1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

92 506 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế ở Việt Nam từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, đất nước đã thay da đổi thịt hàng ngày, hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu đô thị mới lần lượt mọc lên cù

Trang 1

MỤC LỤC

TRA

NG

CHƯƠNG 1 Môi trường với phát triển kinh tế: Cở sở lý luận và kinh

CHƯƠNG 2 Thực trạng vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở

2.1 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI

2.2 Tác động của ô nhiễm môi trường đối với phát triển

2.3 CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 58 2.4 ĐÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH CÔNG CỦA CÁC

CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

65

CHƯƠNG 3 Quan điểm và giải pháp về vấn đề môi trường trong phát

triển kinh tế ở Việt Nam thời gian tới 77

Trang 2

CÁC TỪ VIẾT TẮT

- AFTA Khu vực thương mại mậu dịch tự do Đông Nam á

- BOD Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand)

- CFC Clorofluorocacbon

- CO Cácbon monoxit

- COD Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand)

- CO2 Cácbon đioxit

- dBA Đề - xi - ben

- FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- GDP Tổng sản phẩm quốc nội

- GNP Tổng sản phẩm quốc dân

- HNO3 Axit nitơric

- H2SO4 Axit sunfuric

- ISO 14000 Tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường

- N2O Nitơ oxit

- NO2 Nitơ đioxit (Nitrit)

- ODA Nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức

- OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

- SiO2 Oxit silic

- SO2 Sunfua đioxit

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài:

Phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường là yêu cầu tất yếu của các nước trên thế giới Ở Việt Nam, quan điểm đó đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36 – CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (tháng 4/ 2001) đã đưa ra mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm (2001 - 1010) của Việt Nam là:

“Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Phát triển nhanh, bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết 41-NQ/TW

về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là Nghị quyết đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Để thực hiện được chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2001 – 2010 theo tinh thần của Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam nền kinh tế nước ta trong những năm tới sẽ phải tăng trưởng với nhịp độ nhanh Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, việc bảo vệ môi trường theo tinh thần của Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế đang đặt ra cho nước ta những thách thức rất to lớn GS Joseph E.Stiglitz, người từng đoạt giải thưởng Nobel về kinh tế, trong chuyến thăm Việt Nam tháng 11/2004 đã trình bày bài phát biểu của mình về các thách thức đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nhấn mạnh: “Trong vòng 15 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế Tuy nhiên, hàng loạt thách thức đã và đang được đặt ra đối với Việt Nam nhằm duy trì sự tăng trưởng như đảm bảo bền vững về môi trường, kinh tế, xã hội Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn phát triển khó khăn cần sử dụng nhiều yếu tố môi trường Nếu các tác

Trang 4

động về môi trường không được tính toán đầy đủ trong các chính sách thì ảnh hưởng có thể sẽ rất thảm khốc và tăng trưởng sẽ không bền vững”[33] Thực tế ở Việt Nam từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, đất nước đã thay da đổi thịt hàng ngày, hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu đô thị mới lần lượt mọc lên cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội là vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng ra tăng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt đã gây ra những trở ngại to lớn trong giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh tế Hậu quả ô nhiễm nặng nề do bất chấp về môi trường trong quá trình phát triển kinh

tế – xã hội đang diễn ra ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, nhưng đáng tiếc

là hình như điều đó chưa “thấm” vào ý thức của nhiều người Kinh nghiệm cho thấy việc xử lý hậu quả ô nhiễm khó khăn và tốn kém hơn nhiều so với việc đầu tư,

xử lý, ngăn chặn ô nhiễm ngay từ đầu Việc nghiên cứu “Vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam” nhằm tìm ra mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và

môi trường đồng thời đề xuất các giải pháp để cải thiện chất lượng môi trường, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, bền vững là hết sức cần thiết và em chọn đó làm

đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu:

Khái niệm “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1987 trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Uỷ ban Môi trường và phát triển của Ngân hàng thế giới (WB) Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng Chương trình Nghị sự

21 về phát triển bền vững trong đó bao gồm các nhân tố kinh tế, xã hội và môi trường Vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế đã được đề cập trong nhiều cuộc hội thảo, đề tài nghiên cứu quốc tế và trong nước như:

- “Xanh hoá công nghiệp, vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ” của Ngân hàng thế giới (1999)

- “Nâng cao vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường thông qua tăng cường công tác phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng” của các tác giả Dương Thị Tơ và Tô Kim Oanh (Cục Bảo vệ môi trường – 2003)

- “Sinh thái học và bảo vệ môi trường” của các tác giả Nguyễn Thị Kim Thái,

Lê Thị Hiền Thảo (Đại học Xây dựng Hà Nội - 2003)

Trang 5

- Hội thảo “Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam” từ ngày

10 đến 11/6/2003 do Ban Khoa giáo Trung ương, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, Bộ Tài nguyên – Môi trường tổ chức

- Hội thảo đề tài “Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ngành công nghiệp đến năm 2010” do Bộ Công nghiệp tổ chức ngày 12/5/2004

Nhìn chung các công trình nghiên cứu và các cuộc hội thảo trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực trạng môi trường ở Việt Nam và một số giải pháp để nâng cao chất lượng môi trường Do mục đích, đối tượng, phạm vi và thời điểm nghiên cứu khác nhau nên vấn đề môi trường và các mối quan hệ giữa môi trường

và phát triển kinh tế chưa được đề cập rõ nét, chưa đánh giá đúng mức tác động của phát triển kinh tế đối với môi trường Vấn đề môi trường trong phát triển kinh

tế cần được nghiên cứu một cách hệ thống, tổng thể nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích của luận văn là đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế Để thực hiện được mục đích này, tác giả đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

- Làm rõ cơ sở lý luận của môi trường với phát triển kinh tế

- Đánh giá tác động của môi trường đến phát triển kinh tế và vai trò của Nhà nước trong việc giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế

- Trên cở sở các phân tích trên, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tác động của môi trường đến phát triển kinh tế từ năm 1995 đến nay

+ Về không gian: Nghiên cứu tác động của môi trường đến phát triển kinh tế

ở Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm ở một số nước

Trang 6

+ Về nội dung: Vấn đề được đặt ra trong phạm vi nghiên cứu những biến đổi môi trường trong phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới, phát triển các làng nghề, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, các hoạt động thương mại, du lịch và các hoạt động khai thác khoáng sản

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để làm rõ những nội dung cơ bản của luận văn, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng Ngoài ra còn sử dụng một

số phương pháp như thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp

6 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài:

- Hệ thống hoá dưới góc độ lý thuyết các thành phần môi trường bị tác động,

từ đó xác định nguyên nhân gây ra những biến đổi môi trường

- Phân tích, đánh giá những tác động của phát triển kinh tế đến môi trường

- Đánh giá hậu quả của những biến đổi môi trường đối với phát triển kinh tế như thế nào, qua đó đề ra những giải pháp giải quyết vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế

7 Bố cục của luận văn:

Đề tài được trình bày với kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Môi trường với phát triển kinh tế: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm của một số quốc gia

Chương 2: Thực trạng vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt nam thời gian qua

Chương 3: Quan điểm và giải pháp về vấn đề môi trường trong phát triển kinh

tế ở Việt Nam thời gian tới

Đề tài được hoàn thành với sự tận tình giúp đỡ, hướng dẫn của PGS.TS Phan Huy Đường, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự chỉ bảo và những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô đã giúp đỡ em hoàn tất đề tài trong thời gian vừa qua

CHƯƠNG 1

MÔI TRƯỜNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

Trang 7

Để phân tích và đánh giá một cách rõ ràng và đầy đủ về vấn đề môi trường nhằm đưa ra những giải pháp để phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam hiện nay, trước hết chúng ta cần nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về môi trường, về phát triển kinh tế, vai trò của môi trường trong phát triển kinh tế và các nhân tố của môi trường ảnh hưởng đến phát triển kinh tế

1.1 Môi trường:

1.1.1 Khái niệm:

- Khái niệm chung về môi trường: Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Trong báo cáo toàn cầu năm 2000 đã nêu ra định nghĩa môi trường như sau:

“Theo tự nghĩa môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh loài người … Mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà

sự phân biệt giữa các cá thể con người với môi trường bị xóa nhòa đi” [13]

Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là “Toàn

bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”[13] Theo cuốn “Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững” do Lê Huy Bá chủ biên định nghĩa: “Môi trường là tập hợp các thành phần vật chất vô cơ, sinh vật và con người cùng tồn tại và phát triển trong một không gian và thời gian nhất định Giữa chúng có sự tương tác với nhau theo nhiều chiều mà tổng hòa các mối tương tác đó sẽ quyết định lên chiều hướng phát triển của toàn bộ hệ môi trường” [2]

Tuy nhiên, để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong

“Luật bảo vệ môi trường” đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993 như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”[12].

Trang 8

- Môi trường sống: Môi trường sống có ảnh hưởng tới đời sống, sự tồn

tại và phát triển của các cơ thể sống, như vậy môi trường sống là tổng hợp những

điều kiện bên ngoài như vật lý, hóa học, sinh học có liên quan đến sự sống

- Môi trường sống của con người: Đối với con người, môi trường sống của

con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân, từng cộng đồng

và toàn bộ loài người trên hành tinh

- Hệ sinh thái: Là hệ thống các quần thể sinh vật cùng sống và cùng phát triển

trong một môi trường nhất định, có quan hệ tương tác với nhau và với môi trường

đó

1.1.2 Phân loại môi trường: Môi trường sống của con người thường được

chia thành các loại sau:

+ Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, ánh sáng mặt trời, động thực vật…Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên tự nhiên cho con người

+ Môi trường xã hội: Môi trường xã hội là tổng hợp các quan hệ giữa người với người (thể chế, luật lệ, quy định …ở các cấp khác nhau như quốc gia, tỉnh, làng xã, các tổ chức … )

+ Môi trường nhân tạo: Bao gồm các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi cho cuộc sống con người như nhà ở, khu vực đô thị, khu vui chơi

+ Môi trường kinh tế: Là tổng hợp những quan hệ trong các hoạt động kinh tế giữa các quốc gia, tổ chức như WTO, AFTA, các khu thương mại…

1.1.3 Vai trò của môi trường đối với phát triển kinh tế:

- Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên: Môi trường chứa đựng cả tài

nguyên có khả năng tái sinh và không tái sinh Con người khai thác tài nguyên ngày càng nhiều hơn do nhu cầu vật chất ngày càng tăng thêm

- Môi trường với chức năng là nơi chứa chất thải: Chất thải bao gồm nhiều

dạng nhưng chủ yếu tồn tại ở ba dạng chính là dạng khí, dạng rắn, dạng lỏng Ngoài ra còn có các dạng khác như nhiệt, tiếng ồn, phân tử, nguyên tử … Trong

Trang 9

mọi hoạt động của con người từ khai thác tài nguyên đến sản xuất, lưu thông, tiêu dùng đều có phế thải Kinh tế càng phát triển, sản xuất hàng hóa càng nhiều, các khu đô thị được xây dựng càng nhiều lượng chất thải càng lớn, quá trình tự phân hủy của môi trường không kịp với lượng thải tạo ra có nguy cơ gây ra những biến đổi về môi trường

- Môi trường với chức năng là nơi không gian sống và cung cấp các dịch vụ

cảnh quan: Con nguời chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian môi trường,

không gian môi trường tạo cho con người thư thái về tinh thần Tuy vậy không gian môi trường là hữu hạn, trong khi dân số trên trái đất không ngừng tăng lên dẫn đến lợi ích mà mỗi người được hưởng từ không gian môi trường ngày càng

giảm

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người: Môi trường

là nơi cung cấp và ghi chép lịch sử địa chất, lịch sử phát triển loài người qua các hóa thạch, cung cấp thông tin về những cảnh quan thiên nhiên

1.1.4 Tiêu chuẩn môi trường:

Theo Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam:”Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường”[12]

1.1.5 Ô nhiễm môi trường:

* Khái niệm: Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi tính chất của môi trường Vi phạm tiêu chuẩn môi trường Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại [21]

Theo quan điểm kinh tế học, ô nhiễm môi trường là một dạng ngoại ứng mà ở

đó tác động được tạo ra bên trong một hoạt động hoặc quá trình sản xuất hay tiêu dùng nào đó nhưng lại gây ra những chi phí không được tính đến cho những hoạt động hoặc quá trình khác bên ngoài Để đạt được mức ô nhiễm tối ưu thì hoặc là hoạt động sản xuất phải đạt được mức tối ưu hoặc là phải thải ở mức thải tối ưu đối với xã hội

* Ô nhiễm môi trường nước: Là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước chủ yếu do con người gây ra gây ảnh hưởng đến đời sống con người và sinh vật, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội

Trang 10

Sự ô nhiễm này cũng có thể do tự nhiên như mưa, lũ lụt cuốn theo những chất gây ô nhiễm ra sông, biển và ngấm vào lòng đất xuống mạch nước ngầm và cũng có thể do nhân tạo như xả thải từ vùng dân cư, khu công nghiệp, trong sản xuất nông nghiệp như các kim loại nặng, phân bón, thuốc trừ sâu …

* Ô nhiễm không khí: Là sự biến đổi trong thành phần không khí làm cho nó không sạch, bụi, có mùi khó chịu

Ô nhiễm không khí có thể có nguồn gốc từ thiên nhiên như mưa gió cuốn theo bụi, cháy rừng gây ra khói và bụi và cũng có thể do nhân tạo như quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt trong các hoạt động công nghiệp, hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải Các hoạt động này hàng năm thải ra ngoài không khí một lượng lớn NOX, CO, CO2, SO2, CFC, H2S, các loại hạt bụi đất đá, bụi kim loại Phần lớn các chất ô nhiễm đều gây tác hại tới sức khỏe của con người, cây trồng, công trình xây dựng và tầng ô - zôn

* Ô nhiễm đất: Ô nhiễm đất xảy ra khi có mặt một số chất lạ và hàm lượng của chúng vượt quá khả năng chịu tải của đất

Ô nhiễm đất có thể do tự nhiên như núi lửa, ngập úng, mặn do xâm nhập của thủy triều hoặc do ảnh hưởng từ nhân sinh như chất thải sinh hoạt, công nghiệp, giao thông và nông nghiệp làm ô nhiễm kim loại nặng (As, Pb, Cu, Hg …), ô nhiễm phóng xạ, ký sinh trùng gây bệnh cho người

* Ô nhiễm tiếng ồn: Âm thanh gây nên do những rung động trong không khí gây kích thích cảm giác nghe Ô nhiễm tiếng ồn thường do các phương tiện giao thông, các máy móc hoạt động trong sản xuất công nghiệp, sinh hoạt

1.1.6 Chất thải rắn và chất thải nguy hại:

* Chất thải rắn: Là vật liệu ở dạng rắn bị loại bỏ thường có nguồn gốc từ các khu thương mại, dân cư, nhà máy, trong hoạt động nông nghiệp

Chất thải rắn có nhiều dạng khác nhau đó là các loại chất thải rắn từ thực phẩm không còn sử dụng được, các loại thải rắn bỏ đi từ gia đình, công sở như bao

bì, chai lọ, các loại vôi, gạch vụn từ các công trình xây dựng….:

* Chất thải nguy hại: Là loại chất thải có nồng độ độc tố cao, có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường

1.1.7 Tai biến môi trường:

Trang 11

Là quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường Quá trình tai biến phản ánh tính nhiễu loạn, tính bất ổn định của hệ thống Tai biến môi trường thường có hai loại:

- Loại cấp diễn: Xảy ra nhanh, mạnh, đột ngột và cũng nhanh chóng kết thúc, được xen kẽ một khoảng thời gian dài bình yên như: Động đất, sóng thần, bão, lũ lụt…

- Loại trường diễn: Xảy ra chậm, trường kỳ như sa mạc hóa, nhiễm mặn đất ven biển…

Tai biến môi trường có thể do tự nhiên (hạn hán, lũ lụt, động đất … ) thường được gọi là thiên tai hay do hoạt động nhân sinh (khai thác tài nguyên quá mức, xả thải chất ô nhiễm, can thiệp thô bạo vào hệ sinh thái …) hoặc thiệt hại xảy ra do cả

tự nhiên và nhân sinh thường được gọi là sự cố Tuy nhiên, phân biệt thiên tai hay

sự cố chỉ là tương đối vì nhiều khi thiệt hại do cả hai nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh Ví dụ: Một trận bão làm đổ những cây cột điện thì có thể coi thiệt hại đó là do thiên tai nhưng cũng có thể là do con người Trong quá trình xây dựng hệ thống truyền tải điện, nếu như người ta đã tính đến khả năng chịu bão để gia cố chắc móng cột thì những cây cột đó sẽ không bị đổ Trong trường hợp này, những cây cột điện bị đổ là do tai biến hỗn hợp

Xung đột môi trường có thể tồn tại những dạng sau:

- Xung đột chức năng của môi trường: Là những xung đột xuất hiện giữa các chức năng môi trường Ví dụ như việc thực hiện chức năng là nơi sinh sống và chức năng chứa rác thải của môi trường

- Xung đột do nhận thức: Có nguồn gốc từ nhận thức và hiểu biết khác nhau trong hành động của các nhóm dẫn đến phá hoại môi trường Ví dụ nếu nhận thức rừng chỉ là nguồn cung cấp gỗ thì rất có thể dẫn đến tình trạng khai thác quá mức,

Trang 12

nhưng nếu nếu nhận thức rừng là nguồn tài nguyên tái tạo với đầy đủ chức năng kinh tế, sinh thái thì sẽ dẫn tới hành động hoàn toàn khác đối với tài nguyên rừng

- Xung đột mục tiêu: Mục tiêu hoạt động của các nhóm dẫn đến xung đột Ví

dụ, người trồng rau phun thuốc trừ sâu xung đột với mục tiêu bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng

- Xung đột lợi ích, xung đột quyền lực: Xuất hiện khi các nhóm tranh giành nhau lợi thế sử dụng tài nguyên, nhóm có quyền lực mạnh hơn lấn át nhóm khác để chiếm lợi thế dẫn đến không công bằng trong phân phối tài nguyên

1.2 Phát triển kinh tế:

1.2.1 Khái niệm về phát triển:

Thuật ngữ “phát triển” đã được sử dụng quen thuộc trên các phương tiện thông tin, trong các công trình nghiên cứu khoa học và trong cuộc sống hàng ngày, phát triển là một xu hướng tự nhiên đồng thời cũng là quyền của mỗi cá nhân hay mỗi quốc gia Con người vừa là đối tượng, vừa là động lực của phát triển Mục tiêu của phát triển là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con người

Phát triển là tạo điều kiện cho con người sinh sống trường thọ, được thỏa mãn các nhu cầu của cuộc sống, được cung cấp hàng hóa và dịch vụ tốt, được hưởng những thành tựu về văn hóa và tinh thần, được sống trong một môi trường trong lành, được hưởng các quyền cơ bản của con người

1.2.2 Tăng trưởng kinh tế và Phát triển kinh tế:

* Tăng trưởng kinh tế: Theo cách hiểu hiện đại, là việc mở rộng sản lượng tiềm năng của một quốc gia, sự tăng lên không ngừng GNP tiềm năng thực (GNP thực là GNP đã được điều chỉnh theo sự thay đổi của giá: GNP thực = GNP danh nghĩa – Giảm phát của GNP) [13]

Theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại, các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế bao gồm nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học – công nghệ Tăng trưởng kinh tế được đo bằng tốc độ và quy mô Đó là

sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Do vậy, để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng

Trang 13

nền kinh tế (toàn bộ hay bình quân theo đầu người) của thời kỳ sau so với thời

kỳ trước Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định và sự tăng thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc,

đó chính là tốc độ tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng càng nhanh khi quy mô của thời

kỳ sau càng lớn so với quy mô của thời kỳ trước Trong nền kinh tế đôi khi tăng trưởng nhanh cũng chưa phải là tốt Sự tăng trưởng chung thể hiện ở tốc độ tăng GNP và tốc độ tăng GDP, mà chúng lại phụ thuộc vào tốc độ tăng giá trị sản lượng, sản lượng thuần túy của các ngành kinh tế Nhưng tốc độ tăng của các ngành lại khác nhau theo những quy luật nhất định Vì thế trong từng thời kỳ, nếu không bảo đảm các mối quan hệ có tính quy luật giữa các ngành thì sẽ gây rối loạn nền kinh tế, hạn chế sự phát triển chung của nền kinh tế

Như vậy, tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh

tế mới chỉ là điều kiện cần để phát triển kinh tế Điều kiện đủ của phát triển kinh tế

là trong quá trình tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo được tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục tiêu và đảm bảo tăng trưởng kinh tế trong tương lai

* Phát triển kinh tế: Là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của phát triển nói chung nhưng phát triển kinh tế cũng không phải là vô hạn Phát triển kinh tế phải phục vụ, thúc đẩy để đạt được các mục tiêu chung của sự phát triển Bất cứ nền kinh tế nào cũng phải đảm bảo tăng trưởng và phát triển để đảm bảo thực hiện tái sản xuất mở rộng Tuy nhiên trong thực tế đôi khi có sự lầm lẫn giữa hai khái niệm tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, người ta dễ đồng nhất hai khái niệm này

“Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên

Những vấn đề cơ bản nhất của phát triển kinh tế bao gồm sự tăng thêm về

khối lượng của cải vật chất dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội Trong đó, người dân là những người tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế và được hưởng những lợi ích của phát triển kinh tế mang lại Trong chiến lược phát triển kinh tế hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau nhưng tập trung chủ yếu vào một số quan điểm như sau:

Trang 14

- Quan điểm nhấn mạnh vào tăng trưởng cho rằng tăng thu nhập là quan trọng nhất, chỉ cần giải quyết được vấn đề này sẽ kéo theo việc giải quyết các vấn

đề cơ cấu kinh tế và xã hội Quan điểm này có thể đưa đến tốc độ tăng trưởng cao nhưng cũng có những hạn chế như nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, môi trường sinh thái bị hủy hoại do khai thác bừa bãi; sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị xuất hiện tạo ra những mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong xã hội; giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục, chuẩn mực sống của gia đình và dân tộc bị suy giảm

- Quan điểm nhấn mạnh vào công bằng và bình đẳng trong xã hội hướng vào

sự phát triển dàn đều các ngành, các vùng và phân phối theo nguyên tắc bình quân Quan điểm này làm giảm sự bất bình đẳng trong xã hội nhưng cũng có hạn chế là không tạo được động lực thúc đẩy người lao động và không thể tạo ra được tốc độ tăng trưởng cao

- Quan điểm phát triển toàn diện, vừa nhấn mạnh về số lượng, vừa coi trọng chất lượng về sự phát triển Quan điểm này có thể làm cho tốc độ tăng trưởng bị hạn chế nhưng các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết

1.3 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế:

Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 của Việt Nam được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua đã nêu mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2010 phải tăng gấp đôi năm 2000 Để thực hiện được chiến lược này, theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, nền kinh tế nước ta trong những năm tới sẽ phải tăng với nhịp độ nhanh khoảng 7,4%-7,5%/ năm và nếu GDP tăng gấp đôi so với năm 2000 thì nguy cơ ô nhiễm tăng gấp 3 – 5 lần Quá trình phát triển kinh tế đòi hỏi một lượng lớn các nhu cầu về năng lượng, nhiên liệu, nguyên liệu dẫn đến phải tăng cường khai thác các nguồn tài nguyên Từ trước đến nay, chúng ta thường khai thác bừa bãi, không có kế hoạch, sử dụng phương tiện khai thác lạc hậu làm lãng phí rất nhiều tài nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nguồn tài nguyên không tái tạo và làm chất lượng môi trường xấu đi Trong giai đoạn tới, nếu không được quan tâm đúng mức giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, nếu chỉ chú trọng nhiều đến phát triển kinh tế thì nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường sẽ lại trở thành một rào cản lớn đối với phát triển kinh tế trong tương lai

Trang 15

Trong các hoạt động kinh tế, việc đầu tư và phát triển phải đem lại lợi nhuận cho quốc gia nhưng việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng trong phạm vi khôi phục về số lượng

và chất lượng Nguồn tài nguyên không tái tạo cần được sử dụng một cách tiết kiệm, hạn chế và thường xuyên được thay thế, bổ sung bằng các tài nguyên thiên nhiên tái tạo hoặc nhân tạo Bên cạnh đó, cần phải đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, giảm thiểu tối đa sự lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường Phát triển kinh tế phải coi trọng đến môi trường sống của con người, đó là cảnh quan thiên nhiên, chất lượng không khí, nguồn nước, xử lý và tái chế phế thải Cùng với phát triển kinh tế là vấn đề công bằng xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, phúc lợi xã hội, các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc cần được giữ gìn và phát huy

Trong lịch sử phát triển của các quốc gia đã có một thời phát triển kinh tế

được đặt lên hàng đầu, được ưu tiên số một trong các chính sách của chính phủ, thậm chí lấn át các yếu tố khác như xã hội, môi trường Người ta cho rằng khi kinh

tế đã phát triển thì có thể dùng nguồn lực kinh tế để khắc phục những vấn đề về tài nguyên, môi trường và xã hội Đã có những giai đoạn khuynh hướng phát triển với bất cứ giá nào đã gây ra những hậu quả nặng nề cho văn hóa, xã hội, môi trường

mà nhiều quốc gia phát triển đến nay vẫn còn phải khắc phục Trong thời điểm hiện nay cuộc chạy đua phát triển kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực kinh tế trên thế giới đang diễn ra gay gắt thì khuynh hướng phát triển với bất cứ giá nào vẫn được tôn sùng đặc biệt trong các quốc gia đang phát triển Người ta có thể hy sinh các yếu tố khác như chênh lệch giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong xã hội, suy thoái về đạo đức, lối sống hay thậm chí hy sinh cả môi trường để phát triển kinh tế

Sự khát khao phát triển kinh tế nhanh với bất cứ giá nào đã mang lại hậu quả là môi trường bị suy thoái, tài nguyên tái tạo và không tái tạo bị khai thác quá mức dẫn đến những nền tảng cho phát triển kinh tế bị yếu kém, thu hẹp Bên cạnh đó, dân số ngày càng tăng lên gây nên sự nghèo khó cùng cực của con người Với những nước nghèo như Việt Nam mà cuộc sống của người dân còn phụ thuộc chính vào khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên thì tính bền vững về sinh thái

và kinh tế cũng quan trọng như tính bền vững về xã hội trong quá trình phát triển

Trang 16

Cũng vì vậy, nếu sự phá hủy môi trường, làm tổn hại đến các hệ sinh thái,

cơ sở cho sự sinh trưởng của các sản lượng sinh học như đất, nước, các quần thể động, thực vật, rừng, biển và bờ biển với nhịp điệu như hiện nay thì sự phát triển bền vững không thể thực hiện được Ngược lại với khuynh hướng trên là khuynh hướng “Tăng trưởng bằng không hoặc âm” để bảo vệ các nguồn tài nguyên hữu hạn hoặc chủ trương không sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo để bảo vệ chúng nhưng quan điểm này là không tưởng nhất là với các nước đang phát triển vì tài nguyên thiên nhiên mãi mãi vẫn là nguồn vốn cơ bản để phát triển kinh tế Các nước phát triển ngày nay thường hạn chế khai thác tài nguyên trong nước và thay vào đó là tăng cường khai thác tài nguyên ở các quốc gia đang phát triển thông qua các dự án đầu tư hoặc nhập khẩu nguyên liệu thô để sản xuất hàng hóa

Như vậy, phát triển kinh tế và môi trường không phải là hai vế đối kháng nhau đối với một quốc gia phát triển Tại Hội nghị Môi trường toàn quốc ngày 22/4/2005 tại Hà Nội, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhận định: “Đây là thời điểm

mà bảo vệ môi trường đang trở thành vấn đề thời sự của toàn cầu Kinh nghiệm cho thấy những quốc gia đi theo con đường hy sinh môi trường để phát triển kinh

tế đều phải trả giá đắt Vì sự trường tồn của Trái đất – Ngôi nhà chung của chúng

ta, vì lợi ích của mỗi quốc gia và lợi ích của mỗi người dân chúng ta, chúng ta phải không ngừng nâng cao tính bền vững của quá trình phát triển” [23] Ở Việt Nam, trải qua gần 20 năm đổi mới đã thể hiện được tính đúng đắn của đường lối phát triển Kinh tế tăng trưởng liên tục, xã hội ổn định, chúng ta là một trong những quốc gia tích cực tham gia vào công tác bảo vệ môi trường, duy trì và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tham gia nhiều công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường, đa dạng sinh học và phát triển bền vững Chúng ta đã xây dựng

“Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” với những mục tiêu chính đó là đáp ứng

những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đảm bảo sự phát triển hài hoà cả về 3 mặt: Kinh tế, xã hội, môi trường Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở nước ta đã được khẳng định tổng quát trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung

Trang 17

cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Để phát triển bền vững, chúng ta vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đồng thời lại phải bảo toàn được hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học Con người chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của thế giới chúng ta và sự bảo toàn các hệ sinh thái là một phần trong những cố gắng lớn lao

để bảo toàn cuộc sống cả loài người Bất cứ một kế hoạch bảo vệ môi trường thực

sự nào cũng đều phải bao gồm những biện pháp kinh tế nhằm xóa đói, giảm nghèo

vì nạn nghèo đói là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến phá hoại môi trường Có thể nói, phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường và bảo vệ môi trường để tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế là mục tiêu của mỗi quốc gia

1.4 Kinh nghiệm của một số nước trong việc xử lý mối quan hệ giữa môi

trường và phát triển kinh tế:

1.4.1 Phát triển kinh tế và các vấn đề về môi trường ở một số quốc gia hiện nay:

Mối liên hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế đã được Ngân hàng tái thiết

và phát triển quốc tế đưa ra sau khi đã nghiên cứu trong 15 nước thuộc 4 nhóm kinh tế chính: Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đại diện là Mỹ, Nhật Bản, Pháp và Đức, Các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs) đại diện là Mêhicô, Braxin, Đài Loan, Hàn Quốc, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ, các nước châu Á kém phát triển hơn (LDCs) đại diện là Trung Quốc, Ấn Độ, Indônêxia và các nước thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế trước đây (COMECON) đại diện là Liên Xô, Ba Lan Số liệu cho thấy như sau:

Bảng 1.1 Lượng phát thải của các nhóm kinh tế chính:

Trang 18

dù tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong thập niên 70,

80 nhưng sự phát triển đã đặt nền móng cho việc cải thiện đáng kể công tác bảo vệ môi trường

Đi sâu nghiên cứu cụ thể vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế của một

số nước đang phát triển hay mới thực hiện công nghiệp hóa có hoàn cảnh tương đồng với Việt Nam ta thấy nổi lên một số vấn đề như sau:

* Ở Trung Quốc: Sự bùng nổ của các khu công nghiệp, khu đô thị trong thời

kỳ tăng trưởng kinh tế đã làm mất đi bầu không khí trong sạch Ô nhiễm không khí bắt nguồn từ các phương tiện vận tải, các ống khói của nhà máy và lò sưởi gia đình dày đặc còn ô nhiễm nguồn nước chủ yếu do sinh hoạt và hoạt động công nghiệp, nông nghiệp Cục Bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc đã ước tính khoảng 70% tổng ô nhiễm toàn quốc là bắt nguồn từ các nhà máy, trong đó 70% ô nhiễm hữu cơ các nguồn nước, 72% phát thải SO, 75% muội khói và phần lớn các loại

Trang 19

bụi lắng đọng Nhiều ngành công nghiệp gây ô nhiễm chưa được di dời ra khỏi khu đô thị có mật độ dân cư cao tạo ra nhiều loại phế thải độc hại hủy hoại nghiêm trọng sức khỏe con người và hoạt động kinh tế Ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Dương, Trùng khánh ô nhiễm do bụi đã làm chết khoảng 10.000 người trước khi đến tuổi trưởng thành

Trong thập niên 90 sản lượng của 10 triệu doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mỗi năm tăng hơn 15% và trở thành khối sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng 47% tổng sản phảm quốc nội, thu hút khoảng 17% lao động Mặc dù đã có tiến bộ trong kiểm soát ô nhiễm nhưng tình trạng hủy hoại môi trường vẫn diễn ra nghiêm trọng cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Cục Bảo vệ môi trường Trung Quốc ước tính công nghiệp gây nên 70% tổng ô nhiễm hữu cơ các nguồn nước, nồng độ phát thải SO (nguyên nhân thường gặp của các căn bệnh đường hô hấp) cao hơn rất nhiều tiêu chuẩn an toàn của Tổ chức Y tế thế giới Do các nhà máy lớn là nguồn ô nhiễm chính nên để giảm 1 tấn SO thì các nhà máy này phải chi 3USD Các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới đã tìm hiểu về các phản ứng của cộng đồng với điều kiện môi trường bị ô nhiễm do các doanh nghiệp lân cận gây ra Từ năm 1987 đến năm 1993 có khoảng 130.000 ý kiến khiếu nại liên quan đến ô nhiễm không khí, nước và tiếng ồn Tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy ở các trung tâm đô thị như Thượng Hải, Thiên Tân, ý kiến khiếu nại là cao nhất (30 khiếu nại trên 100.000 dân) còn ở các tỉnh kinh tế kém phát triển như Tân Cương, Nội Mông thì ý kiến khiếu nại về môi trường thấp nhất (5 khiếu nại trên 100.000 dân) Các nghiên cứu đã phân tích các tác động của ô nhiễm, thu nhập, giáo dục đến tỷ lệ khiếu nại về môi trường Nếu thu nhập và giáo dục là cố định thì các tỉnh

có mức phát thải cao có khiếu nại nhiều hơn 75% so với các tỉnh bị ô nhiễm nhẹ, kết quả này chỉ đúng với các chất gây ô nhiễm dễ nhìn thấy Nếu cố định mức ô nhiễm và giáo dục thì kết quả cho thấy các tỉnh có thu nhập cao thì khiếu nại cao hơn 110% so với các tỉnh có mức thu nhập thấp [26] Các khiếu nại kiểu này đã khiến các nhà quản lý phải tăng lệ phí ô nhiễm không khí và cách làm này đã làm giảm cường độ ô nhiễm không khí do công nghiệp do đó các vùng giàu có hơn và

có tỷ lệ khiếu nại nhiều hơn thì có không khí sạch hơn rất nhiều Nếu coi ô nhiễm

và thu nhập không đổi thì các tỉnh nghèo có trình độ văn hóa cao hơn thì tỷ lệ

Trang 20

khiếu nại cao hơn 90% so với các tỉnh nghèo có trình độ văn hóa thấp Nói chung trình độ văn hóa cũng có tác động rất nhiều đến nhận thức về môi trường của người dân Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao không có nhiều khiếu nại ở các khu vực có trình độ văn hóa thấp ? Câu trả lời là có thể do thiếu thông tin về tình hình ô nhiễm ở địa phương và thiệt hại về sức khỏe, không muốn đối đầu với các nhà chức trách Các khiếu nại rất có tác động đến các nhà quản lý nên nếu im lặng sẽ dẫn đến các điều tồi tệ về môi trường

Thông thường thì các thành phố công nghiệp có mức độ ô nhiễm cao hơn các tỉnh nghèo nhưng qua một nghiên cứu về mối liên quan giữa tiền lương trung bình

và độ phát thải ô nhiễm không khí ở 50 thành phố Trung Quốc thì đối với các bụi

lơ lửng mật độ ô nhiễm tăng rõ rệt khi tiền lương giảm Các thành phố nghèo nhất

có mật độ phát thải oxyt lưu huỳnh cao hơn so với các thành phố giàu nhất Thực

tế cho thấy các khu vực giàu có có mức độ sản xuất công nghiệp cao hơn, song sản xuất tại các khu vực này sạch hơn do có sự quan tâm về mức độ ô nhiễm môi trường của người dân nhiều hơn và có quy chế quản lý chặt chẽ hơn Các cơ sở tại các khu vực có công nhân có trình độ thấp thường hoạt động có hiệu quả thấp hơn

và tạo ra nhiều chất thải hơn Ở Trung Quốc, trong một khu vực nhất định thì quy

mô sản xuất công nghiệp đóng một vai trò phụ đối với mật độ ô nhiễm Vấn đề rào cản thương mại cũng có tác động đến ô nhiễm môi trường Bằng chững gần đây cho thấy rằng càng mở cửa thương mại thì tỷ lệ các ngành gây ô nhiễm càng giảm

do được áp dụng công nghệ sạch hơn, thân thiện hơn với môi trường Để làm rõ tác động của cải cách kinh tế ở Trung Quốc đến ô nhiễm môi trường, một nghiên cứu

đã so sánh một số tỉnh như Bắc Kinh, Liêu Ninh, Thượng Hải, Quảng Đông và Tứ Xuyên là những tỉnh có những trung tâm công nghiệp và tại đây mức độ ô nhiễm cũng được coi là nặng Những cải cách kinh tế của Trung Quốc đã làm thay đổi quy mô trung bình của các doanh nghiệp và các quyền sở hữu Từ năm 1987 đến

1993, các doanh nghiệp khi chuyển đổi quyền sở hữu có quy mô lớn liên tục tăng phần đóng góp cho nền kinh tế mà nổi bật nhất là ở Thượng Hải, trong khi đó phần đóng góp của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước lại giảm đặc biệt là ở Tứ Xuyên và Quảng Đông Những kết quả quan trắc và thống kê chỉ ra rằng các doanh nghiệp lớn và nhỏ thuộc sở hữu nhà nước đều có vai trò trong việc làm giảm ô

Trang 21

nhiễm công nghiệp như ô nhiễm nước do chất hữu cơ, ô nhiễm không khí Phát thải đã giảm mạnh trong thời gian cải cách kinh tế ở cả năm tỉnh trong đó hai tỉnh

Tứ Xuyên và Quảng Đông giảm ô nhiễm nhiều nhất

Ở Trung Quốc, ô nhiễm không khí giữ ổn định và có xu thế giảm trong thập niên trước mặc dù mức thu nhập tăng lên rất nhanh và chúng ta đã chứng kiến sự phát triển kinh tế đã thúc đẩy kiểm soát ô nhiễm ở các nước đang phát triển khác nữa Quản lý ô nhiễm được tăng cường cùng với sự tăng thu nhập và tác động của

nó đã làm giảm nhanh chóng mức độ ô nhiễm gây ra bởi sản xuất công nghiệp Trung Quốc đã sử dụng các loại phí môi trường để làm giảm ô nhiễm linh hoạt theo từng địa phương Phí ô nhiễm cũng là một công cụ quản lý hữu hiệu nhờ các

cơ chế khuyến khích về kinh tế Đối với các doanh nghiệp thì phí ô nhiễm đơn giản

là một loại thuế mà họ phải gánh chịu cho các loại hàng hóa

* Ở Inđônêxia: Những nhà máy ở các khu vực có thu nhập thấp nhất và có trình độ văn hóa thấp có cường độ ô nhiễm nước do chất hữu cơ gấp 15 lần mức của các nhà máy tại các cộng đồng có mức thu nhập và giáo dục cao nhất Một số nghiên cứu cho thấy rằng cải cách kinh tế thường làm thay đổi hình thức sở hữu và điều này lại có tác động đến môi trường Các doanh nghiệp quốc doanh thường sử dụng tài nguyên lãng phí hơn và làm cạn kiệt về tài chính dẫn đến chi phí để giảm

ô nhiễm cao hơn, đầu tư cho kiểm soát ô nhiễm ít hơn dẫn đến mức độ ô nhiễm môi trường tăng lên Thực tế ở Inđônêxia cho thấy các doanh nghiệp quốc doanh gây ô nhiễm nhiều hơn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Một nghiên cứu mới đây đã phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Inđônêxia (vào những năm 1997 – 1998) đến sản xuất công nghiệp và các loại phát thải ở một số nhà máy lớn Đi cùng với việc sản lượng công nghiệp giảm tới 18% là cường độ ô nhiễm các chất hữu cơ của các nhà máy tăng lên 15% Nghiên cứu chỉ ra hai nguyên nhân chính làm tăng ô nhiễm đó là việc phá giá đồng tiền trong nước làm cho giá đầu vào nhập khẩu để làm giảm ô nhiễm đắt hơn và việc cắt giảm ngân sách của các cơ quan quản lý Tuy nhiên tổng lượng phát thải không đổi do giảm khối lượng sản xuất

Một bài học thành công trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm trong phát triển kinh tế ở Indônêxia đó là vai trò của cộng đồng, thị trường Vào những năm 1984,

Trang 22

cơ sở sản xuất giấy ở Sumatra nhập khẩu dây chuyền sản xuất cũ và lạc hậu

từ Đài Loan, thải phế thải ra sông Siak sau khi đã xử lý ở mức tối thiểu, do người dân phản ứng gay gắt vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng, nhà máy đã tiến hành làm sạch lần thứ nhất vào năm 1990 Sự bùng nổ các hoạt động xuất khẩu của Inđônêxia đã khiến cơ sở này phải tiến hành làm sạch lần thứ hai vào năm 1992

Để mở rộng sản xuất và có trách nhiệm lâu dài đối với môi trường các nhà quản lý

đã đầu tư lãi suất cao vào việc sử dụng dây chuyền và công nghệ sản xuất sạch từ các công ty nước ngoài, kết quả là phế thải rất ít và lợi nhuận kinh tế mang lại rất cao, giá cổ phiếu của cơ sở này được nâng cao Sự thành công này mang lại một

mô hình mới về kiểm soát ô nhiễm tại các nước đang phát triển đó là sức ép của cộng đồng địa phương đòi đền bù thiệt hại do ô nhiễm và sức ép của thị trường tài chính quốc tế đã đẩy doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn đến hệ thống quản lý môi trường

Một chương trình tiên phong ở Inđônêxia minh họa cho một mô hình hành động mới đó là thông tin đại chúng Bắt đầu vào những năm 1980, chính phủ đã giao cho cơ quan kiểm soát ô nhiễm quốc gia cưỡng chế thi hành các tiêu chuẩn về phát thải của các nhà máy công nghiệp song việc này không mang lại hiệu quả do kinh phí hạn hẹp trong khi đó sản lượng công nghiệp hàng năm tăng 10% Chính phủ rất lo lắng đến nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng do ô nhiễm Trước tình hình đó,

cơ quan Kiểm soát ô nhiễm quốc gia quyết định khởi xướng chương trình xếp hạng

và công khai hóa kết quả hoạt động môi trường của các nhà máy ở Inđônêxia, chương trình này có tên là PROPER – Chương trình kiểm soát, đánh giá, xếp hạng

ô nhiễm và bắt đầu được thử nghiệm vào năm 1995

Cơ quan kiểm soát ô nhiễm quốc gia đánh giá, xếp hạng hoạt động môi trường của các cơ sở đã từng gây ô nhiễm nước trong 187 nhà máy cỡ vừa và lớn nằm trên các lưu vực sông Kết quả cho thấy có 2/3 các nhà máy không tuân thủ các quy chế quản lý môi trường của Indônêxia song vẫn có 1/3 nhà máy được đánh giá là có tuân thủ mà nguyên nhân chính là do cộng đồng địa phương và thị trường

đã vào cuộc tạo áp lực đáng kể Chính phủ đã tiến hành phổ biến thông tin cho cộng đồng bằng cách tổ chức một buổi lễ chúc mừng và trao thưởng cho 5 nhà máy được xếp hạng tốt nhất về tuân thủ quy chế quản lý môi trường Sau một năm, đến

Trang 23

tháng 12/1996, cơ quan kiểm soát ô nhiễm quốc gia đã công khái hóa mức xếp hạng của các nhà máy Số các nhà máy tuân thủ lúc đầu chiếm 1/3 nay đã nâng lên 1/2 Đến tháng 6/1998 chương trình này đã làm giảm hơn 40% ô nhiễm trong nhóm nhà máy thử nghiệm [26] Qua việc này cho thấy việc xếp hạng và phổ biến thông tin cho cộng đồng có thể là những công cụ mạnh để cải thiện các điều kiện môi trường ở các nước đang phát triển

* Ở Braxin: Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho thấy các hoạt động gây ô nhiễm nặng thường tập trung ở các vùng nghèo khổ của Braxin Thậm chí ngay cả trong những trường hợp các khu vực giàu có bị ô nhiễm thì những người dân nghèo sống ở khu vực này cũng phải hứng chịu nạn ô nhiễm nhiều hơn Tại nhiều thành phố, tình trạng ô nhiễm nước và không khí nghiêm trọng chủ yếu do phát thải từ các loại phương tiện vận tải chạy bằng động cơ và các hộ gia đình Các chính sách kinh tế quốc gia cũng ẩn giấu nguy cơ gây ô nhiễm Vào những ngày đầu xây dựng ngành công nghiệp Braxin, Thành phố công nghiệp Cubatao nằm trong một thung lũng và là một địa điểm tuyệt vời cho một số ngành công nghiệp như sắt, dầu mỏ, phân bón, hóa chất được các tập đoàn lớn về thép (Cosipa) và dầu mỏ (Petrobras) đầu tư nên nó trở thành một tổ hợp công nghiệp to lớn Trong năm 1985 khu vực này chiếm 3% tổng thu nhập quốc dân của Braxin Nhưng có một sai lầm là chất thải của khu công nghiệp này lại đổ ra một con sông trong thành phố, hàng tấn kim loại nặng đã lắng đọng dưới đáy sông và trôi ra biển ở gần Santos và thung lũng tự nhiên trở thành một thung lũng chứa đầy khí thải công nghiệp Các doanh nghiệp đã thải hàng ngàn tấn chất thải gây ô nhiễm Vào những năm 1980 thành phố này có tỷ lệ trẻ em tử vong cao nhất nước, hơn 1/3 dân số bị các bệnh về hô hấp Sự ô nhiễm nặng nề tới mức chính quyền phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp và ra lệnh cho cơ quan kiểm soát ô nhiễm phải có hành động cương quyết ngăn chặn tình trạng ô nhiễm Nhưng biện pháp này cũng gặp không ít trở ngại do có sự chống đối của các doanh nghiệp nhà nước nơi mà việc phòng chống

ô nhiễm kém hơn rất nhiều khu vực tư nhân Các doanh nghiệp này kêu gọi sự ủng

hộ của các cấp chính quyền mặc dù cho đến năm 1994, ô nhiễm do bụi do các doanh nghiệp này gây ra chiếm 42% tổng ô nhiễm trước khi thực hiện kiểm soát, thực tế chiếm tới 77% các loại phát thải sau khi thực hiện kiểm soát Một sự thay

Trang 24

đổi lớn đã diễn ra khi chính phủ cho tư nhân hóa tập đoàn thép Cosipa Sử dụng nguyên liệu giảm xuống, chất lượng sản phẩm được nâng cao và ngày càng quan tâm đến tiêu chuẩn chất lượng môi trường [26] Tác động của việc tư nhân hóa tập đoàn thép Cosipa không phải là một trường hợp riêng biệt, các chính sách kinh tế cấp quốc gia ảnh hưởng mạnh đến mức phát thải và có thể coi đó là sự ẩn giấu nguy cơ gây ô nhiễm Các nghiên cưú cho thấy sản xuất sạch hơn, thân thiện hơn đối với môi trường là kết quả của những cải cách kinh tế như tư nhân hóa các ngành sản xuất công nghiệp, cắt giảm hàng rào trong thương mại, giảm trợ giá dối với nguyên vật liệu và năng lượng Một số nước tiến hành cải cách kinh tế vì những lý do làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhưng cũng có một số trường hợp cải cách kinh tế làm tăng cường mức độ ô nhiễm công nghiệp trên thực tế, mức độ tăng trưởng kinh tế nhanh cũng sẽ làm gia tăng ô nhiễm Các nhà máy nhỏ vẫn là vấn đề gây tranh cãi trong nhiều tài liệu và môi trường và phát triển Một nghiên cứu do Ngân hàng thế giới và Văn phòng điều tra dân số Braxin đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ tử vong có liên quan đến ô nhiễm, nghiên cứu cho thấy các nhà máy lơn phải chịu trách nhiệm về phần lớn các ca tử vong có liên quan đến ô nhiễm không khí do hoạt động công nghiệp ở Braxin Hầu hết xảy ra ở các khu đô thị lớn như Sao Paulo và Rio de Janeiro thuộc vào hai thành phố có thu nhập cao nhất Các nhà máy nhỏ có thể gây ô nhiễm nhiều hơn và có khả năng hủy hoại sức khỏe nhiều hơn so với các nhà máy lớn Tuy nhiên tổng đầu ra và tổng phát thải của các nhà máy lớn sẽ lớn hơn rất nhiều gây ra tỷ lệ tử vong cao

Bởi vậy khi tiến hành cải cách kinh tế các nhà hoạch định chính sách cũng quan tâm đến một phần ẩn giấu của ô nhiễm, cùng với cải cách kinh tế, thu nhập cũng được nâng lên Tuy nhiên để hạn chế được ô nhiễm cần phải có sự phối hợp giữa các nhà cải cách kinh tế và các nhà môi trường cũng như sự ủng hộ của dân chúng Một sự thay đổi về hệ thống thông tin khi kinh tế phát triển cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở Braxin Vào những năm 1996 hàng loạt máy tính thế hệ mới đựơc trang bị cho các cơ quan bảo

vệ môi trường, từ đó hệ thống thông tin trên mạng đã giúp lưu trữ, tổng hợp số liệu

và giải quyết chính xác, kịp thời các vấn đề liên quan đến môi trường Thông qua mạng thông tin, các nhà quản lý môi trường và doanh nghiệp cũng dễ dàng hợp tác

Trang 25

với nhau trong các kế hoạch hành động và tài trợ cho các dự án cụ thể để giảm thiểu ô nhiễm

Tuy nhiên, cải cách kinh tế không phải lúc nào cũng giảm được ô nhiễm Gia tăng mức tăng sản lượng có thể lấn át việc giảm cường độ ô nhiễm Trong một số trường hợp, việc cắt bỏ trợ giá năng lượng, phá giá đồng tiền, giảm tính độc quyền

về sản xuất nguyên liệu có thể làm tăng cường độ ô nhiễm Sự hợp nhất các doanh nghiệp nhỏ có thể sẽ làm xuất hiện nhiều doanh nghiệp lớn ở các khu đô thị dẫn đến tăng mức đô ô nhiễm ở khu vực này Các nhà hoạch định chính sách kinh tế nên xác định rõ những nỗ lực của họ có thể gây tác động xấu đến môi trường và để đảm bảo cải cách kinh tế thành công các nhà hoạch định chính sách sẽ phải dành một số kinh phí có được do cải cách kinh tế để cải tiến thông tin và các quy chế quản lý môi trường

1.4.2 Những vấn đề rút ra đối với Việt Nam:

* Vai trò của Chính phủ:

Kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây đang tăng trưởng liên tục Song, một vấn đề đang được đặt ra là ô nhiễm môi trường cũng đang gia tăng ở mức báo động, đòi hỏi Chính phủ phải có những chính sách đồng bộ để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường Việc Chính phủ mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy mạnh thu hút đầu tư của nước ngoài, xúc tiến các hoạt động thương mại đối với các nước là rất quan trọng để chúng ta có thể tiếp cận với trình

độ công nghệ mới, nhập khẩu thiết bị, máy móc công nghệ hiện đại, hướng tới sản xuất sạch, thân thiện với môi trường nhằm mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và tiến bộ xã hội Kinh nghiệm của Trung Quốc, Inđônêxia ở trên cho thấy sau khi thay đổi máy móc, thiết bị và sản xuất theo công nghệ hiện đại thì phế thải từ các nhà máy rất ít và lợi nhuận kinh tế mang lại rất cao Bên cạnh đó việc tranh thủ sự ủng hộ của Ngân hàng thế giới trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng cần được tiến hành thường xuyên Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới cho các dự án thử nghiệm, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, phổ biến rộng rãi kết quả thử nghiệm, phát triển các khoản vay môi trường

và kết hợp chặt chẽ vấn đề môi trường với các khoản vay nhằm hỗ trợ cải cách kinh tế

Trang 26

Cùng với việc mở rộng quan hệ đối ngoại, việc đẩy mạnh cải cách kinh tế cũng được Chính phủ hết sức quan tâm Nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới gần 20 năm Bên cạnh các doanh nghiệp của nhà nước, các thành phần kinh tế khác cũng đang hoạt động rất hiệu quả không chỉ trong kinh tế mà cả trong bảo vệ môi trường Việc thành lập các tập đoàn kinh tế, cổ phần hóa các doanh nghiệp của nhà nước, giao quyền tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh đang được Chính phủ chỉ đạo nhưng tiến độ thực hiện còn chậm Kinh nghiệm ở Trung Quốc

và Braxin cho thấy khi tiến hành cải cách kinh tế các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn và việc thực hiện hệ thống bảo vệ môi trường tốt hơn do các doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nên rất có ý thức sử dụng tiết kiệm nguyên liệu và áp dụng các biện pháp làm giảm ô nhiễm môi trường Còn ở Inđônêxia, thực tế cho thấy các doanh nghiệp của nhà nước sử dụng tài nguyên lãng phí hơn, đầu tư cho kiểm soát ô nhiễm ít hơn dẫn đến mức độ ô nhiễm môi trường cao hơn Mặc dù có một số những nảy sinh khi cải cách kinh tế như việc hình thành các doanh nghiệp lớn, các khu công nghiệp tập trung sẽ có tổng lượng phát thải lớn hơn nhưng nếu làm tốt quy hoạch ngay từ đầu, xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng và hệ thống xử lý nước thải thì vấn đề sẽ trở nên

dễ dàng và ít tốn kém hơn Theo số liệu thống kê trong Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm giai đoạn 1 (2003-2007) trong 284 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng tính đến năm 2002 thì các doanh nghiệp nhà nước của trung ương là 115 chiếm 40,49%; địa phương là 121 chiếm 42,60% trong khi đó doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là 7 chiếm 2,46%; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là 2 chiếm 0,7%; doanh nghiệp tư nhân là 39 chiếm 13,73% Mặc dù tỉ trọng doanh nghiệp nhà nước trong các thành phần kinh tế hiện vẫn chiếm đa số nhưng ta cũng có thể thấy có tới 83,09% doanh nghiệp nhà nước trong danh sách bị xử lý trong khi khối doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài chiếm một tỉ lệ nhỏ và nếu tính theo quy mô thì có tới 90% các cơ sở trong danh sách bị xử lý có quy mô vừa và nhỏ, những cơ sở này thuộc nhiều thành phần kinh tế, không được đầu tư nhiều, công nghệ lạc hậu, phần lớn sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 3- 4 thế hệ

Trang 27

64/2003/QĐ-Trong nền kinh tế thị trường, việc sử dụng các công cụ kinh tế để giải

quyết tình trạng ô nhiễm môi trường cũng góp phần không nhỏ Kinh nghiệm của

Trung Quốc cũng cho thấy việc thu phí môi trường được áp dụng rất có kết quả

Phí môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá của sản

phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Sản phẩm muốn có ưu

thế cạnh tranh về giá cả thì phải áp dụng các biện pháp giảm ô nhiễm môi trường

Thông qua việc thu phí môi trường, các nhà máy tại Trung Quốc cũng đã ý thức

được việc tiếp cận công nghệ sạch hướng tới thân thiện môi trường

Một kinh nghiệm nữa ở các nước như Trung Quốc, Inđônêxia, Braxin về vai

trò của chính phủ trong công tác bảo vệ môi trường đó là hệ thống thông tin về môi

trường Do thiếu thông tin nên ở Trung Quốc, nơi có trình độ văn hóa cao hơn thì

sự khiếu nại về môi trường nhiều hơn nơi khác nên việc kiểm soát của các cơ quan

chức năng thường xuyên hơn và mức ô nhiễm cũng giảm đi Ở Inđônêxia, chính

phủ phổ biến thông tin cho cộng đồng bằng việc công khai hóa mức xếp hạng các

nhà máy tuân thủ quy chế quản lý môi trường, chỉ sau một thời gian ngắn ô nhiễm

đã giảm đáng kể trong các nhà máy Ở Braxin, sau khi được thay thế và nâng cấp

hệ thống mạng máy tính, các số liệu được lưư trữ, phân tích, tổng hợp kịp thời đã

giúp cho cơ quan bảo vệ môi trường giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến môi

trường Đồng thời, qua hệ thống thông tin các nhà quản lý và các doanh nghiệp

cũng dễ dàng hợp tác với nhau trong các kế hoạch hành động giảm thiểu ô nhiễm

* Vai trò của cộng đồng:

Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề bảo vệ môi trường

trong một số nước như Trung Quốc, Inđônêxia là kinh nghiệm quý báu đối với

Việt Nam Nhất là ý thức về môi trường yếu kém, “phát triển kinh tế bằng mọi giá”

vẫn còn tồn tại đối với nhiều người dân thậm chí cả đối với các nhà quản lý

Ở Trung Quốc, kinh nghiệm cho thấy các trung tâm đô thị phát triển như

Thượng Hải, Thiên Tân phản ứng của cộng đồng về các vấn đề môi trường là cao nhất, còn ở các tỉnh kinh tế kém phát triển như Nội Mông, Tân Cương thì ý kiến

khiếu nại về môi trường rất thấp Phản ứng của cộng đồng ở đây được nhìn nhận

qua 2 khía cạnh: Một là ở các khu vực kinh tế phát triển thì các vấn đề về ô nhiễm

dễ nảy sinh; hai là nhận thức của cộng đồng về môi trường của của khu vực này

Trang 28

cao hơn dẫn đến có nhiều ý kiến hơn Các khiếu nại đã khiến các nhà quản lý phải áp dụng biện pháp tăng lệ phí ô nhiễm khiến các doanh nghiệp phải chú trọng hơn đến phát thải Kết quả là cường độ ô nhiễm giảm đi rõ rệt Qua đây chúng ta

có thể thấy rằng nếu cộng đồng có ý thức cao hơn về vấn đề môi trường thì ô nhiễm sẽ giảm Ở Inđônêxia do sức ép của cộng đồng đòi được đền bù thiệt hại do phải hứng chịu ô nhiễm do nguồn phát thải của các doanh nghiệp nên các doanh nghiệp đã thay đổi công nghệ cũ, lạc hậu bằng việc sử dụng dây chuyền sản xuất hiện đại và công nghệ sản xuất sạch Sự thay đổi này mang lại lợi nhuận kinh tế rất cao mà phế thải lại rất ít do tiết kiệm được nguyên, nhiên liệu Chính sức ép từ cộng đồng đã đẩy các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến môi trường, điều này

đã mang lại lợi ích cho cả hai bên, kinh tế vẫn phát triển nhanh chóng và vấn đề môi trường được giải quyết

Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường với doanh nghiệp và cộng đồng dân cư với vấn đề ô nhiễm môi trường cũng là một yếu tố quan trọng Kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Inđônêxia, Braxin cho thấy nếu ý kiến khiếu nại của cộng đồng được cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường và doanh nghiệp quan tâm giải quyết thì các vấn đề về ô nhiễm sẽ được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả Các ý kiến khiếu nại từ cộng đồng sẽ gây áp lực với các nhà quản

lý môi trường phạt hoặc tăng phí ô nhiễm buộc các doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp làm giảm thiểu ô nhiễm

Trang 29

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA:

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường sinh thái ở Việt Nam:

2.1.1 Sự phát triển nhanh các khu công nghiệp, khu chế xuất:

- Tình hình phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất:

Trước năm 1975, phần lớn là các cơ sở công nghiệp cũ, có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, hầu như chưa có thiết bị xử lý độc hại phần lớn các cơ sở này nằm trong nội thành của nhiều thành phố (thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 500/700 xí nghiệp nằm trong nội thành Hà Nội có khoảng 200/300 xí nghiệp trong nội thành) Mặc dù trong những năm gần đây nguồn ô nhiễm từ hoạt động của các

xí nghiệp này đã giảm do các tỉnh, thành phố đã áp dụng các biện pháp xử lý để làm giảm ô nhiễm nhưng vẫn tác động không nhỏ đến môi trường

Từ năm 1996 đến năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký các quyết định 519/TTg ngày 06/8/1996, 713/TTg ngày 30/8/1997 và 194/1998/QĐ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010 Theo

đó 43 khu công nghiệp được ưu tiên đầu tư đến năm 2000 Tính đến tháng 4/2003, trên địa bàn cả nước đã có 113 khu công nghiệp đã được phê duyệt và chấp nhận

về chủ trương Đến năm 2002, số khu công nghiệp đã đi vào hoạt động là 74 với tổng diện tích đất tự nhiên là 13.300 ha, không kể khu công nghiệp Dung Quất với diện tích 14.000 ha, trong đó có 68 khu công nghiệp, 4 khu chế xuất và 2 khu công nghệ cao Phần lớn các khu công nghiệp được thành lập tại các vùng kinh tế trọng điểm Trong đó vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm 70,6% tổng diện tích với

38 khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc chiếm 9,8% tổng diện tích với 10 khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chiếm 6,6% tổng diện tích với 7 khu công nghiệp, các khu vực khác chiếm 13% tổng diện tích với

18 khu công nghiệp Tổng số dự án đầu tư trong nước vào các khu công nghiệp là

900 (sản xuất và dịch vụ sản xuất) với tổng số vốn 30.800 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài là 1.060 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 9 tỷ USD [30]

Trang 30

Tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh ở khu vực kinh tế trong nước và khu vực có vốn đầu tư nứơc ngoài ở cả trong và ngoài các khu công nghiệp tăng nhanh chóng Theo số liệu của niên giám thống kê năm 2002, tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm theo thành phần kinh tế như sau: Bảng 2.1 Tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp hàng năm (1995-2001):

Tổng số cơ sở: 615.374 592.948 618.198 654.968 685.320 Doanh nghiệp nhà nước: 1.958 1.821 1.786 1.633 1.541

Khu vực đầu tư nước ngoài: 439 881 959 1.063 1.449

Theo Vụ quản lý Khu chế xuất – khu công nghiệp Việt Nam hiện cả nước có

4 khu công nghiệp chuyên ngành gồm: Khu công nghiệp Phú Mỹ I, chuyên thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực dầu khí; khu công nghiệp khí điện đạm Cà Mau; khu công nghiệp Formosa (Nhơn Trạch III) Đồng Nai, chuyên ngành dệt may và khu công nghiệp Quế Võ (Bắc Ninh) chủ yếu tập trung các dự án ngành in Có 3 khu công nghiệp quy hoạch thu hút các dự án công nghệ cao là: Khu công nghiệp công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Tây; khu công nghiệp công nghệ cao tại quận 9, thành phố Hồ Chí Minh và khu công nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh [16].Thực tế tỉ lệ lấp đầy diện tích đất các khu công nghiệp, khu chế xuất trong cả nước mới chỉ đạt khoảng 60%, tỷ lệ này không đồng đều, các khu công nghiệp ở Đồng Nai được coi là có tỷ lệ cao nhất mới đạt ở mức 76,35%

Hiện nay vẫn còn gần 350 khu vực ở 54/ 64 tỉnh, thành phố được kiến nghị đưa vào kế hoạch xây dựng thành khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 35.000 ha Chỉ tính riêng trong năm 2003 có 16 khu công nghiệp mới được thành

Trang 31

lập Doanh thu của các doanh nghiệp KCN, KCX năm 2003 ước đạt gần 7,3 tỉ USD tăng 30% so với năm 2002 và tăng 62% so với năm 2001 Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 3 tỷ USD Cũng trong năm 2003 tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đã có những chuyển biến mạnh Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ở các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng đạt trên 856 triệu USD, tăng khỏang 71% so với 2002 và tăng khoảng 82% so với năm 2001 [37].

- Tác động của sự phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất đến môi trường:

Thực tế cho thấy việc phát triển các khu công nghiệp đã góp phần tăng trưởng GDP, thúc đẩy đầu tư và sản xuất công nghiệp, phục vụ các ngành kinh tế và tiêu dùng trong nước, góp phần hình thành các khu đô thị mới, giảm khoảng cách giữa các vùng Chỉ tính trong giai đoạn 2001-2004, tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng là 10,1%/ năm, chiếm 40,1% tỷ trọng trong GDP Theo tính toán của các chuyên gia nước ngoài nếu tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp Việt Nam đạt 13-14%/ năm, thì nguy cơ ô nhiễm môi trường sẽ tăng gấp đôi hoặc gấp ba hiện nay Bên cạnh những chuyển biến tích cực về kinh tế là những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái do khu công nghiệp gây ra Trong số 74 khu công nghiệp, khu chế xuất đã đi vào hoạt động trên cả nước (tính đến tháng 4/2003), mới chỉ có 11 Khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung [29] Việc hình thành các khu công nghiệp tập trung để có điều kiện thuận lợi thực hiện việc kiểm soát ô nhiễm,

xử lý chất thải tập trung và bảo vệ môi trường nhưng hiện nay các khu công nghiệp mới ở nước ta đang có nguy cơ trở thành những ổ ô nhiễm vì khi đầu tư các chủ đầu tư chỉ lo chạy theo hiệu quả kinh tế Theo quy định, khi lấp đầy 50% diện tích thì phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng trên thực tế có rất ít khu công nghiệp tuân thủ Hiện nay phần lớn các đơn vị đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp thường không có đủ vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng như đường

xá, sân bãi, thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng về môi trường Các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang cùng có một đặc điểm chung là hệ thống cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh nhưng đã có một số nhà máy, xí nghiệp công nghiệp hoạt động Việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp vẫn đang tiếp tục thực hiện trong khi

Trang 32

một số cơ sở công nghiệp vẫn đang hoạt động bình thường Vì vậy, ô nhiễm môi trường khu công nghiệp hiện nay là kết quả tổng hợp của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xây dựng, giao thông vận tải và là điều khó tránh khỏi Hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường khu công nghiệp tại một thời điểm nào đó phụ thuộc trước tiên vào các nguồn thải chất ô nhiễm (số lượng, thành phần, tính chất nguồn thải), kế đến là các biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm và sau cùng là khả năng tự làm sạch của môi trường Nhiều nhà máy hoạt động gây ra tiếng ồn ở mức

độ cao, nhiều nơi khí độc và nhiệt thừa tích tụ trong không gian làm ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân Doanh nghiệp trong các khu công nghiệp sản xuất hàng trăm ngành hàng khác nhau, đặc biệt là các ngành mạ, dệt, nhuộm, da, giấy, hóa chất… Hàng ngày thải ra một lượng lớn nước thải chưa xử lý đạt tiêu chuẩn

đổ thẳng ra các dòng sông, kênh mương Các ngành công nghiệp của nước ta phần lớn đang sử dụng công nghệ lạc hậu, nguyên liệu tiêu hao nhiều, thiếu các thiết bị

xử lý chất thải nên hầu hết các đô thị bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp Chất thải rắn và chất thải công nghiệp nguy hại trong những năm gần đây đang gia tăng nhanh chóng do các khu công nghiệp được xây dựng ngày càng nhiều với nhiều ngành sản xuất đa dạng Năm 2003 lượng phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam tới 15 triệu tấn/ năm trong đó 20% phát sinh từ các cơ sở công nghiệp Các cơ sở công nghiệp thải ra một lượng chất thải không nguy hại (kim loại, gỗ) là 2.510.760 tấn/ năm (ở khu vực đô thị là 1.736.760 tấn/ năm, khu vực nông thôn là 774.000 tấn/ năm) Chất thải công nghiệp nguy hại (xăng, dầu, bùn thải, các chất hữu cơ) là 128.391 tấn/ năm (ở khu vực đô thị là 125.967 tấn/ năm, khu vực nông thôn là 2.424 tấn/ năm) [27] Chất thải công nghiệp mặc dù phát sinh với số lượng ít hơn nhiều nhưng lại có nguy cơ gây hại cho sức khỏe và môi trường rất cao nếu như không được xử lý thích hợp

Trong các cơ sở dệt may, công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có

độ pH trung bình 9-11 (độ pH nước theo TCVN 5942-1995 loại A là 6-8,5), chỉ số BOD5 (làm giảm nhu cầu ô xy sinh hóa), COD (làm giảm nhu cầu o xy hóa học) đều vượt mức cho phép Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Đặc biệt trong nước có cả kim loại nặng và một số hợp chất có chứa độc tính cao có khả năng gây ung thư và khó phân hủy trong môi trường Nước thải của

Trang 33

các ngành công nghiệp hóa chất, phân bón, khai thác, chế biến khoáng sản chứa Xyanua vượt đến 84 lần, Sunfua Hydro (H2S) vượt 4,2 lần, hàm lượng amôniăc (NH3) vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư

Kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây (tại khu công nghiệp Phước Long hàm lượng Crôm cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, asen cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần) [39]

Trong tổng số các cơ sở đang hoạt động gây ô nhiễm cần xử lý theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các cơ sở sản xuất kinh doanh

là 284 cơ sở, chiếm 64,69% trong tổng số 439 cơ sở cần xử lý trong giai đoạn 1 (2003-2007), các ngành công nghiệp trong danh sách được xếp theo thứ tự như sau:

Bảng 2.2 Tổng số các cơ sở đang hoạt động gây ô nhiễm cần xử lý:

STT CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHÍNH SỐ LƯỢNG THEO NGÀNH TỈ LỆ (%)

Nguồn: Tạp chí bảo vệ môi trường, số 7/2003

Theo danh sách trên, nhóm ngành gây ô nhiễm nhiều nhất thuộc nhóm ngành chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ và hóa chất Các ngành này có tỷ lệ cao một phần là do cơ cấu trong các ngành sản xuất, một phần do nguyên liệu đầu vào và sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm cao và một phần do sự quan tâm chưa đúng mức đến kiểm soát ô nhiễm

Trang 34

Tại các cơ sở sản xuất nhỏ, vấn đề thu gom, xử lý chất thải nguy hại chưa được quan tâm, còn tại các nhà máy có quy mô lớn thì mới bắt đầu được quan tâm Một vấn đề nữa về ảnh hưởng của sản xuất công nghiệp và sinh hoạt đến môi trường đó là ô nhiễm nhiệt Các phương pháp làm nguội thiết bị bằng nước để khử nhiệt lượng thừa của các nhà máy nhiệt điện, điện nguyên tử, nhiệt lượng thải ra từ các phương tiện giao thông, các khu công nghiệp, các khu đô thị làm nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên, gây ra biến đổi khí hậu địa phương rất rõ rệt đó là một nguy cơ khủng khiếp đối với mọi sinh vật

2.1.2 Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các làng nghề:

- Nông nghiệp:

Sản xuất nông nghiệp cung cấp việc làm cho hơn 60% lực lượng lao động đóng góp khoảng 24% GDP và gần 30% giá trị xuất khẩu nhưng cũng gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường [10] Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, công đoạn gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất trong thâm canh là bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ cây trồng Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ở nước ta lượng phân bón sử dụng ngày càng tăng cả về chủng loại và

số lượng Có ít nhất 1.420 loại phân bón được đưa ra thị trường Các loại phân vô

cơ còn tồn dư axit đã làm chua đất và xuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như nhôm, sắt, măng gan, đã làm giảm năng suất cây trồng

Bảng 2.3 Số lượng phân bón hóa học được sử dụng qua các năm:

(1.000 tấn dinh dưỡng)

(đạm)

P2O5(lân)

K2O (kali)

NPK (kg/ha)

Tổng N+ P2O5+K2O

Tỉ lệ N:P2O5:K2O 2000/2001 1245,0 475,0 390,0 171,5 2110,0 1:0,38:0,31 2001/2002 1071,4 620,2 431,9 165,5 2123,5 1:0,58:0,40 2002/2003 1251,8 668,0 411,0 179,7 233,8 1:0,53:0,33 2003/2004 1317,5 733,2 480,0 2530,7 1:0,56:0,36 2004/2005

(dự kiến)

1385,5 806,6 516,0 2708,1 1:0,58:0,37

Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2005

Qua bảng tổng hợp số liệu cho thấy tổng lượng phân bón vô cơ (đạm, lân, ka-

Trang 35

li) đã tăng 598,1 nghìn tấn từ năm 2000 đến 2004) Điều đáng nói là chất lượng của một số loại phân bón nhập lậu không đảm bảo đang gây ảnh hưởng xấu tới môi trường đất, ảnh hưởng tới năng suất cây trồng trong tương lai

Thuốc bảo vệ thực vật gồm: Thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ bệnh Hàng năm lượng hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng trong nông nghiệp khoảng 0,5-3,5 kg/ ha/ vụ Tuy lượng thuốc sử dụng không lớn nhưng thuốc bảo vệ thực vật rất độc đối với mọi sinh vật Thuốc bảo vệ thực vật khi sử dụng được cây trồng hấp thụ một phần, một phần bị rửa trôi theo nước mưa, nước tưới xuống sông, hồ hoặc ngấm vào đất Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm, đất, nước cao sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, vật nuôi

và môi trường thiên nhiên

Bảng 2.4.Số lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng qua các năm:

Năm Diện tích canh

tác (triệu ha)

Khối lượng thuốc nhập khẩu (tấn thành phẩm quy đổi)

Lượng thuốc bình quân (kg/1ha)

Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2005

Kết quả điều tra thống kê của Cục bảo vệ môi trường năm 2005 cho thấy tổng lượng hóa chất bảo vệ thực vật tồn đọng hiện nay là 57.476,9kg dạng bột, 29.196,3 lít dạng lỏng và khoảng 1.437.183,2 bao bì chứa hóa chất bảo vệ thực vật

Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong những vùng đất canh tác tại đô thị có tác động rất lớn, gây tích tụ các chất độc, thay đổi thành phần đất Hàng năm, Bắc Ninh sử dụng khoảng 20 vạn tấn phân N,P,K và 1.000 – 1.200 tấn thuốc bảo vệ thực vật; Hưng Yên sử dụng khoảng 12 vạn tấn phân N,P,K và 120,761 tấn thuốc bảo vệ thực vật Thừa Thiên – Huế sử dụng khoảng 170 – 200 tấn thuốc bảo vệ thực vật Chất thải hữu cơ trong trồng trọt, chăn nuôi hàng năm

Trang 36

với số lượng rất lớn (64.558.130 tăn/ năm) [27] phần lớn không được xử lý hoặc xử lý thủ công nên cũng góp phần không nhỏ gây ô nhiễm môi trường

- Khai thác tài nguyên rừng:

Năm 1943 diện tích rừng ước tính khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ là 43% Năm 1976 giảm xuống còn 11 triệu ha với tỷ lệ che phủ còn 34% Năm 1985 còn 9,9 triệu ha và tỷ lệ che phủ là 30% Năm 1995 còn 9,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ là 28% Diện tích rừng bình quân cho một người là 0,12 ha (1995), thấp hơn mức trung bình ở khu vực Đông Nam Á (0,42ha/ người) Trong thời kỳ 1945 – 1975 cả nước mất khoảng 3 triệu ha rừng, bình quân 100.000 ha/năm; quá trình này diễn ra nhanh hơn trong giai đoạn 1975 – 1990: Mất 2,8 triệu ha, bình quân 140.000 ha/năm do đốt rừng làm rẫy (khoảng 40 – 50% Tính sơ bộ ở Đắc Lắc từ 1991 –

1996 mất trung bình 3000 – 3500 ha rừng/ năm trong đó trên 1/2 là do đốt rừng làm rẫy) [2]

Diện tích rừng trong những năm 1990 đến nay tăng rất nhanh, chủ yếu là rừng trồng, chỉ sau 15 năm, rừng trồng có diện tích 2 triệu ha (tăng lên 4 lần), diện tích rừng tự nhiên tăng trên 1 triệu ha nhưng chủ yếu là rừng phục hồi Đến năm 2004,

tỉ lệ che phủ rừng đạt 36,7% nhưng chất lượng rừng chưa được cải thiện, rừng nguyên sinh chỉ còn 0,57 triệu ha phân bố rải rác do bị khai thác ồ ạt, không có kế hoạch [10]

Bảng 2.5 Diễn biến diện tích rừng từ năm 1995 đến 2004:

Rừng tự nhiên Rừng trồng Tổng cộng (%) (ha/ người)

Trang 37

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Báo cáo hiện trạng rừng thế giới, 2001

Như vậy, mặc dù diện tích rừng trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể nhưng so với số liệu trung bình của các nước trong khu vực còn thấp Diện tích rừng ở nước ta tăng chủ yếu là rừng trồng, diện tích rừng tự nhiên nhất là rừng nguyên sinh phục hồi chậm, một số nơi rừng tự nhiên bị khai thác bừa bãi ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, làm thoái hóa đất đai, phá hủy thảm thực vật rừng và là nguyên nhân của sự sạt lở đất gây nên những hậu quả nghiệm trọng về người và của trong thời gian gần đây

- Đánh bắt, nuôi trồng thuỷ, hải sản:

Trong những năm qua, ngành thủy sản đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn với giá trị xuất khẩu đứng thứ 3 trong các ngành kinh tế Trong những năm gần đây, việc gia tăng số tàu đánh bắt xa bờ đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh vật biển, làm nguy hại đến môi trường biển do chất thải từ các con tàu Năm 2000 có 9.766 tàu đánh bắt xa bờ với tổng công suất 1.385.098 mã lực Diện tích nuôi trồng thủy sản trong cả nước năm 2004 là 902,9 nghìn ha, tăng 4,3% so với năm 2003 với tổng sản lượng khai thác là 1.923.500 tấn trong đó có 1.724.200 tấn là khai thác từ biển và 199.300 tấn từ nội địa [35]. Hoạt động khai thác quá giới hạn cho phép và không hợp lý đã làm cho sản lượng khai thác hàng năm giảm chỉ còn 30-40% so với năm 1990 và gây nên những thay đổi về cấu trúc quần thể ở hầu hết các vùng biển Hoạt động chế biến thủy sản cũng tạo ra một lượng lớn các chất thải rắn, nước thải, khí thải gây ô nhiễm môi trường xung quanh Cả nước hiện có 400 cơ sở chế biến đông lạnh, với lượng thủy sản chế biến như hiện nay mỗi năm hoạt động này thải ra môi trường khoảng 160.000-180.000 tấn thải rắn, 8-

12 triệu m3 nước thải Mới chỉ có khoảng 50 cơ sở chế biến thủy sản có hệ thống

xử lý nước thải với quy mô và công nghệ khác nhau [10] Một diện tích rất lớn rừng ngập mặn bị triệt phá, các vùng đất cát ven biển cũng đựơc sử dụng để nuôi tôm Nuôi tôm trên cát phát triển khá nhanh tại một số tỉnh ven biển miền Trung các rạn san hô ven biển bị khai thác một cách hủy diệt, đưa Việt Nam vào danh sách của những vùng sinh thái biển và ven biển có mức độ đe dọa cao nhất

- Sản xuất sản phẩm thủ công, mỹ nghệ trong các làng nghề:

Trang 38

Hiện cả nước có trên 1.450 làng nghề trong đó 2/3 là làng nghề truyền thống thu hút khoảng trên 10 triệu lao động Hàng năm, các làng nghề đã cung cấp 200.000-250.000 tấn dường mật, 20% lượng tơ tằm, 50% lượng chè búp khô, 9 triệu công cụ cầm tay, 70-80% gạch ngói cho nhu cầu xây dựng Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề trong những năm qua đã góp phần không nhỏ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn, đóng góp không nhỏ cho kim ngạch xuất khẩu của cả nước nhưng cũng

đã tạo ra một lượng chất thải xả vào môi trường bừa bãi và không được xử lý nên gây ô nhiễm trầm trọng nguồn nước, đặc biệt là các làng nghề làm giấy, giết mổ gia súc, dệt, nhuộm … [10] Làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm sử dụng nhiều nước lại kết hợp vơí chăn nuôi nên gây ô nhiễm nguồn nước mặt, các chỉ tiêu BOD5, COD vượt tiêu chuẩn cho phép (loại B,TCVN 5945-1995) nhiều lần, dẫn đến sự phân hủy yếm khí tại các cống rãnh gây mùi hôi thối Làng nghề tơ tằm, dệt,, nhuộm rất đa dạng và phong phú Ô nhiễm chủ yếu do nước thải sản xuất

có hàm lượng hóa chất, thuốc nhuộm cao Làng nghề sản xuất gốm sứ và vật liệu xây dựng gây ô nhiễm chủ yếu do sử dụng nhiên liệu là than gây ô nhiễm khí SO2,

NO2, CO, bụi và ô nhiễm nhiệt khu vực lân cận Làng nghề thủ công mỹ nghệ gây

ô nhiễm chủ yếu là bụi và hơi dung môi hữu cơ, các làng nghề có sử dụng hóa chất như chạm mạ bạc còn gây ô nhiễm nước về kim loại nặng Đối với làng nghề tái

chế chất thải đều bị ô nhiễm nặng Theo “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia”

năm 2005 của Bộ Tài nguyên và môi trường, tổng lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh từ các làng nghề trong toàn quốc khoảng 2.400 tấn/ năm Trong đó điển hình là các tỉnh Bắc Ninh (1.150 tấn/ năm), Hà Tây (350 tấn/ năm), Hà Nội (300 tấn/ năm), Hưng Yên (230 tấn/ năm) [10]

2.1.3 Hoạt động du lịch, dịch vụ:

Hiện nay du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tiềm năng của các tài nguyên du lịch được khơi dậy với những nét đặc sắc phòng phú và đa dạng, trong đó vùng biển và ven biển có vai trò đặc biệt quan trọng Tuy là ngành

“công nghiệp không khói”, nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm không khí thông qua các phương tiện vận chuyển khách du lịch nhất là ở các khu vực trọng điểm và các trục đường giao thông chính Trong những năm qua rất nhiều khu du lịch và nhà

Trang 39

nghỉ ở sát biển đã được xây dựng và đi vào hoạt động, góp phần nâng cao số lượng và chất lượng du lịch, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế Những năm gần đây lượng khách du lịch trong và ngoài nước tăng hàng năm khoảng 10-15% Hoạt động này cũng làm gia tăng số lượng lớn chất thải, gây sức ép lên môi trường Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch Đây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Đặc biệt, các trung tâm du lịch nằm sát bờ biển là những nguồn xả lớn nước thải và rác thải vào biển Hậu quả là hệ sinh thái biển và ven bờ biển bị suy thoái nghiêm trọng Nhiều khu nhà nghỉ không chú ý đầu tư hệ thống xử lý nước thải mà cho chảy thẳng ra biển làm ô nhiễm môi trường ven biển Theo Tổng cục Du lịch tình hình phát triển nhà nghỉ ven biển tại Quảng Nam đang diễn ra nhanh chóng, trên

100 km bờ biển của tỉnh này đã có gần 80 dự án đầu tư vào du lịch trải dài từ Điện Ngọc đến Chu Lai [10] Đây là một con số đầy ấn tượng nhưng cũng là một cảnh báo về nguy cơ phá hủy tài nguyên sinh thái môi trường biển, nếu không có những giải pháp gắt gao, hiệu quả Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe dọa các loài động thực vật hoang dại

2.1.3 Hoạt động thương mại:

Nền kinh tế nước ta đã và đang hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Nước ta đã thiết lập quan hệ thương mại với gần 160 nước và vùng lãnh thổ, thu hút FDI từ các đối tác của gần 70 nước và vùng lãnh thổ, tranh thủ nguồn vốn ODA của 45 nước và các tổ chức tài chính quốc tế, ký 90 hiệp định thương mại song phương, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Nước ta là thành viên của nhiều tổ chức thương mại quốc tế như Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Ngân hàng thế giới (WB) Hội nhập kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, củng cố an ninh, quốc phòng Từ 1990 đến 2004, kim ngạch xuất khẩu tăng 10,8 lần (đạt 26,5 tỷ USD năm 2004), kim ngạch nhập khẩu tăng 11,5 lần (đạt 31,5 tỷ USD năm 2004) Tính đến hết năm 2004, Việt Nam đã thu hút được khoảng 60 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, 17 tỷ USD vốn ODA [10] Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng gây nhiều áp lực với môi trường như gia tăng ô nhiễm từ bên ngoài

Trang 40

Nhập khẩu hàng hóa, thiết bị của nước ta nếu không được kiểm soát chặt sẽ có nguy cơ trở thành bãi rác thải các thiết bị lạc hậu, nơi tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng Theo Cục Bảo vệ môi trường, các loại phế liệu xin nhập khẩu đến năm

2000 gồm giấy carton: 63.000 tấn; sắt thép, kim loại: 63.800 tấn; nhựa các loại: 41.000 tấn Việc mở rộng thương mại của Việt Nam hiện nay cũng dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường vì hiện nay hàng hóa xuất khẩu của nước vẫn dựa chủ yếu vào khai thác các tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo

Tự do hóa thương mại và phát triển du lịch sẽ thúc đẩy sự phát triển các loại dịch vụ như hệ thống chợ, dịch vụ ăn uống, các cơ sở sản xuất chế biến xuất khẩu, kho thương mại, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu có thể làm gia tăng ô nhiễm môi trường

2.1.4 Hoạt động giao thông vận tải:

Tốc độ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đô thị thấp hơn nhiều so với tốc

độ đô thị hóa và tốc độ gia tăng phương tiện giao thông cơ giới Diện tích đất giao thông đô thị không đủ, mạng lưới đường giao thông phân bố không đều, thông số

kỹ thuật tuyến đường rất thấp, hành lang đường luôn bị lấn chiếm Theo số liệu thống kê của Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Bộ Xây dựng tại các đô thị lớn, chỉ số về hạ tầng giao thông cũng rất thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 35-40%

so với nhu cầu cần thiết như ở Hà Nội, diện tích đất giao thông khoảng 7,8% mật

độ đường đạt 3,89km.km2, tại thành phố Hồ Chí Minh diện tích đất giao thông khoảng 7,5%, mật độ đường đạt 3,88km/km2 Số lượng các phương tiện giao thông vận tải trong thời gian qua tăng nhanh đã thể hiện một phần mức độ tăng trưởng của nền kinh tế Tại Hà Nội, năm 1990 có 34.222 xe ô tô, năm 1995 có 60.231 xe, năm 2000 có 130.746 xe Như vậy sau 10 năm số lượng ô tô ở Hà Nội tăng lên 4 lần, tính đến năm 2005 Hà Nội đã có 200.000 xe ô tô Về xe máy ở Hà Nội năm 1996 mới có khoảng 600.000 xe, năm 2001 có gần 1.000.000 xe, năm

2002 tăng tới 1.300.000 xe và năm 2005 là 2.000.000 xe Tại thành phố Hồ Chí Minh, số ô tô nhiều hơn gấp 2 lần Hà Nội, về xe máy, năm 1997 có khoảng 1.200.000 xe, năm 2001 có gần 2.000.000 xe, năm 2002 gần 2.500.000 xe và năm

2005 là gần 4.500.000 xe Bình quân số lượng xe máy ở các đô thị nước ta mỗi năm tăng khoảng 15-18%, số lượng ô tô mỗi năm tăng khoảng 8-10% Các phương

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thuận An (2005), “Suy thoái môi trường phải được tính vào GDP”, Vnexpress 21/4/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy thoái môi trường phải được tính vào GDP”, "Vnexpress 21/4/2005
Tác giả: Thuận An
Năm: 2005
2. Lê Huy Bá, Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long (2002), Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Lê Huy Bá, Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2002
3. Trần Thanh Bình (2006), “Những con số về môi trường đáng sợ”, Thanh niên Online 15/02/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con số về môi trường đáng sợ”, "Thanh niên Online 15/02/2006
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 2006
4. Bộ Chính trị (2004), “Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15/11/2004 về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15/11/2004 về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
5. Bộ Chính trị (1998), “Chỉ thị số 36/CT-TƯ ngày 25/6/1998 về Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 36/CT-TƯ ngày 25/6/1998 về Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
6. Bộ Công nghiệp (2005), “Tình hình phát triển công nghiệp năm 2004”, Website Industry.gov.vn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát triển công nghiệp năm 2004”, W"ebsite Industry.gov.vn
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 2005
7. Bộ Kế hoạch - Đầu tƣ (2004), “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”
Tác giả: Bộ Kế hoạch - Đầu tƣ
Năm: 2004
8. Bộ Khoa học và Công nghệ (2004), “Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ môi trường trong ngành công nghiệp”, Website VietNam Agenda 21, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ môi trường trong ngành công nghiệp”," Website VietNam Agenda 21
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2004
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2001), Báo cáo hiện trạng rừng thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng rừng thế giới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2001
10. Bộ Tài nguyên và môi trường (2005), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2005
11. Bộ Tài nguyên và môi trường (2005), Đất, nước, không khí đều ô nhiễm, Hội nghị môi trường toàn quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất, nước, không khí đều ô nhiễm
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Nhà XB: Hội nghị môi trường toàn quốc
Năm: 2005
12. Bộ Tài nguyên và môi trường (1993), Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 1993
13. Nguyễn Thế Chinh (2003), Kinh tế và quản lý môi trường, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và quản lý môi trường
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
14. Quốc Dũng (2005), “Xây dựng Luật về không khí ở Việt Nam bao giờ?”, WebsiteMonre.gov.vn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Luật về không khí ở Việt Nam bao giờ?”, "WebsiteMonre.gov.vn
Tác giả: Quốc Dũng
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Hải Đăng (22/4/2005), “Khu công nghiệp 15 năm phát triển thay da đổi thịt”, Tuổi trẻ online (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu công nghiệp 15 năm phát triển thay da đổi thịt”
17. Nguyễn Đăng (2003), “Thực trạng ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp ở Việt Nam”, Báo Khoa học và Đời sống (20), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp ở Việt Nam”, "Báo Khoa học và Đời sống (20)
Tác giả: Nguyễn Đăng
Năm: 2003
18. Phạm Ngọc Đăng, Nguyễn Quỳnh Hương, Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Xuân Trường (2004), Hiện trạng môi trường Việt Nam 2003, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường Việt Nam 2003
Tác giả: Phạm Ngọc Đăng, Nguyễn Quỳnh Hương, Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Phạm Ngọc Đăng, Phạm Ngọc Hồng, Nguyễn Xuân Tùng (2005), “Ô nhiễm không khí do giao thông đường phố Hà Nội”, Tạp chí Bảo vệ môi trường (8), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm không khí do giao thông đường phố Hà Nội”, "Tạp chí Bảo vệ môi trường (8)
Tác giả: Phạm Ngọc Đăng, Phạm Ngọc Hồng, Nguyễn Xuân Tùng
Năm: 2005
20. Lưu Đức Hải (2002), “Môi trường đô thị Việt Nam – Hiện trạng và giải pháp”, Tạp chí bảo vệ môi trường (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường đô thị Việt Nam – Hiện trạng và giải pháp”", Tạp chí bảo vệ môi trường (4)
Tác giả: Lưu Đức Hải
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Lƣợng phát thải của các nhóm kinh tế chính: - ấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam
Bảng 1.1. Lƣợng phát thải của các nhóm kinh tế chính: (Trang 17)
Bảng 2.2. Tổng số các cơ sở đang hoạt động gây ô nhiễm cần xử lý: - ấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam
Bảng 2.2. Tổng số các cơ sở đang hoạt động gây ô nhiễm cần xử lý: (Trang 33)
Bảng 2.3. Số lƣợng phân bón hóa học đƣợc sử dụng qua các năm: - ấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam
Bảng 2.3. Số lƣợng phân bón hóa học đƣợc sử dụng qua các năm: (Trang 34)
Bảng 2.5. Diễn biến diện tích rừng từ năm 1995 đến 2004: - ấn đề môi trường trong phát triển kinh tế ở Việt Nam
Bảng 2.5. Diễn biến diện tích rừng từ năm 1995 đến 2004: (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w