Tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội làm việc, một mặt là để phát huy tiềm năng lao động - nguồn nội lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, mặt khác giải quyế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN ANH TÀI
Hà Nội, 2005
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CƠ SỞ LÍ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Khái quát về việc làm và vai trò của giải quyết việc làm 5 1.2 Những nhân tố tác động đến việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường 11 1.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở một số địa phương trong và ngoài nước 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NGHỆ AN TRONG NHỮNG NĂM QUA 32
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Nghệ An 32 2.2 Thực trạng lao động và việc làm của Nghệ An 39 2.3 Đánh giá tổng quát về thực trạng lao động – việc làm ở Nghệ An 63 2.4 Những vấn đề đặt ra cần giả i quyết 67
CHƯƠNG 3: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NGHỆ AN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010 71
3.1 Quan điểm, dự báo và phương hướng giải quyết việc làm ở Nghệ
An đến năm 2010 71 3.2 Những giải pháp chủ yếu để giải quyết có hiệu quả việc làm ở Nghệ An đến năm 2010 77
KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 4NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương
2 CHXHCNVN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3 CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
4 CNH : Công nghiệp hoá
5 DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
6 CNKT : Công nhân kỹ thuật
7 HĐH : Hiện đại hoá
8 HĐKTTX : Hoạt động kinh tế thường xuyên
9 HĐND : Hội đồng nhân dân
10 LĐTB & XH : Lao động thương binh và xã hội
16 UBND : Ủy ban nhân dân
17 VLTX : Việc làm thường xuyên
18 XKLĐ : Xuất khẩu lao động
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại nói chung, của mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng Thúc đẩy mục tiêu tạo việc làm đầy đủ cho người lao động để tạo thu nhập chính đáng qua đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng ta khẳng định "giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản" [24, tr.104]
Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn lấy con làm trung tâm, coi phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội làm việc, một mặt là
để phát huy tiềm năng lao động - nguồn nội lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, mặt khác giải quyết việc làm cho người lao động là hướng cơ bản để xoá đói giảm nghèo đạt hiệu quả phát triển bền vững Đặc biệt, trong điều kiện đất nước ta: tài nguyên, đất đai không nhiều, nguồn lực tài chính hạn hẹp, cơ sở vật chất còn thiếu thốn lại đang trong quá trình tiếp cận với nền kinh tế tri thức và tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá Vì vậy, giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Nghệ An là một tỉnh ở Bắc Trung bộ với diện tích tự nhiên 16.487 km2
, tính đến 31 – 12 - 2004 dân số trên địa bàn tỉnh Nghệ An ước đạt 3.003.170 người, mật độ dân số 182 người/ km2
Thu nhập bình quân đầu người thấp, kết cấu hạ tầng kém, kinh tế phát triển không đồng đều giữa các vùng Chất
Trang 62
lượng lao động thấp, hầu hết là lao động phổ thông phần lớn chưa qua đào tạo nghề, vấn đề đảm bảo việc làm đã và đang là một thách thức lớn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở tỉnh Nghệ An Bên cạnh đó, tỷ lệ tăng dân
số của tỉnh còn khá cao, mức đầu tư thấp trong khi ngành, nghề, dịch vụ kém phát triển đã và đang là nguồn gốc làm nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt giữa cung và cầu về lao động của tỉnh, tạo nên những bức xúc ngày càng lớn
về việc làm ở Nghệ An hiện nay
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Nghệ An hiện nay nhằm đánh giá đúng thực trạng, tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu để sử dụng hợp lý nguồn lao động trên địa bàn của tỉnh đang là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận lẫn thực tiễn Do đó, tôi chọn
đề tài: "Giải quyết việc làm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở
Nghệ An" làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên
ngành kinh tế chính trị của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề mang tính thời
sự, cấp bách Do đó, đã có nhiều công trình của các tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu và công bố tiêu biểu như: Sử dụng nguồn lao động và việc làm của Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991; Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS Nguyễn Hữu Dũng và TS Trần Hữu Trung (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Một số giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay của Trần Tuấn Anh, Luận văn thạc sỹ, khoa Kinh tế Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Lao động việc làm nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới của Biên tập khoa học: Nolwen Henaff Jean - Yves Martin, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2001; các công trình khoa học khác như: Điều tra về lao động và việc làm ở Việt Nam do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
Trang 73
hội phối hợp với Tổng cục Thống kê triển khai hàng năm (từ 1996 đến nay); Hội thảo về lao động việc làm do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương tổ chức Cùng với các công trình khoa học trên còn có nhiều bài viết được đăng tải trên các sách báo, tạp chí khoa học như bài: Ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam của GS TS Đỗ Thế Tùng, Tạp chí Lao động và Công đoàn (6), 2002; Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay của các tác giả GS TS Phạm Đức Thành, PGS TS Phạm Quý Thọ, ThS Thang Mạnh Hợp, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (76), 2003; Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị Hằng, Tạp chí Cộng sản (23), 2003 v.v Tỉnh Nghệ An hàng năm có báo cáo về tình hình giải quyết việc làm, điều tra lao động việc làm hàng năm của Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh, cho đến nay chưa
có một công trình nghiên cứu nào về chuyên đề này dưới dạng một luận văn khoa học, để đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng hợp lý nguồn lao động dôi thừa ở Nghệ An hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về lao động, việc làm và thất nghiệp
+ Tìm hiểu, phân tích những nhân tố tác động đến giải quyết việc làm
Trang 84 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung chủ yếu vào vấn đề có tính chất trọng điểm, nổi cộm trong giải quyết việc làm ở Nghệ An từ năm 2000 - 2004, thông qua một số giải pháp giải quyết việc làm chủ yếu trong thời gian từ nay đến 2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các Văn kiện Đại hội Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các khoá xung quanh vấn đề này Bên cạnh đó, đề tài kế thừa và sử dụng có chọn lọc một số đề xuất và số liệu thống kê của một số công trình có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp: khảo sát, điều tra, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu và phân tích để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra
6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 9CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆC LÀM VÀ VAI TRÒ CỦA GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1 Khái quát về lao động, việc làm và thất nghiệp
Lao động là một phạm trù kinh tế, một mặt lao động là quá trình tác động giữa con người với tự nhiên, trong quá trình đó con người cải biến những vật thể tự nhiên làm cho nó thích ứng với nhu cầu của mình, mặt khác lao động luôn luôn được tiến hành trong xã hội, vì vậy nó đòi hỏi những quan
hệ nhất định giữa con người với con người trong quá trình tác động vào tự nhiên
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những vật phẩm tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập nhiều đến phạm trù này trong các nghiên cứu của mình, theo C Mác, lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kì hình thái kinh tế xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên, vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với giới tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người
Ph Ăngghen viết: " các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với
Trang 10ra bản thân con người” [30, tr 641]
Hoạt động lao động của con người không những làm biến đổi giới tự nhiên tạo ra của cải, mà còn hoàn thiện, phát triển cả bản thân con người Trong quá trình ấy con người tích luỹ kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoàn thiện bản thân cả về thể lực và trí lực
Lao động là hoạt động bản chất nhất và là phẩm chất đặc biệt của con người, khác với hoạt động bản năng của loài vật C Mác viết: "Con nhện làm những động tác giống như động tác người thợ dệt và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn phải làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi" [32, tr 266]
Đặc trưng chủ yếu của lao động là sáng tạo ra giá trị và của cải cho phép đáp ứng nhu cầu của con người và những nhu cầu này phát triển vô hạn Song, những nhu cầu này không chỉ thuộc lĩnh vực kinh tế, vật chất như: nhu cầu sinh tồn, phát triển, hưởng thụ về vật chất mà còn có các nhu cầu về tinh thần, nhu cầu hoạt động lao động sản xuất vật chất càng phát triển thì càng đòi hỏi phải nâng cao nhân tố con người trong quá trình sản xuất, càng đòi hỏi
ở con người chức năng sáng tạo và luôn đề ra cho lao động những yêu cầu mới cao hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Vậy nên, lao động bao giờ cũng là nhân tố đầu tiên, cơ bản, là điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội loài người Trong quá trình lao động sản xuất, người lao động luôn nắm giữ vị trí quan trọng hàng đầu Họ
Trang 117
không những là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra những yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất xã hội Trong một quốc gia, một vùng hay một địa phương cụ thể thì người lao động được thể hiện ở nguồn lao động hay còn gọi là nguồn nhân lực Đó là tổng thể toàn bộ thể lực và trí lực của bộ phận dân cư của đất nước có khả năng về thể chất và tinh thần có thể sử dụng trong quá trình lao động Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng hợp thành tiềm lực của đất nước Những tiêu chuẩn cơ bản để xếp dân cư vào nguồn nhân lực là độ tuổi và tình trạng sức khoẻ Ở Việt Nam, nguồn nhân lực bao gồm số người trong độ tuổi lao động theo Bộ Luật lao động quy định: Nam từ 15-60 tuổi, Nữ từ 15-55 tuổi có khả năng lao động Tuy nhiên, không phải toàn bộ những người thuộc nguồn nhân lực đều tham gia sản xuất xã hội cả
mà cần trừ đi (theo quy ước): những người không có khả năng lao động (chẳng hạn do tàn tật); những người nội trợ trong gia đình; học sinh sinh viên đang học; quân đội (do tính chất đặc thù của hoạt động quân sự) Sau khi trừ
đi khỏi nguồn nhân lực bốn bộ phận này số còn lại trong kinh tế gọi là lực lượng lao động Lực lượng lao động được thống kê theo hai bộ phận, đó là: những người có việc làm và những người thất nghiệp, muốn làm việc, đang tìm việc làm trên thị trường lao động Đặc trưng của nguồn nhân lực là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng, cụ thể: chỉ tiêu về số lượng, độ tuổi, trình
độ học vấn, giới tính, số người đang đi học, số người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và sự phân bố theo ngành, theo lĩnh vực, lãnh thổ Mức tăng nguồn nhân lực là sự chênh lệch giữa số dân cư đến độ tuổi lao động (15 tuổi)
và số dân cư đến độ tuổi nghỉ hưu (nam 60, nữ 55 tuổi) Để đánh giá nguồn nhân lực người ta thường dùng các chỉ tiêu về trình độ văn hoá, chuyên môn
kỹ thuật, mức độ lành nghề, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ quản lý, phong cách làm việc và sức khoẻ Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho
Trang 12sở đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội, còn việc làm lại là phạm trù giới hạn và bị lợi ích giai cấp chi phối Trong thực tiễn, vì lợi ích kinh tế những giai cấp nắm trong tay các vật chất của lao động (đối tượng lao động,
tư liệu lao động) có thể thu hút nhanh chóng những khối lượng lớn sức lao động vào các quá trình sản xuất nhưng cũng vì lợi ích kinh tế của giai cấp họ sẵn sàng sa thải hàng loạt người lao động, nên việc làm của xã hội bị thu hẹp Bởi lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động, quá trình đó chỉ có thể diễn ra khi đã được giả định những tiền đề vật chất cho quá trình đó đã đầy đủ Trên bình diện một quốc gia cụ thể thì quá trình lao động sản xuất (việc làm) của bộ phận dân cư có sức lao động lại được giả định trên cơ sở số lượng việc làm Do
đó, việc làm không chỉ diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
mà cả mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, trong đó liên quan đến các lợi ích kinh tế và pháp luật khi tạo lập đầy đủ các yếu tố vật chất để quá trình làm việc diễn ra Việc làm là một trong những vấn
đề có ý nghĩa kinh tế, xã hội, chính trị rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế như Việt Nam
Ở Việt Nam trước đây (trước 1980), nền kinh tế vận động theo cơ chế
kế hoạch hoá tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương Trong cơ chế này chúng ta thường quan niệm người lao động được coi là có việc làm
Trang 139
và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước đến nay, quan niệm về việc làm đã có sự thay đổi một cách căn bản Theo điều 13 chương II của Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: " Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [9, tr 15]
Theo quy định này việc làm bao gồm hai yếu tố: lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm Như vậy, quan niệm mới về việc làm được quy định trong Bộ Luật lao động đã xoá bỏ quan niệm cũ về việc làm khi cho rằng việc làm chỉ có trong khu vực nhà nước, xoá bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tạo nhiều việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, quan niệm mới về việc làm còn thể hiện rõ đặc trưng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam ở chỗ: cho phép công dân Việt Nam được làm những việc mà pháp luật không cấm Ví dụ: nghề giúp việc gia đình, nghề thu gom rác thải phế liệu là những nghề mà trước đây chưa được xã hội tôn trọng và thừa nhận, thì nay đã trở thành việc làm đáng được khuyến khích và được pháp luật bảo vệ Ngược lại, Bộ Luật lao động cũng quy định rõ mọi công dân không được làm những việc mà pháp luật cấm như: buôn lậu, mãi dâm, buôn bán ma tuý, vũ khí Với quan niệm việc làm như vậy sẽ làm cho nội dung của việc làm được mở rộng tạo tiền đề
để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời ngăn chặn những việc làm phi pháp nảy sinh trong điều kiện kinh tế mở
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tạo môi trường và các điều kiện thuận lợi để các ngành kinh tế, các hình thức kinh tế, các vùng kinh tế phát triển, trên cơ sở đó đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới đáp ứng yêu cầu
Trang 1410
về việc làm, từng bước ổn định và nâng cao đời sống của người lao động, song trong điều kiện phát triển nền kinh tế xã hội hiện nay, ở nước ta hiện tượng thiếu việc làm, thất nghiệp dưới những hình thức khác nhau đã và đang còn tồn tại Hiện tượng này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình kinh tế
- xã hội của cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng, điều đó đòi hỏi Nhà nước, các cơ quan chức năng và người lao động cần phải quan tâm giải quyết Cần thiết phải thống nhất các khái niệm thiếu việc làm, thất nghiệp
Thiếu việc làm có những hình thức và nguyên nhân khác so với thất nghiệp Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hay thất nghiệp trá hình
là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong muốn Như vậy, người thiếu việc làm là người không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc là làm những công việc có thu nhập quá thấp, không đảm bảo cuộc sống nên có nhu cầu làm việc thêm để có thêm thu nhập
Thất nghiệp là hiện tượng, phạm trù kinh tế gắn với trạng thái tâm lý
xã hội căng thẳng của những người lao động, trong đó, khả năng vận dụng thần kinh và bắp thịt của họ bị kìm giữ bởi thiếu các điều kiện vật chất, điều kiện pháp lí cho lao động diễn ra bất chấp nguyện vọng mong muốn làm việc của họ
Có nhiều loại thất nghiệp: thất nghiệp tạm thời là thất nghiệp phát sinh
do người lao động muốn có thời gian để tìm việc làm thích hợp với chuyên môn và sở thích của mình; thất nghiệp cơ cấu là thất nghiệp xuất hiện khi không có sự đồng bộ giữa kỹ năng, trình độ của người lao động với cơ hội việc làm do cầu lao động và sản xuất thay đổi; thất nghiệp do thiếu cầu là thất nghiệp khi tổng cầu của nền kinh tế giảm, kéo theo giảm cầu về lao động mà tiền lương và giá cả chưa kịp điều chỉnh; thất nghiệp theo mùa vụ là thất
Trang 1511
nghiệp do cầu lao động dao động, giảm thường vào những thời kì nhất định trong năm; thất nghiệp chu kỳ là thất nghiệp gắn liền với sự suy giảm theo thời kỳ của nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp được xem là một trong những thước đo thành tựu nền kinh tế ở tầm vĩ mô, là vấn đề trung tâm trong nền kinh tế được toàn xã hội quan tâm Khi thất nghiệp cao, về mặt kinh tế tài nguyên bị lãng phí, thu nhập bị giảm sút, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực
tế thấp hơn mức tiềm năng của nó, mức thất nghiệp cao làm giảm sản lượng của nền kinh tế, về mặt xã hội thất nghiệp tác động mạnh đến xã hội và tâm lý người lao động làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội gia tăng
1.1.2 Ý nghĩa của vấn đề giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa kinh tế, chính trị -
xã hội rất quan trọng trong từng đơn vị kinh tế ở cơ sở cũng như trên phạm vi toàn quốc Giải quyết việc làm được thực hiện thông qua các biện pháp về kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có nhu cầu làm việc đều có được việc làm Giải quyết việc làm là một vấn đề có tính chất liên ngành, mang tính chất tổng hợp trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Làm tốt công tác giải quyết việc làm sẽ góp phần phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói, giảm nghèo, tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế, hạn chế tệ nạn xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế Giải quyết việc làm cho người có nhu cầu làm việc sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, ổn định chính trị xã hội, đảm bảo công bằng, dân chủ, văn minh
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Trang 1612
Nếu trừu tượng hoá các mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình lao động sản xuất và chỉ xét việc làm như một tổng thể các điều kiện vật chất, các điều kiện pháp lý để trong đó quá trình lao động có thể được diễn ra thì việc làm chịu sự chi phối bởi các nhân tố sau:
1.2.1 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất, kinh doanh Việt Nam là đất nước có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, là điều kiện thuận lợi để chúng ta mở mang, phát triển các ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động
Ở Việt Nam, tài nguyên thiên nhiên được phân bố ở hầu khắp các tỉnh, tính đa dạng thể hiện ở chủng loại, số lượng, chất lượng tài nguyên như: tài nguyên khoáng sản: vàng, đá quý, than đá, dầu khí, thiếc, mănggan, titan ; tài nguyên biển phong phú với trữ lượng lớn về cá, tôm và hải sản có giá trị kinh tế cao; tài nguyên rừng với các loại cây, gỗ quý, nơi lưu giữ các nguồn ghen quý về động, thực vật; tài nguyên đất đai; khí hậu thuận lợi và dễ khai thác để có thể phát triển các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân Tài nguyên thiên nhiên là lợi thế so sánh để Việt Nam phát triển kinh tế
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển đổi và phát triển, trong giai đoạn này vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với phát triển kinh tế càng thể hiện rõ Do điểm xuất phát thấp, công nghệ mà chúng ta sử dụng chủ yếu là công nghệ khai thác và chế biến tài nguyên Vậy nên, để đảm bảo phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động vấn đề đặt ra là cần phải khai thác, sử dụng tài nguyên như thế nào?
Trang 1713
Thực tế cho thấy, Ở Việt Nam hiện nay tình trạng khai thác tài nguyên đang diễn ra hết sức phức tạp, khó quản lý gây thất thoát, lãng phí tài nguyên nghiêm trọng: nạn chặt phá rừng, đốt rừng làm rẫy, nạn đánh bắt thuỷ, hải sản bằng thuốc nổ, nạn khai thác khoáng sản (than đá, vàng, đá quý, thiếc ) bừa bãi làm suy giảm, cạn kiệt tài nguyên
Đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững mà trong đó vấn đề khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Cần tiết kiệm và tiết chế sử dụng những tài nguyên không tái tạo được, khai thác sử dụng hợp lý các tài nguyên có thể tái tạo (tài nguyên biển, tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng) từ những dạng tài nguyên này nếu sử dụng hợp lý chúng ta có thể mở rộng sản xuất, phát triển đa dạng các ngành nghề liên quan, thu hút lao động, tạo thêm nhiều việc làm, chống thất nghiệp Muốn vậy, cần giải quyết tốt các vấn đề sau:
- Tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, xử
lý nghiêm minh những hành vi khai thác bất hợp lý, gây thất thoát, lãng phí tài nguyên
- Tăng cường công tác giáo dục người dân có ý thức bảo vệ và tái tạo tài nguyên đặc biệt là tài nguyên rừng
- Khuyến khích nhân dân mở mang các ngành nghề để khai thác tận dụng tài nguyên như: tận dụng mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản, khai thác hợp
lý tài nguyên biển, khoáng sản, mở rộng diện tích đất trồng trọt, đặc biệt là phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tận dụng các danh lam thắng cảnh để phát triển ngành du lịch, dịch vụ
1.2.2 Máy móc thiết bị
Máy móc thiết bị là tư liệu sản xuất, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Theo C Mác, vấn đề chủ yếu ở đây là vấn đề giới hạn kinh tế hay điều
Trang 1814
kiện kinh tế của việc áp dụng máy móc Máy móc nâng cao năng suất lao động (bởi nó làm giảm số lượng lao động xã hội cần thiết hao phí vào việc sản xuất một đơn vị sản phẩm) Tuy nhiên, máy móc lại đòi hỏi phải hao phí lao động để tạo ra nó Do đó, nếu lao động do máy móc tiết kiệm được bằng
số lao động cần thiết để sản xuất máy móc đó thì như Mác nói: trong trường hợp này, lao động chỉ đổi chỗ thôi, nghĩa là tổng số lao động cần thiết để sản xuất một hàng hoá không giảm bớt, hay năng suất lao động không tăng lên Trong điều kiện như vậy việc áp dụng máy móc có sự khác nhau về mặt kinh tế: lao động được giảm bớt trong phạm vi này nhưng lại bị chuyển sang phạm
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ
sở vật chất, kỹ thuật yếu kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chưa được hoàn thiện Vì vậy, quá trình
Trang 1915
công nghiệp hoá chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay được coi
là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình đổi mới trang thiết bị máy móc theo hướng hiện đại để phục vụ cho quá trình sản xuất nhắm đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao trên phương pháp sản xuất công nghiệp Đồng thời phát triển các ngành công nghệ cao dựa trên các thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại như: công nghệ sinh học, công nghệ tin học, công nghệ gia công chính xác trong chế tạo máy, tự động hoá với năng lượng mới, vật liệu mới Với lĩnh vực lao động việc làm, sự phát triển của khoa học công nghệ mang lại nhiều cơ hội để con người phát huy khả năng của mình, nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít thách thức Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, sức lao động rẻ và dư thừa (như Việt Nam) bị mất dần ưu thế
Xu hướng hiện nay là tăng lao động khoa học kỹ thuật, tri thức, phi sản xuất trực tiếp, giảm lao động giản đơn, kỷ năng thấp Như vậy, trong xã hội hiện đại chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong quá trình tìm kiếm việc làm Các quốc gia không lường trước được hiện tượng này của sự phát triển khoa học và công nghệ sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối trong nguồn nhân lực và xu hướng chắc chắn sẽ xẩy ra khi phát triển khoa học công nghệ là sự gia tăng thất nghiệp của đội ngũ công nhân không lành nghề Do
đó, để phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào các lĩnh vực của đời sống cần phải quan tâm giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực để họ chủ động nắm bắt khoa học công nghệ, vận hành tốt các trang thiết bị tiên tiến, có như vậy việc ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mới thực sự đạt hiệu quả
Để thực hiện mục tiêu này, trước hết cần có những biện pháp nhằm tăng cường năng lực thể chế của các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm Thực hiện có hiệu quả chương trình việc làm quốc gia thông qua
Trang 2016
nhiều hoạt động: đào tạo nghề cho người lao động, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, hiện đại hoá một số trường dạy nghề, khuyến khích phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề dân lập và tư thục
1.2.3 Dân số và tỷ lệ tăng dân số
Dân số, lao động và việc làm là những vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau Mức gia tăng dân số càng nhanh thì nguồn lao động trong tương lai cũng tăng nhanh, đồng thời nó sẽ tạo ra áp lực lớn đến giải quyết việc làm dưới nhiều khía cạnh khác nhau Gia tăng dân số nhanh sẽ buộc xã hội phải chi trả nhiều hơn cho mục đích tiêu dùng, đầu tư ít cho sản xuất và phát triển nhất là cho phát triển nguồn nhân lực Quy mô nguồn nhân lực lớn mà cơ hội việc làm ở nông thôn thấp sẽ dẫn đến tình trạng di dân từ nông thôn ra thành thị vì mục đích kiếm sống mà lực lượng chủ yếu là lao động trẻ, khoẻ, có vốn kiến thức khá nhất ở nông thôn, dẫn đến hậu quả là ở nông thôn bị mất đi nguồn nhân lực có sức khoẻ, có khả năng tiếp thu những tri thức mới cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Nhưng tại thành thị, lực lượng lao động này cũng khó có thể cạnh tranh để tìm kiếm
cơ hội việc làm trong khu vực kinh tế hiện đại, bởi họ hầu hết chỉ là lao động phổ thông, phần lớn chưa qua đào tạo nghề nên chủ yếu gia nhập khu vực phi kết cấu gây nên sự lãng phí trong sử dụng sức lao động của bộ phận lao động này Mặt khác, lao động ở nông thôn di cư lên thành thị sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt như vệ sinh, nhà ở, y tế Đó là chưa kể đến số dân di cư theo mùa vụ, hình thành nên các chợ lao động làm phức tạp cho công tác quản
lý đô thị, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cờ bạc, ma tuý, lây nhiễm HIV, AIDS
Dân số tăng nhanh sẽ làm cho đất nước khó khăn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đầu tư vào lớp trẻ thấp, chất lượng tương lai của
Trang 2117
nguồn nhân lực thấp, khó có khả năng đầu tư nâng cao năng lực và chất lượng của những người trong độ tuổi lao động Kinh nghiệm và tri thức của người lao động cao tuổi cũng khó được phát huy bởi phải nhường chỗ cho lớp trẻ Đất nước luôn ở tình trạng vận dụng các giải pháp tình thế để giải quyết lao động dôi dư mà giải pháp cho về nghỉ trước tuổi luôn là giải pháp đầu tiên được nghĩ đến
Bên cạnh đó, gia tăng dân số nhanh cùng với việc phân bố dân cư bất hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng chung là không gắn lao động với đất đai, tài nguyên, không gắn lao động với cơ sở vật chất kỹ thuật khiến cho việc tạo việc làm khó khăn, thất nghiệp và thiếu việc làm tiếp tục có xu hướng tăng nhanh khiến cho nghèo đói sinh sôi và tồn tại dai dẳng
Nước ta từ khi thực hiện đường lối đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội đáng kể Tuy nhiên, do tốc độ gia tăng dân số trong quá khứ nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng nhiều, tốc độ gia tăng của nguồn nhân lực không tương thích với tốc độ tạo việc làm trong nền kinh tế Thời kỳ 1979 - 1989 tỷ lệ tăng nguồn lao động bình quân hàng năm là 3,03% nhưng tỷ lệ tăng việc làm chỉ là 2,6%, còn của thời kỳ 1989 - 1999 là 2,71% và 2,34%, thời kỳ 1999-2004 chúng ta giải quyết được hơn 6,5 triệu việc làm Trên thực tế, số người bước vào tuổi lao động hàng năm vẫn lớn hơn nhiều so với chỗ làm việc mà chúng ta có thể tạo ra Đó là một sức ép lớn, ngoài ra còn phải kể đến sức ép của số lao động bị mất việc làm do tác động của khủng hoảng kinh tế, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, của sức cạnh tranh yếu kém của nền kinh tế nước ta Theo điều tra của Bộ lao động thương binh và xã hội cho thấy tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2000 là 6,34% năm 2004 là 6,68%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn thấp (dưới 80%) Số liệu thống kê và dự báo dân số còn cho thấy năm 1990 số người trong độ tuổi lao động mới là 35,7 triệu người,
Trang 2218
năm 2000 đã là 46,5 triệu người và dự đoán đến năm 2015 con số này sẽ lên tới 62 triệu người So với năm 1990 năm 2015 sẽ có thêm 26 triệu người trong độ tuổi lao động Đây chính là bài toán khó mà chúng ta phải giải quyết
để tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước
1.2.4 Thị trường hàng hoá sức lao động
Thị trường hàng hoá sức lao động là toàn bộ các quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực thuê mướn lao động Trên thị trường lao động mức cung, cầu về lao động ảnh hưởng đến tiền công lao động và sự thay đổi mức tiền công cũng ảnh hưởng tới cung, cầu về lao động Đối tượng tham gia thị trường lao động bao gồm: những người cần thuê và đang sử dụng sức lao động của người khác; những người có nhu cầu đi làm thuê hoặc đang làm việc cho người khác bằng sức lao động của mình để nhận được một khoản tiền công
Cung về lao động là khối lượng lao động sẵn sàng được sử dụng, đó là toàn bộ khối lượng thời gian mà những người lao động có khả năng và sẵn sàng làm việc với những mức tiền công khác nhau trong một thời gian nhất định Cung về lao động phụ thuộc các yếu tố sau:
Số người tham gia lực lượng lao động xã hội
Mức tiền công thực tế nhận được
Mối quan hệ lợi ích giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi
Mức sống của dân cư
Trình độ phát triển, phong tục tập quán
Cầu về lao động là số lượng sức lao động mà các chủ doanh nghiệp có khả năng thuê với các mức tiền công khác nhau trong một thời gian nhất định Cầu về lao động bị chi phối bởi các yếu tố:
Cầu về hàng hoá và dịch vụ trên thị trường
Tiền công lao động
Trang 2319
Các yếu tố về kỹ thuật công nghệ (trình độ nghề nghiệp của người lao động)
Mức độ của ưu tiên đầu tư theo các ngành, vùng
Quan hệ cung - cầu về lao động chịu sự tác động của nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là các yếu tố sau:
+ Khả năng phát triển thị trường để thu hút lao động (mở rộng cầu về lao động), yếu tố này phụ thuộc vào mô hình và cơ cấu kinh tế: phát triển các ngành, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều lao động; phát triển các vùng mà trước hết là các vùng nông thôn có tiềm năng tạo việc làm thu hút được nhiều lao động; phát triển các thành phần kinh tế và sự đan xen giữa các thành phần kinh tế; phát triển đa dạng các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và mối liên kết giữa chúng; mở rộng không gian kinh tế (trong nước và ngoài nước) + Sự phù hợp giữa cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế (việc làm) về không gian
và thời gian, vấn đề chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động + Sự phát triển của nguồn nhân lực: sự cung ứng sức lao động vào thị trường lao động hàng năm, sự tồn đọng của lao động chưa có việc làm (thất nghiệp) trong một thời điểm nhất định, mức độ căng thẳng hay sức ép về việc làm
+ Khả năng tổ chức thị trường lao động đặc biệt là sự phát triển các tổ chức xúc tiến việc làm, dịch vụ việc làm
Ở nước ta hiện nay, quan hệ cung - cầu về lao động trên thị trường lao động được biểu hiện như sau:
Thứ nhất, trên phạm vi cả nước cung về lao động luôn lớn hơn cầu về
lao động và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong nhiều năm tới dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm Ở đây, chủ yếu xét đến khả năng phát triển việc làm còn rất hạn chế trong khi khả năng tạo việc làm trong nền kinh tế còn rất lớn Sở dĩ chúng ta rơi vào tình trạng này là do xuất phát điểm thấp, nền kinh
tế thiếu vốn đầu tư nghiêm trọng, cơ cấu kinh tế đang trong quá trình chuyển dịch nhưng quá trình chuyển dịch diễn ra chậm chạp và khó khăn
Trang 2420
Thứ hai, cung lao động lớn hơn cầu lao động còn được xem xét về mặt
tăng cung lao động hàng năm với tỷ lệ còn cao, tỷ lệ tăng bình quân năm của nguồn nhân lực qua nhiều năm, đều lớn hơn tỷ lệ tăng dân số
Bảng 1.1: Tỷ lệ tăng bình quân năm của dân số và nguồn nhân lực
3,47 3,20 2,80 2,05 2,05
Do đó, cả về quy mô và tỷ lệ tăng của nguồn nhân lực đang tạo ra sức ép mạnh đối với nền kinh tế, đặc biệt là công tác tạo việc làm cho người lao động
Thứ ba, lao động nông thôn chiếm hơn 80% lao động của cả nước, nếu
chỉ làm thuần nông, lao động thiếu hoặc không có việc làm lên đến 30% Số lao động này sẽ tự do di chuyển ra thành phố hoặc khu công nghiệp tập trung
để tìm kiếm việc làm và sẽ làm cho cung về lao động trên thị trường lao động
ở thành thị càng lớn Mặt khác, số lao động này hầu hết chỉ là lao động phổ thông lại chưa qua đào tạo nghề nên gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm Thị trường lao động luôn thiếu đội ngũ lao động có trình độ cao, công nhân lành nghề để làm việc trong một số ngành, lĩnh vực áp dụng công nghệ mới hoặc trong các khu chế xuất, các đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 2521
Thứ tư, quan hệ về cung - cầu lao động trên thị trường lao động còn
căng thẳng về mặt cơ cấu Điều này thể hiện ở chỗ: một số ngành, một số lĩnh vực tiềm năng còn lớn, có khả năng tạo nhiều cơ hội việc làm, thu hút nhiều lao động, nhưng chưa tạo ra được những điều kiện về vốn, hạ tầng cơ sở, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý để biến những khả năng thành hiện thực như các ngành công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ
Bên cạnh những biểu hiện nêu trên, hiện nay trên thị trường lao động tồn tại xu hướng thừa lao động ở một số lĩnh vực đặt biệt là khu vực kinh tế nhà nước (lao động trong khu vực kinh tế nhà nước do cải cách hành chính và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đã giảm từ 14,7% năm 1991 giảm xuống còn 9% năm 2000) Song, lại xuất hiện thêm một số lĩnh vực và hình thức kinh doanh mới đang có nhiều khả năng thu hút nhiều lao động như kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, khu vực phi kết cấu, doanh nghiệp nhỏ Đó là những tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên Nhà nước cần có chính sách thoả đáng
để khuyến khích các tổ chức, cá nhân tạo điều kiện để họ mở rộng sản xuất, tạo việc làm cho người lao động
1.2.5 Cơ chế chính sách của Nhà nước về vấn đề lao động việc làm
Cơ chế chính sách của Nhà nước, của chính quyền địa phương và các quy định của doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm cho người lao động Những chính sách của Chính phủ là hành trang pháp lý cho quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh mở rộng hoặc thu hẹp việc làm ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, ngành này hay ngành khác, tạo môi trường để người chủ sử dụng lao động và người lao động cùng thực hiện
Trong những năm đầu của thời kì đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn, đất nước chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh
tế, tình hình lao động - việc làm trở thành vấn đề xã hội gay gắt, quan hệ đến
Trang 2622
từng gia đình, là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới bằng hệ thống các chính sách và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, điều đó đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi và nhân tố mới để đa dạng hoá các ngành, các hình thức kinh tế, các vùng kinh tế phát triển lên và tạo thêm nhiều việc làm mới, đáp ứng từng bước yêu cầu làm việc, tạo thu nhập nâng cao đời sống của người lao động, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội
Chủ trương về tạo việc làm đã được chỉ rõ trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc, Văn kiện Đại hội VIII ghi: "Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm" [23, tr 114,115]; Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhận định : "Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân" [24, tr 110]
Việc nhận thức đúng và đầy đủ về vấn đề lao động - việc làm đã mở ra những cơ hội mới
Đối với người lao động, cơ hội lựa chọn việc làm ngày càng được mở rộng Từ chỗ thụ động, trông chờ sự sắp xếp bố trí công việc của Nhà nước, người lao động trở nên năng động, tự chủ hơn, chủ động tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm trong các thành phần kinh tế Các quan hệ lao động - việc làm thay đổi theo hướng các cá nhân được tự do phát huy năng lực của mình, được giải phóng khỏi khuôn phép của cơ chế cũ, tự chủ hơn trong tìm kiếm việc làm
Người sử dụng lao động, được khuyến khích làm giàu hợp pháp, được
hỗ trợ bởi chính sách của Nhà nước, địa phương nên đã mạnh dạn đầu tư mở
Trang 2723
rộng sản xuất, tạo việc làm Khu vực kinh tế tư nhân, phi kết cấu được thừa nhận và khuyến khích phát triển, mở ra khả năng to lớn để tăng khối lượng việc làm
Đối với Nhà nước, vai trò trong giải quyết việc làm được thay đổi căn bản, thay vì bao cấp như trước, Nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo hành lang pháp lý, xoá bỏ rào cản về hành chính, cải cách hành chính, tạo điều kiện vật chất đảm bảo cho mọi tổ chức, cá nhân được tự do đầu tư phát triển sản xuất, tạo mở việc làm, tự do hành nghề hợp pháp và thuê mướn lao động Từng bước hình thành cơ chế phân bổ lao động theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ chế và chính sách xuất khẩu lao động
Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là Nhà nước phải tạo ra các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động
tự tạo việc làm thông qua những chính sách cụ thể Có thể có rất nhiều chính sách tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau, hướng vào phát triển cả cung và cầu lao động, đồng thời làm cho quan hệ giữa cung lao động và cầu lao động phù hợp với nhau Trong những năm qua, Nhà nước đã chuyển hẳn từ cơ chế quản lý hành chính về lao động sang cơ chế thị trường, cùng với việc triển khai và thực hiện nhất quán Bộ Luật lao động đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước và ổn định xã hội Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật: Luật đầu tư nước ngoài, Luật đất đai, Luật doanh nghiệp đã thúc đẩy các yếu tố của thị trường lao động, mở ra tiềm năng mới giải phóng các tiềm năng lao động và tạo mở việc làm Đồng thời, với các cải tiến trong quản lý hành chính, hộ khẩu, hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tách chính sách tiền lương, thu nhập khỏi chính sách xã hội đã góp phần tăng tính cơ động của lao động Phát triển hệ thống
Trang 2824
giáo dục - đào tạo và dịch vụ việc làm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh đó Nhà nước cần bổ sung và hoàn thiện một số chính sách vĩ mô như:
- Chính sách huy động vốn
- Chính sách đất đai
- Chính sách thuế
- Chính sách đầu tư…
1.3 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở MỘT
SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Hà Nội là thành phố nằm ở trung tâm của đồng bằng bắc bộ Theo cục thống
kê Hà Nội, năm 2000, Hà Nội có diện tích 920,97 km2 gồm 220 phường xã, 8 thị trấn, mật độ dân số bình quân 2.993 người/ km2, nội thành là 17.469 người/ km2
, ngoài thành 1.533 người/ km2 Dân số Hà Nội là 2.743.700 người, với cơ cấu dân
số trẻ, lực lượng lao động thường chiếm hơn 50% dân số trung bình Năm 2000 lực lượng lao động của thành phố Hà Nội là: 1.353.518 người, chiếm 49,49%
Trong giai đoạn 1996 - 2001 tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở Hà Nội luôn ở mức cao hơn so với cả nước
Bảng 1.2: Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi ở khu vực thành thị
6,85 7,40 6,34 6,28
9,09 10,31 7,95 7,39
Trang 2925
Nguồn : Niên giám thống kê 2001, tr 47
Nguyên nhân của vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động ở Hà Nội, là do cung lao động vượt quá cầu lao động trên thị trường,
do cơ cấu lực lượng lao động hiện có không phù hợp với cơ cấu kinh tế theo yêu cầu của phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh, do tinh giảm biên chế và
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nên lực lượng lao động bị dôi dư
Trước tình hình đó, Hà Nội đã đề ra những giải pháp cụ thể:
1 Phát huy các ngành nghề phù hợp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát huy ưu thế của người lao động
Phát triển công nghiệp, với phấn đấu của thành phố năm 2004 sẽ thu hút 3,5 vạn lao động vào làm việc, phát triển tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống quy mô vừa và nhỏ: dệt Yên Thái, gốm sứ Bát Tràng, vàng Định Công, đúc đồng Ngũ Xá , phát triển mạnh các loại dịch vụ chất lượng cao phục vụ công nghiệp hoá và đời sống như: du lịch, thương mại; phát triển nông nghiệp dựa vào thế mạnh của Hà Nội
2 Đẩy mạnh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Hà Nội đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Phát huy vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và ban hành, hướng dẫn thực hiện các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện các cấp học tạo tiền đề cho đào tạo nghề, chuyên môn nghiệp vụ của lao động thủ đô
Thực hiện các giải pháp cụ thể trong đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực của từng ngành, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tăng cường đào tạo và phát triển lao động quản lý, chủ doanh nghiệp
3 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động - đây là một trong những giải pháp được nhiều nước trên thế giới quan tâm và khai thác tối đa Trên địa bàn Hà
Trang 3026
Nội hiện nay có nhiều đơn vị có chức năng xuất khẩu lao động hoạt động có hiệu quả, giữ uy tín, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam ở nước ngoài Vì vậy, trong công tác xuất khẩu lao động doanh nghiệp xuất khẩu lao động không chỉ có trách nhiệm trong đào tạo ngoại ngữ, tay nghề cho người lao động mà còn có trách nhiệm quan tâm, bảo vệ người lao động khi họ gặp tai nạn, rủi ro
4 Tăng cường hoạt động của hệ thống thông tin thị trường lao động Xác định hệ thống thông tin thị trường lao động đóng vai trò quan trọng đối với người lao động cũng như các nhà hoạch định chính sách và cả các chủ sử dụng lao động Trong những năm qua, Hà Nội đã đẩy mạnh hoạt động thông tin thị trường lao động bằng việc tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm cũng như phát huy vai trò và sự phối hợp của Sở lao động Thương binh và Xã hội của thành phố Hà Nội, các trường Đại học và các tổ chức khác để tổ chức các hội chợ việc làm, ngày hội lao động tạo cơ hội cho người lao động tiếp cận với chủ sử dụng lao động
5 Tạo điều kiện cho người lao động tự tạo việc làm trong các ngành nghề thuộc khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, đặc biệt là khu vực phi chính thức
Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước nói chung, khu vực kinh tế phi chính thức nói riêng có sự đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội Hà Nội đặt ra vấn đề tiếp tục nâng cao nhận thức
về tự tạo việc làm trong khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, nhất là khu vực phi chính thức, thừa nhận sự tồn tại khách quan của khu vực này xem nó là một
bộ phận hợp thành của nền kinh tế đang phát triển, có vai trò to lớn trong giải quyết việc làm cho người lao động ở Hà Nội
6 Giải quyết việc làm cho người lao động ở Hà Nội qua chương trình quốc gia xúc tiến việc làm
Trang 31Từ những giải pháp đó, thời gian từ năm 2000 – 2005 mỗi năm Hà Nội giải quyết việc làm cho khoảng 70.000 lao động, thu nhập của người lao động luôn duy trì ở mức khá, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 0,3%
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Đà Nẵng
Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256 km2, dân số gần 700.000 người Đà Nẵng có vị trí địa lý khá thuận lợi, có tiềm năng phát triển nhanh chóng và toàn diện về kinh tế - xã hội Năm 1997, Đà Nẵng được tách ra thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, đây là thời điểm thành phố gặp những khó khăn thách thức: kinh tế tăng trưởng chưa cao, cơ sở hạ tầng yếu kém, tỷ lệ hộ đói nghèo cao với 8,79%, số người thất nghiệp và thiếu việc làm còn lớn với 5,87%
Trước tình hình đó Đà Nẵng đã đề ra những giải pháp tạo việc làm cho người lao động:
1 Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động, đây là giải pháp cơ bản Sau nhiều năm triển khai thực hiện công tác đào tạo nghề đến năm 2002, ở Đà Nẵng đã hình thành một hệ thống cơ sở dạy nghề gồm 12 trường THCN, CNKT, Cao Đẳng có dạy nghề trong đó 10 trường công lập, 2 trường dân lập và tư thục, 5 trung tâm dịch vụ việc làm, 7 trung tâm dạy nghề thuộc các hội, đoàn thể, 5 cơ sở doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề, 5 trung
Trang 3228
tâm dạy nghề tư nhân Thành phố đã đầu tư kinh phí, thực hiện chương trình đào tạo nghề miễn phí cho hàng trăm thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, con em lao động nghèo, cùng với việc giới thiệu lao động vào làm việc tại các công ty, xí nghiệp, nhà máy, các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể Từ năm 1997-2002, Đà Nẵng giải quyết gần 20.000 lượt lao động có việc làm, có thu nhập ổn định
2 Huy động nguồn lực tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm Năm 2001, Đà Nẵng huy động nguồn lực tham gia thực hiện chương trình là 133 tỷ đồng, luỹ kế 5 năm (1997-2001) là 661,624 tỷ đồng bao gồm vốn ngân hàng phục vụ người nghèo, nguồn vốn của thành phố đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn vốn huy động nội lực từ cộng đồng dân cư, nguồn từ chủ trương kết nghĩa giữa các phường, xã, nguồn viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ
3 Chuyển giao công nghệ, hướng dẫn kỹ thuật và cách làm ăn Nâng cao hiệu quả của nghề và công việc đang làm là một cách làm tạo sự ổn định việc làm cho lao động của thành phố Đà Nẵng Từ 1997-2002 Đà Nẵng đã tổ chức được 112 lớp tập huấn với 6.378 lượt người tham gia
4 Làm tốt công tác chỉ đạo điều hành
Từ nhận thức chủ trương đến chương trình hành động, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ được xác định cụ thể thông qua việc áp dụng các giải pháp một cách đồng bộ, tất cả các quá trình chỉ đạo điều hành này thực sự là động lực quan trọng cho công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm của thành phố Đà Nẵng
5 Tạo cơ chế, chính sách phù hợp
Từ thực tiễn của công cuộc xoá đói giảm nghèo - giải quyết việc làm trên cơ sở tham mưu, đề xuất của Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo - giải quyết việc làm của UBND Thành phố Đà Nẵng đã tạo cơ chế phù hợp, bảo
Trang 3329
đảm chương trình được vận hành tốt Chủ trương và chính sách đúng đã tác động đến chương trình, đó là việc phân cấp cho UBND quận, huyện duyệt mức vay dưới 10 triệu đồng từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, tăng mức vay lên 5 triệu đồng/ hộ (Trung ương 3 triệu đồng/hộ), thời hạn vay trong 5 năm (Trung ương 3 năm)
6 Phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, hội, đoàn thể, mặt trận Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo - việc làm, là chương trình tổng hợp được các ngành, địa phương và các hội, đoàn thể, mặt trận trên địa bàn thành phố ký kết văn bản liên tịch để triển khai Thông qua các hoạt động lồng ghép, chương trình đạt được kết quả về nhiều mặt, vừa tập hợp được hội viên, đoàn viên vừa mang lại lợi ích kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân
1.3.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số quốc gia láng giềng
Để thu hút và sử dụng được lực lượng lao động đông đảo, vấn đề then chốt là phải tạo thêm nhiều việc làm mới Về mặt này các quốc gia Đông Á đã thực hiện tương đối tốt, thông qua nhiều biện pháp và chính sách khác nhau Đây chính là những bài học quý đối với chúng ta
Khối lượng của vốn đầu tư là một trong những nhân tố có ảnh hưởng mạnh đến tình hình phát triển việc làm Trong quá trình phát triển, các quốc gia Đông Á luôn cố gắng duy trì tỷ lệ tích luỹ và đầu tư ở mức cao Singapore mỗi năm dành khoảng 40% GNP của mình cho đầu tư Hàn Quốc từ năm
1970 đến 1980 luôn duy trì mức đầu tư lớn hơn 28% GDP, Đài Loan là 29,6% Việc duy trì tỷ lệ tích luỹ và đầu tư ở mức cao đã xúc tiến sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đặt cơ sở rộng rãi và vững chắc để mở rộng phạm vi việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Trong tổng số vốn đầu tư, tiền gửi tiết kiệm là nguồn đầu tư chủ yếu, đặc biệt là trong giai đoạn những năm 60 Hầu hết các quốc gia này đều duy
Trang 3430
trì tỷ lệ lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở mức cao Nhờ đó thu hút được lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư rất lớn, biến chúng thành nguồn đầu tư quan trọng để phát triển kinh tế, thu hút lao động vào làm việc
Lựa chọn cơ cấu kinh tế năng động, chiến lược phát triển linh hoạt cũng là giải pháp hết sức quan trọng để tạo thêm nhiều việc làm mới Tất cả các quốc gia Đông Á đều có những chính sách ngành, nghề linh hoạt, chính sách mậu dịch uyển chuyển phù hợp với sự phát triển và xu thế của thời đại nên
đã đặt cơ sở cho chính sách tạo việc làm rộng rãi Những năm 60 họ ra sức phát triển các ngành nghề cần nhiều lao động như: công nghiệp nhẹ, công nghiệp dệt Những năm 70 lại tập trung xây dựng công nghiệp nặng Trong những năm
80, 90 khi cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới phát triển mạnh
mẽ, họ đã theo dõi chặt chẽ thành quả của nó và từ đó điều chỉnh mạnh cơ cấu ngành nghề, tập trung vào các ngành có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao để sản xuất và xuất khẩu sản phẩm Chẳng hạn, chính phủ Singapore đã dùng pháp lệnh buộc giới chủ chuyển sang các ngành công nghệ kỹ thuật cao; Đài Loan có các biện pháp hướng dẫn các ngành nghề chuyển sang công nghiệp điện tử
Sự điều chỉnh cơ cấu ngành, nghề và việc làm linh động đã khuyến khích sản xuất phát triển tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế Nhờ đó không những tạo việc làm cho đông đảo lao động mà còn khắc phục được tình trạng
sa thải hàng loạt công nhân
Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là giải pháp có tác dụng thu hút rộng rãi lao động ở mọi trình độ, lứa tuổi Nhật Bản luôn duy trì cơ cấu kinh tế hai tầng với sự tồn tại song song của khu vực kinh tế truyền thống (gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ) và khu vực kinh tế hiện đại Cơ cấu kinh tế đó đã cho phép nền kinh tế của Nhật có khả năng thu hút các dạng lao động tay nghề thấp và một lực lượng đông đảo những người tham gia lao động không đủ ngày công vì những lí do riêng, đặc biệt là lao động
Trang 3531
phụ nữ Thực tế cho thấy, các xí nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất lớn đối với sản xuất và đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động Theo Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế, có tới 99% các công ty, xí nghiệp ở Nhật Bản có quy mô vừa và nhỏ Các công ty này sử dụng tới 80% lực lượng lao động trong nước Không những vậy khu vực sản xuất, kinh doanh nhỏ còn cho phép sử dụng cả lao động nhàn rỗi ở mọi lứa tuổi, là nơi tạm thời tiếp nhận công nhân của các công ty lớn khi thiếu việc làm Vì vậy, sự tồn tại của khu vực sản xuất kinh doanh nhỏ được ví như chiếc van
an toàn cho các xí nghiệp lớn và công nhân của họ
Định hướng nền kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu cũng có tác dụng rất lớn tạo ra nhiều việc làm cho xã hội: các quốc gia Đông Á đều là những nước
có thị trường nhỏ hẹp Vì vậy, họ rất tích cực phát triển mậu dịch đối ngoại để
mở rộng thị trường ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia Việc mở rộng thị trường đã có tác dụng tích cực đến phát triển sản xuất trong nước Nhờ đó, cơ hội tạo thêm việc làm luôn luôn được tăng lên, nó không những giải quyết việc làm cho số người bị mất việc do hậu quả của việc tăng năng suất lao động do sử dụng công nghệ mới, mà còn thu hút thêm những người mới bước vào độ tuổi lao động vào làm việc Ví dụ: Đài Loan thời kỳ 1976 do tăng năng suất lao động đã giảm cơ hội việc làm cho 1.861 người Tuy nhiên, do tích cực phát triển mậu dịch đối ngoại kết quả đã kích thích mở rộng nhu cầu lao động, tạo thêm cơ hội tìm việc làm cho 2.606 người
Nhật Bản luôn có tốc độ tăng xuất khẩu bình quân nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng sản xuất, hàng hoá của Nhật Bản có mặt ở hầu khắp các nước trên thế giới Nhờ đó, quá trình tái sản xuất luôn được mở rộng và tạo thêm rất nhiều việc làm cho lực lượng lao động thông qua các hình thức gia công xuất khẩu [48, tr 40- 45]
Trang 3632
Tóm lại, sự phát triển kinh tế thành công, quá trình thực hiện mô hình công nghiệp hoá rút ngắn của nền kinh tế Đông Á có sự đóng góp rất lớn của công tác bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực
Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Đông Á có thể rút ra bài học sau:
Một là, nhân tố con người luôn được coi trọng để phát huy và sử dụng
cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; quá trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực được quan tâm đặc biệt và luôn gắn với chính sách sử dụng, phát huy, kết hợp khéo léo những yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại
Hai là, chú trọng công tác đầu tư, thu hút đầu tư để phát triển sản xuất, coi
trọng thu hút đầu tư trong nước để tận dụng lượng vốn nhàn rỗi trong dân chúng
Ba là, lựa chọn cơ cấu kinh tế năng động, chiến lược phát triển ngành,
nghề linh hoạt, ưu tiên phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động, tạo việc làm, sản xuất hướng đến xuất khẩu
Bốn là, tích cực phát triển mậu dịch đối ngoại để mở rộng thị trường
Trang 3733
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NGHỆ AN
TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Nghệ An là một tỉnh thuộc Bắc Trung bộ với diện tích tự nhiên 16.478
km2, phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Tỉnh Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm của tiểu vùng Bắc Trung bộ, trên tuyến giao lưu Bắc - Nam và đường xuyên Á Đông - Tây, cách thủ đô Hà Nội 300 km về phía nam; theo đường quốc lộ 8, cách biên giới Việt - Lào khoảng 80 km, cách biên giới Lào - Thái Lan gần 300km Nghệ An hội nhập
đủ các tuyến giao thông quốc gia đi qua địa bàn gồm: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không Vị trí địa lý kinh tế là một lợi thế so sánh của Nghệ An trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Về địa hình: Nghệ An nằm ở phía đông bắc dãy Trường Sơn, có độ
dốc thoải dần từ tây bắc xuống đông nam Diện tích đồi núi chiếm 83% diện tích tự nhiên, tập trung ở phía tây của tỉnh Dải đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 17% diện tích tự nhiên chạy từ nam đến bắc giáp biển Đông và bị các dãy núi
Trang 3834
bao bọc Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc và những dãy núi xen kẽ Đây cũng là trở ngại lớn cho sự phát triển giao thông và tiêu thụ sản phẩm
Nghệ An nằm ở phía nam vùng ranh giới giữa địa máng Tây Bắc và địa máng Trường Sơn, vì thế, Nghệ An là vùng có khí hậu nhiệt đới với mùa đông lạnh kèm theo mưa nhỏ và mùa hè nóng với đặc trưng gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng Lượng mưa bình quân hàng năm lớn từ 1.800 - 2.000mm nhưng phân bố không đều Vì thế, mùa mưa thường gây gập úng, mùa khô hanh thường gây hạn hán làm cho đời sống và sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn [25, tr 154,155]
Tài nguyên khoáng sản:
Nghệ An là tỉnh có tiềm năng rất lớn về khoáng sản nhưng chưa được đầu tư khai thác đúng mức Nguồn khoáng sản ở Nghệ An đa dạng và phong phú Có đủ loại khoáng sản quý hiếm như: vàng, đá quý đến các loại như thiếc,
bô xit, phôt phorit và các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng như đá vôi làm xi măng, đá xây dựng, cát, sỏi Trong đó tập trung chủ yếu một số khoáng sản có điều kiện khai thác như: mỏ thiếc ở Quỳ Hợp với tổng trữ lượng khoảng 100.000 tấn (lớn nhất cả nước) có hàm lượng cao; đá vôi có tổng trữ lượng trên
500 triệu m3, phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh Đặc biệt có mỏ đá Hoàng Mai (Quỳ Lưu) với trữ lượng > 300 triệu m3
điều kiện khai thác dễ dàng, chất lượng
đá tốt, mỏ đá Kim Nhan (Anh Sơn), mỏ đá Lèn Rõi (Tân Kỳ) Đá xây dựng có trữ lượng hàng tỷ m3; đá bazan ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp tổng trữ lượng trên 260 triệu tấn Đặc biệt Nghệ An có đá trắng vùng Quỳ Hợp có giá trị xuất khẩu cao;
mỏ mangan phân bố ở Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc với tổng trữ lượng trên 2 triệu tấn; mỏ nước khoáng có chất lượng cao và dễ khai thác (Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Đô lương); đất sét, cát xây dựng phân bố đều ở các huyện, thành thị trữ lượng lớn đáp ứng nhu cầu xây dựng của tỉnh
Trang 3935
Ngoài một số khoáng sản trên, Nghệ An còn có nhiều khoáng sản quý hiến như: vàng (Tà soi, Căm muộn, dọc sông cả), đá quý (Rubi, Saphia) (Quỳ châu) có ý nghĩa kinh tế cao, song chưa được thăm dò đánh giá cụ thể về trữ sản lượng và chất lượng
Tài nguyên rừng:
Nghệ An là tỉnh có diện tích rừng và đất rừng lớn, theo quyết định số 114/QĐ.UB ngày 23/3/2001 của UBND tỉnh phê duyệt quỹ đất Lâm nghiệp
để đưa vào quản lý, bảo vệ và sử dụng như sau:
- Tổng diện tích đất Lâm nghiệp toàn tỉnh là 1.195.477 ha chiếm 72,5% diện tích đất tự nhiên
- Độ che phủ của rừng năm 2001 đạt 53,8%
- Tổng trữ lượng rừng gỗ năm 2001 đạt trên 55 triệu m3
- Tổng trữ lượng nứa mét trên 1,2 tỷ cây
Tài nguyên rừng phong phú, đa dạng về chủng loại thực vật và động vật quý hiếm Có 68 họ, 510 loại cây thân gỗ, trong đó có nhiều loại cây gỗ có tên trong danh mục sách đỏ Việt Nam Các loại lâm sản khác như: song, mây, dược liệu tự nhiên phong phú là nguồn nguyên liệu quý cho phát triển các ngành công nghiệp chế biến trong tương lai
Tài nguyên biển và thuỷ sản:
Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu hải sản Trung ương (1998), biển Nghệ An với hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, có nguồn hải sản phong phú với 267 loại cá, 8 loại tôm, 3 loại mực Có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và xuất khẩu như: tôm hùm, tôm sú, mực, cá thu, cá chim, rắn biển v.v Tổng trữ lượng hải sản khoảng 80.000 tấn (mức khai thác cho phép 35.000 - 37.000 tấn/năm)
Diện tích nuôi trồng có trên 2000 ha mặt nước, mặt lợ để nuôi tôm, cua, nhuyễn thể, sò xuất khẩu; đồng muối có khả năng phát triển trên dưới 1.000
ha, sản lượng 100.000 tấn/ năm Bên cạnh đó, bờ biển ở Nghệ An bằng phẳng,
Trang 4036
môi trường nước trong sạch có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn như: bãi tắm Cửa
Lò, Nghi Thiết, Cửa Hiền, v.v Bãi tắm Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và sạch nhất cả nước Hàng năm thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế đến nghỉ mát và du lịch Nghệ An còn có khả năng phát triển vận tải biển với 82km bờ biển, 6 cửa lạch, 2 cảng lớn là cảng Cửa Hội, cảng Cửa Lò
có ý nghĩa chiến lược đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời là cửa ngõ thông ra biển của nước bạn Lào và đông bắc Thái Lan
Tài nguyên đất đai:
Nghệ An có tổng diện tích tự nhiên là 1.648.729 ha; trong đó có 195.944,4
ha đất nông nghiệp (chiếm 11,80%), 684.398,8 ha đất lâm nghiệp (chiếm 41,57%), 59.221,08 ha đất chuyên dùng (chiếm 3,59%), 14.893,51 ha đất ở (chiếm 0,9%) Diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn rất lớn với 693.166,46 ha (chiếm 42,04%) chủ yếu là đất trống, đồi trọc [42, tr 13-17]
2.1.2 Dân số, lao động và đơn vị hành chính
Tính đến 31-12-2004, dân số trên địa bàn tỉnh Nghệ An ước đạt 3.003.170 người Trong đó có 316.187 người thuộc khu vực thành thị (chiếm 10,53%) và 2.686.983 người thuộc khu vực nông thôn (chiếm 89,47%)
Cơ cấu dân số tỉnh Nghệ An năm 2001-2004