Thời gian vừa qua các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.. Tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
PHẠM THỊ LỤA
HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS Trần Anh Tài
Hà nội - 2004
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 4
1 Sự cần thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp mới của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 6
1.1 Doanh nghiệp công nghiệp và vốn của doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế thị trường 6
1.1.1 Doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế thị trường 6
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp công nghiệp 6
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp công nghiệp 7
1.1.1.3 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp công nghiệp 8 1.1.2 Vốn của doanh nghiệp công nghiệp 10
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp công nghiệp 10 1.1.2.2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp công nghiệp 14 1.1.2.3 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp công nghiệp 17
1.2 Huy động vốn và sử dụng vốn trong các DN công nghiệp 18 1.2.1 Huy động vốn trong doanh nghiệp công nghiệp 18
1.2.1.1 Nguồn vốn và các hình thức huy động vốn của DN công nghiệp 18 1.2.1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc huy động vốn của DNCN 25
1.2.2 Sử dụng vốn trong các doanh nghiệp công nghiệp 27
1.2.2.1 Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 27
Trang 31.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN công nghiệp 29
trong các doanh nghiệp công nghiệp 35
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài 35
1.3.1.1 Các chính sách vĩ mô của nhà nước 35 1.3.1.2 Thị trường tài chính 36 1.3.1.3 Các yếu tố của thị trường 36 1.3.1.4 Tiến bộ khoa học kỹ thuật 37 1.3.1.5 Môi trường tự nhiên 37
1.3.2 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp 38
1.3.2.1 Chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp 38 1.3.2.2 Khả năng quản lý của doanh nghiệp 38 1.3.2.3 Qui mô vốn của doanh nghiệp 38 1.3.2.4 Ngành nghề kinh doanh 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 40 2.1 Khái quát về doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam 40
2.1.1 Một số thành tựu đạt được của doanh nghiệp công nghiệp Việt
Nam trong những năm gần đây 40
2.1.2 Những mặt hạn chế 45
2.2 Tình hình huy động vốn trong các doanh nghiệp công
nghiệp Việt Nam thời gian qua 48
2.2.1 Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam 48
2.2.2 Tình hình huy động vốn của các DN công nghiệp Việt Nam 50
2.2.2.1 Tình hình hình huy động vốn của các DN công nghiệp Nhà nước 55 2.2.2.2 Tình hình huy động vốn của các DN công nghiệp ngoài quốc doanh 59
2.2.3 Đánh giá tình hình huy động vốn trong các DNCN ở Việt Nam 63
2.3 Tình hình sử dụng vốn trong các DN công nghiệp ở Việt
Nam 67
2.3.1 Tình hình sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp công nghiệp 67
Trang 42.3.2 Tình hình sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp công
nghiệp 71
2.3.3 Đánh giá tình hình sử dụng vốn trong các DNCN Việt Nam 75
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CÓ HIỆU QUẢ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 87
3.1 Định hướng phát triển ngành công nghiệp trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam đến năm 2010 87
3.1.1 Các quan điểm phát triển công nghiệp Việt Nam 87
3.1.2 Chiến lược huy động và sử dụng vốn cho phát triển công nghiệp 89
3.1.2.1.Cân đối vốn trong nước và ngoài nước, trong đó vốn trong nước là quyết định cho sự phát triển công nghiệp 89
3.1.2.2 Cải cách hành chính, lành mạnh hóa quan hệ giữa Nhà nước với DN 90
3.1.2.3 Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy - đầu tư và tái đầu tư phát triển công nghiệp 91
3.2 Những giải pháp chủ yếu để doanh nghiệp công nghiệp huy động và sử dụng vốn có hiệu quả 91
3.2.1 Giải pháp chung 92
3.2.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn 93
3.2.2.1 Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn 93 3.2.2.2 Phát triển và hoàn thiện các tổ chức trung gian tài chính 97
3.2.2.3.Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc huy động và sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp công nghiệp 99 3.2.2.4 Đối với các doanh nghiệp: Hoàn thiện các phương án kinh doanh và sử dụng hợp lý các nguồn vốn 102
KIẾN NGHỊ 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong mọi thời đại, vốn để sản xuất kinh doanh luôn là câu hỏi đặt ra cho toàn xã hội Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đứng trước rất nhiều vấn đề bức xúc Một trong những vấn đề
đó là : Vốn và hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp công nghiệp nói riêng phụ thuộc rất chặt
chẽ vào việc huy động vốn và sử dụng vốn kinh doanh
Thời gian vừa qua các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam đã có nhiều
nỗ lực trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, các doanh nghiệp công nghịêp đã gặp không ít khó khăn trong việc huy động và sử dụng vốn Vấn đề đặt ra không chỉ là huy động được đủ vốn mà còn phải bảo đảm hiệu quả cao khi sử dụng các nguồn vốn
Vì vậy, tôi đã lựa chọn “Huy động và sử dụng vốn trong các doanh
nghiệp công nghiệp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Ở nước ta hiện nay, nghiên cứu về vấn đề huy động và sử dụng vốn đã
có một số công trình, bài viết đề cập tới Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến vấn đề huy động và sử dụng vốn trong một số loại hình doanh nghiệp công nghiệp họăc lĩnh vực cụ thể (như doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, doanh nghiệp công nghiệp dệt may ), một số đề tài chỉ nghiên cứu về huy động vốn hoặc sử dụng vốn
mà chưa đề cập đầy đủ, toàn diện hệ thống về vấn đề huy động và sử dụng vốn
có hiệu quả cho các loại hình doanh nghiệp công nghiệp Vì vậy, luận văn đã kế thừa và tiếp tục nghiên cứu vấn đề trên cho các doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam
Trang 63 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là : nghiên cứu lý luận về huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp; đánh giá thực trạng huy động vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp thời gian qua; đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp để làm rõ các nội dung khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Các phương pháp điều tra, thống
kê kinh nghiệm và dự báo cũng đựơc sử dụng trong quá trình nghiên cứu
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hóa lý luận về vốn, các hình thức huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn qua đó phân tích, đánh giá tình hình huy động vốn và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam thời gian qua, phát hiện những tồn tại và vấn đề đặt ra nghiên cứu
- Đề xuất những giải pháp để đảm bảo cho các doanh nghiệp công nghiệp
huy động và sử dụng vốn có hiệu quả trong thời gian tới
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về huy động và sử dụng vốn trong các doanh
nghiệp công nghiệp
Chương 2: Thực trạng huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp
công nghiệp Việt Nam
Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động và sử dụng vốn có
hiệu quả trong doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP
1.1 DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VÀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1 Doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp công nghiệp
Theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000, thì "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm đạt mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh"
Tuỳ theo phạm vi hoạt động mà người ta chia ra: doanh nghiệp công
nghiệp, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp xây dựng, vv Doanh nghiệp
công nghiệp là một loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp mà tập thể người lao động sử dụng máy móc, nguyên vật liệu và những
tư liệu sản xuất khác để khai thác, chế tạo sản phẩm công nghiệp
Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất, thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của 2 mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiều ngành như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, Song xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất có thể coi
đó là tổng thể của hai ngành cơ bản: nông nghiệp và công nghiệp, còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thù của hai ngành đó Doanh nghiệp công nghiệp có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ thuật - sản xuất, cũng như đặc trưng kinh tế - xã hội, khác với các loại hình doanh nghiệp khác ở các khía cạnh chủ yếu sau:
- Trong các doanh nghiệp công nghiệp, quá trình sản xuất chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ, lý hoá của con người, làm thay
Trang 8đổi các đối tượng lao động thành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người (khác với doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, quá trình sản xuất lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu)
- Các đối tượng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: sau mỗi chu
kỳ sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này chuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể khác Hoặc một loại nguyên liệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có các công dụng khác nhau (nếu so sánh với các doanh nghiệp nông nghiệp thì đối tượng lao động của doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về lượng là chủ yếu)
- Sản phẩm của các DN công nghiệp có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu ở các trình độ ngày càng cao của xã hội, là hoạt động duy nhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế
Với các đặc điểm về mặt kỹ thuật của sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp nêu trên, trong quá trình phát triển, doanh nghiệp công nghiệp luôn có điều kiện phát triển về kỹ thuật, tổ chức sản xuất; dễ dàng tạo ra được một đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tác phong “công nghiệp”; đồng thời, có điều kiện và cần thiết phải phân công lao động ngày càng sâu, tạo điều kiện, tiền đề để phát triển nền sản xuất hàng hoá ở trình độ
và tính chất cao hơn so với doanh nghiệp ở các ngành khác
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp công nghiệp
Hiện nay, trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có một lượng lớn các DNCN đang hoạt động Những DNCN này đều có những đặc trưng cơ bản giống nhau nhưng đồng thời chúng có những đặc điểm cụ thể rất khác nhau Để nghiên cứu và phục vụ cho công tác quản lý cần phải tiến hành việc phân loại DNCN Việc phân loại như vậy giúp ta hệ thống hoá các loại DNCN, có thể nắm bắt và nghiên cứu cụ thể từng loại hình DNCN và là cơ sở để xác định các chính sách, biện pháp quản lý phù hợp
- Căn cứ theo quy mô : Các doanh nghiệp công nghiệp được chia thành các DN quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ Quy mô được phản ánh chủ yếu theo 2 tiêu thức: Số lao động và số vốn tính bằng tiền Theo Điều 3, Nghị
Trang 9định số 90/2001/ NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp DN nhỏ
và vừa quy định: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là DN có vốn đăng ký không quá
10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người
- Dưới góc độ đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, các yếu tố đầu vào và đầu ra, người ta phân loại theo ngành nghề sản xuất kinh doanh chính Theo cách phân loại này, doanh nghiệp công nghiệp chia làm 3 nhóm:
Công nghiệp khai thác
Công nghiệp chế biến
Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí và nước
Sự phân loại này là hoàn toàn cần thiết để nghiên cứu các vấn đề thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề tạo vốn và sử dụng vốn cũng như việc xác định các chỉ tiêu bình quân của ngành làm căn cứ vạch kế hoạch kinh doanh cho các doanh nghiệp Do đòi hỏi của quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá, các doanh nghiệp có thể kinh doanh đa ngành nhưng thường tập trung vào một ngành sản xuất kinh doanh chủ yếu có trình độ chuyên môn hoá sâu Xem xét cơ cấu ngành nghề trong hệ thống doanh nghiệp công nghiệp và xu hướng vận động của nó có thể cho phép đánh giá những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hệ thống cũng như các quan điểm của Nhà nước về các ngành nghề cần nắm giữ trong từng thời kỳ
- Theo tính chất sở hữu, doanh nghiệp công nghiệp bao gồm :
Doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp công nghiệp ngoài Nhà nước : doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh,
Doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.1.3 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp công nghiệp
Trong hệ thống kinh tế quốc dân, doanh nghiệp công nghiệp có vị trí rất quan trọng, đó là:
- Doanh nghiệp công nghiệp là một đơn vị sản xuất cơ sở Doanh nghiệp
là nơi trực tiếp kết hợp lao động của con người với các tư liệu sản xuất để tạo ra
Trang 10của cải mới cho xã hội Doanh nghiệp công nghiệp là một mắt xích quan trọng của quá trình tái sản xuất mở rộng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Doanh nghiệp công nghiệp là đơn vị kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc dân Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân nói chung, của ngành công nghiệp nói riêng Vì vậy, doanh nghiệp công nghiệp được coi là đơn vị kinh tế cơ sở, nơi không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất mà còn tạo ra thu nhập quốc dân và nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
- Doanh nghiệp công nghiệp là một tổ chức kinh doanh và là một trường học quản lý Doanh nghiệp công nghiệp là một đơn vị tổ chức xã hội, nơi hàng ngày người lao động ứng dụng các thành tựu của khoa học kĩ thuật và thực hiện quyền làm chủ của mình Không những thế, mỗi doanh nghiệp công nghiệp còn
là một trường học quản lý kinh tế, là nơi rèn luyện con người mới, hình thành tác phong công nghiệp mang phong cách của nền sản xuất đại công nghiệp
Với vị trí như vậy, đối với các quốc gia, doanh nghiệp công nghiệp có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất trong nền kinh tế Ngoài những ngành sản xuất ở lĩnh vực công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ nó còn bao gồm cả trong ngành chế biến nông lâm sản, thuỷ hải sản, lương thực thực phẩm, hoá chất, điện tử Doanh nghiệp công nghiệp cũng có mặt trên tất cả các vùng kinh tế, các ngành kinh tế kĩ thuật kể cả quốc phòng và an ninh và ở trong tất cả các thành phần kinh tế khác nhau Có thể nêu lên một số vai trò cụ thể của nó như sau:
- Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ bảo đảm đáp ứng trực tiếp nhu cầu đa dạng, phong phú và ngày càng tăng của xã hội Từ nhu cầu đơn giản, thông thường tối thiểu đến những nhu cầu cao cấp, phức tạp
- Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, nhất là nông, lâm, ngư nghiệp Thông qua các doanh nghiệp công nghiệp, các sản phẩm trung gian của các ngành đã trở thành hàng hoá, thu nhập dân cư tăng lên
- Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng xuất khẩu vừa thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm nhiều ngoại tệ Qua đó có thể đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc thiết bị Kinh nghiệm từ các nước công
Trang 11nghiệp phát triển cho thấy tỷ lệ hàng hoá xuất khẩu góp phần rất quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế mà sản phẩm xuất khẩu được sản xuất từ các doanh nghiệp công nghiệp
- Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ góp phần tích luỹ vốn đầu tư vào sản xuất, nâng cao tỷ trọng đầu tư trong GDP nhất là những ngành sản xuất các sản phẩm tiêu dùng có giá trị thặng dư cao: thuốc lá, bia, chất dẻo Nếu có chính sách phát triển đúng sẽ góp phần lớn vào tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân
- Doanh nghiệp công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển các mạng lưới gia công, sơ chế từ thành thị đến nông thôn, thu hút nhiều lao động, góp phần rất lớn vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Số lao động sẽ chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp có thể tiến hành ngày tại chỗ chứ không nhất thiết phải thu hút vào thành thị
1.1.2 Vốn của doanh nghiệp công nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp công nghiệp
a Khái niệm của vốn
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn lực tài chính nhất định để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn lực tài chính được thể hiện và sử dụng dưới các dạng khác nhau nhằm mục đích thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai được coi là vốn của doanh nghiệp
Trong cuốn Từ điển Longman rút gọn về Tiếng Anh kinh doanh, vốn được định nghĩa như sau: “Vốn là tài sản tích luỹ được sử dụng vào sản xuất nhằm tạo ra lợi ích lớn hơn; đó là một trong các yếu tố của quá trình sản xuất (các yếu tố khác là đất đai và lao động) Trong kinh doanh, vốn được coi là giá trị của tài sản hữu hình được tính bằng tiền, nghĩa là tài sản dưới dạng không phải bằng tiền như nhà xưởng, máy móc thiết bị, dự trữ nguyên vật liệu”
Cũng trong cuốn Từ điển nêu trên, vốn của doanh nghiệp được hiểu là
“lượng tiền mà các chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ vào để mua tài sản hữu hình nhằm khởi sự và tiến hành kinh doanh”
Trang 12Các quan niệm đã nêu về vốn đều phản ánh được khía cạnh nào đó liên quan đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên, các khái niệm đó được trình bày dưới các góc nhìn khác nhau và mục tiêu nghiên cứu khác nhau,
vì vậy chưa thể hiện một cách nhìn tổng thể về vốn của doanh nghiệp
Vốn có thể có nhiều dạng khác nhau, được phân nhóm thành hai loại: Vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền Vốn bằng tiền được coi là nguồn lực tài chính của doanh nghiệp Nguồn tài chính này là cơ sở để có được các điều kiện sản xuất, tức là các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, địa điểm sản xuất kinh doanh, thiết bị, nguyên vật liệu và các điều kiện khác
Vốn của doanh nghiệp còn có thể được hiểu theo nghĩa hẹp, là số tiền và tài sản hữu hình khác doanh nghiệp có được nguồn tài chính của chính mình, tức là không tính đến nguồn tài chính doanh nghiệp có được nhờ đi vay Tuy nhiên, trên thực tế, người ta thường dùng vốn theo nghĩa rộng để chỉ toàn bộ nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, không phân biệt nguồn huy động
Từ những phân tích đã nêu trên có thể hiểu, vốn của doanh (theo cách hiểu vốn tài chính) có thể coi là giá trị bằng tiền của tất các các nguồn lực có thể chuyển thành tiền, được doanh nghiệp nắm giữ và sử dụng nhằm mục đích thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai, không phân biệt nguồn gốc hình thành
và không phân biệt hình thái biểu hiện
Thông thường, giá trị doanh nghiệp bao gồm cả giá trị hữu hình và giá trị
vô hình của doanh nghiệp Tuy vậy, trên thực tế, khi đánh giá vốn của doanh nghiệp người ta chỉ tính đến các giá trị hữu hình, chính vì vậy, vốn cũng có thể hiểu khác với phạm trù “giá trị doanh nghiệp”
Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp và biến đổi theo thời gian Với những doanh nghiệp kinh doanh thành công, vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng, vì sau mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn ban đầu lại bổ sung bằng một phần lợi nhuận thu được (lợi nhuận dùng để tái đầu tư) Phần bổ sung này nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ sinh lợi trong kinh doanh và chính sách tăng trưởng của doanh nghiệp Những doanh nghiệp
có chiến lược phát triển dài hạn thường rất chú ý dùng lợi nhuận để tái đầu tư,
vì nếu không tăng cường tái đầu tư thì sớm hay muộn, doanh nghiệp đó sẽ thất bại Ngoài ra, do nhu cầu của đầu tư, của quá trình sản xuất kinh doanh, vốn có
Trang 13thể được huy động bổ sung từ các nguồn khác nhau, do đó làm tăng vốn của
DN
Tuy vậy, với những doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ thì nguồn vốn ban đầu sẽ bị giảm dần Tình trạng này đã xảy ra với nhiều doanh nghiệp Nhà nước,
có thể do cả hai nguyên nhân: kinh doanh thua lỗ (không thực hiện tái đầu tư
mở rộng) và không thực hiện đủ khấu hao tài sản cố định (không đảm bảo tái đầu tư giản đơn)
Như vậy, vốn ban đầu của doanh nghiệp có thể tăng lên hoặc giảm đi do hai nhóm yếu tố khách quan và chủ quan, phụ thuộc vào mức độ hiệu quả và chính sách đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp tại mỗi thời điểm bao gồm vốn ban đầu, vốn tích luỹ từ lợi nhuận
và vốn huy động bổ sung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
b Đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp công nghiệp
Vốn là tiền đề vững chắc, là điều kiện tiên quyết để bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh Trên các góc độ khác nhau vốn kinh doanh được nhìn nhận cũng khác nhau; song nhìn chung vốn kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp mang những đặc trưng sau:
Thứ nhất, vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản thực hay nói
cách khác biểu hiện của vốn là giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiệp Song không phải mọi tài sản đều được coi là vốn chỉ những tài sản có giá trị được sử dụng vào sản xuất kinh doanh mới được coi là vốn kinh doanh
Thứ hai, vốn kinh doanh luôn vận động, lưu chuyển, sinh lời đạt mục
tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ
là dạng tiềm năng của vốn, để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời Đồng tiền sau quá trình chuyển hoá vận động trở về nơi xuất phát sẽ mang lại giá trị lớn hơn Đó là nguyên lý của đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn Vì vậy, đồng tiền bị ứ đọng, sức lao động, tài sản cất trữ không được
sử dụng thì chỉ là những đồng vốn “chết” Nhận thức vấn đề này các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để cho đồng vốn sinh lời, tránh ứ đọng
Trang 14Thứ ba, vốn được quan niệm là một hàng hoá đặc biệt, tức là nó có giá trị
và giá trị sử dụng Giá trị của hàng hoá này chính là giá trị của bản thân nó còn giá trị sử dụng của nó là thông qua mua bán trên thị trường mà tạo ra một giá trị
sử dụng lớn hơn
Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian Trong nền kinh tế thị trường sức
mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng sẽ khác nhau, mặt khác trên quan điểm kinh doanh yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp là phải sử dụng tốt đồng vốn của mình: xem xét hiệu quả kinh doanh trên góc độ mới là mỗi đồng vốn đầu tư vào kinh doanh phải không ngừng vận động và không ngừng sinh lời
Thứ năm, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình
mà còn được biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình như vị trí kinh doanh, nhãn hiệu, bản quyền, bằng phát minh sáng chế, Như vậy, trong nền kinh tế thị trường vốn của doanh nghiệp bao gồm: giá trị về tài sản cộng với giá trị về lợi thế, giá trị tiềm tàng
Thứ sáu, vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới
có thể phát huy tác dụng đầu tư vào sản xuất kinh doanh Nếu đồng vốn nằm phân tán, rải rác hay không đủ lớn thì việc thực hiện dự án đầu tư không thành, doanh nghiệp đánh tuột mất cơ hội làm ăn Do vậy doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp tối ưu khai thác, thu hút và tạo lập lượng vốn đủ lớn đáp ứng nhu cầu đầu tư kinh doanh
Thứ bảy, vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định, nghĩa là vốn phải có
chủ mới đảm bảo quản lý và chi tiêu hợp lý, có hiệu quả, những đồng vốn vô chủ thường bị sử dụng lãng phí kém hiệu quả Việc phân định rõ chủ sở hữu thực sự về vốn đang là vấn đề quan tâm nhằm tăng cường thu hút vốn nhàn rỗi
từ dân cư, các tổ chức trong và ngoài nước vào các hoạt động đầu tư Để thực hiện được vấn đề này điều cơ bản cũng cần phải phân biệt rõ ràng quyền sở hữu
và quyền sử dụng vốn Tuỳ theo lĩnh vực đầu tư mà người sở hữu có thể không đồng nhất với người sử dụng vốn, song dù trong trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu của mình
Trang 15Do đặc điểm của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nên việc tập
trung vốn cũng có những đặc điểm riêng biệt: quy mô vốn lớn và tăng nhanh;
vốn cố định thường chiếm tỷ trọng lớn Nguyên nhân là do: Thứ nhất, ngành
công nghiệp đòi hỏi nhiều vốn, chi phí sản xuất cao Do đó, mặc dù ngành công nghiệp có doanh thu lớn nhưng năng suất sử dụng vốn tương đối thấp so với
mặt bằng chung của nền kinh tế quốc dân Thứ hai, trong tổng vốn đầu tư cho
ngành công nghiệp thì phần đầu tư cơ bản chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng Điều này trước hết do giá thành các máy móc công nghiệp cao, các chi phí cho đại tu, bảo dưỡng định kỳ các loại máy móc công nghiệp cao Đầu tư nâng cấp phát triển kết cấu hạ tầng cho nền công nghiệp đòi hỏi khối lượng vốn lớn Hiện nay, Nhà nước đang đầu tư xây dựng một số doanh nghiệp công nghiệp mũi nhọn để phát triển nền kinh tế hướng ngoại, ưu tiên cho xuất khẩu Hơn nữa, việc Việt Nam tham gia AFTA đang đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đẩy mạnh tích tụ và tập trung vốn để nhanh chóng đổi mới thiết bị, công nghệ mới Do đó, vốn đầu tư cho tài sản cố định trong ngành công nghiệp ngày càng tăng nhanh Chính những đặc điểm này đã đặt ra yêu cầu cao cho tích tụ và tập trung vốn lớn Thực trạng của những năm qua trong lĩnh vực huy động vốn cho công nghiệp càng đặt ra cho chúng ta phải có một định hướng đúng về tích tụ vốn và các giải pháp khả thi mới hy vọng đẩy nhanh quá trình phát triển công nghiệp Việt Nam
Tóm lại, nhận thức trên đây về vốn kinh doanh không chỉ giúp cho việc xác định đúng giá trị thực của doanh nghiệp mà còn giúp cho công tác quản lý vốn có tầm nhìn rộng để khai thác những tiềm năng sẵn có của doanh nghiệp phục vụ đầu tư kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, hơn nữa sẽ đưa ra được những phương án tối ưu giải quyết bài toán về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.1.2.2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp công nghiệp
Tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lý và sử dụng vốn mà có những cách phân loại vốn khác nhau nhằm mục đích cuối cùng là đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả của đồng vốn Thông thường có các cách phân loại sau:
Trang 16- Phân loại vốn theo công dụng kinh tế và tính chất vận động của vốn :
theo cách phân loại này vốn trong doanh nghiệp được chia thành vốn cố định
và vốn lưu động
Vốn cố định là giá trị của TSCĐ được biểu hiện bằng tiền Nó là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh, được đầu tư dài hạn trong doanh nghiệp Đặc điểm cơ bản của vốn cố định là luân chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra qua nhiều chu kỳ kinh doanh và được thu hồi qua khấu hao TSCĐ Đây là đặc điểm quan trọng các nhà quản lý cần phải nắm được trong việc huy động vốn, nguồn để huy động vốn cố định thường là nguồn dài hạn
Vốn lưu động là giá trị các đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền Đặc điểm cơ bản của vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần vào giá trị sản phẩm Vốn lưu động luân chuyển tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh Từ những đặc điểm trên ta thấy quản lý và sử dụng vốn lưu động là bộ phận quan trọng trong công tác quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp Trong đó cần phải xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp đảm bảo vốn lưu động để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng ứ đọng vốn Trên cơ sở đó doanh nghiệp nên có những biện pháp khai thác và huy động các nguồn tài trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Phân loại theo nguồn gốc hình thành Phân loại theo cách này nhằm
hiểu được vốn của doanh nghiệp do đâu mà có Do đó, có thể xác định rõ khả năng vốn của doanh nghiệp và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với đối tượng
đã cung cấp vốn cho mình Theo cách phân chia này, vốn được chia thành hai loại vốn chủ sở hữu và vốn huy động từ bên ngoài
Vốn chủ sở hữu là vốn mà doanh nghiệp tự có, hình thành từ vốn pháp định và vốn tự bổ sung từ nhiều nguồn lợi nhuận giữ lại, các quĩ đầu tư phát triển, quĩ dự phòng tài chính Ngoài ra còn bao gồm toàn bộ khấu hao cơ bản
sử dụng tài sản cố định để đầu tư thay thế, đổi mới tài sản cố định Với các doanh nghiệp cổ phần thì vốn chủ sở hữu được bổ sung dễ dàng thông qua bán
cổ phiếu
Trang 17Vốn huy động từ bên ngoài được thể hiện dưới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết phát hành trái phiếu và các hình thức khác Đối với một doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, vốn chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhất định Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải tăng cường huy động vốn từ bên ngoài Việc xác định cơ cấu vốn tự có và vốn huy động ngày càng trở lên quan trọng Qui mô kinh doanh càng lớn thì tỷ lệ vốn huy động càng cao Những doanh nghiệp làm ăn phát đạt
họ vẫn phải huy động vốn bằng hình thức vay nợ Trong kinh doanh các doanh nghiệp có thể chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác bằng những khoản
nợ thông qua việc mua bán hàng hoá Những doanh nghiệp có khả năng huy động vốn tốt thì sẽ thuận lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh
- Phân loại theo thời gian Cách phân loại này vốn của doanh nghiệp bao
gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn Vốn dài hạn có thời gian hoàn trả lớn hơn 1 năm, vốn ngắn hạn có thời gian hoàn trả dưới 1 năm Vốn dài hạn thường được huy động từ việc bán trái phiếu, cổ phiếu, vay dài hạn, thuê mua .mà nơi giao dịch chủ yếu là thị trường vốn Loại vốn dài hạn thường được tài trợ cho tài sản
cố định và một phần chi phí thường xuyên
- Theo mức độ tham gia của vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh có
thể chia vốn của doanh nghiệp thành 2 bộ phận: Vốn luân chuyển và vốn ngoài luân chuyển Vốn luân chuyển là số vốn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh Vốn ngoài luân chuyển không trực tiếp tham gia vào sản xuất kinh doanh như khoản thế chấp, ký quỹ, TSCĐ không cần dùng
1.1.2.3 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp công nghiệp
Nói đến kinh doanh là ta thưòng nói đến vấn đề vốn Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải có một lượng vốn nhất định Nó là điều kiện cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp
Trước hết về mặt pháp lý, muốn thành lập doanh nghiệp thì phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng vốn pháp định Tuỳ từng ngành nghề kinh doanh mà vốn pháp định được qui định khác nhau Vốn pháp định là một trong nhứng điều kiện quan trọng để thành lập doanh nghiệp Đảm bảo được điều kiện đó thì địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập,
Trang 18nếu không thì việc thành lập doanh nghiệp sẽ không được thực hiện Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp cũng phải đảm bảo đủ vốn pháp định Nếu vốn điều lệ của doanh nghiệp không đảm bảo đủ vốn pháp định thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập DN đó phải yêu cầu cấp bổ sung vốn điều lệ hoặc phải tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản, giải thể, sát nhập Như vậy, vốn có thể được xem là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp
Mục đích của doanh nghiệp là thu hút được lợi ích từ các hoạt đông sản xuất kinh doanh Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì nhất thiết phải
có các yếu tố đầu vào là nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và để có được các yếu tố này thì cần phải có vốn Như vậy không có vốn thì doanh nghiệp không thể nào hoạt động được, hay nói cách khác vốn là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Tuỳ theo loại hình và qui mô kinh doanh mà trong quá trình hoạt động doanh nghiệp cần nhiều hay ít vốn
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của
DN và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có ưu thế cạnh tranh Một trong những ưu thế cạnh tranh lớn là công nghệ máy móc thiết bị hiện đaị, tức là có vốn lớn Đối với một doanh nghiệp có vốn lớn họ đầu tư mua sắm thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến thì sản phẩm làm ra sẽ có chất lượng cao, giá thành hạ và tất nhiên sản phẩm sẽ có sức cạnh tranh cao trên thị trường Hơn nữa có vốn lớn, DN có thể chi nhiều hơn cho quảng cáo, xúc tiến bán hàng, cho nghiên cứu phát triển, từ đó cũng tạo cơ hội cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp Có vốn lớn DN có cơ hội mở rộng phạm vi hoạt đông của mình, doanh nghiệp có thể đầu tư vào một lĩnh vực kinh doanh mới hoặc cũng có thể cải tiến sản phẩm hoặc mở rộng phạm vi phân phối
Vốn vừa là công cụ để cạnh tranh vừa là công cụ để tự vệ trong cuộc cạnh tranh đó Một doanh nghiệp đang hoạt động trong một lĩnh vực nào đó nếu có một doanh nghiệp mới tham gia vào lĩnh vực đó thì DN nào có vốn lớn
họ sẽ chấp nhận lỗ một thời gian, họ sẽ phá giá sản phẩm để bóp nghẹt doanh nghiệp mới kia Hoặc là trên thị trường có rất nhiều hãng cùng kinh doanh một loại sản phẩm thì doanh nghiệp có vốn lớn họ sẽ đầu tư nghiên cứu cải tiến sản phẩm hoặc đầu tư vào sản phẩm mới
Trang 19Như vậy vốn là yếu tố vô cùng quan trọng đối với một doanh nghiệp Song vấn đề huy động và sử dụng vốn như thế nào lại là yếu tố quyết định đến
sự thành bại của doanh nghiệp
1.2 HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DN CÔNG NGHIỆP 1.2.1 Huy động vốn trong doanh nghiệp công nghiệp
1.2.1.1 Nguồn vốn và các hình thức huy động vốn của DN công nghiệp
Để bổ sung vốn cho hoạt động của mình, doanh nghiệp công nghiệp
cũng như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả các nguồn vốn trong nước và các nguồn vốn từ nước ngoài Hiện nay, ở Việt Nam có những nguồn vốn sau đây khá phổ biến cho các nhu cầu vốn ngắn, trung và dài hạn của các doanh nghiệp:
- Vốn ngân sách cấp phát
- Vốn từ lợi nhuận để lại
- Vốn tín dụng của Ngân hàng Thương mại và các nguồn tín dụng khác (Công ty tài chính, Quỹ bảo hiểm)
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
- Vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nước
- Vốn liên doanh
- Vốn phát hành trái phiếu, cổ phiếu
- Vốn thuê mua tài chính
Vốn do ngân sách Nhà nước cấp Với hình thức này doanh nghiệp nhận
được vốn cấp từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên hình thức này ngày càng bị thu hẹp Chỉ các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước có vị trí trọng điểm mới được cấp vốn theo hình thức này, còn đối với khu vực ngoài quốc doanh thì hoàn toàn không có
Vốn tích luỹ từ lợi nhuận để lại chiếm một phần nhỏ, vì quy mô của các
doanh nghiệp không lớn lắm, lượng tích luỹ không nhiều, hơn nữa, hiệu quả kinh doanh lại chưa ổn định Vì vậy, nhiều doanh nghiệp phải dựa chủ yếu vào nguồn tài trợ từ bên ngoài
Trang 20Hiện nay, nguồn vốn ODA là nguồn rất cần thiết cho các doanh nghiệp
Vốn ODA là vốn mà doanh nghiệp có được từ các chương trình hợp tác của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế khác Hình thức cấp vốn ODA có thể là viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán Tuy nhiên, để nhận được nguồn vốn này doanh nghiệp phải chấp nhận các điều kiện, thủ tục rất chặt chẽ đồng thời doanh nghiệp phải có trình độ quản trị vốn đầu tư cao cũng như trình độ phối hợp làm việc với các cơ quan chính phủ và chuyên gia nước ngoài Vì vậy đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ không hoạt động trong lĩnh vực trọng điểm của quốc gia thì không thể huy động được nguồn vốn này
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Trong cơ chế thị trường
mở, từ khi có luật đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước còn được cung ứng vốn bằng phương thức các tổ chức kinh tế nước ngoài đầu tư trực tiếp Hình thức này giúp doanh nghiệp có thể nhận được cả công nghệ, phương thức quản lý, thị trường xuất khẩu…Tuy nhiên doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát điều hành của tổ chức cấp vốn Mặt khác doanh nghiệp cũng khó tìm được đối tác nước ngoài phù hợp nhằm phát huy ưu thế mỗi bên Nguồn vốn này rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp lớn có uy tín, còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc huy động nguồn vốn này là rất khó khăn
Vốn thu hút bằng con đường liên doanh bị hạn chế do tính phức tạp trong
việc tìm đối tác và những thủ tục có liên quan, ngoài ra, quyền kiểm soát và lợi ích bị chia sẻ, do đó không phải doanh nghiệp nào cũng có thể huy động nguồn vốn liên doanh
Nhận vốn góp qua phát hành cổ phiếu Đây là hình thức doanh nghiệp
được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán Hình thức này có đặc trưng cơ bản là tăng vốn mà không làm tăng nợ của doanh nghiệp Ưu điểm của phương pháp này là tập hợp được lượng vốn lớn, dễ tăng vốn, dễ quản lý Bên cạnh đó cũng có hạn chế là doanh nghiệp phải công khai hoá tình hình tài chính theo luật định Đồng thời khi tính toán lượng cổ phiếu phát hành đòi hỏi phải rất thận trọng vì không thể hoàn trả lại vốn khi có sự dư thừa Tuy nhiên không phải mọi doanh nghiệp đều có thể khai thác nguồn vốn này mà chỉ những công
ty cổ phần và DNNN có qui mô lớn mới có thể phát hành cổ phiếu
Trang 21Vay vốn bằng phát hành trái phiếu Đây là hình thức cung ứng vốn trực
tiếp từ công chúng: doanh nghiệp phát hành lượng vốn cần thiết dưới hình thức trái phiếu thường là có kỳ hạn xác định và bán cho công chúng Đặc trưng của
nó là tăng vốn gắn với tăng nợ của doanh nghiệp.Vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu có những ưu điểm chủ yếu là: có thể thu hút được lượng vốn lớn cần thiết, chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn so với vay ngân hàng, không bị người cung ứng kiểm soát chặt chẽ và doanh nghiệp có thể lựa chọn loại trái phiếu phù hợp với mình Tuy nhiên, vốn huy động từ nguồn này cũng có hạn chế nhất định Nó đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm chắc các kỹ thuật tài chính để tránh áp lực nợ đến hạn và vẫn có lợi nhuận, đặc biệt khi kinh tế suy thoái, lạm phát cao Mặt khác, chi phí phát hành khá cao và không phải mọi doanh nghiệp
mà chỉ những doanh nghiệp nào thoả mãn điều kiện theo luật định mới có thể phát hành trái phiếu
Qua đó, có thể thấy, thu hút vốn dưới hình thức tín dụng là thuận lợi và nhanh chóng hơn cả, trong đó có thể kể đến hai hình thức tín dụng chính có thể
sử dụng hiện nay là tín dụng Nhà nước và tín dụng của ngân hàng thương mại
Tín dụng của nhà nước có thể coi là một nguồn lớn, nhưng chủ yếu được
dành cho những cho những dự án đầu tư ở những khu vực và lĩnh vực trọng điểm, khó khăn Vì vậy, doanh nghiệp muốn huy động nguồn vốn này chịu nhiều ràng buộc và bị hạn chế
Nguồn vốn phổ biến nhất và có triển vọng nhất trong tương lai đối với
các doanh nghiệp là nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thương mại Nghiên
cứu thực tế của các nhà kinh tế ở các nước cũng cho thấy, ngay cả đối với các nước có hệ thống thị trường chứng khoán phát triển như Anh, Mỹ, nguồn vốn vay của các ngân hàng vẫn được coi là nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng nhất trong các nguồn vốn nội sinh Vốn của các ngân hàng thương mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng thương mại dưới các hình thức cụ thể: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Với hình thức này doanh nghiệp có thể huy động được lượng vốn lớn Tuy nhiên, để vay vốn được từ các ngân hàng thương mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có uy tín lớn, chấp nhận các thủ tục thẩm định khắt khe Trong quá trình sử dụng vốn doanh nghiệp phải tính toán trả nợ theo đúng tiến độ Mặt khác doanh nghiệp có thể bị ngân hàng đòi quyền kiểm soát các
Trang 22hoạt động Trên thực tế ở nước ta hiện nay,việc vay vốn từ hệ thống ngân hàng Thương mại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh là rất hạn chế, lượng vốn vay ít, thủ tục rườm rà
Ngoài ra, nguồn vốn thuê mua tài chính (hay còn gọi là tín dụng thuê
mua) cũng là một hình thức huy động vốn có thể được coi như là một nguồn vốn bổ sung quan trọng và tạo cơ hội tiếp cận đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp Thuê mua tài chính là một hình thức huy động vốn đặc thù, doanh nghiệp vay vốn không phải dưới hình thức tiền tệ mà là dưới hình thức tài sản, trong đó một tổ chức cho thuê tài chính cho phép một doanh nghiệp được quyền sử dụng máy móc thiết bị trong một khoảng thời gian nhất định theo những điều khoản về thời hạn sử dụng và lãi suất phải trả cho việc sử dụng thiết bị đó Hình thức này thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp vì việc huy động vốn được thực hiện mà không cần có tài sản thế chấp Tuy vậy, việc huy động nguồn vốn thuê mua tài chính còn có những mặt trở ngại đối với các doanh nghiệp Việt Nam bởi việc thay đổi thời hạn thuê theo sự biến đổi của thị trường thường gặp khó khăn, tính linh hoạt bị hạn chế; chi phí kinh doanh sử dụng vốn cao và hợp đồng tương đối phức tạp, và chỉ áp dụng đối với tài sản cố định
Các nguồn vốn đã nêu trên có thể được doanh nghiệp huy động thông qua hệ thống tài chính Hệ thống tài chính bao gồm thị trường tài chính và các
tổ chức tài chính, hay còn gọi là các trung gian tài chính
* Thị trường tài chính có thể được phân loại theo nhiều cách:
Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (chứng khoán mới được phát hành lần đầu, trong đó nguồn tiền được chuyển tới người phát hành) và thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (tại đó chứng khoán được mua đi bán lại giữa các chủ thể khác nhau)
- Thị trường vốn nợ (tại đó mua bán các chứng khoán nợ như trái phiếu hay kỳ phiếu) và thị trường vốn sở hữu hay vốn cổ phần (tại đó trao đổi các chứng khoán về quyền sở hữu (cổ phiếu)
- Thị trường trao ngay (các chứng khoán được trao ngay vào thời gian giao dịch) và thị trường có kỳ hạn (các chứng khoán được trao tại một thời điểm định trước trong tương lai)
Trang 23- Thị trường chính thức (được tổ chức có thẩm quyền điều tiết) và thị trường phi chính thức hay còn gọi là thị trường ngầm, chợ đen (thị trường không điều tiết được)
- Thị trường nội tệ (trao đổi các chứng khoán phát hành nội tệ) và thị trường ngoại tệ (trao đổi các chứng khoán phát hành bằng ngoại tệ)
- Thị trường tiền tệ (trao đổi các chứng khoán ngắn hạn) và thị trường vốn (trao đổi các chứng khoán ngắn hạn) và thị trường vốn trao đổi các chứng khoán dài hạn
Như vậy, có thể thấy theo cách phân loại trên, thị trường vốn là một bộ phận của thị trường tài chính được phân loại theo kỳ hạn của các chứng khoán được trao đổi trên thị trường Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam, thị trường vốn được hiểu theo nghĩa thông dụng là thị trường mà tại đó các doanh nghiệp
có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh thông qua các kênh tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp
Thị trường tài chính ở Việt Nam được coi là chưa phát triển do chưa hình thành một cách đồng bộ và quy mô hoạt động nhỏ bé Nguồn vốn huy động thông qua thị trường tài chính chưa nhiều, các doanh nghiệp vẫn thường huy động vốn thông qua các tổ chức tài chính là chủ yếu Các tổ chức đó bao gồm các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Theo luật Các tổ chức tín dụng, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác Tuy nhiên, xét về bản chất hoạt động, các ngân hàng có thể chia làm hai nhóm lớn là ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển
Với tư cách là các trung gian tài chính, ngân hàng thương mại hoạt động theo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, di chuyển vốn từ người có vốn sang người cần vốn (từ tiết kiện
sang đầu tư) Ngân hàng thương mại thực hiện vai trò hữu ích trong việc huy động vốn từ khu vực dư thừa (khu vực tiết kiệm) và chuyển sang khu vực thiếu
Trang 24hụt (khu vực đầu tư) Bởi người có vốn nếu thực hiện cho vay trực tiếp sẽ gặp rất nhiều khó khăn như: khó tìm kiếm thông tin về người vay, tốn kém trong giao dịch (chi phí giao dịch lớn), độ tin cậy thấp Cũng tương tự như vậy, người
đi vay (người cần vốn) không biết ai có thừa vốn để vay, do đó tìm cách đáp ứng nhu cầu thông qua vai trò trung gian của ngân hàng thương mại
Thứ hai, chuyển đổi kỳ hạn Các ngân hàng thương mại thực hiện việc
chuyển đổi thời hạn bằng việc phát hành các tài sản nợ ngắn hạn dưới dạng huy động tiền gửi có thể rút ngay như: tiết kiệm không kỳ hạn, tài khoản tiền gửi thanh toán, hoặc rút có báo trước một thời gian ngắn (tiền gửi có kỳ hạn dưới
12 tháng), đồng thời thực hiện các khoản cho vay (nắm giữ tài sản) dài hạn, trung hạn và ngắn hạn do tận dụng sự khác nhau về thời gian giữa thời điểm huy động và thời điểm thanh toán, đồng thời đa dạng hoá các hình thức huy động và cho vay Bằng cách đó, các ngân hàng thương mại giải quyết mâu thuẫn về kỳ hạn giữa nhu cầu vay vốn dài hạn và khả năng huy động vốn ngắn hạn
Thứ ba, chuyển giao một phần rủi ro từ người gửi sang ngân hàng
Người dư vốn có thể nhận thấy việc gửi tiền tiết kiệm (gửi phần dư thừa) của mình vào ngân hàng là an toàn hơn so với việc cho một doanh nghiệp vay trực tiếp vì ngân hàng sẽ thay họ chịu rủi ro của việc đầu tư Như vậy, ngân hàng chuyển rủi ro từ người gửi tiền sang ngân hàng do bản thân nó chịu một phần rủi ro
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác
* Công ty cho thuê tài chính
Nghị định số 16-2001/NĐ - CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính quy định: “Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp
Trang 25đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận
Công ty cho thuê tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, hoạt động chủ yếu là cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác Ở Việt Nam, các công ty cho thuê tài chính bao gồm:
Công ty cho thuê tài chính Nhà nước
Công ty cho thuê tài chính cổ phần
Công ty cho thuê tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng
Công ty cho thuê tài chính liên doanh
Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài
Như vậy, việc huy động vốn của DN thông qua các công ty cho thuê tài chính có thuận lợi là không cần có tài sản thế chấp, có thể huy động đủ lượng vốn cần thiết theo giá trị tài sản thuê Tuy nhiên, việc thay đổi thời hạn thuê theo sự biến đổi của thị trường thường gặp khó khăn, tính linh hoạt bị hạn chế
Ngoài các nguồn vốn chính thức, các doanh nghiệp có thể huy động các nguồn
vốn phi chính thức Nguồn vốn phi chính thức là nguồn vốn tồn tại một cách
khách quan, nhưng không được hoặc chưa được điều tiết bằng cơ sở pháp lý Nguồn vốn này ở Việt Nam có thể thấy dưới các dạng khác nhau: tín dụng của người thân, bạn bè, họ hàng, của những người cho vạy lấy lãi (các cá nhân có hoạt động cho vay không đăng ký), của những người lao động làm việc tại các doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp, tín dụng giữa các doanh nghiệp mang tính chất tạm thời (do đặc điểm sử dụng tiền mặt quá lớn ở Việt Nam) Nguồn vốn này có thể bao gồm cả những hình thức trả chậm một cách tuỳ tiện (không thoả thuận, dây dưa kéo dài việc trả nợ trong các quan hệ mua bán hàng hoá giữa các doanh ngghiệp, ), còn gọi là hình thức chiếm dụng vốn (của bạn hàng, của khách hàng, của các nhà cung ứng, thuế của Nhà nước) Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ nhằm giải quyết một số nhu cầu tạm thời trong thanh toán
và không ổn định
Trang 26Đối với hầu hết các nước, nguồn tài chính chính thức rất quan trọng, song cũng không thể phủ nhận một thực tế là khu vực tài chính phi chính thức vẫn hoạt động và phát huy tác dụng, nhất là trong hệ thống tài chính mà khu vực tài chính chính thức tỏ ra kém năng động, không đủ sức cung cấp tài chính cho các khu vực kinh tế khác nhau, đặc biệt khu vực doanh nghiệp nhỏ Chính
vì vậy, nguồn vốn phi chính thức là một trong những nguồn vốn được đánh giá
là năng động; khả năng cung ứng nhanh, linh hoạt
Như vậy có thể nói nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp công nghiệp là rất đa dạng Tuy nhiên để đảm bảo luôn có đủ vốn cho hoạt động kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao, rủi ro thấp, thì doanh nghiệp công nghiệp phải chủ động tìm kiếm mọi nguồn vốn có thể huy động, phân tích so sánh rủi ro tín dụng cũng như so sánh chi phí kinh doanh sử dụng vốn từ các nguồn vốn khác nhau để lựa chọn các nguồn vốn huy động theo phương châm đa dạng hoá các nguồn cung ứng vốn
1.2.1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc huy động vốn của DN công
nghiệp
Doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau Nhưng để huy động vốn của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, việc huy động vốn phải bảo đảm tính kịp thời Thông thường,
khi có nhu cầu về vốn bổ sung, doanh nghiệp tìm nguồn vốn để giải quyết nhu cầu đó Tuy nhiên, nếu việc cung ứng vốn không đúng thời điểm, thời cơ đầu tư thì nguồn vốn đó sẽ mất ý nghĩa, hoặc làm giảm khả năng thu lợi ích từ hoạt động đầu tư kinh doanh Vì vậy, cải tiến các thủ tục hành chính phức tạp trong quy trình giao dịch về vốn là mong muốn của các doanh nghiệp công nghiệp Nhiều khi, một số doanh nghiệp phải chấp nhận một tỷ lệ lãi suất cao hơn rất nhiều trên thị trường tài chính phi chính thức để có được nguồn vốn kịp thời vì nếu không vay kịp vốn thì nguồn vốn "rẻ" trên trở lên "đắt", có thể làm cho các kết quả dự tính trong các phương án kinh doanh giảm đi và doanh nghiệp khó khăn trong việc trả nợ
Trang 27Thứ hai, cần lựa chọn nguồn vốn bảo đảm hiệu quả cao nhất trong điều
kiện nhất định Trong điều kiện thị trường tài chính càng phát triển thì doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn khác nhau để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, do đó cần lựa chọn nguồn vốn thích hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc huy động vốn Hiệu quả của việc sử dụng các hình thức huy động vốn không chỉ thể hiện ở hiệu quả đầu tư mà nguồn vốn mang lại, mà còn thể hiện ở khả năng dễ dàng tiếp cận và huy động các nguồn vốn, ở lợi ích của chủ doanh nghiệp khi sử dụng nguồn vốn đó, như khả năng làm tăng lợi nhuận ròng của doanh nghiệp và lợi nhuận tích luỹ
Thứ ba, việc huy động cần bảo đảm đáp ứng nhu cầu về số lượng và thời
gian Một ý đồ đầu tư, kinh doanh sẽ không thể thực hiện được nếu không đủ một lượng vốn nhất định theo nhu cầu được tính toán, do đó, khi huy động vốn phải bảo đảm đủ về số lượng và tính tương thích về thời gian Thực tế, hiện nay một số doanh nghiệp thường phải nâng mức nhu cầu ghi trong các yêu cầu huy động vốn để có thể có đủ số vốn cần thiết khi dự án được phê chuẩn, điều đó làm cho các dự án không còn chặt chẽ Ngoài ra, rất nhiều trường hợp cách tính toán thời gian cho vay của các ngân hàng thường quá cứng nhắc nên các doanh nghiệp không đảm bảo thời hạn trả tiền, phải chịu lãi suất quá hạn, chi phí cao
Thứ tư, huy động vốn cần bảo đảm giảm thiểu chi phí giao dịch Một
nguồn vốn với lãi suất thấp đôi khi có thể trở nên quá đắt, do chi phí liên quan đến giao dịch về vốn quá cao Nguyên nhân chi phí giao dịch cao có thể là: thủ tục hành chính phức tạp, quy trình giải ngân phiền toái, chi phí đầu tư cao hoặc đôi khi do quy mô không thích hợp Vì vậy, các doanh nghiệp cần tuỳ theo lượng vốn cần vay để chọn nguồn vốn phù hợp, vì những nguồn vốn phức tạp
sẽ làm cho chi phí giao dịch trên một đồng vốn cao hơn nếu lượng vốn huy động nhỏ Ngược lại, những dự án lớn có thể có lợi về chi phí cho vốn nếu tìm đến những nguồn vốn có thủ tục phức tạp hơn nhưng lại phải chịu lãi suất thấp hơn
Trang 281.2.2 Sử dụng vốn trong các doanh nghiệp công nghiệp
1.2.2.1 Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Vốn với nội dung là một yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn cũng không tách rời hiệu quả kinh doanh nói chung của doanh nghiệp Do đó, trước khi nghiên cứu về bản chất hiệu quả sử dụng vốn, cần khái quát về hiệu quả kinh doanh
Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra của một quá trình Điều đó cũng có nghĩa là để đạt được kết quả đầu ra, doanh nghiệp phải tốn một chi phí đầu vào như thế nào, sử dụng nguồn lực tổ chức ra sao, từ vốn, nhân sự, công nghệ để đạt được kết quả đó Nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh (H) = Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
Cách đánh giá này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng một số vốn đã bỏ
ra để thu được kết quả cao hơn tức là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện H>1, khi H càng lớn càng chứng tỏ quá trình kinh doanh càng đạt hiệu quả cao Qua cách đánh giá này, để tăng hiệu quả (H), chúng ta có thể sử dụng những biện pháp như: giảm đầu vào, đầu ra không đổi; hoặc giữ đầu vào không đổi, tăng đầu ra; hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra
Trong tình trạng quản lý, điều hành sản xuất bất hợp lý, chúng ta có thể cải tiến nhằm sử dụng các nguồn lực tổ chức hợp lý hơn, tránh các lãng phí, những tổn thất có thể có, để tăng cường giá trị đầu ra Nhưng nếu quá trình sản xuất kinh doanh là đã hợp lý thì việc áp dụng các biện pháp trên sẽ là bất hợp
lý Bởi ta không thể giảm đầu vào mà không làm giảm giá trị đầu ra và ngược lại Thậm chí trong thực tế, ngay cả khi quá trình sản xuất kinh doanh của chúng ta còn bất hợp lý nhưng khi chúng ta áp dụng những biện pháp trên có thể làm cho hiệu quả giảm xuống Chính vì vậy, để có được một hiệu quả không ngừng tăng lên đòi hỏi chúng ta chẳng những không giảm mà còn phải tăng chất lượng đầu vào lên Với nguyên vật liệu tốt hơn, lao động có tay nghề cao hơn, máy móc công nghệ hiện đại hơn, ta sẽ giảm đi lượng hao phí nguyên vật liệu, hao phí lao động, hao phí năng lượng, thiết bị trên từng đơn vị sản
Trang 29phẩm, phế phẩm giảm đó là điều kiện để có những sản phẩm với số lượng, chất lượng cao, giá thành hạ Như vậy để tăng hiệu quả kinh doanh chỉ có con đường duy nhất là không ngừng đầu tư vào công nghệ, nguồn nhân lực, quản lý, Qua đó giá trị đầu ra ngày càng tăng hơn đồng thời càng nâng cao vị trí cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thương trường
Với cách hiểu về hiệu quả kinh doanh như trên, có thể khẳng định rằng, hiệu quả sử dụng vốn là một mặt của hiệu quả kinh doanh, nhưng không phải là hiệu quả kinh doanh Vốn chỉ là một trong rất nhiều yếu tố của quá trình kinh doanh Khi nói đến hiệu quả kinh doanh có thể có một trong các yếu tố của nó không đạt hiệu quả nhưng nhìn chung việc sử dụng các yếu tố là có hiệu quả Còn nói đến hiệu quả sử dụng vốn, không thể nói đã sử dụng có kết quả nhưng lại bị lỗ vốn Điều này cho thấy tính hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trên hai mặt: Bảo toàn được vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh doanh, trong đó đặc biệt là kết quả về sức sinh lời của đồng vốn
Kết quả lợi ích tạo ra do sử dụng vốn phải thoả mãn hai yêu cầu : Đáp ứng được lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của các nhà đầu tư ở mức độ mong muốn cao nhất, đồng thời nâng cao được lợi ích của nền kinh tế xã hội Hai yêu cầu này cùng tồn tại đồng thời phù hợp với mục tiêu kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận cho mình, nhưng làm tổn hại đến lợi ích chung của nền kinh tế xã hội sẽ không được phép tồn tại, các cơ quan chức năng của Nhà nước sẽ không cấp giấy phép hoạt động Ngược lại, nếu doanh nghiệp đó hoạt động đem lại lợi ích cho nền kinh tế, còn bản thân nó bị thua thiệt lỗ vốn sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản Như vậy, kết quả tạo ra do việc sử dụng vốn phải đáp ứng được lợi ích doanh nghiệp và lợi ích kinh tế xã hội
Trong các quan điểm trước đây, khi xét "đầu vào" của chỉ tiêu hiệu quả
sử dụng vốn chủ yếu đề cập đến khả năng tối thiểu hoá về số lượng vốn, còn vấn đề thời gian sử dụng dài hay ngắn ít khi hoặc không đề cập đến Thực tế cho thấy, với cùng một kết quả như nhau mà sử dụng một lượng vốn ít hơn nhưng kéo dài thời gian sử dụng thì việc sử dụng số vốn đó chưa hẳn đã có hiệu
Trang 30quả Theo chúng tôi yếu tố đầu vào cần đề cập trên cả hai mặt là : tối thiểu hoá
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN công nghiệp
Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp nhất thiết phải dựa trên các chỉ tiêu phân tích phù hợp Theo chúng tôi, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp ta có thể sử dụng các nhóm chỉ tiêu sau:
- Doanh lợi vốn chủ sở hữu:
Trang 31Doanh lợi vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử dụng vốn của người quản lý doanh nghiệp và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu cũng là một mục tiêu quan trọng của hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp
Sử dụng ba chỉ tiêu trên có thể giúp chúng ta đánh giá một cách tổng quát về tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, nhưng để nhìn nhận một cách
cụ thể về việc sử dụng tài sản cố định và tài sản lưu động chúng ta phải chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp, đó là vốn cố định và vốn lưu động
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp cần phải đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định bởi tài sản cố định là hình thái biểu hiện vật chất của vốn cố định Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Trang 32Nguyên giá bình quân TSCĐ
Chỉ tiêu này cho biết trung bình một tài sản cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ việc sử dụng tài sản cố định là
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm
vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng vốn lưu động Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều và ngược lại
- Sức sinh lời của vốn lưu động:
Sức sinh lời của
vốn lưu động =
Lợi nhuận Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Trang 33Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Trong đánh giá hiệu quả sử dụng vốn người ta cũng đặc biệt quan tâm đến tốc độ luân chuyển vốn lưu động vì trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động luân chuyển không ngừng qua các hình thái khác nhau Do đó, nếu đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu
về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động người ta dùng hai chỉ tiêu sau:
- Số vòng quay của vốn lưu động:
tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại
- Thời gian của một vòng luân chuyển:
Thời gian của một
vòng luân chuyển =
Thời gian của một kỳ phân tích
Số vòng quay của VLĐ trong kỳ Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng, thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của vốn lưu động càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn
Mặt khác, do vốn lưu động biểu hiện dưới dạng nhiều tài sản lưu động khác nhau như tiền mặt, nguyên vật liệu, các khoản phải thu, nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta còn đi đánh giá các mặt cụ thể trong công tác quản lý vốn lưu động Dưới đây là một số chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh chất lượng công tác quản lý ngân quỹ và các khoản phải thu
- Tỷ suất thanh toán hiện hành:
Tỷ suất thanh toán hiện hành =
Tổng tài sản lưu động Tổng nợ ngắn hạn
Trang 34Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp
là cao hay thấp Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan
- Tỷ suất thanh toán tức thời:
Tỷ suất thanh toán
Tổng số vốn bằng tiền Tổng nợ ngắn hạn Dựa vào thực tế có thể đánh giá nếu tỷ suất này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán công nợ và do đó có thể phải bán gấp hành hoá, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán Tuy nhiên, nếu tỷ suất này quá cao lại phản ánh một tình trạng không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn:
Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn =
Tổng tài sản lưu động Tổng nợ phải trả
Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn không những có ý nghĩa với việc đánh giá khả năng thanh toán mà còn có tác dụng xem xét khả năng tiếp tục hoạt động của doanh nghiệp Tỷ suất này lớn hơn 1 càng nhiều thì càng chứng
tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt Ngược lại, tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thì nguy cơ phá sản của doanh nghiệp càng lớn
- Số vòng quay các khoản phải thu:
Số vòng quay các
khoản phải thu =
Tổng số doanh thu các khoản bán chịu Bình quân các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc đi thu hồi nợ Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số vòng luân chuyển các khoản phải thu sẽ nâng cao và công ty ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên số vòng luân chuyển các khoản phải thu nếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh
Trang 35toán quá chặt chẽ (chủ yếu là thanh toán ngay hay thanh toán trong một thời gian ngắn)
- Thời gian một vòng quay các khoản phải thu:
Thời gian một vòng quay
các khoản phải thu =
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu này cho thấy để thu hồi các khoản phải thu cần một thời gian là bao nhiêu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ các khoản phải thu được thu hồi chậm và không có lợi cho doanh nghiệp trong việc thu hồi nợ
Trên đây là các chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung cũng như quản lý sử dụng vốn nói riêng doanh nghiệp luôn luôn chịu tác động của rất nhiều các nhân tố khác Do vậy, khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phải xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến vấn đề này Trong thực tế có thể sử dụng các phương pháp sau:
* Phương pháp phân tích từng chỉ tiêu và xu hướng tăng giảm: Phương pháp phân tích cơ bản nhất là xem xét đến từng chỉ tiêu để thấy mức độ cao thấp, xu hướng tăng giảm, so sánh các chỉ tiêu với một mức chuẩn để có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn mà doanh nghiệp đạt được Dựa vào ý nghĩa của từng chỉ tiêu mà có thể đánh giá được doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hay không Khi phân tích xu hướng tăng giảm của từng chỉ tiêu có thể thấy được mức tăng trưởng về mặt dài hạn Có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích theo xu hướng tăng giảm: theo cách này ta lấy một yếu tố trong dữ liệu tài chính làm cơ sở (ví dụ vốn huy động trong một năm) được quy định là 100, và dữ liệu cho năm tiếp theo được biểu diễn theo một chỉ số phần trăm của năm gốc Cách tính này cho thấy xu hướng hoặc mức
độ tăng trưởng của chỉ tiêu vốn Trong trường hợp lấy năm cơ sở làm mốc so sánh và xem xét trong khoảng thời gian tương đối thì có thể quan sát được xu hướng dài hạn
Trang 36- Sử dụng phương pháp tính phần trăm các yếu tố cấu thành trong một tổng thể để phân tích xem yếu tố nào chiếm tỷ trọng lớn hoặc tạo ra hiệu quả cao (thấp) Phương pháp này mang lại những thông tin rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hay tình hình tài chính của
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG
VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP
Các doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế thị trường chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm cả các nhân tố khánh quan (bên ngoài doanh nghiệp) và chủ quan (các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp) Do đó, huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp cũng chịu tác động của các nhóm nhân tố đó
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài
1.3.1.1 Các chính sách vĩ mô của nhà nước
Chính sách vĩ mô của Nhà nước tác động một phần không nhỏ đến huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước thường tác động vào nền kinh tế thông qua hệ thống các chính sách, đó là công cụ hữu hiệu của nhà nước để điều tiết nền kinh tế Các chính sách kinh tế chủ yếu là chính sách tài chính, tiền tệ Nhà nước sử dụng các chính sách này để thúc đẩy hoặc kìm hãm một thành phần kinh tế, một ngành kinh tế hay một lĩnh vực nào
đó Từ cơ chế giao vốn, đánh giá tài sản cố định, sự thay đổi các chính sách thuế, chính sách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhập một số loại công nghệ nhất định đều có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Các quy định của Nhà nước về phương hướng, định hướng phát triển của các ngành kinh tế cũng ảnh hưởng đến việc huy động và sử dụng vốn trong
Trang 37các doanh nghiệp công nghiệp Một doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực
mà được nhà nước hỗ trợ hoặc có được các chính sách thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh của mình thì việc huy động sẽ dễ dàng hơn và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp công nghiệp sẽ cao hơn
Bên cạnh đó là những quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Đây là căn cứ quan trọng để giải quyết kịp thời những vướng mắc về cơ chế quản lý tài chính nảy sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh Đồng thời nó cũng là tiền đề để thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp Rõ ràng với một cơ chế quản lý tài chính chặt chẽ, có khoa học, hợp quy luật thì việc huy động, quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ đạt kết quả cao, hạn chế được sự thất thoát vốn
1.3.1.2 Thị trường tài chính
Ở nước ta hiện nay chưa có một thị trường tài chính theo đúng nghĩa của
nó, vì vậy việc dẫn vốn từ người thừa vốn đến người có cơ hội đầu tư nhưng thiếu vốn là hết sức khó khăn Do đó việc huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hạn chế Thị trường chứng khoán tuy đã hình thành nhưng chỉ là thị trường sơ cấp gây cản trở đối với doanh nghiệp trong việc huy động vốn hoặc giải phóng vốn, do đó việc quản lý vốn cũng kém hiệu quả Thị trường vốn chưa thực sự hoàn chỉnh và chưa thực sự biến động theo giá thị trường mà vẫn chủ yếu là giá áp đặt
Như vậy, thị trường tài chính chưa phát triển là điều hết sức khó khăn cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện các chính sách đầu tư trong việc trường hợp có vốn nhàn dỗi Điều này cũng có nghĩa là việc đạt được mục đích sử dụng vốn là không dễ dàng Đây là vấn đề mà doanh nghiệp không đủ khả năng khắc phục mặc dù chúng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.3.1.3 Các yếu tố của thị trường
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng những cơ hội thách thức trên thị trưỡng sẽ tác động lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp Một DN hoạt động trong lĩnh
Trang 38vực ít có đối thủ cạnh tranh hoặc có ưu thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh thì khả năng thu lợi nhuận lớn của doanh nghiệp đó là lớn Điều này thể hiện rất rõ trong các doanh nghiệp hoạt động trong ngành độc quyền của nhà nước Ngược lại với những DN hoạt động trong lĩnh vực ít có cơ hội phát triển và gặp
sự cạnh tranh gay gắt của đối thủ cạnh tranh thì hiệu quả sử dụng vốn của DN
đó sẽ thấp Môi trường cạnh tranh không chỉ tác động đến hiệu quả của DN trong hiện tại mà còn trong tương lai Bởi vì nếu DN có được thắng lợi ban đầu trong cuộc cạnh tranh sẽ tạo được ưu thế về vốn, về uy tín, từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh trong tương lai
1.3.1.4 Tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trong điều kiện hiện nay, khoa học phát triển với tốc độ chóng mặt, thị trường công nghệ biến động không ngừng và chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các nước là rất lớn, làn sóng chuyển giao công nghệ ngày càng gia tăng, một mặt nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất; mặt khác, nó đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt Do vậy, để
sử dụng vốn có hiệu quả phải xem xét đầu tư vào công nghệ nào và phải tính đến hao mòn vô hình do phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật
1.3.1.5 Môi trường tự nhiên
Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khí hậu, thời tiết, môi trường, …các điều kiện làm việc trong môi trường tự nhiên phù hợp sẽ tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công việc
Mặt khác các điều kiện tự nhiên còn tác động đến các hoạt động kinh tế
và cơ sở vật chất của doanh nghiệp Tính thời vụ, thiên tai, lũ lụt, … gây khó khăn cho rất nhiều doanh nghiệp và ảnh hưởng tới việc huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 391.3.2 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
1.3.2.1 Chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp
Đây là một đặc điểm quan trọng gắn trực tiếp tới việc huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu chu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay
1.3.2.2 Khả năng quản lý của doanh nghiệp
Đây là yếu tố tác động mạnh nhất đến việc huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp.Trong một môi trường ổn định thì có lẽ đây là yếu tố quyết định đến sự thành bại của DN Quản lý trong doanh nghiệp bao gồm quản lý tài chính và các hoạt động quản lý khác
Trình độ quản lý vốn thể hiện ở việc xác định cơ cấu vốn, lựa chọn nguồn cung ứng vốn, lập kế hoạch sử dụng và kiểm soát sự vận động của luồng vốn Chất lượng của tất cả những hoạt động này đều ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn Với một cơ cấu vốn hợp lý, phương án sản xuất tối ưu, chi phí vốn thấp, dự toán vốn chính xác thì chắc chắn hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó sẽ cao
1.3.2.3 Qui mô vốn của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường đòi hỏi các DN phải năng động có khả năng tìm
ra cho mình những hướng đi thích hợp Muốn vậy DN phải có nguồn vốn lớn
để đáp ứng nhu cầu về chi phí cho việc thay đổi công nghệ, chi phí nghiên cứu Với nguồn vốn lớn DN có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh mới, đầu
tư vào những lĩnh vực có lợi nhuận cao và tạo được ưu thế trên thị trường
1.3.2.4 Ngành nghề kinh doanh
Một doanh nghiệp khi thành lập phải xác định trước cho mình một loại nghành nghề kinh doanh nhất định Những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Để lựa chọn được loại
Trang 40hình kinh doanh thích hợp đòi hỏi DN phải tiến hành nghiên cứu phân tích môi trường, phân tích điểm mạnh điểm yếu của mình Với những lĩnh vực kinh doanh rủi ro thấp, lợi nhuận cao, ít có DN có khả năng tham gia hoặc lĩnh vực
đó được sự bảo hộ của Nhà nước thì hiệu quả sử dụng vốn của các DN hoạt động trong lĩnh vực đó có khả năng cao hơn Trong quá trình hoạt động, sự năng động sáng tạo của các DN trong việc lựa chọn sản phẩm, chuyển hướng sản xuất, đổi mới cải tiến sản phẩm, cũng có thể làm tăng hiệu quả sử dụng vốn Nếu doanh nghiệp biết đầu tư vốn vào việc nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu hoặc là đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh béo bở thì sẽ có khả năng thu lãi lớn