Theo tính toán của các nhà kinh tế, để đáp ứng tiềm năng phát triển kinh tế trong giai đoạn tới, Việt nam cần phải huy động một khối lượng vốn khoảng 40 tỷ đô la Mỹ, trong đó nguồn vốn t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
BÙI XUÂN HƯƠNG
ĐỔI MỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG BỐI
CẢNH MỚI CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS.Trần Thị Thái Hà
Hà nội - 2004
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG 6 1.1 VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 6 1.1.1 Hệ thống tài chính trong nền kinh tế 6 1.1.2 Vai trò, đặc điểm và chức năng của ngân hàng thương mại 10 1.2 KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á TRONG NHỮNG THẬP NIÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 22 1.2.1 Kinh nghiệm của các nước châu Á trong những thập niên tăng trưởng 22 1.2.2 Những xu hướng trong sự phát triển của ngân hàng thương mại trên thế giới 27 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 35 2.1 DIỄN BIẾN CHÍNH CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KHUÔN KHỔ PHÁP
LÝ CHO HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 35 2.1.1 Hệ thống ngân hàng Việt nam trước khi có 2 Pháp lệnh về ngân hàng (1990) 35 2.1.2 Những diễn biến chính của quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam sau khi có 2 Pháp lệnh về ngân hàng 37 2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY 50 2.2.1 Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam 50 2.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại và những vấn đề đặt ra 72
Trang 3CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 76
3.1 BỐI CẢNH MỚI CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 76 3.1.1 Bối cảnh mới của nền kinh tế Việt nam 76 3.1.2.Cơ hội và thách thức của ngân hàng thương mại Việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế 81 3.2 ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 87 3.2.1 Định hướng, quan điểm đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 87 3.2.3 Các giải pháp đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam: 93 KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
Tiếng Việt Error! Bookmark not defined
Tiếng Anh 113
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra với tốc độ lớn và ở hầu hết các lĩnh vực đòi hỏi nền kinh tế Việt nam nói chung, hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng phải có sự đổi mới căn bản và toàn diện để đáp ứng được yêu cầu phát triển mới Ngân hàng thương mại là một tấm gương phản ánh sức mạnh của nền kinh
tế, đang bộc lộ rõ những yếu kém cả về mặt quy mô lẫn chất lượng hoạt động trong khi tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt nam là rất lớn Theo tính toán của các nhà kinh tế, để đáp ứng tiềm năng phát triển kinh tế trong giai đoạn tới, Việt nam cần phải huy động một khối lượng vốn khoảng 40 tỷ đô la Mỹ, trong đó nguồn vốn từ bên ngoài (bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức) ước lượng chỉ chiếm khoảng 40%, 60% còn lại chờ vào các kênh huy động trong nước và chủ yếu là thông qua ngân hàng thương mại bởi năng lực hoạt động của thị trường chứng khoán còn yếu kém Điều này đặt ra cho hệ thống ngân hàng thương mại một nhiệm vụ hết sức nặng
Trang 5Xuất phát từ tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế trước ngưỡng cửa hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tôi lựa chọn đề tài
"Đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại trong bối cảnh mới của nền kinh
tế Việt Nam" làm luận văn tốt nghiệp khoá học Với hy vọng rằng, việc nghiên
cứu đề tài này sẽ đề xuất một số định hướng hoạt động mới cho hệ thống ngân hàng thương mại phù hợp với hoàn cảnh của Việt nam và phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Vì đổi mới lĩnh vực hoạt động ngân hàng thương mại là một vấn đề lớn, được nhiều người quan tâm nên đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này dưới nhiều giác độ khác nhau Các tác giả là nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các nghiên cứu sinh thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng Một số công trình nghiên cứu đã được thực hiện trong thời gian qua:
Năm 2000, Nguyễn Thị Kim Oanh với đề tài: “Đổi mới hệ thống ngân hàng trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã nghiên cứu ở giác
độ hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
Năm 2001, Phạm Thị Nguyệt với đề tài: “Hoạt động của ngân hàng Nhà nước Việt nam trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường” nghiên cứu các vấn
đề liên quan đến thể chế, cơ chế hoạt động với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cũng
đã đề cập một cách khá sâu trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ở một số lĩnh vực và tác động đến hoạt động của ngân hàng thương mại Việt nam như: “Are
Trang 6Vietnam’s Banks ready for the WTO” do nhóm nghiên cứu công tác tại Ngân hàng thế giới thực hiện năm 2004, “Reforming Vietnam’s Banking System: Learning From Singapore’s Model” do tác giả Lê Minh Tâm công tác tại Ngân hàng thế giới thực hiện năm 1999
Tuy nhiên, để thực hiện thành công quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam trong bối cảnh mới vẫn còn nhiều vấn đề cần phải làm rõ
Vì thế, với việc chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ, trên cơ sở có kế thừa và phát triển những kết quả của các công trình đã được công bố, tôi mong muốn hệ thống hoá một số vấn đề lý thuyết, góp phần lý giải thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam và có những đề xuất để cải thiện thực trạng đó
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu luận văn làm sáng tỏ một số nội dung chủ yếu sau:
a) Thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua
b) Cơ hội và thách thức đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế
c) Những đề xuất nhằm đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại trong quá trình điều chỉnh cơ cấu, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế Việt nam trên con đường hội nhập
4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Với tư cách là một đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành kinh tế chính trị, việc nghiên cứu quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam được giới hạn ở những xu hướng lớn mà không đi sâu vào những thao tác nghiệp vụ
Trang 7Quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại được đặt trong bối cảnh của những bước tiến của thị trường tài chính Việt Nam, từ đó làm rõ những thuận lợi cũng như những đòi hỏi của môi trường mới đó đối với hệ thống ngân hàng thương mại
Trong quá trình phân tích, đề tài quan tâm tới kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng của một số nước châu á trong những thập niên tăng trưởng nhanh và thời
kỳ sau khủng hoảng, nêu lên những gợi ý cho Việt Nam
Đề tài đề cập tới các vấn đề chung của ngân hàng thương mại Việt nam, nhưng
sẽ đặc biệt lưu ý tới các ngân hàng thương mại cổ phần như một thành phần quan trọng và có những nét đặc thù
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu môn kinh tế chính trị học, phương pháp duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản kết hợp với phương pháp phân tích, đối chiếu, thống kê, để làm rõ các vấn đề nghiên cứu
Trang 87 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu như sau:
Chương 1 Hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Chương 2 Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 3 Một số phương hướng lớn cho sự đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam
Trang 9CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 VAI TRÕ, CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1 Hệ thống tài chính trong nền kinh tế
Hệ thống tài chính là tổng thể các quan hệ tài chính trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhưng thống nhất với nhau về bản chất, chức năng liên hệ hữu cơ với nhau về sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tồn tại khách quan trong nền kinh tế Chúng ta biết rằng tài chính là các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với các họat động kinh tế xã hội Vì thế, ở mỗi lĩnh vực hoạt động kinh tế khác nhau phát sinh những quan hệ tài chính nhất định Những quan hệ tài chính trong các lĩnh vực khác nhau có vị trí, vai trò riêng biệt trong quá trình phân phối các nguồn tài chính dưới những hình thức như: ngân hàng, bảo hiểm Các hình thức này có các khả năng huy động vốn và sử dụng ngồn vốn xã hội vào những mục đích khác nhau cho sự phát triển kinh tế
Giá trị của sản phẩm xã hội, sau khi được phân phối thông qua thông qua các phạm trù kinh tế: giá cả, tiền lương được đưa vào dòng chu chuyển kinh tế của doanh nghiệp và cư dân Cư dân và doanh nghiệp, sau khi tiêu dùng, đầu tư còn lại một phần tích luỹ để tiếp tục được đầu tư vào các doanh nghiệp dưới các hình thức khác nhau Vốn dưới dạng tiền tệ trong trường hợp này được phân phối lại thông qua phạm trù có đặc thù riêng gọi là tín dụng, là việc tích luỹ lại các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định Vì vậy, tín dụng tiếp tục thực hiện quá trình phân phối giá trị ban đầu nó chính là phạm trù tài chính hay nói cách khác, tài chính trong khi phân phối giá trị và tạo lập các nguồn thu nhập và tích luỹ tiền tệ đã tạo điều kiện cho sự vận động của tín dụng
Trang 10Quá trình vận động của nền kinh tế dẫn tới hiện tượng là thu nhập và chi tiêu của các chủ thể thường xuyên không ăn khớp với nhau về khối lượng và thời gian
Vì thế luôn có những quỹ tiền thặng dư và lại có các chủ thể cần vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng
Dòng vốn chuyển từ nơi có thặng dư tới nơi có thâm hụt thông qua hai kênh:
- Tài chính trực tiếp: Người cần vốn trực tiếp huy động từ người có vốn thặng dư bằng cách phát hành các chứng khoán (công cụ tài chính) Chứng khoán thể hiện quyền được hưởng của người cung ứng vốn đối với thu nhập trong tương lai của người huy động vốn
- Tài chính gián tiếp: Vốn được chuyển từ người cho vay tới người đi vay thông qua trung gian tài chính mà điển hình là các ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại thực hiện điều này bằng cách nhận tiền gửi của người cho vay sau đó
NGƯỜI ĐI VAY
NGƯỜI CHO VAY
- Hộ gia đình
- Các doanh nghiệp
- Chính phủ
-
Trang 11Đối với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cả Chính phủ, nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và chủ yếu qua hai kênh huy động sau:
- Thông qua việc phát hành cổ phiếu, các loại giấy tờ có giá khác: trái phiếu, kỳ phiếu, các doanh nghiệp có thể huy động được một khối lượng vốn trực tiếp để
bổ sung nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình
- Thông qua các trung gian tài chính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng Các ngân hàng thương mại nhận các nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế và cung ứng (cho vay) cho các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp cần vốn để hoạt động
Kênh dẫn vốn gián tiếp có khả năng đáp ứng được yêu cầu của cả người đi vay
và người cho vay bằng cách biến đổi thời hạn Đó là quá trình kết hợp các nguồn vốn ngắn hạn của những người cho vay thành các món vay dài hạn của người đi vay Những người cho vay có thể chỉ có những khoản tiền vốn nhỏ để cho vay trong khi người đi vay lại có nhu cầu về một khoản vay lớn Vấn đề này được giải quyết bằng quá trình tổng hợp khi mà ngân hàng thương mại tập hợp các khoản vốn nhỏ thành một khoản vốn lớn để đáp ứng nhu cầu vay món vay lớn của người đi vay
Khi một người có vốn cho người khác vay trực tiếp, người cho vay phải gánh chịu mọi rủi ro Món vay đó có thể được hoàn trả đầy đủ hoặc người cho vay có thể bị mất toàn bộ số tiền cho vay Các ngân hàng thương mại có thể tránh được tình huống này bằng nguyên tắc phân tán rủi ro Trong khi hầu hết các món vay đều tốt, chỉ có một số ít món vay trở nên tồi tệ, nhưng tác động của một vài món vay bị mất được bù đắp bởi các món vay tốt có khối lượng lớn hơn
Trang 12Trong nền kinh tế thị trường, chức năng trung gian tài chính của ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng, hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng vốn đều thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại Điều này được thể hiện là nguồn vốn do các ngân hàng thương mại cung cấp cho các doanh nghiệp chiếm một tỷ trọng ngày càng cao trong nguồn vốn tín dụng của doanh nghiệp Trong kênh tài chính gián tiếp, người cho vay cuối cùng là những người gửi tiền Rủi ro phát sinh trong trường hợp này người cho vay cuối cùng không phải gánh chịu mà chính là các ngân hàng thương mại Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro chính các trung gian tài chính phải giám sát chặt chẽ các chủ thể kinh tế vay vốn Do thông tin không cân xứng, ngân hàng thương mại có thể không nhận được thông tin đầy đủ về khách hàng vay vốn, họ có thể đưa ra những quyết định không chính xác trong hoạt động cho vay của mình Vì thế, trong nỗ lực tối thiểu hoá rủi ro, các ngân hàng thương mại gắn việc cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế với việc giám sát chặt chẽ trước, trong và sau khi cho vay, thực hiện các biện pháp đảm bảo tiền vay và đa dạng hoá các khoản vay
Trường hợp tài trợ qua kênh tài chính trực tiếp, ngược lại với các khoản vay mà các chủ thể kinh tế nhận được từ ngân hàng thương mại, những người cho vay cuối cùng là công chúng đầu tư và họ phải gánh chịu tất cả những rủi ro phát sinh từ quyết định đầu tư của họ Để giúp các nhà đầu tư ra quyết định, thông tin trên thị trường chứng khoán bắt buộc phải công khai, minh bạch, chính xác và kịp thời
Quá trình điều hoà các nguồn vốn nhàn rỗi từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn được diễn ra trên thị trường tài chính và tại các trung gian tài chính Trên thị trường tài chính, cung và cầu về vốn gặp nhau trực tiếp Chính vì vậy, thì trường
Trang 13của các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội qua đó hình thành nên giá mua và giá bán của các loại cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu
Quá trình dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người đầu tư thông qua thị trường tài chính giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế vì: người có khoản tiền tiết kiệm không phải khi nào cũng sẵn có các cơ hội đầu tư sinh lời, việc dẫn vốn qua thị trường tài chính giúp họ kiếm lời thông qua đầu tư trên thị trường tài chính Ngược lại, những người có nhiều cơ hội sản xuất kinh doanh nhưng không đủ vốn thông qua thị trường tài chính họ có thể huy động vốn để đầu tư
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy, thị trường tài chính có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, cụ thể như sau:
- Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung vốn để đáp ứng các nhu cầu phát triển nền kinh tế Nếu không có thị trường tài chính mà chỉ dựa vào nguồn tích luỹ của mỗi một chủ thể hoặc dựa vào nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại thì không thể đáp ứng được nguồn vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi chủ thể kinh tế nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung
- Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn Việc sử dụng vốn có hiệu quả không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà cả với người đi vay tiền để đầu tư
1.1.2 Vai trò, đặc điểm và chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân với trách nhiệm có hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đáp ứng những nhu cầu về vốn trong nền kinh tế Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ chiết khấu, thanh toán cho khách hàng Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn tiến hành những hoạt động như:
Trang 14- Giao dịch hối đoái về vàng, kim loại quý, đá quí
- Đầu tư vào các loại giấy tờ có giá, theo những điều kiện nhất định của luật pháp từng nước,
- Nhận và cất giữ hộ các loại chứng từ có giá
1.1.2.1 Chức năng của ngân hàng thương mại
Chức năng trung gian tín dụng (Chức năng đi vay để cho vay)
Đây là chức năng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trung gian tài chính là cầu nối cung cầu vốn trong nền kinh tế, đưa nguồn vốn từ những người có vốn nhàn rỗi đến những người có nhu cầu cao về vốn đầu
tư sản xuất, kinh doanh Thực hiện chức năng này, ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay Trên cở sở nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, hay nói cách khác: nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay trên nguyên tắc có hoàn trả
Vốn của các chủ thể trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện dưới các hình thái khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành một chu
Trang 15hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại một thời điểm nhất định có những doanh nghiệp có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và có những doanh nghiệp thiếu vốn Ngân hàng thương mại với vai trò là một trung gian tín dụng đứng ra tập trung
và phân phối lại vốn tiền tệ, điều hoà cung và cầu về vốn trong các doanh nghiệp, góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn
Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại xuất hiện khi ngân hàng thương mại thực hiện các yêu cầu của khách hàng: nhập tiền vào tài khoản hay tiến hành chi trả theo lệnh của chủ tài khoản Một trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng có nguồn gốc xa xưa đó là hoạt động thanh toán hộ cho khách hàng của mình Hoạt động thanh toán của ngân hàng là cơ sở cho hoạt động tín dụng ngày nay Khi một khách hàng thiếu tiền để trhanh toán, ngân hàng sẽ chi trả hộ và khoản trả hộ đó chính là khoản vay của khách hàng Xuất phát từ đó, ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo
sự uỷ nhiệm của khách hàng
Với những dịch vụ thanh toán ngày càng thuận tiện của mình, từ hình thức thanh toán truyền thống tới các hình thức thanh toán điện tử, ngân hàng thương mại đã đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng và đẩy nhanh hoạt động thanh toán, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế trong nước và quốc tế phát triển Đồng thời, do trình độ chuyên môn hoá cao ở các ngân hàng trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên đã hạ thấp chi phí cho quá trình thanh toán, nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế Thông qua hoạt động trung gian thanh toán, các hoạt động về huy động vốn và cho vay của Ngân hàng thương mại được tăng cường và phát huy có hiệu quả Ngân hàng thương mại có đủ điều
Trang 16kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của khách hàng Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi nhất là đối với những món thanh toán có giá trị lớn và với khoảng cách về mặt địa lý bằng cách mở tài khoản tại ngân hàng và yêu cầu ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc uỷ nhiệm cho ngân hàng thực hiện việc thu nhận các khoản tiền vào tài khoản của mình Trong khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng và độc quyền quản lý những công cụ đó (séc, thẻ tín dụng ) đã tiết kiệm chi phí xã hội, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế Thông qua chức năng là trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại quản lý các phương tiện thanh toán (séc, các loại thẻ thanh toán) giảm tối đa sự lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế thông qua công nghệ hiện đại sử dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Trong quá trình thực hiện chức năng thanh toán và chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại có thể biến biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều ngân hàng Ngân hàng này cho khách hàng vay vốn, số vốn đó lại được chuyển sang ngân hàng khác và trở thành vốn tiền gửi làm tăng thêm vốn tiền gửi của các ngân hàng khác thông qua việc thực hiện các bút tệ - bút toán ghi sổ Đây là yếu tố quan trọng nhất góp phần giúp hệ thống ngân hàng thương mại tạo ra cơ số tiền lơn hơn từ một khối lượng tiền nhất định ban đầu Hoạt động này là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc điều tiết lượng tiền cung ứng qua đó điều tiết thị trường tài chính, tiền tệ thông qua các công cụ chính sách tiền tệ của mình Đó là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản
Trang 17tiền gửi lớn hơn nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều ngân hàng
Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân quỹ, ngân hàng thương mại
có thể cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư, tài chính cho các doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, chứng khoán đạt hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí Khi một doanh nghiệp phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp, ngân hàng thương mại có thể đứng ra tư vấn về: lựa chọn loại chứng khoán phát hành, lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán Các ngân hàng thương mại tham gia với tư cách là người phát hành cổ phiếu của mình, phát hành trí phiếu để huy động vốn Trên thị trường thứ cấp, ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ với tư cách
là một trung tâm môi giới chứng khoán: mua bán hộ chứng khoán, bảo quản hộ chứng khoán
Ngoài ra ngân hàng thương mại còn cung cấp dịch vụ quản lý, lưu trữ chứng khoán, thu lãi chứng khoán, mua bán chứng khoán, thu hồi chứng khoán khi đến hạn Một số dịch vụ khác mà ngân hàng thương mại cung cấp như : bảo quản vật có giá của khách hàng, thuê két
Tóm lại, ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng này nhằm mục đích tối
đa hoá lợi nhuận
1.1.2.2 Ưu thế của các khoản vay ngân hàng thương mại
Bí mật thông tin: Trong khi tất cả các cam kết của trái phiếu công ty đều công
khai rõ ràng thì các khoản vay từ ngân hàng thương mại chứa đựng nhiều cam kết ngầm Các khoản vay ngân hàng là những thoả thuận giữa người đi vay và ngân hàng thương mại, các thông tin ở đó có mức độ công khai thấp (dường như chỉ ngân hàng thương mại và người đi vay được biết)
Trang 18Linh hoạt: Khi một hạn mức tín dụng được thiết lập, người đi vay có quyền
quyết định thời gian, số tiền vay thực tế Bằng sự thoả thuận trong các hợp đồng vay vốn, người đi vay nhận được sự tái cho vay hoặc hoàn trả các khoản vay sớm hơn quy định Hơn nữa, khi người đi vay gặp khó khăn về tài chính, ngân hàng thương mại vẫn có thể tiếp tục cung cấp các khoản vay mới bù đắp thiếu hụt tài chính tạm thời Trong thời gian các khoản vay còn hiệu lực, ngân hàng thương mại và người đi vay có thể thương lượng thay đổi lãi suất, thời hạn của các khoản vay nhằm hạn chế tối đa rủi ro mà người đi vay và ngân hàng thương mại có thể gặp phải Ngân hàng thương mại cũng có thể cho thấy, họ có quyền thanh lý các dự án sản xuất kinh doanh của người đi vay không có hiệu quả
Quan hệ lâu dài, lặp lại: Người đi vay cho phép ngân hàng thương mại tiếp cận
những thông tin nội bộ nhằm tạo điều kiện giám sát trong quá trình cho vay Kết quả là các giao dịch được lặp đi lặp lại giữa người đi vay và ngân hàng thương mại Vì thế ngân hàng thương mại có xu hướng duy trì quyền tiếp cận của người vay tới các khoản vay của ngân hàng trong dài hạn, nhờ đó ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí gắn với việc phát triển thêm các khoản vay mới
Hỗ trợ tài chính lâu dài: Tuy nhiên trong quá trình cung cấp các dịch vụ tài
chính trên cơ sở những thoả thuận ngầm như trên, ngân hàng thương mại cần tạo dựng được uy tín của mình bằng cách đáp ứng các yêu cầu của người đi vay khi
họ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính Sự hỗ trợ tài chính lâu dài sẽ giúp cho người đi vay hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định Người đi vay sẵn sàng trả lãi suất cao hơn cho những khoản vay đã được thực hiện bởi các ngân hàng
có uy tín cao để đổi lấy được hỗ trợ về tài chính trong điều kiện rơi vào tình trạng khó khăn Thời hạn cho vay dài của ngân hàng thương mại và theo đó,
Trang 19ngân hàng thương mại tạo được uy tín trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người đi vay
Tiết kiệm chi phí giám sát, nâng cao hiệu quả của các khoản vay: Các ngân
hàng thương mại có khả năng giảm chi phí trong việc thu thập, xử lý thông tin bằng cách có được những thông tin nội bộ của người đi vay thông qua các cách khác nhau: ngân hàng thương mại có quyền tiếp cận nhiều thông tin hơn về người đi vay thông qua việc thực hiện các giao dịch lặp lại, người vay sẵn sàng hơn trong việc cung cấp thông tin về hoạt động của mình cho các ngân hàng thương mại hơn là cho các nhà đầu tư trái phiếu, cổ phiếu đặc biệt khi thông tin
đó có yếu tố bí mật, riêng tư; ngân hàng thương mại có khả năng giảm chi phí thu thập thông tin nhờ tính tiết kiệm nhờ quy mô; ngân hàng thương mại cung cấp các loại tài khoản thanh toán cho người đi vay tạo cơ hội nắm bắt các hoạt động kinh tế và các diễn biến luồng tiền của người đi vay và ngân hàng thương mại thu được nhiều thông tin từ người đi vay hơn nhờ việc có được uy tín của người cho vay đáng tin cậy
Người tham gia Hệ thống Ngân hàng
thương mại
Thị trường trái phiếu
1 Người cho vay cuối cùng Người gửi tiền Công chúng đầu tư
2 Người chịu rủi ro Ngân hàng thương mại Công chúng dầu tư
3 Định chế trung gian Ngân hàng thương mại Công ty chứng
khoán Thông qua những phương tiện khác nhau, ngân hàng thương mại có thể nhận được thông tin nội bộ về người đi vay: các nguồn thu nhập, các cơ hội đầu tư…
Trang 20Mức độ riêng tư trong thông tin về người đi vay là những doanh nghiệp vừa và nhỏ thường cao hơn phản ánh độ nhạy cảm lớn hơn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước những vấn đề khác nhau Trong điều kiện đó, ngân hàng thương mại
có lợi thế so sánh khi cấp tín dụng cho người đi vay bằng cách thu thập thông tin một cách có hiệu quả và đánh giá độ đáng tin cậy của họ, giảm chi phí giám sát Các ngân hàng thương mại có thể giảm được chi phí giám sát bằng cách lựa chọn người cho vay căn cứ vào các khoản cho vay trước đó Nhờ những ưu thế trên trong việc giảm chi phí thu thập thông tin và giám sát người đi vay, ngân hàng thương mại có thể thực hiện có hiệu quả các chức năng trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền
1.1.2.3 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hoạt động của ngân hàng là một trong những hoạt động kinh tế chứa đựng nhiều
rủi ro nhất
- Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro phát sinh trong hoạt động cho vay, bảo lãnh của ngân hàng, khả năng không thu được hoặc thu không hết vốn gốc và tiền lãi cho vay phát sinh hàng tháng Đây là vấn đề được các ngân hàng thương mại quan tâm hàng đầu bởi vì các khoản cho vay của ngân hàng thương mại không thu hồi được cả gốc lẫn lãi sẽ ảnh hưởng không những đến lợi ích của những người gửi tiền mà còn gây phản ứng dây chuyền cho cả nền kinh tế
Chính vì những đặc trưng nêu trên trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng thuơng mại luôn đặt công tác quản lý rủi ro lên hàng đầu thông qua 3 biện pháp mang tính nguyên tắc là: đa dạng hoá, chuyển rủi ro và tìm kiếm thêm thông tin
về các khoản vay
Ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ trên cơ sở đi vay để cho vay thông qua
Trang 21các chủ sở hữu của chúng theo những cam kết đã xác định về khối lượng và thời hạn Là người cho vay, ngân hàng thương mại sử dụng vốn vay để cho vay lại với nguyên tắc là sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và hoàn trả vốn vay và lãi đúng thời hạn như đã cam kết
Khác với các quan hệ mua bán thông thường, quan hệ tín dụng ngân hàng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay mà không trao đổi quyền sở hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong thời gian nhất định, sau khi khai thác giá trị sử dụng khoản vay trong thời gian cam kết, người vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức cho người cho vay Lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng thương mại thu được từ chênh lệch giữa lãi suất huy động đầu vào và lãi suất cho vay Chính vì vậy, làm thế nào để thu hút được người gửi tiền, thoả mãn nhu cầu người vay tiền mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho bản thân ngân hàng
để tồn tại và tăng trưởng luôn là bài toán thường trực đối với các ngân hàng thương mại Nếu tăng lãi suất đầu vào để thu hút tiền gửi thì lãi suất đầu ra cũng phải tăng lên gây bất lợi cho người vay Nếu lãi suất đầu ra thấp sẽ không đảm bảo được lợi nhuận của ngân hàng thương mại
- Rủi ro thanh khoản: rủi ro thanh khoản xẩy ra trong trường hợp ngân hàng thương mại không đảm bảo được khoản tiền thanh toán hay đáp ứng nhu cầu chi trả ngay của khách hàng gửi tiền Việc không thỏa mãn nhu cầu chi trả có thể gây tâm lý lo ngại cho các khách hàng gửi tiền, làm uy tín của Ngân hàng giảm sút Trong điều kiện kinh tế không ổn định có thể dẫn đến cảnh khách hàng rút tiền ồ ạt và đưa ngân hàng đến nguy cơ phá sản Khi ngân hàng cho vay càng nhiều thì khả năng tăng thu nhập càng cao, đồng thời rủi ro thanh khoản cũng tăng lên Trong cơ cấu tài sản có, tiền mặt có độ thanh khoản cao nhất, vì thế
Trang 22ngân hàng sử dụng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng (do tiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập, trong trường hợp bình thường, ngân hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt vừa đủ để đáp ứng nhu cầu rút tiền thường xuyên
mà không gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngân hàng) Ngân hàng có thể làm được điều này vì kinh nghiệm qua công tác ngân quỹ hàng ngày, ngân hàng
có thể dự tính chính xác nhu cầu rút tiền và gửi tiền của khách hàng, trường hợp thiếu hụt tạm thời thì ngân hàng đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Đặc trưng cơ bản của rủi ro thanh khoản tính lỏng của tài sản có ít hơn tài sản
nợ Ngân hàng có thể không đáp ứng đầy đủ yêu cầu rút tiền của người gửi tiền
Để giảm rủi ro thanh khoản, ngân hàng phòng ngừa bằng cách quản lý hiệu quả cấu trúc tính lỏng của tài sản có và quản lý tốt cấu trúc danh mục tài sản nợ Ngân hàng phải thường xuyên dự trữ đủ tài sản lỏng để đáp ứng nhu cầu rút tiền
từ tài khoản và tài khoản tiền gửi giao dịch với tỷ lệ thích hợp (20% trên số dư của các loại tiền gửi đó)
- Rủi ro lãi suất là rủi ro mà ngân hàng thương mại gặp phải khi có biến động về lãi suất Trong khi lãi suất huy động của ngân hàng thương mại thường được ấn định theo từng kỳ hạn cụ thể và phản ứng của người gửi tiền là rất linh họat khi
có thay đổi lãi suất huy động Lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại khác với lãi suất của các công cụ trên thị trường tài chính ở chỗ là lãi suất cho vay được thoả thuận giữa người đi vay và ngân hàng thương mại Chính vì vậy, trong thời hạn của mỗi một khoản vay còn hiệu lực, ngân hàng thương mại không thể
tự điều chỉnh lãi suất theo lãi suất huy động Lãi suất cho vay cao hay thấp tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của từng khoản vay mà ngân hàng thương mại cung cấp cho người đi vay
Trang 23- Rủi ro hối hoá: Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước khác Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa loại tiền tệ của hai nước với nhau Vì vậy, đứng về mặt thương mại, có thể hiểu tỷ giá hối đoái là thước đo về sức mua của đồng tiền nước này so với sức mua của đồng tiền nước khác tại một thị trường và tại một thời điểm nhất định
Tỷ giá hối đoái luôn biến động, sự biến động này có thể diễn ra hàng ngày Từ
đó kéo theo ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước và hầu hết các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, nhất là hoạt động xuất nhập khẩu
Chúng ta đều biết rằng, khi tỷ giá hối đoái tăng tức là số lượng tiền nội địa đổi lấy một đơn vị ngoại tệ tăng (đồng nội tệ bị mất giá) sẽ có tác động kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm sẽ kích thích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu Qua đó cho thấy sự tác động của tỷ giá tới hoạt động xuất nhập khẩu là sự tác động trực tiếp và rất mạnh mẽ Từ đó sẽ có tác động mạnh tới hoạt động cho vay của ngân hàng Bởi lẽ khi có rủi ro về hối đoái xảy ra nó sẽ tác động tới những doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và qua
đó sẽ có tác động tới ngân hàng, sự tác động này là lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào khoản vốn mà khách hàng vay của ngân hàng
1.1.2.4 Vai trò, chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Thông qua việc thực hiện các chức năng trên, ngân hàng thương mại có vai trò sau:
- Điều hoà vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế Bằng nghiệp
vụ tín dụng, ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung kịp thời cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại
Trang 24có thể gia tăng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng vào từng ngành nghề Việc sử dụng vốn vay giúp cho doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong kinh doanh vừa giúp doanh nghiệp ý thức được trách nhiệm trong sử dụng vốn vay; từ
đó, doanh nghiệp có lựa chọn mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh
Là một trung gian thanh toán không dùng tiền mặt, ngân hàng thương mại giúp các chủ thể kinh tế tiết kiệm chi phí, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, giảm giá thành các sản phẩm, nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
- Góp phần ổn định hệ thống tài chính: thông qua chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại đã giảm khối lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế, tăng khả năng kiểm soát lạm phát của ngân hàng Trung ương Khối lượng tiền mặt đi vào ngân hàng thương mại là những công cụ tác động trực tiếp vào hoạt động kinh doanh cuả các chủ thể trong nền kinh tế Ngân hàng trung ương hoạch định chính sách tiền tệ, để thực thi chính sách tiền tệ phải sử dụng các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường mở thông qua hoạt động của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là chủ thể chịu
sự tác động trực tiếp của những công cụ này và đóng vai trò trung gian trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi ngân hàng
và đến nền kinh tế Thông qua ngân hàng thương mại và các định chế tài chính trung gian khác, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được phản hồi qua ngân hàng thương mại đến ngân hàng trung ương để Chính phủ và ngân hàng trung ương có những điều chỉnh thích hợp với tình hình cụ thể của nền kinh tế Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngân hàng thương mại là trung gian thực thi các chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và xây
Trang 25dựng chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là công cụ can thiệp vào nền kinh tế dựa trên cơ chế thị trường và các quy luật vận động của nó thông qua ngân hàng thương mại
1.2 KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á TRONG NHỮNG THẬP NIÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Kinh nghiệm của các nước châu Á trong những thập niên tăng trưởng
Trước cuộc khủng hoảng tài chính xẩy ra ở châu á, tại một số nước: Thái lan, In
đô nê xi a, những dòng vốn ngắn hạn từ nước ngoài chảy vào nền kinh tế tăng nhanh trong khi các khoản cho vay của ngân hàng thương mại hầu hết là khoản vay trung dài hạn hoặc khó chuyển đổi từ trung dài hạn sang ngắn hạn Lý do, các khoản nghĩa vụ của ngân hàng thường là các khoản tiền gửi ngắn hạn và tính lỏng cao, có thể bị rút ra theo yêu cầu; thông tin về người đi vay không đầy đủ và các ngân hàng thương mại phải gánh chịu rủi ro tín dụng, vì loại rủi ro không thể chuyển được sang người gửi tiền Điều này trái ngược hẳn với tài trợ bằng trái phiếu, rủi ro đầu tư được phân tán giữa nhiều người đầu tư và nhà phát hành trái phiếu công ty cho phép công ty tài trợ những dự án rủi ro dài hạn Trên thực tế, các ngân hàng thương mại cố gắng thực hiện sự chuyển đổi thời hạn ở mức độ nào đó dựa vào việc quay vòng các khoản vay ngắn hạn dựa trên việc giám sát trong lúc cho vay đối với các công ty đi vay và giảm rủi ro của các khoản vay bằng cách có được thông tin đáng tin cậy hơn thông qua các giao dịch được lặp
đi lặp lại nhiều lần Sự thất bại của hệ thống ngân hàng Châu á trước giai đoạn khủng hoảng tài chính tiền tệ trong việc thu thập và xử lý thông tin được bộc bộ
ở những lý do cơ bản sau:
- Để đạt được sự ổn định về mặt tài chính và tối thiểu hoá rủi ro tại các ngân hàng thương mại trong việc đương đầu khủng hoảng, các Chính phủ đã cấp
Trang 26những khoản bảo lãnh để các hãng vay vốn ngân hàng trong khi các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản do năng lực hấp thụ các nguồn vốn của chính phủ có hạn và năng lực quản lý của họ là chưa đáp ứng được với quy mô vốn lớn Hậu quả là sự nỗ lực của ngân hàng thương mại trong việc thu thập thông tin và quản lý khách hàng vay vốn đã thất bại và ảnh hưởng lớn đến những
kỹ năng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Khi chính sách này trở nên không khả thi, ngoài tầm kiểm soát, các Chính phủ bảo vệ ngân hàng thương mại bằng cách tạo ra các cam kết là cưú cánh khi hệ thống ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng phá sản
- Các ngân hàng thương mại dựa quá nhiều vào các khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản mà không quản lý quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng vay vốn Nhận thế chấp tài sản là điều cần thiết để mở rộng tín dụng đối với ngân hàng thương mại, nhưng áp đặt cho khách hàng một nguyên tắc là cho vay có sự hoàn trả và sử dụng vốn đúng mục đích như đã cam kết nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn của các ngân hàng thương mại Thêm vào đó, việc thế chấp tài sản là một dấu hiệu về chất lượng tín dụng của người đi vay đối với ngân hàng Ngoài
ra, còn một số lợi thế khác của các khoản vay có tài sản đảm bảo là: tài sản đảm bảo giúp ngân hàng giảm thiểu được mất mát khi mà khách hàng vay vốn bị phá sản, giá trị tài sản thế chấp không bị ảnh hưởng bởi cam kết của khách hàng khi vay vốn Trong khi các quyết định cho vay dựa có tài sản đảm bảo là phổ biến trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thì sự phụ thuộc quá nhiều vào những loại tài sản thế chấp cụ thể (như bất động sản) làm tăng tính dễ đổ vỡ của hệ thống ngân hàng khi ngân hàng trở nên dễ bị tổn thương hơn bởi sự giảm giá của các tài sản thế chấp trong tương lai Giá trị tương lai của tài sản thế chấp là một vấn đề cực khó cho ngân hàng trong quá trình nhận thế chấp Vấn đề liên quan
Trang 27là: các khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo trong khi quyền sở hữu về tài sản không được xác định và bảo vệ một cách đúng đắn và chính xác trong tương lai Điều này đem lại rất nhiều rủi ro cho hoạt động của ngân hàng thương mại khi mà thu nhập chính của họ dựa vào tín dụng
- Các ngân hàng thương mại thường được sở hữu theo mô hình tập đoàn (ở Indonesia, Hàn quốc, Thái lan) Điều này gây cản trở lớn cho các ngân hàng trong việc hoạch định chiến lực kinh doanh cũng như rủi ro mất vốn là rất lớn do đối tượng cho vay thường được chỉ định mà không có đủ điều kiện để ra các quyết định cho vay hợp lý và đầy đủ
- Các quy chế phòng ngừa, việc giám sát cơ chế thực thi không đủ hữu hiệu, Thị trường trái phiếu ở các nước Châu á chậm phát triển xét cả về cung – cầu lẫn lý do thể chế Một yếu tố quan trọng của bên cung là chỉ có rất ít các công ty lớn, có uy tín mà thông tin của họ có thể công khai và chuyển nhượng trên thị trường và nhờ đó những công ty này có thể là những nhà phát hành trái phiếu
Về yếu tố cầu, thị trường trái phiếu khó phát triển nhanh vì các hộ gia đình có khuynh hướng nắm giữ tài sản dưới hình thức các khoản tiền gửi ngân hàng ngắn hạn Như vậy, đối với người đi vay, việc quyết định huy động vốn từ kênh tài chính gián tiếp (ngân hàng thương mại) hay từ kênh tài chính trực tiếp (thị trường chứng khoán) phụ thuộc vào:
- Mức độ nghiêm trọng của sự bất cân xứng thông tin về người cho vay và người vay cuối cùng,
- Số lượng các nhà phát hành và sự quan tâm của các nhà đầu tư
- Sự phát triển của cơ sở hạ tầng thông tin
Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á, các quốc gia phải đặt sự ưu tiên cao đối với việc tăng cường hệ thống ngân hàng nhưng đồng thời phải chú trọng phát
Trang 28triển thị trường trái phiếu công ty bằng cách xoá bỏ những trở ngại có thể để hệ thống ngân hàng thương mại và thị trường trái phiếu có thể bổ trợ cho nhau tránh quá tải trong hoạt động cấp vốn cho nền kinh tế gây nên sự đổ vỡ cho nền kinh
lý thông tin có hiệu quả nhất là trong lĩnh vực tín dụng
- Tăng cường chức năng hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với hoạt động của ngân hàng thương mại
Để xây dựng một hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh an toàn
và hiệu quả, chúng ta có thể tham khảo cách mà Chính phủ Singapore đã thực hiện trong việc cải tổ hệ thống ngân hàng thương mại của nước này
Sau khi tuyên bố độc lập (năm 1965), chính phủ Singapore đã ban hành đạo luật ngân hàng vào năm 1971 và thành lập cơ quan quản lý tiền tệ quốc gia Cơ quan này trực thuộc chính phủ, thực hiện tất cả các chức năng của ngân hàng trung ương, trừ việc phát hành tiền Từ đó, Singapore được biết đến như một trung tâm tài chính quốc tế Hiện tại Singapore có 149 ngân hàng thương mại, trong đó chỉ
10 ngân hàng thương mại thuộc Singapore Ngân hàng thương mại được phép thực hiện tất cả các nghiệp vụ ngân hàng mang tính toàn cầu Trong chiến lược thu hút các ngân hàng quốc tế đến thành lập và hoạt động, và tránh sự cạnh tranh không lành mạnh trong phạm vị thị trường nội địa, có quan quản lý tiền tệ quốc gia đã ban hành các loại giấy phép cho những hoạt động ngân hàng đặc biệt:
Trang 29- Loại ngân hàng thương mại được tiến hành hoạt động tất cả các loại hình dịch
Với mục tiêu đưa Singapore trở thành một trung tâm tài chính hàng đầu ở Châu
á, Chính phủ đã thành lập một có quan chuyên trách quản lý các vấn đề tài chính,
cơ quan quản tiền tệ quốc gia rà soát, ban hành hàng loạt các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện quá trình cải tổ ngân hàng thương mại:
- Duy trì các tiêu chuẩn giám sát, quản lý thận trọng hoạt động của ngân hàng thương mại
- Coi trọng vấn đề kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
- Thi hành các biện pháp quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế
- Các tiêu chuẩn về tính minh bạch trong cung cấp thông tin cho ngân hàng thương mại
Sự tham gia của chính phủ vào hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại: Singapore vẫn duy trì sự tham gia của Chính phủ trong hệ thống ngân hàng thông qua 02 ngân hàng quốc doanh là Ngân hàng phát triển và ngân hàng tiết kiệm bưu điện nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh mà chỉ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và thông thoáng, nhằm tạo cho ngân hàng thương mại tính chủ động hơn trong kinh doanh, tính tự chịu trách nhiệm cao
Trang 30hơn trong kết quả kinh doanh Mục tiêu của Chính phủ hướng cho các ngân hàng
thương mại thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường kinh tế quốc tế,
làm cho các ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả hơn
1.2.2 Những xu hướng trong sự phát triển của ngân hàng thương mại trên
thế giới
1.2.2.1 Ngân hàng thương mại cổ phần giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống ngân
hàng thương mại
Ngày nay, khi mà quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra với tốc
độ nhanh, quá trình chu chuyển vốn giữa các quốc gia xem như một trong những
yếu tố quyết định đối với tiềm năng và khả năng phát triển của mỗi quốc gia Để
có được một vị trí như hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại đã trải qua một
quá trình phát triển không ngừng từ các Ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân nhỏ bé
thành Ngân hàng lớn với nhiều hình thức sở hữu (ngân hàng thương mại cổ
phần) cùng với sự phát triển các hoạt động nghiệp vụ đa dạng của nó
Về bản chất, Ngân hàng thương mại cổ phần là một hình thái công ty cổ phần
Nếu trong nền kinh tế tập trung, nền kinh tế hiện vật thì hình thức này không cần
đến nó, không phù hợp và như vậy có cũng không thể xuất hiện và tồn tại, nhưng
trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần thì lại rất cần đến nó, và đó là môi trường tốt để loại hình này phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần cho phép huy động và tập trung mọi nguồn vốn
trong mọi tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế khác nhau tham gia vào hoạt
động sản xuất kinh doanh Biện pháp huy động vốn qua chế độ cổ phần có nhiều
ưu điểm Chế độ cổ phần là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá, góp phần
làm sống động các hoạt động của hệ thống ngân hàng, cho phép thực hiện chủ
trương tách biệt quyền sở hữu và quyền quản lý, hạn chế sự can thiệp trực tiếp
Trang 31của chính quyền vào hoạt động kinh doanh ngân hàng, qua đó tạo điều kiện để ngân hàng thực sự là chủ thể kinh doanh độc lập và có hiệu quả
Ngân hàng thương mại cổ phần là loại hình có nhiều khả năng trong việc thực hiện quyền chủ động kinh doanh, làm chủ vốn vay và thu hồi vốn vay, làm tròn trách nhiệm về vốn đối với khách hàng
Ngân hàng thương mại cổ phần đã tạo những yếu tố cạnh tranh trong hoạt động dịch vụ ngân hàng, cạnh tranh trên thị trường tiền tệ để nâng cao chất lượng hoạt động và kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng, là động lực của sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Trên thực tế, từ khi các ngân hàng thương mại cổ phần tham gia hoạt động trên thị trường tiền tệ cùng với các loại hình ngân hàng thương mại khác, chất lượng phục vụ khách hàng và chất lượng các dịch vụ ngân hàng ngày được nâng cao đặc biệt là các dịch vụ về cho vay vốn và thanh toán qua ngân hàng
Vốn của ngân hàng cổ phần được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành dưới hình thức cổ phiếu Người góp vốn vào ngân hàng, năm giữ cổ phiếu được gọi là cổ đông Cổ đông của Ngân hàng cổ phần có thể là các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp Nhà nước Cổ phiếu xác nhận phần vốn góp vào ngân hàng, xác nhận quyền sở hữu phần tài sản của ngân hàng, đồng thời xác nhận phần lợi nhuận được hưởng và quyền chi phối và điều hành ngân hàng Nét đặc trưng của cổ phiếu là nó vừa liên quan đến quan hệ sở hữu, vừa liên quan đến quan hệ hàng hoá-tiền tệ Mặc dù cổ phiếu được mua bán, được chuyển nhượng trên thị trường, song cổ phiếu không làm cho người sở hữu vốn bị cách biệt so với người sử dụng vốn đó Thông qua các cổ đông, chức năng của người cho vay và người sở hữu liên kết với nhau Vốn cổ phần là vốn dài hạn về nguyên tắc cổ đông không có quyền rút vốn mà chỉ có quyền chuyển
Trang 32nhượng cổ phần cho người khác, tức ngân hàng chỉ phải trả lãi cho cổ phiếu mà không phải thanh toán cổ phiếu Mặt khác ngân hàng không phải trả lãi cổ phiếu khi kinh doanh gặp khó khăn, đây là điều quan trọng giúp các ngân hàng tăng cường khả năng chống đỡ với các rủi ro ở môi trường bên ngoài
Cũng do nội dung kinh tế của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chất lượng của một ngân hàng thương mại cổ phần phụ thuộc nhiều vào ban quản lý hay nói rộng hơn là phụ thuôc vào cơ cấu tổ chức của nó Các ngân hàng thương mại cổ phần có 2 tổ chức chính là đại hội cổ đông và hội đồng quản trị Thông thường quyền quản lý tối cao thuộc về đại hội cổ đông Tuy nhiên do số cổ đông thường
là lớn nên đại hội cổ đông bầu ra một tổ chức nhỏ làm đại diện đó là Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị thay mặt cho đại hội đồng cổ đông có chức năng chủ yếu là đưa ra các chỉ dẫn mang tính chiến lược, bao gồm các kế hoạch tài chính
và các quyết định đầu tư lớn Do sự phức tạp trong môi trường kinh doanh ngày càng tăng, Hội đồng Quản trị đã phân quyền cho một nhóm điều hành - Ban giám đốc điều hành Do vậy, chất lượng hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần phụ thuộc nhiều vào chất lượng Ban giám đốc điều hành Thực tế cho thấy, người lãnh đạo và các công sự của các ngân hàng thương mại cổ phần đòi hỏi phải có bản lĩnh nghề nghiệp cao và có kinh nghiệm trong công tác ngân hàng Cùng với sự phát triển nền kinh tế, sự phát triển các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
sự phát triển các hoạt động kinh doanh ngân hàng và tiềm lực tài chính là một tất yếu, hay nói cách khác, thị trường hàng hoá ngày càng phát triển và kéo theo việc mở rộng và phát triển thị trường tài chính, thị trường tiền tệ Do sự phát triển mạnh của thị trường tài chính, các loại giấy tờ có giá xuất hiện và phát triển, nhờ đó các ngân hàng cổ phần đã phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn,
mở rộng các hoạt động Như vậy, qua hình thức mua cổ phiếu để sở hữu cổ phần,
Trang 33các ngân hàng đã nhanh chóng phát triển mạnh số vốn và tiềm lực tài chính của mình và qua hình thức này, sở hữu của ngân hàng thực sự trở thành đa dạng với
số người sở hữu là rất lớn Điều quan trọng ở đây là từ sở hữu tư nhân phát triển thành đa sở hữu dưới hình thức sở hữu cổ phần - từ ngân hàng tư nhân thành ngân hàng đa sở hữu, ngân hàng cổ phần, qua hình thức này tính chất sở hữu được xã hội hoá là rất lớn Như vậy từ sở hữu tư nhân thành sở hữu cổ phần là một quy luật tất yếu của sự phát triển và là bước tiến quan trọng của sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội
1.2.2.2 Xu hướng giảm dần sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại ban đầu xuất hiện là các ngân hàng tư nhân với sở hữu tư nhân, một tổ chức trung gian tài chính nhỏ bé sau dần phát triển trở thành những ngân hàng lớn (nhiều hình thức sở hữu với quy mô và phạm vi hoạt động ngày càng được phát triển mở rộng)
Khi nền kinh tế thị trường ngày càng trở nên phát triển hoàn thiện đến một mức
độ nhất định, nền kinh tế hoạt động và chịu sự điều tiết theo các quy luật của chính nó, việc Nhà nước có những hành động can thiệp trực tiếp quá sâu vào hoạt động các ngân hàng thương mại đã gây những ách tắc và hạn chế trong các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, đặc biệt làm triệt tiêu tính năng động của các ngân hàng thương mại Do vậy, về xu hướng Nhà nước ngày càng giảm dần sự can thiệp trực tiếp của mình vào các hoạt động các ngân hàng thương mại thông qua việc rút dần cổ phần của mình tại các ngân hàng thương mại và các cổ phần đó nhừơng lại cho dân chúng tham gia một cách rộng rãi để tận dụng mọi tiềm lực của dân chúng và phát huy tối đa những ưu thế của hình thức tổ chức cổ phần và từng bước xã hội hoá quan hệ sở hữu trong ngân hàng
Trang 34thương mại Nhà nước quản lý và điều chỉnh hoạt động các ngân hàng thương mại thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ, Nhà nước tăng cường can thiệp một cách gián tiếp vào việc quản lý, giám sát hoạt động các ngân hàng thương mại bằng việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế thông qua sự vận động các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường
1.2.2.3 Xu hướng tích tụ và tập trung trong lĩnh vực ngân hàng
Do sự vận động của các quy luật trong nền sản xuất hàng hoá (Quy luật giá trị, Quy luật cạnh tranh, cung cầu ) và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự đổi mới về tổ chức, các ngân hàng nhỏ luôn có xu hướng tích tụ vốn để trở thành các ngân hàng ngày càng lớn, và nhiều ngân hàng tập trung lại thành những ngân hàng khổng lồ chi phối ngày càng nhiều đến đời sống kinh tế xã hội Xu hướng tích tụ và tập trung trong hoạt động ngân hàng và xu hướng hình thành nên các ngân hàng đa sở hữu là 2 xu hướng thống nhất trong quá trình phát triển hoạt động ngân hàng Qua việc tích tụ và tập trung trong hoạt động sẽ hình thành nên các ngân hàng đa sở hữu - đây là xu hướng có tính quy luật do sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá
Việc hợp nhất, sáp nhập và mua lại để hình thành các ngân hàng lớn, những tập đoàn lớn, những ngân hàng xuyên quốc gia, đa quốc gia đã trở thành một xu thế phổ biến trên thế giới Những ngân hàng được hình thành có quyền lực lớn chi phối không chỉ nền kinh tế của một quốc gia mà còn của nhiều quốc gia Quá trình này do sự tác động của nhiều nguyên nhân, song cần phải kể đến là các nguyên nhân chính sau:
- Sự thay đổi về môi trường cạnh tranh và môi trường luật pháp làm cho thị trường tài chính có những đặc điểm mới, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của
Trang 35- Các ngân hàng vấp phải sự cạnh tranh mãnh liệt cả trong thị trường nội địa và quốc tế do quy mô vốn hoạt động và trình độ công nghệ, nhất là khi công nghệ ngân hàng tiên tiến được sử dụng rộng rãi gia tăng áp lực cạnh tranh
- Để duy trì và phát triển, đối phó với những khó khăn trên, các ngân hàng buộc phải cắt giảm các chi phí đến mức thấp nhất có thể, do đó dẫn đến việc sáp nhập
và hợp nhất giữa các ngân hàng thương mại Việc sáp nhập, hợp nhất sẽ giúp họ vừa đạt được mục tiêu này vừa tăng được doanh thu và cắt giảm chi phí đầu tư vào hệ thống thiết bị công nghệ, làm tăng sức mạnh về vốn, mở mang thêm mạng lưới khách hàng, đa dạng hoá sản phẩm, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận Ngoài ra, sáp nhập, hợp nhất sẽ giảm bớt bộ máy hành chính cồng kềnh, tiết kiệm nhân lực, giảm chi phí quản lí hành chính Các cuộc sáp nhập, hợp nhất có thể cho phép tiết kiệm 20-30% chi phí của các ngân hàng trong 2-3 năm liền Một số ngân hàng do nhỏ bé không thể tồn tại cùng với các ngân hàng lớn trong môi trường cạnh tranh quyết liệt, các ngân hàng nhỏ đã bị các ngân hàng lớn thôn tính mua lại
Việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại ngân hàng tỏ ra khá hữu hiệu, mặc dù các công việc này cũng gây ra không ít khó khăn do phải kết hợp giữa các phong cách quản trị khác nhau, hệ thống thông tin không thuần nhất, hoặc do các vấn
đề nhân sự, tiền vốn để mua lại, phân chia quyền lực trong quản lí, định giá tài sản Điều này đòi hỏi phải cân nhắc thận trọng khi sáp nhập, hợp nhất hay mua lại
Gần đây nhất sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực, hàng loạt các ngân hàng nhỏ được hợp nhất, sáp nhập hoặc bị các ngân hàng lớn thôn tính mua lại để trở thành những ngân hàng lớn hơn Bởi lẽ một trong những lý do của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Trang 36khởi đầu là sự sụp đổ các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng yếu kém và từ đó do tác động dây truyền dẫn đến sự sụp đổ của toàn hệ thống Nguyên nhân do trong điều kiện mới với môi trường cạnh tranh quyết liệt và ngày càng phức tạp, các ngân hàng nhỏ không có đủ sức mạnh, không đủ tiềm lực về tài chính để chống
đỡ với những rủi ro của thị trường, trong khi đó cơ chế và hoạt động thanh tra, kiểm soát yếu kém dẫn đến nhiều ngân hàng nhỏ bị sụp đổ
Điều kiện thực tiễn ở Việt nam hiện nay đã cho thấy với nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trường, có quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các quy luật của nền kinh tế hàng hoá của cơ chế kinh tế thị trường luôn tồn tại vận động và phát huy các tác dụng của nó Điều này được thể hiện trong môi trường cạnh tranh ngày càng lớn, tính chất tự do hoá ngày càng cao và như vậy những ngân hàng nhỏ bé, tiềm lực yếu rất khó có thể tồn tại
và phát triển Đặc biệt trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh, tính chất xã hội hoá trong sản xuất và kinh doanh ngày càng cao thì quy
mô phân tán, nhỏ hẹp càng bị lạc hậu và lỗi thời không thể có khả thích ứng để tồn tại trứơc những biến động của môi trường xung quanh Do vậy, có thể khẳng định rằng trong điều kiện nền kinh tế Việt nam hiện nay, việc hợp nhất, sáp nhập giữa các ngân hàng nhỏ để hình thành nên các ngân hàng lớn hơn, với quy mô lớn hơn là phù hợp với quy luật khách quan và đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế, đây cũng là những giải pháp quan trọng trong việc tái cơ cấu các ngân hàng thương mại để các ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển trong điều kiện mới
Tóm lại, sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á, các nước đều thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại liên quan tới cả những vấn đề quản lí vĩ mô hệ thống cũng như những vấn đề quản lí vi mô trong từng ngân
Trang 37hàng Vì vậy các giải pháp thực hiện tái cơ cấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại mà Việt nam có thể tham khảo để thực hiện thành công quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại là:
- Tăng tiềm lực của các ngân hàng Tiềm lực của ngân hàng bao gồm hai khía cạnh:
Tiềm lực hữu hình: là khả năng về vốn tự có, cơ sở vật chất kĩ thuật, phạm vi hoạt động, số lượng cán bộ nhân viên,
Tiềm lực vô hình: thể hiện qua chất lượng bộ máy quản lí, chất lượng cán bộ nhân viên, uy tín và hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng,
- Nâng cao chất lượng điều hành hoạt động của các ngân hàng Việc tổ chức điều hành hoạt động ngân hàng đóng vai trò quyết định đối với sự thành đạt trong kinh doanh ngân hàng Chất lượng điều hành liên quan đến: Bộ máy quản lí điều hành, Tổ chức nhân sự, Quản lí tài sản nợ và tài sản có, Công tác kiểm soát kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
Trang 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1 DIỄN BIẾN CHÍNH CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KHUÔN KHỔ PHÁP
LÝ CHO HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1.1 Hệ thống ngân hàng Việt nam trước khi có 2 Pháp lệnh về ngân hàng (1990)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu bước mở đầu của thời kỳ đổi mới, cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã từng phát huy hiệu quả trong công cuộc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước nhưng trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước suốt nửa đầu thập niên 80 đã tỏ ra kém hiệu quả, kìm hãm sức sản xuất xã hội, làm cho sản xuất đình đốn, nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng Lạm phát phi mã (nếu lấy giá cả năm 1976 là 100 thì năm 1981 là 313,7%, năm 1984 là 1400%, năm 1985 là 2390%) buộc hệ thống ngân hàng phải thực hiện chính sách lãi suất cao làm cho công nợ của các doanh nghiệp càng gia tăng, lãi suất ngoài ngân hàng cũng tăng lên, tình trạng cho vay nặng lãi phát triển càng làm cho người vay không có khả năng hoàn trả cả nợ vay lẫn lãi Thêm vào đó, cùng với việc nhiều doanh nghiệp (mà chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước) làm ăn không hiệu quả, thua lỗ nặng
nề dẫn đến nguy cơ phá sản đã làm cho hệ thống ngân hàng lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn
Đặc trưng nổi bật của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn này là hệ thống ngân hàng một cấp, mang nặng tính bao cấp và được vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, lẫn lộn giữa chức năng quản lý và kinh doanh càng làm cho hoạt động ngân hàng kém hiệu quả, không theo kịp với đòi hỏi của sự phát triển của nền kinh tế
Trang 39Môi trường pháp lý cho việc điều chỉnh mọi hoạt động của hệ thống ngân hàng còn rất sơ khai Cơ sở pháp lý trong thời kỳ này hầu hết là dưới hình thức văn bản dưới luật điều chỉnh từng loại nghiệp vụ cụ thể trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung hiện không còn phù hợp
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế ở Việt nam trong công cuộc đổi mới là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy, những khuyết tật chủ yếu của cơ chế quản lý kinh tế trước đây đã được nhận rõ và về cơ bản đã tìm được hướng khắc phục; việc sử dụng quan hệ hàng - tiền hết sức được chú trọng, hạch toán kinh tế được áp dụng rộng rãi ở mọi ngành, các thành phần kinh tế được thừa nhận cùng phát triển bình đẳng, hệ thống tài chính - ngân hàng bắt đầu được cải tổ, đổi mới ngành ngân hàng trở thành nhân tố tích cực cho công cuộc đổi mới nền kinh tế; vì vậy đến cuối thập niên 80 nền kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu khởi sắc: sản xuất tăng trưởng, hàng hoá trên thị trường dồi dào, phong phú, xuất nhập khẩu tăng lạm phát đã được kìm chế (từ mức lạm phát 3 con số xuống còn 2 con số) tạo điều kiện giảm thấp trong những năm sau
Thực hiện chủ trương chuyển mạnh hoạt động ngân hàng sang hạch toán kinh tế
và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, từ tháng 6/1987 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã cho phép Ngân hàng Nhà nước làm thí điểm việc tách ngân hàng chuyên doanh từ hệ thống Ngân hàng Nhà nước làm nhiệm
vụ kinh doanh tiền tệ - tín dụng và dịch vụ ngân hàng ở một số tỉnh, thành phố tạo nền móng hình thành hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Tuy nhiên, do hệ thống các văn bản pháp lý không đầy đủ, không đồng bộ, không xác định được cơ quan cấp phép và quản lý ngân hàng thương mại và các
Trang 40tổ chức tín dụng hợp tác nên cùng với sự đổ bể của hàng loạt các quỹ tín dụng, các ngân hàng thương mại đã gặp không ít khó khăn, thậm chí nhiều ngân hàng trên bờ vực phá sản Ngoài ra, nhiều ngân hàng thương mại kinh doanh vượt khỏi tầm quản lý, kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Trong bối cảnh đó, Nhà nước đã công bố hai Pháp lệnh về Ngân hàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước
và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) tạo cơ sở pháp
lý cho hoạt động kinh doanh ngân hàng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng
2.1.2 Những diễn biến chính của quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam sau khi có 2 Pháp lệnh về ngân hàng
Hình thành hệ thống các ngân hàng thương mại đa dạng
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam bao gồm nhiều loại hình ngân hàng với những hình thức sở hữu khác nhau, tổ chức và hoạt động dưới một hành lang pháp lý là Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) Xét dưới góc độ sở hữu, chúng ta
có các loại hình ngân hàng sau:
- Ngân hàng thương mại Quốc doanh (100% sở hữu Nhà nước)
- Ngân hàng hợp tác
- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài (100% sở hữu Ngân hàng nước ngoài)
- Ngân hàng liên doanh (Sở hữu hỗn hợp giữa Ngân hàng Việt nam và ngân hàng nước ngoài)
- Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại quốc doanh là loại hình ngân hàng đã được pháp luật
thừa nhận và định rõ địa vị pháp lý từ Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng
và Công ty tài chính quy định cho đến Luật các TCTD Theo Pháp lệnh Ngân