1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Tỉnh Sơn La theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

99 959 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Sơn La chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy lợi thế tương đối của tỉnh, giải quyết việc làm, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng sức cạnh tranh, gắn với

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ ĐỨC THANH

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 5

1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành 5

1.1.1 Cơ cấu kinh tế 5

1.1.2 Cơ cấu kinh tế ngành 10

1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành 11

1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành 12

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 16

1.2.4 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 24

1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho Sơn La 24

1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh 24

1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có tính điển hình ở một số địa phương 25

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở TỈNH SƠN LA 31

2.1 Đặc điểm của Sơn La ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 31

2.1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội Sơn La có ảnh huởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 31

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển dị ch cơ cấ u kinh tế ngành ở Sơn La 33

2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành ở Sơn La những năm qua 35

2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Sơn La 35

2.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu theo nội bộ ngành ở Sơn La 38

2.3 Một số nhận định khái quát về những kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Sơn La những năm qua 63

2.3.1 Những thành tựu chủ yếu và nguyên nhân 63

2.3.2 Một số hạn chế chủ yếu và nguyên nhân 63

Trang 4

Chương 3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở TỈNH SƠN LA THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 67 3.1 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Sơn La những năm tới 67 3.1.1 Bối cảnh hiện nay ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu

ngành kinh tế ở Sơn La 67 3.1.2 Những quan điểm chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

trên địa bàn tỉnh Sơn La 73 3.2 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Sơn

La 74 3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá,

hiện đại hoá là thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La thời kỳ 2010 – 2020 74 3.2.2 Một số định hướng cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở

Sơn La từ nay đến năm 2020 75 3.3 Một số giải pháp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La

những năm tới 80 3.3.1 Quy hoạch tổng thế phát triển kinh tế - xã hội 80 3.3.2 Giải pháp về huy động vốn và thu hút vốn đầu tư 84 3.3.3 Đẩy mạnh việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ 86 3.3.4 Chính sách đào tạo nhân lực và chuyển lao động ra khỏi cơ cấu

nông nghiệp sang cơ cấu công nghiệp và dịch vụ 88 3.3.5 Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng đường xá giao thông trên địa

bàn tỉnh 90 3.3.6 Mở rộng phát triển và tổ chức lại hoạt động các loại thị trường 91 3.3.7 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách vĩ mô của Nhà nước

trung ương và địa phương theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy nhanh nhịp độ và chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 93

KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một tất yếu khách quan trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nên sự chuyển đổi căn bản nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực: Phân công lại lao động xã hội, chuyển dịch các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất, gia tăng năng lực

sản xuất, tăng sản phẩm xã hội, góp phần thoả mãn nhu cầu ngày càng tốt hơn

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: Cơ cấu vùng, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu nhiều thành phần, cơ cấu ngành; trong đó cơ cấu ngành là quan trọng nhất Chuyển dịch cơ cấu ngành để phân bổ hợp lý tài nguyên, sắp xếp lại lao động phù hợp các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu qủa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá”

Đối với Sơn La chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy lợi thế tương đối của tỉnh, giải quyết việc làm, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Sơn La những năm vừa qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đã có những chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh gây khó khăn cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh như: Xây dựng chiến lược, vốn, đào tạo nguồn nhân lực và những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan

Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên, tôi lựa chọn vấn đề:

“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” làm luận văn Thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh

tế chính trị của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trang 6

Bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành theo hướng CNH, HĐH là một trong những vấn đề mà rất nhiều nhà nghiên cứu ở những khía cạnh và những góc độ khác nhau như:

- Ngô Đình Giao “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân”, tập II, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1994

- Đỗ Hoài Nam “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội, 1996

- Nguyễn Cúc “Tác động của Nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng CNH, HĐH ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997

- Bùi Tất Thắng “Đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

CNH”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Viện Kinh tế học, số 2, 1994

- Nguyễn Hữu Tiến - Nguyễn Đình Long “Vai trò của kinh tế hộ trong

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí Cộng sản, số

510, 1996

Các công trình nghiên cứu trên đã phản ánh nhiều mặt của chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trong cả nước hoặc trên địa bàn một địa phương nhất định nhưng cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào thật sự có hệ thống

và toàn diện về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La theo hướng CNH, HĐH Vì vậy tác giả luận văn mong muốn nghiên cứu sâu hơn về cơ

sở, phương hướng và bước đi của chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH, HĐH ở tỉnh Sơn La

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

* Mục đích: Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa

bàn tỉnh Sơn La những năm qua Trên cơ sở đó chỉ ra những điểm mạnh và những hạn chế của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La và đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Sơn La theo hướng CNH, HĐH

* Nhiệm vụ:

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Trang 7

- Khảo cứu tình hình thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số tỉnh miền núi, rút ra các bài học kinh nghiệm cho Sơn La

- Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế ở tỉnh miền núi Sơn La Rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của những hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Sơn La hiện nay

- Nghiên cứu, đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Sơn La trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La

* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La trong những năm qua (chủ yếu từ 2005 đến nay)

Từ đó rút ra được mục tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La theo định hướng đến năm 2020

5 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tài liệu:

Cơ sở lý luận: Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng

Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nguồn tài liệu tham khảo: Các tác phẩm kinh điển của Ăngghen, V.I.Lênin, các Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, các tư liệu của Bộ Kế hoạch Đầu tư, Báo cáo của Ủy Ban nhân dân tỉnh Sơn La

Trang 8

C.Mác-* Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, hệ thống hoá

6 Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn

- Góp phần làm rõ vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình CNH, HĐH

- Làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La

- Đề xuất những quan điểm định hướng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH ở Sơn La trong giai đoạn hiện nay, định hướng đến năm 2020

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ngành

Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn

tỉnh Sơn La

Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc

đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Sơn La theo hướng CNH, HĐH

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH

1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành

1.1.1 Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế, một phạm trù kinh tế có tầm quan trọng to lớn trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các thời kỳ Cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép tạo nên sự cân đối, hài hoà của nền kinh tế để sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên, của cải vật chất, của cải tinh thần và sức lao động Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng, và phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của nền kinh tế quốc dân

Thuật ngữ cơ cấu (kết cấu) có nguồn gốc ban đầu từ chữ La Tinh

“Trucke”, nó phản ánh cách sắp xếp các bộ phận của một chỉnh thể Sau đó, các khái niệm này được sử dụng rộng hơn cho các ngành khoa học khác

Theo quan điểm triết học “cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của đối tượng, là tập hợp những mối liên hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng, trong một thời gian nhất định

Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống C.Mác tiếp cận cơ cấu nền kinh tế như là: Toàn bộ các quan hệ giữa những người làm nhiệm vụ sản xuất với nhau và giữa họ với tự nhiên tức là những điều kiện trong đó họ tiến hành sản xuất Toàn bộ những quan hệ đó hợp thành xã hội, xét về mặt cơ cấu kinh tế của nó

Khi phân tích mối quan hệ phân công lao động xã hội, với cơ cấu kinh

tế xã hội C.Mác đã nhấn mạnh: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất” [18, tr.70]

Trang 10

C.Mác còn phân tích cơ cấu kinh tế cả hai mặt: số lượng (quy mô, tỷ trọng, tốc độ) và chất lượng (vị trí, sự tương tác, trình độ công nghệ ) Đó là biểu hiện của mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế Và theo C.Mác, cơ cấu là “một sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của một quá trình sản xuất xã hội” [18, tr.103]

Như vậy, theo C.Mác, cơ cấu kinh tế có cấu trúc bao gồm: Những yếu

tố gắn với lực lượng sản xuất (các quan hệ giữa họ với tự nhiện, kỹ thuật) và các nội dung của quan hệ sản xuất (các quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội) hợp thành Nếu cơ cấu nền kinh tế bao gồm hai mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì khi phân tích cơ cấu kinh tế không thể không xem xét mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Một cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý là một cơ cấu được hình thành và phát triển trong đó các yếu tố của quan hệ sản xuất luôn phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Tất nhiên, không nên hiểu

cơ cấu kinh tế là con số cộng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà nên hiểu nó là sự tác động qua lại giữa các yếu tố được xem xét về số lượng

và chất lượng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được hình thành và phát triển qua các giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất xã hội

Với quan niệm trên thì cơ cấu của nền kinh tế quốc dân được hiểu là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế: Các lĩnh vực sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng; các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ; các thành phần kinh tế - xã hội: Nhà nước, tập thể, tư nhân ; các vùng kinh tế

Ở mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi địa phương lại có cơ cấu kinh tế riêng, tuỳ theo điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế, xã hội cụ thể

Trong tiếp cận cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải xem xét các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong trại thái có tính tương đối ổn định, lịch sử cụ thể, phát triển theo đúng các quy luật khách quan, nhất là mối quan

hệ chứa đựng trong đó quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Chính tính tương đối ổn định này làm cho cơ cấu kinh tế biến

Trang 11

đổi trong giới hạn cho phép, mà nếu vượt qua giới hạn đó, hệ thống kinh tế -

xã hội chuyển sang loại hình cơ cấu khác

Từ sự phân tích trên có thể rút ra những khía cạnh không thể thiếu được khi tiếp cận khái niệm cơ cấu kinh tế:

- Bao gồm các bộ phận cấu thành mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra thông qua mối quan hệ kinh tế giữa các ngành và nội bộ ngành, giữa các vùng kinh tế và giữa các thành phần kinh tế với nhau

- Được xem xét trên cả hai mặt định tính và định lượng của từng yếu tố

và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Đặt cơ cấu kinh tế trong điều hiện lịch sử của mỗi nước, mỗi địa phương, mỗi ngành trong từng thời kỳ nhất định

- Gắn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội được xác định trong từng thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Từ đó rút ra khái niệm cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế gắn với trình

độ công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với tính chất của mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận; gắn với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định; nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cơ cấu kinh tế là hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó Để đánh giá một cách thực tế việc xác định đúng đắn cơ cấu kinh tế và ứng dụng đúng đắn cơ cấu kinh tế vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng địa phương, trong từng giai đoạn phát triển, cần lưu ý nhữg đặc trừng sau của cơ cấu kinh tế

Thứ nhất: Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan

Theo C Mác cơ cấu có mối quan hệ mật thiết với phân công lao động

xã hội, người khẳng định: “Trong sự phân công xã hội, thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi, một sự tất yếu thầm kín yên lặng” [18, tr.15]

Trang 12

Nói một cách khác, mọi sự vật hiện tượng nói chung và nền kinh tế nói riêng chỉ có thể tồn tại và phát triển theo những cấu trúc nhất định, vận động theo những quy luật khách quan, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Cơ cấu kinh tế do những yếu tố vật chất của nền sản xuất quy định (tư liệu sản xuất, tài nguyên, công nghệ, sức lao động) do đó cơ cấu kinh tế tồn tại, vận động, phát triển theo những quy luật khách quan, độc lập với con người Con người không thể tuỳ tiện tạo ra cơ cấu kinh tế Tuy nhiên con người có thể tác động làm thay đổi cơ cấu kinh tế Nếu con người tác động phù hợp với quy luật khách quan làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Ngược lại, nếu tác động đó không phù hợp sẽ cản trở sự tăng trưởng và phát triển kinh tế

Thứ hai: Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử

C Mác viết: “Sự tất yếu phân công lao động xã hội theo những tỷ lệ nhất định sẽ không thể bị tiêu diệt bởi một hình thái nhất định của sản xuất xã hội, chỉ có hình thái biểu hiện của nó có thẻ thay đổi mà thôi, điều đó tự nó đã

rõ rồi” [18, tr.759] Cơ cấu kinh tế luôn biến động, nó không phải là một cái gì” chết cứng, nằm im nên việc xác định cơ cấu kinh tế không thể không căn

cứ vào điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể của từng thời kỳ Cơ cấu kinh tế gắn liền với sự biến đổi không ngừng của bản thân các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế và những mối quan hệ của chúng

Tính lịch sử cụ thể của cơ cấu kinh tế còn những biểu hiện ở chỗ không có

cơ cấu kinh tế chung cho mọi nền kinh tế và cũng không có cơ cấu kinh tế duy nhất cho một nền kinh tế, một địa phương ở các giai đoạn phát triển khác nhau

Thứ ba: Cơ cấu kinh tế có tính mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội

Việc xác định cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay địa phương được gọi

là hiệu quả kinh tế - xã hội, khi cơ cấu kinh tế đó hợp lý Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải là một cơ cấu cho phép khai thác hết những tiềm năng kinh tế- xã hội của quốc gia, các địa phương, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện

Trang 13

cho nhau phát triển Nó không chỉ đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội và môi trường sinh thái, tạo đà cho sự phát triển trong tương lai

Việc thi hành chính sách cơ cấu có lựa chọn hợp lý như vậy đòi hỏi phải đảm bảo tính đồng bộ, tính cân đối trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, là hai mặt mâu thuẫn của quá trình biện chứng Từ tính chất hai mặt của cơ cấu kinh tế là tính cân đối ổn định và tính chất biến đổi tổ chức, nói lên tính chất phức tậo của việc thay đổi cơ cấu kinh tế

Thứ tư: Cơ cấu kinh tế mang tính thị trường và mở cửa

Khi chuyển đổi mô hình kinh tế cũ sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế để tạo ra hàng hoá với tư cách là hàng hoá để bán Vì vậy, việc xây dựng và phát triển

cơ cấu kinh tế nhất thiết phải mang tính thị trường Có như vậy, mới làm cho

cơ cấu kinh tế được xây dựng không chỉ thích ứng mà còn có tác dụng thúc đẩy việc xây dựng thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và địa phương

Trong nền kinh tế thị trường, sự vận động khách quan của cơ cấu kinh

tế theo hướng mở rộng hợp tác, và phân công lao động diễn ra không chỉ trong phạm vi mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi quốc gia mà còn xác định được cơ cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế của mình gắn với thị trường trong nước và quốc

tế, nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá nền kinh

tế quốc dân, tạo điều kiện đẻ chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

Sự phát triển đan xen cũng như sự phân công lao động quốc tế, sự thâm nhập kinh tế các nước vào nhau đã chỉ rõ tính đa dạng phong phú và tính quốc

tế của cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế, xem xét trên cấp độ nền kinh tế quốc dân hay trên một vùng lãnh thổ, về mặt nội dung, là một hệ thống đa cấu hợp thành

+ Cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân và nội bộ ngành: Cơ cấu kinh

tế ngành là một kiểu, một bộ phận cơ cấu trong toàn bộ hệ thống các cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, xác định mối quan hệ tương quan về định tính và định lượng giữa các ngành với nhau

Trang 14

+ Cơ cấu vùng (hay lãnh thổ) là biểu hiện vật chất cụ thể của phân công lao động theo lãnh thổ Hnh thành và phát triển cơ cấu lãnh thổ hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển phân công lao động theo lãnh thổ

+ Cơ cấu thành phần kinh tế: Lực lượng sản xuất bao giờ cũng tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau, tương ứng với mỗi trình độ lực lượng sản xuất là một kiểu quan hệ phù hợp Do vậy, sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong cơ cấu kinh tế là một tất yếu khách quan

1.1.2 Cơ cấu kinh tế ngành

Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ

lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành kinh tế là nét đặc trưng của các nước đang phát triển

Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính

- Nhóm nông nghiệp: bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp

- Nhóm công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng

- Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm thương mại, dịch vụ, du lịch

Trong mỗi ngành lại phân thành các ngành nghề nhỏ chi tiết hơn Chẳng hạn: Trong ngành nông nghiệp lại chia thành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp - ngư nghiệp; ngành công nghiệp lại chia thành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng hoặc chia thành công nghiệp truyền thống, công nghiệp gắn với công nghệ mới hiện đại; ngành dịch

vụ lại chia thành dịch vụ sản xuất, dịch vụ con người

1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành

1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Để hiểu rõ hơn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 15

Khi nghiên cứu khái niệm cơ cấu kinh tế, chúng ta xem xét nó ở trạng thái tĩnh hay tương đối ổn định, nhưng khi tiếp cận với khái niệm chuyển dịch

cơ cấu kinh tế là nghiên cứu ở trạng thái động có tác dụng làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy nền kinh tế phát triển [19, tr.47]

Như vậy, cùng với việc tổ chức lao động một cách khoa học và kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát triển tất yếu làm cho cơ cấu kinh tế của một

xã hội cũng thay đổi, phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hợp lý đến hợp lý, hiện đại và hiệu quả theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Với cách đặt

vấn đề như vậy, chúng ta có thể hiểu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ và chất lượng các mối quan hệ kinh tế giữa các ngành, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế nhằm đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và hiệu quả hơn, tạo thế và lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, trong từng giai đoạn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta, vì để xây dựng và phát triển một nền kinh tế ổn định, vững chắc, với một tốc độ nhanh đòi hỏi phải xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy lợi thế, tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực và tài lực Cơ cấu kinh tế quốc dân có nhiều loại và tuỳ theo mục đích nghiên cứu, quản lý có thể xem xét dưới các gốc độ khác nhau Nhưng dù thuộc loại nào, cơ cấu kinh tế quốc dân cũng là sản phẩm của phân công lao động xã hội, nó được biểu hiện cụ thể dưới hai hình thức cơ bản nhất là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ Hai hình thức phân công lao động xã hội này gắn bó với nhau, thúc đẩy quá trình tiến hoá chung của nhân loại Mọi sự phát triển của phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ, với đầy đủ các yếu tố về dân

số, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của mỗi vùng sẽ tạo

Trang 16

điều kiện để chuyên môn hoá sản xuất, hỗ trợ các ngành phát triển, hình thành các cở sở sản xuất kinh doanh để khai thác và phát huy thế mạnh ở từng vùng lãnh thổ Trình độ phát triển của phân công lao động xã hội trong mỗi dân tộc

là thước đo trình độ phát triển chung của các dân tộc đó

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành

Tiếp cận lý luận cho thấy: Cơ cấu kinh tế ngành và nội ngành của bất

cứ quốc gia nào cũng luôn ở trạng thái vận động, chuyển từ một cơ cấu kém hiệu quả sang một cơ cấu hài hoà giữa các yếu tố của cơ cấu kinh tế ngành trong cả nước hoặc một địa phương Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội

bộ ngành là quá trình thay đổi cấu trúc các mối liên hệ giữa các ngành và nội

bộ từng ngành của một nền kinh tế theo mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội nhất định

Thực tiễn lịch sử, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn làm thay đổi cơ cấu của các ngành và trong từng ngành, lĩnh vực, từng vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tin học hoá mà còn kết hợp đồng thời các thành tựu trên nhiều lĩnh vực, mà còn phải lựa chọn những ngành mũi nhọn, đi tắt, đón đầu; không chỉ áp dụng những công nghệ tiên tiến mà còn phải biết kết hợp tận dụng và hiện đại hoá công nghệ truyền thống

Ở nước ta, cơ cấu ngành và nội bộ ngành kinh tế ở miền Bắc bắt đầu xây dựng từ năm 1961 và được điều chỉnh qua các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng

Cơ cấu ngành kinh tế lần đầu tiên được xác định là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, nhằm nhanh chóng xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta, nhằm biến miền Bắc nước

ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên quá trình công nghiệp hoá thực hiện chưa được nhiều Tuy vậy, cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ này cũng thu được một số kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, góp phần phục vụ đắc lực cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trang 17

thành công Song nguồn lực chủ yếu để công nghiệp hoá thời kỳ này vẫn dựa vào sự viện trợ của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây

Thực hiện đường lối và kế hoạch tập trung phát triển công nghiệp nặng

để từng bước hình thành cơ cấu công - nông nghiệp, chúng ta đã dồn quá nhiều vốn, vật tư, kỹ thuật và lao động cho công nghiệp nặng, nên ít quan tâm đến nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, làm mất cân đối trong đầu tư, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, đời sống khó khăn và làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng kinh tế năm 1979

Đại hội Đảng lần V (1982), Đảng ta xác định được điểm xuất phát của đất nước là “đang ở chặng đường đầu tiên” của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội Do vậy, đường lối công nghiệp hoá có sự điều chỉnh nhất định Điểm nổi bật ở đây là coi công nghiệp là mặt trận hàng đầu, tập trung phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách và thiết yếu

về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng đề dần dần ổn định đời sống

Với sự điều chỉnh về cơ cấu ngành kinh tế nên đã tạo ra một bước phát triển nhất định trong nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng

Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) là cái mốc lịch sử mở đầu giai đoạn đổi mới toàn diện và sâu sắc ở nước ta, trong đó có sự đổi mới về các quan điểm kinh tế Đảng ta chủ trương điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư theo hướng: phải tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Ba chương trình kinh tế là sự cụ thể hoá nội dung công nghiệp hoá chặng đường đầu tiên, định hướng cho sự phát triển tất cả các ngành, các hoạt động kinh tế, nhằm xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp lý

Tiếp đó Đại hội VII và Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định và hoàn thiện thêm đường lối đổi mới cho Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra Trong giai đoạn này Đảng ta chủ trương chuyển dịch một cách căn bản và toàn diện

về cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế Do vậy, qua 15 năm đổi mới, (1986-2000), việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,

Trang 18

hiện đại hoá đã đem lại những thành tựu to lớn trong đó nền kinh tế đã hình thành cơ cấu 3 ngành rõ rệt teo tỷ trọng GDP như sau:

Có thể nói trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm của C.Mác, V.I.Lênin và một số nhà kinh tế học, từ các quy luật khách quan, nhất là các quy luật kinh,

lý luận về nội dung của cơ cấu kinh tế ngành, khảo sát sự vận động của lịch

sử phát triển nền kinh tế thế giới và ở Việt Nam gắn với những thành công và chưa thành công liên quan đến sự vận động và phát triển của cơ cấu kinh tế giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, có thể tìm ra xu hướng vận động cơ bản của cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành để từ đó xác định phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có hiệu quả nhất

* Về cơ cấu nội bộ ngành

- Ngành nông nghiệp: Chuyển từ độc canh, thuần lương, tự cấp tự túc sang đa canh, phát triển toàn diện nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất

Trang 19

hàng hoá, gắn nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ tại nông thôn

- Ngành công nghiệp: Chuyển từ các ngành công nghiệp truyền thống (ngành sử dụng nhiều lao động chân tay và nhiều nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên) sang các ngành công nghiệp sử dụng ít lao động chân tay và nguyên liệu tự nhiên, tiến lên ngành công nghiệp công nghệ cao (ngành sử dụng chủ yếu là lao động trí tuệ và vật tư nguyên liệu nhân tạo)

- Ngành dịch vụ: Dịch vụ thuần dịch vụ (dịch vụ cho con người) tăng nhanh hơn ngành dịch vụ sản xuất vật chất Ngành dịch vụ vật chất gián tiếp (thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, khoa học, công nghệ ) tăng nhanh hơn ngành dịch vụ sản xuất trực tiếp

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh

lý, địa hình, khí hậu, dân số, điều kiện tự nhiên

+ Vị trí địa lý có ý nghĩa quan trọng, là một những nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế ngành Nếu ở vị trí địa lý thuận lợi, một nước có khả năng rất tốt để mở rộng thị trường, tiếp thu các nguồn lực

+ Địa hình là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và biến đổi

cơ cấu kinh tế ngành Nơi nào có địa hình thuận lợi thì nơi đó hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành thuận lợi Căn cứ vào vị trí và địa hình để bố trí ngành sản xuất công, nông nghiệp và dịch vụ trọng điểm, điều đó có ý nghĩa kinh tế rất lớn

+ Khí hậu thuỷ văn là nguồn tài nguyên liên quan và là tác nhân ảnh hưởng rất lớn đến các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây sự tàn phá môi trường sinh thái của con người đã làm mất tính ổn định của thời tiết khí hậu, ảnh hưởng lớn đến sự

Trang 20

phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt của con người, như hiệu ứng nhà kính, mưa a xit Do vậy, vấn đề đặt ra là cần bảo vệ bầu khí quyển, chống các tác nhân phá hoại tài nguyên, môi trường, khí hậu

+ Dân số lao động, toàn bộ lịch sử đã chỉ rõ, con người vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu dùng Dân số sẽ cung cấp cho xã hội nguồn lao động, điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng kinh tế, hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành Ngày nay, lao động trí tuệ trở thành đặc trưng cơ bản Nguồn lao động dồi dào về số lượng chưa đủ, chưa có ý nghĩa quyết định Chỉ

có nguồn lao động dồi dào hiểu biết về khoa học, có sức khoẻ về trình độ văn hoá hiện đại, kỹ năng lao động thành thạo mới là tài nguyên quý giá

+ Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sự hình thành và biến đổi

cơ cấu kinh tế ngành, đó là tài nguyên như đất đai, rừng, nước, khoáng sản Nhưng hiện tại cũng như tương lai, chúng ta thấy rằng tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, là khó khăn lớn cho quá trình tăng trưởng kinh tế, hình thành và biến đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Con đường thoát khỏi tình trạng này là dựa vào tiến bộ khoa học - công nghệ, đồng thời tiến hành thăm dò, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và phát triển theo hướng kinh tế tri thức

- Điều kiện về vốn, muốn bảo đảm tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu ngành lâu dài và bền vững, chất lượng cao thì việc bảo đảm nguồn vốn là rất quan trọng, trong đó nguồn vốn tự có là chủ yếu

- Tiến bộ khoa học - công nghệ là động lực chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Tiến bộ khoa học - công nghệ xét về nội dung được phát triển theo một số hướng chính: đó là cơ khí hoá, điện khí hoá, tự động hoá, điện tử và tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học Nó đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tần suất phát minh mới và ứng dụng vào sản xuất ngày càng ngắn Phạm vi ứng dụng của một phỏt minh ngày càng mở rộng mang tính liên ngành, thậm chí liên quốc gia Tăng trưởng GDP với tốc độ cao trong thời đại cạnh tranh quyết liệt trên thị trường quốc tế, có thể đạt được một cách vững chắc và lâu bền trên cơ sở

Trang 21

không ngừng tăng cường năng lực khoa học - công nghệ nội sinh Trong thời đại văn minh công nghiệp, chúng ta thấy rõ mối quan hệ nội tại giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành với các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và vai trò động lực của nó, cụ thể là:

+ Khoa học công nghệ là động lực chủ yếu thúc đẩy phân công lao động xã hội, hình thành những ngành sản xuất và mối quan hệ giữa chúng Tiến bộ khoa học - công nghệ là nguồn gốc chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

+ Tiến bộ khoa học - công nghệ là yếu tố quyết định nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên, do đó để nâng cao hiệu suất tổng thể “đầu vào”

và “đầu ra” của kinh tế Làm cho tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng đầu

tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

+ Tiến bộ khoa học - công nghệ là yếu tố quyết định chuyển từ cơ cấu kinh tế ngành phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu (cơ cấu thiết bị thay thế lao động, thay những ngành lao động truyền thống tiêu hao nhiều lao động cơ bắp bằng những ngành công nghệ cao ) làm thay đổi cơ cấu hàng hoá chất lượng thấp sang cơ cấu hàng hoá chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường xã hội

+ Tiến bộ khoa học - công nghệ thúc đẩy cơ cấu kinh tế ngành ngày càng hoàn thiện, đa dạng hoá, nâng cấp cơ cấu ngành kinh tế Tiến hành cải tạo hoặc thay thế phương tiện, thiết bị lạc hậu bằng phương tiện, thiết bị tiên tiến hơn, từng bước xây dựng, phát triển những ngành công nghệ cao Vì vậy,

nó đòi hỏi người lao động phải nâng cao trình độ tay nghề, trình độ tổ chức, quản lý, tiếp thị nhằm liên kết các thành tố để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh

+ Tiến bộ khoa học - công nghệ là yếu tố quan trọng tạo ra khả năng bảo vệ môi trường ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào việc hiện đại hoá cơ cấu kinh tế ngành bằng việc thay thế thiết bị cũ, lạc hậu bằng những thiết bị hiện đại, tiết kịêm năng lượng, nguyên liệu và hiệu quả cao Giảm đi một lượng chất thải lớn vào môi trường Những ngành công nghiệp sử dụng

Trang 22

nhiều nguyên liệu, năng lượng được thay thế bằng những ngành công nghệ cao tiêu hao ít nguyên liệu sẽ giảm đáng kể tác hại đến môi trường

Tóm lại, tiến bộ khoa học - công nghệ là yếu tố cót lõi thúc đẩy cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ chuyển dịch, thúc đẩy sự hình thành những người mới và mối quan hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ; nâng cao năng suất loa động và hiệu quả sử dụng tài nguyên

- Phân công và hợp tác lao động là cơ sở hình thành cơ cấu lao động, nhân tố chủ yếu phát triển cơ cấu xã hội, dân cư mới Sự phân công lao động ngày càng sâu sắc thì số lượng các ngành nghề càng tăng, nhờ đó thúc đẩy cơ cấu lao động chuyển dịch theo chiều rộng Phân công lao động sẽ nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy kinh tế ngành, liên ngành phát triển Do vậy, phân công lao động xã hội là một trong những nhân tố quan trọng hình thành

cơ cấu lao động vùng Trong điều kiện toàn cầu hoá, để rút ngắn khoảng cách lạc hậu, những nước có lợi thế lao động và tài nguyên cần lợi dụng vốn, khoa học - công nghệ từ bên ngoài để hoàn thiện và nâng cấp cơ cấu lao động theo chiều sâu

- Vai trò của nhân tố thị trường đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Đối với nước ta, trong bối cảnh vừa chuyển đổi mô hình kinh

tế, vừa trong điều kiện của nền kinh tế thị trường mới hình thành, chưa phát triển đầy đủ thì vai trò và tác động của nhân tố thị trường đối với sự phát triển các ngành và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành diễn ra như thế nào? Cần phải làm gì để thị trường phát huy được đầy đủ và vai trò tác dụng tích cực của nó

Nền kinh tế nói chung, các ngành, lĩnh vực, đơn vị kinh tế nói riêng đều phải hướng tới việc đảm bảo các yêu cầu của thị trường và tuân thủ các nguyên tắc hoạt động của nó, nghĩa là: mọi hoạt động sản xuất, dịch vụ, kinh doanh đều phải dựa vào thị trường và xuất phát từ nhu cầu thị trường; giá cả hàng hoá và dịch vụ do thị trường chi phối; hoạt động của các ngành, lĩnh vực đơn vị kinh tế đều diễn ra trong môi trường cạnh tranh và phải thích ứng với môi trường này; phải coi lợi nhuận tối đa là mục đích cuối cùng và là động lực nội tại

Trang 23

Để đảm bảo các nguyên tắc nêu trên, đáp ứng những yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường trong điều kiện vận động, biến đổi không ngừng của chúng, đòi hỏi các nhà sản xuất, kinh doanh cũng như các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế phải tạo được một cơ cấu kinh tế hợp lý, năng động

và có hiệu quả hơn Đối với nước ta hiện nay là làm thế nào để vận dụng được các quy luật thị trường, hướng các hoạt động của nó vào cùng một mục tiêu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh, đồng thời hạn chế được tính

tự phát và tác động ngược chiều của cơ chế thị trường

Nhóm nhân tố chủ quan

- Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế phát sinh từ yêu cầu phát triển

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò Nhà nước không thể thiếu được thì trong nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò Nhà nước càng có ý nghĩa quyết định hơn nhiều Vai trò kinh tế Nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:

+ Vai trò và năng lực của Nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thể hiện ở các chức năng chính của Nhà nước, đó là vai trò định hướng chiến lược của Nhà nước, công tác tổ chức, quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

+ Sử dụng có hiệu quả những đòn bẩy kinh tế, nó thể hiện trong hệ thống chính sách đối với việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Những đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ như tài chính quốc gia, các ngân hàng trung ương và hệ thống doanh nghiệp nhà nước Đòn bẩy làm cơ sở tất yếu để Nhà nước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là tài chính quốc gia Đó là công cụ quan trọng nhất của đường lối kinh tế của Nhà nước Tài chính quốc gia tạo nên sự phát triển hài hoà của cơ cấu kinh tế ngành bởi ba chức năng điều chỉnh thu nhập

Các ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại và hệ thống tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất trong điều tiết tập trung vốn vào những ngành kinh tế trọng yếu trong cơ cấu kinh tế ngành

Trang 24

Doanh nghiệp Nhà nước thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò quan trọng Doanh nghiệp nhà nước được phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân

+ Vai trò của Nhà nước biểu hiện trong vấn đề đào tạo nguồn lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Nhà nước có vai trò quyết định trong việc tạo ra và hội tụ các nguồn lực để phát triển nguồn nhân lực Điều này thể hiện

ở các mục tiêu, công cụ, cơ chế tác động của Nhà nước đến quá trình hình thành, phát triển, quản lý nguồn nhân lực

+ Vai trò của Nhà nước còn thể hiện trong hệ thống các chính sách tác động đến phát triển nguồn nhân lực Đó chính là chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách khoa học, công nghệ, chính sách tuyển dụng, đánh giá và phân phối nguồn nhân lực

Vai trò của Nhà nước trong đào tạo nguồn nhân lực còn thể hiện trong

cơ chế, công cụ tác động đến nguồn nhân lực Nhà nước kiểm tra đánh giá, điều chỉnh sự phát triển của nguồn nhân lực; Nhà nước xây dựng cơ chế đầu

tư phát triển nguồn nhân lực

+ Vai trò của Nhà nước trong việc hoạch định và thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nước (thị trường, vốn, khoa học - công nghệ )

+ Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng được khẳng định trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý; tạo địa bàn để các địa phương thu hút các doanh nghiệp trong nước, nước ngoài đầu tư vào các ngành đem lại lợi nhuận cao với chu kỳ thu hồi vốn nhanh; góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có hiệu quả

1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài nền kinh tế

Trong điều kiện toàn cầu hoá, nền kinh tế của các quốc gia đều chịu sự chi phối mạnh mẽ nhân tố bên ngoài, các nước phát triển với lao động cơ bắp

là chủ yếu thì việc tham gia phân công lao động quốc tế có tác dụng to lớn thúc đẩy cơ cấu lao động chuyển dịch theo chiều sâu, hình thành cơ cấu lao động với hàm lượng lao động trí óc ngày càng tăng Có như vậy, các nước

Trang 25

đang phát triển mới có khả năng rút ngắn khoảng cách lạc hậu, sử dụng lợi thế

về lao động và tài nguyên, lợi dụng vốn khoa học - công nghệ từ bên ngoài để hoàn thiện và nâng cấp cơ cấu lao động theo chiều sâu

Hợp tác liên doanh và hội nhập kinh tế quốc tế là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Hiện nay, xu hướng đẩy nhanh

mở cửa và hội nhập về kinh tế khu vực là chủ yếu; đó là giai đoạn đầu, đặt nền móng cho hợp tác liên doanh kinh tế toàn cầu Hợp tác kinh tế khu vực và thế giới là nhân tố quan trọng thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Nó được thể hiện ở các mặt:

- Hợp tác liên doanh và hội nhập kinh tế quốc tế là yếu tố quan trọng thúc đẩy phân công lao động xã hội, nâng cao trình độ nguồn nhân lực

Việt Nam cơ bản vẫn còn là một nước nông nghiệp, nền kinh tế nói chung phát triển chưa ổn định, do đó hạn chế việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó, Việt Nam cần

mở cửa và tham gia hợp tác kinh tế quốc tế Đó là biện pháp chiến lược đẩy nhanh trình độ phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá nâng cao trình độ nguồn nhân lực, thu hút nguồn lao động dư thừa, đặc biệt là đầu tư trực tiếp của tư bản nước ngoài sẽ lấp nhiều chỗ trống và lạc hậu trong cơ cấu kinh tế ngành, làm cho tiềm lực sản xuất to lớn của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phát triển

- Hợp tác liên doanh và hội nhập kinh tế quốc tế là nhân tố quan trọng nâng cấp chất lượng sản phẩm công, nông nghiệp, dịch vụ

Liên kết và hợp tác kinh tế sẽ tạo vốn, công nghệ và không gian hoạt động kinh tế rộng hơn nhằm khắc phục tình trạng lạc hậu của các ngành kinh

tế, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm công, nông nghiệp và dịch vụ

- Hợp tác liên doanh và hội nhập kinh tế quốc tế còn là nhân tố cần thiết khắc phục tình trạng cơ cấu kinh tế ngành bất hợp lý do lịch sử để lại, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế mở, hợp lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2.4 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Trang 26

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tạo điều kiện giải quyết sự bất bình đẳng giữa các vùng trong nền kinh tế

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là quá trình sắp xếp lại tỷ trọng các ngành, các loại hình doanh nghiệp theo hướng tăng cường các ngành, các loại hình doanh nghiệp có trình độ khoa học công nghệ cao hơn, tiên tiến hơn, từ đó tạo ra hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn, thúc đẩy tốc

độ tăng trưởng

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành sẽ bố trí lại lãnh thổ, đô thị hoá nông thôn, miền núi, sẽ tạo ra sự phát triển bình đẳng giữa các vùng, đưa miền núi tiến kịp với miền xuôi, đồng thời qua đó đẩy nhanh sự phát triển của toàn nền kinh tế

1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho Sơn La

1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh

Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một tỉnh là sự vận động phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương tác giữa chúng theo thời gian và không gian, dưới tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội nhất định trong và ngoài tỉnh

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một tỉnh là sự thay đổi có mục đích, có định hướng của các ngành kinh tế của tỉnh từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và có hiệu quả hơn căn cứ trên cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực tiễn của đất nước nói chung và điều kiện thực tiễn riêng của từng tỉnh trong từng thời kỳ

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một tỉnh miền núi có những đặc điểm sau:

Một là, cơ cấu kinh tế của một tỉnh miền núi về nông nghiệp phải chuyển dịch theo phương hướng chuyển dịch chung của cả nước, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chịu sự tác động chung của các nhân tố của cả nước

Trang 27

Hai là, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một tỉnh miền núi là nông nghiệp có thể dựa trên lợi thế chủ yếu là nguồn lao động dồi dào giá rẻ, tài nguyên khoáng sản

Ba là, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một tỉnh miền núi sẽ gặp khó khăn về vốn, khoa học - công nghệ, thiếu lao động có trình độ cao nên việc phát triển các ngành này cần có sự cân nhắc theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, hỗ trợ đắc lực cho phát triển các ngành kinh tế khác trong tỉnh

Bốn là, hầu hết các tỉnh miền núi mới chỉ bắt đầu thực hiện sự chuyển dịch Năm là, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một tỉnh miền núi có thể sử dụng các chỉ tiêu chung để đánh giá

Sáu là, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một tỉnh miền núi vừa chịu ảnh hưởng của những nhân tố chung vừa chịu ảnh hưởng của những nhân tố riêng, đặc thù của tỉnh

1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có tính điển hình ở một số địa phương

1.3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Lào Cai

Lào Cai là vùng cao biên giới, có nhiều dân tộc Diện tích tự nhiên 8.049km2 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém, trình độ dân trí thấp, tình trạng du canh du cư chưa được khắc phục, nền kinh tế tuy có tăng trưởng nhưng còn nhiều yếu tố bấp bênh, chưa ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tiềm năng đa dạng nhưng thiếu nguồn đầu tư, kinh tế đối ngoại chậm phát triển

Trong mấy năm qua Lào Cai đã quyết tâm vươn lên để xoá đói giảm nghèo, đưa nền kinh tế Lào Cai từng bước phát triển, không bị tụt hậu quá xa so với nền kinh tế vùng Đông Bắc cũng như cả nước

- Khu vực nông nghiệp nông thôn được coi là trọng tâm, chỉ đạo để xoá bỏ nền kinh tế tiểu nông, độc canh, tự cấp, tự túc để chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, trên cơ sở khai thác các lợi thế và tiềm năng về du lịch, đất đai và lao động Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp hài hoà giữa hiệu quả kinh tế với xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, gắn liền với nhiệm vụ củng cố và giữ gìn an ninh

Trang 28

quốc phòng Cơ cấu kinh tế ngành của Lào Cai: Nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ; năm 2008 đạt tỷ lệ 41% - 35% - 24%

- Về sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp; đã khuyến khích việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là giống mới có năng suất để tăng sản lượng lúa, ngô Giảm dần diện tích loại cây trồng trên đất dốc như lúa nương, sắn để chuyển trả lại cho đất rừng hoặc trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao phù hợp vùng sinh thái Đã tập trung đầu tư tạo vùng nguyên liệu và cây trồng có ưu thế để tăng sản phẩm hàng hoá Hình thành vùng cây ăn quả; ở nơi cao khí hậu mát quanh năm thì trồng cây ôn đới: mận, táo, lê, dâu tây, nho; ở nơi thấp phát triển cây nhãn, vải, hồi, chuối tiêu; chú trọng cây chè, đậu tương, mía, cây dược liệu

Trong chăn nuôi đã chú trọng khâu cải tạo giống và nhân giống tại địa phương để tăng sản lượng và chất lượng Gắn dự án phát triển nông - lâm nghiệp với công tác dịch vụ, định canh, định cư Lựa chọn những loại cây trồng lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao Quan tâm đầu tư rừng đặc dụng và rừng đầu nguồn Thực hiện việc giao đất, giao rừng đến từng hộ, từng bước hoàn tất thủ tục, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển

- Về sản xuất công nghiệp: Phát triển công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu có quy mô phù hợp và lựa chọn công nghệ tiên tiến Trước mắt đầu tư khai thác những cơ sở công nghiệp đã có thể khai thác triệt để năng lực thiết

bị, đồng thời xúc tiến nghiên cứu các dự án khả thi cho một số sản phẩm mới Đối với ngành nghề thủ công, cần khai thác ngành nghề truyền thống, đặc biệt

là hàng hoá của đồng bào các dân tộc; từng bước vươn lên sản xuất hàng xuất khẩu

- Về dịch vụ: đối với cơ sở thương nghiệp quốc doanh, tiến hành củng

cố theo hướng giảm dần đầu mối, nhưng màng lưới thì mở rộng đến các cụm

xã Đầu tư, khai thác những cụm kinh tế quan trọng (cửa khẩu quốc tế Lào Cai và thị trấn Sapa), ưu tiên đầu tư những điểm tham quan du lịch

Nghiên cứu khai thác, mở rộng thị trường, đặc biệt là đối với Trung Quốc; đối với thị trường trong nước, Lào Cai chú trọng thị trường vùng Đông Bắc, các tỉnh phía Nam tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ giao lưu, có chính sách hỗ trợ đối với người sản xuất, trợ giá vận chuyển hàng hoá, bao tiêu

Trang 29

sản phẩm cho nhà sản xuất, miễn thuế đối với mặt hàng sản xuất ra khó tiêu thụ góp phần kích thích thị trường phát triển

Nét nổi bật trong hoạt động thương mại, du lịch của Lào Cai là tổ chức xúc tiến, giao lưu, quảng bá thông qua tổ chức các hội chợ, lễ hội

Vị trí, thiên nhiên ban tặng cho Lào Cai tiềm năng, lợi thế du lịch Đến nay tỉnh đã có những quy hoạch cơ bản mạng lưới du lịch, với những tuyến, điểm, quần thể, trung tâm như: Sapa, Bắc Hà, thị xã Lào Cai

Công tác phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai đã được coi trọng, đã chú trọng đầu tư cho vùng cao về giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, điện, trường học, trạm xá, trồng rừng, chợ, cơ sở sản xuất, dịch vụ

Huy động vốn từ các nguồn khác nhau, từ nội bộ nền kinh tế, từ các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, huy động vốn từ dân, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Để phát triển nguồn nhân lực, tỉnh Lào Cai thực hiện phổ cập giáo dục, có chính sách cho con em đồng bào dân tộc ít người Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý của các già làng, trưởng bản Có chế độ ưu tiên thoả đáng đối với các cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý Nhà nước công tác ở vùng sâu, vùng sâu có nhiều khó khăn

Để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có hiệu quả và đúng hướng Tỉnh Lào Cai tăng cường hiệu lực lãnh đạo của hệ thống chính trị, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước [28]

Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung cốt lõi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Cơ cấu kinh tế luôn vận động, nhưng là sự vận động trong mỗi quan hệ cân đối, ổn định Các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế luôn biến đổi, phá vỡ cân đối và nó lại điều chỉnh cân đối để tạo ra sự ổn định Bởi vậy, yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một tất yếu khách quan Cơ cấu kinh tế được hình thành và phát triển từ điều kiện tự nhiên, sự phát triển của lực lượng sản xuất, và quan hệ kinh tế thị trường Cơ cấu kinh tế hình thành và phát triển theo quy luật khách quan Sự chuyển cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào sự phát triển quan hệ kinh tế

Trang 30

thị trường, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Vai trò chủ quan của con người khi xác lập cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ chỉ hợp lý khi thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc, phản ánh đúng được sự vận động của quy luật kinh tế Để có được tính hiệu quả kinh tế - xã hội cao, con người cần nhận thức những quy luật chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời thúc đẩy quy luật vận động nhanh một cách hợp lý

1.3.2.2 Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Yên Bái

Yên Bái cửa ngõ vùng Tây Bắc, cầu nối trung tâm các tỉnh miền núi trung du phía Bắc nước ta Vượt qua những khó khăn của một tỉnh miền núi Yên Bái đã không ngừng vươn lên, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH với mục tiêu đưa Yên Bái trở thành tỉnh phát triển toàn diện

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân gần 13%, đứng thứ tư trong các tỉnh trung du miền núi phía Bắc

Về giá trị sản xuất toàn ngành nông - lâm - thuỷ sản bình quân tăng 5,64%/năm Kinh tế trang trại được chú trọng và phát triển Việc thâm canh lúa trên đất dốc ở vùng cao, chuyên canh ở vùng thấp đã đuợc Yên Bái vận dụng tốt và hiệu quả Mở rộng thêm một số vùng sản xuất chuyên canh có quy

mô lớn về diện tích và sản phẩm gắn với chế biến và thị trường Nổi bật là vùng lúa năng suất, chất lượng cao ở thị xã Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên, đưa sản lượng lương thực bình quân đầu người từ 227 kg năm

2006 tăng lên năm 2010 là 318 kg

Phát huy được tiềm năng thế mạnh từ kinh tế rừng và đẩy mạnh trồng rừng, đã tạo được vùng sản xuất nguyên liệu giấy, gỗ công nghiệp chế biến lớn của tỉnh và trở thành tỉnh dẫn đầu của vùng về trồng rừng sản xuất ở nhiều nơi, sản xuất lâm nghiệp đã trở thành nghề chính và làm giàu được từ rừng Vùng quế đặc sản ở huyện Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn tiếp tục phát triển mạnh hơn với 27.000ha, gắn với cơ sở chế biến công nghiệp tập trung với quy

mô phù hợp, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập của người trồng quế Vùng trồng măng tre Bát Độ ở huyện Trấn Yên đuợc mở rộng và phát huy có hiệu quả, mang lại thu nhập tốt hơn cho người dân

Trang 31

Tỉnh cũng đã xác định công nghiệp là khâu đột phá trong phát triển kinh tế của tỉnh Yên Bái tập trung vào khai thác các tiềm năng, lợi thế về tài nguyên và lao động để phát triển công nghiệp, tổ chức thực hiện chính sách thu hút đầu tư, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất Nhiều dự án công nghiệp đã đưa vào sản xuất như hai nhà máy xi măng lò quay với tổng công suất 1,2 triệu tấn/năm, các nhà máy khai thác, chế biến đá bột với tổng công suất 450 nghìn tấn/năm Đến nay, tỉnh đã quy hoạch, xây dựng năm khu

và 12 cụm công nghiệp tập trung với tổng diện tích hơn 2.000ha, đã có 53 dự

án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp với tổng vốn đăng ký 2.355 tỷ đồng

Thương mại, dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao, sản phẩm đa dạng, chất lượng được đảm bảo Việc tỉnh xây dựng và thực hiện tốt các cơ chế, chính sách, đẩy nhanh xây dựng kết cấu hạ tầng đã góp phần thu hút các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hoạt động tài chính, tín dụng đạt được nhiều kết quả tốt

1.3.2.3 Bài học cho Sơn La từ kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh

Từ những thành công và chưa thành công của một số tỉnh, có thể rút ra một số bài học cho Sơn La như sau:

- Phải có chiến lược quy hoạch sản xuất phù hợp với lợi thế của tỉnh, phù hợp với yêu cầu của thị trường trong và ngoài tỉnh Mở rộng sản xuất những ngành mà tỉnh có lợi thế so sánh Xây dựng được kế hoạch và chương trình trọng điểm cho từng giai đoạn phát triển

- Tăng cường đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, thuỷ lợi để thu hút đầu tư, mở rộng thị trường cho hàng hoá trong tỉnh

- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư, vốn đầu tư là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng của tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Xuất phát điểm là một tỉnh miền núi, khó khăn, tích luỹ từ nội

bộ nền kinh tế rất thấp, để phát triển cần tạo ra các chính sách thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài tỉnh

Trang 32

- Tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá

ở trong và ngoài tỉnh, khai thông thị trường xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài

- Đa dạng hoá các thành phần kinh tế, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, phát triển thị trường tín dụng để huy động vốn

- Tổ chức được các phong trào thi đua nối tiếp nhau nhằm thúc đẩy nhân dân tích cực phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu cho cá nhân và cho

xã hội

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Sơn La là một tỉnh miền núi cao biên giới, nằm ở trung tâm của Tây Bắc, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 320km, có độ cao trung bình 600 - 700m (so với mặt nước biển); địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, giao thông đi lại khó khăn; diện tích tự nhiên rất lớn đứng thứ 3 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước, bằng 39% diện tích vùng Tây Bắc và

bằng 4,27% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc; phía Bắc giáp với Yên Bái, Lai

Châu, phía Nam giáp với Thanh Hoá và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào,

phía Đông giáp với Phú Thọ và Hoà Bình, phía Tây giáp Điện Biên Toàn tỉnh

có 1 thành phố là thành phố Sơn La trực thuộc tỉnh và 10 huyện: Thuận Châu, Sông Mã, Sốp Cộp, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Bắc Yên, Phù Yên, Mường La, Quỳnh Nhai

Khí hậu: Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh khô, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.276mm Nhiệt độ trung bình là 24,020 độ C, hàng năm có 6 tháng có nhiệt độ trung bình

Tỉnh Sơn La có 405.500ha, diện tích đất tự nhiên Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 190.070ha, chiếm 13,52%, diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 331.120ha, chiếm 23,55%, diện tích đất chuyên dùng là 22.327ha, chiếm 1,52%, diện tích đất là 5.756ha, chiếm 0,39%, diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 856,227ha, chiếm 59,02% Đất đai của Sơn La thích hợp với nhiều loại cây trồng

Trang 34

Diện tích rừng của Sơn La năm 2010 là 625.786ha, tỷ lệ che phủ đạt 44%, hết năm 2011 ước đạt 51,7% trong đó có 340.000ha rừng sản xuất, trong

đó diện tích rừng mới là 72.900ha

Sơn La có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú nhưng

có 2 nguyên liệu chủ yếu là đá vôi và sét với trữ lượng khá lớn hiện đang được khai thác mạnh để sản xuất xi măng, gạch, ngói nung Ngoài ra Sơn La còn có một số khoáng sản như niken, quặng

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Kinh tế - xã hội Sơn La đã có những bước tiến đáng kể Tổng sản phẩm nội tỉnh giai đoạn 2001- 2005 tăng bình quân 11,6%/ năm 2006 - 2010, GDP của tỉnh (theo giá so sánh 1994) đạt 4.136 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với năm

2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2006 - 2010 đạt 14-14,5% năm; Trong

đó GDP nông - lâm nghiệp tăng bình quân 4-5%; GDP công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 25-26% năm; GDP dịch vụ tăng bình quân hàng năm 17-18% Cơ cấu GDP dịch vụ chiếm 37-38%, công nghiệp và xây dựng chiếm 34-35%, nông, lâm nghiệp chiếm 28-29%

Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng bình quân 8-9% năm, giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 32-33%/năm (riêng công nghiệp tăng bình quân 23,3%/năm); giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng bình quân 21-22%/năm

Tổng giá trị xuất khẩu năm 2010 đạt 25 triệu USD, tăng bình quân 12,3% Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 5,5 triệu USD, tăng bình quân 11,4%

Sơn La có mật độ dân số tương đối thưa 70 người/km2 Trên địa bàn có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó: đông nhất là dân tộc Thái 55,2%, dân tộc Kinh 18%, dân tộc Hmông 12%, dân tộc Mường 8,2%, dân tộc Dao 2,7%, dân tộc Xinh Mun 1,45% Tỷ lệ hộ nghèo 25%

Năm 2001 toàn tỉnh có 407 nghìn người tham gia các hoạt động kinh tế chiếm 45% dân số, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm 91,5% Năm 2010

có 649 nghìn người lao động chiếm 59,5% dân số, số lao động được qua đào tạo 62,21% Tổng số lao động tăng bình quân là 4,46%

Trang 35

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Sơn La

* Thuận lợi

Do đặc điểm điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội nói trên, Sơn

La có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Sơn La có tuyến trục giao thông đường bộ quan trọng là quốc lộ 6, vừa được nâng cấp thành đường cấp 3 miền núi chạy qua tỉnh là tuyến đường huyết mạch nối vùng Tây Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc

Bộ Ngoài ra còn có quốc lộ 27, quốc lộ 43, quốc lộ 279 đều là những tuyến đường quan trọng nối Sơn La với các tỉnh lân cận

Sơn La có đường biên giới chung với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào dài 250km; có các cửa khẩu Quốc gia Chiềng Khương, Lóng Sập là lợi thế để Sơn La thông thương giao lưu kinh tế với các vùng của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Sơn La còn là địa bàn có vị thế rất quan trọng trong chiến lược xây dựng và phòng thủ đất nước

Khí hậu Sơn La mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa có pha trộn khí hậu ôn đới do tính chất phức tạp của địa hình chia cắt (nhiều vùng khí hậu) thích hợp để phát triển một tập đoàn cây trồng, con nuôi phong phú đa dạng phát huy lợi thế các yếu tố sinh thái mà không phải bất cứ vùng nào cũng có được Mỗi năm Sơn La có từ 22 - 24 vạn tấn ngô, đậu tương hàng hoá

là nguồn nguyên liệu cho chế biến thức ăn gia súc

Đất đai: Đa số đất đai còn tốt, màu mỡ Diện tích đất có khả năng khai thác đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp có tới 82,8 vạn ha (trong đó đất nông nghiệp 24,8 vạn) để trông cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi

và trồng rừng

Nằm trên địa bàn núi cao, song nhờ có cao nguyên rộng và tương đối bằng phẳng có ưu thế phát triển một cơ cấu nông nghiệp đa dạng, có quy mô tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá và xuất khẩu

Trang 36

Ngành công nghiệp Sơn La trong những năm gần đây đã hình thành các nhóm ngành phù hợp với tiềm năng và lợi thế của tỉnh, các sản phẩm sản xuất

ra ngày càng đa dạng về chủng loại, chất lượng được nâng cao Tốc độ chuyển dịch của ngành công nghiệp ngày càng tăng, khi nhà máy thuỷ điện Sơn La đi vào hoạt động

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, con em các dân tộc Sơn La được tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ (các trường học được xây kiên

cố, các lớp tạo nguồn, các lớp cử tuyển của Trung ương và địa phương ) đây chính là nhân lực quan trọng của tỉnh

Yếu tố bất lợi của khí hậu: Mùa mưa tập trung, mưa lớn tháng 5, 6, 7, 8 chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm dễ gây lũ quét, lũ ống, dễ gây rửa trôi, xói mòn đất Ngược lại mùa khô lượng mưa nhỏ thường gây hạn cho cây trồng, thiếu thức ăn cho gia súc, đặc biệt là gia súc ăn cỏ, thiếu nước phục vụ cho chăn nuôi Kèm theo đó còn có những yếu tố bất lợi khác là sương muối, gió khô nóng

Kết cấu hạ tầng còn nghèo nàn lạc hậu, đặc biệt là hệ thống đường giao thông nhiều thôn bản chưa được nâng cấp, hạn chế lớn trong việc đi lại của người dân và vận chuyển hàng hoá

Trình độ các dân tộc không đều Một bộ phận lao động dân tộc ít người còn duy trì tập quán chăn nuôi lạc hậu, thả rông gia súc, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ còn hạn chế, Do vậy sản xuất chưa có tích luỹ, không có điều kiện tái sản xuất mở rộng

Trang 37

Sản xuất công nghiệp địa phương còn nhỏ lẻ, phân tác, đặc biệt là công nghiệp chế biến sau thu hoạch, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, nên các sản phẩm nông, lâm sản chủ yếu vẫn còn ở dạng nguyên liệu nên giá trị kinh

tế thấp Các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có đều trong tình trạng quy mô nhỏ, công nghệ và trạng thiết bị lạc hậu nên năng suất và sản phẩm có chất lượng thấp, thiếu sức cạnh tranh

Với địa bàn là trung tâm giao lưu kinh tế, văn hoá nên có nhiều thuận lợi nhưng với mặt trái của cơ chế thị trường vẫn còn diễn ra nhiều như: buôn lậu, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển

Sự thiếu hụt về lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật là một trở ngại lớn đối với sự phát triển của tỉnh chuyển sang giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành

ở Sơn La những năm qua

2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Sơn La

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã xác định: Phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các hoạt động sản xuất có quy mô và trình độ

kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định Để thực hiện sự sắp xếp đó, trước kết phải bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu

và dịch vụ gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, xây dựng nông thôn mới gắn

bó hữu cơ với kinh tế đô thị

Trang 38

Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn thời kỳ

1991 - 2000, đưa nền kinh tế - xã hội của tỉnh thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn và thuần nông

Kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên, trong giai đoạn 2001- 2010 có thể nói cơ cấu ngành kinh tế của Sơn La trong những năm qua

đã chuyển dịch theo xu hướng chuyển dịch chung của cơ cấu ngành kinh tế của cả nước và các tỉnh khác

Nền kinh tế Sơn La đã thực sự chuyển mình, cơ cấu các ngành kinh tế

đã có sự thay đổi rõ rệt (xem bảng sau):

Trang 39

Bảng 2.1 Cơ cấu ngành kinh tế của Sơn La và cả nuớc thời kì 2001-2010

I Sơn La 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 Nông, lâm, thuỷ sản 60,96 47,56 45,90 45,80 43,15 43,4

II Cả nước 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 Nông, lâm, thuỷ sản 24,53 20,97 20,40 20,34 22,21 20,91

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sơn La, Niên giám Thống kê Việt Nam,

2010

Qua số liệu của bảng 2.1 cho thấy:

- Cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản có bước tiến triển khá,

đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá Các vùng tập trung cây ăn quả, cây công nghiệp, cây đặc sản có thế mạnh tiếp tục được phát triển Các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao bắt đầu được đưa vào sản xuất Tỉnh thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng, thế mạnh kinh tế về rừng đã được khai thác

Tỷ trọng nông - lâm nghiệp trong GDP giảm dần qua các năm Năm 2010 tỷ trọng nông lâm nghiệp là 43,4% so với năm 2001 là 60,96% giảm xuống 17,29%

- Từ một tỉnh nằm trong danh sách của cả nước là trắng về công nghiệp Giờ đây công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tỉnh đã bắt đầu khởi sắc, vượt qua thời kỳ đầu khó khăn dần dần thích ứng với cơ chế thị trường Tỉnh đã chú trọng đầu tư hình thành những cụm công nghiệp và những xí nghiệp đã đưa vào sản xuất như: như gạch, xi măng, điện, chè, một số cơ sở chế biến hoa quả Xác định rõ phương hướng phát triển công nghiệp địa phương Tiếp tục củng cố, sắp xếp một số doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu qủa Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng năm

2001 là 9,49% tăng lên 22% năm 2010, như vậy là tăng 13,49% Từ năm

2010 trở đi thì công nghiệp - xây dựng sẽ tăng hơn nữa khi các tổ máy của thuỷ điện Sơn La hoạt động

Trang 40

- Thương mại - dịch vụ, đã có những bước phát triển khá, dịch vụ, du lịch đã thu hút được khách du lịch trong nước và quốc tế đến Sơn La ngày càng đông Cửa khẩu sang Lào là nơi trao đổi thương mại quan trọng, tỉnh đã nhiều lần tổ chức hội chợ thương mại giữa Sơn La và Lào

Tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ trong GDP của tỉnh tăng qua các năm Năm 2010 tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ đạt 34,6% so với năm

2001 đạt 29,55% tăng khoảng 5%

Từ biểu trên, chúng ta có thể nêu lên một số nhận xét khái quát về tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Sơn La như sau:

Một là, trong giai đoạn 2001 - 2010, cơ cấu ngành kinh tế ở Sơn La đã

có sự chuyển dịch theo huớng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch

vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp

Hai là, so với sự chuyển dịch chung của cả nước thì sự chuyển dịch của Sơn La còn rất chậm và lạc hậu Nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế

2.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu theo nội bộ ngành ở Sơn La

2.2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp (nông - lâm nghiệp - ngư nghiệp)

Những năm trở lại đây nền kinh tế của tỉnh được duy trì tốc độ tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước và phát triển tương đối toàn diện, bình quân đạt 11,6%, GDP nông, lâm nghiệp tăng 5% Kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển theo quan điểm hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến, khai thác tiềm năng lợi thế của tỉnh; tăng cường thâm canh, tăng vụ, ứng dụng các giống mới và các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất Các cây công nghiệp chủ lực được đầu tư phát triển về quy mô và chất lượng Nhiều cơ chế chính sách mới được ban hành; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn Bộ mặt nông nghiệp, nông thôn có nhiều khởi sắc, đời sống tinh thần và vật chất từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo năm 2002 còn 17% (theo tiêu chí cũ), đến năm 2008

là 41% (theo tiêu chí mới) Giá trị sản xuất trên 1ha đất canh tác năm 2001 đạt 7,55 triệu đồng, đến năm 2010 đạt 11,8 triệu đồng

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cơ cấu ngành kinh tế của Sơn La và cả nuớc thời kì 2001-2010 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Tỉnh Sơn La theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.1. Cơ cấu ngành kinh tế của Sơn La và cả nuớc thời kì 2001-2010 (Trang 39)
Bảng 2.2. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Tỉnh Sơn La theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.2. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (Trang 41)
Bảng 2.5. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thuỷ sản - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Tỉnh Sơn La theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.5. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thuỷ sản (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w