1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội

109 470 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sự phát triển nông nghiệp ở Từ Liêm còn gặp khá nhiều trở ngại như: độ an toàn và giá trị kinh tế, năng suất, chất lượng các sản phẩm lương thực, thực phẩm chưa cao, tỷ lệ các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ DẬU

Hà Nội - 2012

Trang 3

i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CN-DV-NN Công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

NTM Nông thôn mới

QTDND Quỹ tín dụng nhân dân

QKN Quỹ khuyến nông

RAT Rau an toàn

UBND Uỷ ban nhân dân

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp vào nông nghiệp

2 Bảng 1.2 Phân bố sử dụng đất huyện Đông Anh 34

3 Bảng 2.1 Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện và

khu vực huyện quản lý 46

4 Bảng 2.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ

5 Bảng 2.3 Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế và tốc độ

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC HÌNH

1 Hình 1.1 Tỷ lệ dư nợ tín dụng năm 2011 theo phân ngành

kinh tế 2007 của Việt Nam 27

2 Hình 2.1 Cơ cấu diện tích đất tự nhiên tại huyện Từ Liêm 40

3 Hình 2.2 Dân số trung bình tại các quận huyện Hà Nội 43

4 Hình 2.3 Chi ngân sách nhà nước cho nông nghiệp Từ Liêm 48

5 Hình 2.4 Tình hình huy động và cho vay tại ngân hàng

Trang 6

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế Tăng trưởng nông nghiệp là nền tảng của đổi mới, 16, tr.21 Ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc

dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này vẫn rất lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết là lương thực và thực phẩm - yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội Những sản phẩm này, cho dù trình độ khoa học – công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào thay thế được

Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế Đây không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần, mà còn là một hệ thống sinh học – kỹ thuật Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, nông sản và công nghệ sau thu hoạch

Từ Liêm là một huyện ngoại thành ven đô của thủ đô Hà Nội, trong yêu cầu phát triển một nền tảng nông nghiệp hiện đại của Thủ đô, nông nghiệp ở Từ Liêm được xác định là giữ vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Xây dựng, phát triển nền nông nghiệp ven đô Từ Liêm là xu thế tất yếu trong quá trình đô thị hóa nhanh ở Từ Liêm, hướng đến nền nông nghiệp sạch kỹ thuật cao, đạt giá trị sản xuất cao trên một đơn vị diện tích nhằm đảm bảo tăng trưởng ngành nông nghiệp trong khi đất nông nghiệp giảm dần cho các mục tiêu phi nông nghiệp

Trước quá trình đô thị hóa, đặc biệt là tại vùng ven đô như Từ Liêm, nông nghiệp, nông thôn và nông dân đang phải đối mặt với nhiều thách thức, như dân số tăng nhanh trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, mạng lưới giao thông chưa đủ khả năng phục vụ, lãng phí việc sử dụng đất; đô thị hóa nhanh làm giảm đi diện tích đất nông nghiệp, mất dần các làng nghề truyền thống, nảy sinh hàng loạt vấn đề do

Trang 7

2

chênh lệch chất lượng sống giữa nội thị và ngoại thị Điều đáng lo ngại hơn là việc đất nông nghiệp giảm sút khiến lĩnh vực nông nghiệp bị thu hẹp dần, làm giảm nguồn cung về lương thực, thực phẩm

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, Từ Liêm phát triển kinh tế theo hướng thương mại và dịch vụ Đối với kinh tế nông nghiệp, huyện phát triển theo hướng

du lịch sinh thái Trong đó diện tích trồng hoa và cây ăn quả đang được tập trung quy hoạch theo từng vùng Từ Liêm đã thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, từ trồng rau, cấy lúa sang trồng hoa và chăn nuôi sạch cho hiệu quả kinh tế cao

Hơn 10 năm Từ Liêm đã đầu tư trên 1.000 tỷ đồng vào việc xây dựng cơ sở

hạ tầng kinh tế - xã hội Nhiều tuyến đường giao thông quan trọng của Từ Liêm được nâng cấp mở rộng: Đường liên xã Phú Diễn - Liên Mạc, Thụy Phương - Đông Ngạc, Cầu Diễn - Xuân Phương, Mỹ Đình - Đại Mỗ, Cầu Diễn - Cầu Noi và hàng trăm kilômét đường làng, ngõ xóm được bê tông hoá.; Đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng mới trạm bơm tiêu đầu mối (Hòe Thị - Xuân Phương) công suất 16.000m3/giờ, kiên cố hoá hàng chục kilômét kênh mương, cải tạo mạng lưới điện nông thôn, xây dựng 25 trạm cung cấp nước sạch quy mô vừa và nhỏ Quy hoạch vùng sản xuất cây ăn quả đặc sản bưởi Diễn, cam Canh tăng 200ha, vùng hoa Tây Tựu tăng 400 ha

Tuy nhiên, sự phát triển nông nghiệp ở Từ Liêm còn gặp khá nhiều trở ngại như: độ an toàn và giá trị kinh tế, năng suất, chất lượng các sản phẩm lương thực, thực phẩm chưa cao, tỷ lệ các sản phẩm vô hình, phục vụ nhu cầu văn hoá du lịch thấp, ô nhiễm môi trường… Một trong những nguyên nhân của tình hình đó là tình trạng thiếu vốn, hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp thấp, trong đó các nguồn vốn chưa được huy động tối đa cho phát triển nông nghiệp vùng ven đô này Thực

tế đó cho thấy cần phải đánh giá một cách cụ thể về hoạt động huy động vốn để tìm

ra giải pháp nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu về vốn cho phát triển nông nghiệp ven

đô ở Từ Liêm

Trang 8

3

Vậy, hiện trạng hoạt động huy động vốn ở Từ Liêm có đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp ở địa phương không? Cần có những giải pháp nào để khai thác triệt để các nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp ở khu vực ven đô này?

Trên ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài: “Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp

Từ Liêm - Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ của mình và nhằm giải đáp câu hỏi trên

2 Tình hình nghiên cứu:

Đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề phát triển nông nghiệp, trong đó có đề cập tới hoạt động huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Một số công trình tiêu biểu như:

- Công trình “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới -

Quá khứ và hiện tại”, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật (2007) - tác giả PGS TS

Nguyễn Văn Bích Trong 4 phần chính và phụ lục công trình này, tác giả đưa ra cách nhìn một cách khái quát nhất tình hình nông nghiệp, nông thôn trong đó người dân làm chủ thể, trong suốt một quá trình dài với nhiều giai đoạn khác nhau Đồng thời phân tích, luận giải các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đối với từng thời kỳ phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn… và đưa ra các định hướng cho nông nghiệp phát triển trong tương lai Cuốn sách được coi như một bản tổng kết về lĩnh vực nông nghiệp nước ta và đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đặc biệt đã nêu lên được bối cảnh về sự phát triển nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng

- “Chính sách hỗ trợ của Nhà nước ta đối với nông dân trong điều kiện hội

nhập WTO”, Nxb Chính trị Quốc Gia do PGS TS Vũ Văn Phúc; PGS TS Trần

Thị Minh Châu (đồng chủ biên), 2010 Cuốn sách đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và thực trạng chính sách hỗ trợ nông dân của nhà nước ta trong hội nhập WTO từ đó đánh giá tác động và đề xuất một số giải pháp đổi mới chính sách để giúp nông dân Việt Nam vững bước tiến vào thị trường thế giới

- Gia nhập WTO và điều chỉnh chính sách trong ngành nông nghiệp Việt Nam

- đề tài NCKH cấp trường (Đại học kinh tế - ĐHQGHN) – tác giả Nguyễn Tiến

Trang 9

4

Dũng (2010) Với kết cấu 3 chương, đề tài đã phân tích một cách chi tiết các quy định của WTO về thuế quan và trợ cấp trong ngành nông nghiệp cũng như một số vấn đề thương lượng đang đặt ra trong vòng đàm phán DOHA Phân tích quá trình điều chỉnh chính sách nông nghiệp của Việt Nam ( chính sách thuế quan và trợ cấp) trong quá trình gia nhập WTO Trên cơ sở phân tích thực trạng, các yêu cầu và mục tiêu phát triển chính sách nông nghiệp của Việt Nam, đề tài đã đưa ra các phương hướng và một số khuyến nghị để hoàn thiện chính sách nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trong những năm tới đây

- Công trình: “ Nông dân, nông thôn và nông nghiệp – Những vấn đề đang đặt

ra”, Nxb Tri Thức, Hà Nội, 2008 Là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả trong

khuôn khổ đề tài nghiên cứu về “ tam nông”, mỗi tác giả có một cách nhìn riêng và

đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của các vấn đề tam nông Các tác giả đã đánh giá thực trạng, vạch rõ nguyên nhân cốt lõi như: chủ trương, đường lối và chính sách ở tầm vĩ mô đã có những sai lệch khiếm khuyết, không đồng bộ hoặc không kịp thời và đã đề xuất hướng đi ra khỏi vướng mắc với nhiều hướng tiếp cận xã hội học, văn hóa, kinh tế học

- Công trình: “Tác động của hội nhập kinh tê quốc tế đối với phát triển nông

nghiệp Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2010) – tác giả TS Nguyễn

Từ Cuốn sách gồm ba phần, không chỉ đề cập đến những vấn đề khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế, các hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu liên quan đến nông nghiệp nói chung và đến ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng, những ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, mà còn nêu lên quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền nông nghiệp nước ta trong thời gian tới

- Công trình “ Kinh nghiệp quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong

quá trình công nghiệp hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, (2008) – tác giả TS Đặng Kim

Sơn Trong cuốn sách này, trên cơ sở tổng hợp, phân tích vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước trên thế giới, tác giả đã có sự liên hệ với điều kiện cụ thể ở Việt Nam những vấn đề mang tính lý

Trang 10

5

luận và thực tiễn như vai trò của nông nghiệp trong công nghiệp hóa, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết những vấn đề về đất đai, lao động, môi trường… trong công nghiệp hóa đất nước Những mặt tích cực và hạn chế của tam nông tại Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa cũng đã xảy ra ở các nước Để có thể thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy được những mặt tích cực, tránh được những hạn chế, chúng ta cần rút ra kinh nghiệm của các nước đã và đang tiến hành công nghiệp hóa

- Công trình: “Vấn đề Nông nghiệp nông dân nông thôn - Kinh nghiệm Việt

Nam, kinh nghiệm Trung Quốc”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009

- Công trình: “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong đổi mới ở Việt Nam -

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Tô Huy Rứa, số 794 (tháng

12/2008)

- Công trình: “Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình Công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội của hai tác giả Đỗ

Hoài Nam và Lê Cao Đoàn

- “Thực trạng của nông thôn và đề xuất các chính sách phát triển nông

nghiệp, nông thôn và nông dân hiện nay”, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển

nông nghiệp, nông thôn, tháng 4/2007

- Tiêu thụ nông sản Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong điều

kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Khoa học – Xã hội, tác giả Phan Huy

Đường (2006)

- Nông nghiệp Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO – Những thay đổi về chính

sách, Tạp chí Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội, số 61+62, tác giả Chu Tiến

Quang (2011)

- Công trình: “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ

XX và một số định hướng đến năm 2010” , Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật - Tác

giả Trần Ngọc Bút

Các công trình, nghiên cứu, bài viết trên đều phân tích, đánh giá, sự phát triển nông nghiệp ở Việt Nam: từ các chính sách nói chung, chính sách đầu tư đối

Trang 11

6

với nông nghiệp hiện hành, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và tích cực, chủ động trong hội nhập WTO đến vấn đề huy động vốn cho nông nghiệp Trong Báo cáo phát triển Việt Nam hàng năm của Ngân hàng Thế giới đều có đánh giá về huy động vốn cho phát triển Đặc biệt, Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 đã phân tích, đánh giá toàn diện về huy động và sử dụng vốn cho phát triển, trong đó có đánh giá về huy động vốn phát triển nông nghiệp Việt Nam

Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về huy động vốn cho phát triển nông nghiệp tại vùng ven đô như Từ Liêm, Hà Nội theo

cách tiếp cận kinh tế chính trị Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Huy động vốn cho

phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội" là cách tiếp cận cụ thể một lĩnh vực

chưa được đề cập một cách độc lập, hoàn chỉnh, toàn diện từ khung lý thuyết tới thực tiễn ở địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ lý luận về hoạt động huy động vốn cho sự phát triển nông nghiệp ven đô, luận văn phân tích, đánh giá hoạt động huy động vốn cho phát triển nông nghiệp ven đô tại huyện Từ Liêm – ngoại thành Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho việc phát triển nông nghiệp ven đô ở

địa phương

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn huy động vốn phát triển nông nghiệp ven đô

- Đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn cho sự phát triển nông nghiệp ở

Từ Liêm: những thành công, những hạn chế và nguyên nhân của tình hình

- Đưa ra những định hướng và giải pháp khả thi để đẩy mạnh hoạt động huy

động vốn cho việc xây dựng và phát triển nông nghiệp ven đô ở Từ Liêm

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

7

Luận văn nghiên cứu hoạt động huy động vốn phục vụ sự phát triển nông nghiệp ven đô dưới góc độ kinh tế chính trị Vấn đề nghiên cứu luôn gắn với những biến động về quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội ở Từ Liêm

4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi không gian: luận văn nghiên cứu huy động vốn phát triển nông

nghiệp ven đô trong phạm vi huyện Từ Liêm, Hà Nội (bao gồm 15 xã)

* Phạm vi thời gian: luận văn nghiên cứu chủ yếu huy động vốn cho phát

triển nông nghiệp huyện Từ Liêm trong khoảng thời gian từ năm 2006 trở lại đây, gắn với thời kỳ đẩy mạnh phát triển nông nghiệp của Từ Liêm

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Phương pháp luận duy vật biện chứng cho phép khái quát và đi sâu phân tích từng mặt của quá trình huy động vốn nói chung và huy động vốn phát triển nông nghiệp

ở Từ Liêm, Hà Nội Sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, đề tài nghiên cứu hoạt động huy động vốn trong quá trình phát triển nông nghiệp ở Từ Liêm gắn với xu thế

đô thị hoá của Hà Nội

5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Tập hợp, nghiên cứu và kế thừa có chọn lọc các công trình đã công bố về

hoạt động huy động vốn cho nông nghiệp và các công trình có liên quan để hệ thống hoá những lý luận chung và thực tiễn về hoạt động huy động vốn cho sự phát triển nông nghiệp

- Thu thập, xử lý, phân tích số liệu thống kê của Chi cục Thống kê Hà Nội, Sở

Kế hoạch Đầu tư Hà Nội, Sở Nông nghiệp Thành phố Hà Nội, UBND Thành phố

Hà Nội, đặc biệt là các tài liệu của UBND huyện Từ Liêm để đánh giá thực trạng huy động vốn phát triển nông nghiệp ở Từ Liêm Trên cơ sở phân tích những tác động của bối cảnh kinh tế mới, luận văn đưa ra những giải pháp đẩy mạnh huy động vốn cho việc phát triển nông nghiệp theo mô hình nông nghiệp sạch ở Từ Liêm

Trang 13

8

- Tác giả luận văn sử dụng phương pháp quan sát các đối tượng nghiên cứu để

minh hoạ thêm các phân tích kết luận đưa ra phương hướng, giải pháp huy động có hiệu quả các nguồn vốn phục vụ phát triển nông nghiệp huyện Từ Liêm

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ hơn lý luận về nông nghiệp ven đô và hoạt động huy động vốn phát

triển nông nghiệp ven đô

- Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn, tìm ra nguyên nhân những bất

cập trong vấn đề huy động vốn cho phát triển nông nghiệp tại Từ liêm, Hà Nội

- Đưa ra những giải pháp góp phần huy động và sử dụng có hiệu quả các

nguồn vốn đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ven đô ở Từ Liêm, Hà Nội

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn phát triển nông nghiệp ven đô

Chương 2: Thực trạng huy động vốn cho phát triển nông nghiệp ở huyện Từ Liêm, Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường huy động vốn cho phát triển nông nghiệp tại huyện Từ Liêm, Hà Nội

Trang 14

Trước khi đi vào khái niệm “nông nghiệp ven đô”, cần tìm hiểu về khái niệm

“vùng ven đô” Vùng ven đô là khu vực cận kề với Thành phố, là nơi vừa có các

hoạt động đặc trưng cho nông thôn vừa có các hoạt động mang tính đô thị Vùng ven đô không tồn tại độc lập mà nằm trong miền liên thông nông thôn – ven đô – đô thị Tất cả các xã, phường, thị trấn có phần lãnh thổ tiếp giáp khu vực nội thành được xác định cụ thể qua các biện pháp quản lý hành chính là vùng ven đô Nó có những đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội riêng:

Về kinh tế: Khác với nông thôn, vùng ven đô bao gồm toàn diện hơn các hoạt

động kinh tế, như các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ đô thị

Về xã hội: Vùng ven đô không thuần nhất về thành phần dân cư (nông dân,

công dân, trí thức, chủ doanh nghiệp; tầng lớp trung lưu, người nghèo cùng sống chung trong một vùng lãnh thổ ven đô); trình độ dân trí và nhận thức của người dân cao hơn so với nông thôn vì được tiếp xúc nhiều hơn với các yếu tố hiện đại và được cung cấp thông tin thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau

Về văn hóa: Lối sống cư dân ven đô là sự pha trộn lối sống nông thôn - đô thị do

sự đa dạng về thành phần dân cư, trong đó chịu tác động mạnh của lối sống đô thị Các giá trị, chuẩn mực văn hóa và lối sống biến đổi trong mỗi gia đình và ngoài xã hội

Vùng ven đô, các mối liên hệ tương tác lẫn nhau được thể hiện ở chỗ nông

thôn và ven đô là nơi cung cấp thường xuyên, lâu dài lương thực thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho đô thị, ngược lại đô thị tạo ra thị trường để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, tạo cơ hội việc làm và nơi ở cho các dòng di dân từ nông thôn đến đô thị, và cung cấp các sản phẩm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Trang 15

10

Như vậy khi nói đến “nông nghiệp ven đô” có thể hiểu là khu vực nông

nghiệp ven các đô thị hay ven các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vùng có đông dân cư, trong đó: quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường Quá trình này được diễn ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô

Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là ở châu

Âu, quy hoạch phát triển các đô thị đều rất chú ý tới việc hình thành những “mảng xanh” của vùng nông thôn ven đô Những khu vực này vừa để đảm bảo những không gian xanh đô thị, vừa là nơi sản xuất nông sản cho tiêu dùng tại chỗ và ở các khu vực lân cận Khi đó, sản xuất nông nghiệp ở các khu vực này sẽ giảm được đáng kể những chi phí vận chuyển Xu hướng mới ở những vùng nông nghiệp ven

đô của một số thành phố của nước Pháp, Đức, Hà Lan…đã khuyến khích người nông dân phát huy sáng kiến, tạo nên phong cảnh đẹp cho nông thôn ven đô ngay trên ruộng đất của các hộ gia đình Những cánh đồng lúa mạnh, nho, hướng dương…ngoài việc mang lại thu nhập từ việc cung cấp nông sản hàng hóa, còn là nguồn thu nhập lớn từ việc phục vụ cảnh quan cho khách du lịch

1.1.2 Đặc điểm của nông nghiệp ven đô

Nông thôn ven đô có những đặc điểm khác với những vùng nông thôn khác, đó là:

Thứ nhất, có sự gia tăng mạnh về dân số, trong đó gia tăng dân số cơ học cao

hơn gia tăng dân số tự nhiên Dân số ven đô luôn được bổ sung bởi sự điều chỉnh dân số từ nội thành ra và các nơi khác đến Đó là lý do tồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng dân số về nghề nghiệp, trình độ dân trí

Thứ hai, đa số người dân sống ở ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và nơi làm

việc Các hoạt động phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với nông nghiệp và thu hút lao động trẻ

Trang 16

11

Thứ ba, cơ sở hạ tầng vùng nông thôn ven đô tương đối tốt nhưng không

gian nông thôn bị chia cắt bởi đô thị hóa gây khó khăn cho sinh hoạt và lao động của người dân

Những đặc điểm của nông thôn ven đô có ảnh hưởng lớn đến đặc điểm của nông nghiệp ven đô, cụ thể:

1.1.2.1 Sản xuất nông nghiệp ven đô mang tính khu vực rõ rệt

Thực tế cho thấy ở đâu có lao động và có đất là có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên ở mỗi vùng đô thị hóa lại có điều kiện đất đai và thời tiết, khí hậu, quá trình đô thị hóa rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn xảy ra đô thị hóa, đất đai thu hẹp khác nhau Vì vậy, diễn ra các hoạt động nông nghiệp không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng ven đô đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét Chính đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ven đô phải chú ý các vấn đề kinh tế - kỹ thuật: (1) tiến hành điều tra điều kiện đất đai khí hậu để quy hoạch bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp; (2) xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở kỹ thuật phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ven đô trong vùng

1.1.2.2 Sản xuất nông nghiệp ven đô không ổn định do sự mở rộng đô thị

Tốc độ đô thị hóa ngày cành nhanh cùng với chính sách quy hoạch đô thị chưa đồng bộ và khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị còn hạn chế ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của nông nghiệp Thành phố càng phát triển, càng tồn tại nhiều hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ do đất đai phục vụ nông nghiệp ngày càng

bị thu hẹp và giá đất ngày một tăng Có thể thấy rõ ràng rằng ruộng đất phục vụ nông nghiệp ven đô bị giới hạn về diện tích, khó để tăng thêm theo ý muốn chủ quan tuy nhiên sức sản xuất của của ruộng đất là không có giới hạn Nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên về nông sản phẩm

Trang 17

12

1.1.2.3 Sản xuất nông nghiệp ven đô chịu nhiều ảnh hưởng của sự ô nhiễm đô thị

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được tuy nhiên sự ô nhiễm của đô thị đang ngày càng gây ô nhiễm đến đất nông nghiệp ven đô đặc biệt là đất nông nghiệp gần các khu, cụm công nghiệp Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng mầu mỡ, sản xuất ra nhiều đơn vị sản phẩm trên mỗi diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn

vị sản phẩm

1.1.2.4 Sản xuất nông nghiệp ven đô có tính thời vụ cao

Đây là nét đặc thù điển hình nhất của nông nghiệp bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ với nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp ven đô Tính thời vụ trong nông nghiệp ven đô là không thể xóa bỏ được tuy nhiên hiện tại tính thời vụ của nông nghiệp ven đô cũng đang trong quá trình dần bị xóa bỏ do có nhiều lợi thế về thị trường, nông nghiệp ven đô thường phát triển các sản phẩm tươi sống tạo ra nền nông nghiệp khá khác biệt với đặc điểm thông thường của nông nghiệp nói chung

1.1.3 Vai trò của nông nghiệp ven đô

*Đáp ứng nhu cầu nông sản khổng lồ ở ngay thành phố, nhất là nông sản hàng hóa chất lượng cao

Cung cấp lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản xã hội là vai trò cơ bản của nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ven đô Trong tiến trình đô thị hóa, nguồn lực giành cho sản xuất nông nghiệp nói chung và nông nghiệp ven đô nói riêng bị thu hẹp trong khi đó nhu cầu lương thực, thực phẩm của xã hội về số lượng

và chất lượng ngày càng cao

An ninh lương thực và an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề đang rất được quan tâm hiện nay tại các đô thị Quy mô dân số không ngừng gia tăng trong quá trình đô thị hóa, quá trình này cũng đồng thời đẩy các hộ dân nghèo ven đô vào tình thế mất tư liệu sản xuất chính và vấn đề gia tăng các hộ khó khăn, hộ thu nhập thấp

Trang 18

13

ở khu vực đô thị càng ngày càng khó kiểm soát Bản thân nguồn cung lương thực, thực phẩm chất lượng cao với giá đắt đỏ chỉ hướng đến các hộ thu nhập cao vì vậy nguy cơ thiếu hụt nguồn lương thực cơ bản đáp ứng cho các hộ khó khăn ngày càng trở nên hiện hữu Vì vậy phát triển nông nghiệp ven đô là cứu cánh duy nhất cho vấn đề này Người dân nông thôn có thể tự sản xuất được các nhu cầu lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong ngày còn người dân nghèo ven đô thì không thể mua được lương thực thực phẩm nếu không có tiền Do vậy nguy cơ thiếu lương thực, dinh dưỡng ở người dân thành thị và ven đô lớn hơn so với nông thôn, nhất là trong điều kiện giá cả các mặt hàng thiết yếu gia tăng mạnh như hiện nay

Tổ chức được vùng sản xuất hàng hóa chất lượng cao như thịt sạch, rau sạch,

cá cảnh, hoa, cây cảnh đây là tiềm năng lớn mà nông nghiệp ven đô cần khai thác hết Tùy từng địa phương cần lựa chọn những loại cây, con mà địa phương chiếm

ưu thế để phát triển trước, có tiềm năng về thị trường, vừa có lợi thế … đảm bảo xuất xứ, an toàn chất lượng Tập trung phục vụ nhu cầu của nhiều nhóm khách hàng tại đô thị

Để đảm bảo phát triển bền vững, giảm khoảng cách quá xa trong nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu của người dân đô thị, phát triển nông nghiệp ven đô thực sự là một giải pháp quan trọng hiện nay Nếu tổ chức tốt việc sản xuất được quy hoạch hợp lý, nông nghiệp ven đô có thể tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống và an toàn, tại chỗ góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị

* Khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững nguồn lực tự nhiên - xã hội của khu vực

Tài nguyên là nguồn vốn quý mà thiên nhiên ban tặng, việc phát triển phải

được gắn với việc sử dụng triệt để và bền vững vốn tài nguyên đó Đô thị hóa sử dụng không triệt để vốn tài nguyên của khu vực, vì vậy nông nghiệp ven đô cần tận dụng để có thể sử dụng triệt để các tài nguyên đó như: đất đai, nguồn nước Mặt khác, nông nghiệp ven đô phát triển dựa trên cơ sở điều kiện sinh thái tự nhiên sẵn

có và truyền thống, văn hóa lâu đời của cư dân địa phương vì thế nông nghiệp ven

đô góp phần sử dụng hợp lý nguồn lực tự nhiên, xã hội của vùng, góp phần tạo nên

sự hài hòa trong phát triển

Trang 19

Trong tiến trình đô thị hóa, vì các mục tiêu chung của đô thị mà vấn đề thu hẹp diện tích đất nông nghiệp của nông dân ven đô diễn ra phổ biến Người dân mất

tư liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện không có trình

độ, vốn hạn chế, kinh nghiệm thích ứng với lối sống và tác phong công nghiệp rất thấp vì vậy vấn đề việc làm cho người lao động, nhất là những gia đình ven đô càng trở nên cấp thiết Bên cạnh đó, làn sóng di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị

để tìm kiếm việc làm cũng gia tăng nhanh chóng, nếu được quan tâm và có quy hoạch, có chiến lược phù hợp để tận dụng quỹ đất ven đô thị, đô thị và sức lao động dôi dư để góp phần quan trọng vào việc giải quyết bài toán việc làm và thu nhập trong tiến trình đô thị hóa

* Cung cấp đầu vào, phối hợp giữa các ngành trong quá trình phát triển chung

Phát triển nền nông nghiệp ven đô có lịch sử lâu dài gắn với việc mở rộng nhiều dịch vụ nông nghiệp: Du lịch sinh thái, câu cá, kinh doanh nhà hàng Như vậy, nông nghiệp ven đô không chỉ cung cấp những đầu vào hữu hình như lương thực, thực phẩm

mà còn cung cấp cả những nông sản vô hình: du lịch cho ngành dịch vụ, công nghiệp Nông nghiệp ven đô ngoài việc tạo ra những nông sản đóng vai trò là đầu vào cho các ngành khác, ngoài ra còn khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ cao vào sản xuất, tức là sử dụng đầu ra của các ngành công nghiệp và dịch vụ

Trong điều kiện quỹ đất đô thị và vùng ven bị hạn chế, việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp ven đô để tăng sản lượng cây trồng vật nuôi là vấn đề mang tính tất yếu và cấp bách Trong khi một bộ phận khá lớn nông dân ở khu vực nông thôn chưa có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ khoa học và công

Trang 20

15

nghệ, còn tổ chức sản xuất sản xuất nông nghiệp theo lối quảng canh, truyền thống thì nông nghiệp ven đô có rất nhiều thuận lợi trong việc vận dụng những dịch vụ khoa học, công nghệ vào sản xuất Bên cạnh đó, nông nghiệp ven đô còn có khả năng phát triển theo các mô hình chuyên biệt để cung ứng nhiều dịch vụ cho đô thị như cung cấp cây xanh, hoa tươi và thực phẩm cho khách sạn, cung ứng dịch vụ du lịch, dịch vụ an dưỡng, Vì vậy nông nghiệp ven đô trở thành mắt xích quan trọng trong quá trình phát triển tổng hợp kinh tế địa phương

* Bảo vệ môi trường và lưu giữ truyền thống lịch sử, giá trị văn hóa

Đô thị hóa lấy đi phần lớn diện tích đất canh tác nông nghiệp, phá hủy sinh thái, môi trường và hậu quả mà con người trong và ven đô phải gánh chịu là tiếng

ồn, bụi, khí thải Nông nghiệp ven đô góp phần xoa dịu những ảnh hưởng tiêu cực

đó là bằng khả năng cải tạo môi trường thiên nhiên của mình Các hồ điều hòa làm giảm ô nhiễm nguồn nước, điều hòa thiên nhiên, những công viên cây xanh, như lá phổi lọc sạch sự ô nhiễm không khí Những khu du lịch nông nghiệp giúp lưu tồn sự

đa dạng sinh học của địa phương, làm nơi nghỉ dưỡng của người dân

Từ cuối thế kỷ XX, nông nghiệp đô thị đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đô thị ở các quốc gia Theo báo cáo hằng năm của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), năm 2008 “gần 1/3 lượng rau, quả, thịt, trứng cung ứng cho

đô thị trên thế giới là từ nông nghiệp đô thị, 25 - 75% số gia đình ở thành phố phát triển theo mô hình nông nghiệp đô thị” (Báo cáo của FAO: Tổng quan tình hình lương thực thế giới 2008.) Rất nhiều đô thị nổi tiếng trên thế giới phát triển mạnh về nông nghiệp đô thị Ở Matxcơva (Nga) 65% gia đình có mô hình VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37%, Tại Béclin (Đức), có 8 vạn mảnh vườn trồng rau

ở đô thị; hàng vạn cư dân ở Niu Oóc (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau trên sân thượng Tại nhiều thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu , nông nghiệp đô thị, ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt trứng của người dân Bên cạnh đó, việc phát triển nông nghiệp đô thị là chìa khóa mở ra con đường phát triển bền vững thực chất cho các đô thị sinh thái trong tương lai …là yếu tố chính thúc đẩy mô hình nông nghiệp đô thị phát triển” Từ

Trang 21

16

những thực tế trên có thể khẳng định rằng: phát triển nông nghiệp đô thị, nhất là nông nghiệp ven đô có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn

đề khó khăn của các đô thị trong quá trình đô thị hóa

Nông nghiệp ven đô có thể tận dụng một phần nguồn chất thải đô thị phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch, an toàn và hiệu quả Điều này thật

sự có ý nghĩa trong việc cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống Phần lớn đất đai ở đô thị kém phì nhiêu, bị nhiễm bẩn do các hóa chất công nghiệp, do bị ảnh hưởng bởi hoạt động xây dựng…Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nông nghiệp ven đô là tái tạo chất dinh dưỡng cho đất thông qua tái sử dụng các chất thải hữu cơ từ các hoạt động của đô thị Điều này vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường cho đô thị vừa giảm các hóa chất khi đưa phân bón hóa học vào đất dễ gây ô nhiễm thêm lại vừa giảm được chi phí mua phân bón Nông nghiệp ven đô được sản xuất tại chỗ ven đô thị nên sau thu hoạch, chi phí đóng gói, vận chuyển và bảo quản bằng kho lạnh được bỏ qua nên góp phần giảm giá thành đến mức tối đa Chất lượng các sản phẩm được đảm bảo an toàn đồng thời góp phần giảm lượng xe

cộ trọng tải lớn vào ra các đô thị, giảm tai nạn và ô nhiễm đáng kể cho khu vực đô thị Mục tiêu hướng tới là quy hoạch và xây dựng các đô thị có môi trường và cảnh quan thân thiện với thiên nhiên, đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho sức khỏe cộng đồng Đối với mục tiêu này trong tiến trình đô thị hóa và phát triển của đô thị, phát triển nông nghiệp ven đô thực sự là một giải pháp hiệu quả nhất

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp ven đô

Ngoài những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp nói chung, nông nghiệp ven đô còn chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác như: nhân tố về tự nhiên của vùng; nhân tố đô thị hóa & quy hoạch phát triển vùng; nhân tố khoa học công nghệ; nhân tố về thị trường và khả năng hợp tác của địa phương; nhân tố về vốn

* Nhân tố tự nhiên, hệ sinh thái vùng

Mỗi vùng đều có những đặc trưng về điều kiện tự nhiên riêng biệt (lượng mưa, nguồn nước, đất đai, khí hậu ) Với mỗi một hệ tự nhiên riêng, qua sự hình thành và phát triển sẽ tạo nên một hệ thống cân bằng giữa “các yếu tố sống” và môi

Trang 22

17

trường tự nhiên đó - đây là hệ sinh thái đặc trưng của vùng Nông nghiệp ven đô gắn với sự đa dạng sinh học và bảo vệ hệ tự nhiên của vùng Như vậy, hệ sinh thái của vùng là cơ sở để phát triển, chuyển dịch nền nông nghiệp của vùng sang nền nông nghiệp ven đô

Sự đô thị hóa ảnh hưởng tới các điều kiện sinh thái của vùng, làm phá vỡ sự cân bằng sinh thái tổng thể vốn có Vì vậy, nông nghiệp ven đô phải được phát triển dựa trên cơ sở kế thừa hệ sinh thái của vùng cùng với sự thay đổi, thích nghi phù hợp với yêu cầu của đô thị hóa Hay sự thay đổi về cả không gian, hình thức hoạt động, sản xuất nhưng vẫn phải bảo tồn nét tự nhiên của hệ sinh thái

* Sự đô thị hóa và quy hoạch phát triển

Quy hoạch phát triển tổng thể ổn định có thể khái quát được bộ mặt phát

triển của vùng trong tương lai, đây là trạng thái của đô thị mới Trạng thái đô thị hóa bước đầu làm phá vỡ sự cân bằng sinh thái hiện có của vùng Tốc độ đô thị hóa nhanh kéo theo vị trí và quy mô đất nông nghiệp thay đổi tương ứng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Các nguồn lực, điều kiện sinh thái được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau làm phá vỡ môi trường sinh thái, diện tích cây xanh được thay bằng các nhà máy xí nghiệp, kỹ thuật canh tác cũ được thay bằng công nghệ mới Với sự biến đổi đó, hệ sinh thái của vùng không thể tồn tại và phát triển như trước được, những đặc trưng sinh học ngày càng mất đi cả về số lượng và chất lượng Đứng trước khó khăn đó, nông nghiệp ven đô phải lưu giữ lại những đặc trưng sinh học của vùng, bảo tồn mô hình sinh thái của vùng Nông nghiệp ven đô chú trọng tới các mô hình sinh thái nhỏ: Nhà vườn, ao cá, nhà - đầm với các yếu

tố đặc trưng của vùng Và sản phẩm nông nghiệp ven đô không thuần túy là vật phẩm mà là những nông sản - dịch vụ phi vật chất, là sự phục vụ cho lợi ích xã hội, phát triển chung của đô thị

* Nguồn lực kinh tế bao gồm: Nhân lực, vốn, khoa học công nghệ

Sự phát triển của khoa học và công nghệ là một trong các nhân tố chủ yếu để phát triển nông nghiệp ven đô Sự phát triển của khoa học và công nghệ làm thay đổi các công cụ sản xuất, phương thức lao động, nguyên tắc và phương pháp sản

Trang 23

18

xuất, cho phép giảm tác hại môi trường Tạo ra những giống mới, ngành nghề mới

và những mô hình sản xuất mới Hình thành những mô hình nông nghiệp kết hợp, cho phép bảo vệ và tái tạo nguồn lực, tạo cảnh quan môi trường Như vậy, sự phát triển của khoa học - công nghệ đã tạo những điều kiện tiền đề và thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp ven đô Sự đô thị hóa hình thành nên các khu công nghệ, nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch nông nghiệp công nghệ thấp sang nông nghiệp công nghệ cao

Vốn đầu tư trong nông nghiệp là yếu tố quyết định để phát huy tiềm năng về đất đai, sức lao động và nguồn lực tự nhiên khác Nhằm cải tiến nông nghiệp từng bước theo kịp các ngành khác, các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư cho nông nghiệp còn giải quyết được các vấn đề xã hội nan giải (xóa đói giảm nghèo, thực hiện các chính sách xã hội) Nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp là rất lớn, ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực đa dạng hóa trong nông nghiệp, đảm bảo chuyển dịch thành công cơ cấu kinh tế

* Thị trường & khả năng hợp tác của địa phương

Trong xu thế đô thị hóa, thị trường được mở rộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, đã làm cho nền nông nghiệp ven đô trở nên năng động hơn Để cạnh tranh tốt thì ngành nông nghiệp ven đô của vùng phải tạo ra được sản phẩm, chủng loại ngày càng đa dạng, chất lượng ngày càng cao và đặc biệt phải thường xuyên đổi mới sản phẩm, cách thức tiêu dùng sao cho phù hợp Nông nghiệp ven đô phát triển ở trình độ cao lấy hệ sinh thái làm cơ sở để phát triển, sản phẩm hàng hóa không chỉ là những sản phẩm vật chất mà còn bao gồm cả những sản phẩm phi vật chất Khu đô thị mới dần hình thành thì người dân càng có nhu cầu cao về lương thực, thực phẩm Đặc biệt, với mức sống được nâng cao nhu cầu đó còn gắn với sự thỏa mãn về tinh thần, do vậy phát triển nông nghiệp ven đô là hết sức cần thiết trong sự đô thị hóa khu vực, để từ đó đáp ứng được nhu cầu nội tại phát sinh của khu vực đô thị mới

Mặt khác, giao lưu thương mại thuận lợi, khả năng hợp tác thị trường của khu vực thuận lợi thì nhu cầu tại các địa phương lân cận cũng càng cao Do đó, càng cần thiết phải phát triển nông nghiệp ven đô, vừa để đáp ứng nhu cầu của các địa

Trang 24

19

phương lân cận, vừa xây dựng, hoàn thiện và chuyển đổi mô hình sinh thái cho các địa phương lân cận

1.2 Huy động vốn phát triển nông nghiệp ven đô

1.2.1 Vốn và cơ cấu đầu tư cho phát triển nông nghiệp ven đô

1.2.1.1 Vốn cho phát triển nông nghiệp

Vốn là điều kiện cần thiết, không thể thiếu nhưng lại là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của mọi ngành nghề, lĩnh vực Đối với lĩnh vực nông nghiệp vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất sang phạm vi lưu thông và trở về sản xuất Vốn trong nông nghiệp nói chung và nông nghiệp ven đô nói riêng là biểu hiện của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Để phát triển nền nông nghiệp bền vững, nhằm đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, tăng nông sản xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hóa nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính chất quyết định là vốn

Vốn sản xuất được chia làm hai loại:

Vốn cố định: Là vốn ứng trước để mua sắm tư liệu lao động chủ yếu hoạt động

trong lĩnh vực nông nghiệp, phương thức luân chuyển bù đắp giá trị của nó là chuyển dần từng phần giá trị vào sản phẩm mới đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định kết thúc quá trình luân chuyển Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần thiết phải ứng trước một số tiền vốn nhất định để mua sắm tư liệu lao động (vốn cố định) Trong quá trình sản xuất tư liệu lao động không thay đổi hình thái vật chất ban đầu và tham gia nhiều vào chu kỳ sản xuất sản phẩm mới theo mức độ hao mòn Vốn đầu tư ban đầu thu hồi từng phần sau mỗi chu

kỳ sản xuất thông qua quỹ khấu hao tài sản cố định hết quyền sử dụng sẽ được thanh lý, thay thế

Vốn lưu động: Là vốn bằng tiền ứng trước để dự trữ cho sản xuất mua sắm vật rẻ

tiền mau hỏng và hình thành vốn lưu thông đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá diễn ra một cách bình thường Như vậy vốn lưu động chuyển từ trạng thái sản xuất (dự trữ sản xuất) sang phạm vi lưu thông (thành phẩm, tiền thu được

Trang 25

20

do tiêu thụ sản phẩm) sau đó lại quay về phạm vi sản xuất (dự trữ mới cho sản xuất) Theo phương thức đó toàn bộ vốn lưu động được sử dụng trong mỗi chu kỳ sản xuất cụ thể và thay đổi hình thức vật chất của mình

1.2.1.2 Cơ cấu đầu tư vốn

Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp ven đô là một yêu cầu khách quan Các nguồn vốn phát triển nông nghiệp ven đô sẽ được đầu tư trực tiếp, gián tiếp thông qua nhiều hình thức đầu tư, cụ thể:

Một là, Đầu tư cho cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn bao gồm: đầu tư cho thủy lợi, hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, hệ thống thông tin liên lạc, kho tàng, bến bãi, chợ, hệ thống cung cấp nước sạch…

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là đầu tư có tác động kép, nó không chỉ là động lực chuyển đối cơ cấu nông thôn mà còn kéo theo sự thu hút đầu tư vào khu vực nông nghiệp ven đô Cơ sở hạ tầng càng hoàn thiện thì quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh

tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp ven đô càng có điều kiện mở rộng và nâng cao hiệu quả vì nó không chỉ đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, giảm giá thành mà còn giảm rủi ro đầu tư Thực tế cho thấy những địa phương nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém thì khó thu hút đầu tư và khả năng cải tạo cơ sở hạ tầng càng hạn chế tạo nên một vòng lẩn quẩn là vùng nào cơ sở hạ tầng càng yếu kém thì càng tụt hậu tạo sự phát triển không đồng đều

Đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn là rất quan trọng nhưng cần nguồn vốn lớn Tùy theo khả năng của ngân sách nhà nước, nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc nhà nước và nhân dân cùng làm để xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất nông nghiệp ven đô Trong quá trình thực hiện cần kiểm tra, giám sát và có những biện pháp quản lý tốt để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư

Hai là, Đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp

Trang 26

21

Sản xuất nông nghiệp ven đô bao gồm hai bộ phận chính là trồng trọt và chăn nuôi Vì vậy, đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp ven đô là phải đồng thời đầu tư vào hai lĩnh vực này

Để sản xuất nông nghiệp ven đô phát triển cần phải quan tâm tới đầu vào của sản xuất nông nghiệp bao gồm: giống, đất đai, phân bón… muốn vậy, phải lựa chọn giống vật nuôi, cây trồng có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thích nghi với các điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu…Đối với ngành trồng trọt, giống chỉ là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng, ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như đất, nước, điều kiện tự nhiên Vì vậy đầu tư cho trồng trọt phải đầu tư cải tạo đất tốt, đầu tư nghiên cứu giống tốt, xây dựng hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, đầu tư mua phân bón, thuốc trừ sâu…

Trong lĩnh vực chăn nuôi để phát triển được cần đầu tư mua giống tốt, xây dựng các cơ sở vật chất cần thiết, có chế độ ăn phù hợp…Tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đầu vào, coi trọng sản xuất mà xem nhẹ đầu ra thì sản phẩm sản xuất sẽ tiêu thụ khó khăn, sản xuất chậm phát triển vì vậy một trong những biện pháp thúc đẩy sản xuất phát triển là quan tâm đến đầu ra của sản phẩm, đến thị trường tiêu thụ của sản phẩm đó

Một trong những hình thức này là đầu tư qua giá mua vật tư và giá bán nông sản của các hộ sản xuất Các hộ sản xuất được mua vật tư, xăng dầu phục vụ sản xuất với giá ổn định và thấp, được bán giá nông sản hàng hóa và sản phẩm ngành nghề dịch vụ ở nông thôn với giá cao và ổn định Nhà nước bù lỗ phần chênh lệch giữa giá thị trường với giá thu mua hoặc giá bán của nhà nước cho hộ sản xuất

Đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ các nông sản và hàng hóa sản xuất tại nông thôn bao gồm: xây dựng hệ thống chợ nông thôn, tổ chức mạng lưới thu mua nông sản từ các hộ sản xuất, xây dựng hệ thống kho tàng dự trữ, bảo quản nông sản phẩm, quảng cáo và tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước

Thị trường là đầu ra nên càng thông thoáng thì sản xuất càng có điều kiện phát triển nhanh ở một số vùng thường ít quan tâm đến vấn đề thị trường nên nông nghiệp ven đô vẫn phát triển trong thế không ổn định, tốc độ phát triển thấp

Ba là, Đầu tư nghiên cứu và triển khai kỹ thuật vào sản xuất

Trang 27

Một số phương pháp có thể kể đến để triển khai kỹ thuật vào sản xuất như: Thủy lợi hóa nông nghiệp, cơ giới hóa nông nghiệp, điện khí hóa nông nghiệp, nông thôn, hóa học hóa nông nghiệp, sinh học hóa nông nghiệp

Thứ nhất, Thủy lợi hóa nông nghiệp là tiến bộ khoa học công nghệ liên quan

đến vấn đề nước của sản xuất nông nghiệp ven đô và đời sống nông thôn Đầu tư xây dựng các công trình thủy nông theo các hướng chủ yếu là đầu tư xây dựng phát triển các hệ thống thủy nông mới, đầu tư khôi phục sửa chữa lớn các hệ thống thủy nông đang vận hành, trợ giá dịch vụ thủy nông trong trường hợp thiên tai, …

Thứ hai, Cơ giới hóa nông nghiệp là thay thế động lực truyền thống bằng

động lực của máy móc, thay thế phương pháp sản xuất thủ công bằng phương pháp sản xuất với kỹ thuật cao Để đầu tư cần phải mua máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất Tuy nhiên, do đặc điểm sản xuất nông nghiệp ven đô chủ yếu là lao động thủ công nên cần đầu tư đào tạo lực lượng sản xuất nông nghiệp để họ có khả năng sử dụng máy móc thiết bị, công nghệ trong sản xuất

Thứ ba, Điện khí hóa nông nghiệp là tiến bộ khoa học công nghệ trong việc

sử dụng nguồn điện năng vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp Xây dựng mạng lưới điện nông thôn để phục vụ sản xuất

Trang 28

23

Thứ tư, Hóa học hóa nông nghiệp là áp dụng những thành tựu của ngành

công nghiệp hóa chất phục vụ cho nông nghiệp bao gồm việc sử dụng các phương tiện hóa học vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống nông thôn Nội dung là sự bổ sung, tăng cường cung cấp thức ăn cho cây trồng vật nuôi bằng việc

sử dụng các loại phân bón hóa học, thức ăn gia súc có bổ sung các nguyên tố vi lượng, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, …

Thứ sáu, Sinh học hóa nông nghiệp là quá trình nghiên cứu và áp dụng

những thành tựu về khoa học sinh vật và khoa học sinh thái vào nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái Như vậy cần nghiên cứu, phát hiện và nắm chắc các quy luật phát sinh và phát triển của cá thể và quần thể để nghiên cứu lai tạo ra các giống vật nuôi cây trồng phù hợp với quy luật

và điều kiện tự nhiên của vùng Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ, chuyên gia cho lĩnh vực nông nghiệp với đủ ngành nghề, từ quản lý tới kỹ thuật, sẽ tạo ra hành lang thu hút các nguồn đầu tư khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp

Thứ bảy, Các hình thức đầu tư khác là đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp chế

biến sản phẩm của nông nghiệp, hỗ trợ quá trình tiêu thụ sản phẩm đầu ra của nông nghiệp – đây là hình thức đầu tư gián tiếp vào nông nghiệp Trợ giúp đầu tư vốn của nhà nước để phát triển nông nghiệp được thực hiện qua chính sách thuế sử dụng đất

và thuế doanh thu

1.2.1.3 Đặc điểm chung nguồn vốn cho nông nghiệp ven đô

Để đầu tư vốn cho nông nghiệp ven đô mang lại hiệu quả kinh tế cao cần hiểu rõ đặc điểm của đầu tư vốn Đặc điểm đầu tư vốn cho nông nghiệp ven đô trước hết biểu hiện ở đặc điểm hoạt động của vốn Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp ven đô, vốn đầu tư trong nông nghiệp ven đô có một số đặc điểm sau:

Một là, Khối lượng vốn đầu tư cho nông nghiệp lớn, quay vòng chậm và hàm

chưa nhiều rủi ro lớn

Hai là, Trong cấu thành vốn cố định ngoài những tư liệu lao động có nguồn

gốc kỹ thuật còn bao gồm cả tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học như: cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản…

Trang 29

24

Ba là, Sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanh

của nó không phải bằng cách trực tiếp mà thông qua đất, cây trồng, vật nuôi Cơ cấu

và chất lượng của vốn sản xuất phải phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng sản xuất là sinh vật

Bốn là, Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp làm cho sự

tuần hoàn và luân chuyển chậm chạp kéo dài thời gian thu hồi vốn cố định tạo ra sự cần thiết phải dự trữ trong thời gian tương đối dài của vốn lưu động và làm cho vốn

ứ đọng

1.2.2 Các kênh huy động vốn cho phát triển nông nghiệp ven đô

Trước hết, vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất, đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu quả của các hoạt động kinh tế,

nó bao gồm những nguồn vật tư và tài sản trong các doanh nghiệp, nguồn tiền mặt hay các tài sản dự trữ khác trong dân Vì vậy, chính sách tạo vốn cơ bản phải tuân thủ nguyên tắc lợi ích của người có vốn Mục tiêu của chính sách tạo vốn trước hết

và chủ yếu là tạo ra môi trường kinh tế và tiền đề pháp lý để biến mọi nguồn tiền tệ thành tư bản sinh lợi và tăng trưởng trong quá trình tái sản xuất xã hội Các nguồn chủ yếu bao gồm: vốn đầu tư của nhà nước, vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền và tiền nhàn rỗi của dân cư và vốn của các doanh nghiệp và tổ chức tài chính quốc tế

Trong giai đoạn hiện nay, vốn là yếu tố vật chất quan trọng nhất cho phát triển Đây là một nhu cầu lớn cần phải giải quyết để khai thác nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trong nước Vốn ngân sách nhà nước ngày càng tăng, đây là sự cải cách một cách toàn diện chính sách thuế và thu được nhiều cho ngân sách nhà nước Vốn huy động từ các nguồn khác cũng có xu hướng tăng do chính sách khuyến khích đầu tư, tạo dựng được môi trường đầu tư cho mọi thành phần kinh tế

Đầu tư phát triển phải đạt được tính bền vững, tự bản thân nó phải có dự trữ cho tăng trưởng trong tương lai, nhằm sử dụng tài nguyên một cách hợp lý để không ngừng khai thác lợi thế so sánh Sử dụng nguồn vốn phải có hiệu quả để tái tạo và phát triển các nguồn vốn, tạo tiền đề cho việc huy động vốn ở các giai đoạn tiếp theo

Trang 30

25

Có hai kênh huy động vốn cho phát triển nông nghiệp nói chung, huy động vốn cho phát triển nông nghiệp ven đô nói riêng, đó là: kênh huy động vốn trong nước và kênh huy động vốn nước ngoài Kênh huy động vốn trong nước bao gồm: huy động vốn từ NSNN, huy động vốn trong dân cư, huy động vốn thông qua hệ

thống tài chính; Kênh huy động vốn nước ngoài bao gồm: thu hút vốn đầu tư trực

tiếp và vốn đầu tư gián tiếp, đặc biệt nguồn vốn hỗ trợ, phát triển chính thức của cácnước và các tổ chức quốc tế

1.2.2.1 Kênh huy động vốn trong nước

*Huy động vốn từ NSNN

Vấn đề đầu tư cho nông nghiệp ven đô nói chung luôn được Nhà nước quan tâm Trước hết cần khẳng định vốn đầu tư cho nông nghiệp ven đô từ ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp Vốn nhà nước đầu tư cho nông nghiệp ven đô có vai trò to lớn, giúp tăng cường năng lực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ven đô Mặt khác, do đặc điểm của đầu tư trong nông nghiệp ven đô là thu hồi vốn chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn, rủi ro cao nên chưa thu hút được các nhà đầu tư khác trong lĩnh vực này Vốn ngân sách đóng vai trò tiên phong, mở đường để thu hút các nguồn vốn khác thông qua các hình thức: tạo cơ sở hạ tầng tốt, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp đồng thời tạo cho các nhà đầu tư có cảm giác yên tâm hơn khi đầu tư vào nông nghiệp ven đô khi có sự tham gia của Nhà nước Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chủ yếu cho thủy lợi, cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ven đô, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm

*Vốn huy động trong dân cƣ

Cùng với vốn đầu tư của ngân sách nhà nước, vốn đầu tư của các hộ nông dân cũng góp phần quan trọng trong phát triển nông nghiệp Nguồn vốn này được đầu tư để phát triển sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, mua phân bón, giống mới v.v Hiện nay vốn đầu tư của các hộ nông dân được tập trung vào mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa theo mô hình trang trại với

số lượng đầu tư tương đối lớn Tiềm năng của nguồn vốn này rất to lớn bởi vì nó

Trang 31

26

phụ thuộc lớn vào thu nhập của các hộ nông dân Khi năng lực sản xuất tăng, năng suất lao động tăng thì thu nhập của hộ nông dân cũng tăng Thu nhập của các hộ nông dân một phần phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, một phần tích lũy Mặt khác, đầu tư của các hộ nông dân phụ thuộc phần lớn vào tiết kiệm của họ nên khi năng lực sản xuất tăng thì đầu tư của các hộ nông dân cũng tăng lên

*Vốn huy động thông qua hệ thống tài chính – ngân hàng

Gồm hai loại chính là vốn hỗ trợ của Nhà nước thông qua các ngân hàng (vay ưu đãi) và vốn tự huy động qua hệ thống ngân hàng

Thứ nhất là vốn hỗ trợ (cho vay ưu đãi) của Nhà nước thông qua hệ thống ngân hàng: Ngoài vốn ngân sách, nhà nước còn đầu tư cho nông nghiệp qua hệ

thống ngân hàng theo phương thức cho vay không lãi hoặc lãi suất ưu đãi để bù giá vật tư nông nghiệp, giá bán nông sản hàng hóa cho nông dân Các ngân hàng trên cho các hộ nông dân vay với lãi suất ưu đãi để phát triển sản xuất nông nghiệp, mua phân bón, mua giống, mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, phục vụ cơ sở hạ tầng nông thôn Ngoài ra, các ngân hàng này còn cho các doanh nghiệp vay để mua nông sản của các hộ nông dân với giá trần hợp lý, bù đắp một phần thua thiệt của họ khi giá nông sản trên thị trường xuống quá thấp Các ngân hàng thương mại cho vay với lãi suất ưu đãi trong các lĩnh vực trọng điểm hay các lĩnh vực được nhà nước khuyến khích tùy theo chính sách từng thời kỳ Chênh lệch giữa lãi suất ưu đãi và lãi suất thông thường của ngân hàng thương mại được ngân hàng nhà nước cấp bù –

đó là vốn có nguồn gốc từ ngân sách Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn

Thứ hai là vốn huy động qua hệ thống ngân hàng: việc tiếp cận sử dụng

nguồn vốn này đối với lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ven đô thường không dễ dàng

Thứ ba, huy động vốn qua Quỹ tín dụng nhân dân: Với lợi thế sát dân, hiểu rõ

nhu cầu, khả năng kinh doanh, khả năng tài chính của từng hộ vay nên việc cho vay của các QTDND kịp thời, nhanh gọn và đảm bảo an toàn, hiệu quả Hệ thống QTDND

đã chính thức tham gia đồng thuận thực hiện mặt bằng lãi suất huy động vốn, góp phần

Trang 32

27

cùng các ngân hàng thương mại duy trì sự ổn định thị trường tiền tệ, tín dụng trên địa bàn Các QTDND đã trở thành người bạn tin cậy của nông dân, là kênh cung ứng các khoản tín dụng nhỏ có hiệu quả để phát triển sản xuất, kinh doanh

Hình 1.1 – Tỷ lệ dƣ nợ tín dụng năm 2011 theo phân ngành kinh tế 2007

Hình 1.1 cho thấy: ở Việt Nam tỷ lệ dư nợ tín dụng ngân hàng dành cho lĩnh vực nông nghiệp còn rất hạn chế, chỉ chiếm chưa đến 7% tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng (bao gồm cả dư nợ tín dụng có chính sách ưu đãi của Nhà nước) trong khi lĩnh vực nông nghiệp đang đóng góp một phần rất lớn vào GDP hàng năm của Việt Nam

1.2.2.2 Kênh huy động vốn nước ngoài

Đối với các nước đang phát triển, để phát triển kinh tế, thoát khỏi cảnh đói nghèo thì vấn đề nan giải từ đầu là thiếu vốn gay gắt dẫn tới thiếu nhiều điều kiện khác như: cơ sở hạ tầng, công nghệ… Nông nghiệp cũng là ngành nằm trong xu thế

đó Để phát triển một ngành nông nghiệp bền vững (bao gồm cả nông nghiệp ven đô) thì nhất thiết phải đầu tư cho nông nghiệp Tuy nhiên Việt Nam là một quốc gia còn nghèo do đó vốn đầu tư trong nước còn rất hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư phát triển đất nước Vì vậy, trên con đường phát triển không thể không huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tranh thủ nguồn vốn này để phát triển trong điều kiện nền kinh tế mở

Trang 33

28

Nguồn vốn FDI chủ yếu tập trung vào trồng và chế biến cao su, cà phê, chè, mía, đường, chăn nuôi gia súc gia cầm theo phương pháp công nghiệp với mục đích nâng cao năng lực sản xuất và chế biến nông, lâm, thủy sản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường quốc tế Nguồn này có ý nghĩa quan trọng, nhờ công nghệ tiên tiến tạo ra nhiều sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, hiệu quả kinh tế cao

Bảng 1.1 - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo ngành

Đơn vị: triệu USD

Trang 34

29

Số liệu bảng 1.1 cho thấy tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đối với lĩnh vực nông nghiệp còn rất hạn chế Vốn FDI cho nông nghiệp năm 2011 chỉ chiếm 0,54% tổng vốn FDI, năm 2012 chỉ chiếm 0,44% tổng vốn FDI; số lượng các dự án có vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp cũng rất thấp, hàng năm chỉ khoảng dưới 20 dự án toàn quốc

Ngoài nguồn vốn FDI còn có các nguồn vốn vay, viện trợ, hợp tác khoa học

kỹ thuật của các quốc gia phát triển và tổ chức kinh tế như UNDP (Chương trình phát triển Liên hợp quốc), PAM (Chương trình lương thực thế giới), FAO (Tổ chức lương thực & Nông nghiệp Liên Hợp quốc), ADB (Ngân hàng phát triển Châu Á),

WB (Ngân hàng Thế giới), IMF (Qũy tiền tệ quốc tế)…đầu tư vào nông nghiệp và phát triển nông thôn Nguồn này tập trung chủ yếu vào nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn, nước sạch, vệ sinh môi trường, sức khỏe cộng đồng đặc biệt là sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Lợi thế của nguồn vốn này là lãi suất thấp (từ 0 – 2%), thời gian trả nợ dài (30 – 40 năm)

Nguồn vốn này đã góp phần hỗ trợ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết phần nào nhu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế đất nước tuy nhiên quy

mô đối với lĩnh vực nông nghiệp còn rất nhỏ Đối với nông nghiệp ven đô, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ thì việc tiếp cận nguồn vốn nước ngoài còn rất khó khăn, hạn chế

1.3 Huy động vốn phát triển nông nghiệp ven đô của một số địa phương và bài học kinh nghiệm

Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường đã khơi dậy được tiềm năng kinh tế của các hộ nông dân ngoại thành ven

đô Hà Nội Tiềm năng kinh tế của hộ được phản ánh thông qua việc huy động tổng hợp các nguồn lực: đất đai, lao động, nhất là tiền vốn vào phát triển sản xuất nông nghiệp ven đô Trong số các quận, huyện ngoại thành của TP Hà Nội: huyện Thanh Trì & huyện Đông Anh là hai huyện có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển nông nghiệp ven đô

Trang 35

30

1.3.1 Huy động vốn ở huyện Thanh Trì, Đông Anh

Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp huyện Thanh Trì

Huyện Thanh Trì là một huyện ven đô nằm ở cửa ngõ phía Nam Thủ Đô, với diện tích tự nhiên 6.292,7ha, dân số trên 200.000 người gồm 15 xã và 01 thị trấn Phía Bắc giáp với Quận Hoàng Mai, phía Nam giáp huyện Thường Tín, phía Tây bắc giáp Quận Thanh Xuân, phía đông là sông Hồng, giáp với huyện Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên Huyện Thanh Trì là đầu mối giao thông quan trọng của Thủ đô, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Nam

Với vị trí như vậy, huyện Thanh Trì có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh

tế - xã hội, nông nghiệp ven đô của huyện cũng sẽ phát triển gắn với các ngành, lĩnh vực mũi nhọn nhằm đạt tới tối đa hiệu quả nguồn lực Huyện Thanh Trì đã và đang tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa, mang lại thu nhập cao cho người nông dân Trong lĩnh vực nông nghiệp, huyện Thanh Trì chủ yếu tập trung phát triển NTTS, trồng RAT, cây ăn quả chất lượng cao và cây cảnh Tuy nhiên, khó khăn của Thanh Trì khi phát triển nông nghiệp là thiếu vốn, thiếu nước và vấn đề dồn điền đổi thửa khó khăn

Hiện nay, diện tích trồng rau của Huyện Thanh Trì có hơn 1 nghìn hécta, chiếm 1/3 diện tích đất nông nghiệp của huyện, tập trung ở các xã Yên Mỹ, Duyên

Hà, Vạn Kim, Thanh Liệt, Hữu Hòa, Tam Hiệp, Liên Ninh, Vĩnh Quỳnh, Tứ Hiệp huyện và các xã chú trọng vào quy hoạch xây dựng các vùng rau an toàn (RAT) quy

mô lớn, tạo ra tiềm năng phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa Từ năm

2005, huyện Thanh Trì đã xây dựng mô hình sản xuất RAT gắn với thương hiệu quản lý chất lượng bằng mã vạch trên diện tích 7ha tại xã Yên Mỹ, cho hiệu quả cao Năm 2010, huyện Thanh Trì nhân rộng mô hình sản xuất RAT có thương hiệu, quản lý bằng mã vạch với diện tích 200ha Bên cạnh việc phát triển các mô hình trồng RAT bảo đảm chất lượng, Huyện ủy, UBND huyện chỉ đạo các xã ở vùng trũng chuyển đổi diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS Hiện nay, huyện có hơn 800ha mặt nước NTTS tập trung ở các xã Đông Mỹ, Đại Áng, Tả Thanh Oai,

Tứ Hiệp Các mô hình NTTS đều cho hiệu quả cao, thu nhập gấp 4-5 lần so với cấy

Trang 36

31

lúa, đặc biệt sản phẩm thủy sản ở Đông Mỹ đã được đăng ký thương hiệu thủy sản

an toàn đầu tiên ở Hà Nội, tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm

Từ giữa năm 2009, các hộ gia đình ở Thanh Trì bắt đầu làm trang trại VAC, ngoài bình quân 150 triệu đồng vốn tự có, các hộ gia đình phải vay các nguồn vốn bên ngoài 200 triệu đồng với lãi suất cao để đầu tư cho thức ăn chăn nuôi và phòng dịch Vì vậy, dù làm ăn có hiệu quả nhưng lợi nhuận thực tế thu về của trang trại lại rất thấp do phải trả lãi cao Ở Thanh Trì có hàng chục hộ phát triển mô hình trang trại, mỗi năm cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/ha, nhưng không thể mở rộng sản xuất do thiếu vốn Để mở rộng sản xuất đúng với mô hình trang trại quy mô lớn thì

số vốn lãi hàng năm không đảm bảo đầu tư lại, mở rộng Các hộ gia đình cần vay thêm trung bình khoảng 500 triệu đồng đầu tư nhưng cũng đang rất khó khăn Hiện tại huyện đã quy hoạch 36ha đất cho 20 hộ phát triển kinh tế trang trại nhưng cái khó là nguồn vốn của người nông dân có hạn, chỉ đầu tư "nhỏ giọt" Thực tế, nhiều

hộ gia đình mới bắt tay vào sản xuất, vốn tự có rất eo hẹp nên đầu tư xong cơ sở hạ tầng, chuồng trại thì hết tiền mua cây, con giống

Trong thời gian tới, huyện Thanh Trì tiếp tục tập trung chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển kinh tế trang trại, thúc đẩy phát triển sản phẩm nông nghiệp, mũi nhọn là thủy sản, rau an toàn theo hướng sản xuất hàng hóa đảm bảo môi trường, tăng giá trị hiệu quả trên một đơn vị diện tích đất canh tác, đẩy mạnh phát triển các làng nghề, chợ nông thôn, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Như vậy

có thể thấy được nhu cầu vốn cho nông nghiệp của huyện Thanh Trì sẽ rất lớn do các lĩnh vực huyện tập trung hướng đến như thủy sản, trang trại sau an toàn là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn Trong công tác huy động vốn, năm 2011 huyện Thanh Trì đã huy động các nguồn lực ngoài vốn ngân sách được 242 doanh nghiệp tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới với số tiền gần

11 tỷ đồng Vận động nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới bằng cách hiến đất mở đường điển hình như xã Ngũ Hiệp, Vạn Phúc, Liên Ninh, nhân dân đã hiến 1.136m2 đất để mở đường, đóng góp tiền xây dựng các di tích lịch sử, các công

Trang 37

32

trình công cộng được hơn 27 tỷ đồng (xã Thanh Liệt, Đông Mỹ nhân dân đóng góp 2,3 tỷ đồng trùng tu đình, chùa ) Điển hình là trường hợp mô hình kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản của gia đình ông Nguyễn Duy Hưởng, thôn 3 xã Đông Mỹ, khi có chủ trương khuyến khích các hộ dân chuyển đổi diện tích trũng, cấy lúa kém hiệu quả sang phát triển mô hình kinh tế trang trại tập trung, với sự hỗ trợ vay vốn

để phát triển sản xuất Nắm bắt cơ hội này, gia đình ông đã mạnh dạn vay vốn từ Ngân hàng đầu tư thuê thêm 2,8 ha xây dựng trang trại đầu tư nuôi tôm càng xanh, bình quân hàng năm doanh thu trên 1 tỷ đồng, trừ chi phí lợi nhuận khoảng 200 triệu đồng

Nguồn vốn để phát triển nông nghiệp ven đô tại huyện hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn NSNN và vốn tự có của người dân, việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ngân hàng thương mại là rất khó khăn do các lĩnh vực nông nghiệp huyện Thanh Trì hướng tới đều là những lĩnh vực mang lại hiệu quả kinh tế cao tuy nhiên còn tiềm ẩn nhiều rủi ro Nhiều ý kiến cho rằng việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng gặp nhiều khó khăn một phần do việc cho vay còn quá nhiều thủ tục, trình tự Mặt khác, sản xuất nông nghiệp thường gặp rủi ro vì thiên tai, dịch bệnh, giá cả ảnh hưởng đến việc thu hồi vốn nên các ngân hàng ngại cho nông dân vay vốn Hiện tại, phát triển kinh tế trang trại đang cần sự cởi mở hơn từ phía các ngân hàng trong việc cho nông dân vay vốn Theo đó, thủ tục cho vay vốn cần được rút ngắn, thời gian cho vay phù hợp với đặc điểm chu kỳ sản xuất, kinh doanh, với từng loại hình kinh tế (trung hạn, dài hạn) mới đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế trang trại, phát triển nông nghiệp ngoại thành

Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp huyện Đông Anh

Huyện Đông Anh là một trong năm huyện ngoại thành của Thủ đô, nằm ở phía Đông Bắc TP Hà Nội Hệ thống sông Hồng và sông Đuống là ranh giới hành chính của Huyện với nội thành, diện tích tự nhiên 18.230ha huyện Đông Anh là huyện lớn thứ 2 của Hà Nội sau huyện Sóc Sơn Về địa giới hành chính: phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn, phía Đông – Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông Nam giáp huyện Gia Lâm, phía Nam giáp sông Hồng & phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 38

33

Ngoài sông Hồng và sông Đuống ở phía Nam của huyện, phía Bắc còn có sông Cà Lồ Trên địa bàn huyện có hai tuyến đường sắt chạy qua: tuyến Hà Nội - Thái Nguyên và tuyến Hà Nội - Yên Bái Cảng hàng không quốc tế Nội Bài được nối với nội thành Hà Nội bằng đường quốc lộ 3 và đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài, đoạn chạy qua huyện Đông Anh dài 7,5 km Có thể thấy, Đông Anh là huyện

có lợi thế lớn về giao thông Đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu giữa Hà Nội với các tỉnh Đông Bắc và là cửa ngõ giao lưu quốc tế của đất nước Đây cũng là tiền đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện

Huyện Đông Anh có cùng chung chế độ khí hậu của thành phố Hà Nội, đó là khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa hạ, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông, thời kỳ đầu khô - lạnh, nhưng cuối mùa lại mưa phùn, ẩm ướt Nhìn chung, thời tiết huyện Đông Anh thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng: lương thực, hoa, rau màu, cây ăn quả Nhưng các đợt dông, bão của mùa hè và gió mùa đông bắc của mùa đông cũng gây những trở ngại nhất định cho hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân

Tổng diện tích đất tự nhiên của Đông Anh là 18.230 ha, bao gồm cả một phần diện tích sông Hồng, sông Đuống và vùng đất bãi ven sông Đất vùng ven sông nhiều phù sa, được bồi đắp màu mỡ, đất nội đồng độ phì nhiêu kém, 70% là đất bạc màu Phân bố sử dụng đất trong toàn huyện Đông Anh được thể hiện qua bảng sau:

Dựa vào bảng 1.2 sau, có thể thấy được diện tích đất nông nghiệp của Đông Anh rất lớn, chiếm hơn 50% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm chủ yếu Với điều kiện tự nhiên về đất đai và khí hậu thuận lợi như vậy, nông nghiệp tại huyện Đông Anh là lĩnh vực rất được quan tâm, đẩy mạnh phát triển Định hướng phát triển nông nghiệp của huyện cũng gắn bó chặt chẽ với định hướng chung trong quy hoạch phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội đến năm

2020, định hướng đến 2030 (phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2020 của thành phố là 1,85%)

Trang 39

34

Bảng 1.2 - Phân bố sử dụng đất huyện Đông Anh

1.1 Đất trồng cây hàng năm 9.366 51,38 1.2 Đất trồng cây lâu năm 153 0,84 1.3 Đất ao hồ, thủy sản 496 2,72

Nguồn: Phòng Thống kê Huyện Đông Anh

Theo đó, huyện Đông Anh sẽ định hướng phát triển nông nghiệp tập trung xây dựng các vùng sản xuất rau đậu thực phẩm, vùng rau an toàn, rau cao cấp & tạo lập vùng hoa, cây cảnh đặc trưng cho thành phố

Nằm trong xu hướng chung, mặc dù tỷ lệ đầu tư cho khu vực nông thôn ngày càng tăng trong tổng đầu tư của ngân sách Thành phố tuy nhiên đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp tại huyện Đông Anh còn rất thấp Việc đầu tư cho lĩnh vực “tam nông” còn chưa đồng đều, hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp như hệ thống thủy lợi, đặc biệt là hệ thống kênh mương và giao thông nội đồng chưa được đầu tư nhiều nên còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn Mặc dù từ năm 2009 khi thành phố triển khai 03 dự án là dự án rau an toàn, dự

án nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi tập trung xa khu dân cư chỉ duy nhất có dự án rau

an toàn được khởi động (đặc biệt là tại huyện Đông Anh) còn 2 dự án chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thực hiện rất chậm Huyện Đông Anh đã tích cực phát triển các

dự án rau an toàn tuy nhiên vẫn còn thiếu các dự án áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp do nguồn vốn đầu tư còn rất khan hiếm, chính quyền chưa có cơ chế thu hút các doanh nghiệp tham gia vào phát triển dự án nông nghiệp, chính sách

về hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm chưa thỏa đáng nên người dân còn nhiều lo ngại

Trang 40

35

Hiện tại, điểm sáng trong công tác huy động vốn tại huyện Đông Anh đó là việc sử dụng tích cực, hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ khuyến nông (QKN) thành phố (TP Hà Nội hiện là địa phương duy nhất xây dựng được Quỹ khuyến nông – một kênh tín dụng quan trọng giúp nông dân phát triển sản xuất) Theo Trạm Khuyến nông huyện Đông Anh, trong năm 2011, toàn huyện có 10 hộ nông dân được vay vốn phát triển sản xuất từ QKN với tổng số tiền 2,6 tỷ đồng Trong quý I/2012, Trạm đã thẩm định 6 phương án vay vốn với số tiền 2,4 tỷ đồng Ông Nguyễn Bá Giang, Trạm Trưởng Trạm Khuyến nông huyện Đông Anh đánh giá, thông qua nguồn vốn vay QKN, nhiều hộ dân đã vươn lên làm giàu, doanh thu tăng từ 10 - 30% Đồng thời, góp phần sử dụng đất đai, mặt nước có hiệu quả, tăng thu nhập cho người nông dân, giá trị sản phẩm hàng hóa đạt từ 100 - 200 triệu đồng/ha/năm Đặc biệt, nhiều mô hình hiệu quả cho thu nhập 300 - 400 triệu đồng/ha/năm Ngoài ra, còn tạo công ăn việc làm thường xuyên cho đội ngũ lao động dư thừa tại địa phương với mức thu nhập bình quân đạt từ 1,5 - 2 triệu đồng/tháng Một trong những vấn đề quan trọng khi triển khai hoạt động của QKN là quản lý vốn vay đúng mục đích Tại huyện Đông Anh, trạm khuyến nông huyện đã phối hợp chặt chẽ với UBND các xã trong thành phố trong quá trình quản lý, sử dụng QKN, đảm bảo phù hợp với kế hoạch, quy hoạch của địa phương Đồng thời, giao nhiệm vụ cho 23 khuyến nông viên cơ sở tại 23 xã trực tiếp tham gia triển khai, quản lý QKN trên địa bàn Để bảo toàn nguồn vốn QKN, Trạm Khuyến nông huyện gửi thông báo trước 1 tháng tới hộ vay vốn và đôn đốc, kiểm tra các hộ đến hạn trả vốn Nhờ đó, đa số các

hộ trả vốn đúng thời hạn, trong đó nhiều hộ trả vốn trước hạn 15 - 20 ngày Năm

2012, QKN Hà Nội được thành phố cấp thêm 20 tỷ đồng nâng tổng số vốn của Quỹ lên gần 100 tỷ đồng Kế hoạch giải ngân vốn năm 2012 dự kiến 52,850 tỷ đồng, thu hồi vốn đạt 30 tỷ đồng và thu phí quản lý QKN dự kiến 4,6 tỷ đồng

1.3.2 Bài học kinh nghiệm

Phần lớn nguồn vốn xây dựng nông nông nghiệp tại Hà Nội, lấy từ ngân sách trong khi sự tham gia đóng góp của doanh nghiệp, nhân dân rất hạn chế Theo số liệu của Ban Chỉ đạo xây dựng NTM Hà Nội, tính đến hết 30-6-2011, nguồn kinh

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuấn Anh (1991), Chiến lược huy động và sử dụng vốn, tập 1 - Những giải pháp huy động vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược huy động và sử dụng vốn, tập 1 - Những giải pháp huy động vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 1991
2. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2007
3. Trần Ngọc Bút (2002), Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số định hướng đến năm 2010, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số định hướng đến năm 2010
Tác giả: Trần Ngọc Bút
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2002
4. Trần Văn Chử (chủ biên) (1999), Kinh tế học phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học phát triển
Tác giả: Trần Văn Chử (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
5. Nguyễn Sinh Cúc (2000), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2000
6. Trần Dương (2005), Mở rộng và cải tiến công tác tín dụng nông thôn, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng và cải tiến công tác tín dụng nông thôn
Tác giả: Trần Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2005
7. Vũ Thị Dậu (2009), “Hoàn thiện và phát triển thị trường tín dụng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Kinh tế & Kinh doanh, (1), tr 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện và phát triển thị trường tín dụng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, "Tạp chí Kinh tế & Kinh doanh
Tác giả: Vũ Thị Dậu
Năm: 2009
8. Phan Huy Đường (2006), Tiêu thụ nông sản Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Khoa học – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu thụ nông sản Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Phan Huy Đường
Nhà XB: Nxb Khoa học – Xã hội
Năm: 2006
9. Đảng bộ Thành phố Hà Nội (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XII, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XII
Tác giả: Đảng bộ Thành phố Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1996
10. Lê Quốc Hội (2011), Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010 và khuyến nghị cho năm 2011, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (392), tr 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010 và khuyến nghị cho năm 2011
Tác giả: Lê Quốc Hội
Năm: 2011
11. Lê Mạnh Hùng (1998), Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Lê Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
12. Vũ Văn Hùng (2011), Gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Hùng
Năm: 2011
13. Ngân hàng Thế giới (2010), Huy động và sử dụng vốn, Báo cáo phát triển Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng vốn
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2010
14. Chu Tiến Quang (2011), “Nông nghiệp Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO – Những thay đổi về chính sách”, Tạp chí Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội, (61,62), tr 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO – Những thay đổi về chính sách”, "Tạp chí Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội
Tác giả: Chu Tiến Quang
Năm: 2011
15. Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam hôm nay và mai sau, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam hôm nay và mai sau
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
16. Nguyễn Danh Sơn (2010), Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại, Nxb Khoa học – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại
Tác giả: Nguyễn Danh Sơn
Nhà XB: Nxb Khoa học – xã hội
Năm: 2010
17. UBND huyện Từ Liêm (2010), Quy hoạch tổng thể huyện Từ Liêm, thời kỳ 2001-2010, Báo cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể huyện Từ Liêm, thời kỳ 2001-2010
Tác giả: UBND huyện Từ Liêm
Năm: 2010
18. UBND huyện Từ Liêm (2010), Thuyết minh quy hoạch tổng thể huyện Từ Liêm 2010-2020, Dự thảo báo cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết minh quy hoạch tổng thể huyện Từ Liêm 2010-2020
Tác giả: UBND huyện Từ Liêm
Năm: 2010
19. UBND Thành phố Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997), Định hướng phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn Hà Nội đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn Hà Nội đến năm 2010
Tác giả: UBND Thành phố Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 1997
20. UBND Thành phố Hà Nội (2000), Phát triển kinh tế ngoại thành Thủ đô theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai đoạn 2000 - 2005, Hà Nội, Báo cáo tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế ngoại thành Thủ đô theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai đoạn 2000 - 2005
Tác giả: UBND Thành phố Hà Nội
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 1.1  Thu hút vốn đầu tư trực tiếp vào nông nghiệp - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
1 Bảng 1.1 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp vào nông nghiệp (Trang 4)
1  Hình 1.1  Tỷ lệ dư nợ tín dụng năm 2011 theo phân ngành - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
1 Hình 1.1 Tỷ lệ dư nợ tín dụng năm 2011 theo phân ngành (Trang 5)
Hình 1.1 – Tỷ lệ dƣ nợ tín dụng năm 2011 theo phân ngành kinh tế 2007 - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Hình 1.1 – Tỷ lệ dƣ nợ tín dụng năm 2011 theo phân ngành kinh tế 2007 (Trang 32)
Bảng 1.1 - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo ngành - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 1.1 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo ngành (Trang 33)
Bảng 1.2 - Phân bố sử dụng đất huyện Đông Anh - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 1.2 Phân bố sử dụng đất huyện Đông Anh (Trang 39)
Hình 2.1 - Cơ cấu diện tích đất tự nhiên tại huyện Từ Liêm – Hà Nội - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Hình 2.1 Cơ cấu diện tích đất tự nhiên tại huyện Từ Liêm – Hà Nội (Trang 45)
Hình 2.2 – Dân số trung bình tại các Quận huyện trên địa bàn Hà Nội - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Hình 2.2 – Dân số trung bình tại các Quận huyện trên địa bàn Hà Nội (Trang 48)
Bảng 2.1 - Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện và khu vực huyện - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện và khu vực huyện (Trang 51)
Hình 2.3 – Chi ngân sách nhà nước cho nông nghiệp tại Từ Liêm - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Hình 2.3 – Chi ngân sách nhà nước cho nông nghiệp tại Từ Liêm (Trang 53)
Bảng 2.3 - Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 2.3 Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng (Trang 60)
Hình 2.4 Tình hình huy động và cho vay tại Agribank Từ Liêm - Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp Từ Liêm - Hà Nội
Hình 2.4 Tình hình huy động và cho vay tại Agribank Từ Liêm (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w