Các dịch vụ tài chính có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, DNNQD nói riêng: cung cấp vốn, nâng cao hiệu quả quản lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-*** -
NGUYỄN THỊ THANH HẢI
KHẢ NĂNG TIẾP CẬN, SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ
TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC
DOANH
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ THÁI HÀ
HÀ NỘI - 2008
Trang 21
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
IPO Phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu
Trang 36
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ tài chính 6
1.2 Các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận, sử
dụng dịch vụ tài chính của các DNNQD 15
1.2.1 Các yếu tố về phía tổ chức cung cấp dịch vụ 15 1.2.2 Các yếu tố về phía doanh nghiệp sử dụng dịch vụ 19
1.3 Kinh nghiệm một số nước trong việc nâng cao
khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các doanh nghiệp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
38
2.1 Thực trạng các dịch vụ tài chính ở Việt Nam 38
Trang 4TỚI
106
3.1 Định hướng nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng
dịch vụ tài chính của DNNQD ở Việt Nam trong thời gian tới
106
3.2 Hệ thống giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận,
sử dụng dịch vụ tài chính của DNNQD ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 54
Trang 65
LỜI MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Kể từ khi Luật doanh nghiệp được ban hành, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng Các DNNQD đóng vai trò ngày càng quan trọng và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, sự phát triển của các DNNQD còn gặp không ít khó khăn, trong đó nổi lên vấn đề tiếp cận, sử dụng dịch vụ tài chính của các DNNQD Việt Nam còn yếu và gặp một số rào cản
so với các DNNN
Các dịch vụ tài chính có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, DNNQD nói riêng: cung cấp vốn, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính, phân tán và giảm thiểu rủi ro… Vì vậy, khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính còn hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các DNNQD ở Việt Nam Điều này không chỉ có nguyên nhân từ phía các tổ chức cung cấp dịch vụ, mà còn do những yếu kém trong hoạt động của các DNNQD và các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh Do đó, việc nghiên cứu, khảo sát nhằm đánh giá khả năng, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng dịch vụ tài chính của các DNNQD là cần thiết và rất có ý nghĩa thực tiễn
Việt Nam gia nhập WTO đã đem đến cơ hội hợp tác cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có DNNQD Cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng nhiều, các DNNQD có khả năng vượt qua những thách thức đó không khi mà các doanh nghiệp này còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn trong việc tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài
chính? Câu hỏi này được tháo gỡ dần trong luận văn thạc sỹ: “Khả năng tiếp
Trang 76
cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh”
Trang 87
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Đã có những nghiên cứu về các dịch vụ tài chính, nghiên cứu về hoạt động của các DNNQD, cụ thể là:
Luận án tiến sỹ khoa học kinh tế của tác giả Nguyễn Xuân Sinh đề cập
đến “Vấn đề tín dụng ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh” Luận án
đã phân tích thực trạng khả năng tiếp cận, sử dụng dịch vụ ngân hàng đối với các DNNQD Từ đó đi đến những giải pháp giúp các DNNQD tiếp cận, sử dụng dịch vụ ngân hàng đạt hiệu quả hơn Tuy nhiên hệ thống các giải pháp
mà luận án đưa ra chỉ đứng trên góc độ kinh tế, không mang tính chất kinh tế chính trị Ngoài ra sự phát triển của các DNNQD không chỉ phụ thuộc vào dịch vụ ngân hàng mà còn phụ thuộc các dịch vụ khác như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán Do đó, khi nghiên cứu một loại hình dịch vụ ngân hàng, hiệu quả đưa lại cho các DNNQD là chưa cao
Khoảng thời gian mà luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Sinh nghiên cứu là từ năm 2000 – 2004 nên số liệu đã không còn cập nhật với tình hình thực tế hiện nay Đặc biệt, sự kiện Việt Nam chính thức ra nhập WTO đã đem đến nhiều cơ hội và thách thức cho toàn bộ nền kinh tế nói chung, trong
đó bao gồm cả các DNNQD Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Sinh được nghiên cứu trước thời điểm này nên chưa đề cập đến sự kiện có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền kinh tế của Việt Nam Nền kinh tế càng phát triển thì những rủi ro tiềm tàng đối với các doanh nghiệp càng cao, đặc biệt là những DNNQD Do đó, các doanh nghiệp này ngày càng quan tâm hơn đến biện pháp phòng tránh rủi ro, một trong những biện pháp hữu hiệu là mua bảo hiểm
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Huyền “Những giải pháp chủ yếu để mở rộng và nâng cao hiệu quả dịch vụ bảo hiểm đối với các DNNQD”nghiên cứu dịch vụ bảo hiểm đứng trên góc độ các công ty bảo
Trang 98
hiểm tác động đến các doanh nghiệp chứ không quan tâm đến việc các DNNQD tiếp cận, sử dụng dịch vụ bảo hiểm như thế nào Giống như luận án tiến sỹ trên, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Huyền cũng chỉ mới đề cập đến một loại dịch vụ, đó là bảo hiểm, hiệu quả do vậy cũng chưa cao đối với các DNNQD Đồng thời, trong số các giải pháp tác giả đưa ra, nhóm giải pháp mang tính chất kinh tế chính trị cũng chưa được đề cập đến
Bên cạnh ngân hàng và bảo hiểm, chứng khoán là dịch vụ khá mới mẻ, được rất nhiều doanh nghiệp quan tâm và DNNQD cũng không phải ngoại lệ
Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, luận văn thạc
sỹ của tôi còn đề cập đến dịch vụ chứng khoán Khi nghiên cứu đồng bộ cả ba loại hình dịch vụ này chắc chắn hiệu quả đem lại sẽ cao hơn rất nhiều Một điểm cần nhấn mạnh trong luận văn thạc sỹ này, là một học viên chuyên ngành kinh tế chính trị , tôi rất quan tâm đến những vấn đề mang tính chất kinh tế chính trị: hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách, cơ quan quản lý nhà nước…
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu:
Từ những vấn đề lý luận chung về dịch vụ tài chính cho các DNNQD, luận văn phân tích thực trạng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đưa ra đưa ra quan điểm và giải pháp giúp các DNNQD tiếp cận, sử dụng dịch vụ tài chính đạt hiệu quả cao
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam hiện nay
- Nhận diện các yếu tố hạn chế khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam hiện nay
Trang 10 Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài các phương pháp truyền thống, luận văn có sử dụng kết quả của một số chương trình khảo sát có liên quan đến lĩnh vực dịch vụ tài chính
6 DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Nêu bật được cơ sở lý luận và thực tế về khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích được các yếu tố hạn chế khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch
vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao khả năng tiếp cận,
sử dụng các dịch vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 1110
Trang 1211
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài các phần: danh mục các từ viết tắt, mục lục, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tế về khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam hiện nay
- Chương 2: Thực trạng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ tài chính của các DNNQD ở Việt Nam
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng
dịch vụ tài chính của các DNNQD trong thời gian tới
Trang 13Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)
Khái niệm trên được WTO đưa ra năm 1995 trong GATS nhằm từng bước tự do hoá thương mại về dịch vụ Theo GATS dịch vụ tài chính bao gồm:
1.Bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm khác;
Trang 1413
2.Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, kể cả các dịch vụ liên quan đến chứng khoán, cung cấp thông tin tài chính và quản lý tài sản
Theo quan niệm trên của WTO, các loại dịch vụ tài chính được chia thành các loại cơ bản sau:
- Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác, bao gồm: Dịch vụ tiết kiệm (tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiết kiệm, tín phiếu, trái phiếu); Cho vay
(tín dụng, thuê mua tài chính, cầm cố thế chấp, cho vay ký quỹ, bảo lãnh
thanh toán, chiết khấu giấy tờ có giá); Thanh toán (thanh toán, chuyển tiền, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu…); Giao dịch (thị trường tiền tệ, ngoại hối); Môi giới và đầu tư (môi giới đầu tư chứng khoán…); Tư vấn tài chính
- Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm bao gồm:
Các loại hình bảo hiểm (bao gồm cả đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm) về trách nhiệm dân sự, tài sản, con người…; Sử dụng quỹ bảo hiểm (đầu tư nguồn vốn
bảo hiểm dưới các hình thức khác nhau như đầu tư chứng khoán, góp vốn…)
và các dịch vụ phụ trợ liên quan đến bảo hiểm như dịch vụ tư vấn, dịch vụ
đánh giá xác suất rủi ro, khiếu nại, đại lý bảo hiểm…
Bên cạnh các loại dịch vụ tài chính nêu trên, có một số loại dịch vụ kinh doanh có liên quan chặt chẽ và mật thiết đến dịch vụ tài chính, đó là dịch
vụ kế toán Dịch vụ kế toán bao gồm các loại hình dịch vụ cơ bản như tư vấn thuế, tư vấn kế toán và kiểm toán… Quá trình hoạt dộng của các dịch vụ kế toán, kiểm toán diễn ra song song và có mối quan hệ chặt chẽ với các dịch vụ tài chính Do vậy người ta xếp các loại dịch vụ này vào loại hình dịch vụ tài chính
Trang 1514
Ở Việt Nam hiện nay, các dịch vụ tài chính bao gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ chứng khoán (Dịch vụ kế toán không đề cập đến trong luận văn này )
1.1.1.1 Dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ tài chính xuất hiện sớm nhất và
đa dạng nhất Ngân hàng là tổ chức tạo lập và cung ứng một số loại hình dịch
vụ cho các chủ thể trong nền kinh tế Trong các loại dịch vụ ngân hàng, bên cạnh một số loại hình dịch vụ truyền thống, gần đây, đã xuất hiện một số loại hình dịch vụ mới
Các loại hình dịch vụ ngân hàng bao gồm:
Nhận tiền gửi: Các ngân hàng nhận các khoản tiết kiệm của khách
hàng, dưới dạng quĩ sinh lời được gửi tại ngân hàng với những thời hạn và lãi suất khác nhau
Cung cấp các tài khoản giao dịch: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng
dịch vụ mở tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người mở tài khoản viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ
Quản lý tiền mặt: Ngân hàng cung ứng dịch vụ cho các công ty kinh
doanh trong việc quản lý các khoản thu và chi, tiến hành việc đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
Trao đổi ngoại tệ (dịch vụ ngoại hối): Đây là loại hình dịch vụ ngân
hàng xuất hiện sớm nhất
Dịch vụ về tín dụng: Đây là loại hình dịch vụ rất đa dạng, bao gồm các
loại hình cơ bản như chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng…
Trang 1615
Dịch vụ uỷ thác: Các ngân hàng thực hiện việc quản lý tài sản và quản
lý hoạt động tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp
Cho thuê tài chính: Đây là dịch vụ khá phổ biến, ngân hàng cho khách
hàng là doanh nghiệp lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó, ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Khách hàng phải trả tiền thuê thiết bị, chịu chi sửa chữa và thuế
Tư vấn tài chính: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn
về tiết kiệm và đầu tư
Bán các dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng thực hiện việc bán bảo hiểm
tín dụng cho khách hàng nhằm đảm bảo việc hoàn trả của khách hàng khi họ rơi vào tình trạng không thể trả được nợ
Môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng của
họ cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoản khác mà không cần phải thông qua các nhà môi giới chứng khoán khác
Dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp: Hợp đồng trợ cấp là kế hoạch tiết
kiệm dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu tư một ngày nhất định trong tương lai (ví dụ ngày nghỉ hưu) Dịch vụ qũy tương hỗ chính là việc cung cấp các chương trình đầu tư một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu hay chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (tối đa hoá thu nhập hoặc tăng giá trị của vốn)
1.1.1.2.Dịch vụ bảo hiểm
Theo các phân ngành về dịch vụ của WTO, dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm bao gồm:
- Bảo hiểm nhân thọ, tai nạn, và sức khoẻ;
- Bảo hiểm phi nhân thọ;
Trang 1716
- Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
- Dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (bao gồm các dịchvụ môi giới và đại lý)
Về các loại hình dịch vụ bảo hiểm, có thể phân chia thành bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ:
Bảo hiểm nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người
được bảo hiểm sống hoặc chết, bao gồm các loại hình:
-Bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
- Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
- Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ
- Bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong cuộc đời của người đó
- Bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
Bảo hiểm phi nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm
dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ
Trang 1817
1.1.1.3.Dịch vụ chứng khoán
Khi nói đến hoạt động của thị trường dịch vụ chứng khoán, người ta đề cập đến TTCK và nhất là vai trò của các định chế tài chính trung gian tham gia hoạt động kinh doanh trên TTCK Các định chế này có thể là các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán giữ vai trò cầu nối trung gian giữa bên cầu vốn và bên cho vay vốn, tham gia vào quá trình huy động các nguồn lực tài chính trên thị trường tài chính để đáp ứng các nhu cầu về tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các tổ chức Chính phủ
Dịch vụ trên thị trường sơ cấp
Bảo lãnh phát hành: Bảo lãnh phát hành là hoạt động hỗ trợ cho công
ty phát hành hoặc chủ sở hữu chứng khoán trong việc phân phối chứng khoán thông qua thoả thuận mua đến bán lại
Đại lý phân phối chứng khoán cho các tổ chức phát hành: Khi các định
chế tài chính nhận làm đại lý phát hành cổ phiếu cho doanh nghiệp, họ sẽ bán
cổ phiếu phát hành theo giá định sẵn và hưởng hoa hồng phát hành theo doanh số bán
Dịch vụ trên thị trường thứ cấp
Môi giới chứng khoán: Môi giới chứng khoán ở đây được hiểu theo
nghĩa rộng là hoạt động thực hiện các trung gian hoặc đại diện mua hoặc bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng
Tư vấn đầu tư chứng khoán: Dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt
động tư vấn liên quan đến lĩnh vực đầu tư chứng khoán; hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán
Dịch vụ ngân quỹ: Ngân hàng hay công ty tài chính sẽ mở cho công ty
tài khoản để theo dõi việc bán cổ phần cho công chúng Với nghiệp vụ chuyên
Trang 1918
môn của mình, các ngân hàng, công ty tài chính sẽ làm cho việc bù trừ và thanh toán cổ phiếu được thực hiện nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả hơn
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán: Dịch vụ quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và giữ các chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng theo hợp đồng bằng văn bản với khách hàng Công ty phải nghiêm ngặt tách rời hoạt động này với hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới để bảo đảm tránh mâu thuẫn về lợi ích
Lưu ký và đăng ký chứng khoán: Dịch vụ lưu ký chứng khoán là việc
lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán, nhằm tránh rủi ro, hư hỏng, mất mát, giả tạo… Dịch vụ dăng ký chứng khoán là việc ghi nhận quyền sở hữu, các quyền và nghĩa vụ liên quan của người nắm giữ chứng khoán bằng một hệ thống thông tin lưu giữ trong các tài khoản lưu ký chứng khoán
1.1.2.Vai trò của các dịch vụ tài chính
1.1.2.1.Thúc đẩy nâng cao tiết kiệm, tập trung và đầu tư vốn
Đây là vai trò cơ bản, quan trọng nhất của thị trường dịch vụ tài chính quốc gia Với sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính, thông qua hàng loạt các dịch vụ tài chính đa dạng với rất nhiều các sản phẩm dịch vụ tài chính, mọi nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi đều được đưa vào tiết kiệm dưới các hình thức khác nhau như đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, gửi tiết kiệm… Nói cách khác, thị trường dịch vụ tài chính đã góp phần thúc đẩy hoạt động tiết kiệm dưới mọi hình thức của các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội; đồng thời các nguồn vốn nhỏ lẻ trong nền kinh tế được tích tụ, tập trung thành những quỹ tài chính lớn phục vụ nhu cầu đầu tư lớn, dài hạn trong nền kinh
tế
Trang 2019
Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính còn tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ doanh nghiệp, doanh nhân… dễ dàng và nhanh chóng tìm được nguồn tài chính với chi phí và chất lượng phù hợp nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh của mình Ngoài nguồn vốn của chủ sở hữu, vay ngân hàng truyền thống, còn có thể huy đông vốn qua thị trường chứng khoán, huy động từ các tổ chức bảo hiểm… Chính vì vậy hoạt động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế được đẩy mạnh nhờ yếu tố về vốn thuận lợi hơn Việc mọi nguồn lực tài chính luôn được vận động thông qua các dịch vụ tài chính khác nhau làm cho vòng quay của vốn được tăng lên, nói cách khác là khả năng cung ứng về vốn cho đầu tư trong nền kinh tế tăng lên
1.1.2.2 Phân tán và giảm thiểu rủi ro
Với sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính, hàng loạt các loại dịch vụ tài chính khác nhau đã và đang hình thành, phát triển Dịch vụ tài chính phong phú cho phép đa dạng hoá các kênh dẫn nguồn tiết kiệm đến đầu
tư, giúp giảm thiểu rủi ro Ví dụ, đối với các cá nhân có tiền vốn tạm thời nhàn rỗi, thay vì chỉ có thể gửi tiết kiệm ngân hàng, nhờ sự phát triển của thị trường chứng khoán, họ có thể tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán dưới nhiều hình thức như đầu tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, tham gia đầu tư vào hệ thống các quỹ đầu tư…
Như vậy khi có một số rủi ro xảy ra đối với một số loại dịch vụ tài chính nhất định (như một ngân hàng bị phá sản), các cá nhân này không bao giờ bị mất vốn hoàn toàn mà chỉ bị thiệt hại một phần
Dịch vụ bảo hiểm ra đời và tồn tại có thể nói rằng là để đáp ứng những hậu quả tài chính của một số rủi ro nhất định, đem lại cảm giác yên tâm cho những cá nhân hay tổ chức sử dụng dịch vụ bảo hiểm Điều này không những
Trang 2120
quan trọng đối với những cá nhân khi họ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xe cộ, nhà cửa và tài sản của mình, mà còn có tầm quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại
Mua bảo hiểm cho phép chủ doanh nghiệp ít nhất cũng là chuyển giao một số rủi ro trong kinh doanh sang công ty bảo hiểm Bảo hiểm cũng có vai trò giống như một động lực thúc đẩy hoạt động của các ngành kinh doanh đang tồn tại Điều này được thực hiện thông qua việc cung cấp vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh từ các quỹ mà đáng ra phải được giữ lại làm dự phòng cho những tổn thất trong tương lai Bảo hiểm không chỉ quan tâm đến việc giảm bớt tần số mức độ nghiêm trọng của tổn thất của doanh nghiệp, tránh cho doanh nghiệp không bị rơi vào phá sản mà còn góp phần làm giảm bớt lãng phí kinh tế sau mỗi một tổn thất
Trang 22cho Nhà nước có thể thực hiện tốt vai trò và chức năng quản lý, điều tiết và định hướng đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Thông qua môi trường là thị trường dịch vụ tài chính mà trên đó cung cấp các dịch vụ tài chính… Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và định hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội một cách gián tiếp trên tầm vĩ mô
1.2.CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN, SỬ DỤNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DNNQD
1.2.1.Các yếu tố về phía tổ chức cung cấp dịch vụ
Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính là một phần tất yếu của thị trường dịch vụ tài chính – bên cung hàng hoá dịch vụ Cũng giống như trên thị trường hàng hoá thông thường, trên thị trường dịch vụ tài chính có rất nhiều nhà cung cấp cho dịch vụ bao gồm các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty đầu tư, công ty tư vấn, công ty bảo hiểm, công ty môi giới bảo hiểm…
Đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính, các yếu tố chính tác động đến khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm số lượng nhà
Trang 23Đặc biệt, với sự xuất hiện của các tổ chức cung cấp dịch vụ có tiềm lực tài chính, công nghệ… mạnh; có hệ thống mạng lưới chi nhánh, đại diện rộng khắp thì khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ cũng lớn hơn rất nhiều Nhờ vậy, khách hàng có thể dễ dàng hơn khi tiếp cận với dịch vụ, đồng thời việc
sử dụng dịch vụ cũng sẽ hiệu quả hơn do chi phí sử dụng dịch vụ có điều kiện giảm xuống
Bên cạnh đó, khi số lượng tổ chức cung cấp dịch vụ tăng lên cũng có nghĩa là cạnh tranh giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ tăng lên, kết quả là các điều kiện về tiếp cận và sử dụng dịch vụ của khách hàng sẽ trở nên dễ dàng hơn và hiệu quả hơn Bời vì, để chiến thắng trong cạnh tranh, các tổ chức cung cấp dịch vụ phải tăng cường tiếp cận và thu hút khách hàng như tiếp thụ, giới thiệu sản phẩm trực tiếp đến khách hàng…; nâng cao chất lượng và giảm chi phí sử dụng dịch vụ cho khách hàng ở mức có thể chấp nhận được… Ví
dụ, đối với dịch vụ bảo hiểm, khi các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm nước ngoài được phép thành lập ở Việt Nam, bên cạnh các chương trình quảng cáo, tiếp thị về sản phẩm bảo hiểm, hạ phí bảo hiểm được xem là một
“vũ khí” cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp bảo hiểm
Khác với các loại hình dịch vụ khác, trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính, số lượng các nhà cung cấp ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ và tiếp
Trang 2423
đến là sự an toàn của chính các doanh nghiệp, cao hơn nữa nó có thể ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Do đó, khi có sự đánh đổi giữa hiệu quả và an toàn thì việc cân nhắc số lượng các tổ chức cung cấp dịch vụ là vấn đề rất quan trọng Trong lĩnh vực ngân hàng, khi xuất hiện nhiều các NHTM và TCTD thì người được hưởng lợi là các khách hàng, vì lúc này các NHTM và TCTD phải cạnh tranh với nhau gay gắt hơn Kết quả của quá trình cạnh tranh giành giật khách hàng là lãi suất huy động vốn tăng, lãi suất cho vay giảm, có thể hiểu sâu hơn là lợi nhuận của các NHTM và TCTD giảm xuống trong khi chi phí trang trải các khoản tiền lương nhân viên, tiề thuê mặt bằngkinh doanh, tiền điện, nước, điện thoại… vẫn không hề thay đổi, thậm chí còn tăng lên Khi lợi nhuận thu được ít, thị trường ổn định thì không có gì cần bàn đến, nhưng trong nền kinh tế thị trường sôi động mọi thứ đều thay đổi không ngừng, và chỉ cần một biến động tiêu cực dù rất nhỏ cũng sẽ khiến các NHTM
và TCTD không thể chống đỡ, hậu quả là họ có thể bị phá sản Sự phá sản của một NHTM hoặc một TCTD không chỉ ảnh hưởng tới các khách hàng có quan hệ với họ mà còn ảnh hưởng tới rất nhiều các NHTM và TCTD khác, tức là sự tác động này mang tính hệ thống Điều này lý giải vì sao Chính phủ không cho phép các NHTM và các TCTD được thành lập ồ ạt
Nói tóm lại, khi số lượng tổ chức cung cấp dịch vụ tăng lên, để tiếp tục phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng tăng, các tổ chức cung cấp dịch vụ một mặt chủ động tiếp cận khách hàng, mặt khác tạo mọi điều kiện cho khách hàng sử dụng dịch vụ một cách hiệu quả hơn
Thứ hai, chất lượng và sự đa dạng của dịch vụ
Giống như hàng hoá thông thường khác, chất lượng dịch vụ tài chính
có tác động lớn đến hiệu quả sử dụng dịch vụ tài chính Chẳng hạn đối với dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, chất lượng dịch vụ sẽ góp phần
Trang 25độ thoả mãn của khách hàng và hiệu quả sử dụng dịch vụ của khách hàng
Cũng với yếu tố chất lượng dịch vụ, sự đa dạng của các loại dịch vụ cũng là một yếu tố góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp phát triển ở nhiều mức độ khác nhau, kinh doanh trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau nên nhu cầu/yêu cầu về sản phẩm dịch vụ cũng có sự khác nhau Sự đa dạng không chỉ được thể hiện trong cùng một loại hình dịch vụ, như trong dịch vụ bảo hiểm bao gồm rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểm: bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ và rủi ro mọi tài sản, bảo hiểm nông nghiệp… Sự đa dạng còn thể hiện trong các loại dịch vụ thay thế nhau: TTCK là nơi huy động vốn dài hạn còn NHTM thường cung cấp nguồn vốn ngắn hạn Do đó, khi các doanh nghiệp thiếu vốn ngắn hạn sẽ tìm đến NHTM, còn khi cần vốn dài hạn
họ sẽ tìm đến TTCK Hai loại dịch vụ này bổ sung cho nhau góp phần nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp
Thứ ba, phương thức tiếp thị và cung cấp loại dịch vụ
Cuối cùng, có nhiều con đường để tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính Đứng về phía tổ chức cung cấp dịch có thể bao gồm: các chương trình quảng cáo tiếp thị trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, thông qua tờ rơi, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng ; cung cấp
Trang 26sở sự hỗ trợ giữa các loại sản phẩm
1.2.2 Các yếu tố về phía doanh nghiệp sử dụng dịch vụ
Sự hiểu biết và nhu cầu của doanh nghiệp
Trước hết để doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng có hiệu quả dịch vụ tài chính, doanh nghiệp (cụ thể là những người lãnh đạo doanh nghiệp) cần phải
có sự hiểu biết về dịch vụ tài chính Dịch vụ tài chính là gì, vai trò tác dụng của từng loại dịch vụ tài chính như thế nào đối với hoạt động của doanh nghiệp như thế nào? Đó là những câu hỏi/ những nội dung mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần phải biết để phân tích, xây dựng chiến lược, sách lược
sử dụng dịch vụ tài chính trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp Khi lãnh đạo doanh nghiệp càng có sự hiểu biết sâu sắc về các loại hình dịch vụ tài chính, khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính càng được nâng lên vì họ là những người hiểu doanh nghiệp mình cần gì, quyết định việc sử dụng các loại hình dịch vụ tài chính của doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu, doanh nghiệp mới tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ tài chính Doanh nghiệp cần có sự hiểu biết về các loại hình dịch vụ tài chính Từ đó có những lựa chọn khác nhau khi sử dụng dịch vụ, mức độ và thời điểm sử dụng dịch vụ Mặt khác, một số loại hình dịch vụ tài chính có thể
sử dụng thay thế lẫn nhau như dịch vụ tín dụng và dịch vụ bảo lãnh phát hành
Trang 2726
trái phiếu doanh nghiệp Do vậy, sự hiểu biết sâu sắc về từng loại dịch vụ tài chính sẽ góp phần thúc đẩy nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ tài chính
Khả năng tài chính và hiệu quả sử dụng của doanh nghiệp
Sử dụng các dịch vụ tài chính đương nhiên là phải có chi phí, lớn hay nhỏ là tuỳ thuộc vào loại dịch vụ, quy mô doanh nghiệp, chất lượng cung cấp,
uy tín của nhà cung cấp… Do vậy, để quyết định có hay không việc sử dụng các loại hình dịch vụ tài chính, khả năng tài chính của doanh nghiệp chính là một trong các nhân tố mang tính quyết định
Bên cạnh đó, vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp là hiệu quả
sử dụng dịch vụ tài chính mà cụ thể nhất là lợi nhuận tổng thể của doanh nghiệp khi sử dụng các loại dịch vụ tài chính Khi việc sử dụng các loại dịch
vụ tài chính mang lại hiệu quả rõ rệt, biểu hiện ở việc nâng cao thu nhập của doanh nghiệp, sẽ khuyến khích doanh nghiệp tăng cường tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ tài chính theo yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3.Các yếu tố về môi trường pháp lý
1.2.3.1.Hệ thống luật pháp
Hệ thống khung pháp luật do Nhà nước thiết lập nhằm quy định các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường dịch vụ tài chính nói chung và từng loại thị trường dịch vụ tài chính khác nhau nói riêng Đây là căn cứ cơ bản để các đối tượng tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính tiến hành trao đổi, mua bán các loại dịch vụ tài chính, Chính phủ tổ chức thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động của thị trường, xử lý các tranh chấp xảy ra giữa các bên phát sinh trong quá trình hoạt động
Trang 2827
Yêu cầu cơ bản đối với hệ thống khung pháp luật là phải thống nhất, ổn định, rõ ràng minh bạch, phải kết hợp vận dụng các tiêu chuẩn chung đã được thừa nhận trên phạm vi quốc tế:
Tính thống nhất: Các văn bản quy phạm pháp luật từ mức độ cao nhất
là Luật tới các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, ngành… phải phù hợp nhau, cùng theo một chuẩn mực nhất định; đồng thời phải thống nhất giữa các văn bản pháp luật khác nhau nhưng cùng điều chỉnh một đối tượng nhất định
và phải thống nhất trong cùng một hệ thống pháp luật của quốc gia
Tính ổn định: Hệ thống văn bản pháp luật phải có tính ổn định tương
đối, tức là trong công tác xây dựng pháp luật phải tính toán được sự phát triển của nền kinh tế - xã hội ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo giữ cho hệ thống pháp luật không phải thay đổi trong một thời gian dài, đảm bảo quyền lợi và lòng tin của các chủ thể tham gia thị trường
Tính minh bạch: Hệ thống pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu, tránh hiện
tượng tuỳ tiện, vận dụng sai của cơ quan quản lý Nhà nước, hoặc lợi dụng kẽ
hở của pháp luật để trốn tránh, vi phạm pháp luật của các chủ thể chấp hành pháp luật
Vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế được thừa nhận: Trong điều kiện quá
trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và sự tham gia của mỗi quốc gia vào quá trình này là một tất yếu khách quan, do đó việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chủ động tham gia vào quá trình này là hoàn toàn đúng đắn
1.2.3.2 Quản lý Nhà nước và cơ chế giám sát
Trên cơ sở hệ thống pháp luật đã được ban hành, cần phải tổ chức một
hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước để điều hành và quản lý thị trường dịch vụ tài chính theo hệ thống pháp luật này.Trong hệ thống cơ quan quản lý
Trang 2928
Nhà nước đối với thị trường dịch vụ tài chính, Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý và điều hành mọi hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ của mình, Chính phủ lại phân công quyền hạn và trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan thuộc và trực thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý và điều hành thị trường dịch vụ tài chính - tiền tệ theo từng khía cạnh nhất định trên cơ sở nhiệm vụ được giao Cụ thể, các cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm quản lý và điều hành thị trường dịch vụ tài chính bao gồm: Bộ Tài chính, NHNN (NHTW) và các Bộ, ban ngành khác
Các cơ quan quản lý Nhà nước nêu trên sử dụng hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhau như: Chính sách tài khoá, chính sách quản lý nợ, chính sách thâm hụt và thặng dư ngân sách, chính sách thuế, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái… để định hướng và quản lý sự phát triển của thị trường, đảm bảo thị trường ngày càng phát triển, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ tốt nhất chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, cơ chế và hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, quản lý Nhà nước không mang tính quản lý hành chính can thiệp trực tiếp, quá sâu vào hoạt động kinh doanh trên thị trường, mà phải mang tính chất quản lý vĩ mô, định hướng thông qua hệ thống quản lý và các công cụ thị trường để điều chỉnh thị trường hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, phục vụ các mục đích quản lý vĩ mô chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân,
Thứ hai, hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo gọn nhẹ, giảm tối thiểu các thủ tục hành chính gây cản trở cho hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính Vấn đề chính ở đây là thống nhất và giảm tối thiểu các đầu
Trang 3029
mối quản lý và điều hành thị trường, đồng thời có sự phân công trách nhiệm
rõ ràng giữa các cơ quan đầu mối quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường, đảm bảo thực hiện đầy đủ chức năng quản lý của Nhà nước đối với thị trường nhưng không chồng chéo giữa các cơ quan quản lý Nhà nước
1.3.KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN, SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.3.1 Trung Quốc
Nền kinh tế Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Do
đó, xem xét thực trạng các dịch vụ tài chính của Trung Quốc sẽ rút ra được những bài học có ích đối với Việt Nam
Trong lĩnh vực ngân hàng, Trung Quốc có 4 ngân hàng chuyên doanh
và 11 NHTM Các ngân hàng chuyên doanh được thành lập từ năm 1984 bao gồm:
- Lớn nhất là Ngân hàng Công thương Trung Quốc, chuyên cung cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp Nhà nước để đầu tư vào lĩnh vực bất động sản
- Ngân hàng nông nghiệp Trung Quốc chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính ở nông thôn
- Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc chuyên cung cấp vốn cho các dự
án trung và dài hạn trong lĩnh vực xây dựng
- Ngân hàng Trung Quốc chuyên thực hiện các nghiệp vụ về ngoại tệ Trên thực tế, cho đến năm 1986 đây là ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ liên
Trang 31và 6 ngân hàng cấp khu vực
Không đủ tiêu chuẩn để được thực hiện nghiệp vụ tái cho vay với NHTW, các NHTM không bị ép phải cung cấp các khoản tín dụng chính thức cho các DNNN, do đó các ngân hàng này nắm giữ rất ít nợ của khu vực DNNN Tuy nhiên, các ngân hàng này cũng phải chịu cơ chế lãi suất như của các ngân hàng chuyên doanh Một mặt, các ngân hàng cấp khu vực chịu rào chắn từ hệ thống chi nhánh các ngân hàng cấp quốc gia và chịu sự giám sát quản lý của các chi nhánh của NHTW ở địa phương Mặt khác, các ngân hàng cấp quốc gia phải chịu sự giám sát của NHTW và các chi nhánh của nó Ngân hàng cấp quốc gia đầu tiên của Trung Quốc là ngân hàng Giao thông - một tổ chức tài chính lớn ra đời trước năm 1949, được cấp giấy phép thành lập lại vào năm 1987 với trụ sở chính đặt tại Trung Hải
Trang 3231
Các HTX tín dụng ở thành phố và nông thôn được thành lập như những
tổ chức có thể thay thế các ngân hàng Tính đến năm 1990, số lượng các HTX tín dụng đã lên đến 60.000 Các ngân hàng hợp tác thành phố là những
tổ chức nhỏ linh hoạt, được tổ chức theo hệ thống 2 cấp: cấp dưới gồm các ngân hàng có quy mô nhỏ thực hiện các nghiệp vụ về tiền gửi và cho vay, cấp trên gắn với thị trường vốn và hoạt động như một tổ cứhc giám sát quản lý của hệ thống Các ngân hàng hợp tác nông nghiệp (hay các ngân hàng hợp tác nông thôn) hoạt động dưới sự hướng đạo của ngân hàng phát triển nông nghiệp có rất ít quyền tự chủ trong hoạt động quản lý và ra các quyết định cho vay Khách hàng của các ngân hàng hợp tác nông nghiệp chủ yếu ở thị xã, thị trấn và các doanh nghiệp ở nông thôn
Để giải phóng các NHTM quốc doanh ra khỏi các gánh nặng chính sách, việc cho vay theo chính sách trước kia do 3 ngân hàng chuyên doanh đảm nhận, nay đã được chuyển sang cho 3 ngân hàng chính sách mới được thành lập với mục đích đặc biệt Ngân hàng phát triển Trung Quốc đảm nhận cho vay trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng Ngân hàng phát triển nông thôn cung cấp các khoản mua sắm nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Ngân hàng Xuất nhập khẩu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu của các ngành then chốt
Đối với dịch vụ chứng khoán, TTCK Trung Quốc được hình thành từ đời nhà Thanh nhưng đã bị đóng cửa vào cuối năm 1949, TTCK Trung Quốc mới chỉ được khôi phục lại và bắt đầu có dấu hiệu phát triển mạnh trong hơn một thập kỷ nay, trải qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (1981-1985): Đây là giai đoạn mở đầu của thời kỳ cải
cách và mở cửa nền kinh tế của Trung Quốc Đặc trưng của thời kỳ này là việc phát hành trái phiếu phát triển nhanh do Chính phủ tập trung vốn vào
Trang 3332
việc thực hiện chính sách hiện đại hoá và cần nhiều tiền vốn để hỗ trợ giá mua nông sản Chính phủ cho phát hành trái phiếu kho bạc dưới hình thức phân bổ chi tiêu (bắt buộc mua)
- Giai đoạn 2 (1986-1990): Thực hiện thí điểm việc mua bán chuyển
nhượng chứng khoán dưới hình thức thị trường phi tập trung trước khi thành lập Sở giao dịch chứng khoán và xúc tiến mạnh việc cổ phần hoá DNNN Giai đoạn này cũng mở đầu cho sự ra đời của các công ty chứng khoán Trung Quốc
- Giai đoạn 3 (Cuối năm 1990-1994): Hai sở giao dịch chứng khoán
Thượng Hải và Thâm Quyến của Trung Quốc được lần lượt thành lập vào năm 1990 và năm 1991 Giữa hai Sở giao dịch này không có sự niêm yết chung Một đặc điểm nổi bật là trong giai đoạn này, tất cả các loại chứng khoán đều được phát hành không ghi tên và đều được phi vật chất hoá Giai đoạn quốc tế hoá bắt đầu vào tháng 2/1991 bằng việc phát hành cổ phiếu B tại hai Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến
- Giai đoạn 4 (1994 đến nay): Từ khi 2 sở giao dịch này được thành
lập, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã phát triển với tốc độ nhanh, tuy quy mô còn nhỏ Các Trung tâm giao dịch chứng khoán đã được thành lập ở
18 thành phố Các trung tâm này chỉ thực hiện giao dịch các trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty Những trung tâm này được thành lập vào giữa những năm 80, khi các DNNN được phép bán trái phiếu cho người lao động, cho các công ty khác và ra ngoài xã hội Những trung tâm này được nối với hai Sở Giao dịch chứng khoán bằng mạng lưới giao dịch điện tử
1.3.2 Malaysia
Năm 1987, khi cuộc khủng hoảng tài chính đã đi vào giai đoạn cuối, chỉ có 70% các tài sản của khu vực tài chính là do hệ thống ngân hàng nắm
Trang 3433
giữ, trong đó bao gồm cả NHTW và các tổ chức phi tiền tệ như các công ty tài chính, các ngân hàng bán buôn và các công ty chiết khấu Các NHTM chỉ
chiếm hơn 40% các tài sản của khu vực tài chính (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH MALAYSIA
NĂM 1987 VÀ 1993 Các trung gian tài chính
Các tổ chức tài chính phát triển (b)
Nguồn: Sheng (1995, 118); Bank Negara Malaysia
(a): Gồm cả ngân hàng Islamic
(b): Gồm tất cả các ngân hàng phát triển
(c): Gồm Ngân hàng tiết kiệm quốc gia và các tổ chức nhận tiền gửi Đặc trưng của hệ thống ngân hàng là sự tập trung thị trường ở mức cao Điều này càng trở nên nghiêm trọng hơn vì suốt từ năm 1982, không có một
Trang 3534
ngân hàng mới nào được cấp giấy phép hoạt động Năm 1996, trong số 38 NHTM thì có tới 24 ngân hàng là ngân hàng trong nước và hầu hết trong số
đó đều có sự tham gia của bên nước ngoài
Ngân hàng đạo Hồi (Islamic) được thành lập năm 1993 Theo những điều khoản quy định của Luật đạo Hồi, cả ngân hàng và những người gửi tiền vào ngân hàng này đều không được phép tính lãi Thay vào đó, ngân hàng sẽ chia cho những người gửi tiền một phần lợi nhuận của họ và nhận một phần lợi nhuận của những người vay tiền từ ngân hàng Sự thành công của ngân hàng này tăng quá nhanh khiến Chính phủ năm 1993 phải khuyến khích các tổ chức tài chính khác đưa ra những dịch vụ tương tự như vậy Cho đến cuối năm, có 20 NHTM, trong đó có một ngân hàng nước ngoài đã đi theo hướng này Một năm sau đó, Chính phủ đã thành lập thị trường liên ngân hàng đạo hồi để thực hiện các công cụ và đầu tư tài chính, chuyển séc
Sau cuộc cải cách tài chính năm 1989, các NHTM đã được phép tham gia vào lĩnh vực môi giới chứng khoán Đồng thời họ cũng được phép nắm giữ cổ phiếu của một hãng môi giới chứng khoán cũng như một công ty bảo hiểm, song phải được Bộ Tài chính cho phép khi tham gia vào những lĩnh vực không truyền thống như vậy
Bank Negara đã yêu cầu các NHTM phải cung cấp các khoản vay cho một số lĩnh vực quy định trong nền kinh tế Cùng với những cố gắng về phân phối lại thu nhập trong thập kỷ 70, các NHTM buộc phải: Cung cấp 20% tổng
dư nợ tín dụng cho Bumiputra (người Malay bản xứ); Tối thiểu 150 triệu ringgit phải cung cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và một nửa trong số này phải dành cho các doanh nghiệp Bumiputra Các NHTM được phép tham gia vào các giao dịch ngoại hối, cả hoạt động cho vay bằng đồng ngoại tệ và cho phép
Trang 36Malaysia có 12 ngân hàng bán buôn (trong đó có 9 ngân hàng trong nước) và 7 công ty chiết khấu Theo quy định, các ngaâ hàng bán buôn phải
có tối thiểu 30% thu nhập thu từ các hoạt động có thu phí Kể từ sau cuộc cải cách năm 1989, các ngân hàng bán buôn đã được phép nắm giữ cổ phiếu của các công ty môi giới chứng khoán Sau năm 1991, họ còn được phép nắm giữ
cả các cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia Bên cạnh việc bảo lãnh phát hành các chứng khoán nợ tư nhân, họ cũng có thể tham gia bảo lãnh phát hành các chứng khoán nợ nước ngoài nếu được Bank Negara cho phép
Về dịch vụ chứng khoán, sự ra đời của TTCK Malaysia gắn liền với sự
ra đời của TTCK Singapore Khi Singapore là một phần của Malaysia, hoạt động buôn bán chứng khoán được thực hiện thông qua TTCK Malaysia Khi Singapore độc lập vào năm 1965, đồng thời việc Chính phủ Malaysia quyết định chấm dứt khả năng chuyển đổi ngang giữa đồng ringgit của Malaysia và
(1)
The Financial Times, 8/10/1997
Trang 3736
đồng đôla của Singapore đã chính thức phân tách TTCK này thành TTCK Malaysia và TTCK Singapore Tuy nhiên, ngay cả khi đã phân tách, hai thị trường này vẫn có quan hệ tốt và hoạt động như hệ thống ghi danh tương hỗ cho các công ty
Bất chấp cuộc khủng hoảng TTCK thế giới vào năm 1987, Sở giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur đã dần phát triển thành một trong những thị trường mới nổi lên hàng đầu của thế giới, với tỷ lệ phát triển kinh tế cao, khả năng sinh lãi của các công ty cao và khả năng thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn
từ nước ngoài Vào cuối năm 1982, thị trường này mới có 38 công ty thành viên và 261 công ty (với tổng số vốn góp danh nghĩa là 13,6 tỷ ringgit) niêm yết tại Sở giao dịch Tới cuối năm 1991, tổng số công ty thành viên đã lên tới
54 và tổng số công ty ghi danh tại Sở giao dịch đã là 324 (với tổng số vốn góp danh nghĩa bằng 42,7 tỷ ringgit) Nếu như từ năm 1961 tới năm 1970, tổng số vốn huy động được bằng cách phát hành chứng khoán mới trên Sở giao dịch
là 3,1 tỷ ringgit, tức là trung bình khoảng 0,3 tỷ/năm thì chỉ riêng năm 1991, tổng số vốn huy động được trên thị trường vốn đã lên tới 4,1 tỷ ringgit
Sở giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur được hình thành vào năm
1973 sau khi được tách ra khỏi TTCK Singapore Tháng 10/1989, sau khi Malaysia tuyên bố cấm các hãng hoạt động tại Malaysia niêm yết chéo ở Singapore, khối lượng giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur bắt đầu tăng lên nhanh chóng Khối lượng giao dịch còn tăng ahơn nữa sau khi hệ thống giao dịch bằng máy tính chính thức đi vào hoạt động vào năm 1992, lại cộng thêm với chương trình tư nhân hoá trên quy mô lớn của Chính phủ
Ngược lại với sự phát triển nhanh chóng trên TTCK, quy mô thị trường trái phiếu vẫn còn rất hạn chế Các chứng khoán Chính phủ Malaysia vẫn
Trang 3837
chiếm tỉ trọng lớn nhất trên thị trường trái phiếu mặc dù sau khi đã có thặng
dư trên tài khoản mấy năm gần đây, khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành đã giảm đi nhiều Mục tiêu chủ yếu của các tổ chức khi nắm giữ các trái phiếu này là để đạt được yêu cầu về dự trữ chứ không phải để giao dịch nên hoạt động trên thị trường trái phiếu thứ cấp nói chung là vẫn chưa phát triển
Quy mô thị trường trái phiếu công ty cũng rất nhỏ mặc dù Chính phủ
đã rất chủ động trong việc khuyến khích phát triển thị trường này bằng cách thành lập Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm Malaysia (Rating Agency of Malaysia – RAM) vào năm 1990 Việc phát hành các giấy nợ công ty phải được sự chấp thuận của 4 cơ quan Chính phủ và quá trình này thường phải mất từ 6 đến 9 tháng Trên thị trường tiền tệ, các hối phiếu kho bạc ngắn hạn chiếm vị trí chủ đạo Cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ, sau khi đã có mức thặng dư ngân sách, việc phát hành các hối phiếu này giảm đi rất nhiều nên sau đó, NHTW đã sử dụng hối phiếu của Bank Negara như một phương tiện để điều tiết tiền tệ
Quỹ trợ cấp việc làm mà theo quy định cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải đóng góp, năm 1993 đã chiếm 13% tổng số tài sản của khu vực tài chính Malaysia Theo quy định thì 70% tài sản của quỹ này phải đầu tư vào trái phiếu chính phủ nhưng đến năm 1992 con số thực đã lên tới 90%
Trên thị trường ngoại hối, sự phát triển của các giao dịch swap tiền tệ
từ năm 1989 vẫn còn bị hạn chế bởi các mức giới hạn hàng ngày đối với các giao dịch swap phi thương mại Thị trường này đã có thị trường giao dịch kỳ hạn (Sở giao dịch tiền tệ Malaysia – MME) để phòng ngừa rủi ro
Trang 3938
1.3.3.Thái Lan
Trong những năm qua, bảo hiểm đang ngày càng khẳng định vai trò to lớn trong nền kinh tế thế giới Năm 1998, tổng số chi phí bảo hiểm thu được trên toàn thế giới theo ước tính đạt 2.155 tỷ USD(2), trong đó các nước công nghiệp phát triển chiếm 90,7%
Tính trung bình trên toàn thế giới, mỗi người dân chi tiêu 271 USD trong năm 1998 cho bảo hiểm Mức chi tiêu của người dân ở các nước phát triển cho bảo hiểm ước tính đạt 1.805 USD/người, tức là gấp trên 6 lần mức trung bình của thế giới và tương đương 8,5% GDP Trong khi đó, ở những thị trường mới nổi, chi tiêu của người dân cho bảo hiểm thấp hơn nhiều và mới chỉ đạt ở mức 37 USD/người Sự chênh lệch về tỷ lệ chi tiêu phí bảo hiểm giữa hai nhóm nước giàu và nghèo cho thấy những tiềm năng to lớn cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm ở những nước đang phát triển
Trong nỗ lực phát triển thị trường dịch vụ bảo hiểm, Chính phủ Thái Lan đã công bố kế hoạch tự do hoá ngành bảo hiểm được chia làm ba giai đoạn nằm trong kế hoạch tự do hoá trong khu vực dịch vụ tài chính như sau:
- Giai đoạn 1: tăng số lượng các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân
thọ trong nước
- Giai đoạn 2: Cho nước ngoài nắm giữ từ 25-49% cổ phần trong một công
ty bảo hiểm trong nước, theo các điều kiện và tiêu chuẩn do Bộ Thương mại(3)
Trang 4039
Đến nay, về cơ bản hai giai đoạn đầu đã hoàn thành, giai đoạn 3 đã được triển khai bước đầu Sau một thời gian thực hiện, dịch vụ bảo hiểm Thái Lan đã đạt được kết quả sau:
- Tính đến năm 1999, trong số 79 công ty bảo hiểm phi nhân thọ có 68 công ty bảo hiểm trong nước, 5 chi nhánh công ty bảo hiểm nước ngoài và 6 công ty bảo hiểm y tế
- Doanh thu phí bảo hiểm tăng 208% từ 1,9 tỷ USD lên 4,1 tỷ USD trong khi GDP chỉ tăng 49% trong giai đoạn 1991 – 1995
- Bồi thường bảo hiểm phí nhân thọ cũng tăng 307% từ 400 triệu USD lên 1.232 triệu USD trong cùng thời kỳ
- Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành bảo hiểm trong thập kỷ 90 là 14%/năm
- Về phần mình, các công ty bảo hiểm nước ngoài đã chuyển giao kiến thức, công nghệ, kinh nghiệm và sản phẩm mới đặc biệt là vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho thị trường bảo hiểm nội địa
1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm
1.3.4.1.Thúc đẩy phát triển số lượng tổ chức cung cấp dịch vụ, đặc biệt là vấn đề mở rộng mạng lưới chi nhánh, văn phòng đại diện
Đây là yếu tố cơ bản thúc đẩy nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ tài chính Đặc biệt đối với các nước chuyển đổi như Việt Nam và Trung Quốc, phá vỡ thế độc quyền bằng cách cho phép các thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh dịch vụ tài chính là giải pháp quan trọng trong việc tăng cường khả năng cung ứng dịch vụ tài chính cho khách hàng nói chung, doanh nghiệp