Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng kể từ năm 1986, nước ta đã chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
- -
PHẠM THỊ XUÂN
KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Trang 2MỤC LỤC Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô trong
nền kinh tế thị trường 4
1.1 Kinh tế thị trường 4
1.1.1 Đặc tính chung 4
1.1.2 Tính đặc thù của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam 7
1.2 Kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô 11
1.2.1 Định nghĩa 11
1.2.2 Những nội dung cơ bản của kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô 13
1.2.3 Mối quan hệ giữa kế hoạch hoá với hoạch định chính sách và chỉ đạo thực hiện 16
1.3 Kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đang phát triển 19
1.3.1 Sự cần thiết của kế hoạch hóa 19
1.3.2 Những yếu tố hạn chế hiệu quả của KHH 22
1.4 Kinh nghiệm của một số nước 24
Chương 2: Thực trạng kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô ở Việt Nam 44
2.1 Những thay đổi trong nhận thức về KHHKTVM trong tiến trình chuyển sang KTTT ở Việt Nam 44
2.2 Quá trình đổi mới công tác KHHKTVM ở Việt Nam 52
2.2.1 Thời kỳ 1979 - 1985 53
2.2.2 Giai đoạn 1986 - 1989 56
2.2.3 Những nỗ lực đổi mới từ 1989 đến nay 58
2.3 Đánh giá chung 77
2.3.1 Những kết quả đạt được 77
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 82
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện KHHKTVM của
Việt Nam 86
3.1 Những thuận lợi và khó khăn hiện nay 86
Trang 33.1.1 Bối cảnh quốc tế 86
3.1.2 Tình hình trong nước 88
3.2 Phương hướng đổi mới KHHKTVM 90
3.3 Một số giải pháp đổi mới KHHKTVM 98
3.3.1 Đổi mới công tác xây dựng chiến lược KT-XH 98
3.3.2 Nâng cao chất lượng kế hoạch trung hạn 5 năm 103
3.3.3 Hoàn thiện KHH hàng năm 108
3.3.4 Đổi mới KHH với hoàn thiện chính sách KTVM .111
3.3.5 Xây dựng cơ sở và điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng KHH.113 Kết luận 119
Danh mục tài liệu tham khảo 121
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng nền kinh tế, quy tụ hành động của các doanh nghiệp và người tiêu dùng cá thể thành"véc tơ” vận động của nền kinh tế đảm bảo sự phát triển bền vững
Hiện nay, vấn đề kế hoạch và thị trường là mỗi quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu, không những ở nước ta mà ở hầu hết các nước trên thế giới vì muốn tìm tòi một mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và có hiệu quả hơn
Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp kế hoạch hoá kinh
tế vĩ mô ở nước ta được tiến hành theo nguyên tắc tập trung hoá cao độ từ cấp Trung ương đến cấp địa phương, cơ sở chủ yếu dựa vào quan hệ cấp phát, giao nộp sản phẩm theo mệnh lệnh hành chính, các biện pháp khác ít được coi trọng Nhà nước can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực kinh tế, đóng vai trò người chỉ huy các hoạt động kinh tế
Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng
kể từ năm 1986, nước ta đã chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng có đề cập:" Nhà nước ta quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị trường với
kế hoạch, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân” Đây
là một vấn đề mới mẻ và còn có rất nhiều ý kiến khác nhau
Từ khi chuyển sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Vai trò của kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô đã được đánh giá lại Vấn đề của thực tiễn đặt ra là chúng ta phải tiến hành đổi mới kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô như thế nào để từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị
Trang 6trường định hướng XHCN ở nước ta phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường và cả sự quản lý của nhà nước Vì lẽ đó mà tôi chọn đề tài luận văn là:" Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”
2.Tình hình nghiên cứu
Từ khi đổi mới đến nay, những vấn đề liên quan đến cơ chế thị trường của nền kinh tế được nghiên cứu nhiều hơn những vấn đề liên quan đến cơ chế kế hoạch Và càng ít các công trình nghiên cứu về kế hoạch hoá kinh tế vĩ
mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam Tuy nhiên, cũng đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được đăng tải trên một số tạp chí nghiên cứu chuyên ngành Sau đây là một số tác phẩm và bài viết chính:
Lê Hồng Tiến: Kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Cộng sản số 02/97
Trần Ngọc Trang: Tiếp tục hoàn thiện kế hoạch hoá trong điều kiện tác động của cơ chế thị trường, tạp chí Kinh tế và dự báo số 9+10/1995
Hồng Sơn: Kế hoạch hoá phát huy tác dụng trong nền KTTT như thế nào?, Thông tin kinh tế – kế hoạch số 3/1992
Tuy vậy, tất cả mới chỉ là những bài báo nghiên cứu nhỏ lẻ, chưa có một bài viết nghiên cứu hệ thống, đầy đủ về công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ
mô trong nền kinh tế thị trường Việt Nam từ những năm đổi mới đến nay
3.Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ sự cần thiết và tình hình nghiên cứu như trên, mục tiêu của luận văn chú trọng vào những điểm chính sau:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế kế hoạch hoá kinh
tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Đánh giá thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ khi tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế đến nay
Trang 7Nghiên cứu và đề xuất một số quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong thời gian tới ở nước ta
Trang 84.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng chủ yếu mà luận văn đề cập là công tác kế hoạch hoá kinh tế
vĩ mô trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ vấn đề kế hoạch mà chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở chỗ làm rõ vai trò, vị trí của kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
Về phạm vi thời gian, luận văn chủ yếu tập trung vào thời kỳ Đổi mới
từ 1986 đến nay Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập đến giai đoạn trước đổi mới bởi nó là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn công tác kế hoạch hoá vĩ mô ở Việt Nam
5.Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, diễn dịch, tổng hợp, thống kê, so sánh
6.Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:
Hệ thống một số luận thuyết và kinh nghiệm quốc tế về kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Đưa ra những đánh giá có căn cứ khoa học về thực trạng công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Đề xuất một số quan điểm, phương hướng, giải pháp và một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện công tác kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian tới
7.Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được sắp xếp thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp hoàn thiện kế hoạch hoá kinh
tế vĩ mô của Việt Nam
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KẾ HOẠCH HÓA
KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1 Đặc tính chung
Kinh tế hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế tồn tại và phát triển trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội KTHH là loại hình tiến bộ, là nấc thang cao hơn kinh tế tự nhiên - tự cấp, tự túc - trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Kinh tế thị trường ( KTTT ) là trình độ phát triển cao của KTHH, trong đó toàn bộ các yếu tố "đầu vào” và"đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường
Trong xã hội, cứ có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì tất yếu có thị trường Quy mô của lưu thông hàng hóa và sức mua của xã hội quyết định dung lượng thị trường Đến lượt mình, sử dụng, mở rộng và lành mạnh hóa thị trường lại có tác dụng thúc đẩy lưu thông hàng hóa phát triển nhanh chóng
về số lượng và chất lượng
Thị trường là tập hợp các sự thỏa thuận thông qua đó, người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ Do vậy, thị trường gắn với lĩnh vực lưu thông hàng hóa, thị trường hình thành ở đâu thì ở
đó có cung- cầu hàng hóa, nói đến thị trường là nói đến hàng hóa, giá cả, tiền
tệ, người bán, người mua… Thị trường là tổng hòa những mối quan hệ mua - bán trong xã hội, được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử kinh tế – xã hội nhất định Cơ sở của thị trường là sự phân công lao động xã hội và sự độc lập tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất Trình
độ và quy mô thị trường gắn liền với trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất và sức mua của xã hội
Trang 10Thị trường có các đặc trưng chủ yếu: Thứ nhất, trên thị trường: giá cả
là phạm trù kinh tế trung tâm, là công cụ quan trọng thông qua cung – cầu để kích thích và điều tiết hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế tham gia thị trường Sự biến động của cung – cầu kéo theo sự biến động của giá cả thị trường và ngược lại, giá cả thị trường cũng điều tiết cung – cầu
Thứ hai, có sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh tế tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện sản xuất, kinh doanh thuận lợi Trong cuộc cạnh tranh đó có người được và người thua, nên sự phá sản của một bộ phận Doanh nghiệp là không tránh khỏi Cần phân biệt cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh lành mạnh là sự cạnh tranh được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và bằng việc áp dụng những biện pháp kinh tế, kỹ thuật, nhằm nâng cao năng suất lao động,
số lượng – chất lượng, hàng hóa, dịch vụ, bằng việc tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông để nâng cao mức lãi Cạnh tranh lành mạnh là động lực của
sự phát triển KTTT Cạnh tranh không lành mạnh là sự cạnh tranh được tiến hành bằng những hình thức và thủ đoạn phi kinh tế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, kinh doanh phi pháp để có lãi Sự cạnh tranh này gây thiệt hại cho người tiêu dùng và những đối tác có liên quan, do vậy, cần được Nhà nước thông qua luật pháp để nghiêm trị
Thứ ba, tính hiệu quả của KTTT đòi hỏi phải có một thị trường hoàn chỉnh Thị trường phát triển hoàn chỉnh là thị trường xã hội thống nhất, không chia cắt, là một thị trường đồng bộ giữa các loại thị trường ( TLSX, TLTD, vốn, kỹ thuật, tiền tệ, SLĐ…) và có hệ thống luật pháp thống nhất chi phối
Thứ tư, có 3 hình thái thị trường:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người bán, nhiều người mua, sản phẩm đồng nhất, các yếu tố sản xuất có tính linh hoạt cao, việc gia nhập hoặc rời bỏ thị trường dễ dàng và Doanh nghiệp là người chấp nhận giá
Trang 11 Thị trường độc quyền là thị trường do một người bán hoặc một người mua, sản phẩm là độc nhất, việc gia nhập, rời bỏ thị trường là khó khăn, giá cả do tổ chức độc quyền quyết định
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo hay còn gọi là thị trường vừa
có tính cạnh tranh vừa có tính độc quyền Đây là thị trường độc quyền 2 người hay độc quyền nhóm, cạnh tranh có tính độc quyền Nền KTTT vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Cơ chế thị trường ( CCTT) là cơ chế kinh tế nảy sinh một cách tất yếu
từ sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa Cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ các nhân tố giá cả, cạnh tranh, cung cầu… trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau và phát huy tác dụng điều tiết thị trường Nó là cơ chế bên trong của KTTT, có tính tất yếu khách quan trong mối liên hệ giữa các chủ thể thị trường với các nhân tố thị trường ( giá cả, cạnh tranh, cung – cầu) và hình thành cơ chế điều tiết thị trường Do đó, cơ chế thị trường còn gọi là cơ chế điều tiết thị trường đối với mọi hoạt động kinh tế, là guồng máy vận hành của nền kinh tế, là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn lực ( vốn, tài nguyên, SLĐ, TLSX) Căn cứ vào thị trường các Doanh nghiệp sẽ quyết định: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, KTTT đòi hỏi phát triển SXHH, mọi sản phẩm là hàng hóa, mở rộng thị trường về mọi phương tiện, tự do sản xuất, kinh doanh tự do thương mại, đa dạng hóa hình thức sở hữu hình thức phân phối Trong đó nó có các đặc trưng: đặc trưng cơ bản nhất là cơ chế hình thành giá cả một cách tự do, người bán và người mua thông qua đó để xác định giá cả, đặc trưng cơ bản thứ hai là lựa chọn tối ưu hóa các hoạt động kinh tế để đạt được lợi nhuận tối đa Sự quản lý can thiệp vĩ mô của Nhà nước phải thích hợp với yêu cầu của các qui luật đó Nhà nước phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp kinh tế, luật pháp, quy hoạch kế hoạch định hướng, chính sách kinh tế – xã hội và khả năng, sức mạnh kinh tế của Nhà nước để tác động tới thị trường điều tiết hoạt động của các Doanh nghiệp cho phù hợp
Trang 12CCTT có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Về mặt tích cực: nó là cơ chế
tự điều tiết nền kinh tế nên rất linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển, nó có tác dụng kích thích mạnh và nhanh sự quan tâm thường xuyên đến đổi mới kỹ thuật, công nghệ quản lý, đến nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, nó có tác dụng lớn trong việc bình tuyển các Doanh nghiệp và cá nhân quản lý kinh doanh giỏi Trên cơ sở đó, CCTT kích thích sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển… Bên cạnh đó nó cũng có mặt tiêu cực: Trên thị trường chứa đựng tính tự phát, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn mất cân đối Vì mục tiêu chạy theo lợi nhuận, các nhà sản xuất kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu như: môi trường bị tàn phá, thất nghiệp, phá sản, cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa, phân tầng xã hội cao, lợi ích công cộng bị coi nhẹ, các vấn đề công bằng, tệ nạn xã hội gia tăng, xuất hiện nhiều người làm ăn bất hợp pháp… Do
đó, để hạn chế những khuyết tật đó đòi hỏi Nhà nước phải quản lý nền KTTT Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, qui hoạch, kế hoạch định hướng, bằng các công cụ, chính sách, biện pháp kinh tế… CCTT chịu sự tác động rất mạnh của các qui luật kinh tế hàng hóa, do đó sự can thiệp vĩ mô của Nhà nước phải phù hợp với yêu cầu của các quy luật KTHH
1.1.2 Tính đặc thù của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
Phát triển KTTT có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta Bởi
vì, nước ta muốn chuyển từ nền kinh tế còn kém phát triển lên sản xuất lớn XHCN thì không còn con đường nào khác là phải phát triển KTTT, KTTT khắc phục được hạn chế của kinh tế tự nhiên – tự cấp, tự túc, đẩy mạnh phân công lao động xã hội, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động, khuyến khích ứng dụng công nghệ – kỹ thuật mới nhằm tăng NSLĐ, tăng số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy tích tụ tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, thúc đẩy việc phát huy tính năng động sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn
vị kinh tế, đồng thời tạo ra cơ chế phân bổ và sử dụng các nguồn lực của xã hội hợp lý, tiết kiệm… Vì vậy, phát triển KTTT được coi là chiếc đòn xe để
Trang 13xây dựng CNXH, là phương tiện khách quan để xã hội hóa XHCN nền sản xuất Không thể có nền KTTT ở nước này lại là bản sao của KTTT ở nước khác Trong các tiêu thức để phân biệt nền KTTT này với nền KTTT khác, phải kể đến định hướng chính trị, kinh tế – xã hội chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế Ở Việt Nam những định hướng XHCN của nền kinh tế là:
1 Phát triển nền KTTT với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, với sự đa dạng các hình thức sở hữu và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo
2 Phát triển nền KTTT vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN đảm bảo thống nhất giữa sự phát triển, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
3 Xây dựng một nền KTTT hòa nhập vào nền KTTT khu vực và thế giới với nhiều hình thức quan hệ và liên kết phong phú, đa phương, đa dạng
Với định hướng trên, mục tiêu phát triển nền KTTT định hướng XHCN được xác định là: tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, tăng thêm các nguồn lực mới bằng cách nâng cao tỷ lệ tiết kiệm, tăng tích lũy và đầu tư hiện đại hóa, đổi mới cơ cấu kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao… để đưa nước ta thoát khỏi một nước nghèo và kém phát triển
Theo mục tiêu đó, có thể xác định những đặc trưng bản chất của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta: Một là, KTTT định hướng XHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong quá trình đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế còn kém phát triển Kiểu tổ chức nền kinh tế này nhằm nhanh chóng đưa nước ta đạt đến mục tiêu" dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” Hai là, nền KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác phải trở thành nền tảng và kinh doanh Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các TPKT đều vận động theo định hướng chung và theo khung khổ pháp luật của Nhà nước
Trang 14XHCN Ba là, nền KTTT định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của KTTT, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của CNXH Bốn là, nền KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế"mở” cả với bên trong và với bên ngoài Tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội, hoạt động của CCTT không chỉ chịu sự tác động của các qui luật KTHH nói chung, mà còn chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế đặc thù của các PTSX chủ đạo Do vậy, mô hình CCTT có sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế TBCN và trong nền kinh tế định hướng XHCN có những điểm khác nhau cơ bản:
* Về chế độ sở hữu: CCTT trong nền kinh tế TBCN luôn hoạt động trên nền tảng của chế độ tư hữu về TLSX, trong đó các công ty tư bản độc quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Cơ chế thị trường trong nền KTTT theo định hướng XHCN lại hoạt động trong môi trường có sự đa dạng các quan hệ sở hữu, trong đó chế độ công hữu giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, với vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước Tính định hướng XHCN đòi hỏi trong quá trình phát triển KTHH nhiều thành phần phải củng cố sự phát triển kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết, hướng dẫn sự phát triển của nền KTHH nhỏ và TBCN Kinh tế Nhà nước phải được củng cố
và phát triển ở các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết… mà các thành phần kinh
tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư vì không sinh lời hoặc ít lãi
* Về tính giai cấp của Nhà nước và mục đích quản lý của Nhà nước trong cơ chế thị trường TBCN, sự can thiệp của Nhà nước luôn mang tính chất tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm tạo môi trường kinh tế – xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột TBCN Trong cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN thì sự can thiệp của Nhà nước XHCN vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn thể
Trang 15nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
* Về cơ chế vận hành: cơ chế vận hành nền KTTT định hướng XHCN
là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN Cơ chế đó đảm bảo tính hướng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương châm: Nhà nước điều tiết vĩ
mô, thị trường hướng dẫn Doanh nghiệp Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: Một là, Nhà nước XHCN là nhân tố đóng vai trò"nhân vật trung gian”
và điều tiết nền kinh tế vĩ mô Hai là, CCTT là nhân tố trung tâm của nền kinh
tế, đóng vai trò"trung gian” giữa Nhà nước và Doanh nghiệp
* Về mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội: Trong sự phát triển KTTT TBCN, vấn đề công bằng xã hội chỉ được đặt
ra khi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gay gắt, nảy sinh các vấn đề xã hội, tạo ra nguy cơ bùng nổ xã hội, đe dọa sự tồn tại của CNTB Song, vấn đề này không bao giờ và không thể nào giải quyết được triệt để trong chế độ tư bản Mục đích giải quyết của các Chính phủ tư sản chỉ giới hạn trong khuôn khổ TBCN, chỉ là phương tiện dể duy trì chế độ TBCN Ngược lại, trong nền KTTT định hướng XHCN, Nhà nước chủ động ngay từ đầu việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Vấn đề công bằng
xã hội không chỉ là phương tiện để phát triển KTTT mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới Sự thành công của KTTT theo định hướng XHCN không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng cao mà còn ở chỗ mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân cư đều được nâng lên, y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp, đạo đức, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững, môi trường sinh thái được bảo vệ
* Về phân phối thu nhập, sự thành công của nền KTTT định hướng XHCN không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn vì mục đích cuối cùng là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo tốt các vấn đề xã hội Đặc trưng xã hội trong nền KTTT định
Trang 16hướng XHCN thể hiện ở việc xác định các chỉ tiêu hiệu quả cần đạt được như: tốc độ tăng GDP/người, các chỉ tiêu phát triển giáo dục, y tế, việc làm, xóa đói giảm nghèo, về Văn hóa – Xã hội, đảm bảo môi trường sinh thái…Và nâng cao chức năng xã hội của Nhà nước XHCN trong chế độ bảo hiểm xã hội, trong chính sách phân phối thu nhập, đồng thời có cuộc sống đảm bảo xã hội đối với những đối tượng đặc biệt ( gia đình có công với cách mạng, thương binh, người tàn tật….)
Để đạt được các yêu cầu đó đặt ra cho KTTT định hướng XHCN phải kết hợp hài hòa 3 vấn đề: Một là, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội Mục đích của sự kết hợp này là vừa đảm bảo cho các chủ thể của KTTT có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị – xã hội bình thường cho
sự phát triển kinh tế Hai là, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của CNXH và nguyên tắc của KTTT như: Phân phối theo lao động, theo vốn, tài năng, quỹ phúc lợi xã hội… Trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động là chính Thứ ba, điều tiết phân phối thu nhập, một mặt đòi hỏi Nhà nước phải
có chính sách cho giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa tầng lớp người giàu
* KTTT còn ở trình độ kém phát triển Biểu hiện ở số lượng mặt hàng
và chủng loại hàng hóa nghèo nàn, khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường và kim ngạch XNK còn nhỏ, chi phí sản xuất và giá thành hàng hóa cao, sức cạnh tranh của các Doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng
Trang 17như ngoài nước còn rất yếu, nhiều loại thị trường còn sơ khai, hoặc đang trong quá trình hình thành, thu nhập của người lao động còn thấp, sức mua hạn chế… Trình độ phát triển thấp của sản xuất hàng hóa bắt nguồn từ trình
độ phát triển thấp của LLSX, từ tính chất sản xuất nhỏ của nền kinh tế, trình
độ phân công lao động xã hội kém phát triển, từ sự kém phát triển của kết cấu
hạ tầng, lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn sự kìm hãm của nền kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp trong một thời gian quá dài…
1.2 KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ
cơ chế mà Nhà nước sử dụng để kiểm soát toàn bộ nền kinh tế”
- Diana Coneyrs & Peter Hills thì cho rằng:" KHH là quá trình quyết định, lựa chọn liên tục các phương án khác nhau về sử dụng nguồn lực có hạn
để đạt được các mục tiêu đề ra cho một thời kỳ nhất định trong tương lai” [29/123]
- Theo Cao Viết Sinh: KHH là sự thiết lập mối quan hệ giữa khả năng
và mục đích nhằm đạt được mục tiêu bằng việc sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng hiện có KHH phát triển có đặc thù thể hiện sự cố gắng lựa chọn và sắp xếp huy động những nguồn khả năng, đưa ra định hướng sử dụng thông qua
cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước.[ 20/122]
- Du Lô Giang quan niệm: Công cụ quản lý kinh tế, xã hội của Nhà nước ở tầm vĩ mô được thực hiện bằng 2 đặc trưng cơ bản là định hướng có
Trang 18lượng hóa ở mức độ cho phép và giữ được trạng thái cân đối giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế trong từng thời kỳ [16/122]
Như vậy, nên định nghĩa KHH kinh tế vĩ mô là một loại hình hoạt động của Chính phủ nhằm lựa chọn phương án sử dụng hợp lý các nguồn lực và quyết định các giải pháp tác động đến những biến số kinh tế vĩ mô chủ yếu theo hướng các mục tiêu đã được xác định
KHH kinh tế vĩ mô là một thể thống nhất bao gồm nhiều khâu từ việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, công tác quy hoạch phát triển,
kế hoạch hóa định hướng 5 năm, KHH hàng năm đến công tác điều hành thực hiện, theo dõi và điều chỉnh kế hoạch
- KHH phải xuất phát từ những quan điểm và mục đích chính trị của Chính phủ, KHH xác định những mục tiêu chính sách liên quan đến sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế
- KHH phát triển không chỉ bao gồm những mục tiêu mà còn thể hiện những mục tiêu đó thành những chỉ tiêu cụ thể
- KHH là quá trình xây dựng những quy tắc và chính sách nhất quán về mặt nội dung để thực hiện những mục tiêu đề ra cũng như hướng dẫn việc thực hiện những chỉ tiêu kế hoạch và những quyết định chính sách thường nhật
- KHH là quá trình toàn diện tầm kinh tế quốc dân, đồng thời có thể kế hoạch hóa cho từng lĩnh vực
- Để đảm bảo tính tối ưu và tính nhất quán KHH kinh tế quốc dân thường sử dụng một số mô hình kinh tế lượng ít nhiều đã được công nhận chính thức để dự báo những hướng phát triển của nền kinh tế trong tương lai
- Kế hoạch phát triển kinh tế thường là kế hoạch trung hạn 5 năm, có thể kết hợp với một kế hoạch triển vọng dài hạn và được cụ thể hóa bằng những kế hoạch hàng năm
1.2.2 Những nội dung cơ bản của kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô
Nhiều nhà kinh tế đã thống nhất KHH bao hàm 3 nội dung cơ bản sau:
Trang 191 Vấn đề chọn lựa mục tiêu và phương thức hoạt động
Kế hoạch hóa là việc ra quyết định về lựa chọn một trong số nhiều phương thức hành động Có hai loại lựa chọn chính liên quan đến kế hoạch
hóa Thứ nhất, là lựa chọn các mục tiêu ưu tiên; bởi vì nguồn lực có hạn nên không thể đáp ứng được cùng một lúc tất cả các nhu cầu phát triển Thứ hai,
kế hoạch hóa cũng liên quan đến sự lựa chọn trong số các phương thức hành động khác nhau, giữa các cách thức khác nhau để đạt được cùng một mục tiêu Kế hoạch hóa kinh tế cũng giống như kế hoạch hóa cho một cuộc hành trình Trong đa số trường hợp, sẽ có nhiều cách khác nhau mà người du hành
có thể chọn để đến đích, và việc lập kế hoạch cho hành trình liên quan đến việc quyết định lựa chọn một cách thức cụ thể được coi là hợp lý nhất trong
số đó
Mặc dù hai loại lựa chọn này khác nhau, nhưng chúng đều liên quan đến quá trình ra quyết định giống nhau Mối quan hệ giữa kế hoạch hóa và việc ra quyết định quan trọng đến mức nhiều công trình lý thuyết về kế hoạch hóa quan tâm đến các cách tiếp cận khác nhau đối với việc ra quyết định, cụ thể là đến các nhân tố được xem xét khi ra quyết định và trình tự quy trình ra quyết định Hơn nữa, các nhà kế hoạch đã sử dụng nhiều kỹ thuật hiện đại để cải thiện cách thức ra quyết định và nâng cao chất lượng của các quyết định
Sẽ là thiếu sót khi nói rằng kế hoạch hóa chỉ liên quan đến ra quyết định về sử dụng nguồn lực, bởi lẽ cách sử dụng tốt nhất bất kỳ một tập hợp cụ thể các nguồn lực nào phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu cần đạt tới Nói cách khác, kế hoạch hóa liên quan đến việc ra quyết định về các cách thức khác nhau để đạt được những mục tiêu cụ thể Trong ví dụ về lập kế hoạch cho một hành trình, mục tiêu của việc lập kế hoạch là quan niệm về kế hoạch hóa như cách để đạt được mục tiêu đặt ra những vấn đề về bản chất của các mục tiêu
và quy trình xây dựng mục tiêu Một trong những vấn đề mà nhà kế hoạch thường gặp phải là những mục tiêu của họ không được xác định rõ ràng, mà thường rất mập mờ Ví dụ, mục tiêu"tăng sản lượng nông nghiệp” có thể
Trang 20chẳng đưa ra được định hướng rõ rệt cho các nhà kế hoạch nông nghiệp Trong một số trường hợp khác, mục tiêu lại không thực tế trong điều kiện cung ứng nguồn lực có hạn Trong nhiều trường hợp, các nhà kế hoạch cũng gặp phải những vấn đề như phải cố đạt được quá nhiều mục tiêu và đôi khi các mục tiêu đó lại mâu thuẫn với nhau Chẳng hạn, sẽ là rất khó cho các nhà
kế hoạch khi phải cùng một lúc thực hiện hai mục tiêu vừa tối đa hóa sản lượng trên một hecta vừa giảm sự bất bình đẳng giữa các hộ nông dân, bởi vì hai mục tiêu này thường mâu thuẫn với nhau Có trường hợp tuy ít xảy ra nhưng nếu có thì rất nghiêm trọng, đó là trường hợp những mục tiêu hoàn toàn không có ý nghĩa hoặc hoàn toàn đi ngược lại với lợi ích của đại bộ phận dân chúng
2 Phân bổ nguồn lực
Một yếu tố quan trọng khác của kế hoạch hóa liên quan đến phân bổ nguồn lực Nguồn lực ở đây không chỉ bao gồm các nguồn lực tự nhiên ( đất, nước, khoáng sản ) mà còn bao gồm cả nhân lực ( Hay nguồn lực con người nói chung), tài sản ( như đường, nhà và thiết b ị) và tài chính Việc phân biệt những gì không được coi là nguồn lực tùy thuộc vào mục tiêu cần đạt đến của người sử dụng cũng như nhận thức về giá trị sử dụng và khả năng sử dụng cụ thể trong từng trường hợp
Kế hoạch hóa liên quan đến các quyết định làm thế nào để sử dụng tốt nhất các nguồn lực hiện có Vì thế, số lượng và chất lượng của những nguồn lực này có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình lựa chọn giữa các phương
thức hành động khác nhau Một mặt, sự giới hạn về số lượng và chất lượng
các nguồn lực là lý do chính giải thích tại sao kế hoạch hóa lại liên quan đến việc ra quyết định lựa chọn trong số các phương thức hành động khác nhau
Mặt khác, khi phải lựa chọn giữa các phương thức hành động khác nhau, thì
khả năng cung ứng các nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
số lượng phương thức có thể lựa chọn và phương thức nào có khả năng được chấp nhận hơn cả
Trang 21Do kế hoạch hóa liên quan đến việc phân bổ các nguồn lực, nên một bộ phận quan trọng của quá trình lập kế hoạch là thu nhập và phân tích thông tin
về khả năng cung ứng các nguồn lực hiện có Điều này đặt ra những câu hỏi
cả về khái niệm và về phương pháp liên quan đến hệ thống thông tin kế hoạch cần được giải đáp
3 Vấn đề dự báo
Có một yếu tố quan trọng khác của kế hoạch hóa được thể hiện trong hầu hết các định nghĩa, đó là yếu tố thời gian Các mục tiêu mà kế hoạch hóa muốn đạt tới rõ ràng là ở tương lai, và kế hoạch hóa tất nhiên sẽ gắn với tương lai Sự quan tâm đến tương lai tự nó được thể hiện theo hai cách chính Các thể hiện thứ nhất là một phần quan trọng của kế hoạch hóa liên quan đến
dự báo, hoặc đưa ra các dự báo về điều gì có thể xảy ra trong tương lai, và cụ thể hơn là dự báo về kết quả của các phương thức hoạt động khác nhau để xác định cần lựa chọn phương thức nào Tất nhiên, không thể biết chính xác được điều gì sẽ xảy ra trong tương lai và vì thế kế hoạch hóa không tránh khỏi việc chấp nhận ở mức độ nhất định sự bất ổn và rủi ro Tuy nhiên, có nhiều kỹ thuật khác nhau mà người lập kế hoạch có thể sử dụng để nâng cao tính chính xác của các dự báo của họ và xử lý những vấn đề về rủi ro và bất ổn Khoảng thời gian tương lai của kế hoạch hóa là bao lâu? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung cụ thể kế hoạch hóa ở một thái cực có một số hoạt động
mà các cá nhân và tổ chức có thể phải lập kế hoạch trên cơ sở kế hoạch liên quan đến việc đưa ra những dự báo về bức tranh thế giới vài thập kỷ sau
Phân tích mức độ thời gian dài ngắn khác nhau của việc chuẩn bị kế hoạch có thể gây cảm tưởng rằng kế hoạch hóa là hoạt động định kỳ Người ta thường nghĩ rằng kế hoạch được lập cho khoảng thời gian ấn định ( ví dụ cho
5 năm tiếp theo), và khi kế hoạch đã được lập xong thì kế hoạch hóa coi như kết thúc, cho đến khi kết thúc 5 năm, tức là lúc bắt đầu lập kế hoạch cho thời
kỳ 5 năm tiếp theo Trong các thập kỷ 50 và 60 nhiều nhà kế hoạch đã có quan điểm như vậy về kế hoạch hóa, nhưng gần đây người ta đã nhận thức
Trang 22rằng kế hoạch hóa nên được coi là một hoạt động liên tục Điều này có nghĩa
là mặc dù có thể kế hoạch cần phải được lập cho khoảng thời gian xác định, nhưng nó nên được liên tục theo dõi và xem xét lại trong giai đoạn đó, và nếu cần thì có thể được kéo dài sang giai đoạn kế hoạch khác
Tóm lại, mặc dù kế hoạch nhất định phải liên quan đến tương lai; nhưng điều đó không hạn chế các nhà lập kế hoạch dành nhiều sự chú ý của
họ nghiên cứu tình hình quá khứ và hiện tại Trong thực tế, các nghiên cứu hiện tại là rất quan trọng để đưa ra thông tin về nhu cầu và điều kiện hiện tại cũng như các nguồn lực hiện có cho phát triển, trong khi đó nghiên cứu lịch
sử có thể tạo cơ sở tốt cho dự báo các xu hướng trong tương lai
1.2.3 Mối quan hệ giữa kế hoạch hóa với hoạch định chính sách và chỉ đạo thực hiện
Kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô chỉ là một loại hình hoạt động quản lý của Nhà nước; gắn với nó còn có nhiều loại hình hoạt động quản lý khác nữa, đặc biệt là công tác hoạch định chính sách và công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện
Theo D Conyers và P Hills thì nói một cách đơn giản nhất, hoạch định chính sách liên quan đến việc đưa ra các quyết định về các phương hướng chung cho sự thay đổi hoặc phát triển; trong khi đó kế hoạch hóa là quá trình quyết định về phương thức hành động và lựa chọn phương thức hành động nào là tốt nhất để tạo ra những thay đổi hoặc phát triển đó; đồng thời kế hoạch hóa còn xác định xem nên tổ chức thực hiện ra sao, và triển khai việc thực thi trên thực tế những phương thức hoạt động này
Để thấy rõ sự khác nhau này, có thể xem xét quy trình kế hoạch hóa trong ví dụ của lĩnh vực xây dựng nhà ở của một quốc gia Trong trường hợp này, việc hoạch định chính sách có thể đưa ra quyết định (trong số nhiều quyết định khác) đáp ứng nhu cầu nhà ở chủ yếu bằng các chương trình cung cấp địa điểm và dịch vụ; tức là chính phủ cung cấp địa điểm đã có các dịch vụ
cơ bản để người dân tự xây dựng nhà ở cho mình Sau đó kế hoạch hóa có thể bao hàm nội dung ra quyết định xem có bao nhiêu chương trình như vậy cần
Trang 23được xây dựng, địa điểm ở đâu, những loại hình dịch vụ nào sẽ được cung ứng, các vị trí sẽ được phân cho từng cá nhân như thế nào, và những điều kiện nào (nếu có) sẽ được ra ra đối với những người xây dựng về cách thức sử dụng địa điểm được phân Kế hoạch hóa cũng bao gồm các quyết định về chi phí của các chương trình, số tiền nhận được, và ai có trách nhiệm tổ chức thực hiện Cuối cùng, giai đoạn thực hiện có thể bao gồm việc xây dựng trên thực
tế các chương trình, kể cả chuẩn bị địa điểm, cung ứng dịch vụ và lựa chọn những người được nhận địa điểm
Ví dụ này chỉ rõ hai khía cạnh của mối quan hệ giữa hoạch định chính
sách, kế hoạch hóa tổ chức thực hiện Thứ nhất, nó cho thấy ba hoạt động này
tiếp nối nhau, bắt đầu từ hoạch định chính sách, tiếp theo là kế hoạch hóa, và sau đó là tổ chức thực hiện Đồng thời, điều này chỉ rõ vai trò của kế hoạch như là bước trung gian giữa hoạch định chính sách tổ chức thực hiện, là phương cách chuyển các chính sách chung thành các chương trình hành động
tạo ra các kết quả cụ thể Thứ hai, nó chỉ ra sự phân công trách nhiệm giữa
các cá nhân hoặc tổ chức có liên quan, trong đó việc hoạch định chính sách chủ yếu là trách nhiệm của các nhà chính trị hoặc những người ở vị trí ra các quyết định chính trị; trong khi kế hoạch hóa chủ yếu là trách nhiệm của nhà
kế hoạch, và việc thực hiện chủ yếu do các nhà quản lý đảm nhiệm
Tuy nhiên, người ta cũng thấy rõ là khó có thể đưa ra ranh giới rõ ràng giữa hoạch định chính sách, kế hoạch hóa và tổ chức thực hiện hoặc giữa vai trò của nhà chính trị, nhà kế hoạch và nhà quản lý Trước hết, hoạch định chính sách và kế hoạch hóa không phải luôn luôn là những hoạt động tách biệt rõ ràng, tiếp nối nhau Trở lại ví dụ về chương trình địa điểm và dịch vụ nhà ở, mặc dù quyết định chính sách cơ bản là quyết định đáp ứng nhu cầu nhà ở bằng cách đưa ra các chương trình địa điểm và dịch vụ, nhưng nhiều quyết định chính sách tiếp theo vẫn được đưa ra trong giai đoạn được gọi là
kế hoạch hóa Có thể không xây dựng được các chương trình trong tất cả các khu vực cùng một lúc, nên phải xác định thứ tự ưu tiên và đây là vấn đề khá
Trang 24nhạy cảm do nó ảnh hưởng đến việc phân bổ dịch vụ giữa các vùng địa lý khác nhau và chịu ảnh hưởng bởi sức ép từ các nhà chính trị hoặc các nhóm chính trị nhất định Kết quả là vấn đề này được coi là vấn đề hoạch định chính sách và các nhà kế hoạch có thể cần phải dành cho các nhà chính trị hoặc những người khác có thẩm quyền ra các quyết định đó
Một vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa hoạch định chính sách và
kế hoạch hóa là vai trò của hoạch định chính sách trong việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch Xây dựng các mục tiêu nói chung liên quan nhiều đến các quyết định hoạch định chính sách, mặc dù đôi khi các mục tiêu đó chẳng hề
có tầm quan trọng về mặt chính trị Điều đó một lần nữa cho thấy rằng mặc dù
kế hoạch hóa và hoạch định chính sách không thể tách rời một cách rõ ràng; nhưng các quyết định chính sách có xu hướng đi trước các quyết định kế hoạch hóa; tương tự như vậy các mục tiêu cần được xác định trước khi lập kế hoạch thực hiện chúng
Mối quan hệ giữa kế hoạch hóa và hoạch định chính sách cũng còn được thể hiện ở chỗ các bản kế hoạch thường bao gồm tổng hợp các chính sách và các kế hoạch cụ thể, và hai nội dung này không dễ tách bạch với nhau Hơn nữa, hầu hết các bản kế hoạch cũng như các tài liệu kế hoạch phải được các tổ chức chính trị thông qua và chấp thuận, và vì thế cũng đồng thời
là tài liệu chính sách
Tương tự, sự phân biệt giữa kế hoạch hóa và tổ chức thực hiện cũng không thật rõ ràng Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới nguy cơ các bản kế hoạch không thực hiện được là khoảng cách quá xa giữa kế hoạch hóa
và tổ chức thực hiện Để khắc phục tình trạng này, người ta thường phải tiến hành các biện pháp để làm cho kế hoạch có tính khả thi Mặt khác, các nhà kế hoạch cũng có vai trò quan trọng trong và sau giai đoạn tổ chức thực hiện, như theo dõi tiến độ thực hiện và đưa ra những điều chỉnh kế hoạch, và thậm chí cả đối với các chính sách, nếu xét thấy cần thiết
Trang 25Như vậy, sự phân công trách nhiệm giữa các nhà chính trị, nhà kế hoạch và nhà quản lý là sự đơn giản hóa thực tế Các nhà kế hoạch đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách qua việc cung cấp nhiều thông tin được sử dụng để ra các quyết định chính sách và đưa ra những khuyến nghị dựa trên đánh giá của chính họ về tình hình Tương tự, cả các nhà chính trị ( hoặc các nhà hoạch định chính sách khác) và các nhà quản lý cũng có thể liên quan đến kế hoạch hóa Các nhà chính trị thường cung cấp thông tin, hướng dẫn, chỉ thị cụ thể về các phương thức hành động thay thế dựa trên quan điểm của những người đại diện hoặc theo thiên hướng của cá nhân họ; trong khi đó các nhà quản lý cung cấp kiến nghị cụ thể về khả năng thực hiện các đề nghị khác nhau Sự tham gia của các nhà quản lý là rất quan trọng, vì họ là những người sẽ phải thực hiện kế hoạch, và họ có thể không nhiệt tình với việc thực hiện, nếu họ nghĩ rằng các kế hoạch là không khả thi hoặc không khả dụng
1.3 KẾ HOẠCH HÓA KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN
1.3.1 Sự cần thiết của kế hoạch hóa
Vì sao kế hoạch hóa được chấp nhận và áp dụng tương đối rộng rãi không chỉ ở các nước theo mô hình quản lý tập trung mà cả ở những nước kinh tế thị trường phát triển và đặc biệt là ở các nước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba? Người ta thường đưa ra 4 lý do sau đây để lý giải cho sự cần thiết của kế hoạch hóa trong quản lý kinh tế vĩ mô ở các nước
* Những thất bại của thị trường
Thị trường ở các nước đang phát triển thường là thị trường chưa phát triển một cách đầy đủ những thành tố chủ yếu của nó; giá cả trên những thị trường như vậy thường bị xuyên tạc vì người sản xuất và người tiêu dùng thiếu những thông tin cần thiết; sự điều tiết của thị trường trong điều kiện như vậy có nhiều khả năng dẫn đến những quyết định sản xuất và lưu thông sai lầm, không có hiệu quả Đặc biệt là thị trường vốn hoặc là còn thiếu hoặc là
Trang 26còn rất sơ khai, chưa đảm đương được vai trò trung gian cần thiết cho quá trình phát triển Trong điều kiện đó, nếu không có sự can thiệp của chính phủ thông qua kế hoạch hóa thì những nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế dễ bị phân bổ một cách sai lạc, không đạt hiệu quả kinh tế – xã hội mong muốn, nhất là cho những lợi ích tương đối dài hạn Trong báo cáo năm 1965 tại Hội nghị của Liên hợp quốc về kế hoạch hóa cũng đã khẳng định:” Một nhiệm vụ không thể thiếu của kế hoạch hóa là phải sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực khan hiếm cho sự phát triển kinh tế… Nhu cầu sử dụng những tiêu chuẩn thích hợp cho những dự án chọn lọc nảy sinh từ sự thất bại của cơ chế thị trường vì không đưa ra được những chỉ dẫn thích hợp Trong những nền kinh
tế kém phát triển, giá cả thị trường của những yếu tố đầu vào như lao động, tiền vốn và ngoại hối đã xa rời những chi phí cơ hội xã hội, do đó không phải
là thước đo đúng đắn về độ khăn hiếm hay dồi dào tương đối của yếu tố sản xuất đó”
Năm 1970 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc ( UNIDO) cũng đã đưa ra lập luận sau đây về thất bại của thị trường như là một lý do cho sự cần thiết của kế hoạch hóa ở các nước đang phát triển:" Chính phủ không thể và không nền chỉ đóng một vai trò thụ động trong quá trình mở rộng công nghiệp Kế hoạch hóa đã trở thành một bộ phận chủ yếu và cần thiết của các chương trình phát triển công nghiệp; vì bản thân các tác nhân thị trường không thể khắc phục được sự cứng nhắc về cơ cấu đã ăn sâu trong những nền kinh tế của các nước đang phát triển… Ngày nay nhu cầu về kế hoạch hóa ở một mức độ nào đó đã được thừa nhận rộng rãi Tại các nước đang phát triển, kế hoạch hóa có tính khả thi và được sử dụng nhiều hơn ở các nước công nghiệp phát triển Kế hoạch hóa ở các nước đang phát triển là cần thiết, vì cơ chế thị trường ở đó không đảm bảo rằng các quyết định cá nhân sẽ tối ưu hóa các hoạt động kinh tế theo những mục đích ưu tiên của xã hội Khiếm khuyết của cơ chế thị trường như một phương tiện phân bổ nguồn lực cho phát triển công nghiệp đôi lúc bắt nguồn từ bản thân chính sách của chính
Trang 27phủ hoặc từ những giả định không phù hợp, đặc biệt là về tính cơ động của những yếu tố sản xuất Quan trọng hơn là cơ chế thị trường không tính đến những ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài một cách hợp lý”
*Lí do về khả năng phân bổ nguồn lực
Các nền kinh tế của thế giới thứ ba cần tập trung những nguồn lực hạn chế của mình, đặc biệt là lao động lành nghề và vốn đầu tư vào những lĩnh vực sản xuất vật chất Do đó những dự án đầu tư phải được lựa chọn không những trên cơ sở phân tích năng suất đạt được căn cứ vào suất đầu tư và thời gian hoàn vốn, mà còn phải tính đến những yếu tố của chương trình phát triển tổng thể, những tác động trước mắt cũng như lâu dài trên bình diện kinh tế –
xã hội Nguồn nhân lực lành nghề hiếm hoi cũng phải được sử dụng vào lĩnh vực nào có đóng góp rõ rệt nhất cho xã hội Kế hoạch hóa kinh tế còn phải góp phần giảm nhẹ những ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển nguồn lực bằng cách phối hợp những dự án đầu tư để có thể tập trung những yếu tố khan hiếm
vào những lĩnh vực sản xuất có hiệu quả nhất Mặt khác, người ta còn thấy
rằng thị trường cạnh tranh tự do có xu hướng hạn chế đầu tư, và chuyển đầu
tư nhiều hơn sang những lĩnh vực mà xã hội ít mong muốn (ví dụ hàng tiêu dùng cao cấp cho người giàu), đồng thời không tính đến những lợi nhuận phụ thêm có được từ những chương trình đầu tư được phối hợp tương đối dài hạn
* Lí do về tâm lý và cách ứng xử
Thực tế cho thấy khi những mục tiêu kinh tế và xã hội của một quốc gia được công bố một cách công khai trong kế hoạch phát triển đất nước sẽ ảnh hưởng tích cực và quan trọng đến cách ứng xử và tâm lý của nhân dân, nhất là
ở những nước tính cộng đồng không cao hoặc dân cư bị chia rẽ Trong những trường hợp này, kế hoạch hóa có thể thành công trong việc tập hợp nhân dân đằng sau chính phủ để tiến hành những chương trình quốc gia lớn, chẳng hạn như xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, phòng chống bệnh tật Một khi chính phủ có được những bản kế hoạch khả thi và hợp lý thì điều đó có thể giúp tạo những động lực cần thiết vượt qua những trở lực gây chia rẽ trong
Trang 28nội bộ quần chúng, động viên tốt hơn sự quan tâm và tham gia của các bộ phận khác nhau trong xây dựng vào việc thực hiện những mục tiêu chung của toàn nền kinh tế
* Thu hút viện trợ nước ngoài
Muốn huy động được vốn viện trợ nước ngoài, kể cả song phương và
đa phương một cách có kết quả, Chính phủ các nước thường phải có những kế hoạch phát triển rõ ràng với những mục tiêu cụ thể và những dự án đầu tư được xây dựng theo những tiêu thức quy định Cũng có một số người hoài nghi thường lập luận rằng lý do thực sự mà các nước kém phát triển đưa ra những kế hoạch phát triển kinh tế của mình là cốt sao để có được viện trợ nước ngoài Với những kế hoạch của mình, các nước nhận viện trợ có cơ sở tốt hơn để thuyết phục những nhà tài trợ rằng số tiền vốn họ vay là một bộ phận thiết yếu không thể thiếu và sẽ được sử dụng một cách có mục đích trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân
1.3.2 Những yếu tố hạn chế hiệu quả của kế hoạch hóa
Sau nhiều thập kỷ kiểm nghiệm kế hoạch hóa kinh tế quốc dân ở những nước đang phát triển; kết quả được đánh giá chung là không mấy thành công Trong một công trình nghiên cứu toàn diện về kế hoạch hóa phát triển tại 55 nước, Albert Waterson đã đi đến kết luận:" Một kiểm nghiệm lịch sử về kế hoạch hóa sau chiến tranh cho thấy đã có nhiều thất bại hơn là thành công trong việc thực hiện những kế hoạch phát triển Cho đến nay phần lớn các nước đã không thực hiện được các chỉ tiêu về thu nhập và sản lượng dù là khiêm tốn nhất trong các kế hoạch của mình, ngoại trừ những giai đoạn ngắn ngủi Đáng lo ngại là tình hình có vẻ ngày càng tồi tệ hơn ở các nước tiếp tục tiến hành kế hoạch hóa” Tương tự như vậy, Derek Healey trong khi nhìn lại quá trình phát triển kinh tế của những thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai
đã nhận xét rằng:" Những kết quả của kế hoạch hóa phát triển là sự vỡ mộng cách đau buồn cho những ai tin rằng kế hoạch hóa là cách quản lý duy nhất đúng”
Trang 29Vậy lý do là ở đâu? Người ta đã đưa ra 2 nhóm nguyên nhân chính để
lý giải cho câu hỏi nêu trên Thứ nhất, là khoảng cách giữa lợi ích kinh tế trên
lý thuyết và kết quả đạt được trong thực tế kế hoạch hóa phát triển: thứ hai, là
những nhược điểm cơ bản trong quá trình kế hoạch hóa, đặc biệt là những khuyết điểm liên quan đến năng lực quản trị, chất lượng bộ máy và thực thi kế hoạch
Có thể nêu ra những điểm sau đây về nguyên nhân yếu kém của bản thân công tác kế hoạch hóa:
1 Sự tách rời giữa kế hoạch hóa và thực hiện kế hoạch
Các bản kế hoạch thường quá tham vọng, ôm đồm quá nhiều mục tiêu cùng một lúc mà không xét đến những mục đích ưu tiên mâu thuẫn và cạnh tranh nhau Nhiều bản kế hoạch được thiết kế rất đồ sộ, nhưng không rõ về chính sách cụ thể cần thiết để đạt được những mục tiêu đề ra Chính vì vậy, khoảng cách giữa kế hoạch và thực hiện kế hoạch thường rất lớn; nhiều kế hoạch vì thế không thực hiện được
2.Số liệu và thông tin không đầy đủ, kém tin cậy
Chất lượng của một bản kế hoạch phát triển phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và độ tin cậy của số liệu thống kê cũng như thông tin kế hoạch Tình trạng chung ở các nước đang phát triển là cơ sở dữ liệu vừa thiếu, vừa yếu, cộng thêm với đội ngũ cán bộ kế hoạch, thống kê không đủ năng lực và trình
độ, dẫn đến hệ quả là những ý đồ, tham vọng trong kế hoạch hóa không được thể hiện một cách khách quan và cuối cùng không trở thành hiện thực Trong những trường hợp như vậy, việc mở rộng phạm vi và quy mô kế hoạch hóa có thể còn gây lãng phí vô ích
3 Những biến động kinh tế bất thường
Đối với những nước có nền kinh tế mở cửa thì những thay đổi về giá cả
và thị trường quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường trong nước, làm cho việc dự báo xu hướng phát triển hết sức khó khăn, thậm chí cả cho những thời hạn tương đối ngắn Việc tăng giá dầu lửa trong những năm 70 đã phá hoại nhiều kế hoạch phát triển của các nước thế giới thứ ba Cuộc khủng
Trang 30hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1977-1998 làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước đang từ mức 7-8% trở thành số âm Đối với những nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động bên ngoài như vậy, chính phủ các nước cần phải đảm bảo tính mềm dẻo và linh hoạt trong chính sách kinh
tế của mình, sẵn sàng điều chỉnh khi cần thiết, chứ không tự ràng buộc vào những kế hoạch cứng nhắc xác định từ trước
4 Những yếu kém về thể chế
Những yếu kém về thể chế là một vấn đề nổi bật ở các nước đang phát triển Trong những yếu kém đó, người ta thường kể đến việc tách cơ quan kế hoạch hóa ra khỏi bộ máy điều hành thường nhật của chính phủ, việc các nhà hoạch định kế hoạch, hoạch định chính sách không thường xuyên đối thoại và thông tin nội bộ với nhau về các mục tiêu chiến lược, và việc áp dụng những cách thức kế hoạch hóa và tổ chức quá trình kế hoạch hóa rập khuôn, không phù hợp với điều kiện của từng nước hoặc từng địa phương Một loại yếu kém khác cũng đã được đề cập một cách rất rõ nét là những thủ tục hành chính rườm rà, sự vô trách nhiệm của cán bộ thừa hành, sự phản ứng đối với đổi mới, sự mâu thuẫn, thiếu hợp tác giữa các bộ phận trong cơ quan, tình trạng tham nhũng và quan liêu đều là những lý do ảnh hưởng đến chất lượng công tác kế hoạch hóa
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ với sự tác động mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, công cuộc đổi mới kinh tế, chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN của Việt Nam đang được đẩy mạnh Nền kinh tế đã có những bước khởi sắc rõ rệt Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn gặp không ít những trở ngại, khó khăn nhiều vấn đề đang được đặt ra cần phải tìm hiểu nhận thức thêm và vận dụng cho thích hợp với điều kiện cụ thể của đất nước Từ những lý do như vậy, việc tìm hiểu kinh
Trang 31nghiệm của một số nước tư bản phát triển về giải quyết mối quan hệ giữa cơ chế thị trường và kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô để phát triển nền kinh tế thị trường là cần thiết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Như chúng ta biết, lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường các nước ta bản chủ nghĩa đã để lại cho nhân loại nhiều kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều tiết nền kinh tế ngày càng tăng lên cùng với sự tăng lên của trình độ xã hội hóa sản xuất Và ngày nay, trong nền kinh tế thị trường hiện đại với sự phát triển chóng mặt của thành tựu khoa học công nghệ, mà tiêu biểu là cách mạng thông tin với nhiều vấn đề kinh tế lớn có tầm cỡ quốc gia, quốc tế…nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì không thể giải quyết được Vì thế, mô hình kết hợp hài hòa cả yếu tố Nhà nước và yếu tố thị trường, giữa sự vận hành của cơ chế thị trường với sự điều tiết có ý thức, có kế hoạch của con người (thông qua Nhà nước) là cần thiết và đã mang lại nhiều thành công trên con đường phát triển Trong mối quan hệ đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng, tạo" hành lang” pháp lý và môi trường đầu tư để các chủ thể có thể phát huy tính năng động, sáng tạo của mình Chính thông qua mối quan hệ đó mà nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển hoạt động có hiệu quả Mục tiêu cơ bản trong điều tiết kinh
tế vĩ mô của các nước tư bản phát triển là đảm bảo sự ổn định về kinh tế – xã hội và muốn vậy phải đảm bảo cân bằng tổng cầu với tổng cung Mục tiêu đó
đã được cụ thể hóa bởi hệ thống các chính sách như: chính sách chống thất nghiệp, giá cả, tăng trưởng kinh tế bền vững, cân bằng thu chi Hệ thống chính sách đó đã được thực hiện một cách khác nhau và mang lại hiệu quả càng không giống nhau Sau đây là một số cách thức điều tiết điển hình
1 Mô hình ở Pháp
Trong sự hoạt động của nền kinh tế thì cơ chế thị trường đóng vai trò quan trọng Nó là yếu tố động lực kích thích cạnh tranh, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế Tuy nhiên bản thân chúng mang yếu tố
tự phát với những hạn chế như: dễ làm mất cân bằng tổng cung tổng cầu của
Trang 32nền kinh tế, không dự báo được nhu cầu phát triển trong mọi hoàn cảnh Do vậy Nhà nước phải có kế hoạch thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô
Vai trò của Nhà nước được thể hiện rất rõ nét trong phương thức điều tiết và thông qua chính kinh tế của họ ở giai đoạn từ 1945 đến nay, ở giai đoạn này mục tiêu cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế là tăng trưởng ổn định và phát triển cân bằng Để thực hiện mục tiêu đó Nhà nước Pháp đã can thiệp và điều tiết nền kinh tế; cụ thể là Nhà nước định hướng sự hoạt động của thị trường, tiến hành xây dựng chính sách tổng thể ( cả đối nội
và đối ngoại); xây dựng chính sách ngành (trong đó chính sách công nghiệp là hạt nhân, chính sách nông nghiệp làm cơ sở cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân)
Phương thức kết hợp giữa kế hoạch và thị trường ở Pháp được thể hiện trong quá trình xã hội kế hoạch Các kế hoạch đều xuất phát từ nhu cầu của xây dựng để tính toán và đưa ra phương án thực thi Đồng thời căn vào kết quả điều tra, thu thập thông tin để đưa ra những kế hoạch sát thực, hiệu quả vai trò của Nhà nước đã có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua hệ thống các công cụ như: kế hoạch hoá và các biện pháp quản lý, điều tiết kinh
tế
a Kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa Pháp áp dụng đầu tiên vào năm 1947 Để thực hiện kế hoạch lớn Nhà nước có nhiệm vụ xác định mục tiêu và chiến lược phù hợp phát triển kinh tế dài hạn ở mỗi thời kỳ Cụ thể thời kỳ từ 1947 đến 1975, Pháp đã đề ra 6 kế hoạch lớn đó là:"Kế hoạch hiện đại hóa và thiết bị” lần I từ 1947-1953, Lần II từ 1954-1957, Lần III từ 1957-1961 và" Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội" từ 1962-1965 Kế hoạch lần thứ V (1966-1972) thực hiện định mức về giá cả và tiền lương Kế hoạch VI (1971-1975) đề cập đến tính cạnh tranh và các ngành mũi nhọn Pháp đưa ra mục tiêu của kế hoạch hóa là phải thực hiện chống quan liêu, hòa hợp và thuyết phục Do vậy quy trình soạn thảo kế hoạch gồm: đàm phán và thỏa thuận, tập hợp nhiều nhóm
Trang 33tác nhân, nhóm áp lực và các chuyên gia, trong đó vai trò của Tổng cục Kế hoạch Pháp (CGP) là trung lập Nguyên tắc của Tổng cục kế hoạch Pháp là bằng lòng với vai trò trung gian, trung lập, thúc đẩy và phối hợp Đến cuối những thập kỷ 70 nền kinh tế Pháp đứng trước những khó khăn cả về kinh tế
và chính trị Do vậy công tác kế hoạch hóa có sự chuyển biến tập trung vào một số nhiệm vụ cơ bản với chương trình cụ thể Kế hoạch VII (1976-1980)
đã tập trung và chiến lược chống thất nghiệp và tái lập các cân đối cơ bản, nên
họ đã duy trì chính sách tăng trưởng và mở cửa hơn trong hoạt động đối ngoại Kế hoạch VIII (1981-1983) tập trung ưu tiên việc làm, tăng khu vực công, phân quyền hóa… và kế hoạch IX ( 1984-1985) tập trung vào 12"Chương trình ưu tiên” thực hiện Từ năm 1986, phương pháp kế hoạch hóa tiếp tục được đổi mới Giá trị các cam kết của kế hoạch hầu như chỉ còn ý nghĩa trong các kế hoạch Nhà nước, vùng kế hoạch hóa chiến lược đã coi trọng các chỉ tiêu định tính hơn là định lượng Các hình thức hợp tác giữa các tập thể địa phương được khuyến khích Các kế hoạch phát triển ngành cũng
có những quyết định phù hợp với sự thay đổi của thị trường như: nâng đỡ ngành công nghệ mới, khuyến khích nghiên cứu và triển khai công nghệ Về phương thức hỗ trợ, tổ chức thực hiện của Nhà nước đều xuất phát từ tình hình cụ thể, năng lực thực tế để phân cấp quản lý cho thích hợp Từ đó xác định những biện pháp đồng bộ để thực hiện mục tiêu kế hoạch đề ra tuy nhiên, công tác kế hoạch hóa ở Pháp cũng gặp phải khó khăn do quy mô ngày càng rộng lớn và mục tiêu ngày càng nhiều Do vậy việc xây dựng và thực hiện rất phức tạp; sự tham gia của các loại hình sở hữu cũng kém hiệu quả
b Các phương thức quản lý, điều tiết của Nhà nước
Đặc biệt từ đầu thập kỷ 80 đến nay, Nhà nước Pháp thực hiện chuyển
từ mô hình kinh tế "trọng cầu” của học thuyết Keynes sang mô hình kinh tế"trọng cung” của trường phái bảo thủ mới Mục tiêu trọng điểm trong chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là chống lạm phát, ngăn chặn vật giá tiêu dùng leo thang Bởi vì họ nhận thức được tác động tiêu cực của lạm phát đối
Trang 34với sự ổn định kinh tế – xã hội là sẽ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự vận động của nền kinh tế quốc dân Do vậy, Nhà nước đã thực hiện chống lạm phát bằng một hệ thống chính sách tài chính tiền tệ Đối với chính sách tài chính thì họ quan tâm đến điều tiết tổng cầu của xã hội Cụ thể, thời kỳ 1991-
1993 kinh tế ở Pháp suy thoái, Chính phủ đã quyết định ngành tài chính Trung ương bù giá cho mỗi chiếc ôtô con 5000 Frăng, đồng thời yêu cầu mỗi chiếc xe cũng phải hạ giá tương ứng, việc làm đó đã kích thích khách hàng mua xe Kết quả lượng xe hơi tiêu thụ trong toàn quốc từ 200.000 chiếc/năm
đã tăng 450.000chiếc/năm 1994 Thu nhập tăng 2,8 tỷ Frăng,về cơ bản khắc phục được bù giá, kích thích được tổng cầu của xã hội, đạt mục đích đẩy tổng cung xã hội Còn chính sách tiền tệ thì chú trọng điều tiết tổng cung Sự phối hợp hài hòa hai chính sách trên đã giúp nền kinh tế phục hồi nhanh chóng, đem lại những kết quả khả quan Đặc biệt việc sử dụng chính sách thắt chặt tài chính và tiền tệ, với hàng loạt các biện pháp kinh tế khác như: giảm chỉ tiêu của Nhà nước và các khoản phúc lợi xã hội, quy định mức thâm hụt ngân sách tối đa, ngăn chặn giá cả leo thang… Cùng với những biện pháp đó Chính phủ đưa ra" kế hoạch khắc khổ”, như tăng thu thuế, nâng giá than, điện, giao thông, nhiên liệu, rượu, thuốc lá, hàng xa xỉ phẩm… từng bước loại
bỏ và chấm dứt việt bù lỗ của Nhà nước cho các xí nghiệp quốc doanh Với những biện pháp trên đã kiềm chế được nạn lạm phát phi mã
Để khắc phục thất nghiệp, Chính phủ của tổng thống Giắc Xirắc cho rằng phải kích thích cầu và tăng cung Từ 1/7/1995 Chính phủ nâng mức lương tối thiểu lên 4%, mỗi giờ lương tối thiểu nâng từ 35,56 Frăng lên 36,98 Frăng; mỗi tháng nâng lương tối thiểu từ 6009,49 Frăng lên 6249,62 Frăng
Đối với cơ cấu ngành: Chính phủ chú trọng sắp xếp, điều tiết lại nguồn vật tư trong quá trình tái sản xuất Đối với những ngành nghề truyền thống Chính phủ tập trung sức người và sức của vào cải tổ cơ cấu, cải tiến kỹ thuật nhờ đó mà nền kinh tế quốc dân được ổn định và phát triển Tuy nhiên, chính sách này của Pháp cũng có có hạn chế là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Năm 1995,
Trang 35tỷ lệ lạm phát của Pháp thấp nhất Tây Âu (2,1%), nhưng đồng thời tỷ lệ thất nghiệp lại vào loại cao nhất (12%), mức tăng trưởng GDP giữ ở mức vừa phải 2,7% ( còn cao hơn mức lạm phát 2,1%)
Ngoài ra, việc đổi mới phương pháp quản lý và tư nhân hóa các Doanh nghiệp Nhà nước ở Pháp cũng diễn ra rất sôi động Với sự mở đầu của làn sóng tư nhân hóa thứ nhất là sự ra đời của luật 7/1986, với quyết định chuyển sang sở hữu tư nhân trong thời hạn 5 năm của 65 xí nghiệp thuộc 13 tập đoàn ngân hàng, 11 tập đoàn công nghiệp, 3 hãng bảo hiểm Và đến 1993 là làn sóng tư nhân hóa thứ hai diễn ra theo luật 7/1993, Pháp thực hiện tư nhân hóa
21 tập đoàn lớn của Nhà nước Tháng 5/1999, Chính phủ Pháp quyết định cho
tư nhân tham gia vào hãng hàng không vũ trụ Matra Đó là thời kỳ đổi mới của Nhà nước Pháp về quan điểm quản lý và cách thức xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước với Doanh nghiệp Nhà nước nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Tuy làn sóng tư nhân hóa diễn ra mạnh mẽ, song các Doanh nghiệp Nhà nước vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Chẳng hạn, thời điểm cuối 1995 ở Pháp có 72 tập đoàn Nhà nước, tuyển dụng 1,4 triệu nhân viên, nhưng nó kiểm soát hơn 2.200 xí nghiệp, hơn 20% giá trị gia tăng và lao động của các tập đoàn, 45% bất động sản Đặc biệt, vấn đề ký kết các hợp đồng có thời hạn từ 3 đến 5 năm giữa Nhà nước với Doanh nghiệp đang là mốt quản lý Doanh nghiệp Nhà nước rất thịnh hành ở Pháp
Tìm hiểu mô hình kinh tế thị trường ở Pháp, chúng ta thấy rõ được tính đặc thù trong việc kết hợp sự điều tiết của thị trường với kế hoạch của Nhà nước, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và đã phát huy tác dụng tích cực trong sự phát triển của đất nước
2 Nhật bản: mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp
Mục tiêu của Chính phủ Nhật là tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi, loại bỏ những sự không hoàn thiện của thị trường Do vậy, họ đã thống nhất được trong nhận thức về mục tiêu quốc gia sau chiến tranh là phải tập trung mọi nỗ lực cho phát triển kinh tế Từ đó, họ thiết lập chính sách ngoại giao
Trang 36mềm dẻo, làm sao để vừa không bị cô lập, vừa không bị xa rời mục tiêu đề ra Các kế hoạch Chính phủ đề ra chỉ là những định hướng cho các quyết sách của các tổ chức tư nhân và nó sẽ ảnh hưởng đến các tổ chức kinh doanh bằng con đường gián tiếp Kế hoạch góp phần đề ra hệ thống chính sách đưa vào tư duy của người lao động, giúp họ tự điều hành hoạt động của mình cho thích hợp Những kế hoạch và chính sách lớn được đưa ra đều phù hợp với lợi ích của các bên liên quan
Do Chính phủ Nhật bản rất coi trọng vấn đề chất lượng nguồn nhân lực
Vì vậy sau chiến tranh thế giới thứ 2 họ luôn hướng vào việc nâng cao chất lượng sức lao động, nguồn lực con người Đưa ra những chính sách và kế hoạch phục vụ sự phát triển nguồn nhân lực Để đạt được những mục tiêu đó, chính phủ Nhật bản đã thực hiện một loạt giải pháp: ưu tiên đầu tư tài chính cho phát triển hệ thống giáo dục Thực hiện huy động mọi nguồn vốn từ ngân sách của Chính phủ, Trung ương và địa phương cũng như từ giới kinh doanh
và các hộ gia đình vào đầu tư phát triển giáo dục (trong đó ngân sách Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn) nhằm tạo điều kiện, cơ hội tham gia học tập của tất cả mọi người trong xã hội Cụ thể năm 1947, mặc dù đang bị lạm phát nặng nề, Chính phủ Nhật bản vẫn ra đạo luật giáo dục nâng trình độ phổ cập từ 7-8 năm lền phổ cập 9 năm và hoàn toàn miễn phí Việc đầu tư cho giáo dục đào tạo được Nhà nước ưu tiên Chỉ tiêu cho giáo dục công cộng tăng từ 5% GNP năm 1960 lên 6,6% năm 1965, trong đó nguồn ngân sách các cấp chiếm tỷ trọng lớn nhất so với chi tiêu gia đình và các công ty Tiêu chuẩn hóa nội dung chương trình giảng dạy cho tất cả các trường học; thực hiện chính sách giáo dục bắt buộc, miễn phí (chính sách phổ cập giáo dục) và đa dạng hóa các hình thức giáo dục, đào tạo
Sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật bản trong việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực của các Doanh nghiệp là vấn đề được nhiều người quan tâm
ở đây Nhà nước đã tạo ra một hành lang pháp luật để cho các Doanh nghiệp
tự do hoạt động trong khuôn khổ Các luật lệ đưa ra đều có những quy định rõ
Trang 37ràng với những hình thức xử phạt nghiêm minh Chẳng hạn, khi Doanh nghiệp sa thải công nhân trong những trường hợp không có lý do chính đáng thì đều bị Nhà nước xử lý Ngoài ra, Nhà nước còn có những ưu đãi về thuế, tín dụng và cả trợ cấp trong những điều kiện cần thiết Ví dụ như chế độ làm việc suốt đời đã được Nhà nước trợ cấp kinh phí để đào tạo lại cán bộ, người lao động; khi Doanh nghiệp gặp khó khăn Chính phủ thực hiện bù lỗ hoặc trợ cấp thất nghiệp Đối với các Doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, sự hỗ trợ của Nhà nước được thực thi khá chu đáo, đó là áp dụng lãi suất thấp từ 4 đến 8%/năm và kéo dài 25 năm với các dự án cải tạo đất, thực hiện trợ cấp giá nông sản, cung cấp thông tin, xây dựng kết cấu hạ tầng nhờ đó mà các Doanh nghiệp có điều kiện duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và bảo đảm việc làm
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Nhật bản, vấn đề xã hội cũng là một thách thức không nhỏ, đặc biệt là về mức sống chúng ta biết rằng, sức mua của người Tokyo chỉ bằng 1/2 của người Niu-oóc, kém người Luân đôn 5% và người Paris 35% Nạn thất nghiệp vẫn còn ở mức cao, năm 1999: 4,9%; nhà ở thì chật chội; môi trường sinh thái ô nhiễm… Những vấn
đề trên càng làm cho vai trò của Nhà nước thêm cấp bách Theo kinh nghiệm của Nhật Bản để giải quyết sự phân hóa giàu nghèo (về thu nhập giữa 20% số người giàu và 20% số người nghèo là khoảng 4 lần, trong đó 20% số người nghèo nhất chỉ chiếm 8% tổng thu nhập) Về tài sản, sự chênh lệch tập trung vào một bộ phận dân cư (1% số hộ giàu đã nắm giữ 13-14% số tài sản của dân
cư cả nước) Từ những lý do trên, Chính phủ đã tập trung tăng trưởng kinh tế,
mở rộng thêm ngành nghề, thực hiện chế độ làm việc suốt đời, thực hiện chế
độ đánh thuế thu nhập ( từ việc làm, từ tài sản) để điều tiết qua phân phố i lại Thuế thu nhập được thực hiện theo chế độ lũy tiến, Nhà nước quy định cụ thể mức thu nhập tối thiểu phải đóng thuế là 150.00yên/năm Đồng thời thực hiện chính sách phúc lợi xã hội chủ yếu thông qua ngân sách Nhà nước ( hiện nay phần chi tiêu này chiếm khoảng 17% tổng thu của ngân sách năm 1990:
Trang 3817,5%, 1991: 17,4%: 1992: 17,6%; 1993: 18%, 1994: 18,4%, 1998: 16,9%) Ngoài ra còn thực hiện thông qua các kênh đóng góp khác ( đặc biệt là chế độ bảo hiểm) Tuy nhiên, chính sách xã hội của Nhật bản còn bộc lộ những hạn chế về ngân sách ( nợ tồn đọng của Nhà nước còn cao); bộ máy quản lý cồng kềnh, kém hiệu quả; một số chính sách cụ thể còn bất cập chưa đảm bảo được tính công bằng; chính sách phúc lợi xã hội chưa đến được hết các tầng lớp dân
cư trong xã hội
Về chính sách giá cả: ở Nhật bản phạm vi, hình thức và giải pháp can thiệp của chính phủ vào thị trường và giá cả luôn tùy thuộc vào tình hình kinh
tế chính trị cụ thể của đất nước ở mỗi giai đoạn Thời kỳ 1945-1950; Chính phủ khống chế và kiểm soát toàn bộ hệ thống giá cả ; thời kỳ 1950-1973 sự kiểm soát giá cả được nơi lỏng, chỉ có một số mặt hàng chịu sự kiểm soát của giá cả như: gạo, điện, sữa, cước tàu xe và bưu chính viễn thông và dựa trên cơ
sở hệ thống luật tương đối hoàn chỉnh Đặc biệt năm 1973, do cú sốc về giá dầu lửa, Chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục vật giá thuộc Tổng cục thống kê và kinh tế; thành lập Hội đồng bình ổn giá; Hội đồng tư vấn về giá thuộc Nghị viện… Nhìn chung các biện pháp tự nguyện, bán tự nguyện được chính phủ tăng cường khuyến khích Chẳng hạn như vào những năm cuối của thập kỷ 80, Nhà nước Nhật có kế hoạch trợ giúp và hướng dẫn các Công ty thực hiện chiến lược giá mới ( trợ giá tự nguyện) nhờ đó mà sức cạnh tranh của các Công ty được nâng cao
Đồng thời, khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát cao thì để hạn chế lạm phát, Chính phủ Nhật thực hiện hạn chế việc cho vay tiền của các ngân hàng và hỗ trợ cho các ngành công nghiệp quan trọng trong việc thu hút nguồn tài chính cần thiết
3 Mô hình ở CHLB Đức
Đó là mô hình kinh tế thị trường xã hội Mục tiêu của mô hình này là tự
do và bình đẳng xã hội, làm cho tự do trên thị trường gắn liền và thống nhất với nguyên tắc công bằng xã hội Trong nền kinh tế thị trường xã hội các cơ
Trang 39sở tư nhân và tập thể phải có sáng kiến và trách nhiệm cao trước khi có sự trợ giúp của Chính phủ Do vậy, ở đây vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế hẹp hơn Nhà nước đóng vai trò là người thiết kế"luật lệ” và dùng nó điều khiển nền kinh tế nhằm tránh được khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát …
Ở nền kinh tế này, việc điều tiết thị trường lao động liên quan đến hàng loạt chính sách như: cạnh tranh, xã hội, lao động, cơ cấu… Nhưng đặc biệt là chính sách xã hội Đây cũng là mối quan tâm thường xuyên của tất cả các quốc gia trên thế giới; trong đó chính sách việc làm là một chính sách quốc kế dân sinh cơ bản nhất Việc làm và giải quyết việc làm là tiêu chí có tính quyết định, đánh giá sức mạnh của nền kinh tế có thực hiện tốt chính sách việc làm,
sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội, khắc phục tình trạng thất nghiệp thì nền kinh tế mới phát triển vững bền Và chính việc điều tiết thị trường lao động thông qua chính sách việc làm ở CHLB Đức đã làm cho mọi người lao động an toàn trước những biến cố xảy ra do biến đổi của thị trường
Mục tiêu của Chính phủ là phải đảm bảo sự"cân bằng xã hội” Do vậy,
họ thực hiện nhiều chính sách, giải pháp như: bảo hiểm xã hội, điều chỉnh phân phối thu nhập, chống biến đổi chu kỳ… Về bảo hiểm xã hội Chính phủ thực hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau là: bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm y
tế, trợ cấp xã hội, bảo hiểm tai nạn, chăm sóc tuổi già Chẳng hạn, với bảo hiểm thất nghiệp thì căn cứ vào luật quy định trách nhiệm đóng bảo hiểm Khi thất nghiệp người lao động được nhận tiền thất nghiệp với mức cao, thấp tùy thuộc vào thời gian làm việc Ví dụ, nếu trước khi thất nghiệp anh ta đã làm việc 24 tháng thì khi thất nghiệp sẽ được nhận 63% tiền lương thuần túy (lương ròng) trong thời gian 1 năm Sau đó thay bằng việc hưởng trợ cấp thất nghiệp Chính những chính sách này đều nhằm một mục đích chung là chia sẻ rủi ro Còn về điều chỉnh phân phối thu nhập, mục đích cũng là để đảm bảo" cân bằng xã hội” Nhìn chung Chính phủ sử dụng nhiều công cụ để điều chỉnh; song chủ yếu là thuế Nguồn thu từ thuế chủ yếu là từ các khoản thu nhập, lợi tức và thuế doanh thu, trong đó thuế thu nhập được đánh theo mức
Trang 40lũy tiến với mục đích phân phối lại thu nhập của những người có thu nhập cao
để đảm bảo cân bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Cụ thể, mức đóng thuế là theo tỷ lệ nhất định Người lao động độc thân phải đóng mức cao nhất
ở Tây Đức chiếm tới 46% tổng thu nhập; còn Đông Đức khoảng 42% tổng thu nhập Với Doanh nghiệp thì vấn đề quản lý và điều tiết lợi nhuận của các Doanh nghiệp được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện cho các cá nhân tự do kinh doanh; thực hiện điều tiết lợi nhuận của họ bằng chính sách thuế phù hợp, quản lý thu nhập của các chủ kinh doanh Đồng thời các chủ kinh doanh
có nhiệm vụ, trách nhiệm thực hiện những điều luật Nhà nước quy định Tựu trung lại, việc thực hiện chính sách xã hội đã góp phần giảm bớt bất công và đảm bảo công bằng xã hội trong một giới hạn nhất định Tuy nhiên, chính sách xã hội tự bản thân nó cũng tạo ra những bất công xã hội mà chính nó phải có nhiệm vụ xóa bỏ Trong thập kỷ 90, để thực hiện nhiệm vụ quan trọng
là tái thống nhất đất nước Nhà nước Đức đã thực hiện chính sách hỗ trợ một cách thỏa đáng cho cả 2 miền( có ưu tiên hơn cho miền Đông Đức) thông qua
sự ưu đãi về các loại thuế đối với mỗi miền
Hiện nay ở CHLB Đức nạn thất nghiệp rất trầm trọng Chẳng hạn trong
cả thập kỷ 90 vào khoảng 10% số người lao động, với tổng số 4 triệu người, năm 1997 thất nghiệp trở thành vấn đề trung tâm của xã hội Đứng trước tình hình đó, Chính phủ thực hiện chính sách thị trường lao động, theo nguyên tắc: Công ăn việc làm thay thế cho thất nghiệp Mục tiêu hàng đầu của Chính phủ
là khôi phục, tạo điều kiện cho người kinh doanh tìm lại được công việc ở mức cho phép Vì thế họ đã sử dụng chính sách thị trường chủ động, bao gồm: Chính sách trật tự thị trường lao động, chính sách tạo công ăn việc làm
và chính sách cân bằng thị trường lao động Những chính sách này đã mang lại hiệu quả tốt cho nền kinh tế
4 Mô hình ở Anh