1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa

141 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, Thanh Hoá vẫn là một tỉnh nghèo, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật còn lạc hậu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ QUANG ĐIỆP

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH

TẾ

Ở TỈNH THANH HOÁ

Trang 2

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU……… ………….……… 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ……….……… ……….………. 4

1.1 Cơ cấu kinh tế ……….……… ….……… 4

1.1.1 Khái niệm……… ……… 4

1.1.2 Các tính chất cơ bản của một cơ cấu kinh tế ……….……….……….… 5

1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ……….……… ……… ………… 8

1.2.1 Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế ……….………. 8

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó ……….…… …… 9

1.2.3 Tính quy luật về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ……… ……… 12

1.2.4 Những tiêu chí cơ bản phản ảnh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế … 18 1.2.5 Những nhân tố tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ………… 21

1.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho Thanh Hoá ……….………… 29

1.3.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số địa phương 29 1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Thanh Hoá ……… ……….……… 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở THANH HOÁ TỪ NĂM 2001 - 2007 ……….……… 35

2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thanh Hoá …… 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên ……… ……… ……… 35

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội …… ……….……… 38

2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá từ năm 2001 - 2007 ……….……… 41

2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP ……… 43

2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế ……….……… 44

2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo vốn đầu tư……….………… …… 45

2.2.4 Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ các ngành kinh tế ……… …… 48

2.3 Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2001-2007 ở Thanh Hoá ……… ……… 73

2.3.1 Những kết quả đạt được ……… ……….……… 73

Trang 4

nhân………

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở THANH HÓA TRONG THỜI GIAN TỚI 79 3.1 Bối cảnh kinh tế mới ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá ……….………… 79

3.1.1 Bối cảnh quốc tế ……… ……… 79

3.1.2 Bối cảnh trong nước ……….……….………… ……… 81

3.1.3 Cơ hội và thách thức đối với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá ……… ……… ……… 85

3.2 Quan điểm và phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá trong thời gian tới ……….……… ………

86 3.2.1 Quan điểm và mục tiêu chuyển dịch ……….……… 86

3.2.2 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ……….……… 88

3.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá trong thời gian tới ……….……… 101

3.3.1 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ……… ……….…… 101

3.3.2 Vốn đầu tư ……….……… ……….……… 106

3.3.3 Khoa học kỹ thuật - công nghệ ……….……… ……… 113

3.3.4 Đào tạo và nâng cao chất lượng nhân lực ……… ……… 116

3.3.5 Thị trường ……….……….……… ……… 121

3.3.6 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ……… ……… 122

3.3.7 Cơ chế chính sách……… ……… 123

3.3.8 Công tác lãnh đạo điều hành của chính quyền các các cấp ……… 126

KẾT LUẬN ……… ……… 127

Tài liệu tham khảo ……… ……… 129

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCNKT Cơ cấu ngành kinh tế CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Thanh Hoá nằm ở khu vực Bắc miền Trung, là địa phương giàu truyền thống

cách mạng, nơi được coi là "địa linh nhân kiệt", có nhiều tiềm năng, lợi thế so

sánh về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, nguồn nhân lực dồi dào … để phát triển kinh tế - xã hội Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Thanh Hoá đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao, kinh tế tăng trưởng khá, các mặt văn hoá -

xã hội có điều kiện phát triển Tuy nhiên đến nay, khả năng khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực để phát triển vẫn chưa tương xứng với các tiềm năng hiện

có Do vậy, Thanh Hoá vẫn là một tỉnh nghèo, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật còn lạc hậu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng còn chậm, trình độ của nền kinh tế vẫn ở mức thấp và cơ bản vẫn là tỉnh nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ là chủ yếu, chưa tạo ra những ngành, vùng sản xuất hàng hoá có khối lượng lớn và chất lượng cao, chất lượng tăng trưởng, khả năng hội nhập và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, chưa thật sự phát huy khai thác được thế mạnh của các vùng, miền để phát triển nhanh và bền vững

Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, phân công lao động quốc tế ngày một sâu sắc hơn, sự cạnh tranh giữa các nước cũng diễn ra vô cùng gay gắt Để có thể khai thác được mọi nguồn lực, đem lại hiệu quả và sức cạnh tranh cao cho nền kinh tế thì việc lựa chọn một cơ cấu kinh tế hợp lý là điều rất cần thiết đối với bất cứ một quốc gia hay địa phương nào

Với mục tiêu tổng quát là đến năm 2010 đưa Thanh Hoá thoát ra khỏi tỉnh nghèo, đến năm 2020 đưa Thanh Hoá cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp Đồng thời, trước những yêu cầu mới của công cuộc đổi mới thì việc chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá đang đặt ra nhiều vấn đề bức bách cần phải giải quyết kịp thời Vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, được Đảng bộ

Trang 7

và nhân dân trong Tỉnh đặt ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV

Với ý nghĩa ấy, đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá"

mà tôi chọn lựa nghiên cứu làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Kinh tế Chính trị là hết sức cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Vấn đề cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói riêng

đã có nhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu được công bố, như:

- Ngô Đình Giao: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân" tập II - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1994

- Đỗ Hoài Nam: "Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và phát triển những ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam" Nhà xuất bản Khoa học Xã hội - Hà Nội 1996

- Lê Du Phong - Nguyễn Thành Độ: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới" Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm

ở Thanh Hoá Vì thế, việc nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề Chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá thực sự là rất cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá từ năm 2001 - 2007, tìm ra nguyên nhân của các kết quả đã đạt được, cũng như những tồn tại, hạn chế

để đề ra quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá trong thời gian tới

Trang 8

Để đạt được mục đích trên, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Trình bày cơ sở lý luận về CCKT và chuyển dịch CCNKT

- Phân tích thực trạng chuyển dịch CCNKT ở Thanh Hoá từ năm 2001 - 2007

- Đề ra quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục thực hiện chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành

kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá

- Phạm vi nghiên cứu: Tác giả luận văn tiến hành thu thập số liệu, nghiên cứu

quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá trong khoảng thời gian từ năm 2001 - 2007

5 Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, mà chủ yếu là nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, điều tra, khảo sát, thống kê, mô hình … trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin

và tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ nội dung luận văn

6 Những đóng góp mới của luận văn:

- Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận và kinh nghiệm, luận văn làm rõ tính tất yếu khách quan phải chuyển dịch CCNKT ở Thanh Hoá trong thời gian tới

- Đánh giá kết quả chuyển dịch CCNKT ở Thanh Hoá trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2001 - 2007 Đồng thời, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chuyển dịch CCNKT

- Đưa ra quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch CCNKT ở Thanh Hoá trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh

Trang 9

Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu

ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

1.1 Cơ cấu kinh tế

1.1.1 Khái niệm

Với sự phát triển không ngừng của LLSX đã thúc đẩy phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc hơn Các ngành, lĩnh vực được phân chia theo tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật Khi các ngành, lĩnh vực kinh tế ấy được hình thành, chúng không đứng độc lập với nhau mà luôn tác động qua lại lẫn nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong quá trình tồn tại và phát triển Sự phân công và mối quan hệ hợp tác giữa các bộ phận cấu thành trong một hệ thống kinh tế thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành CCKT

Đến nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về CCKT, tuỳ theo quan điểm và mục đích nghiên cứu Song có thể tổng hợp một số cách tiếp cận cơ bản sau đây:

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: "CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh

vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành"[23, tr.610]

Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, C Mác đã viết: "CCKT

của xã hội là toàn bộ những QHSX phù hợp với tính chất và quá trình phát triển nhất định của LLSX vật chất"[1, tr.7] Như vậy, theo quan điểm của C Mác,

CCKT có cấu trúc bao gồm: Những yếu tố gắn với LLSX (quan hệ giữa họ với tự

nhiên và kỹ thuật) và các nội dung của QHSX (quan hệ giữa người với người trong quá trình tái sản xuất xã hội) hợp thành C.Mác cũng nhấn mạnh, khi phân

tích CCKT phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng Theo Ông,

cơ cấu là một sự phân chia về chất và một tỷ lệ về số lượng của quá trình sản xuất

xã hội

Theo cách tiếp cận hệ thống, CCKT hiểu một cách đầy đủ là một tổng thể hệ

thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua

Trang 10

lại lẫn nhau trong những khoảng không gian và thời gian nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế

Rõ ràng, cách tiếp cận này đã phản ánh được bản chất của CCKT, đó là:

CCKT là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia

CCKT bao gồm số lượng, tỷ trọng các nhóm ngành và các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân

Trong CCKT, giữa các nhóm ngành luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng hướng vào mục tiêu xác định

CCKT không chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa các ngành mang tính cố định hay khuôn mẫu, mà luôn biến đổi tuỳ thuộc vào điều kiện không gian và thời gian xác định CCKT không thể cố định lâu dài mà cần có sự thay đổi thích hợp

(tương thích) với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi đất nước, địa

phương, qua đó hình thành nên một CCKT hợp lý để có thể cho phép khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực hiện có nhằm tạo ra sự phát triển cân đối và bền vững

Kế thừa các quan niệm trên, có thể đi đến định nghĩa về CCKT như sau:

CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành

1.1.2 Các tính chất cơ bản của một cơ cấu kinh tế

Để nhận thức đúng đắn quá trình hình thành và xu thế biến đổi khách quan của CCKT, trên cơ sở đó tìm ra luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế sát thực với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, địa phương trong mỗi giai đoạn nhất định, cần làm rõ một số tính chất chủ yếu sau đây của CCKT

Một là, cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan

CCKT được hình thành trên cơ sở phát triển không ngừng của LLSX và phân công lao động xã hội, do vậy mà nó mang tính khách quan Khi ấy, tất yếu nền kinh tế sẽ hình thành nên một CCKT với tỷ lệ cân đối tương ứng giữa các bộ

Trang 11

khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu đó Theo C Mác:

“Trong sự phân công xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tranh khỏi,

một sự tất yếu thầm kín yên lặng …”[2, tr.58]

Trên thực tế, CCKT chính là sự biểu hiện tóm tắt, cô đọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay địa phương trong từng giai đoạn nhất định Việc xây dựng một CCKT hợp lý phải tuân theo các quy luật kinh tế khách quan, không được áp đặt chủ quan, tự đặt ra cho các ngành những vị trí, tỷ

lệ không phù hợp với nhu cầu thực tế và xu thế phát triển của xã hội Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vội nhằm nhanh chóng tạo ra một CCKT theo ý muốn thường dẫn đến những hậu quả khôn lường, bởi lẽ sai lầm về CCKT là sai lầm lớn về chiến lược, rất khó có thể khắc phục hậu quả

Hai là, cơ cấu kinh tế mang tính chất lịch sử - xã hội cụ thể

Sự biến đổi của CCKT luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của LLSX, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị - xã hội của từng thời kỳ CCKT được hình thành khi quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được xác lập một cách cân đối và sự phân công lao động xã hội diễn ra một cách hợp lý

Sự vận động và phát triển không ngừng của LLSX là xu hướng phổ biến ở mọi quốc gia Song, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch sử, ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau Sự khác nhau đó bị chi phối bởi QHSX, đặc trựng văn hoá -

xã hội, các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc … Ngay như ở những nước có hình thái kinh tế - xã hội giống nhau, song cũng có sự khác nhau trong việc hình thành CCKT, bởi vì các điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội và quan điểm chiến lược

ở mỗi nước là khác nhau

Do vậy, sự hình thành CCKT chẳng những mang tính khách quan mà còn mang tính lịch sử - xã hội cụ thể Điều đó đòi hỏi chủ thể quản lý nền kinh tế là Nhà nước không chỉ cần có khả năng nhận thức đúng đắn các quy luật kinh tế mà còn biết cách vận dụng chúng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước Muốn vậy, Nhà nước cần đánh giá chính xác các nguồn lực hiện có ở trong nước

và ngoài nước, tìm ra phương thức khai thác có hiệu quả các nguồn lực ấy trên cơ

Trang 12

sở phát huy lợi thế so sánh của đất nước để hình thành nên một CCKT hợp lý nhằm không ngừng nâng cao sức sản xuất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là trong điều kiện quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày càng diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc

Ba là, cơ cấu kinh tế có tính động

Theo quan điểm của Triết học Mác-xít, mọi sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng Do vậy, CCKT cũng không thể nằm ngoài quy luật biến đổi khách quan đó Khi một CCKT được hình thành nó cũng có sự

ổn định tương đối, nhưng bên trong nó luôn có sự biến đổi không ngừng cho phù hợp sự biến đổi của LLSX và phân công lao động xã hội LLSX ngày càng phát triển, con người ngày càng văn minh, khoa học kỹ thuật - công nghệ ngày càng hiện đại, trình độ chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội ngày càng cao, tất yếu sẽ làm cho CCKT biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn Khi đó,

nó cho phép nền kinh tế khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực phát triển, nâng cao năng suất lao động, tạo ra khối lượng hàng hoá lớn với chất lượng ngày càng cao, chủng loại mẫu mã hàng hoá phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội

Trong một CCKT, các bộ phận hợp thành cũng luôn biến đổi và có tác động

tương hỗ lẫn nhau, bộ phận kinh tế phát triển hơn sẽ có tác dụng như “đầu tàu"

kéo các bộ phận kinh tế kém phát triển biến đổi theo Khi các bộ phận kinh tế này tích luỹ đủ về lượng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất, và khi đó, một CCKT mới ra đời sẽ mang trong mình nhiều tính vượt trội hơn so với CCKT trước đó Tuy nhiên, CCKT không biến đổi một cách cơ học mà nó có tính ổn định tương đối trong một thời gian nhất định để đảm bảo cho sự phù hợp với quá trình hình thành

và phát triển của nó một cách khách quan Bởi vì, nếu có sự thay đổi thường xuyên, CCKT sẽ tạo ra sự bất ổn định trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi

và tiêu dùng, gây tổn thất cho nền kinh tế

Trang 13

Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng luôn diễn ra theo quy luật phát triển

từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến này càng hoàn thiện hơn Sự biến đổi ấy

dù diễn ra nhanh hay chậm cũng cần phải có một khoảng thời gian nhất định đủ

để tích luỹ về lượng, tạo ra sự biến đổi về chất, sinh ra sự vật mới tiến bộ hơn Một CCKT mới ra đời không thể từ hư vô, mà nó là kết quả của sự biến đổi dần dần từ CCKT cũ trên cơ sở kế thừa những nhân tố còn phù hợp, đào thải những nhân tố lạc hậu và bổ sung thêm ngày càng nhiều những nhân tố tiên tiến hơn Tính tất yếu khách quan này trước hết đòi hỏi chủ thể quản lý nền kinh tế cần có sự tác động hợp lý trên cơ sở tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan, vận dụng linh hoạt và phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia, địa phương để thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch CCKT theo hướng tiến bộ Trong hoạt động thực tiễn, cần tránh sự nóng vội, áp đặt chủ quan, duy ý chí vì như vậy sẽ kìm hãm sự chuyển dịch CCKT theo hướng tiến bộ

1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.2.1 Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế

Từ sự phân tích lý luận về CCKT ở trên, chúng ta có thể hiểu: CCNKT là tổ

hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân

CCNKT là một trong những thước đo quan trọng phản ánh trình độ phát triển của LLSX và phân công lao động xã hội của mỗi quốc gia

Khi nghiên cứu về CCNKT của một quốc gia, người ta thường phân tích 3 nhóm ngành chính là nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ (ngành cấp I) Tuỳ theo mục đích, tính chất, mức độ nghiên cứu mà có thể chia ra các phân ngành (ngành cấp II) như: trồng trọt, chăn nuôi… trong nông nghiệp; cơ khí, luyện kim, năng lượng … trong công nghiệp; ngành cấp III (lúa, màu …) trong trồng trọt v.v…

Sự vận động của các ngành kinh tế và mối liên hệ của nó với nhau vừa tuân theo quy luật chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia

Vì vậy, mục đích nghiên cứu CCNKT là nhằm tìm ra cách thức duy trì tính tỷ

lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn

Trang 14

của quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

CCNKT là một bộ phận cơ bản cấu thành cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Nó

là một phạm trù trừu tượng, có quan hệ phức tạp với các bộ phận kinh tế khác, nên muốn nắm vững bản chất của CCNKT và đưa ra được các giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch CCNKT nhanh và hiệu quả cũng cần xem xét, làm rõ bản chất của các bộ phận kinh tế hợp thành khác Đó là CCKT vùng lãnh thổ và cơ cấu TPKT

Nhưng vì CCNKT là nội dung trụ cột phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế, nó chiếm vị trí rất quan trọng nên đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu vào những vấn đề liên quan đến CCNKT

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó

1.2.2.1 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

CCNKT không thể cố định, bất biến mà liên tục vận động, biến đổi để phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của từng quốc gia, địa phương trong mỗi thời kỳ nhất định Sự thay đổi đó có thể gọi là chuyển dịch CCNKT Đây là một tất yếu khách quan, xuất phát từ sự phát triển của LLSX và phân công lao động xã hội, trong đó chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ

CCNKT cần phải chuyển dịch để phù hợp với sự phát triển mau lẹ của môi trường kỹ thuật - công nghệ bên ngoài, quá trình chuyển dịch sẽ làm cho một số ngành lạc hậu mất đi, một số ngành mới ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất

và tinh thần của xã hội trong giai đoạn phát triển mới Tốc độ phát triển của các ngành thường diễn ra không đồng đều, theo quy luật của sự chọn lọc tự nhiên thì những ngành nào thật sự cần thiết cho quốc kế dân sinh sẽ phát triển nhanh, và ngược lại những ngành lạc hậu thì tốc độ phát triển sẽ chậm dần lại, quy mô ngày càng bị thu hẹp, thậm chí bị tiêu vong Sự phát triển không đồng đều ấy dẫn đến

sự thay đổi CCNKT quốc dân

Như vậy, chuyển dịch CCNKT chính là sự vận động, phát triển của các ngành

Trang 15

để phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của LLSX và phân công lao động xã hội

Trên bình diện kinh tế vĩ mô, chuyển dịch CCNKT là kết quả của sự vận động, phát triển của ba ngành chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Sự thay đổi CCKT phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, được biểu hiện chủ

yếu trên hai mặt là: Thứ nhất, LLSX càng phát triển càng tạo điều kiện cho phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc hơn; và thứ hai là, sự phát triển của phân

công lao động xã hội đến lượt nó lại càng làm cho mối quan hệ kinh tế thị trường được củng cố và phát triển Như vậy, sự thay đổi về chất và lượng của CCKT, đặc biệt là CCNKT phản ánh trình độ phát triển của LLSX xã hội, và trong thời kỳ CNH, HĐH nó phản ánh mức độ đạt được của quá trình công nghiệp hoá Chính

vì vậy, ngày nay kinh tế học coi chuyển dịch CCKT là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế Sự khẳng định này là một bước tiến quan trọng trong nhận thức lý luận và tư duy chính sách kinh tế Bởi vì, thực tế cho thấy rằng, có nhiều quốc gia tuy đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

(tức là chỉ số gia tăng GDP, GNP hay GDP/người, GNP/người cao) nhưng cấu

trúc (cơ cấu) của nền kinh tế vẫn ít có sự thay đổi, thậm chí có sự tách rời giữa

khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại với khu vực nông nghiệp lạc hậu, và vì vậy, khu vực nông nghiệp với đông đảo nông dân nghèo khó vẫn không được chia

sẻ những thành quả của tăng trưởng kinh tế

Ngày nay, với sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá, thế giới đã bắt đầu bước sang kỷ nguyên nền kinh tế tri thức, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã làm cho quá trình chuyển dịch CCKT đi theo xu hướng tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong

tổng nguồn lao động xã hội tăng, trong khi tỷ trọng của nông nghiệp (cũng tính

trong GDP và tổng nguồn lao động xã hội) giảm Tỷ trọng các ngành công nghệ -

kỹ thuật mới tăng lên nhanh chóng và dần chiếm ưu thế, tỷ trọng các ngành truyền thống giảm dần Các quốc gia đi đầu trong lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường sẽ giành vị trí thống trị, áp đảo trong nền kinh tế khu vực và thế giới Đồng thời, dân cư thành thị tăng,

Trang 16

dân cư nông thôn giảm Sự thay đổi của CCKT phản ánh mức độ thay đổi của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển nhanh hơn và thay thế dẫn những khu vực sản xuất kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp Điều đó làm cho các quốc gia cũng phải có chính sách điều chỉnh CCKT cho phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu

1.2.2.2 Ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Chuyển dịch CCNKT luôn là một trong những vấn đề then chốt, đóng vai trò

rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Một là, phát huy các

lợi thế so sánh để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển của quốc gia, địa phương như về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, nguồn nhân lực, trên cơ sở đó tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phân bổ những nguồn lực từ

khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao hơn Hai là, tạo ra sức

sản xuất hàng hoá với khối lượng lớn, chất lượng cao, đa dạng về chủng loại để

đáp ứng nhu cầu cho nhân dân và xuất khẩu Ba là, góp phần tạo ra nhiều công ăn

việc làm và không ngừng tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tạo cơ hội thuận lợi cho mọi thành phần trong xã

hội vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật Bốn là, góp phần

nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mở ra cơ hội cho các ngành tiến hành CNH, HĐH, nâng cao trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật - công nghệ cao

và phương thức quản lý tiên tiến vào các hoạt động sản xuất - kinh doanh, mở ra

cơ hội để thâm nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới…

Việt Nam đã đạt được nhiều thành công vì đã có sự chuyển dịch CCNKT đúng hướng Đảng và Nhà nước ta chủ trương giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng

tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, thực hiện CNH, HĐH đất nước Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 24,53% năm 2000 xuống còn 20,30% năm 2007; công nghiệp - xây dựng tăng từ 36,73% năm 2000 lên 41,58% năm 2007, dịch vụ giảm nhẹ từ 38,74% năm 2000 xuống còn 38,12% năm 2007 Điều đó đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt khá cao, với mức bình quân giai đoạn

Trang 17

Chuyển dịch CCNKT ở Việt nam trong thời gian qua đã cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân Từ một quốc gia thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới Điều đó càng có ý nghĩa hơn khi hiện nay việc thiếu lương thực ở nhiều quốc gia khác là một vấn đề nan giải, rất khó giải quyết Hơn nữa, năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của các ngành kinh tế được nâng lên đáng kể, tạo ra tiền đề quan trọng để bước vào hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vấn đề chuyển dịch CCNKT ở Việt Nam hiện nay còn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như: chưa đầu tư đúng mức cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, vẫn còn nặng

nề về công nghiệp sử dụng nhiều lao động, quá trình hiện đại hoá chưa được quan tâm đúng mức, chưa xác định được cơ cấu đầu tư hợp lý Ngành công nghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng, cơ bản vẫn là các ngành sử dụng nhiều lao động, chất lượng chưa cao và vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế Chính vì vậy

làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá công nghiệp thấp, tình trạng "thua trên sân

nhà" diễn ra phổ biến

Ngành nông nghiệp về cơ bản vẫn sản xuất theo phương thức truyền thống, chưa tạo ra được nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, chuyển dịch CCKT nông nghiệp diễn ra chậm chạp, trình độ sản xuất lạc hậu … nên năng suất lao động thấp, chất lượng hàng hoá không cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người nông dân, tầng lớp chiếm gần 70% dân số cả nước

Các ngành dịch vụ cao cấp có hàm lượng chất xám cao phát triển chậm, đóng góp vào GDP còn nhỏ

Tất cả những điều đó đòi hỏi chuyển dịch CCNKT ở Việt Nam diễn ra nhanh hơn, làm cho nền kinh tế đất nước giữ vững nhịp độ tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững trong tương lai

1.2.3 Tính quy luật về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Mọi sự vật, hiện tượng đều có quy luật vận động và phát triển vốn có của nó Các ngành kinh tế cũng không nằm ngoài quy luật đó, khi đã ra đời chúng cũng

có quy luật hoạt động nhất định, không theo ý muốn chủ quan của con người Vì

Trang 18

lẽ đó, con người chỉ có thể khám phá ra quy luật vận động của chúng, từ đó có cách thức tác động phù hợp để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch theo hướng có lợi chứ tuyệt nhiên không thể làm trái ngược quy luật

1.2.3.1 Quy luật biến đổi chung của các ngành kinh tế vĩ mô

CCNKT luôn có sự biến đổi và phát triển không ngừng theo nguyên lý của sự phát triển là từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn

Các bộ phận hợp thành CCNKT là các ngành kinh tế vĩ mô (hay ngành cấp I),

giữa chúng đều có mối liên hệ gắn bó hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra những điều kiện, tiền đề cho nhau trong quá trình phát triển Sự ảnh hưởng ấy vừa thống nhất, vừa đấu tranh nhau do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong một chỉnh thể CCNKT, là nguyên nhân của sự phát triển Quá trình đó diễn ra tuần tự từ sự tích luỹ về lượng đến sự nhảy vọt về chất Cách thức của sự phát triển là phủ định những nhân tố lạc hậu, kế thừa những nhân tố hợp lý và bổ sung thêm những nhân tố mới để hình thành nên một CCNKT tiến bộ hơn

Trên thực tế, các ngành kinh tế vĩ mô vận động theo xu hướng chung là: Tỷ

trọng ngành nông nghiệp giảm tương đối (có thể tăng tuyệt đối), tỷ trọng ngành

công nghiệp và dịch vụ tăng tương đối trong cơ cấu GDP

Xu hướng chung ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay là chuyển dịch CCNKT theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật cao và ngành dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, ưu tiên phát triển những ngành tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường

Về bản chất, đây là sự chuyển dịch từ khu vực có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất lao động cao hơn để tái cơ cấu lại nền kinh tế, ngành kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước trong

xu thế toàn cầu hoá để tạo ra tốc độ phát triển nhanh và bền vững Tính phổ quát này do tính chất ưu việt trong sản xuất công nghiệp và dịch vụ quyết định Bởi vì:

Nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thiên nhiên,

có độ rủi ro cao, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp, qui mô sản xuất nhỏ

Trang 19

rút bớt các nguồn lực dành cho nông nghiệp như lao động, đất đai, vốn … để chuyển sang khu vực công nghiệp, dịch vụ - nơi có khả năng sử dụng nguồn lực

ấy với hiệu suất sinh lời và hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn Tuy nhiên, trên thực

tế thì không nhất thiết xảy ra như vậy, ngành nông nghiệp vẫn có thể tăng cả tuyệt đối và tương đối tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, miễn là khi đó nó vẫn mang lại giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế cao Chẳng hạn, có những lĩnh vực nông nghiệp khi được đầu tư đúng mức về hạ tầng kinh tế kỹ thuật, nhất là được áp dụng khoa học

kỹ thuật - công nghệ hiện đại vào sản xuất thì vẫn mang lại hiệu quả và giá trị gia tăng cao Do đó, trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển các ngành kinh

tế cần nhận thức sâu sắc rằng, những ngành, lĩnh vực nào có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, có thể cạnh tranh được trên thị trường thì vẫn nên tập trung đầu tư phát triển, chứ không nhất thiết là trong nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ Khu vực công nghiệp, với tính ưu việt của nó trong sản xuất, có thể tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá quy mô lớn, chất lượng cao, phương thức tổ chức sản xuất và quản lý hiện đại nhờ áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ, cho phép sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào, tạo ra năng suất lao động và giá trị kinh tế cao, do đó cần ưu tiên đầu tư phát triển

Ngày nay, đa số các nước đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp và đang chuyển sang giai đoạn văn minh hậu công nghiệp, với sự phát triển nhanh nền kinh tế dịch vụ và kinh tế tri thức Quá trình ấy được thúc đẩy mạnh mẽ bởi xu thế

toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới (đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, thương mại và

đầu tư) dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công

nghệ, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, đã làm cho các ngành công nghệ cao và kinh tế dịch vụ phát triển rất mạnh mẽ, đã và đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của thời đại, vì nó cho phép nâng cao năng suất lao động nhanh, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn, đáp ứng được nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của xã hội

Lịch sử cũng cho thấy, các nước có trình độ phát triển cao hiện nay như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức và một số nước mới nổi lên vài thập kỷ gần đây như Hàn Quốc, Trung Quốc … cũng đã có sự chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế quốc dân

Trang 20

từ một nước nông nghiệp sang công nghiệp và ngày nay là công nghiệp, dịch vụ Tính tất yếu này là kết quả của sự phát triển LLSX và trình độ phân công lao động xã hội ngày càng cao Nền văn minh nông nghiệp chỉ tồn tại khi trình độ phát triển của LLSX còn thấp kém, nhưng khi LLSX phát triển đến một mức độ nào đó dựa trên những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ sẽ làm cho sức sản xuất xã hội cao hơn, phân công lao động xã hội sâu sắc hơn và tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi phương thức sản xuất, và nền văn minh công nghiệp ra đời LLSX cứ liên tục phát triển làm cho nền văn minh hậu công nghiệp ra đời Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đang trong quá trình CNH, HĐH thì sự chuyển dịch CCNKT cũng phải diễn ra theo quy luật này

Tất nhiên, là nước đi sau nên Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện chiến lược "đi

tắt", "đón đầu" để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước, chuyển dịch CCKT

phù hợp với điều kiện mới của đất nước và xu thế phát triển của thời đại bằng cách mở cửu nền kinh tế, chủ động tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhằm phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực để đưa đất nước phát triển nhanh, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp như mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đưa ra

1.2.3.2 Quy luật biến đổi trong nội bộ các ngành kinh tế

Trong mỗi ngành kinh tế vĩ mô được cấu thành từ nhiều phân ngành nhỏ hơn theo sự phân công lao động, thể hiện tính chuyên môn hoá ngày càng cao Do tính chất đặc thù về đối tượng sản xuất mà các phân ngành ấy cũng có tốc độ tăng trưởng và phát triển không đồng đều nhau, tuỳ theo từng điều kiện và từng thời kỳ

cụ thể

Về mặt lượng, các phân ngành có thể biến đổi theo hướng tăng lên hoặc giảm

đi tuỳ theo điều kiện sản xuất ở các thời kỳ khác nhau

Về mặt chất, trong một ngành kinh tế, những phân ngành nào có trình độ sản

xuất cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn thì sẽ ngày càng phát triển, còn những phân ngành nào có năng suất lao động thấp, hiệu quả kinh tế kém thì sẽ phát triển chậm, qui mô sẽ ngày một thu hẹp lại và thậm chí bị tiêu vong Cụ thể:

Trang 21

- Trong ngành nông nghiệp: Ngành trồng trọt có xu hướng giảm tỷ trọng trong

cơ cấu GDP vì đây vẫn là ngành hoạt động phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên, hiệu quả kinh tế thấp Hơn nữa, cùng với tốc độ CNH, HĐH ngày càng gia tăng

sẽ làm cho diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp lại, lực lượng lao động sẽ chuyển dần sang khu vực công nghiệp và dịch vụ do khu vực này tạo

ra việc làm ổn định và thu nhập cao hơn Ngành chăn nuôi sẽ tăng nhanh hơn và dần dần chiếm ưu thế do tỷ suất lợi nhuận của ngành này vẫn cao hơn ngành trồng trọt, yêu cầu quy mô vốn không lớn, và quan trọng là nhiều người dân có thể tham gia để tận dụng quỹ thời gian nông nhàn và các sản phẩm từ trồng trọt để phát triển chăn nuôi Khi nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển theo cơ chế thị trường thì tất yếu ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp cũng sẽ phát triển nhanh để đáp ứng các nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp

Ngành lâm nghiệp tuy có đóng góp nhỏ trong cơ cấu GDP, song cũng là ngành đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bời vì nó cho phép giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nhất là khu vực miền núi còn khó khăn Việc bảo vệ rừng, trồng rừng và khai thác vốn rừng hợp lý không những cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, bảo đảm đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sống, hạn chế thiên tai mà còn mang lại giá trị kinh tế cao

Trong ngành thuỷ sản, tốc độ tăng trưởng của ngành khai thác và nuôi trồng đều tăng, những về lâu dài, ngành nuôi trồng sẽ phát triển nhanh hơn và dần chiếm ưu thế trong tỷ trọng GDP Điều này do nguồn đánh bắt thuỷ sản là có giới hạn, ý thức khai thác nguồn lợi thuỷ sản của người dân chưa cao, chưa theo hướng khai thác và phát triển nguồn lợi thuỷ sản một cách bền vững Trong khi nhu cầu của xã hội về thuỷ sản ngày càng tăng cao, để đáp ứng được cần phải chủ động đầu tư nuôi trồng thuỷ sản

- Trong ngành công nghiệp: Công nghiệp khai thác mỏ sẽ dần dần thu hẹp lại

do sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là những loại tài nguyên không thể tái sinh như dầu mỏ, khí đốt, than, quặng kim loại …

Công nghiệp chế biến nói chung sẽ phát triển nhanh chóng, phong phú về loại hình, bởi vì quy mô vốn để các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này không

Trang 22

nhất thiết phải lớn, có thể là nhỏ và vừa Lĩnh vực hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến cũng rất nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều đối tượng khác nhau có thể gia nhập thị trường Công nghiệp chế biến hiện nay đang là ngành tạo

ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động nên được quan tâm đầu

tư nhiều hơn

Về lâu dài cũng rất cần thiết phát triển công nghiệp nặng, vì đây là ngành trụ cột trong nền kinh tế, là nơi sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng cho

xã hội Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, cần có chính sách phát triển công nghiệp nặng phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể để tạo ra các động lực cho nền kinh tế phát triển bền vững

- Trong lĩnh vực dịch vụ: Lĩnh vực này sẽ phát triển rất nhanh chóng ở mọi

quy mô và cấp độ, với nhiều đối tượng tham gia và ngày càng chiếm tỷ phần lớn trong cơ cấu GDP Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, nhiều ngành dịch vụ cao cấp sẽ phát triển như tài chính, ngân hàng, đầu tư, thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, tư vấn, an sinh xã hội, du lịch, giáo dục - đào tạo … để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của nền sản xuất xã hội Điều này mở ra nhiều cơ hội cho các nước đi sau tiếp cận và thực hiện chuyển dịch CCKT, nhất là khi trên thế giới đã có nhiều nước bước sang giai đoạn phát triển nền kinh tế tri thức và kinh tế dịch vụ

Việc nắm được xu thế phát triển trong nội bộ các ngành là để xác định lợi thế

so sánh của từng ngành nhỏ, từ đó tập trung đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất,

bố trí lại và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo ra giá trị kinh tế cao, giảm chi phí sản xuất và không ngừng nâng cao tính linh hoạt sức cạnh tranh cho nền kinh

tế trong hội nhập quốc tế

1.2.3.3 Tính đặc thù về chuyển dịch CCNKT đối với một địa phương

Mỗi địa phương có các điều kiện khác nhau về tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống, kinh nghiệm sản xuất, lực lượng lao động, tập quán văn hoá … nên việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chuyển dịch CCNKT nói riêng cũng mang tính đặc thù và không nhất thiết phải tuyệt đối tuân

Trang 23

đánh giá đúng các điều kiện cụ thể của địa phương, tìm ra những ngành, lĩnh vực nào có lợi thế so sánh để xây dựng một CCNKT hợp lý, ở đó cho phép khai thác hiệu quả nhất các nguồn lực về tự nhiện, kinh tế - xã hội, văn hoá, lao động … nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hoá

Theo lôgíc đó, một địa phương có thể hình thành một CCKT không cân đối,

tức là không nhất thiết phải đầu tư phát triển tất cả các ngành, mà chỉ nên tập trung đầu tư phát triển những ngành và phân ngành mà địa phương có lợi thế trong mối quan hệ tương tác với bên ngoài Điểm đặc thù này là do không gian phát triển, các điều kiện về tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học công nghệ … ở mỗi địa phương là khác nhau và có quy mô nhỏ hơn nhiều so với cấp quốc gia

Việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chính sách chuyển dịch CCNKT nói riêng phải dựa trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội của cả nước, đặt trong mối tương quan với chiến lược phát triển vùng miền Tuy nhiên, trên nền tảng chung ấy, các địa phương có thể vận dụng linh hoạt để đưa ra chiến lược chuyển dịch CCNKT sát thực với tình hình cụ thể của địa phương mình, không nên dập khuôn một cách máy móc hay tách rời với cơ chế chính sách phát triển kinh tế chung của Nhà nước

Trong những giai đoạn nhất định, khi các điều kiện về phát triển công nghiệp

và dịch vụ chưa đủ, vẫn có thể ưu tiên đầu tư phát triển nông nghiệp, miễn là có thuận lợi về đất đai, khí hậu, sức lao động … để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường Việc xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp của địa phương cũng cần được tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn mô hình và bước đi phù hợp khi các điều kiện cho phát triển đã chín muồi, tránh tình trạng quy hoạch phát triển các khu, ngành công nghiệp theo kiểu phong trào hay chạy đua lấy thành tích Vì điều này sẽ gây lãng phí các nguồn lực phát triển vốn rất khan hiếm, để lại hậu quả nặng nề cho nền kinh tế sau này

1.2.4 Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch CCNKT

Trang 24

Do CCKT phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế nên khi đánh giá quá trình chuyển dịch CCNKT, cần chú ý cả quan hệ tỷ lệ về mặt lượng cũng như phân tích sự thay đổi

về chất của các mối tương quan ấy Hơn nữa, trong quá trình phân tích, đánh giá không thể không chú ý tới những đặc điểm riêng của các loại CCKT khác như CCKT theo vùng lãnh thổ và cơ cấu TPKT Những tiêu chí cơ bản phản ánh quá trình chuyển dịch CCNKT vĩ mô bao gồm:

1.2.4.1 Cơ cấu Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Mặc dù có những khiếm khuyết nhất định, nhưng khoa học kinh tế hiện đại đã

sử dụng chỉ tiêu GDP như một trong những thước đo khái quát nhất, phổ biến nhất để đo lường, đánh giá về tốc độ tăng trưởng, trạng thái và xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế

Trong đánh giá quá trình chuyển dịch CCKT, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế là một trong những tiêu chí quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động

và mức độ thành công của công nghiệp hoá Tỷ lệ % của các ngành cấp I (nông

nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) là một trong những tiêu chí thường xuyên được

dùng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế Trong quá trình công nghiệp hoá, mối tương quan này có xu hướng biến đổi chung là khu

vực nông nghiệp có tỷ lệ ngày càng giảm, còn khu vực phi nông nghiệp (công

nghiệp, dịch vụ) ngày càng tăng lên, và trong điều kiện của khoa học công nghệ

hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó

là công nghiệp và cuối cùng là nông nghiệp

Để đánh giá sát thực hơn CCNKT, việc phân tích cơ cấu các phân ngành (cấp

II, cấp III …) có một ý nghĩa rất quan trọng Thông thường, cơ cấu phân ngành

phản ánh sát thực hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hoá của nền kinh

tế Ví dụ, trong ngành công nghiệp, những ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm, hoá mỹ phẩm … chiếm tỷ trọng cao sẽ chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ CNH, HĐH cao hơn so với những lĩnh vực công nghiệp khai

Trang 25

những lĩnh vực dịch vụ cao gắn với công nghệ hiện đại như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, viễn thông, hàng không … chiếm tỷ lệ cao sẽ rất khác với những lĩnh vực dịch vụ phục vụ sinh hoạt dân sự với công nghệ thủ công, trình độ thấp, quy mô nhỏ lẻ

1.2.4.2 Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế

Trong quá trình CNH, HĐH, sự chuyển dịch CCNKT còn được đánh giá qua một tiêu chí rất quan trọng là cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế được phân bổ như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Các nhà kinh tế học đánh giá rất cao tiêu chí này, vì ở góc độ phân tích kinh tế vĩ mô, cơ cấu lao động xã hội mới là tiêu chí phản ánh sát thực nhất mức độ thành công về mặt kinh

tế - xã hội của quá trình CNH, HĐH Bởi vì, công nghiệp hoá hiểu theo nghĩa đầy

đủ của nó, không phải chỉ đơn thuần là sự gia tăng tỷ trọng giá trị của sản xuất công nghiệp mà là cùng với mức độ đóng góp vào GDP ngày càng tăng của lĩnh

vực công nghiệp (mà ngày nay là công nghiệp, dịch vụ dựa trên kỹ thuật công

nghệ hiện đại), phải là quá trình CNH, HĐH đời sống xã hội con người, trong đó

cơ sở quan trọng nhất là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế

So với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động phân theo ngành sở dĩ được các nhà kinh

tế coi trọng và đánh giá cao là do tiêu chí này không chỉ phản ánh sát thực hơn mức độ chuyển biến sang xã hội công nghiệp của một đất nước, mà còn ít bị ảnh hưởng bởi nhân tố ngoại lai hơn Ở một số nền kinh tế, trong khi tỷ trọng lao động

phi nông nghiệp (nhất là khu vực sản xuất công nghiệp) còn chiếm tỷ trọng nhỏ,

nhưng cơ cấu GDP lại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều Lý giải cho hiện tượng này,

các nhà kinh tế học chỉ ra tình trạng "méo mó" về giá cả, nhất là trong trường hợp

có sự chênh lệch giá “cánh kéo” lớn giữa sản phẩm công nghiệp và dịch vụ so với sản phẩm nông nghiệp Vì thế, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế đôi khi không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế

1.2.4.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu

Trang 26

Trong điều kiện của một nền kinh tế đang công nghiệp hoá, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng được xem như một chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Quy luật phổ biến

của quá trình CNH, HĐH (đối với phần lớn các nước đang phát triển hiện nay) là

xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, ở đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP và số lượng lao động làm nông nghiệp chiếm phần lớn nhất trong tổng lao động xã hội, và do đó trong tổng giá trị xuất khẩu ít ỏi mà họ có được, một phần rất lớn là sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm công nghiệp khai

thác ở dạng nguyên thô (chưa qua chế biến hoặc mới chỉ ở dạng sơ chế) Trong

khi đó nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá trình phát triển công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt ngoại tệ là một điểm yếu mang tính kinh niên

Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hoá để trở thành một nước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: Từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như dệt may, lắp ráp, chế biến nông - lâm - ngư nghiệp … chuyển dần sang sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao như hoá chất, điện tử, cơ khí chế tạo … Chính vì vậy, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ những mặt hàng sơ chế sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên công nghệ kỹ thuật cao được xem như một trong những thước đo rất quan trọng để đánh giá mức độ thành công của CNH, HĐH Hơn nữa, đối với nhiều nước chậm phát triển, do những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia nhiều khi thấp hơn tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế nên cơ cấu sản phẩm xuất

khẩu (được thị trường quốc tế chấp nhận) sẽ là một tiêu chí tốt để bổ sung đánh

giá kết quả của quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Đồng thời, với cơ cấu giá trị của các sản phẩm xuất khẩu, cơ cấu nguồn lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào chế tạo sản phẩm xuất khẩu cũng có ý nghĩa trong phân tích, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động xã hội Ngoài ra, một

Trang 27

chủng loại đa dạng, đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu ra nước ngoài cũng là tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Tóm lại, khi phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch CCNKT, các nhà

kinh tế học thường dùng các tiêu chí trên để xem xét Mức độ chi tiết, cụ thể và các khía cạnh tiếp cận của những phân tích này trước hết phụ thuộc vào yêu cầu, mục tiêu cần đánh giá, vào nguồn tài liệu sẵn có và những yếu tố khác Ngoài ra,

có thể tập hợp rất nhiều tiêu chí có thể bổ trợ quan trọng khác như: quan hệ giữa khu vực sản xuất vật chất và khu vực phi sản xuất vật chất; giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, những tiêu chí về quá trình chuyển giao khoa học công nghệ, cơ cấu hàng nhập khẩu, sự nâng cấp chất lượng nguồn lao động, cơ cấu các doanh nghiệp mới ra nhập thị trường phân theo ngành … Mỗi tiêu chí nêu trên đều hàm chứa một ý nghĩa kinh tế nhất định trong việc phân tích quá trình chuyển dịch CCKT thời kỳ CNH, HĐH

1.2.5 Những nhân tố tác động tới sự chuyển dịch CCNKT

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch CCNKT Tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu và góc độ tiếp cận mà người ta có thể phân chia chúng thành những tổ hợp khác nhau, chẳng hạn: những nhân tố bên trong và bên ngoài, những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp … Tuy nhiên, dù cách phân loại như thế nào thì các nhân tố đó đều tác động đến sự thay đổi trong cơ cấu của tổng cầu và sự phân bổ các yếu tố sản xuất mà tác động đến sự thay đổi CCNKT

Ở góc độ của chuyển dịch CCNKT vĩ mô, Luận văn chia các nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch CCNKT thành 3 nhóm sau:

1.2.5.1 Nhóm các nhân tố đầu vào của sản xuất

Nhóm này bao gồm toàn bộ các nguồn lực mà xã hội có thể huy động được vào quá trình sản xuất, bao gồm các nhân tố chính là: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, nguồn vốn và tiềm lực khoa học - công nghệ

- Các nguồn lực tự nhiên

Nhà kinh tế học cổ điển William Petty đã từng nói: "Lao động là cha của của

cải, còn đất đai là mẹ của nó "[1, tr.62]. CCNKT được hình thành như thế nào đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguồn tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng Quy mô

Trang 28

đất đai, thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, nguồn nước … là điều kiện tự nhiên của nhiều loại hình sản xuất nông nghiệp khác nhau Ví dụ, khu vực Đông Nam Á sản

sinh ra nền nông nghiệp lúa nước mang đặc thù "Châu Á gió mùa"; những vùng

rừng mưa nhiệt đới ở Châu Á, Châu Mỹlatinh … là điều kiện tốt để kinh tế lâm nghiệp phát triển, những quốc gia có mỏ khoáng sản có khả năng khai thác kinh tế

là điều kiện để phát triển ngành công nghiệp khai thác mỏ … Tóm lại, tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành CCNKT Tuy nhiên, cần lưu ý một số khía cạnh đối với các ngành sản xuất dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như sau:

+ Xu hướng chậm chuyển dịch từ xuất khẩu sản phẩm thô sang xuất khẩu sản

phẩm công nghiệp chế biến (có nguồn gốc nguyên liệu từ nguồn tài nguyên thiên

nhiên khai thác được) Trong quá trình CNH, HĐH, nhiều quốc gia đang phát

triển, do xuất phát điểm thấp, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, khai mỏ

và xuất khẩu sản phẩm thô Tuy có những lợi thế nhất định để giải quyết vấn đề việc làm và đời sống nhân dân, nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ CNH, HĐH Song không ít trường hợp, mặt lợi thế này lại kìm hãm quá trình chuyển dịch CCKT khi không có chính sách đúng đắn để áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và sản phẩm từ sơ chế nguyên liệu sang những ngành công

nghiệp chế biến sâu (sản phẩm tinh), và vì vậy mà duy trì quá lâu trạng thái cơ

cấu sản xuất lạc hậu Như vậy, việc đưa ra những chính sách hợp lý để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả là rất cần thiết, tránh xảy ra nguy

cơ xuất hiện cái gọi là "căn bệnh Hà Lan" khi nền kinh tế chỉ chủ yếu dựa vào

xuất khẩu sản phẩm khai thác mỏ, đặc biệt là dầu lửa Theo các nhà kinh tế học,

bản chất kinh tế của "căn bệnh Hà Lan" là số tiền thu được từ những khoản thuế

đánh vào khí tự nhiên được sử dụng để bù đắp cho những khoản chi tiêu đang gia tăng của Chính phủ, đặc biệt là những chi phí về phúc lợi, nhưng ngay cả mức thuế cao hơn đối với khí tự nhiên cũng không đủ để bù đắp cho chi tiêu nói trên Kết quả là tỷ lệ lạm phát gia tăng Xuất khẩu khí đốt do vậy đã làm tăng tỷ giá hối đoái, khiến các cơ sở xuất khẩu truyền thống phải đương đầu với khó khăn gấp đôi như tăng chi phí trong nước, và đi đôi với nó là sự sụt giá của mối đôla hàng

Trang 29

xuất khẩu Chưa hết, vì lý do kinh tế ấy mà nạn thất nghiệp có thể đột ngột tăng lên khi khu vực xuất khẩu cần nhiều lao động đang bị đình trệ, mức tăng trưởng GDP giảm Rõ ràng là những mỏ khí đốt giàu có đã đem lại cả may lẫn rủi cho nền kinh tế"[9, tr 533-559].

+ Dưới tác động của sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là bất biến, mà có sự thay đổi không ngừng Chẳng hạn, cũng với một loại khoáng sản ở quy mô nhất định, khi được khai thác ở trình độ kỹ thuật - công nghệ này thì đánh giá là không kinh tế, nhưng với một trình độ cao hơn thì đem lại hiệu quả kinh tế Vì thế, việc phân bổ các nguồn lực vào những lĩnh vực khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên còn chịu ảnh hưởng của trình độ phát triển khoa học công nghệ, một nhân

tố cho phép xác định qui mô kinh tế của việc phát triển một lĩnh vực sản xuất nào

đó trực tiếp dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có

Như vậy, điều kiện tự nhiên là nhóm nhân tố đầu tiên có ảnh hưởng mạnh tới thiên hướng tự nhiên của cơ cấu sản xuất của nền kinh tế Trong nhiều trường hợp

chúng tạo nên cái mà các nhà kinh tế thường gọi là "lợi thế tuyệt đối" trong phân

công lao động quốc tế của một nền kinh tế Song, để thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch CCKT thì những nỗ lực chính sách hướng tới nâng cấp khoa học công nghệ

và kỹ thuật nhằm chuyển chúng từ nơi cung cấp sản phẩm thô thành các sản phẩm tinh sẽ là một nội dung rất trọng yếu

- Nguồn nhân lực

Trước khi xem xét ở góc độ đầu vào của quá trình sản xuất, nguồn lực con

người (sức lao động) từ lâu đã được coi như một nhân tố có ý nghĩa quyết định

đối với mọi quá trình sản xuất Ở những thời điểm nhất định, việc phân bổ các nguồn lực này như thế nào có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu của nền kinh tế Tuy nhiên, để có căn cứ cho việc phân bổ nguồn nhân lực vào những lĩnh vực sản xuất khác nhau nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, cần làm rõ một số nội dung sau:

+ Quy mô nguồn nhân lực

Trang 30

Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành cơ cấu nền kinh tế Để cho các hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả, trong những điều kiện về khoa học công nghệ nhất định, cần phải có một lượng lao động thích hợp Đối với một số quốc gia, quy mô dân số và lao động nhỏ bé là nguyên nhân khó phát triển

ở một số lĩnh vực, thậm chí phải nhập khẩu lao động Ngược lại, khá nhiều quốc

gia đang phát triển có hiện tượng "dư thừa" lao động Vì vậy, hình thành một

CCKT có khả năng toàn dụng lao động lại là một trong những ưu tiên hàng đầu của họ Những nền kinh tế mới công nghiệp hoá (NICs) Đông Á như Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan … là một ví dụ điển hình Ở góc độ kinh tế, quy mô nguồn nhân lực không chỉ phụ thuộc vào số lượng dân cư sinh sống trên một vùng lãnh thổ hay đơn vị hành chính nhất định, mà còn phụ thuộc vào độ cơ động của nguồn lao động, được qui định bởi tình trạng phát triển của giao thông và mức độ linh hoạt của thị trường lao động

+ Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực là khả năng lao động của người lao động Ngoài

các tố chất về sức khoẻ, phẩm chất và đạo đức (tính cần cù, yêu lao động, tinh

thần trách nhiệm trước công việc, ý thức chấp hành kỷ luật lao động …), chất

lượng nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ tay nghề, kỹ năng lao động và kiến thức

(bao gồm cả kiến thức chuyên môn và hiểu biết xã hội khác) Vì vậy, đối với

nguồn nhân lực, chất lượng nguồn lao động là yếu tố quan trọng nhất để hình thành CCKT, đặc biệt là những ngành, lĩnh vực đòi hỏi lao động qua đào tạo, tay nghề cao như cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, điện tử, hoá dược … Về phần mình, chất lượng nguồn nhân lực chủ yếu là kết quả của quá trình giáo dục - đào tạo Vì thế, các nhà kinh tế không chỉ chứng minh rằng, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là loại đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp lớn nhất, mà còn cho rằng đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư trực tiếp cho sản xuất chứ không phải đầu

tư cho lĩnh vực xã hội, vốn chỉ được xem xét đến khi đã đầu tư cho các ngành sản xuất Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đạt được thành tựu khả quan trong phát triển kinh tế chủ yếu bằng phát triển giáo dục - đào tạo và giáo dục - đào tạo được

ưu tiên và trở thành quốc sách hàng đầu Ví dụ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc …

Trang 31

+ Xu hướng nhân khẩu học

Xu hướng biến động nhân khẩu có ý nghĩa khá quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu của nền kinh tế Tác nhân này biểu hiện ở cả hai khía cạnh: cung và cầu Ở khía cạnh cung, xu hướng biến động dân số sẽ quyết định xu hướng biến động của qui mô lực lượng lao động xã hội Còn xu hướng biến động cầu sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới qui mô và cơ cấu nhu cầu tiêu dùng thị trường

Ở góc độ cung, xu hướng biến động nhân khẩu có những vấn đề cần lưu ý sau:

Xu hướng lão hoá dân số đang diễn ra khá mạnh ở các nước công nghiệp phát triển và đang lan sang các nước mới công nghiệp hoá Đặc điểm này tác động mạnh tới CCKT của các nước đang phát triển, nhất là những nước đang công nghiệp hoá theo định hướng xuất khẩu trên các mặt:

Một là, điều chỉnh CCKT theo hướng thích ứng với sự thay đổi cơ cấu của

những nước nhập khẩu, trước hết là những nước công nghiệp phát triển đang có

xu hướng "lão hoá" dân số

Hai là, đào tạo nguồn lao động theo cơ cấu ngành nghề nhất định nhằm trực

tiếp xuất khẩu lao động sang các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động do nguyên

nhân "lão hoá dân số"

Khá nhiều quốc gia đang phát triển có nguồn lao động đang tăng trưởng ở mức

cao, đang hoặc chuẩn bị bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" sẽ đem lại nhiều

cơ hội và thách thức cho sự phát triển kinh tế Nếu giai đoạn dân số vàng diễn ra trùng với thời kỳ kinh tế ổn định và cất cánh, hệ thống giáo dục - đào tạo phát triển tốt thì sự gia tăng nguồn nhân lực sẽ trở thành một động lực mạnh mẽ cho

phát triển kinh tế (tăng việc làm, thu nhập, tiết kiệm, tiêu dùng …) Ngược lại, sẽ

dẫn đến thất nghiệp, tệ nạn xã hội Việc thực hiện chuyển dịch CCNKT cũng cần

được xem xét, tính toán đến những tác động của "kỷ nguyên dân số vàng"

+ Di cư quốc tế

Di cư quốc tế là một trong những hiện tượng xã hội nổi bật trong đời sống kinh tế quốc tế hiện nay Cùng với quá trình di chuyển vốn quốc tế, nguồn lao động cũng di chuyển ngày càng nhiều, kéo theo sự phát triển của nhiều lĩnh vực dịch vụ như thông tin liên lạc, giao thông vận tải, bảo hiểm, ngân hàng …Tuy

Trang 32

vậy, có một điều đáng lưu ý nhất đối với các nước đang phát triển là hiện tượng

"chảy máu chất xám", trong đó có một bộ phận có trình độ và tay nghề cao di cư

sang các nước công nghiệp phát triển để sinh sống đã khiến cho việc tạo dựng nhiều ngành công nghiệp hiện đại của các nước này gặp rất nhiều khó khăn

Ngày nay, dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá kinh tế, mà chủ yếu là toàn cầu hoá tài chính, dòng chảy vốn tài chính mang tính chất toàn cầu (FDI,ODA …) đang gia tăng với tốc độ nhanh, qui mô lớn đã mở ra cơ hội to lớn cho các nước

đang phát triển Tuy nhiên, sự "khát vốn" vẫn là căn bệnh đối với các quốc gia

đang tiến hành CNH, HĐH Vì lẽ đó, việc xác định CCKT không thể không tính tới khả năng của nguồn vốn đầu tư có thể huy động được Cần đầu tư vào những ngành sử dụng ít vốn, khả năng thu hồi nhanh và công nghệ trình độ thấp như dệt may, lắp ráp, chế biến nông sản…

Tuy nhiên, tác động của nhân tố vốn đến sự hình thành CCKT của những nước đang công nghiệp hoá trong thời đại ngày nay lại không chỉ có đơn giản như vậy

Sự tác động của toàn cầu hoá và tính chất, mức độ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, trước hết qua chính sách đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự chuyển dịch CCKT

Thật vậy, dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể trở thành một trong những động

lực mạnh, tạo ra "cú hích" lớn thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu của

Trang 33

thương mại, kiều hối hoặc đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán Vì thế, để

có thể khơi thông dòng chảy vốn đầu tư từ bên ngoài, một mặt cần phải cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư và mặt khác không thể không xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán

Dòng vốn nước ngoài và dòng vốn trong nước chảy vào những lĩnh vực kinh doanh cụ thể nào lại một lần nữa phụ thuộc phần lớn vào chính sách kinh tế của nhà nước Ngoài nguồn vốn từ NSNN trực tiếp đầu tư vào một số loại lĩnh vực, các chính sách khuyến khích hay không khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực cũng góp phần đáng kể vào việc hướng dòng chảy của vốn vào những lĩnh vực, những ngành sản phẩm khác nhau Đây là một trong những nội dung quan trọng trong việc hoạch định xây dựng cơ chế chính sách đối với sự chuyển dịch CCNKT

1.2.5.2 Nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất (yếu tố thị trường)

Nếu các nhóm yếu tố đầu vào phản ánh sự tác động của các nguồn lực có thể huy động cho sản xuất và sự phân bổ chúng vào những lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, thì nhóm các yếu tố đầu ra của sản phẩm quyết định xu hướng vận động của thị trường, nơi phát ra tín hiệu quan trọng bậc nhất dẫn dắt các luồng vốn đầu tư cũng như các nguồn lực sản xuất khác quyết định phân bổ vào những lĩnh vực sản xuất nào, với quy mô bao nhiêu Những nhân tố này gồm: dung lượng thị trường, thói quen tiêu dùng, mức độ sẵn có và khả năng thay thế của các loại sản phẩm, giá cả và chất lượng hàng hoá, dịch vụ, các chính sách của nhà nước …

Sau đây, Luận văn trình bày chi tiết hơn sự tác động của hai nhân tố chính là dung lượng thị trường và thói quen tiêu dùng của dân cư

- Dung lượng thị trường

Độ lớn của dung lượng thị trường là một trong những nhân tố có ý nghĩa đối với sự di chuyển các nguồn lực được phân bổ vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Các nhà kinh doanh là người phân tích rất kỹ qui mô và xu hướng vận động của thị trường khi quyết định đầu tư kinh doanh một loại sản phẩm nào đó Thông

thường, dung lượng thị trường (lượng cầu) được quy định bởi quy mô dân số và

Trang 34

mức thu nhập Khi mức thu nhập của dân cư còn thấp, hầu hết thu nhập chỉ được chi dùng cho những mặt hàng thiết yếu, trước hết là lương thực, thực phẩm Nhưng khi thu nhập của dân cư tăng lên, cơ cấu tiêu dùng của họ cũng thay đổi theo hướng chi cho tiêu dùng mặt hàng thiết yếu giảm đi tương đối, trong khi tỷ lệ chi cho các mặt hàng cao cấp tăng lên Rõ ràng những dấu hiệu dịch chuyển cơ cấu cầu có khả năng thanh toán có tác động dẫn dắt hướng đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư và vì thế, tác động không nhỏ đến sự hình thành và chuyển dịch CCNKT

- Thói quen (thị hiếu) của người tiêu dùng

Cùng với quy mô thị trường, thói quen tiêu dùng là một nhân tố đầu ra rất có ý nghĩa mà các nhà kinh doanh thường rất quan tâm khi quyết định bỏ vốn đầu tư

và lựa chọn sản phẩm để đưa ra thị trường Tuy đây là những quyết định thuộc phạm vi quản lý vi mô, nhưng lại có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành cơ cấu sản phẩm (cơ cấu phân ngành) của nền kinh tế Tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng một số loại sản phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tư phải nghiên cứu để tìm cách đáp ứng và vì thế, tình trạng thoả dụng của người tiêu dùng đã trở thành một trong những chỉ tiêu tác động vào sự hình thành CCNKT

1.2.5.3 Nhóm các nhân tố về cơ chế chính sách của Nhà nước

Mặc dù CCNKT mang tính khách quan, tính lịch sử - xã hội nhưng lại chịu sự tác động, chi phối rất lớn bởi mục tiêu, chính sách của Nhà nước Nhà nước có thể tác động gián tiếp lên tỷ lệ của CCNKT bằng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, định hướng đầu tư, những chính sách khuyến khích hay hạn chế phát triển các ngành nghề nhằm đảm bảo sự cân đối của nền kinh tế theo mục đích đề ra trong từng giai đoạn nhất định

Thậm chí, Nhà nước có thể cấm ngặt đối với một số lĩnh vực nào đó để loại bỏ một số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ ra khỏi thị trường, mặc dù tiềm năng cung và mức cầu của dân cư vẫn tồn tại Thường thì đây là những lĩnh vực có thể đem lại lợi nhuận xét về mặt kinh tế, nhưng việc cho phép phát triển hay không, phát triển mức độ nào lại phụ thuộc vào quan điểm chính trị, văn hoá - xã hội Ví dụ, sản

Trang 35

Trong quá trình điều hành nền kinh tế, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý nền kinh tế, có thể dùng các chính sách kinh tế vĩ mô như tài chính, tiền tệ, thuế khoá và chi tiêu, các cơ chế về lãi suất, tỷ giá hối đoái … để hạn chế hay khuyến khích một ngành hay lĩnh vực kinh tế nào đó phát triển Tuỳ từng giai đoạn cụ thể nhất định, các chính sách của Nhà nước sẽ có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển của các ngành kinh tế Thông thường, những ngành kinh tế có lợi cho quốc kế dân sinh như tạo ra công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, đóng góp lớn vào ngân sách, có khả năng tạo ra động lực sẽ được nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Ngược lại, những ngành hoạt động không hiệu quả, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường thì nhà nước sẽ hạn chế phát triển, trừ một số lĩnh vực đặc biệt liên quan đến sự sống còn của nền kinh tế hay quốc phòng, an ninh quốc gia

Tóm lại, quá trình chuyển dịch CCNKT chịu sự tác động tổng hợp của nhiều

nhân tố Trong điều kiện hiện nay, dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá, thị trường hoá và tiến bộ khoa học công nghệ diễn ra nhanh chóng, bản thân những nhân tố tác động đến sự chuyển dịch CCNKT cũng không ngừng biến đổi và hàm chứa những nội dung kinh tế không hoàn toàn giống nhau Vì vậy, khi đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố cũng như tổng hợp các nhân tố đó, cần phải nhìn nhận chúng như những quá trình động để xem xét xu hướng tác động dài dạn lên quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế Nhưng dù có tiếp cận vấn

đề như thế nào đi nữa thì trong một nền kinh tế thị trường, tập hợp các nhân tố

đầu vào (nguồn lực sản xuất), đầu ra (điều kiện thị trường) và cơ chế chính sách

(chủ yếu là sự tác động của Nhà nước) vẫn là những tác nhân quan trọng nhất đối

với xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế

1.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số địa phương

và bài học kinh nghiệm cho Thanh Hoá

1.3.1 Kinh nghiệm chuyển dịch CCNKT của một số địa phương

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước của Đảng ta, nhiều tỉnh, thành đã thành công bước đầu trong việc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Góp phần làm

Trang 36

gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, đời sống nhân dân được nâng cao, văn hóa -

xã hội phát triển toàn diện Đặc biệt là đã khơi dậy được tiềm năng phát triển của địa phương, giải phóng được sức sản xuất, đưa vào khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra một diện mạo kinh tế ngày càng phát triển ở tầm cao mới Trong khung khổ luận văn này, tác giả trình bày hai tỉnh điển hình, có điều kiện xuất phát điểm gần tương đồng với Thanh Hóa là tỉnh Vĩnh Phúc và Nghệ

An

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách Thủ đô Hà Nội

50 km về phía Nam Là tỉnh có xuất phát điểm thấp, điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn và cơ bản vẫn là một tỉnh nông nghiệp với CCKT lạc hậu Trong 10 năm trở lại đây, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, mức bình quân cao hơn

cả nước, đạt 16,4% giai đoạn 1996-2000, trong đó nông-lâm-ngư nghiệp tăng bình quân 5,3%, công nghiệp - xây dựng tăng 43,9% và dịch vụ tăng 13,7% Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 14,6%, trong đó, nông-lâm-ngư nghiệp tăng 6,2%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 21,6%/năm, dịch vụ tăng 12,8%/năm Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh từ 1.417,3 tỷ đồng (1995) tăng lên 5.934,5 tỷ đồng năm 2005 (tính theo giá so sánh năm 1994), tức là tăng 3,7 lần sau 9 năm Đặc biệt là CCKT đã chuyển dịch rất nhanh theo hướng CNH, HĐH

Nghệ An là tỉnh nằm ở khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Trung Bộ, là tỉnh đất rộng, người đông, tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, đa dạng Cũng từ xuất phát điểm là tỉnh nông nghiệp, đời sống kinh tế - xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn Nhưng với tư duy đổi mới, mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Những năm gần đây, Nghệ An cũng đạt được rất nhiều thành quả quan trọng về mọi mặt, diện mạo của tỉnh ngày càng tươi sáng, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện, kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, chuyển dịch CCKT có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng CNH, HĐH, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng …

Trang 37

Để đạt được những thành tựu nêu trên là do tỉnh Vĩnh Phúc và Nghệ An đã làm tốt một số việc sau:

Thực hiện tốt công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở đánh giá khá chính xác điều kiện và nguồn lực phát triển ở cả tầm ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển các ngành kinh tế một cách khoa học trên cơ sở dự báo chính xác xu thế phát triển của nền kinh tế trong nước, khu vực và thế giới

Thường xuyên quan tâm cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, tạo ra môi trường thuận lợi nhất để thu hút vốn đầu tư của mọi TPKT, nhất là nguồn vốn đầu tư nước ngoài Để huy động tối đa nguồn vốn của doanh nghiệp, tỉnh đã triển khai kịp thời Luật doanh nghiệp, đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp với các hình thức thích hợp để tạo được một đội ngũ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, mang lại lợi ích ngày càng tăng cho xã hội Tạo sân chơi bình đẳng đối với đầu tư trong và ngoài nước cũng như giữa khu vực tư nhân và DNNN, xoá bỏ sự khác biệt về chính sách đất đai, tín dụng, xuất nhập khẩu … để các doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn, qua

đó tăng thêm nguồn thu NSNN để có điều kiện tái đầu tư vào hạ tầng cơ sở kinh

tế - xã hội Khuyến khích và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp

mở rộng sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, đối tác liên doanh; mở rộng các hoạt động tín dụng, ngân hàng, cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi với những

cơ chế thuận lợi Nhà nước địa phương hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách để nhanh chóng tạo môi trường đầu tư ổn định, thông thoáng và bình đẳng cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội nhất trong sản xuất - kinh doanh Ngoài

ra, tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đào tạo doanh nhân và thợ lành nghề, cung cấp thông tin về thị trường (giá cả, thông lệ buôn bán quốc tế) và điều kiện tiếp thị, tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng tỷ lệ vốn tái đầu tư sản xuất kinh doanh

Đối với nguồn vốn tư nhân và hộ gia đình, Tỉnh khuyến khích các TPKT này

bỏ vốn đầu tư mua sắm thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, từng bước cơ giới hoá

để giảm bớt thời gian lao động nông nghiệp, mở rộng các ngành nghề, phát triển

Trang 38

sản xuất kinh doanh, nhất là sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu Khuyến khích làm giàu chính đáng, phát huy lợi thế so sánh của địa phương, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch một bộ phận lớn lao động và gia đình sang lĩnh vực dịch vụ, thương mại Hướng dẫn các hộ về hướng đầu tư và lĩnh vực đầu tư, hỗ trợ vốn ban đầu cho các hộ phát triển sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin về thị trường và hỗ trợ đào tạo nghiệp vụ kinh doanh Huy động tối

đa các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân (tài sản tích trữ, để dành) thông qua việc động viên nhân dân gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng nhà nước, tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn, tin cậy, ổn định để lôi cuốn các hộ yên tâm bỏ vốn kinh doanh

Đối với nguồn vốn NSNN, duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao để tăng thu vào ngân sách, khuyến khích tiết kiệm và tăng cường đầu tư cho sản xuất với cơ chế, chính sách quản lý chặt chẽ để nâng cao hiệu quả nguồn vốn Đối với các nguồn thu khác, khuyến khích các nguồn vốn từ các nhóm hội, cá nhân kiều bào ở nước ngoài là con em trong tỉnh, nguồn vốn từ đấu giá quyền sử dụng đất ở địa phương Tăng cường quản lý đất đai, nhất là quỹ đất để phát triển đô thị và xây dựng các khu công nghiệp Tiến hành điều chỉnh giá đất, thực hiện tốt việc chuyển nhượng, cho thuê và thu thuế, lệ phí sử dụng đất nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách tỉnh Ngoài ra, tăng cường quản lý thị trường để tận dụng các nguồn thu khác, chống thất thu thuế trong các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh

Đối với nguồn vốn ngoài tỉnh, khuyến khích đơn vị trong tỉnh phát triển các hình thức liên doanh, liên kết với các đơn vị ngoài tỉnh để đầu tư sản xuất kinh doanh vào địa phương, nhất là các lĩnh vực công nghiệp, thương mại dịch vụ, du lịch Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá tiềm năng và thế mạnh của tỉnh trên nhiều kênh thông tin đại chúng Tiếp tục tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ NSNN

để đầu tư cho các công trình công cộng Xây dựng các dự án khả thi để tranh thủ

sự hỗ trợ của các nguồn vốn tín dụng, vốn vay ưu đãi, các nguồn vốn từ Quỹ hỗ trợ Quốc gia, chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và các chương trình quốc gia khác

Trang 39

Đối với nguồn vốn nước ngoài, tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh và tạo điều kiện cơ sở hạ tầng tốt cùng với những điều kiện sinh hoạt đảm bảo cho các nhà đầu tư nước ngoài làm việc trên địa bàn qua đó thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài Đối với vốn FDI, tỉnh tiếp tục hoàn thiện và ban hành chính sách ưu đãi đầu tư riêng trên cơ sở Luật đầu tư nhà nước,

Rà soát lại các hạng mục thu hút đầu tư với những ngành nghề, sản phẩm đang có sức cạnh tranh trên thị trường, phù hợp với nhu cầu của tỉnh với các mức khuyến khích đầu tư hấp dẫn Trong đó, đặc biệt ưu tiên cho các dự án thuộc lĩnh vực, ngành nghề mà tỉnh có lợi thế như cơ khí, chế tạo phụ tùng ô tô xe máy, vui chơi giải trí, chế biến rau quả, thực phẩm Đối với vốn ODA, tiếp tục kêu gọi tài trợ xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, các chương trình phát triển cộng đồng, bảo

vệ môi trường

Đổi mới cơ chế, chính sách, đặc biệt là xây dựng hệ thống các chính sách nhất quán, đồng bộ để khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; khuyến khích phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, mở rộng và tìm kiếm thị trường mới; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất Tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội trên cơ sở pháp luật hiện hành

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trước tiên là coi trọng hệ thống giáo dục đào tạo chính quy cho thế hệ tương lai, từ cấp mẫu giáo đến chuyên nghiệp Có chính sách ưu tiên đào tạo trong và ngoài nước cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý theo nhiều kênh Tăng cường đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật giỏi cho các ngành kinh tế Đẩy mạnh công tác chuyển đổi cơ cấu nhân lực, chuyển nhanh một phần lớn lực lượng từ khu vực nông nghiệp sang hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Xây dựng chính sách sử dụng và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài, nhất là tài năng trẻ

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Thanh Hoá

Một là, chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội ở cả giai đoạn trước mắt và lâu dài, nhất là quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, các loại nghề ở nông thôn, phát triển

Trang 40

đô thị và không gian kinh tế gắn với các chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể cho từng giai đoạn, trong từng lĩnh vực nhằm phát huy lợi thế so sánh, khai thác, thu hút và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong tỉnh, trong nước và ngoài nước cho phát triển

Hai là, xác định hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành kinh

tế là động lực của chuyển dịch CCNKT, là thước đo chất lượng của tăng trưởng kinh tế Có hiệu quả kinh doanh cao thì mới thu hút được đất đai, vốn, lao động

để tăng nhanh sản xuất kinh doanh Muốn vậy, cần tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp, các ngành có môi trường hoạt động thuận lợi nhất Tỉnh cần tiếp tục xây dựng các cơ chế chính sách mới về phát triển kinh tế - xã hội ngày càng thông thoáng hơn, có cơ chế chính sách ưu đãi về tài chính tín dụng, thuế, đất đai cho doanh nghiêp; thành lập các trung tâm thông tin kinh tế để cung cấp thông tin miễn phí cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật cho các ngành

Ba là, các ngành cần chủ động xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển một

cách cụ thể, khoa học và bền vững Tiếp tục điều chỉnh lại cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế theo hướng ngày càng thích nghi hơn với xu thế hội nhập, chỉ phát

triển những ngành có lợi thế và triển vọng Cần thực hiện đồng bộ hoá việc cung

ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh (thiết kế, vật tư, thiết bị, công nghệ, lao động, nhà quản lý, vốn, thông tin, đất đai) và các đầu ra (tiếp thị, hệ thống phân phối, hỗ trợ xuất khẩu) để nâng cao trình độ sản xuất, tăng nhanh sản lượng, nâng cao chất lượng, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Bốn là, các doanh nghiệp cần làm chủ cả ba khâu của quá trình sản xuất kinh

doanh: thiết kế sản phẩm (tự thiết kế và đổi mới sản phẩm theo đúng nhu cầu thị trường), sản xuất và phân phối (thiết lập thương hiệu, hệ thống đại lý, quảng cáo, tiếp thị) để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh trên thị trường Trước hết, tỉnh cần xây dựng các trung tâm thiết kế, chế tạo mới, trung tâm tư vấn để hỗ trợ thiết thực cho các doanh nghiệp

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác (1964), Góp phần phê phán chính trị học, Nxb Sự thật, Hà Nội, trang 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phê phán chính trị học
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1964
2. C. Mác và Ph.ăngghen (1973), Tư bản, tập 1, Nxb sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản, tập 1
Tác giả: C. Mác và Ph.ăngghen
Nhà XB: Nxb sự thật
Năm: 1973
3. Cục Thống kê Thanh Hóa (2005), Tình hình kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 tỉnh Thanh Hóa, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Cục Thống kê Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
4. Cục Thống kê Thanh Hóa (2008), Niên giám thống kê 2007, Nxb Niên giám thống kê, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2007
Tác giả: Cục Thống kê Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Niên giám thống kê
Năm: 2008
5. Tô Xuân Dân - Nguyễn Thành Công (2006), Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Tô Xuân Dân - Nguyễn Thành Công
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
6. Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
9. Malcon Gillis, Dwight H.Derkins, Michael Roemer và Donald R. Snodgrass (1990), Kinh tế học của sự phát triển, tập 2, Viện quản lý kinh tế TW-Trung tâm thông tin tư liệu, trang 533-559 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học của sự phát triển, tập 2
Tác giả: Malcon Gillis, Dwight H.Derkins, Michael Roemer và Donald R. Snodgrass
Năm: 1990
10. Hoàng Ngọc Hòa (2007), Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Hoàng Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
11. Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch CCKT ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch CCKT ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1996
12. Đỗ Hoài Nam (2003), Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
13. Nguyễn An Ninh (8/2008), Phát huy tiềm năng tri thức khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tiềm năng tri thức khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
14. Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (1999), Chuyển dịch CCKT trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch CCKT trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới
Tác giả: Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 1999
15. Nguyễn Trần Quế (2004), Chuyển dịch CCKT Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch CCKT Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21
Tác giả: Nguyễn Trần Quế
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2004
16. Tô Huy Rứa - Hoàng Chí Bảo - Trần Khắc Việt - Lê Ngọc Tòng (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay
Tác giả: Tô Huy Rứa - Hoàng Chí Bảo - Trần Khắc Việt - Lê Ngọc Tòng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2006
17. Trương Thị Minh Sâm (2001), Chuyển dịch CCKT nông nghiệp nông thôn ngoại thành T.P Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch CCKT nông nghiệp nông thôn ngoại thành T.P Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Thị Minh Sâm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
18. Trương Thị Minh Sâm (2007), Chuyển dịch CCKT khu vực dịch vụ ở TP. HCM trong quá trình CNH, HĐH, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch CCKT khu vực dịch vụ ở TP. "HCM trong quá trình CNH, HĐH
Tác giả: Trương Thị Minh Sâm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
19. Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp. Lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa từ nông nghiệp. Lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
25. Website http://www.chinhphu.vn 26. Website http://www.dangcongsan.vn 27. Website http://www.gso.gov.vn 28. Website http://www.mard.gov.vn 29. Website http://www.moi.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng sản phẩm trên địa bàn và cơ cấu giá trị theo giá thực tế - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn và cơ cấu giá trị theo giá thực tế (Trang 50)
Bảng 2.2: Tổng sản phẩm trên địa bàn và cơ cấu giá trị theo giá so sánh - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn và cơ cấu giá trị theo giá so sánh (Trang 51)
Bảng 2.4: Vốn đầu tƣ thực hiện theo giá thực tế - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.4 Vốn đầu tƣ thực hiện theo giá thực tế (Trang 53)
Bảng 2.5: Vốn đầu tƣ thực hiện theo giá thực tế phân theo khu vực kinh - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.5 Vốn đầu tƣ thực hiện theo giá thực tế phân theo khu vực kinh (Trang 54)
Bảng 2.8: Giá trị sản xuất ngành trồng trọt theo giá thực tế - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.8 Giá trị sản xuất ngành trồng trọt theo giá thực tế (Trang 56)
Bảng 2.13: Cơ cấu diện tích các loại cây trồng giai đoạn 2001 - 2007 - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.13 Cơ cấu diện tích các loại cây trồng giai đoạn 2001 - 2007 (Trang 60)
Bảng 2.14 cho thấy, trong giai đoạn 2001 - 2007, giá trị sản xuất và cơ cấu giá  trị ngành chăn nuôi trong tổng giá trị ngành nông nghiệp đã tăng dần từ 981,6 tỷ  đồng (chiếm 54,23% năm 2001) lên đến 2.815,3 tỷ (chiếm 76,02% năm 2007) - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.14 cho thấy, trong giai đoạn 2001 - 2007, giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi trong tổng giá trị ngành nông nghiệp đã tăng dần từ 981,6 tỷ đồng (chiếm 54,23% năm 2001) lên đến 2.815,3 tỷ (chiếm 76,02% năm 2007) (Trang 61)
Bảng 2.17: Số lƣợng gia súc, gia cầm theo mốc thời gian - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.17 Số lƣợng gia súc, gia cầm theo mốc thời gian (Trang 63)
Bảng 2.24: Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành thuỷ sản theo giá so sánh - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.24 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành thuỷ sản theo giá so sánh (Trang 68)
Bảng 2.26: Sản lƣợng thuỷ sản giai đoạn 2001 - 2007 - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.26 Sản lƣợng thuỷ sản giai đoạn 2001 - 2007 (Trang 69)
Bảng 2.26 cho thấy, sản lượng thuỷ sản của toàn ngành cũng tăng rõ nét qua  các năm, từ mức 52.340 tấn năm 2001 tăng lên 83.909 tấn năm 2007 - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.26 cho thấy, sản lượng thuỷ sản của toàn ngành cũng tăng rõ nét qua các năm, từ mức 52.340 tấn năm 2001 tăng lên 83.909 tấn năm 2007 (Trang 69)
Bảng 2.29: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.29 Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế (Trang 71)
Bảng 2.30: Sản lƣợng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu. - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.30 Sản lƣợng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu (Trang 75)
Bảng  2.32  cho  thấy,  về  mặt  cơ  cấu,  kinh  tế  dịch  vụ  nhà  nước  có  xu  hướng  giảm rõ nét, từ  mức  16% năm 2001,  giảm  liên tục  xuống còn 11,2% năm 2007 - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
ng 2.32 cho thấy, về mặt cơ cấu, kinh tế dịch vụ nhà nước có xu hướng giảm rõ nét, từ mức 16% năm 2001, giảm liên tục xuống còn 11,2% năm 2007 (Trang 79)
Bảng 2.32: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.32 Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w