Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về vấn đề giải ngân trong các dự án FDI ở Việt Nam: - Nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
2.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 38
2.1.2 Đóng góp của giải ngân vốn FDI đối với sự phát triển của Việt Nam 43 2.2 Phân tích tình hình giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam 46
2.3 Những đánh giá chung về giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam 69
Trang 32.3.2 Một số tồn tại, hạn chế 72
Chương 3 Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án FDI ở
Việt Nam trong thời gian tới
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á: Asia Development Bank
BOT Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao: Build-Operate-Transfer
BT Xây dựng – Chuyển giao: Build – Transfer
BTO Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh: Build-Transfer-Operate DNLD Doanh nghiệp liên doanh
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Foreign Direct Investment
GDP Tổng sản phẩm quốc nội: Gross Domestic Product
GPĐT Giấy phép đầu tư
GPMB Giải phóng mặt bằng
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế: International Montary Fund
KCN, KCX Khu công nghiệp, khu chế xuất
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
MTĐT Môi trường đầu tư
QLNN Quản lý nhà nước
TNCs Công ty xuyên quốc gia: Trans National Corporations
UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development
Diễn đàn Liên hiệp quốc về Thương mại và phát triển
WB Ngân hàng thế giới: World Bank
WTO Tổ chức thương mại thế giới
World Trade Organization VCCI Vietnam Chamber of Commercial and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Vốn FDI vào Việt Nam theo báo cáo của Việt Nam & thế giới 14 Bảng 2.1 Tình hình giải ngân vốn FDI qua các thời kỳ tại Việt Nam 47 Bảng 2.2 Giải ngân vốn FDI theo hình thức đầu tư (1988-2007) 51 Bảng 2.3 Vốn FDI thực hiện phân bổ theo lĩnh vực đầu tư (1988-2007) 54 Bảng 2.4 Vốn FDI thực hiện ngành công nghiệp & xây dựng (1988-2007) 55 Bảng 2.5 Số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện ngành dịch vụ (1988-2007) 57 Bảng 2.6 Cơ cấu vốn FDI thực hiện của ngành dịch vụ (1988-2007) 59 Bảng 2.7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bất động sản (1988-2008) 60 Bảng 2.8 Giải ngân vốn FDI theo ngành nông, lâm nghiệp (1988-2007) 61 Bảng 2.9 Giải ngân vốn FDI theo địa bàn đầu tư (1988-2007) 62 Bảng 2.10 Giải ngân vốn FDI phân theo đối tác đầu tư (1988-2007) 67
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang Hình 2.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (1988-2008) 38 Hình 2.2 Vốn FDI thực hiện so với tổng đầu tư xã hội& đóng góp vào GDP 43 Hình 2.3 Tình hình vốn FDI thực hiện qua các thời kỳ tại Việt Nam 47 Hình 2.4 Vốn FDI giải thể theo lĩnh vực và hình thức đầu tư (1988-2007) 50 Hình 2.5 Quy mô vốn trung bình &VTH theo hình thức đầu tư (1988-2007) 52 Hình 2.6 Tỷ lệ giải ngân vốn FDI theo hình thức đầu tư (1988-2007) 53 Hình 2.7 Cơ cấu vốn FDI phân bổ theo lĩnh vực đầu tư (1988-2007) 55 Hình 2.8 Giải ngân vốn FDI ngành công nghiệp và xây dựng (1988-2007) 56 Hình 2.9 Cơ cấu vốn FDI vào ngành bất động sản (1988-2008) 60 Hình 2.10 Cơ cấu vốn FDI phân bổ ngành nông, lâm nghiệp (1988-2007) 61 Hình 2.11 Mức độ tập trung FDI theo địa phương (1988 – 2007) 63 Hình 2.12 Đầu tư trực tiếp nước ngoài các tỉnh phía Nam (1988-2007 63 Hình 2.13 Vốn thực hiện của 6 nước thuộc khu vực châu Á (1988-2007) 68 Hình 2.14 Nguyên nhân của những hạn chế về giải ngân vốn FDI ởViệt Nam 75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, trong điều kiện phát triển của thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực sự trở thành hình thức hợp tác kinh tế quốc tế rất hiệu quả
Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là điều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút ĐTNN, đặc biệt là dòng vốn FDI vào Việt Nam thời gian qua đạt con
số kỷ lục Hiện nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong thu hút FDI, là điểm đến của nhiều nhà đầu tư, thu hút nhiều dự án có quy mô vốn lớn và tập trung vào nhiều ngành nghề lĩnh vực trọng điểm phát triển kinh tế của Việt Nam Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD và có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83.1 tỷ USD và tính riêng năm 2008, Việt Nam đã thu hút trên 64 tỷ USD vốn FDI
Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề là sử dụng, giải ngân và
“hấp thụ” nguồn vốn FDI to lớn này Trong khi số dự án và vốn đăng kí tăng nhanh, thì việc giải ngân vốn FDI đang có xu hướng tăng chậm lại Tính cả giai đoạn 1988-
2007, vốn thực hiện chỉ chiếm tỷ lệ 34.3% trên tổng vốn đăng kí Trong số 8.590 dự
án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ USD, chỉ có khoảng 50% dự án triển khai với vốn thực hiện hơn 43 tỷ USD; vốn của bên nước ngoài đưa vào khoảng 37,9 tỷ USD, chiếm 89,5% tổng vốn thực hiện Năm 2008, Việt Nam giải ngân được 11.5 tỷ USD vốn FDI
Tỷ lệ giải ngân vốn FDI rất thấp so với vốn đăng kí chiếm 34.4% cho cả giai đoạn (1988-2008) Tốc độ giải ngân vốn FDI chưa đuổi kịp tương ứng với tốc độ thu hút vốn FDI Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm trong khi vốn đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động tăng mạnh Khoảng cách ngày càng giãn rộng bởi vốn đăng kí tăng quá nhanh Năm 2007, mặc
Trang 8dù vốn thực hiện đã đạt gần 8.1 tỷ USD nhưng vốn đăng kí đã vượt trên 21 tỷ USD Khoảng cách ngày càng lớn giữa vốn đăng kí và vốn thực hiện trong lĩnh vực ĐTNN là một vấn đề đang đặt ra hiện nay ở Việt Nam
Một vấn đề đang đặt ra là vì sao giải ngân vốn FDI của Việt Nam lại thấp so với vốn đăng kí Có nhiều dự án FDI sau khi đã được cấp phép lại bị rút GPĐT, giải thể, chậm triển khai thực hiện Tính đến hết năm 2007, đã có 1.359 dự án ĐTNN bị giải thể trước thời hạn với số vốn đăng ký giải thể khoảng 15,5 tỷ USD,vốn giải thể chủ yếu tập trung trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 50%, lĩnh vực công nghiệp-xây dựng chiếm 42,3% Giải ngân thấp là do nguyên nhân tại đâu: MTĐT của Việt Nam còn nhiều cản trở hay do yếu tố chủ quan của bản thân nhà đầu tư, chất lượng các
dự án đầu tư kém…
Hơn nữa, tỷ lệ giải ngân thấp trong các dự án FDI sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam Thực tế cho thấy các dự án FDI đi vào hoạt động đã tạo ra tổng giá trị doanh thu, giá trị xuất khẩu rất lớn, đóng góp vào ngân sách, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động Hiện khu vực
có vốn FDI đã đóng góp trên 17% GDP, chiếm 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đạt giá trị doanh thu trong 2 năm 2006-2007 là 69 tỉ USD, trong đó giá trị xuất khẩu (trừ dầu thô) đạt 28,6 tỉ USD, chiếm 41% tổng doanh thu
Đề tài góp phần tìm lời giải cho các vấn đề nêu trên và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ giải ngân trong các dự án FDI ở Việt Nam, góp phần tích cực hơn nữa vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của Việt Nam trong thời
gian tới Từ những nhận định trên, tôi chọn đề tài: “Giải ngân các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp Cao học Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau như nghiên cứu chính sách, điều chỉnh các chính sách cụ thể liên quan đến thu hút vốn FDI, tác động của FDI đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, hay nghiên cứu về nội dung cụ thể như FDI theo hình thức, đối tác, theo lĩnh vực hoạt động…
Trang 9Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung giải quyết “nhu cầu” thu hút vốn FDI của Việt Nam và khai thác những đóng góp to lớn của nguồn vốn này đối với quá trình phát triển kinh tế Việt Nam mà chưa chú trọng đến vấn đề giải ngân nguồn vốn, đặc biệt là hiệu quả giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam
Hiện nay, chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống về việc giải ngân trong các dự án FDI, đánh giá những kết quả đạt được, các vấn đề còn tồn tại, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải ngân trong các dự án FDI ở Việt Nam Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về vấn
đề giải ngân trong các dự án FDI ở Việt Nam:
- Nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)” (5/2008) do TS Đinh Văn Ân và TS Nguyễn Thị Tuệ Anh là chủ biên,
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thực hiện trong khuôn khổ dự án CIEM – DANIDA Đây là nghiên cứu mới, có tính khái quát và phương pháp lượng hoá cao, có tính khoa học và đã khái quát được một bức tranh tổng thể về quá trình thực hiện vốn FDI tại Việt Nam
- Nghiên cứu nêu bật được những cam kết liên quan đến ĐTNN trong khuôn khổ WTO của Việt Nam; phân tích và đánh giá tổng quan về các rào cản đối với thực hiện vốn FDI thông qua phân tích kết quả điều tra bằng bảng hỏi đối với 140 FIEs trong ba nhóm ngành bị ảnh hưởng trực tiếp của việc thực hiện cam kết nêu ở trên; đề xuất một số giải pháp chính sách có tính khả thi cao, nhằm thúc đẩy việc thực hiện dự án, giải ngân trong ba nhóm ngành nhóm điều tra nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ tập trung xem xét các ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp của thực hiện cam kết WTO (thay thế nhập khẩu, dịch vụ ngân hàng, sản xuất hướng xuất khẩu) mà không phân tích giải ngân trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Hơn nữa, nghiên cứu chỉ đưa ra hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện dự
án FDI, đó là nhóm yếu tố đến từ thực hiện cam kết WTO và một số yếu tố nội tại của nền kinh tế, mà không xét tổng thể các yếu tố tác động đến giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam
Trang 10- Nghiên cứu: “Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh triển khai thực hiện các dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam” – Tạp chí Kinh tế Châu Á -
Thái Bình Dương, Hà Nội: Trung tâm kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, 12/2001,
số 6 – tr 17-20 , tác giả là Đỗ Đức Bình và Bùi Huy Nhượng Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tình hình triển khai thực hiện dự án FDI tại Việt Nam; và đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường triển khai thực hiện dự án FDI tại Việt Nam trong thời gian tới
Tác giả tập trung chủ yếu phân tích, đề ra giải pháp đẩy nhanh triển khai thực hiện dự án FDI Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, việc thu hút và
sử dụng nguồn vốn FDI của Việt Nam có nhiều thành tựu to lớn và vấn đề giải ngân trong các dự án FDI như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, khai thác có chất lượng những giá trị của nguồn vốn này cần phải nghiên cứu sâu trong giai đoạn phát triển kinh tế mới
- Nghiên cứu: “Một số giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong triển khai thực hiện các dự án FDI tại Việt Nam” - Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Hà Nội,
2001, Số 12 – tr.7-9 , tác giả là Nguyễn Thị Hường Nghiên cứu đã nêu bật sự cần thiết phải ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong triển khai thực hiện các dự án FDI; và
đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong triển khai các dự án FDI tại Việt Nam Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những rủi ro trong quá trình triển khai thực hiện dự án FDI tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đến năm 2001 Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập WTO, hội nhập kinh tế quốc tế: vì sao giải ngân thấp, giải ngân thấp thì có ảnh hưởng như thế nào đến phát triển kinh tế, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải ngân vốn FDI trong điều kiện Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
Giáo sư Kenichi Ohno đã phân tích “Những thách thức Việt Nam phải đối mặt với hậu lạm phát, mối nguy với FDI, động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay” (2008) Liên quan đến động lực phát triển của Việt Nam, tác giả đã
nêu ra tác động của dòng vốn FDI với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đó là dòng vốn FDI “quá nóng” gây ra hệ quả là lạm phát, mất kiểm soát của kinh tế vĩ mô;
Trang 11đồng thời phân tích những bất cập trong các dự án FDI như vấn đề phân cấp đầu tư, hiện tượng săn giấy phép (lisence hunting) của các nhà đầu tư…điều này có ảnh hưởng đến việc giải ngân các dự án FDI của Việt Nam thời gian qua Tác giả cũng đưa ra một số gợi ý, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải ngân các dự án FDI thông qua các bài học của các nước trong khu vực (Trung Quốc, Malaysia…)
Nghiên cứu “Thực hiện các dự án FDI ở Việt Nam: phân tích trường hợp các dự án bị giải thể” của Ari Kokko, Katarina Kotoglou và Anna Krohwinkel-
Karlsson (2003) đã phân tích việc giải ngân trong các dự án FDI và nghiên cứu sâu đặc điểm của các dự án bị giải thể, qua đó đề xuất một số giải pháp liên quan đến chính sách góp phần hạn chế các dự án bị giải thể ở Việt Nam Tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu trong các dự án bị giải thể của Việt Nam để phân tích giai đoạn thực hiện dự án, trong đó có nêu lên vấn đề giải ngân trong các dự án FDI Tuy nhiên, vấn đề giải ngân không phải là đối tượng nghiên cứu chính
Kế thừa những thành tựu khoa học đã đạt đươc và giới hạn trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn trình bày một cách có hệ thống về vấn đề giải ngân vốn FDI và phân tích, đánh giá thực trạng giải ngân trong các dự án FDI, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế nhằm đề xuất một số giải pháp đảy nhanh tiến độ giải ngân trong các dự án FDI của Việt Nam, góp phần vào mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của quốc gia
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Góp phần đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống lại và làm rõ một số vấn đề lí luận về giải ngân vốn FDI
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án
FDI ở Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trang 12Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào vấn đề giải ngân trong các dự án FDI ở Việt Nam trong giai đoạn 1987 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các thông tin được công bố chính thức, gồm số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết của Cục ĐTNN - Bộ KH&ĐT và của các tổ chức kinh tế quốc tế Hơn nữa, nội dung nghiên cứu được phân tích định lượng từ những số liệu cụ thể từ những nguồn thông tin được công bố và từ kết quả khảo sát điều tra Và, luận văn cũng áp dụng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê P.E.S.T: Chính trị, Kinh tế -
Xã hội, Công nghệ
6 Những đóng góp của luận văn
- Phân tích có tính hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn về giải ngân các dự án FDI
- Đánh giá tình hình giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam, những đóng góp của giải ngân vốn FDI đối với phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời phân tích những hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình giải ngân vốn FDI ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về giải ngân dự án FDI ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân dự án FDI ở Việt Nam
trong thời gian tới
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI NGÂN
DỰ ÁN FDI Ở VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm về vốn FDI và giải ngân vốn FDI
1.1.1.1 Các khái niệm về vốn (FDI)
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Hiện nay, có nhiều quan điểm và cách thức xác định về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), sau đây là một số định nghĩa về nguồn vốn FDI của một số tổ chức kinh tế thế giới và của Việt Nam đã được công bố sử dụng chính thức Có sự khác biệt trong cách xác định vốn FDI của Việt Nam và các tổ chức kinh tế thế giới Theo định nghĩa của các tổ chức kinh tế và đầu tư trên thế giới bao gồm UNCTAD, WB, ADB, IMF: Dòng vốn FDI là nguồn tài chính do nhà đầu tư cấp trực tiếp cho công ty con và bao gồm 3 thành phần chính là vốn cổ phần, khoản tái đầu tư và các khoản vay từ công ty mẹ Các nguồn tài chính khác như vốn góp và các khoản tái đầu tư của một công ty trong nước trong trường hợp dự án đó là liên doanh, hoặc các khoản vay thương mại từ các ngân hàng trong và ngoài nước không được coi là vốn FDI [24, tr.2]
Có hai cách tính số vốn FDI, đó là (i) vốn FDI là tổng vốn đầu tư nước ngoài vào nước nhận đầu tư hay còn gọi là vốn FDI ròng, đây là cách tính theo thông lệ quốc tế Khi lập cán cân thanh toán quốc tế thì dùng con số vốn FDI ròng mà không tính phần vốn phía nước chủ nhà góp thêm vào; hoặc (ii) vốn FDI là tính tổng vốn đầu tư đã thực hiện ở khu vực kinh tế có vốn FDI, đây là cách tính của Việt Nam Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm vốn góp của phía chủ đầu tư nước ngoài và vốn góp của phía Việt Nam
Sau đây là một số ví dụ so sánh số vốn FDI theo cách tính của Việt Nam và các tổ chức kinh tế thế giới qua các số liệu được công bố chính thức và sử dụng
Trang 14rộng rãi hiện nay Trong khi các con số được đề cập đến nhiều nhất ở Việt Nam là
số vốn FDI đăng kí, tiếp đến là số vốn FDI thực hiện; còn thế giới lại dùng số vốn FDI giải ngân để đánh giá dòng vốn FDI
Bảng 1.1 Vốn FDI vào Việt Nam theo báo cáo của Việt Nam & thế giới
FDI vào Việt Nam (thống kê ASEAN) 2.36 tỷ
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH&ĐT, Số liệu thống kê ASEAN (2006)
Qua bảng số liệu trên cho thấy, các tổ chức thế giới sử dụng số vốn FDI thực hiện làm cơ sở báo cáo và đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia, trong khi đó Việt Nam đánh giá khá cao theo số vốn FDI đăng kí Theo số liệu thống kê về vốn FDI thực hiện lũy kế trong giai đoạn 2000-2007 của Cục Đầu
tư nước ngoài - Bộ KH&ĐT Việt Nam là hơn 22,2 tỷ USD, trong khi số liệu mà UNCTAD công bố năm 2007 cho giai đoạn trên là 11,2 tỷ USD Như vậy, ở đây có
sự chênh lệch tới 11 tỷ USD - con số này bao hàm cả phần góp vốn của các công ty trong nước và các khoản vay thương mại Hay theo các tổ chức quốc tế, năm 2007, vốn FDI thực tế vào Việt Nam là 2,8 tỷ USD, trong khi đó Tổng cục thống kê Việt Nam công bố chính thức là 6,4 tỷ USD [24, tr.4]
Trong Luật Đầu của Việt Nam năm 2005 (kèm theo Nghị định 108/NĐ-CP hướng dẫn quy định Luật đầu tư) và của Tổng cục thống kê Việt Nam (2005), thì nguồn vốn FDI được định nghĩa và xác định như sau:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư
và tham gia hoạt động quản lý đầu tư (Điều 2, Luật Đầu tư năm 2005)
- Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp
- Vốn FDI bao gồm tất cả các nguồn vốn của một dự án đầu tư nước ngoài, nghĩa là bao gồm vốn cổ phần, các khoản tái đầu tư bao gồm phần vốn góp của đối
Trang 15tác trong nước trong công ty liên doanh và tất cả các khoản vay, kể cả từ công ty mẹ
và các khoản vay thương mại từ ngân hàng trong và ngoài nước Đây là khái niệm được dùng để phân tích trong nghiên cứu này
Vốn đăng kí/ cam kết:
Vốn đăng kí là tổng vốn FDI đăng kí theo giấy phép, bao gồm vốn tự có và vốn vay ngân hàng Vốn tự có bao gồm vốn nước ngoài và vốn góp của đối tác liên doanh trong nước Vốn vay ngân hàng cũng gồm vay ngân hàng nước ngoài và vay ngân hàng trong nước
Vốn đăng kí là nguồn vốn cam kết của chủ đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư vào nước chủ nhà Sau đó, nhà đầu tư chuẩn bị các thủ tục cần thiết để thực hiện dự án như chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, thiết kế và thông thường phải mất một khoảng thời gian nhất định để triển khai đầu tư, đưa vốn vào hoạt động Vốn FDI cam kết là chỉ số để đánh giá mức độ quan tâm của các nhà đầu tư,
và đánh giá môi trường đầu tư của nước nhận đầu tư
Vốn thực hiện
Vốn thực hiện là số vốn mà các chủ đầu tư thực sự đã dùng để triển khai thực hiện dự án FDI, gồm đầu tư vào nhà xưởng, mua sắm thiết bị, mua sắm nguyên vật liệu, thuê nhân công … để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo tiến độ đã ghi trong hồ sơ dự án Đối với hình thức liên doanh, vốn thực hiện có một phần là vốn góp của phía Việt Nam Và trong phần vốn phía Việt Nam góp vào dự án có một phần đối ứng từ ngân sách, liên quan đến cấp phát của kho bạc Nhà nước Vốn thực hiện là một chỉ tiêu quan trọng cho biết tình hình thực hiện dự án FDI, cho thấy kết quả của việc bỏ vốn triển khai các công việc của dự án Nâng cao
tỷ lệ vốn thực hiện, giảm tỷ lệ vốn chưa thực hiện là vấn đề mà các nhà đầu tư và nước chủ nhà quan tâm nhiều nhất
Vốn thực hiện là số vốn đã thực hiện theo báo cáo, trong đó bao gồm cả vốn nước ngoài và vốn trong nước Hai con số đăng kí và thực hiện được tổng hợp bởi
cơ quan quản lý đầu tư của nước chủ nhà (Bộ KH&ĐT Việt Nam) Nếu vốn thực hiện chiếm tỷ lệ càng cao so với tổng vốn đăng kí, chứng tỏ dự án đó đã thực hiện
Trang 16được càng nhiều các công việc trong giai đoạn triển khai thực hiện dự án Cách tiếp cận ở đây là phân tích, đánh giá tình hình thực hiện vốn đầu tư của dự án FDI, tìm
ra nguyên nhân đang cản trở quá trình thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI Trên cơ
sở đó, đề xuất biện pháp đẩy mạnh tiến độ thực hiện dự án FDI, nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn FDI trong các dự án FDI ở Việt Nam
1.1.1.2 Giải ngân vốn FDI
Khái niệm giải ngân vốn FDI
Tỷ lệ vốn thực hiện, giải ngân vốn FDI được coi là một trong những tiêu chuẩn đánh giá mức độ thành công của quá trình thu hút vốn FDI của một quốc gia Trong khi đó, vốn đăng ký chỉ phản ánh giá trị đầu tư ước tính của dự án Giải ngân vốn FDI là chỉ số đánh giá dòng vốn thực sự đầu tư từ nước ngoài vào nước nhận đầu tư và thể hiện trên cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm số vốn của đối tác trong nước hay ngân hàng trong nước
Đánh giá giải ngân vốn FDI cần được xem xét trong một giai đoạn, thời kỳ xác định Vốn giải ngân là vốn thanh toán cho các hạng mục đã đầu tư của dự án triển khai thực hiện tại nước chủ nhà Một dự án FDI sau khi được cấp phép đầu tư sẽ phải mất một khoảng thời gian nhất định để triển khai theo từng giai đoạn của dự án như trong hồ sơ cấp GPĐT Xác định thời điểm dự án được cấp phép và thời gian triển khai thực hiện dự án, qua đó so sánh được mức độ thực hiện, giải ngân vốn FDI của dự án Đối với dự án FDI có quy mô lớn, thời gian triển khai thực hiện dự
án kéo dài, số vốn giải ngân cũng được chia theo các giai đoạn khác nhau
Nói tới vốn thực hiện, giải ngân vốn FDI, Việt Nam thường sử dụng số liệu báo cáo của các dự án và cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài tại địa phương (Sở Kế hoạch và Đầu tư) để tổng hợp, trong khi các nước khác thường căn cứ vào lượng ngoại tệ được chuyển qua hệ thống ngân hàng Có sự khác biệt trong cách tính toán
số vốn FDI thực hiện, giải ngân của Việt Nam và thế giới
Hiện nay, tại Việt Nam thống nhất dùng con số vốn đầu tư thực hiện và quy định vốn FDI đầu tư thực hiện cũng là vốn FDI giải ngân
Trang 17 Quy trình, thủ tục giải ngân vốn FDI
Giải ngân trong các dự án FDI là quá trình đưa vốn nước ngoài cùng vốn góp bên nước chủ nhà để thực hiện các công việc, hạng mục của dự án Giải ngân vốn FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đóng vai trò quyết định đến sự thành công, hay thất bại của một dự án FDI Mục tiêu của nhà đầu tư là đưa dự án FDI vào hoạt động càng sớm càng tốt, nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra, do những biến động của môi trường đầu tư và sử dụng tối đa hiệu quả của nguồn vốn
Triển khai thực hiện các dự án FDI là quá trình các nhà quản trị tiến hành giao dịch với các cơ quan quản lý nước chủ nhà, và thực hiện các công việc cụ thể để biến các dự kiến trong dự án khả thi thành hiện thực, nhằm đưa dự án FDI đã được cấp GPĐT vào xây dựng và hoạt động theo đúng mục tiêu đã được quy định trong GPĐT, hay triển khai thực hiện dự án FDI là quá trình giải ngân vốn đăng ký FDI Như vậy, quá trình giải ngân các dự án FDI là nhiệm vụ của các chủ đầu tư và liên quan đến sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nước Trong quá trình giải ngân vốn FDI, đòi hỏi các bên phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
+ Thực hiện đúng pháp luật: đây là yêu cầu đầu tiên, và quan trọng nhất đối với việc giải ngân vốn FDI Bởi vì, chỉ có thực hiện đúng pháp luật của nước chủ nhà, thì dự án mới được pháp luật bảo vệ và ủng hộ
+ Thực hiện đúng tiến độ: Sau khi dự án FDI được cấp GPĐT, dự án cần nhanh chóng triển khai ngay để đảm bảo tiến độ dự án Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu thường xuyên thay đổi nên nếu triển khai chậm, dự án có thể mất cơ hội kinh doanh, đồng thời hạn chế được các chi phí phát sinh thêm do kéo dài thời hạn dự án Đây là một yêu cầu rất khó thực hiện, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, thường
có thủ tục hành chính phiền hà và phức tạp
+ Phân công và phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu, các bộ phận trong quá trình thực hiện dự án FDI Để đảm bảo tiến độ triển khai dự án, các nhà đầu tư phải biết phân công công việc một cách khoa học, tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu công việc đó, tránh tình trạng một công việc bị đình trệ ảnh hưởng đến các công việc khác
Trang 18+ Tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư thực hiện các dự án FDI trên cơ sở đảm bảo vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước Nhà nước không can thiệp quá sâu vào các hoạt động cụ thể của dự án, mà chỉ theo dõi và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư chân chính có đủ điều kiện để thực hiện dự án FDI
Cách thức thực hiện giải ngân vốn FDI
Việc thực hiên dự án, giải ngân vốn FDI là trách nhiệm của nhà đầu tư, đồng thời cũng là trách nhiệm của các cơ quan QLNN nước chủ nhà Nhà đầu tư phải chủ động tiến hành các công việc cần thiết, về phía cơ quan QLNN có trách nhiệm hỗ trợ nhà đầu tư tiến hành các công việc đó một cách thuận lợi, đúng pháp luật, nhất
là các công việc liên quan đến các thủ tục hành chính Những công việc nhà đầu tư phải thực hiện, không chỉ phụ thuộc vào quy định khác nhau giữa các quốc gia, theo thông lệ quốc tế mà còn phụ thuộc vào hình thức đầu tư của dự án FDI [20, tr.105] Quá trình giải ngân vốn FDI thường bao gồm các công việc (i) thành lập bộ máy quản lý dự án, (ii) thực hiện các thủ tục hành chính, (iii) góp vốn và thực hiện đầu tư, (iv) nghiệm thu và bàn giao công trình, tuyển dụng lao động
(i) Thành lập bộ máy quản lý dự án FDI
Đây là công việc phải tiến hành đầu tiên, ngay sau khi dự án FDI được cấp GPĐT Bộ máy quản lý dự án FDI phụ thuộc vào hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp Đối với hình thức DNLD và doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN, bộ máy quản lý dự án FDI thường bao gồm Hội đồng quản trị và Ban giám đốc (đối với các
dự án BBC, thành lập Ban điều phối/điều hành dự án FDI) Nhiệm vụ cụ thể là bổ nhiệm chức danh chính như Chủ tịch/các phó Chủ tịch Hội đồng quản trị; Tổng giám đốc, các phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, tiến hành họp phiên đầu tiên để triển khai các công việc tiếp theo Những công việc này do chính bản thân các nhà đầu tư tự thực hiện, không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nào của nước chủ nhà, vì vậy họ có thể quyết định tiến độ thực hiện những công việc này
(ii) Thực hiện các thủ tục hành chính
Có nhiều thủ tục hành chính cần thiết cho sự ra đời và hoạt động của một dự
án FDI (hay gọi là doanh nghiệp có vốn FDI), gồm các thủ tục về đăng ký trụ sở
Trang 19doanh nghiệp, chế độ kế toán, đăng ký con dấu, các thủ tục liên quan đến việc góp vốn, như đăng kí kế hoạch xuất nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ để góp vốn cho dự án, các thủ tục về đất đai, như đền bù, tái định cư và GPMB, đến các thủ tục
về xây dựng cơ bản và xuất nhập cảnh cho các chuyên gia nước ngoài, hoặc lao động trong nước đi đào tạo ở nước ngoài
Đây là các công việc thuộc trách nhiệm của các nhà đầu tư, nhưng kết quả của
nó lại phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của bộ máy chính quyền nước chủ nhà, vì các nhà đầu tư không thể tự quyết định thời gian thực hiện các công việc đó Đối với các nước phát triển, những công việc này thường rất gọn nhẹ và đơn giản, do các thủ tục đều minh bạch và rõ ràng Nhưng đối với các nước đang phát triển, đây lại là một trong những cản trở lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cho dù các nước này có quy định cụ thể về thời gian thực hiện những công việc đó
(iii) Góp vốn và thực hiện dự án đầu tư
Góp vốn cho dự án:
Việc lựa chọn các hình thức góp vốn tùy theo Luật đầu tư của mỗi nước Có những hình thức góp vốn thông thường như góp vốn bằng tiền mặt, bằng giá trị quyền sử dụng mặt đất, bằng công nghệ…Nhiệm vụ của các nhà đầu tư là tiến hành góp vốn theo hình thức đã lựa chọn Vấn đề phức tạp thường nảy sinh là góp vốn đúng với tiến độ đề ra
Ở những nước đang phát triển, các nhà đầu tư nước chủ nhà thường góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Vấn đề nảy sinh trong quá trình góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là tiến độ GPMB thường chậm, nhiều khi đã được cấp giấy phép
sử dụng đất, nhưng không thể GPMB, thậm chí chính quyền nước chủ nhà còn thiếu trách nhiệm trong việc hỗ trợ các nhà đầu tư GPMB, dẫn đến phát sinh nhiều chi phí ngoài dự toán
Một khía cạnh khác, vấn đề chuyển giao công nghệ từ bên ngoài vào thường nảy sinh các vấn đề như hợp đồng chuyển giao công nghệ không rõ ràng, định giá công nghệ sao cho sát với giá trị thực tế của công nghệ chuyển giao, vấn đề quy định về bảo hộ sở hữu công nghiệp
Trang 20Một trong những nội dung quan trọng khi góp vốn là xác định giá trị vốn góp của các bên Luật pháp các nước có thể cho phép các nhà đầu tư góp vốn bằng các phương thức khác nhau, như góp vốn bằng tiền mặt, bằng máy móc thiết bị, bằng giá trị quyền sử dụng mặt đất, hay giá trị công nghệ…Vấn đề thường phức tạp khi định giá những tài sản mà các nhà ĐTNN đưa vào góp vốn như máy móc thiết bị đã qua sử dụng, các tài sản vô hình, gồm kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa
Đấu thầu mua sắm thiết bị và thực hiện đầu tư:
Trong bước này, nhiệm vụ của chủ đầu tư là tổ chức đấu thầu quốc tế để
tuyển dụng các loại tư vấn (như tư vấn khảo sát, thiết kế, đấu thầu, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình) và mua sắm máy móc, thiết bị cũng như xây dựng công trình
Sau khi tổ chức đấu thầu và lựa chọn được các nhà tư vấn, nhà thầu trong và ngoài nước, các nhà đầu tư sẽ đầu tư vốn để xây dựng công trình, mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị theo đúng tiến độ mà dự án đã đề ra
(iv) Nghiệm thu công trình và tuyển dụng lao động cho dự án
Nghiệm thu công trình: Sau khi tiến hành xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị
hoàn chỉnh, các nhà đầu tư, các nhà thầu và các nhà tư vấn tiến hành nghiệm thu bàn giao để đưa công trình vào hoạt động kịp tiến độ của dự án Theo quy định của một số nước, các nhà đầu tư phải định kỳ báo cáo tiến độ thực hiện dự án cho các cơ quan cấp GPĐT để thực hiện chức năng QLNN
Tuyển lao động cho dự án: Để đi vào hoạt động, các dự án cần tuyển dụng và
đào tạo lao động Nhiệm vụ của các nhà đầu tư là tiến hành thông báo, tiến hành tuyển dụng, thậm chí là đào tạo lại lao động nếu thấy cần thiết Các nguồn tuyển dụng lao động bao gồm lao động tại các địa phương nơi đặt dự án, hoặc tuyển từ các địa phương khác tại nước chủ nhà Đối với một số vị trí chủ chốt, đòi hỏi những người có trình độ cao, kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm, hoặc do yêu cầu của công việc, có thể phải tuyển dụng lao động và các chuyên gia nước ngoài
Về phương thức tuyển dụng, dự án có thể thực hiện theo một trong các cách như trực tiếp tiến hành tuyển chọn, tuyển dụng thông qua cơ quan chính quyền địa
Trang 21phương, hay đưa ra các yêu cầu về lao động và thuê một công ty cung ứng lao động tiến hành tuyển chọn Đa số các quốc gia quy định sau khi tuyển dụng lao động, nhất thiết các doanh nghiệp phải tiến hành ký hợp đồng lao động với người lao động, và ký thỏa ước lao động tập thể để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi được tuyển dụng Ngoài ra, nếu có nhu cầu, doanh nghiệp có thể tuyển chọn lao động để đào tạo nâng cao tay nghề tại chỗ, hoặc cử đi đào tạo ở nước ngoài
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải ngân vốn FDI
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc giải ngân vốn FDI, trong đó gồm có 4 nhóm yếu tố cơ bản sau: (i) các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô;
(ii) các yếu tố về “năng lực hấp thụ” vốn FDI; (iii) các yếu tố liên quan đến chủ đầu
tư nước ngoài và (iv) các yếu tố liên quan đến chất lượng dự án FDI
1.1.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc giải ngân vốn FDI Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô quốc tế tác động một cách gián tiếp, trong khi đó, các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô của nước chủ nhà, đặc biệt là luật pháp và chính sách của nước chủ nhà lại có tác động trực tiếp đến việc giải ngân vốn FDI
Một số nhân tố thuộc môi trường đầu tư quốc tế
Đây là nhân tố tác động gián tiếp đến việc giải ngân nguồn vốn FDI, bao gồm các nhân tố như sự phát triển có tính chu kỳ của nền kinh tế thế giới, khu vực và quốc gia; xu hướng vận động của dòng vốn FDI trên thế giới; sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức
Sự phát triển có tính chu kỳ của kinh tế thế giới, khu vực và quốc gia:
Đây là yếu tố tác động mạnh đến việc thực hiện dự án FDI, giải ngân vốn FDI Chỉ trong hơn 2 thập kỷ gần đây, nền kinh tế thế giới đã trải qua không ít các cuộc khủng hoảng, suy thoái, phục hồi rồi suy thoái trên phạm vi toàn cầu, khu vực hay từng quốc gia như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (1997), hay cuộc khủng hoảng kinh tế đang gây tác động xấu đến nền kinh tế thế giới năm 2008 Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, tự do hóa và công nghệ thông
Trang 22tin, những cuộc khủng hoảng như vậy đã gây ra những biến động khôn lường của các yếu tố sản xuất và thị trường vốn ở các nước bị khủng hoảng, và các nước có quan hệ kinh tế đối ngoại chặt chẽ với các nước bị khủng hoảng Điều này sẽ gây ra tác động tiêu cực; các doanh nghiệp nước đầu tư bị phá sản hàng loạt; hạn chế khả năng đầu tư ra nước ngoài, đồng thời hạn chế khả năng thực hiện các dự án đã đầu
tư tại các nước nhận đầu tư
Xu hướng vận động của FDI trên thế giới:
Sự phân bổ FDI vào các nước phụ thuộc vào xu hướng vận động của FDI trên thế giới Dòng vốn FDI đầu tư vào một quốc gia, khu vực nào đó mà lớn sẽ là điều kiện cần cho việc gia tăng số vốn thực hiện Sự xuất hiện của các TNCs ở một nước tác động đến quy mô của vốn thực hiện Thông thường các TNCs đầu tư dự án với quy mô lớn, công nghệ hiện đại, bởi vậy việc các dự án này có được triển khai thực hiện hay không tác động lớn đến tỷ lệ giải ngân chung của quốc gia đó Đặc biệt, đối với các TNCs, khi kinh doanh có hiệu quả, họ thường đầu tư nhiều dự án đa ngành, đa lĩnh vực, hoặc thực hiện tái đầu tư vào các dự án đã có, làm cho tính khả thi của đồng vốn này cao hơn so với các dự án mới
Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức: Công nghệ thông tin ngày càng phát triển và là một ngành
công nghiệp làm cho cơ cấu kinh tế của các quốc gia thay đổi theo chiều hướng gia tăng tỷ trọng các ngành công nghệ cao Điều này đòi hỏi các nước đang phát triển phải tăng cường thu hút FDI từ các tập đoàn (TNCs, MNCs) lớn trên thế giới để phát triển các ngành công nghiệp của mình, làm cho quy mô dự án FDI có chiều hướng tăng lên, hàm lượng khoa học công nghệ được chuyển giao gia tăng qua các
dự án FDI vào nước chủ nhà
Ngoài ra, sự phát triển khoa học công nghệ không chỉ tác động đến tính chất
và quy mô của các dự án, mà còn ảnh hưởng đến phân bố địa lý của vốn thực hiện Khi khoa học công nghệ phát triển làm cho các công ty có thiên hướng hoạt động xuyên quốc gia nhiều hơn, tập trung nhiều hơn vào khía cạnh công nghệ của sản phẩm Điều đó làm cho nhu cầu sử dụng lao động tay nghề cao ngày càng lớn Nếu
Trang 23các quốc gia không có sự chuẩn bị từ trước về đào tạo công nhân tay nghề cao, sẽ là rào cản rất lớn trong việc thu hút và thúc đẩy triển khai thực hiện những dự án công nghệ cao
Một số nhân tố thuộc về môi trường đầu tư của nước chủ nhà
Hoạt động triển khai thực hiện dự án FDI nhanh hay chậm chịu sự tác động trực tiếp bởi MTĐT của nước chủ nhà MTĐT bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, bất
kể sự thay đổi nào trong các yếu tố đó đều có tác động gián tiếp hay trực tiếp đến việc thúc đẩy hoạt động giải ngân vốn trong các dự án FDI Một số yếu tố thuộc MTĐT của nước chủ nhà tác động đến việc giải ngân vốn FDI bao gồm đảm bảo ổn định chính trị, chính sách phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật chính sách về ĐTNN, và yếu tố văn hóa xã hội
Yếu tố chính trị:
Có thể nói, ổn định chính trị là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà ĐTNN, có tác động gián tiếp đến việc thúc đẩy triển khai thực hiện các dự án, giải ngân vốn FDI Bởi vì chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của Chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, sở hữu tài sản, về các chính sách ưu tiên đầu tư và định hướng phát triển của nước nhận đầu tư Ổn định chính trị là nhân tố quan trọng đảm bảo sự an toàn cho các dự án FDI trong quá trình triển khai thực hiện, đồng thời đảm bảo đường lối phát triển nhất quán của nước chủ nhà Bên cạnh đó, việc thực hiện các cam kết khuyến khích đầu tư của nước chủ nhà luôn là vấn đề quan trọng được nhà ĐTNN quan tâm Việc sửa đổi các khuyến khích về ưu đãi đầu tư luôn được thực hiện theo nguyên tắc không hồi
tố Bởi vậy, nhà ĐTNN có thể chủ động trong chiến lược kinh doanh
Một vấn đề khác được các nhà ĐTNN rất quan tâm, đó là định hướng thu hút FDI của nước chủ nhà Các nhà ĐTNN, chủ yếu là các TNCs, thường có chiến lược kinh doanh dài hạn, nên họ rất cần sự rõ ràng và ổn định trong định hướng ĐTNN của nước chủ nhà Phần lớn các TNCs không muốn đầu tư vào một nước luôn thay đổi định hướng ưu tiên đầu tư, nhất là khi đầu tư vào những ngành không phải là lợi thế cạnh tranh của họ Một số quốc gia không rõ ràng giữa định hướng đầu tư thay
Trang 24thế nhập khẩu và định hướng đầu tư hướng vào xuất khẩu, sẽ làm cho các nhà ĐTNN không thực hiện được chiến lược kinh doanh
Yếu tố kinh tế:
Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia thể hiện ở mức độ phát triển quản
lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp các dịch vụ cho hoạt động kinh doanh của các nhà ĐTNN [15, tr.125-129] Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô ảnh hưởng lớn đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, đến các thủ tục hành chính và nạn tham nhũng Những nước có trình độ quản lý kinh tế vĩ mô kém thường dẫn đến tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài nhiều, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, các thủ tục hành chính rườm rà… Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến những biến động về cung, cầu và sức mua trên thị trường, tác động không nhỏ đến hoạt động giải ngân vốn trong các dự án FDI
Yếu tố luật pháp và chính sách về đầu tư nước ngoài:
Đây chính là các yếu tố có tác động trực tiếp đến giải ngân vốn FDI Quá trình giải ngân trong các dự án FDI liên quan đến hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau, và được tiến hành trong khoảng thời gian dài, nên các nhà ĐTNN cần một cơ
sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ và có hiệu lực thống nhất giữa các cấp Nhiệm vụ của các cơ quan QLNN là phải ban hành một hệ thống các chính sách, quy định về thực hiện dự án FDI trên cơ sở đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo với nhau và có hiệu lực thực hiện thống nhất giữa các cấp, từ TW đến địa phương Hoạt động thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI chịu tác động bởi chính sách của nước chủ nhà, trong đó có các chính sách tác động trực tiếp và các chính sách tác động gián tiếp Các chính sách tác động trực tiếp đến hoạt động thực hiện dự án FDI như chính sách về đất đai, chính sách về lao động, chính sách về chuyển giao công nghệ và nhập khẩu máy móc thiết bị Các chính sách có ảnh hưởng gián tiếp, như chính sách về tài chính tiền tệ, thương mại, văn hóa xã hội, an ninh đối ngoại… Các quy định của nước chủ nhà về thủ tục hành chính trong thực hiện các dự
án FDI mà công khai, rõ ràng có tác động tích cực, bao gồm quy định về các thủ tục hành chính về xin giấy chứng nhận sử dụng đất, giấy phép xây dựng, giải quyết
Trang 25khiếu kiện…Nước chủ nhà cần có những quy định gọn nhẹ và minh bạch, cộng với việc không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, sẽ góp phần tạo ra MTĐT minh bạch, bình đẳng và giúp các nhà ĐTNN triển khai thực hiện dự án FDI thuận lợi hơn
Tính hiệu lực trong thực hiện chính sách luật pháp của nước chủ nhà là mối quan tâm lớn của các nhà ĐTNN Tính hiệu lực của luật pháp chỉ được thể hiện khi các nhà ĐTNN trực tiếp tiếp xúc với các cơ quan QLNN ở các cấp Rất nhiều nhà ĐTNN cho rằng những quy định trong hệ thống pháp luật thì rất đơn giản gọn nhẹ, nhưng khi thực hiện trong thực tế lại gặp rất nhiều khó khăn, phiền hà Bởi vậy, các nhà ĐTNN rất lo ngại khi đầu tư vào nước chủ nhà có môi trường pháp lý tiềm ẩn nhiều rủi ro
Yếu tố văn hóa xã hội:
Yếu tố văn hóa xã hội của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI, cụ thể bao gồm một số yếu tố như ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán, thị hiếu và giáo dục
Một trong những khó khăn lớn nhất cho các nhà ĐTNN là bất động về ngôn ngữ Sự bất đồng về ngôn ngữ có thể làm phát sinh thêm chi phí, nhưng điều quan trọng là có thể gây ra những hiểu lầm, trong quá trình giao dịch với các cơ quan QLNN và người dân địa phương, trong hoạt động GPMB, tìm kiếm và tuyển dụng lao động cho dự án…
Tôn giáo và phong tục tập quán của nước chủ nhà cũng tác động đến hoạt động thực hiện dự án FDI Các nhà ĐTNN không muốn đầu tư vào một nơi mà ở đó
có quá nhiều các tập tục khác lạ, như ăn kiêng, nhiều lễ hội tôn giáo, và các cấm đoán trong giao tiếp với người nước ngoài Trái lại, nếu nước chủ nhà có nhiều phong tục tập quán gần với các nhà đầu tư, không chỉ tạo thuận lợi trong công việc thực hiện dự án FDI, mà còn giúp họ dễ hòa nhập với cuộc sống của nước chủ nhà Tóm lại, qua phân tích trên cho thấy MTĐT nước chủ nhà có tác động lớn đến việc thực hiện các dự án, giải ngân vốn FDI Nếu MTĐT thuận lợi sẽ giúp các nhà ĐTNN, một mặt, thực hiện dự án được nhanh chóng, đảm bảo đúng tiến độ đề ra,
Trang 26chớp được cơ hội kinh doanh; mặt khác, giúp các nhà ĐTNN tiết kiệm đáng kể các chi phí phát sinh ngoài dự kiến Điều quan trọng là các nhà ĐTNN cam kết làm ăn lâu dài tại nước đó Một yếu tố quyết định việc nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn FDI
1.1.2.2 Các yếu tố về “năng lực hấp thụ” vốn FDI
Một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến giải ngân vốn FDI đó là yếu tố nội tại của nước chủ nhà, đó là các yếu tố thuộc về “năng lực hấp thụ” vốn FDI, bao gồm: cơ sở hạ tầng, lao động và dịch vụ
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ của nước chủ nhà là yếu tố tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm những chi phí phát sinh cho các nhà ĐTNN triển khai thực hiện dự án theo đúng tiến độ và khai thác được cơ hội đầu tư một cách hiệu quả nhất Cơ sở hạ tầng bao gồm nhà kho, bến bãi, cảng sân bay, đường giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, hệ thống cung cấp điện, nước… Đây chính là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai thực hiện dự án, vận hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài tại nước chủ nhà Ngoài ra, chất lượng các dịch vụ về lao động, tài chính, công nghệ luôn là yếu
tố được nhà ĐTNN cân nhắc kỹ trước khi quyết định đầu tư vào một quốc gia Điều này cho thấy một nước sẽ không thể thu hút được nhiều vốn FDI, nếu không có cơ
sở hạ tầng phát triển, và không đảm bảo chất lượng các dịch vụ cho các nhà ĐTNN Đặc biệt, trình độ phát triển giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI Trình độ giáo dục tốt và cơ cấu đào tạo hợp lý sẽ là những cơ sở quan trọng để cung cấp cho các nhà ĐTNN đội ngũ lao động có tay nghề cao, có kỹ năng và tác phong lao động kỷ luật Nhờ đó, giảm được thời gian tuyển dụng và chi phí đào tạo, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu vận hành, sản xuất và kinh doanh của dự án
1.1.2.3 Các yếu tố liên quan đến chủ đầu tư nước ngoài
Bên cạnh yếu tố khách quan thuộc về MTĐT của nước chủ nhà có tác động đến hoạt động giải ngân vốn FDI, còn có các yếu tố chủ quan của các nhà đầu tư, như việc thay đổi chiến lược kinh doanh, tình hình tài chính của các công ty mẹ, hoặc thái độ chấp hành luật pháp của nước chủ nhà, và chất lượng quản trị dự án
Trang 27Thay đổi chiến lược kinh doanh: Các dự án đầu tư ở nước ngoài do các công
ty, tập đoàn lớn (TNCs, MNCs) trên thế giới thực hiện và được đặt trong chiến lược phát triển chung của công ty mẹ Các TNCs có tiềm lực tài chính mạnh, nên họ sẵn sàng có thể hi sinh một vài dự án FDI đã được cấp phép, hoặc đang triển khai ở một
số nước nào đó để đạt được mục tiêu trong chiến lược phát triển chung của cả tập đoàn Sở dĩ, phát sinh những thay đổi trong mục tiêu của các TNCs bắt nguồn từ thay đổi trong chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nước đi đầu tư Những thay đổi này thường tập trung vào các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách về ngoại giao kinh tế, và các chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài
Sự thay đổi trong chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ có thể ảnh hưởng đến mức lãi suất thực tế của các doanh nghiệp Ví dụ, trong những năm 1979-1981,
do chính phủ Mỹ thay đổi chính sách tài chính tiền tệ từ chính sách nới lỏng tiền tệ- thắt chặt tài chính sang chính sách thắt chặt tiền tệ-nới lỏng tài chính đã làm cho mức lãi suất thực tế cao hơn, nhờ đó góp phần cải thiện MTĐT Tình trạng này đã không khuyến khích đầu tư ra nước ngoài Đây là một trong những nguyên nhân làm cho đầu tư ra nước ngoài của Mỹ giảm mạnh trong nửa đầu thập kỷ 80 Như vậy, do tác động bởi chính sách của chính phủ, mà các công ty TNCs có thể đã thay đổi mục tiêu và chiến lược kinh doanh, chuyển từ mục tiêu tập trung thị trường nước ngoài sang mục tiêu tập trung thị trường trong nước
Các chính sách đối ngoại của chính phủ cũng có tác động rất lớn đến hoạt động giải ngân vốn FDI, bao gồm các chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế, các Hiệp định song phương và đa phương, các hoạt động hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài Nếu các chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư thì chắc chắn sẽ thúc đẩy nhanh hơn quá trình thực hiện dự án theo đúng mục tiêu và chiến lược đề ra
Tình hình tài chính của công ty mẹ:
Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động giải ngân vốn FDI Thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp dự án FDI đã được cấp giấp phép, nhưng các chủ đầu
tư lại không thực hiện dự án với lý do không đủ năng lực tài chính, hoặc triển khai
dự án với một tiến độ rất chậm, hoặc góp vốn không đầy đủ Có một số trường hợp,
Trang 28các nhà ĐTNN bán lại GPĐT cho các nhà đầu tư khác, làm cho dự án FDI không thể triển khai được, hoặc nằm chờ đối tác mới để triển khai dự án Hiện tượng này thường xảy ra khi các đối tác nước ngoài là những công ty nhỏ, không có tiềm lực tài chính rõ ràng; hoặc có trường hợp, khi lập hồ sơ xin GPĐT thì công ty mẹ chưa
bị phá sản, nhưng khi được cấp GPĐT, thì công ty mẹ lại bị phá sản
Thái độ tuân thủ pháp luật của nhà đầu tư nước ngoài:
Đây là yêu cầu cốt lõi đối với một dự án FDI trong giai đoạn triển khai thực hiện Dự án FDI mang lại không chỉ lợi nhuận cho các nhà ĐTNN, mà còn mang lại các lợi ích kinh tế-xã hội to lớn khác Thực tế, có rất nhiều dự án khi đầu tư vào các nước đang phát triển, một số nhà đầu tư cố tình vi phạm pháp luật, làm trái các quy định của nước chủ nhà như các quy định về nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, các quy định về nội địa hóa, các quy định về lao động cho đến khi bị phát hiện, họ phải chấp nhận hậu quả có thể là bị thu hồi GPĐT, hoặc chịu những hình phạt nhất định; gây ra không ít thiệt hại cho bản thân các nhà đầu tư, và thiệt hại cả về kinh tế và xã hội cho nước chủ nhà
Chất lượng công tác quản trị dự án FDI của các nhà đầu tư:
Quản trị dự án FDI là việc thực hiện các công việc cụ thể nhằm đưa dự án có vốn FDI, đã được nước chủ nhà chấp thuận cấp GPĐT vào xây dựng và hoạt động
có hiệu quả Đối với dự án FDI, chủ đầu tư có trách nhiệm triển khai dự án FDI theo đúng tiến độ và mục tiêu ghi trong GPĐT Nhiệm vụ của các nhà đầu tư là điều hành các công việc, nhằm đưa dự án FDI nhanh chóng đi vào hoạt động Quản trị
dự án FDI là một công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi các nhà quản trị cần nắm rõ những yêu cầu và nội dung của các công việc trong giai đoạn này
Dự án FDI sau khi được cấp phép có được xây dựng và đi vào hoạt động một cách nhanh chóng, và có hiệu quả hay không, phụ thuộc vào công việc quản trị dự
án Nhiều dự án FDI sau khi được cấp GPĐT, nhưng vì thực hiện quản trị triển khai kém, nên phải mất một khoảng thời gian khá lâu mới thực sự đi vào xây dựng Có nhiều dự án đã hoạt động được một thời gian, nhưng một số công việc thuộc giai đoạn triển khai vẫn chưa thực hiện và cần tiếp tục hoàn tất, tạo ra ách tắc và chi phí
Trang 29không đáng có trong quá trình hoạt động của dự án Vì vậy, quản trị dự án FDI có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự thành công, hay thất bại của dự án FDI
1.1.2.4 Các yếu tố liên quan đến chất lƣợng dự án FDI
Đầu tư là một quá trình dài hạn, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Thông thường, một dự án kể từ khi phát hiện cơ hội đầu tư, cho đến khi bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, để cung cấp các sản phẩm ra thị trường, phải mất một vài năm Đây chính là khoảng thời gian mà thị trường có những biến động lớn về cung cầu, giá cả và cạnh tranh
Có nhiều nguyên nhân gây ra những biến động của thị trường, có thể do quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của quốc gia đó, có thể do sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ, có thể do cơ cấu tiêu dùng thay đổi… Tất cả các yếu tố này đã và đang “bóp méo” cơ hội đầu tư của dự án FDI, làm cho tính khả thi của dự
án FDI bị giảm dần theo thời gian Vì vậy, chủ đầu tư không đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án sẽ dẫn đến nguy cơ phải ngừng triển khai, dự án không thể vận hành được, hoặc dự án hoạt động với công suất thấp hơn nhiều so với công suất thiết kế ban đầu
Tính khả thi của dự án, phát triển cơ hội đầu tư tại một quốc gia phải được nghiên cứu và đánh giá một cách đúng đắn và có tính dự báo Mục tiêu của dự án phải được xác định rõ ràng và đảm bảo lợi ích của chủ đầu tư và của nước chủ nhà Mục tiêu của dự án phải gắn với mục tiêu phát triển kinh tế của nước chủ nhà Cả chủ đầu tư và nước chủ nhà phải coi trọng chất lượng dự án, tránh tình trạng đầu tư cầm chỗ, không theo đuổi mục tiêu số lượng, mà cần tiến tới mục tiêu chất lượng của dự án
Giai đoạn chuẩn bị dự án là rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng dự án sau khi cấp GPĐT và đi vào triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, chất lượng dự án FDI phải xét đến khía cạnh là lựa chọn hình thức đầu tư, lĩnh vực-ngành nghề đầu tư và địa bàn đầu tư Nhiều địa phương đã thực hiện nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư, nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư ồ ạt,
Trang 30không kiểm soát chất lượng dự án, cấp phép rất nhiều dự án không khả thi Điều này gây tác động xấu tới MTĐT không chỉ của địa phương đó mà của cả quốc gia Một vấn đề cần quan tâm là đánh giá năng lực của các đối tác nước ngoài Đây
là một khó khăn đối với nhiều nước chủ nhà, đặc biệt là tại các nước đang phát triển Chất lượng của dự án FDI đảm bảo hay không tùy thuộc phần lớn vào năng lực của chủ đầu tư nước ngoài Do đó, cần kiểm soát và có giải pháp để đánh giá đúng thực chất năng lực của chủ đầu tư nước ngoài
1.2 Bài học kinh nghiệm giải ngân dự án FDI của một số nước ở Châu Á 1.2.1 Trung Quốc
Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới, bằng những chính sách và biện pháp thích hợp, Trung Quốc đã thu được những thành tựu lớn trong việc thu hút và thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI, nhất là sau khi gia nhập WTO [18, tr.23] Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách về thu hút và hỗ trợ thực hiện dự án FDI của Trung Quốc thời gian qua có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam
Để đạt được những thành tựu trên, chính phủ Trung Quốc đã liên tục sửa đổi
và hoàn thiện cơ chế chính sách về ĐTNN, kết hợp cả chính sách thu hút và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI
Hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp, ngoài ba hình thức đầu tư nước
ngoài chủ yếu là DNLD, doanh nghiệp hợp tác kinh doanh và doanh nghiệp sở hữu nước ngoài, Trung Quốc còn ban hành một số hình thức khác, có tính đặc thù cho từng lĩnh vực, như: (i) hình thức hợp tác phát triển áp dụng trong khai thác dầu khí
và mỏ tự nhiên; (ii) hình thức BOT áp dụng trong phát triển cơ sở hạ tầng; (iii) công
ty đầu tư, nhằm khuyến khích các tập đoàn lớn của nước ngoài phát triển các dự án đầu tư; hiện đây là hình thức được nhiều nhà ĐTNN quan tâm; (iv) công ty cổ phần đầu tư nước ngoài, đây là công ty được thành lập mới, hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa [18, tr.28]
Trung Quốc thực hiện đa dạng hóa hình thức đầu tư, trong đó Trung Quốc đã cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn FDI chuyển đổi sang công ty cổ phần Hơn nữa, hình thức M&A đã được Trung Quốc nghiên cứu áp dụng trong thời gian
Trang 31qua Với chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc lại các dự án FDI trong quá trình thực hiện
So với Việt Nam, sự hấp dẫn hơn trong các hình thức FDI của Trung Quốc ở chỗ (i) ba hình thức cơ bản của Trung Quốc đều là doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, trong khi hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh ở Việt Nam chưa được phép thành lập pháp nhân mới1
Đây là quy định mà rất nhiều nhà ĐTNN mong muốn Việt Nam sửa đổi, vì hạn chế khả năng khuyếch trương uy tín của họ trên thị trường Việt Nam, do phải mượn tư cách pháp nhân của đối tác Việt Nam; (ii) Trung Quốc đã nhanh chóng ban hành hình thức công ty cổ phần đầu tư nước ngoài, cho phép thành lập mới, hoặc các công ty TNHH chuyển thành công ty cổ phần đầu tư nước ngoài Trong khi đó, ở Việt nam, sau hơn 20 năm thu hút FDI, mới đang cho thí điểm cổ phần hóa các doanh nghiệp có vốn FDI Vì vậy, thời gian qua, có rất nhiều dự án FDI gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện muốn thay đổi chủ đầu tư, tái cơ cấu vốn…nhưng không thể thực hiện được, hoặc phải qua các thủ tục phiền hà
Trung Quốc thực hiện giá cả dịch vụ không phân biệt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Tiếp đến, từ tháng 1 năm 1998, Trung Quốc bãi bỏ thuế nhập
khẩu và thuế VAT, khi nhà đầu tư cung ứng thiết bị máy móc cho các công trình có vốn ĐTNN Tiếp tục mở cửa thị trường dịch vụ cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các lĩnh vực khá nhạy cảm, như tài chính, bảo hiểm, viễn thông, du lịch
và ngoại thương Với quy định này đã góp phần thu hút một lượng vốn FDI đáng kể vào phát triển các ngành dịch vụ, đồng thời là cơ sở gia tăng tỷ lệ giải ngân ở Trung Quốc [18, tr.37]
Trung Quốc thực hiện cải cách chính sách thuế theo hướng khuyến khích đầu
tư nước ngoài Hiện các doanh nghiệp có vốn FDI ở Trung Quốc phải chịu các loại
thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập từ đất, thuế tài nguyên, thuế bất
Trang 32
động sản Ví dụ, đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, Trung Quốc thực hiện 3 mức thuế khác nhau, thuế suất thấp nhất 15% đối với các dự án đầu tư vào các đặc khu kinh tế, các khu công nghệ cao, và đầu tư vào các ngành thuộc diện “khuyến khích đầu tư”; 24% đối với ác dự án ở vùng kinh tế mở duyên hải và các thành phố của các địa phương, còn mức thuế suất bình quân là 33% [21,tr.37] Như vậy, so với các quy định trước đây và hiện nay của Việt Nam thì mức thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam vẫn thấp hơn mức 28% Ngoài ra, Trung Quốc còn khuyến khích đầu
tư nước ngoài thông qua thực hiện miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo ngành, theo vùng Trung Quốc áp dụng phương châm “2 miễn 3 giảm” đối với các
dự án bình thường Đối với các dự án đầu tư vào miền Trung và miền Tây, hoặc các
dự án đầu tư vào các ngành công nghệ cao, Trung Quốc có thể thực hiện miễn thuế
5 năm và giảm tiếp 50% từ 3 đến 6 năm tiếp theo Ngoài ra, Trung Quốc cũng thực hiện miễn giảm thuế nhập khẩu và thuế VAT trong một số trường hợp nhất định Đối với doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào thời kỳ mở cửa2
, và có thời hạn liên doanh từ 10 năm trở lên, sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 1 năm và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo Đối với các dự án thuộc loại khuyến khích thì được hưởng ưu đãi hơn, tức là miễn 2 năm và giảm 50% cho 3 năm tiếp theo Ngoài chế độ miễn thuế nhập khẩu đối với những thiết bị vật tư đưa vào thực hiện dự án đầu tư, chính phủ Trung Quốc còn cho phép giảm từ 5% đến 25% thuế hải quan đối với vật tư nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu Đối với các dự án đầu tư vào các ngành xây dựng, giao thông, thông tin liên lạc được miễn thuế thu nhập 5 năm và giảm 50% cho 5 năm tiếp theo
Nhằm hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI, chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách và biện pháp khác nhau, cụ thể là:
+ Góp vốn và tái đầu tư: nhà ĐTNN có thể góp vốn bằng những hình thức khác
nhau như ngoại tệ mạnh, máy móc, thiết bị, quyền sở hữu công nghiệp, công nghệ độc quyền với giá xác định Hơn nữa, nhà ĐTNN có thể sử dụng lợi nhuận bằng đồng nhân dân tệ của tất cả các doanh nghiệp có vốn FDI kinh doanh trên lãnh thổ
Trang 33Trung Quốc để tái đầu tư Các nhà ĐTNN không chỉ sử dụng lợi nhuận của bản thân doanh nghiệp mình để tái đầu tư, mà còn có thể sử dụng lợi nhuận của các doanh nghiệp khác, miễn là thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Trung Quốc
+ Sử dụng đất: Trung Quốc coi đất đai là sở hữu của nhà nước Vì vậy, các nhà
ĐTNN có thể nhận các quyền sử dụng đất, nhưng không phải là quyền sở hữu đối với đất đai Đối với các doanh nghiệp trong nước, quyền sử dụng đất được xác định thông qua 3 cách thức là cấp đất, thuê đất và thậm chí có thể mua đất Đối với các doanh nghiệp có vốn FDI, quyền sử dụng đất được xác lập thông qua 2 cách, hoặc
là bên Trung Quốc góp và thuê đất; hoặc là qua chuyển nhượng doanh nghiệp, chứ không được phép mua bán Các doanh nghiệp có vốn FDI có quyền được sử dụng đất trong thời hạn tối thiểu 40 năm và tối đa 70 năm, tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất cho dự án Các nhà ĐTNN có quyền thế chấp đất tại các tổ chức tín dụng
để huy động vốn nhưng phải đăng kí với cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kí hợp đồng thế chấp
+ Tuyển chọn và sử dụng lao động: nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động,
Trung Quốc buộc các doanh nghiệp FDI phải chấp hành nghiêm chỉnh bộ luật lao động của nước chủ nhà Nhất thiết các doanh nghiệp FDI phải ký hợp đồng lao động với công nhân trong một thời gian nhất định sau ngày được tuyển dụng Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong kinh doanh, các nhà ĐTNN ở Trung Quốc có thể tự quyết thời gian, quy mô, điều kiện và phương thức tuyển dụng; có quyền tuyển lao động trực tiếp mà không phải tuyển qua cơ quan quản lý lao động của địa phương, bởi vậy họ có thể chủ động trong tuyển dụng lao động Chỉ trong trường hợp tuyển dụng lao động là người nước ngoài, các nhà ĐTNN phải nộp đơn xin phép lên cơ quan quản lý Lao động và An ninh xã hội của địa phương Giấy phép tuyển dụng đối với lao động nước ngoài là bắt buộc
+ Quyền hạn của các dự án FDI: doanh nghiệp FDI có toàn quyền quyết định về
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính phủ Trung Quốc khuyến khích các nhà ĐTNN áp dụng các biện pháp quản lý khoa học tiên tiến trên
Trang 34thế giới Trong phạm vi kinh doanh được phê duyệt, các nhà ĐTNN có quyền tự quyết định về lập kế hoạch kinh doanh, tăng huy động và sử dụng vốn, mua nguyên liệu sản xuất, thành lập văn phòng và số lượng lao động Điều này tạo điều kiện rất thuận lợi cho các nhà ĐTNN chủ động trong việc tái cơ cấu và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp khi cần thiết, kể từ khi triển khai cho đến khi vận hành dự án FDI
+ Quản lý ngoại hối: các doanh nghiệp có vốn FDI có thể tiếp nhận các dịch vụ
bảo đảm cung ứng tiền mặt, các khoản vay bằng nhân dân tệ theo một số điều kiện nhất định theo quy định Ngoài ra, để bảo đảm chủ động ngoại tệ trong kinh doanh, doanh nghiệp có vốn FDI còn được vay nước ngoài, phát hành trái phiếu ngoại tệ và các công cụ nợ khác, nhưng phải đăng ký Quy định này đã cho phép các nhà ĐTNN chủ động trong việc huy động vốn để thực hiện dự án
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể sử dụng ngoại tệ để tái đầu tư, hoặc chuyển lợi nhuận và các khoản chi phí khác bằng ngoại tệ về nước, nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý ngoại hối Đối với Việt Nam, cũng cho phép các nhà ĐTNN mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài, nhưng vẫn chỉ là tài khoản vốn vay, chứ không phục vụ mục đích giao dịch kinh doanh Đây chính là điểm thông thoáng trong Luật ĐTNN của Trung Quốc so với Việt Nam Để quản lý chặt chẽ sự di chuyển của nguồn ngoại tệ, Trung Quốc quy định khi chuyển nhượng vốn cần có sự phê duyệt của cơ quan Nhà nước về quản lý ngoại hối
Nhìn chung, Trung Quốc đã tạo ra một MTĐT khá thuận lợi và ổn định cho các nhà ĐTNN, tạo cho họ có lòng tin đầu tư dài hạn tại Trung Quốc Nhờ có các quy định thông thoáng trong quá trình thực hiện dự án, nên Trung Quốc đã thu hút được lượng vốn lớn, với các hình thức đa dạng và nhiều đối tác mạnh, tiềm năng
1.2.2 Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển kinh tế Trong những năm gần đây, nền kinh tế Thái Lan đã đạt được tốc độ phát triển nhanh trong khu vực Trong sự phát triển đó có sự đóng góp của nguồn vốn FDI Chính phủ Thái Lan đã kết hợp hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI với chiến lược công nghiệp hóa theo từng thời kỳ
Trang 35Để có thể triển khai các dự án FDI nhanh, thuận lợi và có chất lượng, Thái Lan luôn
có những chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn đầu tư trong nước cùng tham gia đầu tư với các dự án FDI
Chính sách thu hút FDI của Thái Lan được đánh giá là một trong những nước
có chính sách khá thông thoáng và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư Thái Lan đã kí hiệp định Bảo hộ đầu tư với 21 quốc gia và kí Hiệp định tránh đánh thuế trùng với hơn 40 nước, đã có tác động khuyến khích các nhà ĐTNN bỏ vốn đầu tư lâu dài tại Thái Lan
Ở Thái Lan, mọi quyết định đầu tư phải qua UB Đầu tư Thái Lan - BOI, với một quy trình xét duyệt và thu hút FDI rõ ràng, áp dụng cho cả nước Thái Lan chia
ra ba khu vực thu hút FDI, trong đó nhà đầu tư muốn tham gia các dự án ở Băng Cốc chỉ được hưởng ít khuyến khích và chính sách thuế cao hơn, trong khi các khu vực ngoài Băng Cốc sẽ được hưởng nhiều khuyến khích hơn Họ đưa ra quy tắc thống nhất, mỗi tỉnh không thể áp dụng một chính sách thuế riêng rẽ, hoặc đưa ra
ưu đãi, trợ cấp nhất định để thu hút FDI
Hình thức đầu tư: Chính phủ Thái Lan bán dần các doanh nghiệp nhà nước
cho tư nhân, đây là một yếu tố góp phần đa dạng hóa các hình thức FDI tại Thái Lan Hình thức FDI phổ biến nhất ở Thái Lan là hình thức liên doanh Chính phủ khuyến khích các công ty của người Thái, người Thái gốc Hoa liên doanh với các công ty của Mỹ, Nhật Bản, và nước khác để triển khai thực hiện đầu tư ở Thái Lan Ngoài ra, hình thức sở hữu 100% vốn FDI được Thái Lan chấp nhận Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Thái Lan cũng áp dụng hình thức BOT Việc đa dạng hóa hình thức đầu tư cũng là một yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của MTĐT ở Thái Lan [45, tr.1]
Đất đai: về nguyên tắc người nước ngoài không được phép sở hữu về đất đai
Tuy nhiên, vẫn tồn tại ngoại lệ cho người nước ngoài được phép mua bán bất động sản, trong đó có đất Như vậy, khác với các nước khác, ở Thái Lan ngoài việc thuê đất, bên Thái Lan góp vốn bằng đất, các nhà ĐTNN mua đất để thành lập doanh nghiệp có vốn FDI Với quy định này cho phép các nhà ĐTNN yên tâm bỏ vốn đầu
tư lâu dài tại Thái Lan
Trang 36Lao động: tuy Thái Lan cho phép các dự án FDI có quyền tuyển dụng lao
động trực tiếp, nhưng do chính phủ chưa có chiến lược dài hạn về đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân có tay nghề kỹ thuật cao, nên hầu hết các vị trí điều hành chủ chốt vẫn do người nước ngoài đảm nhận Nhiều nhà ĐTNN cho rằng: vì chưa có đủ các nhà quản lý Thái Lan hội đủ năng lực đảm trách chức vụ cao Các nhà ĐTNN phải tốn kém trong việc đào tạo và đào tạo lại Một trong những hạn chế quan trọng nhất mà Thái Lan gặp phải là tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng lực lưỡng kỹ sư và công nhân lành nghề trong nhiều lĩnh vực Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này
là do Thái Lan chỉ tập trung vào đào tạo tiểu học và đại học, chưa quan tâm thích đáng đến chất lượng giáo dục phổ thông và trung học dạy nghề Ngoài số học sinh học lên đại học, số học sinh không được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ cao
Thủ tục tuyển dụng lao động: Thái Lan không có quy định riêng về thủ tục
tuyển dụng lao động Các dự án FDI có thể tự quyết định thời hạn, các điều khoản, điều kiện và phương thức, cũng như số lượng tuyển dụng Nếu một doanh nghiệp tuyển trên 10 lao động, thì phải lập nội quy lao động bằng tiếng Thái Đối với tất cả lao động là người nước ngoài phải xin giấp phép lao động tại Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Thủ tục cấp phép cho lao động nước ngoài rất phức tạp Tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian, các nhà ĐTNN có thể thuê “trung tâm dịch vụ một cửa” để xin cấp phép lao động
Quản lý ngoại hối: mọi giao dịch liên quan đến ngoại hối như việc chuyển tiền
vào để góp vốn đều phải được tiến hành thông qua các tổ chức tài chính tín dụng được phép hoạt động ở Thái Lan Không phải tất cả các dự án FDI ở Thái Lan đều được mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng, mà phải căn cứ vào một số điều kiện nhất định Mọi hoạt động chuyển vốn ra nước ngoài phải có sự phê duyệt của cơ quan có chức năng của Thái Lan
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình thực hiện dự án và giải ngân vốn FDI:
Về công tác quy hoạch phát triển theo ngành và theo vùng: kinh nghiệm của
các nước cho thấy định hướng thu hút FDI rõ ràng là cơ sở quan trọng, giúp các nhà
Trang 37ĐTNN chủ động trong việc lựa chọn địa điểm và ngành nghề đầu tư, đảm bảo chất lượng dự án FDI và tạo tiền đề thuận lợi cho hoạt động thực hiện dự án FDI
Về hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp: Hầu như các nước đều cho
phép đa dạng hóa hình thức đầu tư (như BCC, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN, hình thức M&A) và tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển đổi giữa các hình thức đó và loại hình doanh nghiệp (Công ty TNHH, Công
ty Cổ phần, Công ty hợp danh, hay mô hình Công ty mẹ-con) Đặc biệt, chính phủ Thái Lan tạo điều kiện thuận lợi cho việc sát nhập các công ty Thái Lan với các công ty nước ngoài
Về xác lập quyền sử dụng đất: Thái Lan đã cho các nhà ĐTNN mua đất để
thành lập doanh nghiệp Điều này giúp các nhà ĐTNN tránh được khó khăn do giải phóng mặt bằng, mặt khác, các nhà ĐTNN sẽ yên tâm hơn và cam kết đầu tư dài hạn hơn tại Thái Lan
Về hỗ trợ vốn: Tạo điều kiện hỗ trợ về vốn thông qua hình thức tín dụng cho
các dự án FDI hay cho phép các dự án có thể vay nước ngoài, phát hành cổ phiếu, trái phiếu nên đã giúp các nhà ĐTNN khắc phục đáng kể tình trạng thiếu vốn trong quá trình triển khai thực hiện dự án
Về lao động: Hầu như các nước không đưa ra quy định nhằm khống chế số lao
động là người nước ngoài được làm việc trong các dự án FDI Tập trung, chú trọng phát triển đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN CÁC DỰ ÁN FDI Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
2.1.1 Tăng trưởng dòng vốn FDI
Sau khi là thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã có những cải cách liên tục về luật pháp, cơ chế chính sách, đặc biệt là hệ thống pháp luật liên quan đến ĐTNN Hơn nữa, thị trường Việt Nam mở rộng cơ hội hơn khi tiếp tục thực hiện các cam kết một cách đầy đủ trong vai trò là thành viên WTO Đây là cơ hội để tăng trưởng dòng vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian qua Những lợi thế của MTĐT như ổn định chính trị, Chính phủ thực hiện cải cách khung luật pháp, chính sách, thể chế, các địa phương tích cực hỗ trợ nhà đầu tư về đất đai, giải phóng mặt bằng, đầu
tư hạ tầng…khuyến khích nhà đầu tư có niềm tin vào tương lai trung và dài hạn về phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam
Hình 2.1:Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (1988-2008)
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH&ĐT (2009)
Theo kết quả điều tra của UNCTAD, Việt Nam được xếp vào Top 10 nền kinh
tế hấp dẫn nhất thế giới về đầu tư của các tập đoàn xuyên quốc gia trong giai đoạn
Trang 392007-2009 Trong đó, Việt Nam chiếm vị trí hàng đầu về mức độ hấp dẫn đầu tư trong lĩnh vực sản xuất
Dù gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế châu Á (1997), lạm phát và khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), lượng vốn FDI vào Việt Nam vẫn tăng nhanh qua các năm Đặc biệt, trong 5 năm (2001-2005), Việt Nam thu hút 18,5 tỷ USD vốn FDI, năm 2006 đạt trên 12 tỷ USD, năm 2007 vượt ngưỡng 20 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006 Năm 2008, kết quả thu hút nguồn vốn FDI đạt mức
kỷ lục với 64,1 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2007, trong đó có 60,2 tỷ USD vốn cấp mới
Từ năm 1988 đến 1990, Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài mới được thực thi tại Việt Nam, là giai đoạn khởi động thu hút dòng vốn FDI Trong giai đoạn này, có
214 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký đạt 1,58 tỷ USD Vốn đăng ký trung bình 1 dự án khoảng 7,4 triệu USD, trong đó vốn pháp định là 4,7 triệu USD Các lĩnh vực thu hút đầu tư chủ yếu là khách sạn, khai thác thăm dò dầu khí, xây dựng3
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn FDI đăng kí cấp mới tăng 18,3 tỷ USD với 1.409 dự án và đã có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội của quốc gia Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN tại Việt Nam với 1.781
dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; lực lượng lao động đông với giá nhân công rẻ, thị trường mới Vì vậy, ĐTNN
đã tăng trưởng nhanh chóng và có tác động lan tỏa tới các thành phần kinh tế Năm
1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5.5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD) Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước
3
Tất cả các số liệu về FDI ở Việt Nam trong nghiên cứu này được sử dụng từ “Báo cáo tổng kết 20 năm
tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (1988-2008)” của Bộ KH&ĐT (2009) và của Tổng cục
thống kê công bố chính thức (2008) (www.gso.gov.vn) và được tác giả xử lý, tổng hợp, phân tích theo mục đích nghiên cứu.
Trang 40Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng 81.8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46.8% năm 1998), chủ yếu là các dự án
có quy mô vốn vừa và nhỏ Giai đoạn này được coi là thời kỳ suy thoái với lượng vốn FDI đăng ký giảm mạnh, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á (1997) Năm 1999 lượng vốn FDI đăng ký giảm 59.5% so với năm
1998
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm, là thời kỳ điều chỉnh của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm 1999; năm
2001 tăng 18.2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91.6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002 Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45.1% so với năm trước; năm
2005 tăng 50.8%; năm 2006 tăng 75.4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua với 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm
1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng
FDI phân theo ngành:
Trong giai đoạn 1988-2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 67% về số dự án và 60% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ chiếm 22.3% về số dự án và 34.3% về số vốn đầu tư đăng ký Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 10.7% về số dự án và 5.2 về số vốn đăng ký
Trong đó, vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40.6% trong giai đoạn 1991-1995 ; 657% trong giai đoạn 1996-2000 và đạt khoảng 77.3% trong thời kỳ 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2007, tỷ lệ tương ứng là 80.17% và 79.1% tổng vốn tăng thêm Riêng trong năm 2008, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48.85% về số
dự án và 54.12% về vốn đầu tư đăng ký; các dự án thăm dò và khai thác dầu tại Việt Nam thu hút 17.5% tổng vốn FDI Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng