1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam

106 1,7K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội GNP Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc dân TFP Total Factor Productivity – Năng suất nhân tổ tổng hợp Tổ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐÀO THỊ BÍCH THỦY

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA SOLOW VÀ

PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN

LỰC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

08

1.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow và phương pháp

hạch toán tăng trưởng

08

1.1.1.1 Hàm sản xuất và những nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế 09 1.1.1.2 Mối quan hệ giữa tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn 10

1.2.Các chỉ tiêu đánh giá nguồn lực tăng trưởng kinh tế và vận

dụng vào Việt Nam

19

1.2.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động – Năng suất lao

động

19

1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn - Hệ số ICOR 19

CHƯƠNG 2

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

24

Trang 3

2.1.2.1 Năng suất lao động và việc áp dụng tính toán ở Việt Nam 27 2.1.2.1.1 Phân tích năng suất lao động chung toàn nền kinh tế giai

2.2.2 Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế 49

2.3 Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế

2.3.3 Đánh giá vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng

kinh tế Việt Nam

QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC

NGUỒN LỰC CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐỐI VỚI VIỆT

64

Trang 4

3.1 Triển vọng và quan điểm tăng trưởng kinh tế Việt Nam 64

3.1.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 64 3.1.2 Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới 65

3.2 Các giải pháp pháp huy các nguồn lực tăng trưởng kinh tế

Việt Nam

69

3.2.1.2 Từ bỏ cơ cấu kinh tế theo đuôi, tìm lối đi riêng dựa vào những

điểm Việt Nam có lợi thế

73

3.2.2.1 Tăng việc làm, tạo nguồn việc làm mới để tăng GDP 75

3.2.3.1 Giảm chi phí trung gian là biện pháp quan trọng để thực hiện

mục tiêu phát triển kinh tế bền vững

78

3.2.3.2 Phát huy và sử dụng mọi tiềm năng vốn có của lực lượng sản

xuất

79

3.2.3.3 Đổi mới công nghệ và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trong hoạt

động của doanh nghiệp

80

3.2.3.4 Nhận thức đúng vai trò của tín dụng, ngân hàng trong việc

phân phối và tối ưu hoá nguồn vốn xã hội

82

3.2.3.5 Phát triển và nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho nền kinh

tế

84

3.3 Gợi ý giải pháp phát triển các nguồn lực tăng trưởng kinh tế

Việt Nam trong thời gian tới

86

3.3.1 Tăng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) để nâng cao chất

lượng tăng trưởng

86

Trang 5

3.3.2.1 Khuyến khích tiết kiệm và đầu tư 87

3.3.2.4 Bảo vệ quyền sở hữu và duy trì ổn định chính trị 88

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội

GNP Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc dân

TFP Total Factor Productivity – Năng suất nhân tổ tổng hợp

(Tổng năng suất nhân tố sản xuất) ICOR Incremental capital output ratio – Chỉ tiêu phản ánh hiệu

quả của vốn NSLĐ Năng suất lao động

APO Asia Productivity Organization – Tổ chức năng suất châu

Á ASEAN Association of Southest Asia Nations – Hiệp hội các quốc

gia Đông Nam Á

WB World bank – Ngân hàng thế giới

FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations

– Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp quốc UNDP United Nations Development programme – Chương trình

phát triển liên hợp quốc WEF World Economic Forum – Diễn đàn kinh tế thế giới

KH&CN Khoa học và Công nghệ

R&D Research and Development – Hoạt động nghiên cứu và

phát triển ODA Official Development Assistance – Vốn hỗ trợ phát triển

chính thức FDI Foreign direct investment – Vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài FPI Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

GS Goldman Sachs – Ngân hàng đầu tư hàng đầu của Mỹ CEPR Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách

VA Tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm

Tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của Việt Nam, 1991-2008 24 Bảng 2.2: Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của

một số nước và lãnh thổ trên thế giới năm 2008

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài

Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc là mong ước của mọi người Bàn luận về điều này thật có ý nghĩa vô cùng to lớn Cùng với sự phát triển của nhân loại, những nghiên cứu về các vần đề kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường đã làm tốn không biết bao thời gian, công sức, trí tuệ mà vẫn là chưa đủ

Trong lời tựa cuốn sách nhan đề "Vì chất lượng cuộc sống tốt hơn", được coi

là tài liệu xác định Chiến lược Phát triển bền vững của Chính phủ Vương quốc Anh, Thủ tướng Tony Blair viết: “Tiến bộ thực sự không thể đo bằng tiền Chúng

ta phải bảo đảm rằng tăng trưởng kinh tế đóng góp cho chất lượng cuộc sống của chúng ta, chứ không phải là làm cho nó xấu đi Tăng trưởng vừa phải ổn định, vừa phải bền vững về mặt môi trường Điều có ý nghĩa quan trọng ở đây là chất lượng của tăng trưởng, chứ không chỉ là số lượng.” [17, tr 7]

Còn trong phần Tổng quan mở đầu cuốn sách "Chất lượng tăng trưởng", do Ngân hàng Thế giới tổ chức biên soạn và xuất bản, có đoạn viết: “Thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 đã chứng kiến bước tiến bộ đáng kể tại nhiều khu vực trên thế giới, đồng thời cũng chứng kiến sự trì trệ và những bước thụt lùi, thậm chí ở cả những quốc gia trước đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại nhanh nhất Những khác biệt đang tiếp tục gia tăng và những đảo lộn ghê gớm này cho ta hiểu nhiều điều về những gì là yếu tố đóng góp cho phát triển Đứng ở vị trí trung tâm là tăng trưởng kinh tế, nhưng không chỉ là tốc độ tăng (về số lượng) của nó, mà cũng quan trọng như vậy là cả chất lượng của tăng trưởng”[18, tr 16]

Đến đây, chúng ta có thể nói rằng, các phạm trù - phát triển và phát triển bền vững, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng - có mối quan hệ gần gũi với nhau, nhưng không trùng lặp, mà bổ sung lẫn cho nhau Mỗi phạm trù đều có nội hàm riêng, thể hiện quá trình phát triển của tư duy, nhận thức của con người về tự nhiên,

về xã hội và về bản thân cuộc sống của mình

Trang 9

Có thể thấy, phạm vi của khái niệm "chất lượng tăng trưởng" là khá rộng và các tiêu chí định lượng để đánh giá nó vẫn còn trong quá trình tiếp tục được nghiên cứu, xác định Cho đến nay, vì nhiều lý do, trong đó có việc cho phép so sánh quốc

tế, GDP (GNP) và GDP (GNP) bình quân đầu người (cả số tuyệt đối và số tương đối) vẫn là hai tiêu chí được cả thế giới thừa nhận và sử dụng để đo lường, đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế Nhưng, cũng từ lâu trong kinh tế học, cả lý thuyết và thực hành, người ta đã lưu ý về những điểm hạn chế, điểm không phù hợp của các thước đo này, nhất là liên quan đến phúc lợi và chất lượng cuộc sống và trong những khía cạnh xã hội của quá trình phát triển Với sự phân biệt ngày càng chi tiết

và sâu sắc giữa "tăng trưởng" và "phát triển", đặc biệt là trong quá trình xây dựng các tiêu chuẩn về phát triển bền vững, các học giả kiến nghị rằng thước đo về phát triển phải bao gồm không chỉ tốc độ tăng trưởng, mà cả các khía cạnh về chất lượng như cơ cấu, sự phân bổ và tính bền vững của tăng trưởng Từ đó, trong hoạt động thực tiễn ở nhiều quốc gia, một số tiêu chí và đại lượng đã lần lượt được áp dụng Trong đó yếu tố năng suất được đặc biệt chú ý

Ngày nay, năng suất có quan hệ nhiều mặt của nền kinh tế - xã hội, liên quan đến sản xuất và đời sống của dân cư Nó trở thành nội lực phát triển của các công

ty, ngành và nền kinh tế Hơn nữa, nó còn là cơ sở đảm bảo cho đời sống của dân

cư ngày càng tốt hơn Lấy một thí dụ để thấy sự quan trọng của hiệu suất Các nền kinh tế ở Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan từ giữa thập niên 1960 và Trung Quốc từ thập niên 1980 đã cho thấy một sự phát triển kỳ diệu Tuy nhiên nếu

so với thời đại phát triển thần kỳ của Nhật (1950-1973) thì Nhật hiệu suất hơn nhiều Nhật dùng lượng tư bản ít hơn và phát triển với tốc độ cao hơn Chẳng hạn, trường hợp Hàn Quốc trong giai đoạn 1960-1994, kinh tế tăng trưởng bình quân năm là 8,3%, trong đó tư bản đóng góp 4,3%, lao động 2,5% và hiệu suất 1,5%, trong khi Nhật trong giai đoạn 1950-1973, kinh tế tăng trưởng tới 9,2% nhưng tư bản chỉ đóng góp 3,4% (nhỏ hơn Hàn Quốc) vì hiệu suất đóng góp tới 3,6% Chính

vì vậy, luận văn này sẽ nghiên cứu các cách tiếp cận mới về bản chất năng suất ,

Trang 10

tổng hợp và phân tích cơ sở của việc đo lường năng suất Trên cơ sở đó, sẽ trình bày phương pháp phân tích biến động năng suất, tổng hợp và tìm hiểu các nghiên cứu về lượng hoá vai trò cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố của tăng trưởng đến sự biến động đó Đồng thời xem xét ảnh hưởng của năng suất đến các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác Trong đó, chú trọng đến phân tích chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), từ đó đánh giá được vai trò của của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế (theo nghĩa nguyên gốc, gắn với GDP) bắt nguồn từ ba yếu tố đầu vào là vốn, lao động và tiến bộ công nghệ (bao quát công nghệ sản xuất,

kỹ năng quản lý và một số khía cạnh liên quan khác) Để đánh giá ba yếu tố này, lâu nay, người ta sử dụng các tiêu chí ICOR, năng suất lao động và năng suất nhân

tố tổng hợp - TFP TFP là chữ viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Total Factor Productivity" (có tác giả dịch là "tổng năng suất nhân tố sản xuất")

Trong tăng trưởng GDP có sự đóng góp của vốn và lao động (là hai trong ba nhân tố sản xuất cơ bản cùng với đất đai) Ở trên chúng ta đã nói về đóng góp của vốn và lâu nay ta đã quen thuộc với khái niệm năng suất lao động Nhưng nhiều khi chúng ta muốn biết hiệu quả của các đầu vào tính gộp chung, chứ không chỉ riêng từng đầu vào Về cơ bản, khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp - TFP là một cách

đo lường đồng thời năng suất của cả vốn lẫn lao động trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế Cách tiếp cận được sử dụng ở đây là thông qua "hàm sản xuất" có dạng: GDP = A × f(K, L), thể hiện quan hệ giữa GDP và các đầu vào - vốn

K và lao động L, trong đó A đại diện cho năng suất nhân tố tổng hợp

Có thể nói, TFP là thước đo phản ánh hiệu quả kinh tế trong sử dụng vốn và lao động; Song, với cách tiếp cận tổng thể này, ta có thể bổ sung các yếu tố khác Trong các yếu tố bổ sung, người ta quan tâm nhiều đến tiến bộ công nghệ và các biện pháp quản lý, điều hành, cả ở tầm vĩ mô và vi mô Nhiều nghiên cứu đã được các học giả trên thế giới tiến hành về vai trò của TFP đối với tăng trưởng Đối với một quốc gia, vốn và lao động là những đại lượng hữu hạn, vì thế các học giả

Trang 11

khuyến cáo các chính phủ cần tập trung thúc đẩy TFP Họ cũng đi đến kết luận rằng sự khác biệt giữa các quốc gia về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng phần lớn bắt nguồn từ khác biệt trong TFP Đến nay, trong nghiên cứu phân tích tăng trưởng kinh tế, người ta thống nhất chỉ tập trung vào ba thành phần tạo nên tăng trưởng là vốn, lao động và TFP (trong hệ thống số liệu thống kê công bố hàng năm, nhiều nước đã công bố tỷ lệ phần trăm đóng góp của từng thành phần trong tăng trưởng GDP) Có nhiều yếu tố có thể góp phần thúc đẩy TFP Năng lực tổ chức và quản lý; hệ thống giáo dục quốc gia cùng với hoạt động nghiên cứu - triển khai, công tác phổ biến và chuyển giao công nghệ; việc phân bổ nguồn lực; chính sách kinh tế, v.v… đều đóng góp vào việc đó

Để kinh tế phát triển nhanh và bền vững, hiệu suất đóng vai trò quan trọng nhất Hiệu suất cao là động lực làm cho kinh tế tăng trưởng cao hoặc/và tiết kiệm được nguồn lực đầu tư cho tư bản cố định, dành nhiều nguồn lực hơn cho đầu tư hạ tầng xã hội và giáo dục, văn hóa Phát triển chú trọng hiệu suất theo nghĩa đó cũng làm giảm áp lực đối với môi trường Dĩ nhiên không ai là không thấy sự quan trọng của hiệu suất Nhưng nguồn gốc của hiệu suất ở đâu và làm thế nào để tăng hiệu suất thì không phải là vấn đề dễ thấy Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ điều này

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu định lượng về các nguồn tăng trưởng kinh tế như các nghiên cứu TFP trong các ngành dệt may và nông nghiệp Tuy nhiên, đây mới là các nghiên cứu ở mức khu vực ngành nghề; Cụ thể

là các đề tài sau:

- Nghiên cứu xác định các chỉ tiêu thống kê đánh giá chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế” do Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia chủ trì - Đề tài được nghiên cứu vào năm 2001 có nội dung mang tính chất tổng hợp, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của quốc tế kết hợp với phân tích lý luận để áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam

Trang 12

- Nghiên cứu tính chỉ tiêu tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp ở Việt Nam do Viện Khoa học Thống kê chủ trì và phối hợp với một số đơn vị trong Tổng cục, kết quả nghiên cứu năm 2002 này đã làm rõ nội dung, bản chất của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và phương pháp tính tốc độ tăng TFP, mối quan hệ của TFP với năng suất tổng hợp chung Trên cơ sở đó đã phân tích, xác định khả năng

và điều kiện tính toán tốc độ tăng TFP ở Việt Nam, tính toán thử nghiệm tốc độ tăng TFP và đóng góp của nó đối với sự tăng lên của giá trị tăng thêm

Ngoài ra, có rất nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu về bản chất, phương pháp tiếp cận cũng như cách tính TFP trong lĩnh vực thống kê – tin học như:

- Các phương pháp tính tốc độ tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) theo cách tiếp cận thống kê năm 2003 của TS Tăng Văn Thiên (Viện Khoa học Thống kê)

- Lê Dân- Bộ môn Thống kê Tin học- Đại học Đà Nẵng năm 2002 với đề tài: Giới thiệu bản chất của TFP và phương pháp nghiên cứu sự biến động của nó

Đặc biệt, thạc sỹ Nguyễn Thị Bích Hồng, trường đại học Kinh Tế thành phố

Hồ Chí Minh đã ứng dụng TFP trong phân tích tăng trưởng kinh tế của thành phố

Đà Nẵng giai đoạn 1997 đến 2006 Đề tài này đánh dấu sự nỗ lực của các nhà khoa học kinh tế trong việc tìm hiểu, tính toán và ứng dụng TFP để tìm ra nguyên nhân tăng trưởng của nền kinh tế Đà Nẵng trong một giai đoạn nhất định Điều này khẳng định hơn nữa giá trị của việc ứng dụng tính toán TFP trong phân tích tăng trưởng

Đối với tổng thể nền kinh tế, hầu như chưa có nghiên cứu đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài: “Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam” nhằm khám phá và xác định các nhân tố có khả năng tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tìm hiểu phương pháp ứng dụng các tính toán về tốc

Trang 13

độ tăng trưởng năng suất nhân tố (TFP) để xác định một cách chính xác và đo lường tác động của các các nhân tố này đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đồng thời tổng hợp các kết quả kiểm tra mô hình lý thuyết về tăng trưởng, phương pháp hạch toán tăng trưởng của Solow đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đo lường TFP đã được thực hiện, đồng thời kết hợp với nghiên cứu định tính về các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng, đề tài xác định và tìm hiểu thực trạng các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, chỉ ra ưu điểm và nhược điểm của các nguồn lực này trong tổng thể nền kinh tế Phân tích, đánh giá vai trò của các nguồn lực này đối với mô hình tăng trưởng kinh tế đang được thực hiện tại nước đang phát triển như Việt Nam Đưa ra quan điểm định hướng và đề xuất các giải pháp phát huy các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế đối với Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các nguồn lực tăng trưởng kinh tế

Việt Nam dưới góc độ định tính và tổng hợp phân tích các nghiên cứu định lượng đã được thực hiện

Phạm vi nghiên cứu: Đặc biệt chú trọng đến việc thu thập các số liệu phản

ánh thực trạng các nguồn lực về nguồn vốn (vốn đầu tư và vốn con người), đo lường các nguồn lực phát triển, các nhân tố ảnh hưởng… và tác động của chúng đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua (chú trọng đến thời

kỳ từ 2002 đến 2008)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở biện pháp biện chứng duy vật biện chứng làm phương pháp luận tổng quát, trong quá trình nghiên cứu, luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: logic kết hợp với lịch sử, phân tích kết hợp với tổng hợp và phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Luận văn sử dụng số liệu từ Niên giám thống kê hàng năm của Tổng Cục thống kê; ứng dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng và hàm sản suất Cobb-

Trang 14

Douglas để nghiên cứu vai trò, tác động của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh

tế Việt Nam Đi sâu vào tìm hiểu , nghiên cứu phương pháp và áp dụng thực nghiệm Mặc dù là luận văn có sử dụng kết quả nghiên cứu về TFP của nhiều tác giả nhưng việc lựa chọn sử dụng các nghiên cứu đều xoay quanh mục tiêu chính, luận văn có thể được xem như một chỉnh thể thống nhất Các nghiên cứu được lựa chọn sử dụng đều dựa trên đặc thù của đối tượng nghiên cứu để xác định các nhân

tố làm cho hoạt động sản xuất trở thành phi hiệu quả cũng như các nhân tố thúc đẩy tăng trưởng Dù có hạn chế nhất định về cơ sở dữ liệu, các kết quả ước lượng đều được giải thích dựa trên cơ sở lý thuyết, cô đọng và súc tích là các gợi ý và chỉ dẫn hữu ích trong việc đề xuất và xây dựng chính sách

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Nghiên cứu về sự đóng góp của các yếu tố đối với tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa về nhiều mặt, không những xác định vị trí của từng yếu tố để có kế hoạch khai thác, mà còn có ý nghĩa xác định được yếu tố tiềm ẩn gia tăng lạm phát Xác định ý nghĩa và ứng dụng mô hình tăng trưởng thích hợp trong việc xây dựng chính sách nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chỉ ra các nguồn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tìm hiểu những động lực và những trở ngại đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua, từ đó gợi ý chiến lược tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow và phương pháp đánh giá vai

trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế

Chương 2: Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt

Nam

Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp phát huy các nguồn lực cho tăng

trưởng kinh tế đối với Việt Nam trong thời gian tới

Trang 15

1.1.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow

Liệu gia tăng mức tiết kiệm quốc dân có thể làm cho mức tăng trưởng của đầu ra tăng thường xuyên hay không? Câu trả lời là “không” Đó là kết quả bất ngờ nhất của một lý thuyết về tăng trưởng kinh tế do Robert M Solow lần đầu tiên trình bày trong những năm 1950 [23, tr 65- 94] Công trình nghiên cứu này đã mang lại cho ông giải thưởng Nobel năm 1987 Những bộ phận chủ yếu tạo thành

lý thuyết của Solow là Hàm sản xuất bình quân đầu người và Mối quan hệ giữa mức tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn

Mô hình tăng trưởng của Solow được lựa chọn làm cơ sở lý thuyết cho việc xác định, đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam

vì những lí do sau:

- Mô hình tăng trưởng của Solow có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa Trong giai đoạn này, sự đóng góp của vốn vào tốc độ phát triển kinh tế hay sự tăng trưởng của nền kinh tế là rất đáng kể;

- Trong Mô hình tăng trưởng của Solow, công nghệ được coi là biến ngoại sinh, vì vậy nó rất phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu nhập công nghệ từ nước ngoài;

- Mô hình Solow cho ta phương pháp hạch toán tăng trưởng Phương pháp này cho phép xác định và tính toán được sự đóng góp của các yếu tố đầu vào đã

Trang 16

được sử dụng Và như thế chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để xác định, tính toán, đánh giá vai trò của các nguồn tăng trưởng trong nền kinh tế Việt Nam

1.1.1.1 Hàm sản xuất và những nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế có liên quan đến sự tăng trưởng của GDP thực

tế (Gross Domestic Product – GDP: tổng sản phẩm quốc nội) Những yếu tố kinh

tế trực tiếp sản xuất ra GDP thực tế là những yếu tố đầu vào

Hàm sản xuất: là mối quan hệ thường được trình bày theo kiểu đại số học, cho thấy có thể sản xuất bao nhiêu đầu ra bằng một số lượng nhất định các yếu tố đầu vào Nói cách khác, hàm sản xuất thể hiện suất sinh lợi theo quy mô không đổi

Câu hỏi đặt ra là: có thể sản xuất ra bao nhiêu GDP thực tế (Y) trong một thời gian nhất định? Điều này tùy thuộc vào tổng lượng có sẵn để sử dụng của hai yếu tố đầu vào chủ yếu là vốn (K), lao động (L) và vào tác động của đầu ra theo yếu tố đầu vào bình quân có sẵn để sử dụng còn được gọi là A (yếu tố tăng trưởng

L và K trong thời kỳ đầu) tăng lên A lần nhờ tiến bộ công nghệ

Hàm sản xuất cũng có thể được thể hiện dưới dạng: “hàm sản xuất Cobb – Douglas”(4)

(4) Hàm sản xuất mang tên Cobb – giáo sư toán học ở Amherst, và Paul

H Douglas – giáo sư kinh tế học ở đại học Tổng Hợp Chicago (sau đó là Thượng Nghị Sĩ Mỹ), và được trình bày trong một cuốn sách do Paul H Douglas viết, The Theory of Wages ( New York: Macmillan, 1934)

Dạng tổng quát như sau:

Y = A K α L 1-α (2)

Trang 17

Phương trình (2) nói lên rằng GDP thực tế bằng yếu tố tăng trưởng tự định (A) nhân với chỉ số vốn (K) và lao động (L) Các trọng lượng α và 1-α biểu thị mức co dãn (hay tỷ lệ phần trăm ứng đối) của GDP thực tế theo sự gia tăng của một trong hai yếu tố này Tính co dãn được hiểu là tỷ lệ phần trăm thay đổi trong một biến số ứng với bao nhiêu phần trăm thay đổi trong một biến số khác

Trên thực tế, chúng ta thấy rằng sự tăng trưởng của mức sống không phải tùy thuộc vào tổng số GDP thực tế mà phụ thuộc vào GDP thực tế bình quân đầu người GDP thực tế bình quân đầu người được biểu thị là GDP thực tế (Y) chia cho tổng số lao động đầu vào (L), tức là Y/L Vì vậy, hàm sản xuất (1) được viết như sau:

Y/L =Af(K/L) (3)

Mối quan hệ quan trọng này nói lên rằng quả thật có hai nguồn gốc tăng trưởng của mức sống (GDP thực tế bình quân đầu người (Y/L)) Đó là yếu tố tăng trưởng tự định (A), và tỷ số của vốn với lao động đầu vào (K/L) (Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả coi “ người” và “việc làm” là những từ đồng nghĩa, bỏ qua những thay đổi trong tỷ số của số việc làm với số dân để đơn giản hóa việc tính toán) Đến đây, một vấn đề nảy sinh là phương trình (3) không lý giải được những khác biệt hiển nhiên giữa nước này với nước khác hay giữa thời gian này so với thời gian khác vì nó không cho biết tại sao hai nguồn gốc tăng trưởng ấy lại khác nhau giữa các nước so với nhau hay giữa các thời gian lịch sử khác nhau

Chúng ta sẽ tìm hiểu những yếu tố quy định sự tăng trưởng của vốn bình quân đầu người (K/L) thông qua mối quan hệ cơ bản giữa tiết kiệm và đầu tư mà Solow đã

đề cập đến trong mô hình tăng trưởng của ông

1.1.1.2 Mối quan hệ giữa tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn

Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem sự tăng trưởng trong K/L có liên quan như thế nào với tổng mức tiết kiệm quốc dân Mối quan hệ này là quan trọng

vì nó biểu thị sự liên quan giữa chính sách tài chính của chính phủ và sự tăng trưởng trong thời gian dài của đầu ra bình quân đầu người Khái niệm mức tiết

Trang 18

kiệm (S), yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, không phải là số tiết kiệm của các hộ gia đình mà là tổng mức tiết kiệm quốc dân, bao gồm số tiết kiệm của các hộ gia đình, của các công ty và của chính phủ (số thặng dư ngân sách chính phủ) Khi chính phủ có ngân sách thâm hụt thì thâm hụt ấy là một thành tố âm của tổng mức tiết kiệm quốc dân, được bù đắp bằng một phần số tiết kiệm dương của các hộ gia đình và các công ty trong cả nước Giả định rằng trong nền kinh tế đóng thì tổng mức tiết kiệm quốc dân (S) bằng tổng mức đầu tư trong nước (I)

S = I (4)

Để xác định mối quan hệ giữa sự tăng trưởng trong số vốn với số đầu tư và

do đó với tổng mức tiết kiệm quốc dân (S), ta chia tổng đầu tư trong nước (I) thành hai phần: Phần đầu tư ròng (In

) - đây là phần tạo ra sự tăng trưởng trong vốn, và phần đầu tư thay thế (D) - phần này được dùng để thay thế số vốn cũ đã hư hỏng hay đã trở nên lỗi thời

+∂) K (9)

Trang 19

Phương trình (9) cho thấy mức tiết kiệm quốc dân bằng tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư này đến lượt nó bằng mức tăng trưởng của vốn cộng với mức hao mòn nhân với kho vốn Rõ ràng là mức tiết kiệm quốc dân và mức tăng của vốn (

K K

 ) có mối

liên hệ mật thiết với nhau

Điểm trung tâm trong công trình phân tích của Solow là tư tưởng về một trạng thái đều đều

Một trạng thái đều đều là một tình hình trong đó đầu ra và vốn đầu vào tăng theo những mức giống nhau, hàm ý một tỷ số không thay đổi của đầu ra với vốn đầu vào

Trong trường hợp đơn giản nhất, khi không có sự tăng trưởng trong A (yếu

tố tăng trưởng tự định), trạng thái đều đều xuất hiện khi mức tăng trưởng của Y và

K đều bằng mức tăng trong L, hàm ý rằng các tỷ số Y/L và K/L là không thay đổi

Ký hiệu các mức tăng trưởng bằng các chữ cái nhỏ, ta có:

y = Y/L: S

k = K/L

l: mức tăng trưởng của lao động đầu vào

Do đó điều kiện để có một trạng thái đều đều, trong đó số vốn bình quân đầu người (K/L) không thay đổi, có thể được viết một cách đơn giản là:

Trang 20

Chúng ta định nghĩa lại tổng mức tiết kiệm quốc dân (S) là tỷ số tiết kiệm quốc dân với đầu ra (s = S/Y) nhân với đầu ra rồi chia cả hai vế của phương trình (11) cho K,

ta được phương trình sau:

Solow đã kết hợp chặt chẽ hàm sản xuất tính theo đầu người của phương trình (3) với mối quan hệ tiết kiệm - đầu tư trong phương trình (12) bằng cách nhân

cả hai vế của phương trình (12) với K rồi chia cả hai về của phương trình này cho L:

Vế trái của phương trình(13) là tổng mức tiết kiệm quốc dân bình quân đầu người,

vế phải là lượng mức đầu tư ở trạng thái đều đều bình quân đầu người, tức là lượng đầu tư cần thiết để trang bị cho mỗi thành viên mới trong số dân một sốvốn bình quân đầu người giống y như của số dân hiện tại, và để thay thế cho số vốn đã hư hỏng hay lỗi thời Vì sức sinh lợi giảm dần trong hàm sản xuất, tỷ số của Y với K không phải là không thay đổi nhưng trở thành ngày càng thấp hơn khi vốn được tích tụ nhiều hơn Nếu vế trái và vế phải của phương trình (13) không bằng nhau ngay từ đầu thì vốn bình quân đầu người sẽ tự động tăng lên hay co lại cho đến khi chúng bằng nhau và trạng thái đều đều được hình thành

Câu hỏi đặt ra là vốn bình quân đầu người sẽ tăng lên hay co lại là bao nhiêu? Điều này được lý giải như sau:

Mức thay đổi trong vốn bình quân đầu người là (∂K/L), mức này là số tiết kiệm bình quân đầu người còn lại sau khi bù khấu hao và trang bị cho mỗi thành viên mới của số dân bằng mức vốn bình quân đầu người hiện tại Xuất phát từ phương trình (9), giải để tìm ∂K, chia cả hai vế cho K, sau đó đặt S là sY, ta có:

Trang 21

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sự gia tăng trong mức tiết kiệm (s) sẽ làm giảm chi tiêu tiêu dùng và như thế sẽ làm cho nền kinh tế suy thoái Làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng sự gia tăng trong mức tiết kiệm sẽ kích thích sự tăng trưởng của vốn bình quân đầu người? Câu trả lời của Solow về vấn đề này như sau: Mô hình Solow dùng để phân tích trong dài hạn (hàng thập kỷ, chứ không dùng để phân tích hàng tháng hay hàng năm) với giả định liên tục có việc làm đầy đủ và các giá cả là linh hoạt Vì vậy, khi mức tiết kiệm tăng lên thì cả mức tiêu dùng và mức giá cả đều giảm xuống, lãi suất sụt xuống đủ để kích thích đầu tư và đủ để đảm bảo rằng

số tiết kiệm và số đầu tư sẽ được duy trì bằng nhau

Khác với các quan điểm lâu nay cho rằng yếu tố then chốt để nâng cao mức tăng trưởng của nền kinh tế là nâng cao mức tiết kiệm, sự phân tích của Solow cho

Trang 22

thấy mức tăng trưởng trạng thái đều đều của nền kinh tế chỉ tùy thuộc vào mức tăng trưởng của số dân (l) và hoàn toàn không bị tác động bởi những thay đổi trong mức tiết kiệm Vì sao vậy? Solow đã chứng minh rằng mức tiết kiệm có một vai trò quan trọng, nhưng không như trước đây người ta vẫn tưởng Một sự gia tăng trong mức tiết kiệm nâng cao mức sống Để thực hiện sự nâng cao ấy trong (Y/L), mức tăng trưởng của Y phải được tạm thời nâng lên cao hơn mức tăng trưởng của L Nhưng mức tiết kiệm cao hơn không tạo ra một mức tăng trưởng thường xuyên cao hơn của đầu ra vì mức này chỉ tùy thuộc vào mức tăng trưởng của số dân Trong trạng thái đều đều, Y/L là cố định, vì vậy Y và L phải tăng theo cùng một mức độ như nhau Một cách trực giác có thể hiểu là số tiết kiệm có thêm chỉ tài trợ cho một mức cao hơn của kho vốn bình quân đầu người (K/L) chứ không tài trợ cho sự gia tăng tiếp tục trong kho vốn bình quân đầu người Số tiết kiệm có thêm bị “ngốn hết” bởi mức đầu tư thêm thay thế mà kho vốn cao hơn đòi hỏi và bởi mức đầu tư ròng cần thêm để trang bị cho mỗi người lao động một mức cao hơn của kho vốn bình quân đầu người

1.1.2 Phương pháp hạch toán tăng trưởng

Mô hình tăng trưởng của Solow gần như đã phủ nhận vai trò của tiết kiệm và tích lũy vốn đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Điều này không đúng đối với các nước đã phát triển những vẫn còn có giá trị và thực tế đã chứng minh nó phù hợp và đã mở ra con đường mới cho các nước đang phát triển, phá vỡ quan điểm truyền thống cho rằng tích lũy vốn là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế và rằng tỷ

lệ tiết kiệm thấp chính là giới hạn chủ yếu của tăng trưởng đối với các nước đang phát triển Hơn thế, nó là cơ sở để các nhà kinh tế đưa ra một phương pháp thực nghiệm nhằm giải đáp các vấn đề tăng trưởng kinh tế trong thực tiễn

Cụ thể, mô hình Solow cho ta một phương pháp luận (hạch toán tăng trưởng)

để đo tốc độ tiến bộ công nghệ, còn gọi là phần dư Solow hay tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (TFP)

Trang 23

TFP được định nghĩa là chênh lệch giữa tăng trưởng sản lượng và tốc độ tăng trưởng của các đầu vào vốn và lao động (có trọng số theo tỷ phần của từng nhân tố trong tổng thu nhập)

Do bản chất của TFP là một số dư nên trên thực tế, nó là “thước đo phần bỏ qua” (measure of our ignorance) Rõ ràng là nhiều nhân tố có thể tạo ra sự chuyển biến của hàm sản xuất, ví dụ như giáo dục, cải tiến kỹ thuật, thay đổi về thể chế…

Số dư là giá trị còn lại sau khi trừ khỏi mức tăng trưởng của GDP thực tế tất

cả những nguồn gốc có thể nhận biết của tăng trưởng kinh tế

Chỉ tiêu TFP rất quan trọng trong phân tích kinh tế Sự biến động TFP được Solow sử dụng đầu tiên vào năm 1957 nhằm phản ánh sự thay đổi công nghệ và giải thích sự tăng trưởng kinh tế Từ đó về sau được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi và trở thành một chỉ tiêu không thể thiếu trong phân tích kinh tế

Xuất phát từ những nguồn tài liệu và mục tiêu khác nhau, TFP được phân tích theo những hướng khác nhau Có thể tiến hành phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của TFP hay phân tích ảnh hưởng của TFP đến tăng trưởng kinh tế Thông thường TFP được phân tích theo hướng thứ hai

Phương pháp hạch toán tăng trưởng đặt giả thiết là có một hàm sản xuất liên kết đầu ra (sản lượng) của một nền kinh tế với các đầu vào lao động và vốn (và tài nguyên thiên nhiên nếu nó được tách ra khỏi vốn) Nhờ sử dụng hàm sản xuất này, người ta đo được phần đóng góp của mỗi đơn vị đầu vào tăng lên đối với tăng trưởng đầu ra và phần dư không thể giải thích bằng gia tăng đầu vào được gọi là tăng trưởng “Tổng năng suất nhân tố” (TFP) Khi đó, TFP là thước đo tiến bộ công nghệ được hiểu theo nghĩa rộng, tức là thước đo tăng trưởng sản lượng khi các đầu vào không thay đổi

Tuy nhiên, trong thực tế, rất khó đo được lao động và vốn một cách chính xác Xét trên khía cạnh đóng góp đối với sản lượng, thì số giờ lao động là thước đo đầu vào lao động chính xác hơn số công nhân, nhưng người ta lại khó thu thập được dữ liệu về giờ công Việc điều chỉnh các đầu vào lao động có chất lượng khác

Trang 24

nhau (do tuổi tác, giới tính, trình độ…) vào cùng một biến lao động thuần nhất lại càng khó khăn hơn nữa Tương tự như vậy, phép đo vốn cũng gặp phải nhiều vấn

đề như mức sử dụng, tuổi thọ, khấu hao…Ngoài ra, nếu có tính kinh tế theo quy

mô, thì sản lượng gia tăng không tỷ lệ với gia tăng đầu vào Thêm vào đó, nếu các nhân tố sản xuất được phân bổ lại hiệu quả hơn giữa các vùng và các ngành, thì tổng sản lượng có thể tăng cho dù các đầu vào không tăng Việc định dạng một hàm sản xuất trong những phân tích thực nghiệm cũng vấp phải một số vấn đề khó khăn Vì việc đo phần đóng góp của sự gia tăng đầu vào đối với tăng trưởng sản lượng là rất khó khăn, nên tăng trưởng tổng nhân tố (dưới dạng phần dư) sẽ không tránh khỏi sai số quan sát lớn Để giảm bớt những sai số này, việc phân tích hạch toán tăng trưởng sẽ trở nên vô cùng phức tạp Tuy nhiên, trong luận văn này, phân tích sẽ dựa trên phương trình tính toán đơn giản nhất, chỉ để tìm ra kết luận về những yếu tố của tăng trưởng kinh tế

Trước hết, ta xem xét hàm tổng sản xuất giả định dạng tổng quát đã đề cập ở phương trình (1)

Y = AF (K, L) (1)

Giả thiết là F(K,L) thể hiện sản lượng được sản xuất từ K và L trong thời kỳ đầu, tăng lên A lần nhờ tiến bộ công nghệ Việc đưa ra giả thiết như vậy nhằm hàm ý tiến bộ công nghệ trung lập theo cách xác định của Hick (năng suất cận biên của vốn và lao động thay đổi cùng tốc độ với một tỷ lệ vốn – lao động cho trước)

Một giả thiết đơn giản hóa khác là tính thuần nhất tuyến tính và lợi tức không đổi theo quy mô

Khi đó, lấy vi phân phương trình (1) theo thời gian, ta thu được:

(17)

Trang 25

Hàm này thỏa mãn các giả định của mô hình Solow và có tỷ phần thu nhập nhân tố

cố định (tỷ phần của vốn bằng α, còn tỷ phần của lao động bằng 1- α)

Một khi ta ước lượng được tốc độ tăng trưởng của sản lượng, vốn và lực lượng lao động và tìm được ước lượng của α, thì có thể giải phương trình (20) để tính tốc độ tiến bộ công nghệ:

g Y =g A + α g K + (1- α) g L (19)

g A = g y - αg K - (1- α) g L (20) Trong đó, gy là tốc độ tăng GDP, gK là tốc độ tăng vốn hoặc tài sản cố định,

gL là tốc độ tăng lao động làm việc, α và (1- α) là hệ số đóng góp của vốn và lao

động, thường được xác định bằng phương pháp hạch toán hoặc dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas

Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cao, bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, thể hiện ở sự đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cao và không ngừng gia tăng

Trang 26

1.2.Các chỉ tiêu đánh giá nguồn lực tăng trưởng kinh tế và vận dụng vào Việt Nam

1.2.1 Thu nhập bình quân đầu người

Để đánh giá xác thực hơn về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia dưới góc

độ mức sống dân cư, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu bình quân đầu người, chẳng hạn GDP bình quân đầu người Khi đó, tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào hai yếu tố: tăng trưởng thu nhập và tăng trưởng dân số

Tốc độ tăng trưởng GDP/người = Tốc độ tăng trưởng GDP - Tốc độ gia tăng dân số

Nếu tốc độ tăng trưởng tổng thu nhập bằng hoặc thấp hơn tốc độ tăng trưởng dân số thì điều đó có nghĩa là không có sự gia tăng về mặt lượng của tăng trưởng đứng trên góc độ bình quân đầu người Khi một nền kinh tế có sự vượt trội của gia tăng GDP so với tăng trưởng dân số thì nền kinh tế đó mới tăng trưởng và do đó ta

có thể định lượng và đánh giá sự đóng góp của dân số đối với tăng trưởng kinh tế

Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng những thước đo cụ thể

và ta có thể nhận biết được nó thông qua phân tích các chỉ tiêu đánh giá động thái biến động của nó

1.2.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động – Năng suất lao động

Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy GDP (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động) Nếu GDP bình quân trên mỗi lao động càng lớn, thì năng suất lao động xã hội càng cao

Dưới góc độ ngành, GDP có thể được thay bằng các chỉ số khác sẵn có như giá trị sản phẩm, từ đó có chỉ số giá trị sản phẩm trên một giờ lao động hoặc chỉ số giá thành lao động trên một đồng giá trị sản phẩm Đây là những chỉ số theo dõi chi phí và năng suất lao động

1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn - Hệ số ICOR

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho biết: để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện Vì vậy, hệ số này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng

Trang 27

trưởng kinh tế Với nội dung đó, hệ số ICOR được coi là một trong nhưng chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tăng trưởng kinh tế

Hệ số ICOR thấp, chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao Tuy nhiên, theo quy luật lợi tức biên giảm dần, khi nền kinh tế tăng trưởng thì hệ số ICOR sẽ tăng lên, tức là để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng, cần một tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP cao hơn

Hệ số ICOR có thể tính theo hai cách sau [10, tr 43]:

1.2.4 Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)

Mặc dù hai chỉ tiêu năng suất lao động xã hội và hiệu quả sử dụng vốn thường được sử dụng nhiều trong phân tích hiệu quả kinh tế, nhưng trên thực tế, trong sản xuất có ba yếu tố chính làm tăng GDP: lao động, vốn sản xuất và TFP Nếu chỉ chia GDP cho lao động hay lấy vốn đầu tư chia cho mức gia tăng GDP, thì

Trang 28

những chỉ số này không thể phản ánh đóng góp riêng của yếu tố năng suất Năng suất nhân tố tổng hợp chỉ là phần tăng của GDP sau khi trừ đi vai trò của việc tăng chất lượng tổ chức lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ chức sản xuất, và được gọi chung là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) Nói một cách rõ ràng hơn, TFP phụ thuộc vào hai yếu tố: tiến bộ công nghệ và kỹ thuật; hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào

TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh

tế sẽ đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài Có thể thấy, tốc độ tăng TFP và đóng góp TFP vào tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh tế, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức, quản lý sản xuất…của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia

Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) là kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như tiến bộ khoa học công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản

lý, nâng cao trình độ người lao động v.v (gọi chung là nhân tố tổng hợp) Năng suất nhân tố tổng hợp biểu thị phần thay đổi của GDP không do lao động và tài sản

tạo nên, được xác định bằng phần dư còn lại của tăng trưởng sau khi đã loại trừ tác

động của các yếu tố vốn và lao động Vốn và lao động được xem là yếu tố vật chất,

có thể lượng hóa được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế và được coi

là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng TFP được coi là yếu tố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu

Như đã phân tích ở trên, một nền kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng tức là nền kinh tế tăng trưởng chỉ chú trọng mặt lượng, tăng về quy mô mà không chú trọng đến các yếu tố duy trì tăng trưởng trong dài hạn Để đạt được mục tiêu tăng trưởng,

Trang 29

nguồn lực của nền kinh tế được tập trung cho đầu tư, mở rộng quy mô vốn vật chất, chú trọng đầu tư cho công nghiệp, khai thác tài nguyên, nhằm nhanh chóng đạt tốc

độ tăng trưởng cao Và nếu chú trọng duy trì tăng trưởng theo cách này mà không kết hợp các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong thời gian dài thì chắc chắn hiệu suất sử dụng của các loại tài sản vốn sẽ giảm, đặc biệt làm suy kiệt tài nguyên, và đẩy nền kinh tế vào sự trì trệ, suy thoái

Nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu, theo các nghiên cứu, là khi nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao không chỉ tăng về số lượng mà tăng trưởng về chất lượng, đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhờ vào nâng cao chất lượng lao động, thay đổi về thành phần hay chất lượng của vốn và đặc biệt là nhờ các tiến bộ khoa học công nghệ Tiến bộ công nghệ không chỉ là yếu tố quan trọng đóng góp vào TFP

mà còn tác động tới hiệu quả sử dụng và năng suất các nhân tố khác (vốn vật chất, vốn lao động và vốn tài nguyên môi trường)

Trong thời gian qua, các nước đang phát triển đều đã chú trọng đến mục tiêu chất lượng tăng trưởng, và hầu hết các quốc gia tăng trưởng nhanh đều có tỉ lệ tăng trưởng TFP ít nhất là 2%/năm [13, tr 57] Để tăng TFP cần có các biện pháp tác động tổng hợp lên các nhân tố đóng góp vào TFP Có thể tăng chất lượng lao động bằng các biện pháp phát triển nguồn nhân lực như tăng cường chất lượng giáo dục

và đào tạo Hay sự thay đổi cơ cấu và chất lượng của vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có tác động tăng TFP Và đặc biệt là các biện pháp thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ như: tiếp thu công nghệ từ các nước, tăng cường đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D), v.v… Áp dụng đồng thời, kết hợp các biện pháp này sẽ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí và giá thành, tạo ra sức cạnh tranh của sản phẩm

Tuy nhiên, đối với điều kiện các nước đang phát triển, khi mà tiềm lực tài chính còn hạn chế, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, chất lượng nhân lực còn chưa đủ cao, năng lực về công nghệ còn thấp thì việc thực hiện các biện pháp tăng TFP nên được

Trang 30

đặt ra cho dài hạn và tiến hành từng bước, phù hợp với điều kiện tăng trưởng Ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng cũng rất cần thiết, tạo cơ sở để có thể chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu Nhưng trong quá trình phát triển, các nước đang phát triển đồng thời với việc xác định mục tiêu tăng trưởng về lượng, cần thiết phải kết hợp các mục tiêu tạo cơ sở cho tăng trưởng dài hạn, khơi dậy các tiềm năng tăng trưởng, định hướng

và tạo nền cho tăng trưởng kinh tế chuyển dần sang đi theo chiều sâu thay cho chiều rộng

Để đánh giá tăng hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố nguồn lực của sản xuất, chúng ta tiến hành tính toán năng suất của từng yếu tố nguồn lực, bên cạnh đó khi nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, ngoài việc nâng cao năng suất của các yếu tố nguồn lực còn làm tăng năng suất chung do hiệu quả của việc kết hợp các yếu tố nguồn lực (như quản lý, công nghệ,… gọi chung là các nhân tố tổng hợp) Vì thế phần tăng thêm của kết quả sản xuất tạo ra ngoài phần đóng góp của yếu tố vốn và lao động còn có phần đóng góp của năng suất chung tạo ra mà chúng

ta gọi là năng suất các nhân tố tổng hợp Như vậy, chúng ta có thể chia kết quả sản xuất thành ba thành phần đó là phần do vốn tạo ra; phần do lao động tạo ra và phần

do các yếu tố khác tạo ra (gọi là các nhân tố tổng hợp) Việc tính toán phần đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp bằng cách tính tổng phần tăng lên của kết quả sản xuất trừ đi phần đóng góp của các yếu tố nguồn lực (có thể tính trực tiếp được đó là do vốn và lao động tạo ra)

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG

KINH TẾ VIỆT NAM 2.1 Các nguồn tăng trưởng kinh tế Việt Nam

2.1.1.Vốn đầu tư

Đầu tư phát triển xã hội tăng cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng, tạo nguồn lực cho phát triển sản xuất Nhìn chung, vốn đầu tư đóng vai trò chủ yếu và ngày càng tăng trong tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP tăng mạnh qua các năm: từ 17.6% năm 1991 lên 34.2% năm 2000 và 38.7% năm 2005

Từ 1998 đến tháng 9 năm 2004, Việt Nam đã thu hút được 51 tỷ USD vốn đăng ký

từ FDI, 26 tỷ USD vốn thực hiện Với một nước khan hiếm vốn, lại chịu tác động xấu của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực (khiến cho vốn đầu tư nước ngoài giảm và phục hồi chậm chạp), đây là kết quả của việc tích cực huy động một lượng vốn lớn đưa vào đầu tư Điều này chứng tỏ tiềm lực kinh tế nước ta đã tăng lên và đó là cơ sở đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Bảng 2.1: Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của Việt Nam, 1991-2008

Trang 32

Mặc dù vậy, dường như nền kinh tế Việt Nam vẫn luôn khát vốn Vốn thiếu xét trên cả ba nguồn Nguồn vốn nhà nước tuy chiếm tỷ trọng cao (năm 2008 vẫn còn chiếm tới 56.1%), nhưng tỷ trọng đã giảm dần, do chi từ nguồn ngân sách nhà nước phụ thuộc vào thu ngân sách, trong khi thu ngân sách vẫn chưa đủ chi, mức bội chi vẫn còn trên dưới 5% so với GDP; do nguồn vốn chủ sở hữu của các tổ chức tín dụng nhà nước còn thấp và do nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước quy mô còn nhỏ, tăng chậm

Nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài nhà nước tuy đã tăng khá, nhưng tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội còn thấp; chủ trương xã hội hóa

đã được đưa ra từ lâu, nhưng việc thực hiện còn chậm, người dân vẫn có thói quen gửi tiền tiết kiệm hay đầu tư vào vàng, USD, vào bất động sản, mà việc đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh vẫn chưa gia tăng mạnh [6, tr 3] Thực tế cho thấy vẫn

có một lượng vốn nhàn rỗi không nhỏ nằm dưới trạng thái “chết” trong xã hội, chỉ tính phần GDP tiết kiệm nhưng không được chuyển thành đầu tư, hàng năm có tới 30-40 nghìn tỷ đồng (5-7% GDP) rơi vào trạng thái vốn chết Đó là chưa tính số vốn người Việt Nam ở nước ngoài chuyển về, khoảng 2,5-3 tỷ USD/năm, chưa được huy động đầu tư một cách tích cực và 15-20% của quỹ tích lũy chưa được huy động vào đầu tư

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy đã có dấu hiệu khởi sắc khi lượng vốn đăng ký và bổ sung năm 2008 đã đạt 6,85 tỷ USD, cao nhất tính từ năm 1998, nhưng quy mô vẫn còn thấp hơn mức 9,74 tỷ USD của năm 1996 Tỷ trọng vốn FDI thực hiện trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội còn thấp và có xu hướng giảm dần

2.1.2 Nguồn lực con người

Với số dân trên 80 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 55%, thì nguồn nhân lực là lợi thế phát triển quan trọng của nước ta hiện nay Số lao động đang làm việc hàng năm vẫn tăng thêm khoảng 1 triệu người Tuy nhiên, lợi thế này không được sử dụng hết, thậm chí đang bị lãng phí nghiêm

Trang 33

trọng, bởi đến đầu năm 2009, có tới 5,3% lao động ở thành thị thất nghiệp và 19,4% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng Những tỷ lệ này vẫn còn đang tiếp tục lớn hơn cho đến thời điểm hiện nay (tháng 9 năm 2009) do cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho hàng loạt các doanh nghiệp lớn nhỏ bị phá sản kéo theo hệ quả tất yếu là người lao động bị mất việc làm Theo ước tính, số thất thoát thời gian lao động trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn [8, tr 27-32] Trong số này, có không ít lao động trẻ, có sức khỏe và không ít lao động đã qua đào tạo, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chưa có việc làm hoặc làm không đúng nghề còn lớn, lãng phí rất nhiều chi phí đào tạo Có thể nhận thấy rằng, nguồn lao động lớn chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa hiệu quả đang trở thành vấn đề đáng báo động đe dọa sự phát triển của nền kinh tế nước ta

Phân tích các chỉ tiêu phản ánh vai trò của lao động nước ta từ năm 1995 đến

2007 cho thấy, năm 1995, cả nước có 33 triệu lao động làm việc với năng suất lao động (theo giá năm 1994) đạt bình quân 5,9 triệu đồng/người; đến năm 2000, lao động làm việc tăng 11% (36,7 triệu), năng suất lao động tăng 26% (7,46 triệu/người) Vào năm 2008, lực lượng lao động làm việc có 62,3 triệu người (tăng 35% so với 1995), năng suất lao động đạt 8,55 triệu đồng/người (tăng 45%) và tổng sản phẩm quốc nội tăng được 85% (đạt trên 361.524 tỷ đồng) Tuy nhiên, năng suất lao động được tính bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chia cho số lượng lao động (L) Vì vậy, sự gia tăng của GDP không chỉ do số lượng lao động quyết định mà chủ yếu là phụ thuộc vào năng suất lao động của nền kinh tế

Mặc dù tốc độ tăng năng suất lao động nước ta không thấp, song trình độ năng suất lao động ở nước ta so với các nước trong khu vực đang có khoảng cách quá xa Theo số liệu Ngân hàng phát triển châu Á công bố năm 2008, năng suất lao động bình quân năm 2008 ở Việt Nam đạt 638 USD, bằng 37% của Philipin, 16% Thái Lan, 2% của Đài loan và 1% so với Singapore Điều này cho thấy, tiềm năng

về nguồn lực con người ở nước ta có dư địa để tăng năng suất lao động, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế đất nước

Trang 34

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), dân số trong độ tuổi lao động nước ta năm 2008 là 54 triệu người; dự báo đến năm 2010 lên trên 57 triệu (chiếm 64,7% dân số cả nước) và vào năm 2020 lên khoảng 62,2 triệu Với nguồn cung cấp lao động dồi dào, nước ta có thể tránh được tình trạng thiếu lao động của những nước phát triển Mặt khác, với những lợi thế cơ bản của lực lượng lao động trẻ (trên 50%), trình độ học vấn không thấp (bình quân có từ 9,5 đến 9,7 năm đi học); nếu

có chiến lược xây dựng, nuôi dưỡng và khai thác hợp lý, thế hệ lao động trẻ nước nhà có thể phát triển nhanh Một số nhà nghiên cứu cho rằng, nguồn lao động của Việt Nam là nguồn nhân lực có cơ hội vàng, đây là tiềm năng to lớn có thể khai thác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng nhanh năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm đáng kể lực lượng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động ở các ngành nghề đem lại giá trị gia tăng cao

2.1.2.1 Năng suất lao động và việc áp dụng tính toán ở Việt Nam

Năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một chỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc) Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợp nói lên năng lực sản xuất của một đơn vị hay cả nền kinh tế - xã hội Tùy theo mục đích nghiên cứu của mỗi nước, mỗi ngành khác nhau trong từng giai đoạn khác nhau mà áp dụng chỉ tiêu năng suất lao động (nói cụ thể là chỉ tiêu năng suất lao động sống) theo phương thức khác nhau, được tính toán bằng chỉ tiêu đầu ra khác nhau Ở Việt Nam, năng suất lao động được tính toán theo chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức năng suất châu Á (Asia Productivity Organization - APO) và quan

hệ hợp tác quốc tế được mở rộng, đặc biệt là gia nhập khối ASEAN (tháng 7 năm 1995) thì việc nghiên cứu chỉ tiêu năng suất lại được đặt ra ngày càng cấp thiết Cũng thời gian này, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường) đã thiết lập Trung tâm năng suất Việt Nam Tuy mới được thành lập nhưng Trung tâm năng suất đã tham gia thực hiện nhiều chương

Trang 35

trình của APO liên quan đến Việt Nam, tiến hành một số đề tài khoa học để nghiên cứu cách tiếp cận mới về năng suất, tính toán các chỉ tiêu năng suất, trong đó có chỉ tiêu năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp

Hiện nay, các chỉ tiêu năng suất lao động và tốc độ tăng năng suất các nhân

tố tổng hợp được đưa vào danh mục các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu Thống kê

quốc gia của Việt Nam Tuy nhiên, mức độ áp dụng ở cấp nào, tính toán cụ thể ra

sao thì còn đang ở giai đoạn nghiên cứu để giải thích và hướng dẫn áp dụng rộng rãi Trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Production - GDP) là chỉ tiêu được dùng để tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế, làm căn cứ để đánh giá sự phát triển kinh tế của đất nước và tính toán nhiều chỉ tiêu kinh tế quan trọng khác, nên tất nhiên sẽ làm căn cứ để tính toán các chỉ tiêu năng suất, trong đó có năng suất lao động trong phạm vi toàn nền kinh tế quốc dân

Khác với phạm vi chung của nền kinh tế, trong các ngành như công nghiệp, nông - lâm nghiệp vẫn tiếp tục áp dụng chỉ tiêu giá trị sản xuất để tính toán tốc độ tăng trưởng, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất của từng ngành cũng như để tính toán các chỉ tiêu năng suất, chất lượng và hiệu quả Năng suất lao động tính theo giá trị tăng thêm có ưu điểm hơn hẳn so với năng suất lao động tính theo giá trị sản xuất vì ở tử số của chỉ tiêu năng suất lao động không tính phần chi phí trung gian (phần giá trị này luôn bị tính trùng giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành) nên sự biến động của chỉ tiêu năng suất lao động không phụ thuộc vào thay đổi tổ chức sản suất như năng suất lao động tính theo giá trị sản xuất Hơn nữa, nếu trong toàn nền kinh tế, năng suất lao động tính theo tổng sản phẩm trong nước, thì đối với từng ngành, từng doanh nghiệp, năng suất lao động cũng cần được tính theo giá trị tăng thêm Có như vậy mới cho phép nghiên cứu, phân tích mối liên hệ giữa năng suất lao động của các doanh nghiệp, các ngành với năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế quốc dân

Trang 36

2.1.2.1.1 Phân tích năng suất lao động chung toàn nền kinh tế giai đoạn 2001 - 2008

Từ số liệu về tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế và lao động làm việc có trong Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, ta tính được mức năng suất lao động của năm 2005 đạt 19,62 triệu đồng Nếu tính theo giá cố định (giá năm 1994) và nghiên cứu biến động của năng suất lao động ta thấy trong thời gian từ 2001 đến 2005,năng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân của Việt Nam liên tục tăng lên và tăng với xu thế cao dần Xu thế này cũng tiếp diễn từ năm 2006 đến 2008 Con số tăng trung bình từ 2006 đến 2008 là 5,27%, cụ thể như sau:

Biểu 2.1: Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội từ 2001 đến 2008

Nguồn: Tổng cục thống kê

So sánh mức năng suất lao động tính theo USD và tốc độ tăng năng suất lao động tính bằng % năm 2008 của Việt Nam với một số nước trên thế giới, ta có kết quả như sau:

Trang 37

Bảng 2.2: Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của một số

nước và lãnh thổ trên thế giới năm 2008

Tên nước và lãnh thổ Mức năng suất lao động Tốc độ tăng NSLĐ

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của UNDP năm 2008

Qua bảng số liệu trên ta thấy năng suất lao động của Việt Nam đạt ở mức thấp xấp xỉ năng suất lao động của Ấn Độ và đứng cuối cùng trong số 20 nước được chọn để so sánh Nếu so với năng suất lao động của Mỹ (nước có năng suất

Trang 38

lao động cao nhất trong bảng), thì năng suất lao động của Việt Nam chỉ mới bằng 1,6%

Nếu tách riêng 6 nước trong khối ASEAN có trong bảng trên gồm: Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philipin, Indonesia và Việt Nam thì Singapore dẫn đầu và Việt Nam tất nhiên ở vị trí cuối Năng suất lao động năm 2008 của Việt Nam so với Singapore là 3,45%, so với Malaysia là 11,23%, so với Thái Lan là 35,12%, so với Philipin là 52,21% và so với Indonesia là 72,61% Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng năng suất lao động thì trong số những nước này Việt Nam có tốc độ tăng cao (5,53%, đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Ấn Độ) trong khi đó 4 nước còn lại chỉ tăng từ 1,9% đến 4,4% Riêng Philipin, năng suất lao động năm 2008 giảm 1,2% và Australia giảm 1,8%

Như vậy, có thể nói, năng suất lao động của Việt Nam còn quá thấp so với năng suất lao động của các nước khác Điều đó có thể giải thích về trình độ kỹ thuật, công nghệ của ta còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo, công tác quản lý còn một số hạn chế, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nếu xét theo xu thế biến động từ năm 2001 - 2008 thì năng suất lao động chung của Việt Nam liên tục tăng lên và có mức tăng khá (từ 4,25% đến 5,53%) Mức bình quân 5 năm (từ 2001 đến 2005) là 4,81%, bình quân 3 năm

từ 2006 đến 2008 là 5,27% Những năm gần đây, Việt Nam đã chú ý đầu tư vốn và

kỹ thuật để phát triển sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế là những yếu

tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất lao động

2.1.2.1.2 Phân tích năng suất lao động theo khu vực kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam chia thành 3 khu vực: Kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước (gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, kinh tế tư nhân, )

và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (gồm các loại hình 100% vốn đầu tư nước ngoài và loại hình liên doanh liên kết với nước ngoài) Trong 3 khu vực kinh tế nói

Trang 39

trên, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn có mức năng suất lao động cao nhất Theo Niên giám Thống kê, năm 2008, năng suất lao động theo giá thực tế của khu vực kinh tế này đạt 196,97 triệu đồng Khu vực kinh tế nhà nước có mức năng suất đứng vị trí thứ hai, đạt 78,01 triệu đồng Thấp nhất là năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, đạt 10,1 triệu đồng Nếu so sánh năng suất lao động năm 2008 của các khu vực kinh tế có mức đạt được cao hơn (khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế nhà nước) với năng suất lao động của khu vực kinh tế có mức thấp nhất (khu vực kinh tế ngoài nhà nước), thì năng suất lao động khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gấp 19,50 lần và mức năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước gấp 7,72 lần Nói cách khác, nếu lấy mức năng suất của khu vực kinh tế ngoài nhà nước là 1 đơn vị, thì năng suất lao động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 19,50 đơn vị và kinh tế nhà nước

là 7,72 đơn vị

Nếu so sánh năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước, đặc biệt là năng suất của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt được năm 2008 với mức năng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân đạt được của các nước trên thế giới và trước hết là so với 10 nước thuộc "tốp dưới" trong số 20 nước kể trên, thì năng suất lao động của Việt Nam không phải là quá thấp Năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước, năm 2008 đạt 78,01 triệu đồng tương đương 4.919 USD Còn mức năng suất lao động bình quân chung của 2 khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài năm 2008 đạt 94,75 triệu đồng, tương đương 5.975 USD

Theo hai phương án mức năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước cũng như năng suất lao động chung của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài đều cao hơn mức năng suất lao động chung cả nền kinh tế quốc dân đạt được của 5 nước: Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Trung Quốc, Phi-lip-pin và Thái Lan

Trang 40

Qua đây có thể thấy, năng suất lao động chung của cả ba khu vực ở Việt Nam đạt thấp chủ yếu là do, năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt quá thấp, trong khi đó lao động của khu vực kinh tế này lại rất lớn, chiếm tới 88% tổng số lao động làm việc ở cả ba khu vực

Xét về tốc độ tăng, quan sát năng suất lao động tính theo giá cố định (giá năm 1994), thì năng suất lao động khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng nhanh và đều nhất, sau đến năng suất lao động khu vực kinh tế nhà nước Đến năm 2007, bắt đầu tăng lên và có mức tăng khá (tăng trên 5%) Cụ thể xem bảng 2.3

Bảng 2.3: Tốc độ tăng năng suất lao động của các khu vực kinh tế thời kỳ 2001- 2008

Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của WB

2.1.2.1.3 Phân tích năng suất lao động theo ngành kinh tế

Theo hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, nền kinh tế của Việt Nam chia theo nhiều ngành kinh tế khác nhau như công nghiệp; nông, lâm nghiệp, thủy sản; xây dựng, giao thông, Trên góc độ phân tích năng suất lao động, hơn nữa do điều kiện về số liệu hiện có nên không phân tích sâu đến từng ngành kinh tế mà ở đây chỉ nghiên cứu các ngành và nhóm ngành như sau: Nông - lâm nghiệp, công nghiệp

và các ngành kinh tế khác (các ngành kinh tế khác gồm tất cả các ngành còn lại ngoại trừ các ngành nông lâm nghiệp và công nghiệp)

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Tổng Cục Thống Kê, Đề tài khoa học “Nghiên cứu đánh giá tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam”, Nhà Xuất Bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá tác động của KH &CN đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Thống Kê
1. APEC (2006), Văn kiện hội nghị các nhà lãnh đạo APEC năm 2006, Báo cáo triển khai Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2006-2010, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân Khác
2. Lê Dân (2002) Giới thiệu bản chất của TFP và phương pháp nghiên cứu sự biến động của nó, Bộ môn Thống kê Tin học- Đại học Đà Nẵng Khác
3. Lê Dân (2006), Đề tài Phương pháp nghiên cứu thống kê sự thất thoát thời gian lao động, trang 27-32, Đại học Đà Nẵng Khác
4. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) (2009), Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu 2008- 2009, Tạp chí Kinh Tế Châu Á số 24, Nhà xuất bản Trẻ Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội lần thứ X, Mục tiêu tổng quát của phát triển kinh tế Việt Nam nhiệm kỳ 5 năm (2006-2010), Nhà xuất bản Công An Nhân Dân Khác
6. Goldman sachs, Nhận định về tăng trưởng kinh tế Việt Nam, { http:/www.econlib.org/library/YBDBooks} Khác
7. Phạm Ngọc Hải (2001), 25 năm quan hệ kinh tế Việt Nam-APEC, Quan điểm và triển vọng, Những vấn đề kinh tế thế giới, tập 72 (số 4), tr. 26-31, Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân Khác
8. Nguyễn Quang Hòa (2008), Tốc độ tăng năng suất lao động của các ngành kinh tế thời kỳ 2004 – 2008, Nhà xuất bản trẻ Khác
9. Nguyễn Thị Bích Hồng (2006), Ứng dụng TFP trong phân tích tăng trưởng kinh tế của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 đến 2006, Trường đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh Khác
10. Đặng Văn Minh (2008), Những nhân tố tác động đến chỉ số Icor của Việt Nam, Trường đại học Đà Nẵng Khác
11. Nhà xuất bản thống kê (2009), Niên giám thống kê năm 2008 Khác
12. Nhà xuất bản Trẻ (2004), Kinh tế VN trên đường rồng hoá rồng, trang 277 Khác
13. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Báo cáo Theo dõi Kinh tế Châu Á số tháng 7 Khác
14. Tăng Văn Thiên (2003), Các phương pháp tính tốc độ tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) theo cách tiếp cận thống kê, Viện Khoa học Thống kê Khác
16. United Nations (2005), Báo cáo về chỉ số cạnh tranh của Việt Nam Khác
17. Dịch giả Trần Xuân Vĩnh (2001), Vì chất lượng cuộc sống tốt hơn, (Sách của Tony Blair), Nhà xuất bản Công An Nhân Dân Khác
18. World Bank (2008), Chất lượng tăng trưởng, Nhà xuất bản Thế giới Khác
19. World Bank (2008), Những nhận định của World economic Forum về tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Thế Giới Khác
20. WTO (2003), Báo cáo về tăng trưởng kinh tế năm 2003 của Việt Nam, Nhà Xuất Bản Thống Kê.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tỷ lệ vốn đầu tƣ so với GDP của Việt Nam, 1991-2008 - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.1 Tỷ lệ vốn đầu tƣ so với GDP của Việt Nam, 1991-2008 (Trang 31)
Bảng 2.2: Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của một số - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.2 Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của một số (Trang 37)
Bảng 2.4: Tốc độ tăng năng suất lao động của các ngành kinh tế thời kỳ 2004 - 2008 - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.4 Tốc độ tăng năng suất lao động của các ngành kinh tế thời kỳ 2004 - 2008 (Trang 42)
Bảng 2.5: Tỷ trọng lao động của các ngành kinh tế qua các năm - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.5 Tỷ trọng lao động của các ngành kinh tế qua các năm (Trang 43)
Bảng 2.6:  Mức độ đóng góp của thay đổi cơ cấu lao động giữa các ngành đối     với mức tăng của NSLĐ chung toàn nền kinh tế quốc dân - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.6 Mức độ đóng góp của thay đổi cơ cấu lao động giữa các ngành đối với mức tăng của NSLĐ chung toàn nền kinh tế quốc dân (Trang 45)
Bảng 2.7: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1991 – 2008 - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1991 – 2008 (Trang 49)
Bảng 2.8: Chỉ số Icor của Việt Nam từ 1990 đến 2008 - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.8 Chỉ số Icor của Việt Nam từ 1990 đến 2008 (Trang 53)
Bảng 2.9: Các nhân tố tăng trưởng của Việt Nam qua các thời kỳ - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.9 Các nhân tố tăng trưởng của Việt Nam qua các thời kỳ (Trang 54)
Bảng 2.10: Vốn đầu tƣ và tích lũy tài sản (theo giá 1994) - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.10 Vốn đầu tƣ và tích lũy tài sản (theo giá 1994) (Trang 59)
Bảng 2.11:  Đóng góp của TFP vào tăng trưởng Việt Nam qua các thời kỳ - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.11 Đóng góp của TFP vào tăng trưởng Việt Nam qua các thời kỳ (Trang 66)
Bảng 2.12: Các nguồn tăng trưởng GDP ở Việt Nam giai đoạn 1986 -2002 - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 2.12 Các nguồn tăng trưởng GDP ở Việt Nam giai đoạn 1986 -2002 (Trang 69)
Bảng 3.13: Báo cáo tăng trưởng kinh tế của WB tháng 11 năm 2008 - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 3.13 Báo cáo tăng trưởng kinh tế của WB tháng 11 năm 2008 (Trang 73)
Bảng 1.2: So sánh tốc độ tăng của GO và IC ngành công nghiệp khai thác - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Bảng 1.2 So sánh tốc độ tăng của GO và IC ngành công nghiệp khai thác (Trang 102)
Bảng  1.4:  So  sánh  tốc  độ  tăng  trưởng  của  GO  và  IC  ngành  công  nghiệp chế  biến - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
ng 1.4: So sánh tốc độ tăng trưởng của GO và IC ngành công nghiệp chế biến (Trang 103)
Bảng  1.5:  Tình  hình  phát  triển  của  một  số  chỉ  tiêu  chủ  yếu  của  ngành  công  nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước của Việt Nam - Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
ng 1.5: Tình hình phát triển của một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước của Việt Nam (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w