN cũng vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết khó tránh khỏi, đơn cử như: sự bất bình đẳng giữa các vùng và các thành phần kinh tế, sự ô nhiễm môi trường trầm trọng do sự khai thác bừa bãi tài nguyên và sự phát triển các ngành công nghiệp gây ô nhiễm,
Trang 31điển hình ở Philippine và Indonesia; sự bất cân đối về mức độ tăng trưởng và phát triển của các nước thành viên …
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế và giảm bất bìmh đẳng ở các nền kinh tế ASEAN chịu tác động của một số tổ hợp các yếu tố và chính sách Tuy nhiên, sự kết hợp cũng như mức độ sử dụng các yếu tố và chính sách đó là rất khác nhau ở từng quốc gia tuỳ theo từng thời điểm và điều kiện cụ thể Đồng thời hiệu qủa của việc vận dụng các chính sách ở các nước cũng không giống nhau ở Singapore yếu tố bộ máy rất quan trọng nhưng việc cải cách và phát triển nông thôn lại không phải là trọng tâm; ở Thái Lan, mặc dù chính phủ đã có những chính sách can thiệp nhằm giảm bất công trong xã hội nhưng trên thực tế, Thái Lan vẫn là một nước có tỉ lệ bất bình đẳng cao
1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Nhờ có quyết tâm đổi mới với những bước đi và nhiệm vụ cụ thể, trong gần 30 năm cải cách và mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã phát triển với tốc độ cao Mức tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc trong gần 30 năm qua luôn đứng đầu thế giới
Cải cách kinh tế giúp cho Trung Quốc tăng trưởng ở mức đáng kinh ngạc, với mức tăng trung bình hàng năm là 9,8% trong giai đoạn 1978-2007 Năm
1978, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc ở mức 364,5 tỷ nhân dân tệ (khoảng 52 tỷ USD) Đến năm 2007, con số này đã gấp 68 lần, lên 25.100 tỷ tệ (khoảng 3.540 tỷ USD) Những năm 1997 - 1999, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính trong khu vực, mức tăng trưởng cuả Trung Quốc có giảm nhưng vẫn đạt trên 7%/năm Năm 2000, tiếp tục tăng trưởng với 7,6%, năm 2003 lại đạt mức cao hơn là 10,0% Trung Quốc đã hoàn thành cơ bản mục tiêu là đặt ra về phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường và mở cửa với bên ngoài GDP bình quân đầu người của Trung Quốc đã vượt qua 650 USD, thoát khỏi danh sách những nước
có thu nhập thấp, chuyển sang những nước có mức thu nhập trung bình Năm
2002, GDP bình quân đầu người đạt 1.000 USD, năm 2003 đạt 1.090 USD ( theo phân loại của Ngân hàng thế giới, GDP bình quân đầu người dưới 650 USD là
Trang 32quốc gia có thu nhập thấp, từ 650 USD đến 2.555 USD là quốc gia có thu nhập trung bình, từ 2.555 USD đến 7.911 USD là quốc gia có thu nhập trên trung bình) Trung Quốc đã từ một nước rất nghèo trở thành một nước phát triển kinh tế lớn thứ 4 trên thế giới, từ một nền sản xuất lạc hậu trở thành “công xưởng của thế giới’ Từ một nền kinh tế chủ yếu tự cung, tự cấp trở thành nền kinh tế chiếm 10% kim nghạch ngoại thương thế giới trong năm 2007
Ngay từ khi cải cách nền kinh tế thì việc thực hiện công bằng xã hội bên cạnh sự tăng trưởng kinh tế cũng được quan tâm giải quyết từng bước thông qua hàng loạt mục tiêu và chính sách của Nhà nước như: đặt mục tiêu cơ bản, hàng đầu của quá trình cải cách đó là cải thiện đời sống, mức thu nhập của nhân dân; công nghiệp hóa nông thôn, lấy công nghiệp phục vụ nông nghiệp; tận dụng tối
đa sức ảnh hưởng lan tỏa của các khu vực phát triển đối với các khu vực kém phát triển để từ đó phát triển những khu vực kinh tế trọng điểm; chính sách giải quyết việc làm đặc biệt là lao động ở nông thôn; chính sách bảo đảm xã hội…
Chính vì thế mà Trung Quốc thu được những thành tựu đáng kể trong việc giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng
xã hội Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 378 nhân dân tệ năm 1978 lên 6279,9 nhân dân tệ vào năm 2000, tăng lên 16 lần Năm 1978 thì 30,7% dân số Trung Quốc thuộc diện đói nghèo, thì đến năm 1985 tỷ lệ này chỉ còn là 11,8% và năm 1995 là 5,4% Mạng lưới đào tạo nghề được thiết lập trong cả nước, mỗi năm
có từ 70% đến 80% lao động được đào tạo và đào tạo lại Giải quyết việc làm cho hàng trăm triệu lao động đặc biệt là trong khu vực nông thôn, ví dụ như các xí nghiệp công - nông Hương Trấn năm 1978 chỉ mới thu hút được 28,3 triệu lao động thì đến năm 1995 đã giải quyết được việc làm cho 128,6 triệu lao động
Nhưng những năm gần đây do tập trung cao độ cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc đã có phần xem nhẹ các mục tiêu xã hội Hệ quả là kể
từ những năm 1990 trở đi, tiến bộ và phát triển xã hội của Trung Quốc đã chậm lại một cách đáng kể so với thời kỳ trước đó, và trên thực tế, nhiều thách thức mới xuất hiện cùng với quá trình cải cách
Trang 33Trên thực tế việc ưu tiên quá mức cho tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc hiện nay không giải quyết được mọi vấn đề Thách thức mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay là sự mất cân đối ngày càng tăng trong phát triển kinh tế và phát triển xã hội, có nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn và khủng hoảng xã hội đang cản trở sự phát triển của Trung Quốc Điều này được biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Do quá ưu tiên tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ sự phối hợp giữ
phát triển kinh tế và xã hội, phần lớn nhân dân ít được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế
Hệ thống chăm sóc sức khỏe và y tế công cộng hiện đang trong tình trạng đáng lo ngại Vừa qua, sự lúng túng, bất cập trong phòng chống bệnh SART đã cho thấy điều đó Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới, chỉ số chăm sóc sức khỏe và y tế công cộng của Trung Quốc xếp thứ 3 từ dưới lên trong danh sách các nước trên toàn thế giới Hầu hết người nghèo và dân cư nông thôn không có khả năng chi trả các dịch vụ y tế tư nhân giá cao hiện nay Nhà nước đầu tư cho giáo dục cũng rất thấp, khoảng 2% GDP, trong khi tỷ lệ này ở 120 nước trên thế giới là khoảng 5% Trung Quốc vẫn còn khoảng 450 huyện không có khả năng cung cấp
hệ thống giáo dục bắt buộc cho hàng chục triệu người Năm 2002 có khoảng 20 đến 30 triệu trẻ em không thể tiếp tục đi học vì những khó khăn về kinh tế Thiếu
sự chăm sóc về sức khoẻ và y tế, thiếu điều kiện tiếp cận với giáo dục làm cho nguồn lực con người bị giảm sút, cản trở quá trình phát triển kinh tế của đất nước, nhất là trong giai đoạn hiện nay nguồn lực con người đang giữ vai trò trọng yếu trong phát triển
Thứ hai, Sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các nhóm xã hội,
vùng miền ngày càng tăng Thời kỳ đầu trong công cuộc cải cách, Trung Quốc thực hiện chính sách cho phép một bộ phận dân cư và một số khu vực giầu lên trước, nhằm giải phóng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo của lực lượng sản xuất Thực hiện chính sách này là tất yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, do thiếu quan tâm cải thiện điều kiện sống và lao động của những vùng nghèo, những người nghèo, đến nay tình trạng phân hóa giầu nghèo quá lớn đe dọa sự ổn định và phát triển của Trung Quốc Chênh lệch về thu nhập của các tỉnh
Trang 34bờ biển miền Đông - Nam với các tỉnh miền Tây lên 6 lần Sự cách biệt ngày càng tăng giữa thành thị và nông thôn về thu nhập, về cung cấp dịch vụ công, về năng suất lao động hiện đang là trở lực lớn đối với quá trình phát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ xã hội Mức độ tiêu dùng của dân cư nông thôn hiện thua kém
6 lần so với dân cư thành thị Hệ số Gini của Trung Quốc năm 2002 đã là 0,5 Theo ước tính của WB có khoảng hơn 100 triệu dân Trung Quốc sống dưới mức nghèo khổ, phần lớn trong số họ đang là nông dân ở các tỉnh miền Tây và các nhóm dân tộc ít người
Sự phân biệt giàu nghèo ngày càng sâu sắc do nhóm người nghèo mặc dù
có quy mô dân số đông, nhưng họ không có khả năng tự bảo vệ lợi ích của mình Nếu số người nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao như hiện nay tất yếu dẫn đến tiêu dùng
xã hội giảm, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế, mặt khác còn tính tụ những rủi ro về mặt xã hội
Thứ ba, Cùng với sự nỗ lực tăng trưởng kinh tế tốc độ cao, Trung Quốc đã
đi sâu vào cải cách nền kinh tế theo hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường,
đa dạng hóa sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế theo hướng cạnh tranh và tăng tính hiệu quả, tỷ trọng kinh tế nhà nước giảm xuống đáng kể, nhưng chưa có giải pháp tích cực giải quyết việc làm cho số lượng lao động bị mất việc ở khu vực này, nên nạn thất nghiệp tăng cao Theo đánh giá của nhiều nhà phân tích Trung Quốc, ở thành thị tỷ lệ thất nghiệp hiện nay vào khoảng 8 đến 10%, ở nông thôn có khoảng 150 triệu người có rất ít hoặc không có việc làm Một bộ phận không nhỏ của lực lượng đông đảo này sẽ di cư ra thành phố, gây ra áp lực việc làm cũng đang gay gắt ở các vùng đô thị Hiện nay, có khoảng 40 triệu nông dân
bị thu hồi đất để phát triển đô thị và công nghiệp đang ở tình trạng không có việc làm, không thu nhập và không bảo hiểm xã hội
Ở các thành phố, quá trình cải cách DNNN đã buộc rất nhiều công nhân phải nghỉ việc Theo số liệu thống kê chính thức thì số lao động trong các DNNN
ở Trung Quốc giảm từ 31 triệu năm 1996 xuống còn 19 triệu năm 2002, tức là giảm đi 12 triệu Nhưng theo một số nghiên cứu khác thì con số này trên thực tế còn cao hơn nhiều Chẳng hạn như Hu Angang cho rằng từ năm 1995 cho tới giữa
Trang 35năm 2002, có tới 55 triệu công nhân trong các DNNN phải nghỉ việc Do vậy, sẽ
là không hề ngạc nhiên khi thấy tỷ lệ thất nghiệp thực tế cao hơn gấp 3 lần so với
số liệu công bố chính thức là 4,3% vào cuối năm 2003 Trong khi tình trạng này tạo ra một gánh nặng to lớn cho quỹ phúc lợi của các đô thị thì thành tích vượt bậc của Trung Quốc trong việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn lại chậm lại một cách đáng kể so với trước
Thứ tư, Tình trạng môi trường sinh thái xấu đi đồng nghĩa với những tổn
thất về thiên tai tăng lên, trong những thập kỷ 90 của thế kỷ 20 thiệt hại về kinh tế của Trung Quốc do thiên tai chiếm đến 3- 5 % GDP Khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường sống không chỉ gây ra mất cân bằng trong hiện tại mà nó cướp đi nguồn sống của thế hệ tương lai, cản trở sự phát triển của đất nước
Thực tế cho thấy Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội tiếp theo, đặc biệt mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng giữ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Từ đầu năm 2004 trở lại Trung Quốc đã thực hiện nhiều giải pháp giảm bớt những mâu thuẫn này bằng định hướng sau: Chuyển từ chính sách ưu tiên cao độ cho tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên đảm bảo công bằng xã hội, thực hiện hài hòa giữ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; Giảm khoảng cách thu nhập các vùng miền, giữ nông thôn và thành thị; thực hiện chiến lược phát triển bền vững; đảm bảo sự hài hòa giữ phát triển kinh tế với phát triển dân số, tài nguyên, môi trường…
Nước này vẫn phải tìm mọi biện pháp để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng "phát triển một xã hội cân bằng là mục tiêu trên hết” Từ năm 2005, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã định hướng đến năm 2020 Trung Quốc sẽ thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong xã hội và sẽ giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp
Để thực hiện được những mục tiêu này, Trung Quốc đang thực hiện hàng loạt các chính sách phát triển kinh tế mới Năm 2005, Chính phủ Trung Quốc cam kết giảm thuế cho nông dân, tăng trợ cấp nông nghiệp để tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho khoảng 800 triệu nông dân đang bị tụt hậu trong nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh của nước này Bãi bỏ thuế nông nghiệp sẽ đưa khoảng 4 tỷ
Trang 36USD quay trở lại túi hàng triệu nông dân, trung bình 5 USD/người, hằng năm Khoản tiền đó không phải quá lớn đối với nông dân, những người có thu nhập bình quân khoảng 353 USD/năm Nhưng việc chấm dứt thu thuế nông nghiệp có thể giải quyết được một trong số những bất bình đẳng dễ thấy nhất trong xã hội Trung Quốc: Nếu không có thu nhập cao hơn 1.200 USD/năm, những người ở thành thị sẽ không phải đóng thuế
Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc đang đầu tư công nghệ chế tạo năng lượng sạch, xây dựng hạ tầng nông thôn và cải thiện điều kiện y tế, giáo dục cho các vùng kém phát triển hơn ở miền Tây, thực hiện chiến lược “Đại khai phá miền Tây” để phân phối sự thịnh vượng ra cả nước
Trung Quốc đang nhắm tiến tới một nền kinh tế thị trường nhân bản hơn
Từ thực tế của Trung Quốc trong việc giải quyết mối quan hệ giữ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có thể gợi mở nhiều bài học kinh nghiệm đối với nhiều nước trong đó có Việt Nam
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Nhà nước có vai trò quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ
và công bằng xã hội Nhưng, so với sự nghiệp phát triển kinh tế nhà nước có vai trò to lớn hơn, tác động trực tiếp, sâu rộng hơn tới sự tiến bộ và công bằng xã hội nhằm khắc phục những bất bình đẳng trong quá trình phát triển
- Đa dạng hóa các loại hình sở hữu, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp, đây có thể coi là một giải pháp hữu hiệu để vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa thực hiện hiệu quả công bằng
xã hội
- Việc chủ động tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa sẽ góp phần
đem lại những thành tựu quan trọng và có ý nghĩa đối với việc tăng trưởng kinh tế
và thực hiện công bằng xã hội
- Đẩy mạnh tạo việc làm đầy đủ, hạn chế thấp nghiệp là giải pháp quan
trọng ngay trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa hiện đại hóa Điều này có thể làm
Trang 37được trước hết thông qua thực thi các chính sách , biện pháp và các chương trình kinh tế - xã hội như phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ dùng nhiều lao động, các xí nghiệp vừa và nhỏ, các ngành sản xuất nông sản hàng hóa và nông sản chế biến, các chương trình tạo việc làm và hỗ trợ việc làm với sự tham gia của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức và đoàn thể xã hội
- Giáo dục phải được tăng cường đầu tư bởi vì giáo dục chính là một phần biểu hiện của chất lượng cuộc sống, là hệ quả và là nhân tố cấu thành tăng trưởng bền vững
- Hình thành hệ thống pháp luật cụ thể, rõ ràng về phòng, chống tham nhũng, tổ chức thực hiện nghiêm, tất cả tuân thủ theo pháp luật và tạo điều kiện cho đông đảo quần chúng nhân dân tích cực và chủ động tham gia phòng chống tham nhũng sẽ góp phần không nhỏ thực hiện tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đồng thời thực hiện công bằng xã hội ngay cả trong trường hợp thu nhập của quốc gia và của người dân còn thấp
Trang 38♣
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là một trong những mối quan hệ cơ bản của quá trình phát triển Nội hàm của quan điểm phát triển hiện đại là tăng trưởng kinh tế đi liền với công bằng xã hội Tăng trưởng kinh tế chỉ là một phần của phát triển, mặc dù tăng trưởng là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của phát triển, nhưng tự nó không đưa đến phát triển Phát triển chỉ có được khi tăng trưởng kinh tế tạo ra những biến chuyển trong cơ cấu kinh tế và cấu trúc xã hội,
và mỗi người đều được hưởng kết quả của tăng trưởng kinh tế và nhờ đó phát triển cá nhân mình
Công bằng xã hội chỉ có thể đạt được trong điều kiện ở đó mỗi cá nhân có các điều kiện và cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các cơ hội và thực hiện các
cơ hội đó Nhưng điều này cũng chỉ có thể đạt được tương đối, chứ không thể là tuyệt đối Mục đích của việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội cũng là việc giảm bớt mức độ bất bình đẳng ngay trong quá trình tăng trưởng Và để thực hiện mục tiêu này thì Nhà nước đóng một vai trò vô cùng to lớn
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, trong các nền kinh tế khác nhau thì các chính phủ lại có những chính sách khác nhau để giải quyết mối quan hệ này Chính vì vậy không thể có một khuôn mẫu chung nhất cho tất cả các quốc gia Tùy từng giai đoạn, hoàn cảnh mà các quốc gia phải tìm ra mô hình phù hợp cho mình
Trang 39Chương 2
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ
GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Sự hình thành và hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình đổi mới
Trên thực tế, kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội là vấn đề lý luận mới mẻ và phức tạp, đồng thời là điểm quan trọng bậc nhất và cũng khó khăn nhất của phát triển kinh tế - xã hội Trước đổi mới, cũng như nhiều nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, ở Việt Nam đã từng tồn tại mô hình kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp và áp dụng phương thức phân phối bình quân Mô hình ấy đã phát huy tác dụng tích cực của nó, đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, cho phép huy động tối đa và tổng lực các nguồn lực cho công cuộc kháng chiến cứu nước vì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc Song trong điều kiện hòa bình, khi lợi ích và nhu cầu chính đáng của người dân trong điều kiện bình thường đòi hỏi phải được chú trọng thì mô hình kinh tế và quản lý kinh tế đó đã không còn phù hợp và tỏ rõ sự bất cập
Bước vào Đổi mới, cùng với đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, Việt Nam đã chuyển đổi mạnh mẽ mô hình phát triển kinh tế để phát triển xã hội
Những bước chuyển đổi về mô hình, cơ chế, chính sách và cả thể chế luật pháp,
thiết chế tổ chức bộ máy đã diễn ra như một quá trình suốt hơn hai thập kỷ qua
không hề đơn giản, dễ dàng
Thực tiễn đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận, đã gợi ý và thúc đẩy những điều chỉnh, những thay đổi để sự phát triển kinh tế - xã hội đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước đạt được sự cân đối, nhịp nhàng trong phát triển Tiến trình đổi mới được thực hiện ở những bước chuyển căn bản sau đây:
- Từ sở hữu đơn nhất, thuần nhất (công hữu) sang đa dạng sở hữu và đa dạng thành phần kinh tế, phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh có sở hữu hỗn hợp; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Trang 40- Từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp và bình quân sang áp dụng cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
- Từ cơ chế thị trường với cạnh tranh phân hóa vượt trội sang xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường và giờ đây là phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi tất cả các thành phần kinh tế, kể cả kinh
tế tư nhân gồm nhiều loại đều nằm trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân thống nhất, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, cùng phát triển lâu dài
- Từ cách hiểu không đúng về công bằng xã hội là bình quân chia đều sang cách hiểu đúng, xác thực, phải phân phối lợi ích theo kết quả lao động, đồng thời phải đa dạng các hình thức phân phối lợi ích, có cạnh tranh và vượt trội, thấy
đúng thực chất của công bằng trước hết là công bằng về cơ hội phát triển
- Từ chỗ chưa gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, nhận thức chưa đầy đủ vai trò của đầu tư về mặt xã hội, coi đầu tư vào việc giải quyết các vấn đề xã hội là đầu tư không sinh lợi, phi kinh tế, đơn thuần là phúc lợi xã hội đến chỗ thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội thành chính sách phát triển, nhận thức rõ đầu tư về mặt xã hội chính là đầu tư theo chiều sâu, đầu tư cho phát triển, giải quyết mối liên hệ khăng khít giữa nội dung xã hội trong chính sách kinh tế, tác dụng thúc đẩy kinh tế của chính sách xã hội, phát triển kinh tế để phát triển xã hội, phát triển cá nhân và cộng đồng
Trước đổi mới, vấn đề quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội chưa được đề cập một cách thỏa đáng trong nhận thức và trong lý luận Do chế độ tập trung quan liêu bao cấp kéo dài, các vấn đề xã hội cũng được kế hoạch hóa và thực hiện qua các chỉ tiêu pháp lệnh như chỉ tiêu tổng biên chế, quỹ lương, tuyển dụng lao động, các chỉ tiêu về kinh phí, vật tư… cho phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế Quan niện về công bằng xã hội thường đồng nhất với cào bằng bình quân Quan hệ giữa tiến bộ về kinh tế với công bằng xã hội chưa được xem xét một cách khoa học Khi chuyển sang cơ chế thị trường, mặt trái của
cơ chế này tác động mạnh đến các lĩnh vực xã hội, công bằng xã hội đòi hỏi phải
có những nhận thức mới