1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF

121 641 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Khái niệm chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế 7 1.2 Những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng tă

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1 Khái niệm chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế 7

1.2 Những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng tăng trưởng

kinh tế

1.2.3 Tiêu chuẩn về ổn định kinh tế và phát triển bền vững 18

1.3 Vai trò của việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.3.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng

kinh tế

27

1.3.2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trong

quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế

2.2.2 Tác động của khủng hoảng tài chính năm 1997 đối với tăng

trưởng kinh tế ở ASEAN-5 và sự phục hồi nhanh hơn dự đoán

Trang 2

2.2.3 Thành công và hạn chế trong vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô và

2.3 Những nguyên nhân dẫn đến thành công và hạn chế về chất

lượng tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN-5

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG KINH NGHIỆM ASEAN-5

TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CHO VIỆT NAM

3.1 Mục tiêu tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam

3.1.1 Quan điểm của Đảng và chính phủ về tăng trưởng và phát triển

kinh tế

78

3.1.2 Chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam 82

3.2 Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

hiện nay

3.2.1 Thực tế tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời gian qua 84 3.2.2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế ngày càng được nâng cao 88 3.2.3 Những hạn chế về chất lượng tăng trưởng kinh tế 94

3.3 Bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm ASEAN-5

3.3.1 Bài học về tăng trưởng kinh tế nhanh gắn liền với nâng cao chất

lượng tăng trưởng kinh tế

104

3.3.2 Bài học về vai trò của chính phủ trong việc nâng cao chất lượng

tăng trưởng kinh tế

106

Trang 3

AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nhiều học giả khoa học trong và ngoài nước cũng những nhà hoạch định chính sách và độc giả quan tâm đến tăng trưởng

kinh tế của Việt Nam và các nước thành viên ASEAN đều đặt ra vấn đề: Tốc

độ tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng

có thực sự bền vững hay không? Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu

Á năm 1997, nhiều nước ASEAN dường như đã làm tiêu tan sự thần kỳ kinh

tế của mình trong mấy thập kỷ công nghiệp hóa bởi sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, ô nhiễm môi trường nặng nề, bất ổn định xã hội triền miên, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế giảm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sa sút Còn ở Việt Nam, sau hơn một thập kỷ thực hiện chính sách "Đổi mới" với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nổi bật, nền kinh tế cũng đang phải đối phó với vấn đề suy giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cơ cấu kinh

tế chậm chuyển đổi, nghèo khổ có xu hướng gia tăng, thất nghiệp tràn lan, giáo dục không theo kịp với nhịp độ phát triển của nền kinh tế, tham nhũng hoành hành, ô nhiễm môi trường

Sự giảm sút về chất lượng tăng trưởng ở một số nước ASEAN sau khủng hoảng đã bộc lộ chiến lược phát triển kinh tế còn nhiều khiếm khuyết của các chính phủ Thực tế cho thấy ở những nước có chiến lược phát triển kinh tế hợp lý hơn (như Singapo, Malaixia, Thái Lan), tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước đó cũng nhanh hơn, ổn định hơn và chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng tốt hơn Trái lại, ở những nước không có chiến lược phát triển kinh tế hợp lí, chỉ dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô (như dầu khí ) và tận dụng lao động ít được đào tạo, thể chế chính trị mang tính bè phái .như Inđônêxia và Philippin, tăng trưởng kinh tế của các nước đó thường không cao và bất ổn định, chất lượng tăng trưởng thấp Tựu chung lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế có liên quan mật thiết đến chất lượng tăng trưởng kinh tế và ngược lại

Trang 5

Sự khác biệt trong sử dụng chính sách thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước ASEAN sẽ quyết định thành công của mỗi nước trong chất lượng tăng trưởng Đó là bài học kinh nghiệm quý giá cho các nước công

nghiệp hóa đi sau, trong đó có Việt Nam Chiến lược "Đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và vững bước đi lên" (Trích báo cáo chính trị tại Đại hội đảng lần thứ

VIII) của chính phủ Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu nhưng cũng tồn tại rất nhiều khó khăn cần giải quyết Do vậy, việc học hỏi kinh nghiệm của các nước ASEAN là rất cần thiết để Việt Nam tránh được những bước phát

triển sai lầm hoặc không cần thiết Xuất phát từ những thực tế trên và với

kiến thức đã được học, đề tài "Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" sẽ mang tính thiết thực và bổ ích giúp Việt Nam thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, nhiều học giả trong và ngoài nước có các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn dưới nhiều góc độ khác nhau Ở trong nước, trước hết phải kể đến các tác phẩm "Chất lượng tăng trưởng kinh tế: nhìn từ Đông Á" do Trần Văn Tùng chủ biên, nhà xuất bản Thế giới 2003 Tác phẩm này đã đánh giá chất lượng tăng trưởng của 4 quốc gia Châu Á là Trung Quốc, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia và rút ra những bài học kinh nghiệm Bên cạnh đó, các tác phẩm "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội" do Nguyễn Trần Quế chủ biên (Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 1998);

“Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương” (Nhà xuất bản khoa học xã hội 1998) cũng nêu lên mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, nguyên nhân và các biện pháp khắc phục những hậu quả của tăng trưởng kinh tế Trong các bài báo, tạp chí, các bài "Nhận dạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường" (Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 4/1999); "Chiến lược tài chính giải quyết mối quan hệ giữa

Trang 6

tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội" (Tạp chí Tài chính số 10/1999),

"Công nghiệp hóa và môi trường tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương" (tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 2/1999) cũng nêu lên mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế, giải quyết giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, những tồn tại và biện pháp khắc phục ở một số nước Châu Á trong đó

có các nước ASEAN

Trong các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, cần phải kể đến những tác phẩm: "Kinh tế học của sự phát triển" của Gillis.M và Perkins.D.H.,(1990); "Growth and Development" của Thirlwall A.P.(1994);

"Perspectives on Development" của World Bank (2001) Các công trình nghiên cứu trên đưa ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, các yếu tố đầu vào cho tăng trưởng, tác động của tăng trưởng đối với vấn đề giải quyết việc làm, dinh dưỡng, bệnh tật, phúc lợi cho con người Đánh giá về những thành tựu và hạn chế trong chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN-5 có các tác phẩm tiêu biểu như: “Why have East Asian Countries led Economic Development” của Helen Hughes ( Economic Record, 1995) nói lên những thành tựu về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước Châu á; “Indonesia: The Strange and Sudden Death of a Tiger Economy” của Hal Hill (2000) phản ảnh về những yếu kém trong chất lượng tăng trưởng kinh tế của Inđônêxia sau khủng hoảng 1997 do sai lầm chính sách từ phía chính phủ; “Anatomy of Poverty during Adjustment: The Case of the Philippines” của Arsenio M Balisacan (1995), phản ánh sự kém hiệu quả của chính sách xóa đói giảm nghèo của chính phủ Philippin; “The Dimensions of Environmental Change and Management in the South East Asian Region” của Harold Brookfield (1993) phản ánh những vấn đề về bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế của các nước Châu á trong đó có các nước ASEAN-5 Ngoài ra, những ấn phẩm của Ngân hàng thế giới và UNDP hàng năm cũng cung cấp những số liệu cập nhật về các chỉ

số kinh tế - xã hội thay đổi theo từng năm của từng nước ASEAN

Tình hình nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy chủ yếu các tác phẩm đều đi vào phân tích các vấn đề chung cũng tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ

Trang 7

giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, tác động của công nghiệp hóa đến phân hóa giàu nghèo, phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ y tế

xã hội, những thách thức đối với sự phát triển kinh tế bền vững Chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích đầy đủ các khía cạnh của chất lượng tăng trưởng kinh tế, so sánh mức độ thành công và thất bại của các nước ASEAN-5 trong việc thực hiện tăng trưởng và phát triển kinh tế, đặc biệt là chưa đưa ra những bài học kinh nghiệm cụ thể và đầy đủ cho Việt

Nam Do vậy, với việc nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế ở các

nước ASEAN-5, luận văn sẽ góp phần đánh giá một cách đây đủ và hệ thống chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN-5 và rút ra các bài học kinh nghiệm quý báu và thiết thực nhất cho Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những thành công và hạn chế của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của nhóm nước ASEAN-5, có

sự so sánh giữa các nước với nhau để thấy rõ hiệu quả chính sách kinh tế của từng nước Từ việc rút ra những yếu tố dẫn đến thành công và hạn chế về chất lượng tăng trưởng của ASEAN-5, luận văn sẽ rút ra những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam

Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể sau:

- Những nguồn lực và nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế nhanh ở các nước ASEAN-5 trong thời gian qua

- Phân tích mối quan hệ và hệ quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở các nước ASEAN-5

- Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 ở các nước ASEAN-5 và phản ứng chính sách của các chính phủ

- Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đánh giá chất lượng tăng trưởng của 5 nước ASEAN: Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào phân tích đánh giá các tiêu chuẩn đạt được về năng suất lao động, phúc lợi xã hội, môi trường, thể chế ở các nước ASEAN-5 Gắn liền với các tiêu chuẩn đó là các nhân tố phát triển các nguồn lực (lao động, công nghệ, vốn), chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hiệu quả của đồng vốn đầu tư, các chính sách phân phối thu nhập và cải thiện mức sống của dân cư, cơ sở hạ tầng, tình trạng tham nhũng

Về thời gian, luận văn tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ 1970 cho đến nay, nghĩa là khi các nước ASEAN-5 bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Đặc biệt luận văn sẽ chú trọng phân tích hai giai đoạn nhỏ: trước khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 và từ sau khủng hoảng đến nay

Đối với Việt Nam, thời gian nghiên cứu để áp dụng kinh nghiệm của các nước ASEAN-5 sẽ được tính từ năm 1986, sau khi thực hiện chính sách

"Đổi mới" kinh tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phương pháp sử dụng trong khoa học xã hội và trong kinh tế học như quy nạp, duy vật biện chứng , luận văn sẽ sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích kinh tế để tìm ra những căn cứ, số liệu minh họa Bên cạnh đó, trong luận văn sẽ sử dụng các phương pháp phân kỳ, nghiên cứu so sánh nhằm tìm ra những nét đặc thù giữa các nước, giữa các giai đoạn

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trang 9

Tác giả hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp cơ bản sau:

Thứ nhất, tóm tắt, đánh giá các lý thuyết chủ yếu về tăng trưởng kinh

tế, những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế

Thứ hai, hệ thống hóa một cách có chọn lọc những công trình của các

nhà nghiên cứu Việt Nam và học giả nước ngoài về tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng kinh tế, những vấn đề liên quan đến việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN và bài học rút ra cho Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu những mặt được, mặt chưa được của việc nâng cao

chất lượng tăng trưởng kinh tế ở ASEAN-5, từ đó nêu ra nguyên nhân và các giải pháp khắc phục

Thứ tư, nêu lên thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt

Nam hiện nay và đánh giá những kinh nghiệm rút ra từ chất lượng tăng trưởng kinh tế ở ASEAN-5

Thứ năm, cung cấp những chỉ số, tài liệu, số liệu cập nhật và đầy đủ

nhất về chất lượng tăng trưởng kinh tế ở ASEAN-5 và một danh mục tài liệu tham khảo phong phú liên quan đến đề tài

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương.:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế

Chương 2: Chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN-5 thời gian qua

Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt nam

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG

khái niệm “tăng trưởng kinh tế”

Theo kinh tế học phát triển [8], tăng trưởng kinh tế thường được quan

niệm theo hai nghĩa Theo nghĩa thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng

về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Nó được tính bằng mức tăng bình quân tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện trực tiếp trình độ mở rộng quy mô sản lượng đầu ra và có quan hệ phụ thuộc vào sự tăng lên của quy mô sử dụng các nguồn đầu vào Theo nghĩa này, tăng

trưởng kinh tế biểu hiện về mặt số lượng của quá trình phát triển kinh tế Theo

nghĩa thứ hai, tăng trưởng kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn cả về mặt

lượng và mặt chất Về mặt lượng, tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ra ở quy

mô, trình độ, tốc độ, nhịp điệu của sự gia tăng sản lượng và quy mô kinh tế

Về mặt chất lượng, tăng trưởng kinh tế chính là sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế

xã hội Tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội thường được đo bằng các tiêu chí như năng suất lao động; hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của tăng trưởng là vốn, lao động, tài nguyên, đất đai; đổi mới khoa học công nghệ, phát triển nguồn lực con người; giải quyết bất bình đẳng xã hội; phát triển cân đối ngành, vùng… Nói cách khác, chất lượng tăng trưởng kinh tế chính là tính quy định vốn có của nó, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho hiện

Trang 11

tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện tượng khác Chất lượng tăng trưởng kinh tế được quy định bởi chất của các yếu tố cấu thành và phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành tạo nên tăng trưởng kinh tế

Về các yếu tố cấu thành của sự tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế học đều cho rằng nó gồm ba yếu tố: công nghệ, vốn vật chất và lao động Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thời đại vai trò của các yếu tố này trong quá trình sản xuất cũng có sự thay đổi theo Các nhà kinh tế học của trường phái

cổ điển đều nhấn mạnh đến yếu tố đất đai, lao động và vốn, trong đó đất đai được đánh giá là một yếu tố quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế David Ricardo (1972-1823) cho rằng: tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai Do đó, đất đai là giới hạn đối với tăng trưởng

Trong mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế, Harrod - Domar ở thập kỷ 40 của thế kỷ XX đã xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về vốn Họ cho rằng vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng và tiết kiệm của nhân dân và của các công ty là nguồn gốc của đầu tư Ở đây, hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn - đầu ra) được đưa ra nhằm phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất và đo năng lực sản xuất của đầu tư

Họ đã đưa ra kết luận rằng chỉ bằng cách tăng nhanh tỷ lệ tiết kiệm (tức là đầu

tư lớn hơn) nền kinh tế mới tăng trưởng nhanh Đầu tư là động lực cơ bản của

độ công nghệ để nâng cao năng suất lao động Robert Solow đưa ra kết luận:

sự khác biệt trong mức thu nhập bình quân giữa các nước là do tỷ lệ tiết kiệm

và tốc độ phát triển dân số khác nhau Công nghệ là một yếu tố ngoại sinh và khẳng định tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn của một quốc gia phụ thuộc vào yếu tố ngoại sinh này

Trang 12

Tuy nhiên, trên thực tế, tiến bộ công nghệ không thể tự nhiên có mà do con người tạo ra thông qua một quá trình nghiên cứu và đổi mới liên tục Giữa những năm 1980, các nhà kinh tế học đã nỗ lực xây dựng các mô hình tăng trưởng nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế là hệ quả nội sinh của một

hệ thống kinh tế Những mô hình này được gọi là tăng trưởng nội sinh (endogenous growth) Trọng tâm của các mô hình này là nhằm nội tại hóa các biến “ngoại sinh” của mô hình Solow - đó chính là tiến bộ khoa học công nghệ

Các mô hình này tập trung vào hai nguyên nhân đưa tới sự tiến bộ công nghệ: tích lũy vốn nhân lực và hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) Một mặt, họ coi R&D đóng vai trò tiên quyết trong quá trình sáng chế và đổi mới mà nhờ đó nền kinh tế thu được những sản phẩm và công nghệ mới có chất lượng cao hơn Mặt khác, sự tích lũy vốn nhân lực chính là quá trình qua

đó nâng cao kỹ năng đem lại lợi ích cho bất kỳ một hoạt động sản xuất hay sáng tạo nào, trong đó có R & D

Romer (1986), dựa trên ý tưởng của Arrow (1962) về quá trình học hỏi qua thực tế triển khai (learning by doing) và các hiệu ứng phụ (spillover effects), đã chỉ ra rằng các hoạt động đổi mới (cụ thể là kỹ năng làm việc của công nhân) sẽ diễn ra trong quá trình sản xuất và sau đó là thông qua đầu tư Mặt khác, Lucas (1988) nhấn mạnh rằng tích lũy vốn nhân lực không chỉ diễn

ra trong quá trình sản xuất, mà chủ yếu thông qua giáo dục và đào tạo Do đó,

sự tăng trưởng của một nền kinh tế cũng phụ thuộc vào việc từng cá nhân phân bổ thời gian vào làm việc và tăng cường tích lũy vốn nhân lực của mình như thế nào

Vào những năm 1990, xuất phát từ quan điểm cho rằng học hỏi kiến thức chỉ có thể xảy ra khi những kiến thức cơ bản chủ đạo đã được đào tạo ở đâu

đó, các mô hình về tăng trưởng nội sinh trên cơ sở R&D (R & D – based endogenous growth) đã ra đời Các mô hình này đều dựa trên động cơ cá nhân

là nhằm thu lợi nhuận từ việc độc quyền sở hữu sáng chế hoặc cải tiến đổi mới của mình và sự đổi mới đó chính là động lực cho tăng trưởng Các mô hình này cũng khẳng định rằng R & D là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng

Trang 13

Từ sự phân tích trên đây, có thể đi đến một cách hiểu cơ bản về khái

niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế Chất lượng tăng trưởng kinh tế được

đánh giá là một khái niệm kinh tế dùng để chỉ tính ổn định của trạng thái bên trong vốn có của quá trình tăng trưởng kinh tế, là tổng hợp các thuộc tính cơ bản hay đặc trưng tạo thành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và một giai đoạn nhất định Nó bao gồm các yếu tố như chất lượng của nguồn lực lao động, trình độ kỹ thuật và công nghệ để khai thác nguồn lực sẵn có nhằm tạo nên năng suất lao động cao hơn và nền kinh tế phát triển đem lại phúc lợi xã hội cao hơn, môi trường được bảo vệ tốt hơn Khác với

chất lượng tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh mặt ngoài của quá trình tăng trưởng, thể hiện mức độ lớn nhỏ, nhanh, chậm của việc mở

rộng quy mô của nền kinh tế Chất lượng tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng

trưởng kinh tế là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ qua lại và thống nhất với nhau Trong quá trình phát triển kinh tế, việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, điều

đó mới tạo nên sự phát triển kinh tế bền vững

Tóm lại, chất lượng tăng trưởng kinh tế là một khái niệm tổng hợp bao gồm nhiều thuộc tính cơ bản và không cơ bản Để đưa ra những thuộc tính mang tính chất đặc trưng nhất phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng thế giới (WB), chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây như G.Becker, R.Lucas, Amartya Sen, J.Stiglitz… đã đưa ra 4 tiêu chuẩn chính:

1) Năng suất lao động tổng nhân tố (TFP) cao, đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài

2) Tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với phát triển môi trường bền vững 3) Tăng trưởng kinh tế phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội

và xóa đói giảm nghèo

4) Tăng trưởng kinh tế cần phải kết hợp với việc đổi mới thể chế chính phủ để có thể thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn

1.2 NHỮNG TIÊU CHUẨN CƠ BẢN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT

Trang 14

LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.2.1 Tiêu chuẩn về năng suất

Những lý luận trên đây về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế cho thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố tạo thành và vai trò của mỗi yếu tố phụ thuộc vào từng hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi nước Đối với các nước nghèo, vốn vật chất có vai trò quan trọng Đối với các nước

công nghiệp thì vai trò của TFP lại quan trọng hơn Theo Robert Solow, hệ số

năng suất lao động tổng nhân tố (TFP) là tổng hợp của các yếu tố như sự thay

đổi công nghệ, tăng trưởng kỹ năng sản xuất, vốn nhân lực và các yếu tố khác liên quan tới tăng trưởng kinh tế Hệ số TFP càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng tốt và năng suất lao động càng cao

Nhiều nghiên cứu cho rằng, các nước đang phát triển cần không ngừng tăng cường hiệu quả sử dụng vốn về kích thích động cơ tăng trưởng GDP nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung Tích lũy tư bản truyền thống là nhân tố nội tại quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế và điều này đã được hầu hết các lý thuyết kinh tế đề cập đến Đầu tư có thể đưa đến những thay đổi to lớn trong sản xuất, làm tăng năng suất và sản lượng, cải tiến cơ sở hạ tầng và phục vụ tốt hơn cho công tác nghiên cứu và triển khai Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, ảnh hưởng của các yếu tố khác như thay đổi trình độ giáo dục đào tạo, đổi mới công nghệ đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất lao động, mặc dù vẫn có sự khác biệt giữa các nước phát triển

và các nước đang phát triển

Trong những giai đoạn trước, các nhà kinh tế học tân cổ điển đã thành công trong lập luận và chứng minh tầm quan trọng của quy mô dân số nói chung và lực lượng lao động đông đảo nói riêng với kỹ năng sản xuất giản đơn trong việc quyết định tăng trưởng GDP Ngay cả trong thời gian gần đây, một số tác giả vẫn cho rằng với sự gia tăng dân số (do cả nguyên nhân tự nhiên và các hiện tượng di cư, nhập cư…) sẽ càng có nhiều người tăng cường đầu tư sức lực vào các hoạt động khoa học Các hoạt động này sẽ tạo ra nhiều hơn các đổi mới công nghệ, làm gia tăng kiến thức, kỹ năng và năng suất, tạo nên tác động lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế và dẫn tới tăng trưởng GDP cao hơn

Trang 15

Tuy nhiên, trên thực tiễn cho thấy sự gia tăng dân số không nhất thiết đem lại sự tăng trưởng GDP Sự tham gia của lao động phổ thông trong quá trình sản xuất ở các nước đang phát triển đem lại những hiệu quả tăng trưởng rất hạn chế Giáo dục phổ thông vẫn chủ yếu phản ánh quy mô lao động ở trình độ thấp trong nền kinh tế, mà theo các lý thuyết tăng trưởng nội sinh thì lao động trình độ cao mới đóng vai trò chủ đạo trong tăng trưởng GDP

Lợi ích của việc đầu tư nguồn nhân lực trong tăng trưởng TFP được nhiều lý thuyết tăng trưởng đề cập Các công trình nghiên cứu về kinh tế học nhân lực có liên quan đến tăng trưởng TFP đều khẳng định lợi ích của việc đầu tư nguồn nhân lực bởi các luận điểm sau:

- Đầu tư nguồn nhân lực ở trình độ giáo dục cao hơn giúp các quốc gia tiếp cận được các hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật cao, tiếp thu hiệu quả sự chuyển giao công nghệ nước ngoài và sản sinh những công nghệ mới Việc tập trung cho đào tạo nguồn nhân lực trong các ngành khoa học kỹ thuật sẽ giúp các nước đẩy nhanh quá trình tăng năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

- Đầu tư nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sẽ có vai trò quan trọng hơn trong phát triển công nghệ bởi nó tạo ra lực lượng lao động có kỹ năng cao, tạo nên năng lực đổi mới, vận dụng công nghệ phù hợp với điều kiện trong nước, tránh được những rủi ro trong quá trình đổi mới công nghệ

- Đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao phải bắt nguồn từ việc ưu tiên cho việc phổ cập giáo dục cơ sở, để từ đó tạo nên một lực lượng lao động có giáo dục và có kỹ năng cao hơn, tạo điều kiện cho việc mở rộng giáo dục bậc cao

Lợi ích của việc phát triển khoa học công nghệ trong việc gia tăng TFP cũng là rất rõ ràng Mô hình Solow đã chứng minh sự thay đổi công nghệ đã làm mở rộng sản xuất ở nước Mỹ ở mức độ rất lớn nhờ tăng nhanh năng suất lao động Mô hình này được nhiều nước châu Á ủng hộ trong việc nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài để bù đắp những thiếu hụt và lạc hậu công nghệ trong nước Nhờ tập trung tiếp thu và phát triển công nghệ, nhiều nước mới công nghiệp hóa đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong các lĩnh vực: +) tạo nên

sự tăng trưởng nhanh về vị trí quan trọng tương đối của các doanh nghiệp lớn

Trang 16

đang sử dụng công nghệ hiện đại và sự giảm sút tương ứng của các doanh nghiệp thủ công nhỏ (cũng như trong nông nghiệp và khu vực phi chính thức); và +) tạo nên sự chuyển hướng mạnh mẽ trong cơ cấu sản xuất theo ngành, từ nông sản và các sản phẩm công nghiệp sử dụng nhiều lao động sang các hàng hóa ngày càng phức tạp và công nghệ cao hơn Tuy nhiên, để có sự dịch chuyển nhanh chóng trong cả hai lĩnh vực như trên, cần phải có một mối quan hệ khăng khít giữa đầu tư và đổi mới công nghệ Ở các nước đang phát triển, việc tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ thường thông qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nhập khẩu mua bán công nghệ nhằm mục đích nâng cao năng suất và mở rộng quy mô sản xuất Các công trình nghiên cứu kinh tế học đều chứng minh rằng muốn khai thác hiệu quả công nghệ toàn cầu, các nước đang phát triển cũng cần phải đầu tư nhiều hơn cho hoạt động R&D bằng những cơ chế khuyến khích khác nhau như khuyến khích đầu tư R & D bằng nguồn tài chính tư nhân, bằng sự liên kết giữa các trường đại học và các ngành công nghiệp, bằng hình thức đầu tư mạo hiểm… Trong vấn đề tăng nhanh TFP, giữa giáo dục và khoa học công nghệ có

sự tác động qua lại rất khăng khít Thực tế cho thấy, các nền kinh tế mới công nghiệp hóa của châu Á có đặc điểm là có được một lực lượng lao động trình

độ học vấn khá cao khi họ bắt đầu thời kỳ tăng trưởng nhanh của mình và họ

đã dành rất nhiều nguồn lực cho đào tạo kỹ thuật Tác động giữa quá trình tăng năng suất và chuyển dịch hiệu quả giữa các ngành là rất rõ ràng nhờ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao Đặc biệt, trong việc tính toán mức độ tăng trưởng kinh tế, sự đóng góp của lực lượng lao động có trình độ học vấn cao ngày càng có xu hướng gia tăng so với các yếu tố khác của hàm sản xuất Những nghiên cứu của World Bank [5]

đã khẳng định rằng giáo dục chỉ mang lại thành quả khi có sự thay đổi công nghệ diễn ra nhanh chóng Một người lao động đã tốt nghiệp đại học nhưng chỉ được sử dụng công nghệ thấp hơn những gì mà anh ta đã được học thì sẽ không khai thác được gì từ học vấn của anh ta Trái lại, trình độ học vấn của anh ta sẽ giúp anh ta tăng nhanh năng suất lao động nhờ đổi mới công nghệ và điều này buộc anh ta phải thích nghi với công nghệ mới Như vậy trình độ học vấn cao hơn sẽ được khai thác hiệu quả khi công nghệ thay đổi và trình độ

Trang 17

học vấn sẽ có rất ít tác dụng nếu không có sự thay đổi công nghệ Trình độ học vấn cao nếu thiếu sự nhập khẩu công nghệ (thông qua FDI, mua bán công nghệ…) hoặc ngược lại, sẽ có khả năng dẫn đến việc tốn kém chi phí tiếp nhận chuyển giao công nghệ, không nâng cao được năng suất lao động, không tạo ra được sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế nhanh chóng, tạo ra tác động nhỏ hơn đến tăng trưởng kinh tế

1.2.2 Tiêu chuẩn về phúc lợi xã hội

Khía cạnh tiếp theo phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là việc xem xét vấn đề ai có lợi từ tăng trưởng kinh tế Có thể nói tăng trưởng kinh tế là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi con người Các chỉ tiêu phản ánh việc nâng cao phúc lợi của người dân trong quá trình tăng trưởng kinh tế bao gồm:

1.2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh việc cải thiện và nâng cao các nhu cầu

cơ bản của con người

Để xác định tăng trưởng kinh tế có nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống hay không, kinh tế học phát triển đã đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh các nhu cầu cơ bản của con người, bao gồm:

- Các chỉ tiêu phản ánh mức sống như thu nhập bình quân đầu người trong một năm, tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu người/ngày, lượng lương thực bình quân đầu người

- Các chỉ tiêu phản ánh tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khỏe, cụ thể là: tuổi thọ bình quân, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, tỷ lệ y bác sĩ bình quân đầu người, tỷ lệ chi tiêu công cộng về sức khỏe

- Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển nguồn nhân lực: bao gồm tỷ lệ biết chữ của lực lượng lao động, tỷ lệ mù chữ, số năm đi học bình quân, chi tiêu ngân sách giành cho giáo dục, tốc độ tăng dân số bình quân, tỷ lệ thất nghiệp Đặc biệt, để đánh giá các chỉ tiêu phát triển liên quan đến con người, Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người nhằm kết hợp và lượng hóa ba thành phần cơ bản có liên quan đến sự phát triển con người, đó là tuổi thọ bình quân, trình độ văn hóa (gồm tỷ lệ biết đọc biết viết và số năm đi học bình quân) và thu nhập bình quân đầu người (tính theo phương pháp đồng giá sức mua – PPP) HDI được tính toán bằng công thức sau:

Trang 18

HDI = 1 – (Ia + Ie + Iw)/3

Trong đó: Ia: hệ số đánh giá tuổi thọ

Ie: hệ số đánh giá kiến thức

Iw: hệ số đánh giá thu nhập bình quân

Ia = (Amax – Ai)/ (Amax – Amin) Trong đó: Amax: tuổi thọ bình quân cao nhất thế giới

Ai: tuổi thọ bình quân của nước i

Amin: tuổi thọ bình quân thấp nhất thế giới

Ie = (Emax – Ei)/ (Emax – Emin) Trong đó: Emax: trình độ văn hóa cao nhất thế giới

Emin: trình độ văn hóa thấp nhất thế giới

Ei: trình độ văn hóa trung bình của nước i

E = 2a1 + a2 Trong đó: a1: tỷ lệ biết chữ của nước i/tỷ lệ biết chữ cao nhất thế giới

a2 : số năm đi học trung bình của nước i/số năm đi học trung

bình cao nhất thế giới

Iw = (Wmax – Wi)/ (Wmax – Wmin) Trong đó Wmax: mức thu nhập bình quân cao nhất thế giới

Wmin: mức thu nhập bình quân thấp nhất thế giới

Wi: mức thu nhập bình quân của nước i

Theo công thức này, chỉ số HDI càng lớn, trình độ phát triển nguồn nhân lực của nước đó càng cao

Thông qua các chỉ tiêu trên, có thể thấy lợi ích to lớn của việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống Các công trình nghiên cứu về kinh tế học nhân lực đều khẳng định lợi ích của việc đầu tư nguồn nhân lực thông qua những luận điểm:

Thứ nhất, đầu tư nguồn nhân lực sẽ giúp người dân nâng cao khả năng

thích nghi và chống đỡ với những thay đổi bất thường về điều kiện môi trường sống, ví dụ như những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường

Thứ hai, đầu tư nguồn nhân lực sẽ giúp người dân nhận thức tốt hơn các

hành vi sinh đẻ, nuôi dạy con cái, giảm tỷ lệ sinh, nâng cao thu nhập bình

Trang 19

quân đầu người, hạn chế sự tàn phá môi trường, tăng tuổi thọ bình quân và mức sống nói chung

Thứ ba, đầu tư nguồn nhân lực, thông qua giáo dục, sẽ giúp người dân

hiểu rõ hơn về quyền con người của họ, từ đó mở rộng cơ chế dân chủ và nâng cao những quyền lợi cá nhân từ tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu của World Bank đều cho rằng ở những nước có số năm

đi học bình quân đầu người càng cao thì tỷ lệ tăng trưởng càng nhanh Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, cơ hội tiếp cận chi phí đầu tư giáo dục của các tầng lớp dân cư là rất khác nhau, do đó những tác động của nó đối với nền kinh tế cũng khác nhau Ở các nước phát triển, do nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình

độ tăng cao, nên đầu tư của nhà nước và của tư nhân cho giáo dục cũng tăng nhanh Ở những nước đang phát triển, chất lượng giáo dục thấp nên người nghèo phải chịu những thiệt thòi trong việc tiếp cận các cơ hội giáo dục tốt hơn để có thể tìm kiếm được việc làm, nâng cao thu nhập và các phúc lợi xã hội khác Bất bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội giáo dục và các dịch vụ

y tế thường là rất lớn ở các nước đang phát triển Vì vậy, việc phân phối cơ hội công bằng trong giáo dục và y tế là một trong những mục tiêu mà chính phủ các nước thường theo đuổi nhằm tạo ra sự phát triển cân đối nguồn vốn nhân lực, mở rộng quy mô sản xuất và cải thiện phúc lợi xã hội

1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh công bằng xã hội và giảm tỷ lệ nghèo đói

Thực tế cho thấy không phải ở tất cả các nước nghèo mọi người đều có thu nhập thấp và ngược lại, ở các nước giàu mọi người đều có thu nhập cao Trong quá trình tăng trưởng kinh tế, tất nhiên sẽ dẫn đến sự chênh lệch trong phân phối thu nhập bởi vì thu nhập của người dân gia tăng theo mức độ khác nhau Để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, tất nhiên là phải tạo ra sự công bằng xã hội Ở đây, công bằng không có nghĩa là đem chia đều tất cả các thành quả của tăng trưởng kinh tế xã hội cho mọi người Trái lại, công bằng

xã hội được hiểu là một sự bình đẳng trước các cơ hội về việc làm, đầu tư, bình đẳng trước các cơ hội để nâng cao nguồn vốn nhân lực và có mức sống cao hơn Mặt khác, xã hội cũng phải tạo ra nhiều cơ hội để đáp ứng nhu cầu của nhiều tầng lớp dân cư Nói cách khác, mọi người đều có cơ hội tham gia

Trang 20

vào quá trình phát triển và được hưởng các thành quả do mình đóng góp tương xứng với năng lực của mình

Có nhiều quan điểm khác nhau về công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế Quan điểm thứ nhất nhấn mạnh đến việc tăng trưởng trước, công bằng sau Theo quan điểm này, cứ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế thì sẽ

có công bằng xã hội bởi tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ làm tăng nhanh thu nhập, từ đó kéo theo việc giải quyết các vấn đề cơ cấu kinh tế và xã hội Thực

tế cho thấy, những nước đi theo quan điểm này đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao, không ngừng gia tăng thu nhập cho nền kinh tế Tuy nhiên, quan điểm này cũng bộc lộ nhiều hạn chế do khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên và phá hủy môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến sự phát triển của các thế hệ tiếp theo Nó cũng tạo nên sự mất bình đẳng về kinh tế và chính trị, đem lại những mâu thuẫn và xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế đạt được do tăng trưởng nhanh, tạo nên sự mất ổn định kinh tế và xã hội

Quan điểm thứ hai nhấn mạnh công bằng và bình đẳng trong xã hội Theo quan điểm này, sự phát triển sản xuất được đầu tư dàn đều cho các ngành, các vùng và sự phân phối được thực hiện theo nguyên tắc bình quân Quan điểm này cho rằng xã hội càng công bằng, chất lượng tăng trưởng kinh

tế càng cao Ưu điểm của quan điểm này là đã hạn chế được sự bất bình đẳng trong xã hội, tạo điều kiện phân phối công bằng phúc lợi xã hội Tuy nhiên,

nó dẫn đến hạn chế các nguồn lực phát triển, khó tạo nên tăng trưởng kinh tế cao và không có tác dụng khuyến khích người lao động

Quan điểm thứ ba nhấn mạnh đến phát triển toàn diện Đây là sự lựa chọn trung gian giữa hai quan điểm trên Quan điểm này cho rằng tăng trưởng kinh tế cần phải kết hợp giải quyết tốt công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường Theo quan điểm này, tuy tốc độ tăng trưởng có hạn chế nhưng các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết

Để đánh giá mức độ công bằng và bình đẳng trong xã hội, các nhà kinh

tế học và xã hội học đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, cách

sử dụng phổ biến nhất vẫn là Hệ số Gini và đường cong Lorenz Đường cong Lorenz nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giữa 5 nhóm người khác nhau trong xã hội, mỗi nhóm có 20% dân số từ thu nhập thấp nhất đến thu nhập cao

Trang 21

nhất Trong biểu đồ đường cong Lorenz, khi đường cong càng cách xa đường

450 thì bất bình đẳng trong xã hội càng gia tăng Ngược lại, khi thu nhập của nhóm người nghèo tăng lên và nhóm người giàu giảm đi, đường cong Lorenz

sẽ gần với đường 450 hơn và như vậy bất bình đẳng sẽ được giảm bớt

Trên cơ sở tính toán từ đường cong Lorenz, hệ số Gini là thước đo thường được sử dụng phổ biến nhất để đo sự bất bình đẳng xã hội Về mặt lý thuyết, giá trị của hệ số Gini là từ 0 (hoàn toàn bình đẳng) đến 1 (hoàn toàn bất bình đẳng) Về mặt thực tế, giá trị của hệ số Gini là trong khoảng từ 0 đến

1 (0< hệ số Gini<1) WB cho rằng ở những nước có thu nhập thấp, hệ số Gini thường dao động từ 0,3 đến 0,5, đối với những nước có thu nhập trung bình

từ 0,4 đến 0,6 và đối với những nước có thu nhập cao là từ 0,2 đến 0,4

Để đánh giá sự bất bình đẳng trong thu nhập, khái niệm và phương pháp

mà các nhà kinh tế học và xã hội học thường dùng là đo mức nghèo tuyệt đối

và nghèo tương đối, đồng thời đưa ra bội số giàu nghèo Theo đánh giá của Liên hợp quốc, nghèo tuyệt đối là những người không đảm bảo được mức sống tối thiểu như lương thực, thực phẩm, tiêu chuẩn dinh dưỡng, tỷ lệ mù chữ Mức nghèo tuyệt đối quy thành giá trị là khoảng 1 USD/người/ngày, tức là không đảm bảo mức 2200 calo/ngày/người Trong khi đó, mức nghèo khổ tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc vào địa điểm dân

cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến ở nơi đó Sự nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống ở mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được Mức nghèo khổ tương đối thường khác nhau giữa các nước hoặc từ vùng này sang vùng khác Nghèo tương đối cũng là một hình thức biểu hiện sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo khổ và bất bình đẳng như sự tiếp cận không công bằng của người dân đến các nguồn lực của nền kinh tế như sở hữu đất đai, sở hữu nhà xưởng, cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, hàng hóa, thị trường Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất là trình

độ giáo dục thấp kém của những người dân nghèo khiến họ không thể tăng nhanh năng suất lao động và có những cơ hội việc làm thu nhập cao hơn Những người có trình độ giáo dục thấp trong xã hội ngày càng có nguy cơ bị đẩy ra ngoài lề của sự phát triển kinh tế Đây là một trong những nguyên nhân

Trang 22

gây nên sự mất ổn định xã hội nếu không có sự đầu tư đúng đắn từ các chính phủ như giáo dục đào tạo, cung cấp các dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế, trợ giúp nhà ở, trợ giúp lương thực và sức khỏe sinh sản, tạo nên an ninh thu nhập cho những người nghèo

1.2.3 Tiêu chuẩn về ổn định kinh tế và phát triển bền vững

Tiêu chuẩn này liên quan đến 5 yếu tố chủ yếu: thất nghiệp, lạm phát, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiêu chuẩn về chi tiêu chính phủ và bảo vệ tài nguyên môi trường

1.2.3.1 Thất nghiệp

Thất nghiệp thường đem lại những tác động tiêu cực đối với cả lĩnh vực kinh tế và xã hội Về mặt kinh tế, thất nghiệp làm mất đi những giá trị kinh tế trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ, đồng thời tạo ra những chi phí trợ cấp thất nghiệp không nhỏ Do thất nghiệp tăng nhanh, năng suất lao động của người công nhân và năng lực của toàn bộ nền kinh tế đều có chiều hướng giảm Về mặt xã hội, thất nghiệp thường đe dọa tính ổn định của mỗi gia đình, của nền kinh tế và của toàn xã hội

Thất nghiệp gồm những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm Theo cách tính thông thường, tỷ lệ thất nghiệp tính bằng tỷ lệ % giữa tổng số người thất nghiệp với tổng số lực lượng lao động Với tỷ lệ thất nghiệp thấp (thường là 4-6%), quốc gia đó được đánh giá là đã tạo nên được việc làm đầy đủ cho người lao động Đối với các nước đang phát triển, tỷ lệ thất nghiệp theo cách tính này chưa phản ánh đúng thực chất về nguồn lao động chưa được sử dụng hết Trong thống kê thất nghiệp của các nước đang phát triển, số người nghèo thường chiếm tỷ lệ rất lớn và khi họ thất nghiệp thì

họ cố gắng không để thời gian đó kéo dài Do đó ở các nước đang phát triển,

để biểu hiện tình trạng chưa sử dụng hết nguồn lao động, người ta thường dùng khái niệm là thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình Thất nghiệp trá hình thường xảy ra ở các vùng nông thôn hoặc thành thị trong các ngành nghề không chính thức có năng suất lao động rất thấp và họ có đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào quá trình sản xuất

Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến tình trạng thất nghiệp ở một nước Xét về mặt cung lao động, thất nghiệp xảy ra khi cung lao động tăng

Trang 23

nhanh bởi các nguyên nhân như: tình trạng bùng nổ dân số, có sự sắp xếp lại các hoạt động sản xuất và lao động trong một khu vực kinh tế, một ngành nghề nhất định dẫn đến dư thừa rất lớn về lao động, và hơn nữa là có sự tăng nhanh lao động di cư từ nông thôn ra thành thị hoặc trong nội vùng, ngành Xét về mặt cầu lao động, thất nghiệp xảy ra khi cầu lao động tăng chậm bởi các nguyên nhân như: thiếu vốn đầu tư để phát triển, chiến lược lựa chọn công nghệ thích hợp chưa được xác định rõ ràng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chạp,

Để giảm tỷ lệ thất nghiệp, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều biện pháp khác nhau Theo lý thuyết phát triển kinh tế của Arthus Levis, để giảm thất nghiệp cần phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng từ nông nghiệp sang công nghiệp nhằm chuyển lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp với năng suất cao hơn nhờ đầu tư khoa học công nghệ; đồng thời ông cũng cho rằng để giảm thất nghiệp nhất thiết phải kết hợp với việc giảm tốc độ tăng dân số Theo lý thuyết về việc làm, lãi suất

và tiền tệ của Keynes, thất nghiệp xảy ra khi nền kinh tế hoạt động ở dưới mức sản lượng tiềm năng, dẫn đến sự trì trệ của toàn bộ nền kinh tế Do vậy

để giảm thất nghiệp nhất thiết phải gia tăng đầu tư, tăng cầu tiêu dùng, trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, giảm lãi suất và duy trì lạm phát có mức độ để nâng cao tổng cầu và việc làm trong xã hội Phần lớn các lý thuyết hiện đại lại cho rằng đầu tư giáo dục là cách tốt nhất để đào tạo và đào tạo lại những người lao động đang bị mất việc làm để họ có thể có khả năng luân chuyển từ khu vực này sang khu vực khác

1.2.3.2 Lạm phát

Nguyên nhân của lạm phát có thể là do: cầu tăng do chính sách tài chính

và tiền tệ mở rộng làm cho giá cả hàng hóa tăng; hoặc là chi phí tăng đẩy giá nguyên vật liệu và hàng hóa tăng Ngoài những nhân tố truyền thống trên, yếu

tố tâm lý cũng tham gia tác động, ví dụ như công nhân dự định giá cả sẽ tiếp tục tăng và thu nhập thực tế của họ còn giảm hơn nữa khiến họ đấu tranh đòi tăng lương Mức lương ngày càng tăng đã gây áp lực với chi phí sản xuất, dẫn đến giá tiêu dùng cao hơn và đẩy lạm phát tiếp tục tăng

Trang 24

Lạm phát tăng thường làm cho cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng do giá cả tăng cao Ở những nền kinh tế tăng trưởng không ổn định hoặc có những biến cố lớn như thiên tai, chiến tranh, khủng hoảng kinh

tế, biến động chính trị , lạm phát thường có xu hướng tăng cao và điều này khiến cho chất lượng tăng trưởng kinh tế không thể được duy trì Để hạn chế lạm phát, chính phủ các nước thường dùng các biện pháp như: giảm bớt lượng cung tiền và tăng lãi suất; giảm chi tiêu chính phủ; tăng thuế, đặc biệt là thuế thu nhập đối với người có thu nhập trung bình và cao; đưa ra các chính sách chỉ đạo về lương và giá cả; điều chỉnh tỷ giá hối đoái Lạm phát duy trì ở mức 5-7% [34] được coi là mức lý tưởng để nền kinh tế có thể thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và phát triển của mình

1.2.3.3 Tiêu chuẩn về chi tiêu chính phủ

Theo quan điểm truyền thống, quy mô chi tiêu của chính phủ được đánh giá bằng tổng mức chi tiêu và tỷ lệ chi tiêu chính phủ trong GDP Trong những năm 1980, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế Nhìn chung, các nhà kinh tế học đều thấy rõ những tác động tích cực giữa quy mô chi tiêu của chính phủ với tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng có nhiều quan điểm đánh giá về mối quan hệ tiêu cực của hai yếu tố này Ở nhiều nước đang phát triển, tổng chi tiêu chính phủ và tỷ lệ vay/GDP nhìn chung là cao và có xu hướng gia tăng, làm tăng các khoản vay

nợ giành cho chi tiêu ở tất cả các nước Mức độ hiệu quả của chi tiêu chính phủ là lợi ích ròng mà xã hội thu được được tối đa hóa, ở đó thu - chi chính phủ là ngang bằng nhau Chi tiêu chính phủ trong một nền kinh tế là nhằm ba mục đích: +) cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng; +) cải thiện tính hiệu quả của hệ thống thị trường, đặc biệt trước những biến động từ bên ngoài; và +) phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội cho mọi người dân sống trong xã hội đó Xã hội càng phát triển, chi tiêu chính phủ càng có

xu hướng mở rộng và thâm hụt ngân sách là điều luôn xảy ra đối với mỗi quốc gia Thâm hụt ngân sách lớn có xu hướng gây ra sự bất ổn định về kinh

tế trong những trường hợp nhất định (ví dụ như nền kinh tế đang có chiều hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng) và tạo ra những món nợ tài chính khổng

lồ Để giảm thâm hụt ngân sách, các chính phủ thường theo đuổi một chính

Trang 25

sách tài chính ngặt nghèo như tăng thuế, cắt giảm chi tiêu , và điều này thường đưa nền kinh tế phải đối tình trạng giảm phát hoặc thất nghiệp tràn lan

Theo đánh giá của các nhà kinh tế học, để hình thành một hệ thống tài chính công lành mạnh đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững của một nền kinh tế, nhất thiết phải hạn chế tốc độ gia tăng chi tiêu của chính phủ và duy trì sự thâm hụt ngân sách ở một tỷ lệ hợp lý, hơn nữa là cải cách thuế thu nhập theo hướng công bằng hơn và hiệu quả hơn nhằm cải thiện cán cân thu - chi của chính phủ

- Nợ quốc gia

Thâm hụt ngân sách lớn thường gây ra gánh nặng nợ nần cho nền kinh

tế Các nhà kinh tế học thường quan tâm đến quy mô của các khoản nợ nần quốc gia và những tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế Tỷ lệ nợ quốc gia càng lớn, nguy cơ giảm năng suất lao động và sản lượng càng cao Chính phủ các nước thường có xu hướng tăng thuế để bù đắp những chi phí về lãi suất của các khoản nợ nần, từ đó làm giảm lạm phát Trong trường hợp này, nền kinh tế thường hoạt động kém hiệu quả, nó có xu hướng làm giảm quy

mô các hoạt động sản xuất kinh doanh, làm cho vấn đề tái phân phối thu nhập cho người dân theo chiều hướng xấu đi và đem lại những khoản nợ nần lớn hơn

Quản lý nợ quốc gia là một nhiệm vụ khó khăn đối với các chính phủ Các chính sách quản lý nợ quốc gia thường được sử dụng là các chính sách tài chính, tiền tệ để quản lý quy mô các khoản nợ và xác định rõ những đặc trưng

cơ cấu của các khoản nợ Chính sách quản lý nợ hiệu quả có tác động tích cực đối với sự ổn định kinh tế, tối thiểu hóa được chi phí lãi suất của các khoản nợ

đó và giúp quốc gia xác định được khi nào cần thiết vay nợ, vay nợ để phục

vụ mục tiêu gì và vay bao nhiêu cho đủ đáp ứng nhu cầu của đất nước đồng thời tránh được những rủi ro Nợ nước ngoài lớn, đặc biệt khi tỷ lệ nợ xấu ngày càng cao, trong điều kiện tiết kiệm quốc gia không đủ chi trả cho các khoản nợ đó thường dẫn đến sự bất ổn định kinh tế vĩ mô và có nguy cơ gây

ra khủng hoảng kinh tế

1.2.3.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 26

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đánh giá là một nhân tố tạo nên sự phát triển kinh tế ở mọi thời đại Các lý thuyết tăng trưởng liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều cho rằng tăng trưởng kinh tế cao thường đi đôi với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng, tạo nên tính hiện đại và hiệu quả hơn cho nền kinh tế Lý thuyết về các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow (1960) cho rằng quá trình phát triển kinh tế của một nước có thể chia thành 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, trưởng thành và mức tiêu dùng cao Việc xem xét các giai đoạn phát triển của Rostow nhằm nêu rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang kinh tế công nghiệp và dịch vụ tiêu dùng Ở mỗi giai đoạn phát triển, lực lượng chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng là khác nhau Trong xã hội truyền thống, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế và do trình độ khoa học kỹ thuật ở thời kỳ này còn thấp kém nên cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển chậm chạp Trong giai đoạn chuẩn

bị cất cánh, khoa học kỹ thuật bắt đầu được áp dụng vào sản xuất và các chính phủ bắt đầu coi trọng giáo dục Nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề kinh tế và thương mại hàng hóa Trong giai đoạn này, chuyển dịch cơ cấu có những biến chuyển, nhưng phương thức sản xuất truyền thống với năng suất thấp vẫn tồn tại Trong giai đoạn cất cánh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng cao, tiết kiệm và đầu

tư ngày càng nhiều hơn, mức sống của người dân được cải thiện rõ rệt Trong giai đoạn trưởng thành, nền kinh tế chủ yếu được đặc trưng bởi các ngành công nghiệp mới và hiện đại, khoa học công nghệ tiên tiến được áp dụng cho tất cả các ngành kinh tế, năng suất lao động cao, nhu cầu xuất nhập khẩu tăng mạnh và nền kinh tế có sự hội nhập sâu sắc vào thị trường quốc tế Giai đoạn mức tiêu dùng cao là giai đoạn cuối cùng của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một nước, được đặc trưng bởi thu nhập đầu người tăng nhanh, phúc lợi xã hội được chú trọng cho mọi người dân, cơ cấu lao động có sự thay đổi theo chiều hướng có chuyên môn và tay nghề cao

Các nhà kinh tế học khác như Arthus Lewis, T Oshima… cũng đã đưa

ra mối quan hệ giữa hai khu vực kinh tế công nghiệp - nông nghiệp trong một

Trang 27

nước và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang khu vực công nghiệp của các nước này Lợi ích của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhằm tạo nên tính hiện đại cho nền kinh tế bằng cách áp dụng khoa học công nghệ mới, giải quyết vấn đề lao động nông nghiệp nhàn rỗi, hướng tới việc làm đầy đủ, để từ

đó mở rộng quy mô sản xuất, phát triển các hoạt động thương mại ra ngoài biên giới quốc gia, tăng tích lũy cho nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng nhanh thu nhập cho người dân, phân phối hiệu quả hơn phúc lợi xã hội Sau khi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp được hoàn thành, nền kinh tế sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo

là quá độ từ công nghiệp sang dịch vụ

Khác với các tiêu chí về tăng trưởng kinh tế chủ yếu phản ánh sự biến đổi về lượng trong quá trình công nghiệp hóa, các tiêu chí về chuyển dịch cơ cấu phản ánh cả sự biến đổi về chất của quá trình này, mặc dù nó cũng có thể được lượng hóa Xem xét các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nhà kinh tế học phát triển, áp dụng trong thời đại ngày nay có thể thấy những thay đổi về cơ cấu chủ yếu bao gồm các cơ cấu về ngành, cơ cấu kinh

tế đối nội và đối ngoại, cơ cấu xuất nhập khẩu, cơ cấu vùng và cơ cấu lao động

Trong cơ cấu ngành, có sự phân chia thành cơ cấu giữa các ngành kinh

tế cơ bản như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; cơ cấu giữa các ngành công nghiệp với nhau, cơ cấu giữa các sản phẩm xuất khẩu, cơ cấu giữa các ngành trong nội bộ khu vực nông nghiệp theo nghĩa rộng Cơ cấu giữa các ngành kinh tế là loại cơ cấu cơ bản nhất, phản ánh xu hướng chuyển đổi cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa Xu hướng công nghiệp hóa là nhằm tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong thu nhập quốc dân, ở giai đoạn hiện đại hơn là sẽ nhằm tăng tỷ trọng của cả ngành công nghiệp và dịch

vụ Theo đánh giá của các nhà kinh tế học, một nền kinh tế đang phát triển muốn trở thành một nền kinh tế công nghiệp hóa mới thì phải giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống dưới 20% GDP, nâng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ lên mức trên dưới 80% Còn muốn trở thành một nền kinh tế công nghiệp hóa cao thì nước đó phải có tỷ trọng nông nghiệp dưới 10%, trong nhiều trường hợp là dưới 5%

Trang 28

Xét trong cơ cấu giữa các ngành công nghiệp với nhau, các ngành công nghiệp chế tạo được đánh giá là đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nên sự hiện đại hóa của nền kinh tế Còn trong

cơ cấu xuất khẩu, một nước được đánh giá là đạt được sự tăng trưởng ổn định khi có tỷ trọng hàng hóa công nghiệp chế tạo xuất khẩu đạt mức cao Trong

cơ cấu ngành nông nghiệp, sự phát triển ổn định đồng nghĩa với sự không phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp truyền thống mà chuyển sang việc áp dụng các khoa học công nghệ tiên tiến như công nghệ tự động hóa, công nghệ vi sinh… Ngoài ra, những tiêu chí khác để đánh giá chất lượng của chuyển dịch

cơ cấu kinh tế bền vững là mức độ gia tăng đô thị hóa, tốc độ tăng trưởng thực tế của các ngành công nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế

1.2.3.5 Phát triển bền vững

Theo Uỷ ban môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới, phát

triển bền vững được định nghĩa là sự phát triển “đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ” [6] Khái niệm này chủ yếu đề cập đến những thách thức

của nhân loại về môi trường sinh thái đang bị phá hoại nghiêm trọng Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa rộng hơn, phát triển bền vững là một vấn đề liên ngành, nó là quá trình thay đổi một cách rõ rệt chất lượng cuộc sống, trong đó phản ánh mối liên hệ giữa con người với môi trường tự nhiên Hơn nữa, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên lại chỉ có thể được giải quyết có hiệu quả khi mối quan hệ giữa con người và con người đã được giải quyết Một xã hội không thể có được mối quan hệ lành mạnh, tốt đẹp giữa con người với tự nhiên, nếu xã hội đó vẫn còn tình trạng nghèo đói, nạn thất nghiệp lan tràn, các hiện tượng tiêu cực của xã hội vẫn ngày càng gia tăng Tăng trưởng kinh

tế đã trở thành điều kiện để cải thiện quan hệ của con người với môi trường tự nhiên Như vậy, môi trường có thể bị tổn hại nếu phát triển quá tải, phát triển bất chấp khả năng chịu đựng của môi trường Nhưng môi trường cũng có thể

bị tàn phá bởi sự nghèo đói của con người

Trang 29

Từ khái niệm trên, trong hội nghị chuyên đề về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tháng 6/1992 tại Rio de Janero, phát triển bền vững bao gồm những nội dung cụ thể sau:

+ Bảo vệ khí quyển chống lại sự thay đổi khí hậu, tầng ô zôn bị nghèo

đi, ô nhiễm không khí

+ Bảo vệ đất đai chống lại nạn phá rừng, sa mạc hóa và hạn hán

+ Bảo vệ sự đa dạng hóa sinh học

+ Bảo vệ các nguồn tài nguyên nước ngọt

+ Bảo vệ đại dương, biển và các vùng ven bờ, khai thác và sử dụng hợp

lý các nguồn tài nguyên biển

+ Sử dụng các công nghệ sinh học hợp lý về sinh thái và sử lý hợp vệ sinh các chất thải

+ Ngăn ngừa việc buôn bán các sản phẩm độc hại

+ Nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe con người

+ Cải thiện điều kiện sống và làm việc của người nghèo bằng việc xóa

bỏ nghèo khổ và chấm dứt sự tha hóa của môi trường

Đến năm 1995, WB lại đưa ra một chỉ tiêu mới đánh giá sự giàu có thực

sự của một quốc gia, đó là chỉ tiêu mức tài sản quốc gia bình quân đầu người Chỉ tiêu này được tính toán tổng hợp từ ba tiêu thức: tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng, mỏ ), tài sản được sản xuất ra (nhà máy, công xưởng, máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng ) và nguồn nhân lực (trình độ văn hóa giáo dục, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng )

Những tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững cho thấy việc quan tâm chăm sóc bảo vệ môi trường là sự thể hiện việc gắn kết hiệu quả giữa tăng trưởng ngắn hạn và tăng trưởng dài hạn, trong đó tăng trưởng ngắn hạn phải

là tiền đề cho tăng trưởng dài hạn Vì thế, một vấn đề có tính nguyên tắc đối với sự phát triển bền vững là các quyết định cho các hoạt động kinh tế xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường và phải coi mục tiêu bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng như các mục tiêu kinh tế khác

1.2.4 Tiêu chuẩn về thể chế chính phủ

Đổi mới thể chế được đánh giá là một tiêu chuẩn đo hiệu quả của tăng trưởng kinh tế dài hạn Theo đánh giá chung, tăng trưởng kinh tế trong một

Trang 30

chế độ chính trị mang tính dân chủ hơn sẽ giúp nền kinh tế hoạt động tốt hơn

và đạt được chất lượng tăng trưởng cao hơn Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với quá trình đổi mới thể chế được nhìn nhận là vừa có tính tích cực, vừa mang tính trực tiếp Những tiêu chí để đánh giá một xã hội dân chủ là: sự minh bạch trong hệ thống luật pháp và trong hoạt động sản xuất kinh doanh; mức độ chuyên quyền được hạn chế đến mức tối thiểu, phúc lợi xã hội được phân phối bình đẳng hơn; quyền tự do của con người được nâng cao (cả quyền tự do chính trị và quyền tự do xã hội); liên minh chính trị giữa chính phủ - ngân hàng - doanh nghiệp được hạn chế; tham nhũng ít; chính phủ hoạt động hiệu quả; môi trường phát triển kinh tế mang tính tự do Xã hội dân chủ chỉ có thể đạt được khi nền kinh tế phát triển ở một trình độ tương đối cao

* Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đổi mới thể chế được thể hiện qua các khía cạnh sau [16]:

+ Phát triển kinh tế làm biến đổi cấu trúc xã hội và hình thành một tầng lớp trung lưu và tầng lớp này bảo đảm cơ sở xã hội dân chủ

+ Phát triển kinh tế có thể dẫn đến sự xuất hiện những giá trị chính trị mới (tính độc lập cá nhân, quyền lựa chọn, tự do cá nhân ) và những giá trị này có tác động tích cực đến tính dân chủ

+ Kinh tế phát triển đồng nghĩa với trình độ học vấn được nâng cao Một cộng đồng dân cư có học vấn chắc chắn sẽ có được những nhận thức đúng đắn hơn về chế độ chính trị và những quyền lợi mà mình được hưởng trong chế độ đó nhằm bảo vệ quyền con người của họ

+ Quá trình phát triển kinh tế thành công tạo ra sự thịnh vượng của nền kinh tế, giúp cho các chủ thể ở khu vực kinh tế tư nhân tích lũy được nguồn lực để nâng cao tính năng động và độc lập của mình so với khu vực kinh tế nhà nước Khi kinh tế đã đạt tới trình độ phát triển, tính công bằng xã hội sẽ được giải quyết tốt hơn, nền kinh tế có xu hướng mở cửa hơn và thể chế dân chủ sẽ được cải thiện hơn nhờ có sự trao đổi, hợp tác với cộng đồng quốc tế

* Mối quan hệ ngược lại giữa thể chế dân chủ đối với phát triển kinh tế cũng mang tính tích cực, cụ thể là:

Trang 31

+ Thể chế dân chủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt, tạo ra những tiền đề thuận lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, kiềm chế tham nhũng

+ Những nước có nhiều quyền chính trị và tự do dân sự thì có lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội hơn những nước có ít quyền chính trị và tự do dân sự

+ Những lợi thế và thành quả kinh tế đạt được là to lớn hơn ở những nước có môi trường tự do kinh tế

Ở các nước đang phát triển, nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng tăng trưởng trong thời kỳ toàn cầu hóa, vai trò của nhà nước cũng buộc phải

có sự thay đổi theo hướng nâng cao năng lực quản lý của nhà nước, dỡ bỏ dần dần nền chuyên chế chính trị, giảm độc quyền, hoàn thiện cơ chế thị trường,

có những cơ chế khuyến khích người dân tham gia mạnh mẽ vào quá trình phát triển, đẩy mạnh tư nhân hóa, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội

1.3 VAI TRÒ CỦA VIỆC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.3.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế

Như phần trên đã đề cập, tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế là hai mặt của một vấn đề, có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, tạo nên sự phát triển kinh tế Chất lượng tăng trưởng bao hàm cả sự tăng trưởng kinh tế nhưng là sự tăng trưởng kéo theo những sự thay đổi về chất của toàn bộ nền kinh tế, thường được biểu hiện qua các quá trình như: thay đổi cơ cấu của nền kinh tế, chuyển biến của các tầng lớp xã hội, đô thị hóa, cân bằng sinh thái Đối với một nước đang phát triển, tăng trưởng kinh

tế là một yêu cầu cấp bách được đặt lên hàng đàu nhằm tránh được sự tụt hậu

về kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân Đó là tiền đề quan trọng để bắt đầu một thời kỳ phát triển kinh tế Quá trình phát triển kinh tế của nhiều quốc gia cho thấy, trong giai đoạn đầu nền kinh tế có thể chỉ tăng trưởng nhờ vào

Trang 32

việc đổi mới cơ chế quản lý theo chiều rộng, mà thực chất là sự cởi trói các nguồn lực của nền kinh tế, đem lại sự biến đổi về lượng cho nền kinh tế Nhưng về lâu dài, sự phát triển không chỉ dựa vào sự tăng về số lượng, hay dựa trên sự phát triển theo chiều rộng các nguồn lực vốn có, mà phải chuyển sang kết hợp các yếu tố phát triển về chất và theo chiều sâu để tạo tiền đề cho những bước phát triển nhanh, bền vững tiếp theo Nếu một quốc gia chỉ chú trọng tăng trưởng nhanh về giá trị số lượng mà không chú ý đầy đủ đến những yếu tố cần thiết cho một sự phát triển bền vững thì quốc gia đó không thể phát triển kinh tế lâu dài Hơn nữa, bản thân tăng trưởng không cho biết rõ những điều tốt, điều xấu đang diễn ra trong xã hội, nó chưa thể phản ánh đầy đủ những vấn đề của xã hội như tỷ lệ người nghèo, thất nghiệp, phạm pháp, tham nhũng Do đó, nếu chỉ dùng chỉ số tăng trưởng GDP để đánh giá sự tăng trưởng của một quốc gia, chúng ta chưa thể đánh giá đầy đủ và chính xác sự phát triển của quốc gia đó

Những tiêu chí phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế như HDI, Gini, tuổi thọ bình quân, tỷ lệ xóa mù chữ, số bác sĩ trên giường bệnh đã góp phần chỉ rõ hơn mục đích của sự tăng trưởng mà mỗi quốc gia cần đạt tới, phản ánh rõ mức độ, tính chất hưởng thụ của mỗi thành viên trong xã hội đối với thành quả của sự phát triển Thực tế phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới cho thấy rằng, một quốc gia có thể có tốc độ tăng trưởng kinh

tế không cao nhưng lại có các chỉ số HDI, Gini rất khả quan, chẳng hạn như các nước Tây Âu Tuy nhiên, để đạt được điều đó, các quốc gia này cũng đã phải trải qua các giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao cách đây nhiều thập kỷ Đó chính là tiền đề quan trọng để các quốc gia này đạt được những chất lượng tăng trưởng kinh tế như hiện nay

Ngày nay, công nghiệp hóa bền vững là mô hình lý tưởng đối với các

quốc gia đang phát triển, bởi nó tạo nên sự tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, từ đó có các giải pháp khắc phục những mất cân đối và xáo trộn do công nghiệp hóa gây ra Nếu công nghiệp

hóa đi theo mô hình tăng trưởng do các nhà lý thuyết kinh tế thông thường đề

xướng thì sẽ tạo nên sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu tập trung ở mức tăng GDP hay mức tăng GDP bình quân đầu người, bỏ qua các mặt phát triển xã

Trang 33

hội và môi trường Nếu tiến hành công nghiệp hóa theo mô hình bình quân

chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc bình đẳng xã hội thì sẽ chú trọng đến vấn đề

phân phối lại thu nhập hơn là tăng trưởng kinh tế Do vậy công nghiệp hóa mà không có tăng trưởng sẽ dẫn đến sự bình đẳng trong nghèo đói Tại các quốc gia Đông Á, hai thái cực trên đều đã xuất hiện, đều đã chứng minh được

những mặt ưu điểm và nhược điểm của chúng Còn theo mô hình công nghiệp

hóa bền vững, tăng trưởng kinh tế góp phần làm thay đổi cơ cấu xã hội theo

hướng mang lại lợi ích cho mọi người và ngược lại sự thay đổi cơ cấu xã hội theo mô hình này góp phần huy động sự đóng góp của các tầng lớp xã hội để nâng cao tăng trưởng kinh tế Nói cách khác, tăng trưởng được thực hiện không chỉ vì bản thân sự tăng trưởng với mục tiêu lớn nhất và cuối cùng là lợi nhuận tối đa mà còn tăng cường các lợi ích xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống, đảm bảo chăm sóc sức khỏe, phát triển giáo dục, tăng cường chất lượng cuộc sống, và đến lượt nó, những lợi ích xã hội trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng cao hơn nữa Nhờ đi theo mô hình này, chú trọng đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế, nhiều nước Đông Á đã đạt được “sự thần kỳ” trong quá trình công nghiệp hóa

1.3.2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế

Chất lượng tăng trưởng kinh tế được đánh giá là mặt rộng hơn của sự tăng trưởng kinh tế, tạo nên sự phát triển kinh tế Vai trò của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế có thể được đánh giá thông qua các khía cạnh sau đây:

+ Chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện tính hiệu quả của tăng trưởng kinh tế Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở các yếu tố đầu vào của tăng trưởng như lao động, vốn, tài nguyên, đất đai… Để phản ánh thuộc tính này, có thể

sử dụng các chỉ tiêu như năng suất lao động, hiệu quả vốn đầu tư… Nền kinh

tế tăng trưởng có hiệu quả cao sẽ tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thế giới do giảm được chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm

+ Chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện tính hiện đại của tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế trong thời đại khoa học công nghệ phát triển

Trang 34

mạnh mẽ như hiện nay cần phải mang tính hiện đại Các nền kinh tế không chỉ phấn đấu để tạo ra ngày càng nhiều giá trị sử dụng với tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải hoàn thiện cơ cấu sản phẩm cũng như cơ cấu giá trị của sản phẩm theo hướng tăng hàm lượng vốn và công nghệ, đồng thời giảm hàm lượng lao động và tiêu hao vật chất Đó là điều kiện tiền đề cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường thông qua việc áp dụng khoa học công nghệ mới Theo đó, cách thức thực hiện tăng trưởng kinh

tế theo chiều sâu ngày càng chiếm ưu thế hơn so với cách thức tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng

+ Chất lượng tăng trưởng kinh tế là thước đo sự ổn định và bền vững trong tăng trưởng Thông thường tăng trưởng ổn định chỉ có thể đạt được khi nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào các yếu tố nội tại của nó trên cơ sở do con người tạo ra và khai thác hiệu quả những nguồn lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, xu hướng mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng, mối quan hệ giữa kinh tế trong nước và quốc tế ngày càng chặt chẽ, vì vậy để có tăng trưởng ổn định và bền vững, tránh được những yếu tố gây tổn thương cho nền kinh tế từ những biến động của bên ngoài, cần phải có một năng lực điều hành kinh tế đủ mạnh của nhà nước trên cơ sở một chiến lược tăng trưởng đúng đắn và một nguồn dự trữ phù hợp Tăng trưởng kinh tế ổn định chính là tiền đề để đạt được chất lượng tăng trưởng kinh tế bền vững + Chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện tính cân đối trong tăng trưởng kinh tế Một trong những tiêu chuẩn quan trọng của tăng trưởng kinh tế là đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các khu vực, giữa các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như trong nội bộ ngành và lãnh thổ Bên cạnh đó, tăng trưởng cân đối còn thể hiện ở việc cân đối giữa phát triển sản xuất với xây dựng cơ

sở hạ tầng, cân đối giữa áp dụng công nghệ hiện đại với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động, cân đối giữa nguồn lực trong nước với nguồn lực bên ngoài…

Với những vai trò trên đây, muốn cho việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh

tế, cần chú ý ba nguyên lý của quá trình phát triển Đó là:

Trang 35

Thứ nhất, xác định đúng giá trị của các loại vốn: vốn vật chất và vốn

nhân lực…, trên cơ sở đó có các chính sách đầu tư đúng đắn hỗ trợ cho các loại vốn này phát huy hết khả năng Đầu tư đúng mức cho các loại vốn đặc biệt, vốn nhân lực sẽ làm cho TFP tăng cao, điều này cũng khiến cho tăng trưởng GDP tăng nhanh và bền vững hơn

Thứ hai, phải luôn chú trọng đến việc phân phối hiệu quả phúc lợi xã hội

đạt được từ tăng trưởng, giúp người nghèo tiếp cận được các cơ hội phát triển

và được hưởng các thành quả phát triển Nhờ đó mới giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với công bằng xã hội

Thứ ba, cần đổi mới cơ chế quản lý, thể chế kinh tế và chính trị theo

hướng dân chủ hóa cho phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường mở cửa để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, làm nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định./

Trang 36

Chương 2 CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

CỦA CÁC NƯỚC ASEAN-5

2.1 TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ASEAN-5

Tháng 9 năm 1993, Ngân hàng thế giới đã xuất bản cuốn sách “Sự thần

kỳ Đông Á, tăng trưởng kinh tế và chính sách công cộng”, trong đó đã xếp 8 nền kinh tế châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan thành những nền kinh tế tăng trưởng cao, năng động nhất thế giới trong thời kỳ 1965-1990 Trong 8 nền kinh tế tăng trưởng nhanh và được biệt danh là những “con rồng châu Á” trên, có 4 nước thuộc khối ASEAN là Singapo, Malaixia, Inđônêxia và Thái Lan Tốc độ tăng trưởng nhanh của Đông Á nói chung và ASEAN nói riêng đã tạo nên một sự thần kỳ bởi vì nó vừa làm cho nền kinh tế các nước này phát triển nhanh, vừa thực hiện được sự phân phối khá công bằng các thành quả phát triển đó Mặc

dù trong những năm khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-1998, tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN-5 (gồm Singapo, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin) đã bị sụt giảm rõ rệt và nhiều đánh giá theo chiều hướng

bi quan đã khẳng định sự thần kỳ châu Á đã kết thúc, nhưng 3 năm sau khủng hoảng, các nước ASEAN lại tiếp tục đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao hơn bất cứ một khu vực nào trên thế giới [5] Tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN có thể chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trước khủng hoảng và giai đoạn sau khủng hoảng với động thái, tính chất và nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng tương đối có sự khác nhau

Trang 37

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế nhanh và đạt tốc độ cao liên tục trong giai đoạn trước khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997

Điều kiện phát triển kinh tế ban đầu trước khi bước vào thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh ở ASEAN-5 là: hầu hết các quốc gia này đều lạc hậu về kinh tế, đặc trưng ở thu nhập đầu người thấp và nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu (trừ Singapo) Sự lạc hậu về kinh tế cũng kéo theo sự lạc hậu

về xã hội, thể hiện ở tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử khá cao Tỷ lệ tăng dân số cao đưa đến tình trạng các nước này có một đội ngũ lao động trẻ, đông đảo, có tinh thần chăm chỉ và hiếu học nhưng thiếu việc làm, do vậy chi phí lao động tương đối thấp Đây cũng là những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng chưa được khai thác hiệu quả do thiếu vốn và công nghệ Trong thời kỳ thực hiện chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu nhằm giảm bớt sự phụ thuộc đối với hàng nhập khẩu, các nước ASEAN-5 đã tỏ ra không thành công, hiệu quả kinh tế thấp, tăng trưởng kinh tế thấp, nền kinh tế không hội nhập được vào nền kinh tế thế giới, trong khi vẫn phải tiếp tục nhập khẩu ngày càng nhiều nguyên liệu, máy móc thiết bị từ bên ngoài, làm tăng các khoản vay nợ và ngày càng lệ thuộc vào các nước phát triển Với lý

do đó, các nước ASEAN-5 đã nhanh chóng chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và công nghệ nước ngoài vào việc khai thác tiềm năng của đất nước, tập trung phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu, nhờ đó đã nâng cao được tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập ngoại tệ từ xuất khẩu ngày càng cao, giải quyết tốt được các vấn đề kinh tế xã hội trong nước

Tăng trưởng kinh tế nhanh của các nước ASEAN-5 được tính từ khi các nước này tiến hành công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Trong giai đoạn 1965-1980, tăng trưởng GDP của Singapo đạt 10%, Malaixia đạt 7,4%, Thái Lan 7,3%, Inđônêxia 7,0% và Philippin 5,9% (Nguồn: [11, tr.47]) Trong giai đoạn 1980-1990, tăng trưởng GDP của Singapo đạt 7,3%, Malaixia 6,0%, Thái Lan 7,9%, Inđônêxia 5,4% và Philippin 1,7% Trong giai đoạn 1990-

1995, tăng trưởng GDP của các nước tương ứng như sau: Singapo 9,1%, Malaixia 9,5%, Thái Lan 8,6%, Inđônêxia 7,8% và Philippin 2,2% (Bảng 2.1) Tốc độ tăng trưởng này được đánh giá là cao nhất trên thế giới và là

Trang 38

trọng tâm của sự nghiên cứu chính sách của các chuyên gia kinh tế thuộc Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, các nước phát triển và đang phát triển khác nhằm tìm ra những nguyên nhân dẫn đến thành công và những kinh nghiệm quý báu cho các nước đang phát triển đi sau

Tăng trưởng kinh tế nhanh ở các nước ASEAN-5 trong các giai đoạn trên được khẳng định một cách vững chắc, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong từng giai đoạn cũng có sự gia tăng không đều nhau Malaixia phải trải qua những giai đoạn tăng trưởng chậm lại, cụ thể là vào năm 1985 tăng trưởng GDP của Malaixia đạt mức âm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng dầu mỏ và ở mức âm 7,6% trong năm 1998 do khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á Inđônêxia cũng phải trải qua những năm tăng trưởng chậm trong giai đoạn khủng hoảng dầu lửa (1982-1983), khủng hoảng tài chính tiền

tệ châu Á (1997-1998) Thái Lan cũng trải qua những năm suy thóai kinh tế trong những năm 1975-1976 do những mất mát viện trợ và thu nhập dịch vụ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, khủng hoảng dầu lửa thế giới đầu thập

kỷ 1980 và khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997 Điều quan trọng là các nước ASEAN-5 đã lấy lại được sự thăng bằng rất nhanh và lại tiếp tục tăng trưởng vững chắc với tốc độ cao trong những năm sau đó, và điều này cũng nói lên tính bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này Một số nền kinh tế đang phát triển khác cũng đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh trong vài năm, đặc biệt trong thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 (như

Mỹ Latinh), nhưng hầu như không có nước nào tăng trưởng nhanh và bền vững như các nền kinh tế ASEAN-5 trong suốt hơn 3 thập niên qua

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN-5 giai đoạn 1965- 1996 Nước 1965-1980 1980-1990 1990-1995 1996

Trang 39

Các yếu tố dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhanh ở các nước ASEAN trong giai đoạn trước khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997 có thể kể đến là:

Thứ nhất, có sự thay đổi chính sách phát triển, chuyển từ công nghiệp

hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Sự thay đổi này được đánh giá là một bước ngoặt lớn trong tăng trưởng và phát triển kinh tế ở hầu hết các nước ASEAN Chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Singapo bắt đầu từ năm 1966 sau khi tách khỏi Malaixia năm

1965, Malaixia và Philippin bắt đầu từ năm 1970, Thái Lan bắt đầu từ năm

1972 và Inđônêxia bắt đầu từ đầu thập kỷ 1980 sau cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới lần thứ hai Chiến lược này làm cho nền kinh tế các nước ASEAN phát triển năng động vì nó buộc nền kinh tế trong nước phải đối mặt trực tiếp với sự cạnh tranh từ thế giới bên ngoài, đồng thời giúp các nước nắm bắt công nghệ, kỹ thuật, vốn nước ngoài Tại Singapo, sau khi tách khỏi Liên bang Malaixia năm 1965, đất nước này nhanh chóng chuyển từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu chỉ trong 1-2 năm, thực hiện chế độ phá giá đồng bảng Anh vào năm 1967 và các chính sách khuyến khích mở cửa thương mại và FDI Tại Malaixia, Thái Lan, Philippin và Inđônêxia, chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu được tiến hành từ thập kỷ 1970, tuy nhiên chính sách hướng ngoại của Thái Lan và Inđônêxia bắt đầu từ thập kỷ 1980 sau khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới lần thứ hai thực sự tác động nặng nề vào nền kinh tế hai nước này Chiến lược phát triển này làm cho nền kinh tế của các nước ASEAN-5 phát triển năng động hơn vì các xí nghiệp phải đối mặt trực tiếp với cạnh tranh từ bên ngoài, đồng thời có nhiều cơ hội nắm bắt công nghệ và kỹ thuật mới từ nước ngoài

Sự thay đổi chính sách đã khiến các nước ASEAN-5 phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước, đặc biệt là về tài nguyên và lao động dồi dào, để thúc đẩy xuất khẩu, thu ngoại tệ, mua máy móc thiết bị từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế

Thứ hai, các nước ASEAN-5 đã biết kết hợp giữa chính sách thương mại

và đầu tư, bù đắp kịp thời những thiếu thốn về vốn và công nghệ, làm cho kinh tế tăng trưởng nhanh hơn Cùng với chính sách khuyến khích xuất khẩu,

Trang 40

ngay từ đầu thập kỷ 1970, các nước này đã khuyến khích dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào trong nước với hàng loạt biện pháp khác nhau, tạo nên tỷ lệ đầu tư cao, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng mức cầu, mở rộng thị trường, từ đó tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế nhanh Đầu tư tăng nhanh ở các nước ASEAN-5 thông qua FDI mặt khác cũng góp phần giúp các chính phủ tiếp thu công nghệ mới từ bên ngoài vào các ngành công nghiệp non trẻ trong nước Các nhà kinh tế học của Ngân hàng thế giới đã mô tả sự cất cánh của các nền kinh tế Đông Á, trong đó có ASEAN-5, theo một “vòng tròn xóay ốc của tăng trưởng” trong đó đầu tư cao

sẽ dẫn đến mức tăng trưởng xuất khẩu lớn, tiếp đến là tăng mức tăng trưởng GDP, tăng tỷ lệ tiết kiệm, và cuối cùng lại tạo ra năng lực đầu tư cao hơn”

Thứ ba, tăng trưởng nhanh nhờ thực hiện cơ chế kinh tế thị trường, thúc

đẩy cạnh tranh, phát triển kinh tế tư nhân, chú trọng đầu tư nguồn vốn nhân lực Các chính sách giáo dục của ASEAN-5 tập trung vào giáo dục với mục đích nhằm tăng lực lượng lao động kỹ năng, tăng nhanh năng suất lao động và hiệu quả công việc Nhờ chú trọng phổ cập giáo dục, các nước ASEAN-5 đã

có đội ngũ lao động biết đọc biết viết và có kỹ năng cao hơn các nước đang phát triển khác, do vậy có khả năng tiếp thu được công nghệ nước ngoài nhanh hơn khi các công ty nước ngoài mở rộng đầu tư nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân Sự mở rộng giáo dục trong thập kỷ 1970-1990 ở ASEAN-5 đã có những đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của các nước này

Thứ tư, tăng trưởng kinh tế nhanh nhờ vào những yếu tố bên ngoài Các

nước ASEAN bước vào thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh một phần do môi trường ưu đãi của nền kinh tế thế giới Bước vào giữa thập kỷ 1980, thương mại quốc tế theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã trở nên tự do hóa hơn, trong đó các nước phát triển (đặc biệt là Mỹ) đã tiến hành

mở cửa thị trường cho hàng hóa của các nước đang phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các nước ASEAN-5 thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Sự đổ vỡ của hệ thống thương mại thế giới theo hiệp định Bretton Wood cũng tạo điều kiện tự do hóa hơn nữa nguồn vốn FDI trên thế giới, giúp các nước ASEAN-5 hưởng lợi to lớn từ việc phát triển nhanh

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Châu(1998), Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở các nước Đông Nam Á: những bài học kinh nghiệm, Tạp chí Châu Á - Thái Bình Dương, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở các nước Đông Nam Á: "những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Lê Văn Châu
Năm: 1998
2. Trần Văn Chử (2000), Kinh tế học phát triển, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học phát triển
Tác giả: Trần Văn Chử
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Đỗ Đức Định (1998, 1999), Công nghiệp hóa bền vững: hướng chiến lược mới của các nền kinh tế đang phát triển Châu Á, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới, số 6 và số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ông nghiệp hóa bền vững: hướng chiến lược mới của các nền kinh tế đang phát triển Châu Á
4. Đỗ Đức Định (1998), Khủng hoảng tiền tệ Châu Á: mức độ, nguyên nhân, giải pháp và triển vọng, Tạp chí Kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tiền tệ Châu Á: mức độ, nguyên nhân, giải pháp và triển vọng
Tác giả: Đỗ Đức Định
Năm: 1998
5. Joseph Stiglitz (2002), Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á
Tác giả: Joseph Stiglitz
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Trịnh Thị Hoa Mai (2001), Vấn đề phát triển bền vững trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam,Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển bền vững trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Trịnh Thị Hoa Mai
Năm: 2001
9. Nguyễn Trần Quế (1998), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nớc Châu Á và Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nớc Châu Á và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trần Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1998
10. Phạm Thái Quốc (2003), Tiết kiệm, đầu]t, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiết kiệm, đầu]t, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thái Quốc
Năm: 2003
12. Bùi Tất Thắng (2004), Toàn cầu hóa kinh tế và cơ may của công nghiệp hóa rút ngắn ở Việt Nam, tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 314, tháng 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế và cơ may của công nghiệp hóa rút ngắn ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Tất Thắng
Nhà XB: tạp chí nghiên cứu kinh tế
Năm: 2004
13. Trần Văn Thọ (1998), Công nghiệp hóa Việt nam trong thời đại châu Á - Thái Bình Dương, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa Việt nam trong thời đại châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Trần Văn Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
14. Trần Văn Tùng (1999) , Công nghiệp hóa và môi trường tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa và môi trường tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương
15. Trần Văn Tùng (Chủ biên) (2003), Chất lợng tăng trưởng, nhìn từ Đông Á, Nhà xuất bản thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lợng tăng trưởng, nhìn từ Đông Á
Tác giả: Trần Văn Tùng (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2003
16. Trần Văn Tùng (2003), Nghịch lý trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới, số 5.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịch lý trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Tùng
Năm: 2003
17. Anne Booth (1999), Education and Economic Development in Southeast Asia: Myths and Realities, ASEAN Economic Bulletin, No. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Education and Economic Development in Southeast Asia: Myths and Realities
Tác giả: Anne Booth
Năm: 1999
19. Chris Manning (1999), Labour Markets in ASEAN-4 and the NIEs, Asian - Pacific Economic Literature, No. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Labour Markets in ASEAN-4 and the NIEs
Tác giả: Chris Manning
Năm: 1999
20. Edward K.Y.Chen (1997), The Total Factor Productivity Debate: Determinants of Economic Growth in East Asia, Asian - Pacific Economic Literature, No. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Total Factor Productivity Debate: "Determinants of Economic Growth in East Asia
Tác giả: Edward K.Y.Chen
Năm: 1997
21. Hall Hil and Prema - chandra Athukorala, Foreign Investment in East Asia: a Survey, Asian - Pacific Economic Literature, No.12, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Investment in East Asia: a Survey
22. Helen Hughes (1995), Why Have East Asian Countries Led Economic Development, Economic Record, No.71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why Have East Asian Countries Led Economic Development
Tác giả: Helen Hughes
Năm: 1995
23. Medhi Krongkaew (1994), Income Distribution in East Asian Developing Countries, Asian - Pacific Economic Literature, No.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Income Distribution in East Asian Developing Countries
Tác giả: Medhi Krongkaew
Năm: 1994
24. Morgan.T., Economic Development: Concepts nad Strategy, Harper &amp; Row Publishers, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Development: Concepts nad Strategy

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN-5 giai đoạn 1965- 1996  Nước  1965-1980  1980-1990  1990-1995  1996 - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN-5 giai đoạn 1965- 1996 Nước 1965-1980 1980-1990 1990-1995 1996 (Trang 38)
Bảng 2.2. Tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN-5 giai đoạn 1996-2004 (%) - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.2. Tốc độ tăng trưởng GDP của ASEAN-5 giai đoạn 1996-2004 (%) (Trang 42)
Bảng  2.3.  dưới  đây  cho  thấy  tốc  độ  gia  tăng  sản  lượng  của  các  nước  ASEAN-5 trong giai đoạn 1980-2002 - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
ng 2.3. dưới đây cho thấy tốc độ gia tăng sản lượng của các nước ASEAN-5 trong giai đoạn 1980-2002 (Trang 45)
Bảng 2.4. Đóng góp của các nguồn lực trong tăng tr-ởng GDP - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.4. Đóng góp của các nguồn lực trong tăng tr-ởng GDP (Trang 46)
Bảng 2.5. Các chỉ số phản ánh chất lượng cuộc sống ngày càng tăng của - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.5. Các chỉ số phản ánh chất lượng cuộc sống ngày càng tăng của (Trang 48)
Bảng 2.9. Lạm phát và thâm hụt tài khoản hiện hành - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.9. Lạm phát và thâm hụt tài khoản hiện hành (Trang 55)
Bảng 2.10. Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư của một số nền kinh tế châu Á - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.10. Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư của một số nền kinh tế châu Á (Trang 56)
Bảng 2.11. Tỷ lệ thất nghiệp phân theo giới tính - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.11. Tỷ lệ thất nghiệp phân theo giới tính (Trang 57)
Bảng 2.12.  Ô nhiễm không khí ở một số thành phố   Nước  Tên thành - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.12. Ô nhiễm không khí ở một số thành phố Nước Tên thành (Trang 61)
Bảng 2.14. Tỷ lệ nhập học ở Inđônêxia tính theo tuổi và thu nhập (%)  Tuổi và nhóm thu nhập  1993  1994  1995  1996  1997  1998 - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 2.14. Tỷ lệ nhập học ở Inđônêxia tính theo tuổi và thu nhập (%) Tuổi và nhóm thu nhập 1993 1994 1995 1996 1997 1998 (Trang 81)
Bảng 3.4. Tỷ trọng đóng góp của 3 yếu tố đầu vào đối với tăng trưởng - Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.PDF
Bảng 3.4. Tỷ trọng đóng góp của 3 yếu tố đầu vào đối với tăng trưởng (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w