Bởi giải quyết việc làm là quá trình duy trì, phát triển thêm nhiều ngành nghề, các loại hình sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện và khả năng của lao động dân tộc ít
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HÀ THỊ VÂN CHI
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN SAPA – TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS, TS Đỗ Thế Tùng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn của GS, TS Đỗ Thế Tùng Các số liệu và trích dẫn trong
luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Hà Thị Vân Chi
Trang 4MỤC LỤC
Danh mu ̣c chữ viết tắt………i Danh mu ̣c bảng……….ii
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC ÍT NGƯỜI 11
1.1 Việc làm và những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giải quyết viê ̣c làm 111.2 Các chủ thể giải quyết việc làm 321.3 Kinh nghiệm giải quyết viê ̣c làm cho lao đ ộng dân tô ̣c ít người ở mô ̣t số
đi ̣a phương 38
Chương 2 : THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI TRÊN ĐI ̣A BÀN HUYỆN SAPA – TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2006 – 2012 43
2.1 Thực tra ̣ng về những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết viê ̣c làm 432.2 Thành tựu trong giải quyết viê ̣c làm cho lao đ ộng các dân tô ̣c ít người trên đi ̣a bàn huyê ̣n SaPa – Tỉnh Lào Cai 572.3 Hạn chế và những vẫn đề cần đạt ra trong giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người ở SaPa 68
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN TỐT HƠN NHIỆM VỤ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI TRÊN ĐI ̣A BÀN HUYỆN SAPA 74
3.1 Phương hướ ng giải quyết viê ̣c làm cho lao đ ộng các dân tô ̣c ít ngư ời ở Huyện Sa Pa 743.2.Những giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao đ ộng các dân tô ̣c ít người ở Huyê ̣n Sa Pa – Tỉnh Lào Cai 83
KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.2: Cơ cấu lao động làm việc trong các ngành kinh tế
Bảng 2.1: Số lượng và cơ cấu dân tộc ít người huyện Sa Pa năm
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế ở Sa Pa thời kỳ
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN - TTCN : Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp HTX : Hợp tác xã
LHPN : Liên hiệp phụ nữ
PTNT : Phát triển nông thôn
TTCN – XDCB : Tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bẩn
TB & XH : Thương binh và xã hội
VRG : Tập đoàn cao su Việt Nam
XKLĐ : xuất khẩu lao động
Trang 7Sa Pa cũng là mô ̣t trong những huyê ̣n cần ng hiên cứu và giải quyết vấn
đề việc làm Dân số Huyện Sa Pa theo kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 là 52.899 người với 7 dân tộc; trong đó người Mông chiếm 51,65%, Dao 23,04%, Kinh 17,91%, Tày 4,74%, Dáy 1,36%, Xã Phó 1,06%
còn lại là các dân tộc khác chiếm 0,23% Các đồng bào dân tộc cư trú ở 17 xã,
sống chủ yếu bằng nông nghiệp, nghề rừng và những ngành nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, mây tre đan… Dân tộc Kinh cư trú chủ yếu ở trị trấn Sa Pa, sống bằng nghề nông và dịch vụ thương nghiệp
Nhìn chung, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc ít người còn rất thấp và không đồng đều Kinh tế hàng hóa chậm phát triển, kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên còn chiếm tỉ trọng không nhỏ Tình trạng du canh du cư vẫn chưa được khắc phục một cách căn bản Đời sống của đại bộ phận đồng bào dân tộc ít người còn nhiều khó khăn, thậm chí có nơi rất khó khăn Nghèo đói vẫn còn trên diện rộng, sinh hoạt văn hóa thiếu thốn, tỷ lệ số người mù chữ và thất học còn lớn Một số bệnh dịch chưa bị đẩy lùi một cách căn bản,
Trang 8có nơi, có lúc còn phát triển, gây tử vong cao Nhiều tiêu cực xã hội phát sinh Bọn phản động và các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng địa bàn hiểm trở của miền núi để thực hiện âm mưu chống phá cách mạng nước ta về mọi mặt
Trong thời gian vừa qua, trong các dân tộc ít người ở Sa Pa, số người đến tuổi lao động không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định
khá nhiều do hạn chế về trình độ và ở xa trung tâm huyện, thị trấn
Vì vậy, giải quyết việc l àm cho lao đ ộng các dân tộc ít người không chỉ có ý nghĩa về m ặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về cả các m ặt chính tri ̣, xã
hô ̣i, văn hóa
Xuất phát từ thực tế trên, “Gia ̉ i quyết viê ̣c làm cho lao đ ộng các dân
tô ̣c ít người trên đi ̣a b àn huyện Sa Pa – tỉnh Lào Cai” được cho ̣n làm đ ề
tài luâ ̣n văn tha ̣c sỹ chuyên ngành kinh tế chính tri ̣
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhiều quốc gia Do vậy, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lao động, việc làm Tiêu biểu như:
- Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp của PGS Nguyễn
Quang Hiển, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995
- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của Thạc
sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, Nxb Lao động -xã hội, Hà nội, 2002
Các tác giả cho rằng vấn đề việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề toàn cầu, đề ra phương pháp tiếp cận tổng quát về chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực trạng vấn
đề việc làm ở Việt Nam Nội dung của các công trình đã đề xuất hệ thống các quan điểm, phương hướng giải quyết việc làm và khuyến nghị, định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Trang 9“Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (2001) do
PGS.TS Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài, đã phân tích rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Các tác giả cho rằng: việc nâng cao chất lượng nguồn lao động không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, mà còn góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp Từ đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động và giải quyết việc làm ở nước ta
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ về đề tài giải quyết việc làm và các biện pháp giải quyết việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
“ Nghiên cứu nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm sau học nghề của phụ
nữ và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề thuộc Hội phụ nữ, phục vụ triển khai đề án 295 Lao động nữ và giới 2013” Chủ nhiệm đề tài
TS Nguyễn Thị Lan Hương Viện Khoa học Lao động và Xã hội Đề tài đã đánh giá thực trạng dạy nghề, hỗ trợ việc làm cho phụ nữ sau học nghề Đánh giá thực trạng năng lực của các cơ sở doanh nghiệp thuộc Hội Liên hiệp phụ
nữ Đề xuất khuyến nghị góp phần sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách dạy nghề và việc làm cho phụ nữ; Bổ sung một số nghề đào tạo mới phù hợp với phụ nữ để đưa vào giảng dạy ở cơ sở doanh nghiệp Tổng quan chính sách dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho phụ nữ Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan Hương đã
đề cập tới vấn đề giải quyết việc làm cho lao động xuất khẩu trong tác phẩm:
“Khảo sát tình hình lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trở về Việt Nam”
Đề tài đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam làm cơ
sở đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện chính sách XKLĐ để giảm thiểu các tác động tiêu cực, và nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động
Trang 10trong giai đoạn tới Đề tài đã phân tích và làm rõ các mặt được và chưa được của xuất khẩu lao động tại 4 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình, Bắc Giang Quá trình trước khi đi XKLĐ: việc tiếp cận của người lao động đến các kênh thông tin chính thức còn gặp nhiều khó khăn; người lao động phải nộp chi phí chính thức cao hơn so với quy định ở một số thị trường có thu nhập cao như Đài Loan, Nhật Bản Quá trình sống và làm việc ở nước ngoài: Lao động Việt Nam gặp khá nhiều khó khăn trong việc thích nghi với điều kiện sống và làm việc tại nước ngoài Sau khi về nước, phần đông người lao động gặp khó khăn trong hòa nhập thị trường lao động do thiếu thông tin về việc làm; những kinh nghiệm làm việc, tác phong công nghiệp cũng như kỹ năng tay nghề và ngoại ngữ của người lao động mặc dù đã được cải thiện nâng lên đáng kể nhưng lại không được tận dụng và phát huy
“Các giải pháp tài chính đối với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam”
của Nguyễn Văn Dần, Hà Nội, 2000 Tác giả đã nghiên cứu về vấn đề việc làm, thất nghiệp và vai trò của tài chính đối với việc giải quyết việc làm của đất nước Thực trạng và định hướng sử dụng các công cụ tài chính để giải quyết việc làm ở Việt Nam và kinh nghiệm về giải quyết việc làm của một số nước
“Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam” của Trần
Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự thật, 1991 Các tác giả nghiên cứu về vai trò và tiềm năng nguồn lao động trong phát triển kinh tế, xã hội; hiện trạng lao động và việc làm, phương hướng chủ yếu sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm có hiệu quả ở Việt Nam
“Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dũng,
Trần Hữu Trung, Nxb Chính trị quốc gia, 1997 Các tác giả đã phân tích vị trí vai trò của chính sách việc làm trong hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam đồng thời đưa ra các khái niệm về lao động, thị trường lao động, việc làm, thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam và phương hướng giải quyết; khuyến nghị, định
Trang 11hướng một số chính sách cụ thể về việc làm, mô hình tổng quát về chương trình quốc gia xúc tiến việc làm nghiên cứu khác có liên quan Tuy nhiên công trình này không đề cập riêng việc làm của lao động các dân tộc ít người và cũng chưa chỉ rõ nhưng nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới việc làm
Luận án Tiến sỹ của TS Phan Chính Thức (2003) với đề tài: “ Những
giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận án Tiến sỹ Giáo dục học, Hà
Nội Công trình này đề cập hệ thống đào tạo nghề trên giác độ hệ thống cung ứng nhân lực lao động qua đào tạo nghề cho nền kinh tế và đi sâu và nghiên cứu thực trạng và các vấn đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam
Các công trình trên đã quan tâm đến vấn đề việc làm và thất nghiệp, coi
đó là một vấn đề có tính toàn cầu; đã đưa ra cách tiếp cận về chính sách việc làm, hệ thống hoá những khái niệm lao động, việc làm, thu nhập; đánh giá thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam nói chung; đề xuất quan điểm và phương hướng giải quyết vấn đề việc làm và khuyến nghị, định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Các công trình về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn như:
Nguyễn Sinh Cúc (2003), "Giải quyết việc làm ở nông thôn và những
vấn đề đặt ra”; Tạp chí Con số và Sự kiện, số 8 Nguyễn Hữu Dũng (2004),
“Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 247 Vũ
Đình Thắng (2002), “Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 3 Bùi Văn Quán (2001), “Thực trạng lao động, việc làm ở
nông thôn và một số giải pháp cho giai đoạn 2001-2005”, Tạp chí Lao động
và Xã hội, số chuyên đề 3 “Việc làm cho người nông dân hết đất sản xuất,
quy hoạch lại nguồn lao động”, của Nguyễn Văn Nam, đăng trên Thời báo
Kinh tế Việt Nam, 19/8/2005 "Chất lượng lao động nông thôn thấp” của tác
Trang 12giả Huyền Ngân, trên Thời báo kinh tế Việt Nam số ra ngày 23/3/2005 “Đẩy
mạnh xuất khẩu lao động tại chỗ - hướng giải quyết việc làm quan trọng trong hội nhập” của TS Bùi Thị Lý - Đại học Ngoại thương Hà Nội, đăng
trên Tạp chí Cộng sản số 801, 7/2009
Những công trình nghiên cứu kể trên đã đưa ra những kết luận chung
về việc làm và thu nhập của người dân nông thôn nước ta Đặc biệt các đề tài
đã tìm ra được giải pháp để nâng cao trình độ lao động ở nông thôn, đồng thời đưa ra phương hướng phát triển trình độ lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Nhưng các đề tài chủ yếu dựa vào nguồn lao động nông thôn đã có trình độ và tầm hiểu biết ít nhiều, mối quan hệ nông thôn và thành thị đã được rút ngắn, chưa tìm ra nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giải quyết việc làm và đi sâu nghiên cứu, đánh giá các nhân tố đó Các đề tài nghiên cứu lao động nông thôn dựa trên sự kế thừa của các đề tài trước đó, nghiên cứu lao động trên phạm vi rộng lớn mà chưa đi sâu vào vấn
đề lao động ở miền núi - bộ phận lao động quan trọng đóng góp vào sự phát triển các tỉnh miền núi nước ta
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đầu tư cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người, tạo cơ hội cho đồng bào vượt lên khó khăn phát triển kinh tế-xã hội, hoà nhập vào xu thế phát triển chung của đất nước như:
- “Chiến lươ ̣c toàn diê ̣n về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ” (do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 2685/VPCP-QHQT, ngày
21/5/2002) “Chương tri ̀nh mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005” do Thủ tướng Chính phủ phê duyê ̣t theo Quyết đi ̣nh số
143/2001/QĐ-Ttg, ngày 27/9/2001) “Chương trình phát triển kinh tế xã hội
các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
Trang 13đoạn 2006 - 2010” (do Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo Quyết định số
07/2006/QĐ-T\Tg ngày 10/01/2006)
- Ngoài ra Đảng và Nhà nước ta còn có Chương trình Phát triển kinh
tế-xã hội các tế-xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc ít người và miền núi (Chương trình 135), Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo, Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm, Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, Chương trình mục tiêu Quốc gia về biến đổi khí hậu, Quyết định 134, Quyết định 32, Quyết định 33… dành cho các xã đồng bào khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người nghèo nói riêng và người nghèo cả nước nói chung
Các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ hội đột phá giúp người nghèo ổn định cuộc sống Nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc
ít người, miền núi
Nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cũng đã có những bài viết về vấn đề nguồn nhân lực các dân tộc ít người được đăng tải trên các Tạp chí như:
“ Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa ” Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa - chủ biên
(1998), NXB Chính trị Quốc Gia Công trình đã phân tích đặc điểm kinh tế,
xã hội vùng dân tộc ít người, từ đó đưa ra định hướng chung cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, công trình chưa khai thác những đặc
điểm về dân cư, tộc người, nguồn lực lao động “Chính sách dân tộc đã thực
sự đi vào cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kon Tum” của Nguyễn
Thanh Cao, tạp chí Tư tưởng Văn hoá 2004; “Chính sách cử tuyển- một chủ
trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số” của Nguyễn Thị
Mỹ Trang- Lại Thị Thu Hà, Tạp chí Dân tộc học 2005
Trang 14Các bài viết này bước đầu đề cập đến các vấn đề cấp bách hiện nay như giáo dục - đào tạo, việc làm cho đồng bào dân tộc ít người… với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng chưa có đề tài, công trình khoa học nào phân tích, đánh giá vấn đề giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người dưới dạng một luận văn khoa học kinh tế Để thực hiện đề tài khoa học này, tác giả
có lựa chọn và kế thừa một số kết quả nghiên cứu, kết hợp khảo sát thực tiễn trên địa bàn huyện Sa Pa (Tỉnh Lào Cai) để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của Huyện trên cơ sở những đường lối, quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước và của tỉnh đề ra trong những năm tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cu ̉ a luâ ̣n văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vâ ̣n du ̣ng lý luâ ̣n về viê ̣c làm và giải quyết viê ̣c làm cho người lao
đô ̣ng vào khảo sát thực tra ̣ng giải quyết viê ̣c làm cho lực lượng lao đô ̣ng dân
tô ̣c ít người ở Sa Pa, từ đó đề xuất những giải pháp để t hực hiê ̣n tốt nhiê ̣m vu ̣ này ở Sa Pa trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mô ̣t là, tóm lược lý luận về việc làm , giải quyết việc làm , những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết viê ̣c làm và phân tích yêu cầu bức thiết về viê ̣c làm của dân tộc ít người Tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết việc làm cho dân
tô ̣c ít người ở mô ̣t số tỉnh của nước ta
Hai là, khảo sát thực trạng giải quyết việc làm cho lực lượng lao động của dân tộc ít người trên đ ịa bàn huyện Sa Pa từ năm 2006 – 2012 và những vấn đề cần giải quyết để thực hiê ̣n tốt hơn nhiê ̣m vu ̣ này
Ba là, đề xuất phương hướng và nh ững giải pháp chủ yếu nh ằm giải quyết viê ̣c làm cho lao đ ộng các dân tô ̣c ít người ở huyê ̣ n Sa Pa giai đoa ̣n
2012 – 2020
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luâ ̣n văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luâ ̣n văn làm rõ nhu cầu viê ̣c làm của dân tô ̣c ít người ở Sa Pa và
những giải pháp phù hợp để đáp ứng nhu cầu ấy
Những người lao đô ̣ng trong đô ̣ tuổi từ 15 – 60 thuô ̣c các dân tô ̣c ít người trên đi ̣a bàn huyê ̣n Sa Pa
Thời gian khảo sát: từ năm 2006 – 2012 và dự báo đến năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Kế thừa lý lu ận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước; Các nghị quyết, quyết định của Đảng bộ tỉnh Lào Cai về giải quyết việc làm cho lao đ ộng các dân tô ̣c ít người Kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các quan điểm của các nhà nghiên cứu,
các học giả về vấn đề trên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Kế thừa lý luâ ̣n về viê ̣c làm và giải quyết viê ̣c làm từ các công trình khoa ho ̣c đã được công bố , vâ ̣n du ̣ng các phương pháp ngh iên cứu khoa ho ̣c kinh tế, nhất là phương pháp kết hợp lô gic với li ̣ch sử , trừu tượng hoá khoa học, phân tích và tổng hợp, sử du ̣ng số liê ̣u thống kê
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn không đi sâu tìm hiểu vai trò của giải quyết việc làm như các luận văn trước đó đã nghiên cứu mà phân tích rõ tính đă ̣c thù của những người lao đô ̣ng thuô ̣c các dân tô ̣c ít người Đánh giá, phân tích những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm cho đồng bào dân tộc ít người nói chung và đồng bào dân tộc ở Sa Pa nói riêng Từ đó, đưa ra thành tựu và hạn chế về việc làm có tính đặc thù cho lao động Sa Pa
Trang 16Đề xuất những gi ải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề viê ̣c làm cho lao động các dân tô ̣c ít người trên đi ̣a bàn huyê ̣n Sa Pa – tỉnh Lào Cai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài l ời mở đầu , kết luâ ̣n , danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , Luận văn gồm 3 chương 8 tiết:
Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về giải quyết viê ̣c làm cho lao
đô ̣ng dân tô ̣c ít người
Chương 2: Thực tra ̣ng giải quyết viê ̣c làm cho lao đô ̣ng các dân tô ̣c ít
người trên đi ̣a bàn huyê ̣n Sa Pa – Tỉnh Lào Cai từ năm 2006 - 2012
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để thực hiê ̣n tốt hơn
nhiê ̣m vu ̣ giải quyết viê ̣c làm cho lực lượng lao đô ̣ng của các dân tô ̣c ít người trên đi ̣a bàn huyê ̣n Sa Pa
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC ÍT NGƯỜI 1.1 Viê ̣c làm và những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giải quyết viê ̣c làm
1.1.1 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1.1 Khái niệm việc làm
Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động chỉ được coi là có việc làm khi được hoạt động trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể), nhất là được vào biên chế nhà nước Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác, đồng thời cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp…
Ngày nay, quan niệm về việc làm đã được mở rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, mà không bị pháp luật cấm Điều 13, chương II Bộ Luật lao động Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Như vậy, việc làm là những hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của
đời sống kinh tế xã hội, mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị
luật pháp cấm
Một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và các thành viên trong gia đình, đáp ứng một yêu cầu nào đó của xã hội
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị
pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm
Hai điều kiện trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ
Trang 18Quan niệm về việc làm trên đây là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay Trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, người lao động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất kì đâu, miễn là không vi phạm luật pháp để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn Quan niệm trên đã mở ra nhiều hướng giải quyết việc làm, mở rộng thị trường lao động, phong phú và đa dạng, thực hiện mục tiêu tận dụng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội
1.1.1.2 Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là các phương thức giúp người lao đô ̣ng tìm đư ợc việc làm trong các ngành công nghi ệp, nông nghiê ̣p, dịch vụ ( bao gồm di ̣ch
vụ hành chính công – tức là bô ̣ máy nhà nước ), gắn với đào ta ̣o , bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tạo ra các cơ hội để người lao động tăng được thu nhập phù hợp với khả năng và lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội
Giải quyết việc làm có ý nghĩa rất quan trọng vì đã tạo cơ hội cho người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần xây dựng quê hương đất nước
Nói tóm lại, “ Giải quyết việc làm là thực hiện các biện pháp, chính
sách kinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tạo điều kiện cho người lao động
có việc làm”
Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết việc làm: Nhà nước, các doanh nghiệp, các đoàn thể và bản thân người lao động Hiện nay, giải quyết việc làm là một chính sách xã hội quan trọng và cấp bách Nhà nước ta cũng đã và đang đưa ra nhiều giải pháp nhằm tạo ra việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nhiệp, nông thôn và vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo Muốn vậy, các thành phần kinh tế cần
mở rộng các ngành, nghề, cơ sở sản xuất, dịch vụ, có khả năng sử dụng nhiều
Trang 19lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, đẩy mạnh phong trao lập nghiệp của thanh niên va đào tạo lao động có nghề Tổ chức chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi người lao động ở nước ngoài Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội va an sinh xã hội Sớm xây dựng và thực hiện chính sách xã hội đối với người lao động thất nghiệp
1.1.1.3 Việc làm cho lao động dân tộc ít người
Dân tộc, được hiểu ở đây chính là “dân tộc - tộc người” mà đến nay các
nhà nghiên cứu đều thống nhất một cộng đồng dân tộc người có ba tiêu chí sau: một là, có ngôn ngữ chung; hai là, có đặc trưng về văn hóa sinh hoạt chung; ba là, có ý thức tự giác về tộc người Cả ba tiêu chí trên hợp thành tính tộc người Ngôn ngữ là dấu hiệu quan trọng đầu tiên, vừa là phương tiện giao tiếp giữa những người đồng tộc, vừa là vách ngăn với các dân tộc khác Văn hóa tộc người được biểu hiện trong vô vàn các lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, như các loại hình nhà cửa, đồ dùng trong gia đình, y phục,
ăn uống, tập quán, nghi lễ, nghệ thuật dân gian, tôn giáo,…ý thức tự giác tộc người được thể hiện ở tên tự gọi (Kinh, Tày, Thái, Mường,…) và quan niệm
về nguồn gốc lịch sử con người
Dân tộc ít người là khái niệm chỉ các cộng đồng dân tộc người không
phải đa số trong quốc gia-dân tộc Ở Việt Nam, theo cách phân chia hiện nay
có 55 thành phần tộc người, trong đó người Kinh được xem là cư dân đa số,
54 tộc người còn lại được xem là cư dân thiểu số Thiểu số hay đa số là xem xét trên phạm vi toàn quốc không xem xét trên phạm vi một địa phương cụ thể, bởi một tộc người này được xem là thiểu số khi xét trên phạm vi toàn quốc, nhưng ở một địa phương có khi lại là đa số như trường hợp người Tày ở Cao Bằng, người Nùng ở Lạng Sơn, người Thái ở Sơn La,…
Trang 20Ở đây cần phân biệt khái niệm “dân tộc” với “miền núi” Dân tộc là chỉ cộng đồng xã hội tộc người, còn miền núi là hình thái lãnh thổ, được phân biệt với trung du và đồng bằng Miền núi được dùng để chỉ địa bàn có địa hình dốc, lồi, có độ cao trên 200m so với mặt nước biển Tỉnh miền núi là tỉnh
có trên 2/3 diện tích núi Sở dĩ khái niệm “dân tộc” thường có quan hệ với khái niệm “miền núi”, nhất là trong thực hiện chính sách dân tộc vì miền núi là địa bàn tụ cư phần lớn các tộc người thiểu số Tuy nhiên, ở miền núi không chỉ có tộc người thiểu số, mà có cả tộc người đa số (Kinh); mặt khác, các tộc người thiểu số cũng không chỉ cư trú ở miền núi, mà còn ở cả đồng bằng
Như vậy, việc làm cho lao động dân tộc ít người là hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần không bị pháp luật cấm của lực lượng lao động thiểu số, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật Hoạt động này mang lại lợi ích cho bản thân họ và tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng
1.1.1.4 Ý nghĩa cu ̉a giải quyết viê ̣c làm cho lao động dân tộc ít người
Việc làm đối với người lao động là vô cùng quan trọng, nó là điều kiện để tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan của người lao động Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Bởi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển Và giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người còn có ý nghĩa về cả mặt chính trị và an ninh quốc phòng
a Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người giúp người lao động tăng thêm thu nhập, từng bước nâng cao đời sống
Nghèo đói đã và đang là thách thức đối với các dân tộc ít người trong quá trình phát triển và hội nhập Theo số liệu thống kê năm 2008, tỷ lệ người dân tộc ít người trong cả nước chỉ chiếm 13,8%, nhưng lại chiếm tới 29% số
Trang 21hộ nghèo ở Việt Nam Có thể nói, hộ nghèo là đồng bào dân tộc ít người còn chiếm tỷ lệ cao: Tây Bắc là 18,7%, Tây Nguyên 17,4% Tình trạng tái nghèo, phát sinh hộ nghèo ở một số tỉnh còn rất lớn Thu nhập bình quân trên đầu người của lao động dân tộc ít người còn thấp, có nơi dưới 60.000đồng/tháng Vì vậy, giải quyết việc làm không chỉ tạo thêm thu nhập cho lao động ít người mà còn giúp họ ngày một nâng cao mức sống, xóa được đói, giảm được nghèo Bởi giải quyết việc làm là quá trình duy trì, phát triển thêm nhiều ngành nghề, các loại hình sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện và khả năng của lao động dân tộc ít người Giúp họ định canh, định cư, tránh tình trạng du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy
b Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người là biện pháp thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển và tăng cường giao lưu buôn bán giữa các vùng miền
Các dân tộc ít người có các trình độ phát triển kinh tế rất khác nhau Một số ít các dân tộc còn tiến hành các hoạt động săn bắn, hái lượm, đánh cá, loại hình kinh tế của họ là chiếm đoạt, thừa hưởng của cải sẵn có của tự nhiên, họ chưa chuyển sang được loại hình kinh tế sản xuất Tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ít người ở Việt Nam mặc dù còn tiến hành kinh tế chiếm đoạt, nhưng đã chuyển sang loại hình mới, cao hơn kinh tế sản xuất, tức là tác động vào đối tượng sản xuất để làm ra nhiều của cải vật chất nuôi sống con người Do loại hình kinh tế khác nhau đã kéo theo những sự khác nhau trong đời sống các tộc người Nếu với kinh tế chiếm đoạt, công cụ sản xuất rất thô
sơ, chỉ có nỏ, tên, dao; làm rẫy chỉ cần rìu, rựa, cuốc; nghề làm ruộng sử dụng cày, bừa và sức kéo của trâu bò Sản phẩm làm ra chủ yếu để nuôi sống bản thân và gia đình; hàng hóa còn ở dạng thô, có giá trị thấp Chính vì thế nền kinh tế hàng hóa ở đây còn chưa có điều kiện phát triển hoặc nếu có thì cũng
ở một trình độ còn thấp kém Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít
Trang 22người sẽ giúp tạo thêm nhiều ngành nghề mới; phân công lại lao động giữa các vùng theo hướng chuyên môn hóa để khai thác tối đa mọi nguồn lực; người dân tộc ítu nười từ sự đầu tư của các chương trình, dự án khác nhau của Nhà nước sẽ được tiếp xúc với các trang thiết bị, máy móc, công nghệ mới, cải tạo lại kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từ đó giúp thay đổi lối tư duy sản xuất và loại hình kinh tế cũ; quy mô sản xuất hàng hóa được mở rộng, sản phẩm hàng hóa làm ra phong phú hơn và không ngừng nâng cao về chất lượng Một số sản phẩm hàng hóa mang tính đặc trưng vùng miền, mang đậm bản sắc dân tộc sẽ có điều kiện vươn ra thị trường ở trong và ngoài nước Từ
đó, thu nhập của đồng bào dân tộc ít người không ngừng tăng lên, đời sống được cải thiện lại làm xuất hiện các nhu cầu mới về hàng hóa, dịch vụ, kích thích nền sản xuất hàng hóa phát triển
c Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người góp phần làm cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH; xây dựng nông thôn mới
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các tỉnh có đông đồng bào dân tộc
ít người sinh sống còn chậm, về cơ bản tỷ trọng giá trị nông nghiệp còn cao,
tỷ trọng giá trị công nghiệp thấp, thương mại dịch vụ phát triển kém Không những công nghiệp phát triển yếu, mà ngay cả những tiềm năng về ngành nghề truyền thống cũng chưa được khơi dậy Ở miền núi phía Bắc ít có những vùng phát triển nghề thủ công quy mô lớn, không có những làng nghề tập trung như đồng bằng Bắc Bộ Trong những năm gần đây, một số địa phương
đã khai thác, phát huy lợi thế về đường giao thông, nhất là qua cửa khẩu biên giới, đẩy mạnh phát triển thương mại biên mậu tiểu ngạch và chính ngạch (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai,…) Song nhìn chung do địa hình chia cắt, giao thông kém phát triển, trình độ tiếp cận thị trường yếu, nên hoạt động thương mại còn yếu, sản xuất tự cung tự cấp vẫn còn nặng, công nghiệp dịch
vụ kém phát triển Vì vậy, giải quyết việc làm là việc tạo ra số lượng và chất
Trang 23lượng tư liệu sản xuất, chất lượng lao động Muốn giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động ít người cần phân phối lại lao động giữa các vùng miền, đầu
tư về cơ sơ hạ tầng kỹ thuật, đào tạo và đào tạo lại lao động có trình độ chuyên môn thấp, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất làm tiền đề để phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng với nguồn tài nguyên sẵn có, từ đó thúc đẩy sản xuất hàng hóa, dịch vụ phát triển sẽ làm giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ; góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khi giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động dân tộc ít người thì nông thôn miền núi mới có điều kiện phát triển, đời sống kinh tế xã hội được nâng cao: hình thành nhiều khu buôn bán sầm uất, thay thế lối sống du canh
du canh bằng nếp sống ổn định và văn minh hơn; trình độ dân trí của người lao động được nâng cao; tạo không khí đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc sinh sống trên cùng một địa bàn và với người dân ở các nơi khác, cùng chung sức xây dựng cộng đồng bản, xã , góp phần bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự trị an,… xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh và hạnh phúc
d Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người giúp gìn giữ và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, phát huy bản sắc dân tộc
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc dù có số dân ít hay nhiều, trình độ phát triển kinh tế-xã hội cao hay thấp cũng đều có những sắc thái văn hóa độc đáo riêng góp phần làm đa dạng, phong phú cho nền văn hóa Việt Nam Nhưng trong quá trình hội nhập và phát triển nhiều nét văn hóa cũng như nhiều ngành nghề truyền thống đang bị mai một và đứng trước nguy cơ biến mất Vì vậy, giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ítnguười sẽ giúp khôi phục
Trang 24và phát triển nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị cao mà vẫn mang đậm tính dân tộc
e Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc ít người sẽ đảm bảo vững chắc nền an ninh quốc phòng
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm Trong bối cảnh chịu
sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên và sự tác động của sự kiện lịch
sử, các dân tộc đã sớm có ý thức tự giác, chung sống trong một quốc gia dân tộc Mặc dù trình độ phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán có điểm khác nhau, song các dân tộc ít người cũng như đa
số đã đoàn kết, đồng cam, cộng khổ, tương trợ, tương thân, tương ái đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân, trên từng địa bàn, nhiều nhân tố tiềm ẩn tác động không nhỏ vào truyền thống đoàn kết các dân tộc Đặc biệt, các thế lực thù địch lợi dụng địa hình xa trung tâm kinh tế-chính trị của một số xã vùng giáp biên, đời sống còn khó khăn, lạc hậu, sự nhẹ dạ, cả tin của một số đồng bào dân tộc ít người để thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động dân tộc ít người còn mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc: Giúp đồng bào dân tộc trau dồi vốn hiểu biết về kinh tế-chính trị-văn hóa, từ đó nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, giữ gìn nền anh ninh quốc phòng quốc gia
1.1.2 Như ̃ng nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giải quyết viê ̣c làm cho lao động dân tộc ít người
1.1.2.1 Điều kiê ̣n tự nhiên, kinh tế – xã hội
a Yếu tố tự nhiên
Trang 25Lao động các dân tộc ít người tập trung chủ yếu ở miền núi, đây là nơi
có vị trí chiến lược về chính trị và an ninh quốc phòng, là vùng giàu tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội Những tiềm năng về tài nguyên tự nhiên: khí hậu, đất đai, rừng, khoáng sản, sông ngòi đã tác động tích cực đến việc phát huy tiềm năng của người lao động dân tộc ít người , thể hiện ở việc họ có thể
sử dụng các lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế Đất đai màu
mỡ, đa dạng, tầng canh tác dày, địa hình phân cách đã tạo nên nhiều vùng sinh thái có tiềm năng trong phát triển nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng, vật nuôi khá phong phú như chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng chè, các loại cây ăn quả Khí hậu cận ôn đới, hệ thống sông ngòi, đồi núi tạo nên những danh thắng sơn thủy hữu tình, với bản sắc văn hóa đa dạng phong phú của các dân tộc anh em cùng sinh sống là những tiềm năng lớn để phát triển kinh tế du lịch Hơn nữa, các công trình thủy điện lớn như thủy điện Sơn La, Hòa Bình đã tạo điều kiện mở rộng và phát triển các hệ thống dịch vụ, với các chương trình dịch vụ vui chơi, giải trí có thể khai thác để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nhưng đặc điểm địa hình bị chia cắt của các tỉnh miền núi gây nhiều khó khăn cho việc giao lưu, tiếp xúc với các dịch vụ xã hội và phát triển kinh tế, nếu được khắc phục bằng cách phát triển giao thông vận tải…, sẽ tạo điều kiện giải quyết việc làm
Ở một số tỉnh đất trống, đồi núi trọc chưa được khai thác sử dụng, còn chiếm tỷ lệ cao so với diện tích tự nhiên, như Sơn La 60,92% , Hòa Bình 36,89%, Lai Châu 58%, Điện Biên 53,3%
Ví dụ: Năm 1993 trong chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, dự án hợp tác trồng rừng Việt Nam – Thụy Điển đã đưa cây cao su vào trồng tại một số tỉnh trong vùng như huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu, huyện Bát Xát – Lào Cai, đến nay các cây còn lại ở hai điểm trên đang sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 26- Từ năm 1996, Tổng công ty Cao su Việt Nam (nay là Tập Đoàn Công Nghiệp Cao su VN) đã tiến hành xây dựng vườn thử nghiệm một số giống cao
su có thể trồng ở các tỉnh phía Bắc (tỉnh Phú Thọ), đến nay đã có một số giống được khai thác Tuy nhiên vẫn chưa có đủ thời gian để nghiên cứu một cách đầy đủ về khả năng sinh trưởng, phát triển cũng như cho sản phẩm mủ của cây cao su
- Năm 2005-2008 tại một số tỉnh trong vùng đã triển khai trồng cao su với nguồn giống nhập từ Vân Nam -Trung Quốc; giống của Tập Đoàn Công Nghiệp Cao Su VN Việc trồng cao su trong thời gian gần đây chủ yếu là tự phát chưa có quy hoạch
Để đáp ứng được yêu cầu trền cần tuyển thêm lao động, ưu tiên tuyển dụng lao động của những hộ gia đình tham gia góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào công ty cao su, sau đó đến lao động tại địa phương; đối với hộ gia định có góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Công ty cao su nhưng đã quá tuổi lao động thì được công ty giao cho nhận khoán vườn cây để chăm sóc, bảo vệ hàng tháng hưởng tiền công và các chế độ an sinh xã hội khác nếu có Dự trù nhu cầu lao động trong giai đoạn 2010 - 2020 cần khoảng 30.000-40.000 lao động địa phương tham gia trồng cao su
Có thể trồng và chế biến cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt đới và ôn đới Nhất là tận dụng đất phù sa có ở dọc các thung lũng sông và các cánh đồng ở miền núi như Than Uyên, Nghĩa Lộ, Điện Biên, Trùng Khánh …
Miền núi có nhiều đồng cỏ, chủ yếu trên các cao nguyên có độ cao 600 –
700 m Các đồng cỏ tuy không lớn, nhưng ở đây có thể phát triển chân nuôi trâu,
bò (lấy thịt và lấy sữa), ngựa, dê, như bò sữa được nuôi tập trung ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) Trâu, bò thịt có thể được nuôi rộng rãi, nhất là trâu
Trang 27Trong những năm qua, Nhà nước ta đã cố gắng nâng cấp mạng lưới giao thông, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc, các đường huyện, liên xã, được
mở mang, hệ thống đường sắt được khôi phục và phát triển Nhiều đoạn sông được nạo vét, khai thác để phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, ngoài
ra còn có các tuyến đường thủy nhỏ nội tỉnh Các phương tiện vận tải cũng dần được mở rộng và phát triển cả về cơ giới lẫn thô sơ
Do địa hình ở một số nơi có các dân tộc ít người sinh sống rất phức tập và hiểm trở nên hệ thống giao thông vận tải đóng một vài trò rất quan trọng
b.Yếu tố kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế ở khu vực miền núi còn thấp, phân công lao động kém phát triển, trình độ kỹ thuật lạc hậu trở ngại cho tạo việc làm, số ngày nông nhàn cao
Trước thời kì đổi mới kinh tế vùng dân tộc ít người dựa vào trồng trọt, hái lượm là chính Sản xuất theo lối du canh, đốt rừng làm rẫy Công cụ lao động rất thô sơ, kỹ thuật canh tác lạc hậu; chưa dùng trâu, bò làm sức kéo, chưa có cày, bừa; lao động làm nương rẫy rất giản đơn chủ yếu là phát, đốt, chọc, trỉa Sản xuất tự cấp, tự túc là chính Nói chung chưa có chợ Nhiều nơi, nhân dân chưa biết cân, đo Chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chưa hình thành một cách phổ biến Sự phân hoá giai cấp chưa rõ rệt Còn tồn tại những tàn dư của chế độ công hữu có tính chất cộng sản nguyên thủy Để tạo việc làm cần thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa
c yếu tố văn hóa xã hội
Theo số liệu điều tra từ các địa phương, ở các tỉnh miền núi phía Bắc
có cư dân của 34 tộc người, trong đó có 20 tộc người cư dân các dân tộc sống theo cộng đồng, 14 tộc người là một số cá nhân không sống theo cộng đồng Đây là vùng đa tộc người với sự đa dạng về quan hệ trên các lĩnh vực ngôn
Trang 28ngữ, văn hóa, xã hội có chênh lệch lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội Các tộc người ở nước ta có trình độ kinh tế không đều, có tộc người đã biết định canh định cư, có tộc người đã định cư, nhưng còn du canh; có tộc người
đã biết canh tác lúa nước đồng bằng châu thổ, có tộc người canh tác lúa nước thung lũng, phần lớn canh tác lúa nương, có tộc người sống chủ yếu dựa vào kinh tế tự nhiên Tính đa cấp về trình độ nêu trên đặt ra những khó khăn, thách thức trong tạo việc làm cho lao động dân tộc ít người, cần có những hình thức và phương pháp thích hợp để nâng cao dân trí và đào tạo nghề
Phong tục, tập quán truyền thống của các dân tộc rất phong phú, đa dạng Có cả những yếu tố truyền thống ảnh hưởng tốt và những yếu tố ảnh hưởng xấu đến quá trình tạo việc làm cho lao động dân tộc ít người
Đồng bào các dân tộc ít người có truyền thống chịu thương chịu khó, cần cù trong lao động, có kinh nghiệm khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng và đất đồi núi dốc; Mặt khác, đồng bào các dân tộc có nhiều mặt hàng truyền thống như là nghề đúc, rèn, đan lát, đặc biệt là ngành dệt thổ cẩm,… có thể phát triển thành những hàng hóa có giá trị kinh tế cao
Bên cạnh đó do họ có thói quen sản xuất tự cấp, tự túc, chưa có tư duy
kinh tế thị trường, lại thêm tập quán canh tác một vụ nên đồng bào chỉ tập trung sản xuất từ tháng 3 đến tháng 10 (âm lịch), còn từ tháng 11 đến tháng 2 (âm lịch) đất bị bỏ hoang, làm giảm sản lượng các sản phẩm; Tập quán du canh, du cư của một số dân tộc ít người ở vùng cao đã dẫn đến những tác hại rất lớn Vì nhu cầu lương thực, nên ngoài cây lúa nước, họ ra sức phá rừng để trồng cây lúa nương, lúa cạn, ngô, khoai, sắn,… Họ chỉ biết gieo trồng, không
có thói quen nuôi dưỡng chăm bón Do vậy, khi đất đã bị rửa trôi, bạc màu (thường là sau 3 vụ sử dụng), họ lại chuyển đến nơi khác để phá rừng đầu nguồn Rừng càng già thì đất càng tốt Phá rừng già, rừng đầu nguồn, đó là đối tượng chính của du canh, du cư Do đó, kinh tế của đồng bào các dân tộc
Trang 29rơi vào vòng “luẩn quẩn”: càng đói, đồng bào càng phá rừng, môi trường sinh thái càng bị hủy hoại, đồng bào càng bị nghèo đói và càng phá rừng…; Sự cố kết trong cộng đồng (gia đình, dòng họ, làng bản) đã tạo ra sự khép kín trong đời sống kinh tế, kĩm hãm sự phát triển của các quan hệ xã hội; Tập quán thả
“rông” gia súc, gia cầm vừa làm mất nguồn phân bón hữu cơ cho cây trồng, vừa phá hoại, cản trở sản xuất; Các tệ nạn tảo hôn, ly hôn, ma chay, cúng bái,
mê tín dị đoan, hội hè kéo dài,… là những tập tục mang tính phổ biến, đã kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế và là một trong những nguyên nhân của sự đói nghèo, thấp kém về đời sống kinh tế và tinh thần của đồng bào trong vùng
1.1.2.2 Sư ̣ biến đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động do tác động của công nghiê ̣p hoá, hiê ̣n đại hoá
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986 đến nay, rõ nhất là từ năm 1990 cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn Những chuyển biến
đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó cũng mới chỉ là bước đầu và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, dân cư sống ở nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn Để đạt được mục tiêu đến năm 2020: "Đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế ngành hợp lý với tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm dưới 10%, công nghiệp 35 - 40%, dịch vụ chiếm 50 - 60% trong tổng GDP" mà Đại hội VIII đã đề ra thì còn nhiều vấn đề phải được tiếp tục nghiên cứu và có giải pháp sát thực.Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực
Trang 30lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…và đặc biệt tác động tới cơ cấu lao động việc làm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng trong công nghiệp và dịch vụ đã đạt được kết quả bước đầu trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế như sau:
Bảng 1.1: Cơ cấu kinh tế thời kỳ 2006 – 2010
Đơn vị: %
Năm Cơ cấu Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
Công nghêp – xây dựng
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2010
Qua bảng cho thấy:
Quy mô GDP các ngành đều tăng lên, chuyển dịch cơ cấu ngành theo đúng xu thế là tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm
tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP, cụ thể:
Tỷ trọng ngành nông-lâm-thủy sản giảm từ 18.7% năm 2006 xuống còn 16.4% năm 2010
Tỷ trọng của ngành công nghiệp- xây dựng tăng từ 41% năm 2006 lên 41,9% năm 2010
Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 40.3% năm 2006 lên 41.7% năm 2010 Bình quân giai đoạn 2006-2007 tăng 16,8%/năm (Công nghiệp khai thác mỏ giảm 1,7%; công nghiệp chế biến tăng 19%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước tăng 11,1%); giai đoạn 2008-2010 tăng
Trang 3111,8%/năm (Công nghiệp khai thác mỏ tăng 1,6%; công nghiệp chế biến tăng
12,4%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước tăng 12,8%)
Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần
Trong giai đoạn từ 2011- 2013 tỷ trọng các ngành trong GDP có tăng nhưng không đáng kể Nhóm ngành công nghiệp – xây dựng mấy năm nay tăng thấp và chậm lại (năm 2011 tăng 6,68%, năm 2012 tăng 5,75%, 6 tháng
2013 tăng 5,18%) Do vậy tỷ trọng đã giảm xuống Ngoài những khó khăn ở
cả đầu vào và đầu ra, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, sản xuất còn mang nặng tính gia công nên phụ thuộc vào nhập khẩu Trình độ thiết bị, kỹ thuật-
công nghệ còn thấp, nên sức cạnh tranh yếu Tỷ trọng trong GDP của nhóm
ngành dịch vụ đã giảm trong 4 năm qua và năm 2012 tuy thấp hơn năm 2010,
nhưng triển vọng có thể đạt và vượt mục tiêu đề ra cho năm 2015 Đáng lưu ý là nhóm ngành dịch vụ mấy năm nay đều có tốc độ tăng cao nhất trong 3 nhóm ngành và cao hơn tốc độ tăng chung (bình quân 2006- 2012 cả nước tăng 6,15%/năm, nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản tăng 3,47%/năm, nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tăng 6,33%/năm, còn dịch vụ tăng 7,27%/năm) Trong 6 tháng đầu năm 2013, nhóm ngành dịch vụ đã tăng 5,92%, cao nhất trong 3 nhóm ngành; tỷ trọng trong GDP đạt 43,12%, cao hơn năm trước
Cơ cấu kinh tế thay đổi nhanh chóng làm chuyển dịch mạnh mẽ của cấu lao động
Trang 321.2: Cơ cấu lao động làm việc trong các ngành kinh tế hàng năm thời kỳ 2006 – 2010
Đơn vị: %
thủy sản
Công nghiêp – xây dựng
Nguồn: Tổng cục thống kê Lào Cai năm 2010
Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các khu vực kinh tế có
sự chuyển dịch đáng kể và theo hướng tích cực từ năm 2006 đến 2010, trong
đó cơ cấu lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 55.4% năm
2006 xuống 48.2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 19.3% lên 22.4%; khu vực dịch vụ tăng từ 25.3% lên 29.4% Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị giảm từ 4,82% năm 2006 xuống 4,43% năm 2010 Mặt khác các nghề phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ…) tạo nhiều việc làm Nghề mộc dân dụng, sửa chữa xe gắn máy, điện, cơ khí nhỏ, gò hàn, kỹ thuật xây dựng, nề, kỹ thuật khai thác mỏ hầm lò… đã có rất nhiều thanh niên đăng ký theo học Có nghề phi nông nghiệp cũng sẽ giải quyết thu nhập cho nhiều gia đình trong lúc nông nhàn
Tính đến 2011, lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 59,6%, giảm đáng kể so với mức 70,4% của năm 2006; Tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng năm 2011 là 18,4%, tỷ lệ lao động dịch vụ là 20,5% Kết quả đạt được về chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn năm 2011 tuy có tiến bộ so với các năm 2006 nhưng vẫn còn chậm và có khoảng cách xa so
Trang 33với yêu cầu Tuy kết quả chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn những năm qua diễn ra còn chậm so với yêu cầu, chưa đều giữa các vùng và các địa phương nhưng cũng có điểm mới là xu hướng đa dạng hóa ngành nghề của lao động ở khu vực nông thôn ngày càng tăng Đáng lưu ý là các làng nghề nông thôn được khôi phục và phát triển, tạo nhiều việc làm, góp phần thúc đẩy sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Cùng với sự ra đời của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhiều làng nghề được khôi phục và phát triển đã thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, tạo được việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động và đào tạo, bồi dưỡng những lao động phổ thông thành lao động có kỹ thuật
1.1.2.3 Hội nhập quốc tế
Hội nhập tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động và nâng cao chất lượng nhân lực cho lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động kỹ thuật trình độ cao Việt Nam gia nhập WTO, thu hút các dự án FDI sẽ đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, sẽ có một lượng lớn lao động nông nghiệp, thanh niên nông thôn nhàn rỗi, thiếu việc làm tham gia vào hoạt động kinh tế trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu lao động
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra hơn 34,5% sản xuất toàn ngành công nghiệp, khoảng 25% kim ngạch xuất khẩu (đó là chưa kể ngành dầu khí) và đóng góp 13% GDP cả nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút hàng trăm ngàn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp làm việc trong các ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ liên quan; góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn, tiếp thu công nghệ hiện đại, trình độ quản lý và mở rộng thị trường
Hội nhập kinh tế đẩy mạnh xuất khẩu tạo việc làm trong các ngành xuất khẩu ( cá tra, cá thu, chè, cà phê, may mặc, thủ công mỹ nghệ…)
Trang 34Hội nhập kinh tế còn đẩy mạnh xuất khẩu lao động tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, và nâng cao tay nghề cho người lao động
1.1.2.4 Hê ̣ thống chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề, hỗ trợ giải quyết viê ̣c làm
Vấn đề quan trọng hàng đầu là Nhà nước tạo các điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tìm được việc làm hay tự tạo việc làm thông qua những
chính sách kinh tế-xã hội cụ thể:
Chính sách đất đai, giao quyền sử dụng lâu dài hay có thời hạn cho các
doanh nghiệp và các nông hộ theo yêu cầu phát triển sản xuất và dịch vụ, qua
đó tạo ra việc làm Giao đất dài hơn, nới rộng hạn điền, khuyến khích nhượng quyền sử dụng đất khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp tạo việc làm , những người không có khả năng kinh doanh thì đi làm thuê
Chính sách cung ứng vốn cho người lao động để họ tự tạo việc làm
thông qua ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng nông nghiệp ( Agribank) và ưu đãi tín dụng cho các doanh nghiệp tuyển dụng nhiều lao động
Ví dụ: Trong 5 năm (2009-2013), Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tân Kỳ (Nghệ An )đã đạt tổng doanh số cho vay là 341 tỷ đồng, bình quân mỗi năm cho vay 68,2 tỷ đồng Tổng số lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn là 28.308 lượt khách hàng Bình quân mỗi hộ vay 12 triệu đồng Tổng doanh số thu nợ trong 5 năm là 143 tỷ đồng; Tổng dư nợ đến ngày 31/12/2013 là 278.952 triệu đồng, tăng so với ngày đầu thành lập 264.774 triệu đồng, có 15.618 khách hàng đang còn dư nợ
Các ngân hàng cần cải cách hành chính, giảm các thủ tục hành chính rườm rà và những quy định cho vay chưa hợp lý
Chính sách giáo dục đào tạo, trong nhiều năm qua, Đảng và Chính phủ
đã chú trọng đến công tác giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc ít người và đã thu được nhiều kết quả Hệ thống giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông
Trang 35được củng cố và phát triển, đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú đã được chú trọng phát triển từ Trung ương tới địa phương Ở Trung ương có 11 trường dân tộc nội trú, trung bình mỗi năm thu hút hơn 5 ngàn học sinh theo học Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh có 48 trường, thu hút mỗi năm khoảng hơn 20 ngàn học sinh Ở cấp huyện có 268 trường, thu hút khoảng hơn 60 ngàn học sinh theo học Hệ thống các trường dự bị đại học và các khoa dự bị đại học dân tộc đang được phát triển cả về quy mô đào tạo và cơ sở vật chất Hiện nay chưa có những trung tâm đào tạo đồ sộ, nhưng các huyện nghèo hầu hết đã có cơ sở đào tạo nghề, bên cạnh đó còn phối hợp với các trung tâm dạy nghề khác, các nghệ nhân dạy nghề đối với nghề tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp
Kết quả dạy nghề cho lao động vùng dân tộc ít người: Tổng số lao động được học nghề: 886.621 người, trong đó lao động dân tộc ít người 223.792 người, chiếm tỷ lệ 25,24% so với tổng số lao động được đào tạo Tổng số lao động sau học nghề có việc làm: 620.028 người, đạt tỷ lệ 73,07% so với tổng
số lao động đã học xong nghề
Tỷ lệ lao động dân tộc ít người tự tạo việc làm sau khi học nghề chiếm
tỷ lệ cao 63,1%; đặc biệt lao động học nghề nông nghiệp tự tạo việc làm chiếm tỷ lệ rất cao (87,74%) Kết quả đào tạo nghề dưới một năm của 32 tỉnh chỉ chiếm tỷ lệ 4,97% ( 938.930/18.874.910) so với lao động trong độ tuổi Kết quả đào tạo nghề dưới một năm của 26 tỉnh có đông đồng bào dân tộc ít người:
số lao động dân tộc ít người trong độ tuổi được đào tạo nghề dưới một năm chỉ chiếm tỷ lệ 5,73% (277.659/4.850.247 người) Kết quả đào tạo trình độ trung cấp nghề của 21 tỉnh có đông đồng bào dân tộc ít người chỉ chiếm tỷ lệ 0,48% so với tổng số lao động dân tộc ít người (18.641/3.887.043 người) Kết quả đào tạo trình độ cao đẳng nghề của 16 tỉnh có đông đồng bào dân tộc ít người chỉ chiếm
tỷ lệ 0,17% so với tổng số lao động dân tộc ít người (6.016/3.445.927 người)
Trang 36Chính sách dân tộc Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương
(khóa IX) đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc; thể hiện rõ chủ trương, định hướng và những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực miền núi, vùng dân tộc ít người, đặc biệt là giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc ít người Chương trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình nước sạch cho nông thôn miền núi, Chương trình 134, chương trình 135
hỗ trợ phát triển cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn Những chương trình trên đã góp phần tích cực giúp đồng bào các dân tộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có hiệu quả hơn, tạo thêm việc làm, tăng cường bảo vệ rừng, môi trường sinh thái, hạn chế thiên tai, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá để thoát đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu
Chính sách khôi phục, phát triển ngành nghề truyền thống và tạo thêm nhiều ngành nghề mới, một trong những tiềm năng và thế mạnh của nước ta là
có nhiều ngành nghề truyền thống từ lâu đời Đó là những nghề: dệt tơ lụa, gốm sứ, đúc đồng, sơn mài,… nằm rải rác ở tất cả các vùng miền trong cả nước Nhất là ở những khu vực đồng bào dân tộc ít người sinh sống có nhiều ngành nghề truyền thống mang những nét đặc trưng riêng như nghề dệt thổ cẩm, nghề rèn, đúc đồng… Ngành, nghề truyền thống có khả năng thu hút nhiều lao động, tận dụng được lao động tại chỗ Chính vì vậy, chính sách khôi phục và phát triển các ngành, nghề truyền thống của Nhà nước sẽ góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người ở nhiều lứa tuổi khác nhau Và song hành với chính sách trên là chính sách tạo thêm nhiều ngành nghề mới để tạo nhiều việc làm mới cho người lao động, đưa khoa học và công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, tăng giá trị hàng hóa
Trang 371.1.2.5 Tính đặc thù của lực lượng lao động các dân tộc ít người
Một là, các tộc người ít người cư trú ở nhiều hình thái lãnh thổ như sơn nguyên (Mông, Dao, ), cao nguyên (Êđê, Giarai,…), thung lũng (Tày, Nùng, Thái, Mường,…), biển đảo (Hoa, Sán Dìu,…) với hệ sinh thái đa dạng (rẻo cao, rẻo giữa, rẻo thấp, biển-đảo)
Từ nhiều thế kỷ qua, hàng triệu cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam
đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm có sẵn trong tự nhiên, rừng cung cấp lâm thổ sản, sông suối cung cấp nước, tôm, cá…Ngày nay, những vùng đất phì nhiêu ở khu vực này rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè,… Những đồng cỏ rộng lớn trên các cao nguyên là nơi thuận lợi cho sự phát triển các ngành chăn nuôi đại gia súc Những vùng đất rộng lớn của miền núi là tiềm năng xây dựng các nông trại, trang trại Rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng trồng cây lấy gỗ sẽ là nguồn tài sản quý báu của đất nước Gắn với những hình thái lãnh thổ, từng hệ sinh thái đặt ra những yêu cầu rất khác nhau về tạo việc làm
Hai là, các tộc ít người phát triển không đồng đều nhưng họ có truyền thống đoàn kết; có nền văn hóa đặc sắc và hấp dẫn; bên cạnh đó nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghèo của người dân tộc ít người còn hạn chế, một
số có tính tự ti mặc cảm, một số khác còn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước; tập quán sản xuất mang tính tự cung tự cấp, phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên; đông con
Ba là lực lượng lao động dân tộc ít người thường hạn chế về sức khỏe, thể lực Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên có năng xuất thấp, bấp bênh, nên thu nhập của người lao động thấp Hơn nữa do thiếu hiểu biết về chế độ dinh dưỡng người lao động ở miền núi không có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, cho nên thể lực, tầm vóc và tuổi thọ trung bình của họ thấp hơn người lao động ở thành thị
Trang 38Bốn là chất lượng lao động dân tộc ít người thấp, lực lượng lao động ít người ở miền núi thường có trình độ học vấn và trình độ tay nghề thấp Người lao động ở miền núi thường làm theo kinh nghiệm nên không có điều kiện nâng cao tay nghề Mặt khác, phần lớn những người lao động có trình độ thường muốn tìm cho mình một chỗ làm ở thành thị, có thu nhập cao, có điều kiện hưởng thụ không muốn về làm việc ở miền núi Lao động dân tộc ít người hầu hết là lao động giản đơn, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao Theo số liệu thống kê, ở miền núi phía Bắc, số người có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 1,2% dân số của vùng (cả nước là 2,1%); tỷ lệ lao động kỹ thuật chỉ có 5%, mà chủ yếu là giáo viên và bác sĩ (cả nước là 12%) Điều này gây không ít khó khăn trong công tác tạo việc làm cho lao động dân tộc ít người
Năm là, một số dân tộc ít người còn những tập tục lạc hậu gây trở ngại cho giải quyết việc làm
1.2 Các chủ thể giải quyết việc làm
chương trình, chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm
Nhà nước hỗ trợ , khuyến khích các lo ại hình doanh nghiê ̣p thuô ̣c các thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiê ̣p nhỏ và vừa , các trang trại ta ̣o ra
nhiều viê ̣c làm
Trách nhiệm của Đảng và Nhà nước được thể hiện trên những mặt sau:
Thứ nhất, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhất là giao
thông vận tải, trường học
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp
lý phù hợp, bảo đảm đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động như: thực hiện đúng Luật lao động, Luật tiền lương tối thiểu, Luật bảo hiểm lao động, Luật xuất khẩu lao động, Pháp lệnh đình công,…
Trang 39Thứ ba, Nhà nước cùng các doanh nghiệp quan tâm đào tạo nhân lực có
trình độ cao, trình độ lành nghề, cho lực lượng lao động trẻ, khoẻ, nhất là ở khu vực nông thôn để cung ứng cho các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao động đang có nhu cầu trên thị trường trong nước và thị trường ngoài nước
Thứ tư, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường
lao động quốc gia, nối mạng trước hết ở các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn, các khu vực công nghiệp tập trung, cho cả thị trường xuất khẩu lao động, để giúp người lao động tìm kiếm việc làm thuận lợi nhất
Thứ năm, Nhà nước thực hiện các chính sách mở rộng và phát triển thị
trường lao động ngoài nước Đây là chính sách tận dụng một trong những thế mạnh của lao động nước ta về số lượng đông và trẻ Vì vậy, Nhà nước triển khai xây dựng các trung tâm, đào tạo ngoại ngữ, pháp luật cho lao động xuất khẩu, nhất là thanh niên nông thôn, để tạo điều kiện cho họ tiếp cận được với thị trường lao động của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với những nước
có trình độ phát triển cao và đang có nhu cầu thu hút lao động cho các ngành nghề sản xuất
Ví dụ: Thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc ít người theo Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, trong 2 năm 2012 và 2013 Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã phối hợp với các đơn vị triển khai 145 lớp đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động dân tộc
ít người
doanh nghiê ̣p vừa và nhỏ)
Giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà cũng là trách nhiệm của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến, nâng cao giá trị sản phẩm nhất là sản
Trang 40phẩm nông nghiệp để xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động , góp phần thúc đẩy quá trình CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn Mặt khác, sự hỗ trợ của các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường, tiêu thụ sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả của quá trình chuyển giao công nghệ
Ví dụ: doanh nghiệp cùng với các hộ gia đình có thế kết hợp với nhau để khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ, sản xuất sản phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để tận dụng lao động dư thừa và lao động có ngành nghề truyền thống Một số doanh nghiệp đã có chỉ tiêu tuyển lao động sau học nghề: Công ty TNHH Thủy sản Thông Thuận thuộc tỉnh Bắc Ninh nhận công nhân nuôi tôm với mức lương 2,5 - 3 triệu đồng/tháng và nhận bao tiêu sản phẩm cho nông dân Công ty Công Minh 1 và Công ty Chè Phú Thịnh ở Yên Bái nhận 100% học viên được đào tạo về nghề trồng, chăm sóc, khai thác chè với mức lương 5 triệu đồng/tháng
nông dân, Quỹ tín dụng…)
Các đoàn thể và tổ chức chính tri ̣ – xã hội giúp các thành viên của mình tạo việc làm
Ví dụ: Chương trình "xóa đói giảm nghèo" nhiều năm qua được các cấp
ủy Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị tập trung thực hiện khá hiệu quả Một trong những nội dung của chương trình này là công tác chăm lo cho người nghèo, trong đó có hội viên, đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn
Quỹ hộ trợ nông dân của hội nông dân Việt Nam Quỹ hỗ trợ nông dân được Nhà nước cho phép thành lập theo văn bản số 403/KTTH ngày 26/07/199 của Thủ tướng Chính phủ và đi vào hoạt động từ năm 1996 Nguồn vốn huy động của quỹ hỗ trợ nông dân bao gồm sự ủng hộ, cho mượn và cho