1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp

123 745 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, nhưng về cơ bản, các giải pháp đưa ra nhằm thúc đẩy hoạt độ

Trang 1

KHOA KINH TẾ

-***** -

HOÀNG VĂN CƯƠNG

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI

PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2005

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

-***** -

HOÀNG VĂN CƯƠNG

VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ

GIẢI PHÁP

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ DANH TỐN

HÀ NỘI - 2005

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, làm thay đổi nhanh chóng, sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng lớn trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Vì vậy, đối với những nước chậm phát triển, muốn tiến kịp những nước phát triển phải nhanh chóng nâng cao năng lực khoa học và trình

độ công nghệ, nắm bắt và làm chủ các tri thức mới để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đi tắt vào kinh tế tri thức

Sau gần 20 năm đổi mới, nước ta đã giành được những thành tựu to lớn

và rất quan trọng làm cho thế và lực của đất nước mạnh lên nhiều Cùng với quá trình phát triển đất nước, khoa học và công nghệ nước ta đã có những bước tiến tích cực, lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ đã trưởng thành một bước và có nhiều cố gắng thích nghi với cơ chế mới, có khả năng tiếp thu, làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trên một số ngành và lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, đứng trước bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nền khoa học và công nghệ nước ta còn có khoảng cách khá xa so với các nước phát triển, chưa tạo ra được những năng lực khoa học và công nghệ cần thiết để thực sự trở thành nền tảng và động lực cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định phương hướng phát triển khoa học và công nghệ của nước ta đến năm

2010 là: “Việc đổi mới công nghệ sẽ hướng vào chuyển giao công nghệ, tiếp thu, làm chủ công nghệ mới; đặc biệt lựa chọn những công nghệ cơ bản, có vai trò quyết định đối với nâng cao trình độ công nghệ của nhiều ngành, tạo

ra bước nhảy vọt về chất lượng và hiệu quả phát triển của nền kinh tế ”

Chuyển giao công nghệ là một khái niệm mới xuất hiện trong mấy thập niên gần đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trên

Trang 4

toàn cầu, đặc biệt là đối với những nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như Việt Nam Việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược làm như thế nào để nâng cao hiệu quả trong việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến nước ngoài vào sản xuất trong nước cũng như việc triển khai đưa công nghệ trong nước vào thực tiễn sản xuất ở từng ngành, từng lĩnh vực và từng khâu trong quy trình hoạt động sản xuất được coi là khâu then chốt bảo đảm phát triển nhanh và bền vững

Với những yêu cầu đặt ra cả về lý luận và thực tiễn như trên, việc tìm

hiểu và nghiên cứu về vấn đề: “Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” là hết sức cần thiết và tôi chọn đó làm đề tài Luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Chuyển giao công nghệ là một vấn đề được nhiều nhà hoạch định chính sách, nhiều cơ quan và các nhà kinh tế trong nước và quốc tế quan tâm Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chuyển giao công nghệ, cụ thể như:

- Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Thông tin khoa học và công

nghệ quốc gia: “Khoa học công nghệ thế giới – Xu thế và chính sách những năm đầu thế kỷ XXI”, Hà Nội, 2003

- GS.TS Vũ Đình Cự (chủ biên): “ Khoa học và công nghệ hướng tới thế kỷ XXI - Định hướng và chính sách ” , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

trị quốc gia, Hà Nội, 1998

- TS Đặng Kim Nhung: “Chuyển giao công nghệ trong kinh tế thị trường và vận dụng vào Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp, 1994

Trang 5

- TS Nguyễn Văn Phúc: “Chuyển giao công nghệ và quản lý công nghệ”, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, Hà Nội, 1998

- TS Nguyễn Văn Phúc (chủ biên): “Quản lý đổi mới công nghệ”,

Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002

Ngoài ra còn có các bài viết đăng trên các báo, tạp chí

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, nhưng về cơ bản, các giải pháp đưa ra nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam được xem xét trong khuôn khổ tiến trình phát triển khoa học và công nghệ hoặc trong những giải pháp tăng trưởng và phát triển kinh tế chung của đất nước Do mục đích, đối tượng, phạm vi và thời điểm nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập của Việt Nam thì việc nghiên cứu vấn đề chuyển giao công nghệ cả về thực trạng lẫn giải pháp là rất cần thiết

Chuyển giao công nghệ luôn là một vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn Đó là một ẩn số cho các quốc gia chậm phát triển tiến kịp tới sự phát triển kinh tế của các quốc gia phát triển khác

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu của Luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ trong thời gian tới Để thực hiện được mục tiêu này, tác giả đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn chuyển giao công nghệ;

- Đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam từ năm 1996 đến nay;

- Trên cơ sở các phân tích trên, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu:

Trang 6

- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động chuyển giao

công nghệ ở Việt Nam từ năm 1996 đến nay, đây được coi là mốc thời gian

mà nhiều chuyên gia đánh giá là mở đầu thời kỳ hoạt động chuyển giao công nghệ có hệ thống

- Về không gian: Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

- Về nội dung: Vấn đề đặt ra được đề cập từ hai góc độ: Chuyển giao

công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài vào Việt Nam; chuyển giao công nghệ ngay từ các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của Việt Nam vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội cho nhân dân

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra của Luận văn, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp: phương pháp kết hợp phân tích với tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích dự báo… trong quá trình nghiên cứu

6 Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển giao công nghệ

- Phân tích hoạt động chuyển giao công nghệ của một số nước và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam từ năm 1996 đến nay để từ đó thấy được những mặt còn tồn tại và hạn chế trong quá trình chuyển giao công nghệ trong thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ

Trang 7

Chương 2: Thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian qua

Chương 3: Quan điểm định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

1.1 Lý luận chung về chuyển giao công nghệ

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Công nghệ

Công nghệ là một yếu tố tạo ra quá trình sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ Nó liên kết các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh theo một lôgíc về mặt kỹ thuật Thiếu yếu tố này, không thể có bất kỳ quá trình sản xuất – kinh doanh nào Ngay trong quá trình cung cấp dịch vụ thuộc các lĩnh vực phi vật chất, thậm chí trong các hoạt động công cộng, người ta cũng nói tới công nghệ – công nghệ triển khai, cung cấp các dịch vụ và tiến hành các hoạt động

Công nghệ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, dựa trên những

căn cứ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau

Theo nghĩa hẹp ban đầu, công nghệ chỉ dùng trong sản xuất và được

hiểu là “phương pháp công nghệ”, tức là những phương pháp sản xuất sản phẩm, được mô tả qua những quy trình được trình bày dưới các hình thức bản vẽ, sơ đồ, biểu, bảng Một khái niệm khác cũng được dùng trong mối

quan hệ với công nghệ là khái niệm kỹ thuật – bao gồm toàn bộ các phương tiện kỹ thuật như máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất… phục vụ cho sản xuất Như vậy, khái niệm công nghệ hiểu theo nghĩa hẹp này được định nghĩa hoàn toàn độc lập với khái niệm kỹ thuật (theo nghĩa là các phương tiện kỹ thuật) Tuy rằng các phương pháp này cũng luôn được gắn với những thiết bị, công

cụ nhất định, thậm chí có cả những thiết bị đặc trưng gắn với từng chuyển giao công nghệ, nhưng chúng thường không được coi là bộ phận hợp thành của công nghệ Về sau, khái niệm công nghệ được sử dụng trong cả lĩnh vực cung cấp hàng hóa, dịch vụ và gần đây cả trong quản lý

Trang 8

Cùng với sự phát triển của quá trình chuyển giao công nghệ, khái niệm

công nghệ đã được mở rộng: Công nghệ là tập hợp của tất cả các phương pháp sản xuất, cung cấp sản phẩm và dịch vụ cũng như những phương tiện kỹ thuật cần thiết để thực hiện phương pháp đó Công nghệ không chỉ bị giới

hạn trong quá trình sản xuất, mà bao gồm cả những hoạt động nằm ngoài quá trình sản xuất trực tiếp (trong các quá trình chuẩn bị sản xuất và trong phân phối, lưu thông hàng hóa…) Với định nghĩa này, cả hai khái niệm “ công nghệ ” và “kỹ thuật” theo nghĩa hẹp đã được liên kết lại với nhau Người ta xem phương pháp và quy trình công nghệ là yếu tố “phần mềm” của công nghệ, còn thiết bị, máy móc và các công cụ sản xuất là “phần cứng” của công nghệ

Từ sau 1980, đặc biệt từ sau thập kỷ 90, khái niệm công nghệ được mở

rộng hơn Nó được định nghĩa như tổng thể của các phương pháp, quy trình, máy móc, thiết bị cần dùng để sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ, các kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, thông tin cũng như các phương thức tổ chức mà con người cần áp dụng để sử dụng những phương pháp, phương tiện đó

Theo định nghĩa này, công nghệ được chia thành 4 yếu tố: Phần cứng (các phương tiện kỹ thuật như máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất…); phần mềm (các phương pháp, quy trình sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ); phần tổ chức (kết cấu hệ thống sản xuất và quản lý sản xuất, cơ chế vận hành của hệ thống đó); và phần con người (kể cả các kỹ năng, kỹ xảo, kiến thức, thông tin

mà người lao động và cán bộ quản lý các cấp cần có để sử dụng được công nghệ)

Gần đây, một số tác giả còn coi công nghệ phải bao gồm cả năng lực tiềm tàng của tổ chức sản xuất – kinh doanh và dịch vụ trong việc sản xuất và cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho xã hội “ Công nghệ là tổng hợp những năng lực nội tại, cở sở vật chất, kỹ năng, hiểu biết và tổ chức cần thiết để có thể tạo

ra được những sản phẩm hoặc dịch vụ có ích cho xã hội ”

Công nghệ là một khái niệm động, thay đổi cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học – công nghệ, điều kiện kinh doanh và yêu cầu của quản lý Hiện

nó đã bao hàm một nội dung rất rộng và sau này có thể được tiếp tục mở rộng

Trang 9

Công nghệ là một hàng hóa được mua bán trên thị trường công nghệ Thị trường công nghệ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi công nghệ Việc mua bán công nghệ thông qua con đường đầu tư nước ngoài là một trong những kênh phổ biến Bên cạnh đó còn có những kênh khác như tiến hành mua bán trực tiếp giữa các công ty với nhau, hoặc có thể phổ biến công nghệ không thông qua con đường thương mại Để cho việc chuyển giao công nghệ được hiệu quả cần nắm được thuộc tính cơ bản của công nghệ Các thuộc tính này quy định và ảnh hưởng trực tiếp tới việc mua, bán, trao đổi và

sử dụng công nghệ Công nghệ có những thuộc tính sau đây:

Một là, công nghệ có tính hệ thống: Điều này có nghĩa là không thể

đánh giá công nghệ thông qua các thành phần riêng lẻ Ví như mua được máy móc hiện đại không có nghĩa là có được công nghệ hiện đại để sản xuất sản phẩm mong muốn Vì thế, các yếu tố cấu thành công nghệ có mối quan hệ hữu cơ và đồng bộ để tạo ra sự gắn kết trong hệ thống Từng yếu tố cũng không phải là phép tính cộng giản đơn các thành phần của nó mà là các yếu tố cấu thành của hệ thống, với các mối tương quan chặt chẽ về không gian và thời gian, trình tự và điều kiện vận hành Chỉ khi công nghệ được đổi mới, tức

là ít nhất có một giải pháp nào đó được thay thế bằng một giải pháp tốt hơn, khiến toàn bộ hệ thống trở nên tiến bộ hơn sẽ đưa tới kết quả cao hơn, thể hiện ở quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất

Hai là, công nghệ có tính sinh thể: Đó là, cũng như các hàng hóa khác,

công nghệ cũng có tính chu kỳ sống (ra đời, tăng trưởng, chiếm lĩnh thị trường, bão hòa, lỗi thời, tiêu vong) và chịu sự chi phối của phương án chiến lược sản phẩm truyền thống, nên việc các bên nước ngoài chuyển giao các công nghệ lỗi thời, sắp bị thay thế vào một thị trường mới (như ở Việt Nam) cũng không nằm ngoài quy luật Tuy nhiên, khác với các hàng hóa khác, công nghệ chỉ có thể tồn tại và phát triển như một cơ thể sống, tức là phải được cung cấp các yếu tố đầu vào, trong môi trường thuận lợi, thích nghi và phải được bảo dưỡng, duy trì và hoàn thiện Không nên xem công nghệ như một sản phẩm “chết” vì như vậy nó sẽ trở thành một gánh nặng cho người sử dụng

Trang 10

Ba là, công nghệ có tính đặc thù về mục tiêu và địa điểm Thật vậy, tuy

công nghệ là một khái niệm rất rộng và đụng chạm đến nhiều khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, tổ chức và xã hội, nhưng nó lại giải quyết các mục tiêu cụ thể Công nghệ nào thì sản phẩm ấy và mỗi công nghệ cho phép đạt được một loại sản phẩm nhất định, với số lượng, chất lượng và một lượng vật tư tiêu hao nhất định Mặt khác, mỗi công nghệ chỉ thực sự vận hành tốt nếu có một môi trường thích nghi và thuận lợi Vì vậy, một công nghệ thực sự phù hợp với quốc gia này lại không phát huy tác dụng ở quốc gia kia, vì khi thay đổi địa điểm thì các yếu tố đầu vào và môi trường cũng thay đổi Điều này cho thấy, chuyển giao công nghệ không chỉ đơn giản là dịch chuyển công nghệ từ vị trí địa lý này sang vị trí đại lý khác mà là cả một quá trình cải tiến, sửa đổi, thích nghi hóa cho phù hợp với các điều kiện của môi trường mới Từ đặc thù này của công nghệ mà xuất hiện một khái niệm mới được nhiều người nhắc đến là

“công nghệ thích hợp” Đó là sự phù hợp của công nghệ với các mục tiêu kinh tế - xã hội, các điều kiện về lao động, trình độ quản lý, tài nguyên thiên nhiên và hạ tầng kỹ thuật

Bốn là, công nghệ có tính thông tin Do công nghệ là một hệ thống kiến

thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật chất và thông tin nên bản thân công nghệ có tính thông tin Thông tin là một loại hàng hóa rất đặc biệt, cho nên đánh giá, định giá, xử lý, xác định quyền sở hữu và bảo vệ nó là hết sức phức tạp Nó đòi hỏi sự can thiệp và bảo hộ không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn

sự thịnh vượng, tốc độ và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội cũng như chất lượng cuộc sống của nhiều nước trên thế giới

Trước đây, chuyển giao công nghệ xảy ra như là kết quả của các hoạt động nhằm chống chọi với thiên nhiên để sinh tồn, việc khai thác các nguồn

Trang 11

lợi từ tự nhiên được tiến hành một cách trực tiếp, rồi phát triển lên thành quy

mô giữa các lãnh thổ, các quốc gia và giao lưu với nhau bởi quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, nhưng chuyển giao công nghệ chỉ là các hệ quả của quá trình đó, được thực hiện một cách ngẫu nhiên và không được vật chất, tiền tệ

hóa dưới hình thức giao dịch đặc biệt Ngày nay, chuyển giao công nghệ trở thành một hoạt động có tính quy luật khách quan, công nghệ trở thành một hàng hóa để trao đổi buôn bán, và các hoạt động chuyển giao công nghệ

thường được thực hiện với sự tham gia của những chủ thể như: các tổ chức,

cơ quan chính phủ hoặc phi chính phủ, doanh nghiệp, những tập thể hoặc cá nhân những nhà khoa học, các tổ chức môi giới, tư vấn…

Mặc dù đã có những nghiên cứu về chuyển giao công nghệ nhưng hiện nay vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm chuyển giao công nghệ

Theo quan điểm của ESCAP: Chuyển giao công nghệ là sự dịch chuyển

toàn bộ, hoặc một phần công nghệ từ nhóm người này sang nhóm người khác

Theo quan điểm của UNDP: Chuyển giao công nghệ là việc đưa kiến

thức kỹ thuật ra khỏi ranh giới nơi sản sinh ra nó

GS Christopher Freemen cho rằng: “Chuyển giao công nghệ là tập hợp

các hoạt động thương mại và pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ, trong khi sử dụng công nghệ đó vào một mục đích đã định”

GS TS Shoichi Yamashita lại cho rằng: “Chuyển giao công nghệ là

một quá trình học tập trong đó tri thức về công nghệ được tích lũy một cách liên tục vào những nguồn tài nguyên con người đang thu hút vào các hoạt động sản xuất, một sự chuyển giao công nghệ thành công cuối cùng sẽ đưa tới

sự tích lũy tri thức sâu hơn và rộng hơn”

Trên góc độ của doanh nghiệp, có thể hiểu: “Chuyển giao công nghệ là

hoạt động nhằm đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất thông qua việc áp dụng một kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất hoặc có thể là áp dụng một công nghệ đã hoàn thiện từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác Đó là

sự mua bán công nghệ và là quá trình đào tạo, huấn luyện để sử dụng công nghệ được tiếp nhận”

Trang 12

Bộ Khoa học và Công nghệ xác định rằng: “Chuyển giao công nghệ là một hoặc tập hợp nhiều hoạt động được tiến hành bởi hai bên – bên giao và bên nhận, trong đó hai bên phối hợp hành vi pháp lý và các hành động thực tiễn mà mục đích và kết quả là bên giao cung cấp để thực hiện một mục tiêu xác định”

Các quan niệm trên tuy khác biệt về nội dung cụ thể và cách tiếp cận nhưng có những điểm chung sau đây:

- Thứ nhất, Hoạt động chuyển giao công nghệ có hai bên tham gia và

có yếu tố quyết định là công nghệ mới;

- Thứ hai, Hoạt động chuyển giao công nghệ không chỉ bao gồm chuyển

nhượng phương tiện vật chất, kỹ thuật hữu hình mà điều quan trọng hơn là phải đào tạo, huấn luyện để người lao động nắm giữ, sử dụng thành thạo công nghệ được chuyển giao và cải tiến công nghệ đó thích nghi với điều kiện thực tế

Như vậy, Chuyển giao công nghệ được xem là một lĩnh vực hoạt động nhằm đưa những công nghệ từ nơi có nhu cầu chuyển giao công nghệ đến nơi

có nhu cầu tiếp nhận công nghệ một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia

b) Nội dung của chuyển giao công nghệ

Thực tế, trong nhiều thập kỷ qua, những hoạt động chuyển giao công nghệ ở các mức độ khác nhau đã xuất hiện Nó được phát triển theo thời gian

cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong nội bộ các quốc gia và giữa các quốc gia với nhau thông qua mua bán thương mại, chiến tranh chinh phục và di cư Chúng ta có thể xác định nội dung của chuyển giao công nghệ bao gồm:

- Chuyển giao phần cứng sản xuất: bao hàm toàn bộ kiến thức được sử

dụng trong sản xuất, thông thường gồm các vật liệu, sản phẩm hay máy móc thiết bị

- Chuyển giao phần cứng tổ chức: gồm các thiết bị và phương tiện

được dùng trong các hoạt động phi sản xuất ở trong và ngoài xí nghiệp

- Chuyển giao tài liệu sản xuất: thường bao gồm 4 loại: Patent; các bí

quyết thiết kế, kế hoạch; các cẩm nang vận hành; các tiêu chuẩn sản xuất

- Chuyển giao tài liệu tổ chức: đó là tài liệu dùng cho quản ký, bao

gồm các nguyên tắc để vận hành xí nghiệp, quản lý chất lượng, quản lý nhân

sự, kiểm soát tài chính

Trang 13

- Chuyển giao các kỹ năng sản xuất: đó là các kinh nghiệm và kỹ năng

được tích lũy và sử dụng trong quy trình sản xuất đó

Trong nội dung của chuyển giao công nghệ ta cần lưu ý tới hai điểm mấu chốt đó là: các hình thức hàm chứa công nghệ và và các cấp độ chuyển giao công nghệ

Về hình thức hàm chứa công nghệ: có ba hình thức như sau:

- Thứ nhất, công nghệ được hàm chứa trong máy móc, thiết bị Loại

công nghệ này có thể được chuyển giao thông qua nhiều kênh khác nhau như thông qua hoạt động mậu dịch, xuất – nhập khẩu nhà máy, thỏa thuận về cấp giấy phép, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

- Thứ hai, công nghệ được hàm chứa trong các tài liệu, văn bản dùng để

lưu trữ, phổ biến Đây là loại thông tin về cách vận hành máy móc, thiết bị (hoạt động của công nghệ) và phương thức điều hành các hoạt động của doanh nghiệp

- Thứ ba, công nghệ được hàm chứa trong chính con người (các chuyên

gia kỹ thuật, nhà quản trị doanh nghiệp, người quản lý công nghệ…)

Về các cấp độ chuyển giao công nghệ: có ba cấp độ:

- Chuyển giao công nghệ sản xuất (cấp độ tác nghiệp);

- Chuyển giao công nghệ điều hành (cấp độ quản lý và kỹ thuật bậc trung);

- Chuyển giao bí quyết quản lý (cấp độ điều hành toàn bộ, quản lý cao cấp và bộ máy nghiên cứu và phát triển)

c) Đối tƣợng chuyển giao công nghệ

Các đối tượng chuyển giao công nghệ bao gồm:

* Các đối tượng sở hữu công nghiệp có hoặc không kèm theo máy móc, thiết bị mà pháp luật cho phép chuyển giao

Sở hữu công nghiệp bao gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa và các đối tượng khác do luật định

Trong đó, sáng chế là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Giải pháp hữu ích là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có

Trang 14

tính đổi mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp

Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa

có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc

Tên gọi xuất xứ hàng hóa là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm các yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó

Quyền sở hữu đối với sở hữu công nghiệp có thể được xác lập bằng văn bằng bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cấp, nếu chủ sở hữu đệ trình hồ sơ yêu cầu

* Bí quyết, kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, phần mềm máy tính, tài liệu thiết kế, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật có hoặc không kèm theo máy móc, thiết bị

Bí quyết là những kinh nghiệm, kiến thức, thông tin kỹ thuật quan trọng, mang tính chất bí mật được tích lũy, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, có khả năng tạo ra những dịch vụ, sản phẩm có chất lượng cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn, có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường

* Các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ

* Các hình thức dịch vụ kỹ thuật hỗ trợ chuyển giao công nghệ như:

- Hỗ trợ lựa chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt thiết bị, vận hành thử dây chuyền…

- Tư vấn quản lý công nghệ, quản lý kinh doanh, hướng dẫn thực hiện quy trình công nghệ được chuyển giao;

- Đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý của công nhân, cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý để nắm vững công nghệ được chuyển giao

Trang 15

* Máy, thiết bị, phương tiện kỹ thuật kèm theo 1 hoặc một só trong 4 đối tượng nêu trên

1.1.2 Phân loại các hình thức chuyển giao công nghệ

Để có những giải pháp, những hướng tác động thích hợp và có hiệu quả tới quá trình chuyển giao công nghệ, các hoạt động này cần được phân loại theo những đặc điểm nhất định, thích hợp với những nhóm giải pháp nhất định Toàn bộ các quá trình chuyển giao công nghệ có thể phân loại theo các cách khác nhau sau đây:

1.1.2.1 Phân loại theo chủ thể chuyển giao công nghệ

Sự phân loại này cho phép xác định được cơ chế chuyển giao thích hợp Theo đó, các quá trình chuyển giao công nghệ được phân chia thành:

- Chuyển giao công nghệ nội bộ doanh nghiệp (giữa cơ quan nghiên cứu và thiết kế của công ty với các thành viên của nó ở trong một nước hay ở nhiều nước): Trong trường hợp này, công nghệ do phòng nghiên cứu thiết kế được chuyển giao cho các bộ phận triển khai khác hoặc cho các bộ phận khác trong nội bộ công ty, tập đoàn và cuối cùng, chuyển giao tới các nhà máy sản xuất Đây là hình thức thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy

mô lớn Hình thức chuyển giao có thể là sự chuyển giao trên cơ sở hạch toán nội bộ hoặc hạch toán kinh tế (có tính đến lỗ – lãi của các đơn vị có liên quan) Nó có thể (nhưng không nhất thiết) là sự chuyển giao có tính bao cấp giữa các đơn vị có liên quan

- Chuyển giao công nghệ trong nước (giữa các công ty, các cơ quan nghiên cứu và thiết kế trong nước): Đây là hình thức chuyển giao công nghệ giữa các đối tác độc lập trong cùng một quốc gia Các đối tác này có thể có quy chế hoạt động khác nhau, nhưng đều là những chủ thể độc lập trên thị trường Việc chuyển giao công nghệ thường được thực hiện trên cơ sở hạch toán kinh tế Lợi ích của các bên được đảm bảo qua các hoạt động thương mại đơn thuần mà công nghệ là đối tượng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, do muốn thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, Nhà nước cũng có thể tài trợ cho việc chuyển giao này (tài trợ trực tiếp cho các cơ quan chuyển giao hoặc cho bên tiếp nhận công nghệ)

Trang 16

- Chuyển giao công nghệ quốc tế: Đây là hình thức chuyển giao công nghệ giữa các đối tác có quốc tịch khác nhau, có địa điểm ở các quốc gia khác nhau

1.1.2.2 Phân loại theo nội dung công nghệ được chuyển giao

Cách phân chia này được dùng để xây dựng những “khuôn khổ chung

về nội dung” chuyển giao công nghệ Theo đó người ta xác định:

- Công nghệ chế tạo: Chủ yếu chỉ sử dụng chuyển giao công nghệ về các phương diện như thiết bị, công nghệ – vật liệu sản xuất với mục đích là chế tạo sản phẩm

- Công nghệ thiết kế: Đây là sự chuyển giao công nghệ về các phương diện như đồ án thiết kế khai thác phát triển sản phẩm, ứng dụng công nghệ, tài liệu thuyết minh công nghệ, số liệu tính toán và tư liệu ban đầu

- Công nghệ quản lý: Chuyển giao công nghệ quản lý về các phương diện như: Công nghệ quản lý đặc biệt mà xí nghiệp đã nghiên cứu và triển khai thành công hoặc công nghệ quản lý về tài vụ, vật tư, nhân sự, tư vấn, marketing Nó đề cập tới các quy trình, cách thức tiến hành các hoạt động quản lý

1.1.2.3 Phân loại theo tính chất của công nghệ

Cách phân chia này được sử dụng nhiều trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia quá trình chuyển giao công nghệ Nó xuất phát từ thực tế là tùy thuộc vào vị trí của mình trên thị trường nói chung cũng như thị trường công nghệ riêng, một bên chuyển giao hoặc tiếp nhận công nghệ có thể

có lợi thế hơn hoặc bị sức ép nhiều hơn phía đối tác Việc xác định rõ vị trí này (và quan trọng hơn là xác định dúng lợi thế hoặc bất lợi thế của mình), có thể giúp doanh nghiệp xác định được đúng đắn chiến lược của mình trong đàm phán với đối tác về chuyển giao công nghệ Người ta có thể phân biệt các trường hợp bên nhận hoặc bên chuyển giao công nghệ có vị trí độc quyền, công nghệ được chuyển giao là công nghệ đặc biệt hoặc gắn với thiết bị chuyên dùng, với trình

độ chuyên môn cao hoặc với nhãn hiệu hàng hóa của bên đối tác, việc chuyển giao công nghệ gắn với hoạt động tư vấn công nghệ, bồi dưỡng, đào tạo nhân viên có tính đặc trưng…

1.1.2.4 Phân loại theo tính chất của quá trình chuyển giao công nghệ

Trang 17

-15-

Cách phân loại này liên quan tới cách thức và con đường chuyển giao công nghệ Theo đó, các hoạt động chuyển giao công nghệ được phân chia thành:

- Chuyển giao theo chiều dọc:

Đây là quá trình tri thức, lý luận cơ sở được chuyển giao từ các bộ phận, tổ chức nghiên cứu, phát triển (nơi tạo ra công nghệ) sang các bộ phận,

tổ chức ứng dụng công nghệ đó Trong quá trình này, cứ sau mỗi bước chuyển giao, công nghệ lại được phát triển tiếp để trở nên hoàn thiện hơn, có thể khai thác trên thực tế được hoặc có thể mở rộng giá trị sử dụng của nó Có hai quan niệm về chuyển giao công nghệ theo chiều dọc:

Thứ nhất, công nghệ chưa có trên thị trường: Chuyển giao công nghệ

chưa được triển khai (công nghệ vẫn trong sự quản lý của nơi nghiên cứu) Bên nhận có được công nghệ hoàn toàn mới nếu triển khai thành công

Thứ hai, Công nghệ đã có trên thị trường:

Chuyển giao từ Nghiên cứu Triển khai Sử dụng Thị trường

Bên nhận đễ dàng làm chủ công nghệ được chuyển giao

Trong thực tế các chuyển giao công nghệ dọc chỉ chiếm khoảng 5% tổng

số chuyển giao công nghệ trên phạm vi thế giới do bên nhận công nghệ cần có năng lực triển khai công nghệ ở trình độ cao (trong trường hợp công nghệ chưa

có trên thị trường) và chí phí chuyển giao cao (trong trường hợp thứ 2)

- Chuyển giao theo chiều ngang:

Đây là quá trình đưa công nghệ đã được phát triển hoàn chỉnh, đã được khai thác và sử dụng tại một tổ chức hoặc khu vực nào đó (doanh nghiệp) sang cho một tổ chức hoặc khu vực khác (doanh nghiệp) sử dụng Về nguyên tắc, trong quá trình chuyển giao công nghệ ngang đối với công nghệ, không cần có những cải tiến, hoàn thiện thêm Tuy nhiên, trên thực tế, ngay trong quá trình này, việc “thích nghi hóa” cũng chính là quá trình cải tiến công nghệ được chuyển giao

Hình 1.1: Phân biệt chuyển giao công nghệ dọc và ngang

Chu trình của công nghệ Công nghệ chưa có ở thị trường Công nghệ đã có ở thị trường

Trang 18

1.1.2.5 Phân loại theo phương thức thanh toán và tính chất thương mại

Chuyển giao công nghệ và mua bán công nghệ không phải đồng nhất nhau Bởi thế người ta phân biệt hai hình thức:

- Chuyển giao công nghệ phi thương mại: Hình thức này bao gồm toàn

bộ chuyển giao công nghệ có tính học thuật, thông qua các phương thức như hội nghị quốc tế, triển lãm thành tựu công nghệ và hội thảo chuyên đề, xuất bản sách báo, trao đổi tư liệu, giảng dạy, khảo sát,…để tiếp thu nhanh thành quả khoa học công nghệ của người khác Đó là sự chuyển giao mang tính phi mậu dịch Trong loại chuyển giao công nghệ này, bên tiếp nhận không phải trả chi phí chuyển nhượng

- Chuyển giao công nghệ có tính thương mại: Nó bao gồm các hình thức chuyển giao, trong đó công nghệ với tư cách là một loại hàng hóa đặc biệt, được mua và bán trên thị trường Bởi thế, quá trình chuyển giao có tính mậu dịch và được tiến hành bằng phương thức mua bán công nghệ

1.1.3 Điều kiện chuyển giao công nghệ

Việc chuyển giao công nghệ cho phép cả bên giao và bên nhận công nghệ có được những lợi thế nhất định Chính lợi ích này là động lực thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra với tốc độ và quy mô ngày càng lớn hơn Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp việc chuyển giao công nghệ không đem lại lợi ích mong muốn Bài học rút ra từ những thành công và thất bại là:

Để chuyển giao cũng như tiếp nhận thành công một công nghệ, cần đảm bảo những điều kiện xuất phát từ bản thân công nghệ, bên cung cấp công nghệ và bên tiếp nhận công nghệ Ngoài ra, các điều kiện xuất phát từ chính sách của Nhà nước từ phiá chuyển giao và phía tiếp nhận công nghệ cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc chuyển giao công nghệ

Xét một cách khái quát, những nhân tố sau đây sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình chuyển giao – tiếp nhận công nghệ và thành công của quá trình này:

* Nhu cầu đổi mới, chuyển giao công nghệ và thị trường công nghệ

Ngang

Trang 19

Nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất ảnh hưởng tới việc chuyển giao công nghệ là nhu cầu đổi mới công nghệ Nhu cầu này bắt nguồn từ thị trường và nhu cầu về sản phẩm có liên quan đến công nghệ được xem xét Khi có sự mất cân đối trên thị trường về sản phẩm theo hướng nhu cầu không được đáp ứng, các doanh nghiệp sẽ phản ứng bằng cách nâng cao năng lực sản xuất (nâng cao hệ số tận dụng năng lực sản xuất, đầu tư theo chiều sâu nhằm đồng bộ hóa hoặc tăng năng lực sản xuất trên cơ sở công nghệ đang được sử dụng) Nếu những biện pháp này không đáp ứng được yêu cầu hoặc không giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường (hoặc công nghệ truyền thống đã được khai thác một cách triệt để) đã có những công nghệ mới có khả năng thay thế công nghệ cũ, doanh nghiệp sẽ tính đến khả năng thay thế công nghệ truyền thống, đang sử dụng bằng công nghệ mới hoặc cải tiến chúng

Khi xuất hiện nhu cầu thay thế công nghệ đang được khai thác và sử dụng bằng công nghệ mới, vấn đề mà doanh nghiệp phải cân nhắc là tự mình nghiên cứu, thiết kế công nghệ mới hay mua/tiếp nhận công nghệ mới từ các cơ sở, các doanh nghiệp khác Cơ sở để doanh nghiệp quyết định vấn đề này là tương quan giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp trong từng trường hợp (tự nghiên cứu hay nhận chuyển giao) Thông thường, vấn đề này hay xuất hiện trong các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là hướng công nghệ được doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu

Thị trường công nghệ tác động tới tình hình chuyển giao công nghệ ở chỗ, nếu có nhiều công nghệ mới đã được tạo ra và sẵn sàng chuyển giao với chi phí có thể chấp nhận được, các doanh nghiệp có nhu cầu sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận công nghệ mới và dễ dàng nhận chuyển giao các công nghệ mình cần Thiếu nguồn cung cấp hoặc các cơ sở chuyển giao công nghệ với những điều kiện ngặt nghèo, khắt khe sẽ ảnh hưởng bất lợi tới việc chuyển giao công nghệ Thực tế ở các nước đang phát triển, kể cả Việt Nam, cũng đã cho thấy rằng mặc dù có nhu cầu lớn về công nghệ đơn giản cho phép chế biến các sản phẩm thô, sản phẩm nông sản sau thu hoạch với chi phí thấp, điều kiện sử dụng không khắt khe…nhưng do không có cơ quan,

tổ chức nào nghiên cứu và sẵn sàng chuyển giao nên những công nghệ này nằm trong tình trạng trì trệ từ hàng chục năm nay chưa được cải thiện đáng

kể

* Động lực của hai bên cung ứng và tiếp nhận công nghệ

Trang 20

Động lực thúc đẩy người có công nghệ tìm cách chuyển giao công nghệ này là thúc đẩy sự tiêu dùng rộng rãi một hoặc một số sản phẩm mới, tham nhập thị trưởng mới hoặc mở rộng thị trường đã có, tăng thêm lợi nhuận từ các hoạt động chuyển giao công nghệ Động lực đó cũng có thể là giúp bên chuyển giao cung cấp được (hoặc cung cấp thêm) các sản phẩm, vật tư, nguyên liệu gắn với công nghệ mới, đẩy mạnh quá trình chuyển đổi công nghệ của doanh nghiệp (chuyển giao công nghệ và các thiết bị liên quan để thay thế chúng bằng một công nghệ mới hơn, tiên tiến hơn…)

Động lực thúc đẩy người sử dụng tiếp nhận công nghệ là thông qua nhập công nghệ mà phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tiết kiệm chi phí để giảm giá thành, tăng lợi nhuận, đổi mới hoặc đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay thế nguyên, vật liệu quý hiếm đang

sử dụng bằng những nguyên, vật liệu mới rẻ tiền, dễ kiếm hơn…

Nhận thức được tác động của nhân tố này, cả bên chuyển giao công nghệ lẫn bên tiếp nhận công nghệ cần có ứng xử thích hợp trong toàn bộ quá trình từ đàm phán, ký kết hợp đồng cho tới các hoạt động cụ thể triển khai việc chuyển giao công nghệ Nếu mỗi bên chỉ biết đến lợi ích của mình, không chú ý và đảm bảo lợi ích của các đối tác thì sẽ không thể thực hiện thành công việc chuyển giao công nghệ

* Năng lực công nghệ thực tế của bên chuyển giao và bên tiếp nhận công nghệ

Năng lực thực sự của hai bên chuyển giao/tiếp nhận công nghệ không chỉ ảnh hưởng tới việc chuyển giao công nghệ, mà cả tới việc khai thác, sử dụng công nghệ sau khi chuyển giao kết thúc Nguồn lực có ý nghĩa quan trọng nhất là vốn đầu tư và lao động có trình độ, có tay nghề thích hợp Nhìn chung, một doanh nghiệp có tiềm lực càng lớn và đồng bộ, càng có điều kiện thuận lợi để chuyển giao hoặc tiếp nhận công nghệ, càng có điều kiện chủ động lựa chọn công nghệ cần chuyển giao – tiếp nhận cũng như đối tác chuyển giao, hình thức chuyển giao cũng như các điều kiện chuyển giao công nghệ

Trong quan hệ chuyển giao, nếu thị trường công nghệ không có gì đặc biệt, công nghệ và việc khai thác công nghệ không thuộc độc quyền của bên nào thì bên nào có tiềm lực thấp hơn sẽ phụ thuộc vào bên có tiềm lực cao hơn, hoặc chịu thiệt hơn so với bên có tiềm lực cao hơn Nếu cả hai bên đều chỉ có tiềm lực

Trang 21

hạn chế, việc chuyển giao công nghệ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thực hiện được Ví dụ dễ quan sát thấy trong thực tiễn là: Nếu cả hai bên chuyển giao và tiếp nhận công nghệ đều ít vốn, một bên không thể bán công nghệ theo phương thức trả chậm, còn bên kia không có tiền để thanh toán ngay cho bên chuyển giao thì việc chuyển giao công nghệ sẽ không thành Ngược lại nếu cả hai bên đều có nguồn lực tài chính dồi dào thì việc chuyển giao sẽ thuận lợi hơn

* Điều kiện môi trường

Quy mô, phạm vi của hoạt động chuyển giao công nghệ có quan hệ mật thiết với môi trường quốc tế, môi trường kinh doanh, quan hệ với chính sách của Chính phủ, thể chế quản lý và điều kiện công kinh tế, văn hóa của các nước Môi trường tác động tới việc chuyển giao công nghệ qua các nội dung chủ yếu sau:

- Cơ sở hạ tầng phát triển, có các thông số, cấu trúc và phương thức vận hành thích hợp với công nghệ được chuyển giao thì việc chuyển giao có thể được tiến hành một cách thuận lợi Nhờ đó, sau khi chuyển giao, công nghệ có thể được khai thác, phát huy tốt hơn, vốn đầu tư nhanh chóng được thu hồi Điều này càng kích thích các doanh nghiệp khác thực hiện việc chuyển giao công nghệ tương tự

- Tập quán, ý thức pháp luật của cộng đồng cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới nhu cầu chuyển giao công nghệ Nếu quyền tác giả bị xâm phạm, không được bảo vệ, các bí quyết công nghệ có thể được chuyển giao, phổ biến bất hợp pháp, nhu cầu chuyển giao công nghệ có thể lớn lên, nhưng lợi ích của người nghiên cứu, thiết kế công nghệ không được đảm bảo Điều này làm cho các khoản đầu tư vào nghiên cứu để đổi mới công nghệ bị giảm đi và kết quả

sẽ có ít công nghệ được chuyển giao hơn Thực tế ở các nước đang phát triển,

cụ thể như ở Việt Nam, cho thấy rằng: Khi bản quyền không được bảo vệ, người ta chỉ đầu tư cho những công nghệ đòi hỏi ít vốn, thu hồi nhanh, ít rủi

ro Chính điều này làm cho công nghệ mới thường là sự cải tiến không đáng

kể của những công nghệ đã biết và hiệu quả kinh tế cũng như các tác động, tiến bộ kỹ thuật – công nghệ của chúng thường cũng không tăng lên đáng kể

- Chính sách, chủ trương và các quy định cụ thể của Nhà nước có liên quan tới việc chuyển giao công nghệ nói chung cũng như từng hình thức chuyển giao công nghệ cụ thể mà thông thoáng, thuận lợi cho việc chuyển

Trang 22

giao công nghệ thì quá trình này có thể được triển khai, thực hiện một cách dễ dàng Ngược lại, nếu các chính sách, quy định này mà thiếu nhất quán, không thuận lợi, thiếu đồng bộ, không được triển khai kịp thời thì hoạt động chuyển giao công nghệ cũng sẽ gặp trắc trở, triển khai chậm và kém hiệu quả Điều kiện được các nhà đầu tư đánh giá cao nhất trong môi trường pháp lý chính là

sự đồng bộ và nhất quán trong chính sách cũng như giữa các chính sách với việc triển khai chúng trong thực tế

- Trình độ văn hóa chung, trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng, kỹ xảo của đội ngũ cán bộ, công nhân viên càng cao thì việc chuyển giao và tiếp nhận công nghệ mới cũng càng thuận lợi có hiệu quả

1.1.4 Tác động của hoạt động chuyển giao công nghệ

Cũng giống như mọi hoạt động khác, hoạt động chuyển giao công nghệ cũng có tác dụng hai mặt là tích cực và rủi ro cho các bên liên quan Các bên liên quan tới hoạt động này bao gồm bên cung cấp công nghệ (gồm đối tác cung cấp và nước có đối tác cung cấp công nghệ), bên tiếp nhận công nghệ (gồm đối tác nhận và nước có đối tác nhận công nghệ)

1.1.4.1 Đối với bên cung cấp công nghệ

* Với đối tác cung cấp công nghệ

Chuyển giao công nghệ giữa hai công ty không phải là chuyển giao một chiều, mà là sự vận động ở cả hai chiều Nhà cung cấp cũng đưa ra sản phẩm ra thị trường như bất kỳ những thương gia nào, nhưng chỉ có điều sản phẩm của họ ở đây là công nghệ Chính đặc thù này tạo cho họ một số thuận lợi và khó khăn nhất định

- Tác động tích cực: Tác động này thể hiện ở chỗ bên cung cấp công

nghệ có cơ hội để cải tiến và thích ứng công nghệ với môi trường hoạt động mới; tăng thêm lợi nhuận mà không cần sản xuất do việc bán công nghệ, bán các loại nguyên vật liệu đi kèm; tiếp cận nhanh chóng các thị trường mới mà nước ngoài bảo hộ; cho phép tiết kiệm chi phí sản xuất nhờ tiếp cận và khai thác các nguồn lực sẵn có tại địa phương như nguồn lao động rẻ và lành nghề, nguồn tài nguyên thiên nhiên; xâm nhập lẫn nhau về công nghệ; tạo uy tín với khách hàng, nâng cao hình ảnh của công ty trên thị trường…

Trang 23

Trong trường hợp công nghệ được chuyển giao từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thì thực tế cho thấy năng lực đàm phán của các nước đang phát triển trong lĩnh vực này thấp hơn so với các nước phát triển Bởi vậy, bên cung cấp công nghệ thường gặp những tình huống đàm phán tương đối dễ dàng

Trong một số trường hợp, song song với việc chuyển giao công nghệ, bên cung cấp công nghệ có thể bán vật liệu, thiết bị và các phần cứng cho bên tiếp nhận công nghệ Ngoài ra, bên nhận có thể cần đến các dịch vụ liên quan đến việc chuyển giao và vì vậy họ yêu cầu bên giao cung cấp các dịch vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến việc chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, cũng có trường hợp, bên chuyển giao công nghệ không chú ý đến lợi ích không dự tính trước, những đề án đa dạng hóa sản phẩm, thực hiện các hoạt động kinh doanh…

- Tác động tiêu cực: Bên cạnh những tác động tích cực trên đây, hoạt

động chuyển giao công nghệ cũng gây ra những bất lợi cho bên chuyển giao công nghệ Đó là tăng thêm tình trạng cạnh tranh, đặc biệt trong trường hợp đối thủ cạnh tranh của bên cung cấp công nghệ lại mua lại công ty của bên nhận công nghệ; gây tình trạnh cách ly với khách hàng trong trường hợp người tiếp nhận sở tại làm chủ thị trường sản phẩm thì người cung cấp công nghệ nước ngoài sẽ giảm mức độ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng; làm mất những nhân viên có kinh nghiệm và rủi ro khác liên quan đến hợp đồng như không được trả tiền, chậm trễ trong sản xuất, bị tiết lộ bí mật, ngừng trả tiền sau khi hết hạn hợp đồng…

* Với nước có đối tác cung cấp công nghệ

Những tác động tích cực đối với các nước này là tạo điều kiện giảm nguy cơ nghèo đói của phía tiếp nhận Các nước công nghiệp thừa nhận rằng

họ không thể duy trì việc giàu có của họ nếu bộ phận dân số thế giới sống trong nghèo khổ Tăng sức mua của bên tiếp nhận do đó làm tăng cơ hội bán được hàng hóa

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực này, việc chuyển giao cũng gây ra những rủi ro nhất định thể hiện ở việc mất vị trí dẫn đầu về kỹ thuật

Trang 24

của nước cung cấp, các vấn đề liên quan đến bảo vệ bí mật quân sự, bảo vệ những lĩnh vực công nghệ cao như sản xuất máy bay…

1.1.4.2 Đối với bên tiếp nhận công nghệ

* Với đối tác nhận công nghệ

- Tác động tích cực: Tác động này thể hiện ở việc tiết kiệm được chi

phí cho nghiên cứu và triển khai; đạt được sự tiến bộ về thương mại và kỹ thuật; tạo cơ hội cho việc đối thoại thường xuyên với người có kinh nghiệm trong việc chuyển giao công nghệ; giúp bên tiếp nhận trao đổi các vấn đề hàng ngày, có nguồn thông tin để giải quyết các vấn đề khác, được phổ biến tình hình thực tế về những cải tiến và sáng kiến, các thị trường và xu hướng phát triển Trong không ít trường hợp, bên tiếp nhận có thể đạt được những điều khoản có lợi cho việc tiếp nhận

- Tác động tiêu cực: Những rủi ro có thể xảy ra đối với bên tiếp nhận công nghệ như tình trạng lệ thuộc vào bên chuyển giao, không làm chủ được công nghệ; có thể gặp phải những thất bại về kỹ thuật và thương mại; định giá công nghệ sai thực tế và thường là cao hơn giá trị thực của công nghệ; các điều khoản của hợp đồng có nhiều sơ hở,… Đây là những rủi ro trong trường hợp thiếu sót của công nghệ nước ngoài hay là những đánh giá sai về thị trường cũng như do thị trường thay đổi Bên cạnh đó còn có những vấn đề liên quan đến bản thân bên chuyển giao công nghệ Chẳng hạn như chậm trễ về chuyển giao công nghệ liên quan đến số lần công nghệ được chuyển giao và mức độ thành công của các lần chuyển giao

* Với nước có đối tác nhận công nghệ

Những tác động tích cực thể hiện ở việc tạo ra được nhiều công ăn việc làm cho người lao động; tăng thu nhập ngoại tệ; sử dụng nguyên liệu địa phương; tăng cường các hoạt động sản xuất thay thế nhập khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu

Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, hoạt động chuyển giao công nghệ thường gây ra những rủi ro cho nước tiếp nhận, như tiếp nhận công nghệ gây ô nhiễm môi trường, công nghệ đòi hỏi nhiều vốn, đòi hỏi trang bị và nguyên vật liệu nước ngoài và tiêu thụ nhiều năng lượng; nhập khẩu trùng lặp

và không tránh khỏi các điều khoản bất lợi cho việc tiếp nhận công nghệ

1.1.5 Tiêu chí đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ

Trang 25

Đánh giá công nghệ là một trong những hoạt động quan trọng được mọi quốc gia, doanh nghiệp, đặc biệt là các bên nhận, có nhu cầu nhập công nghệ rất quan tâm Hoạt động này được tiến hành trong mọi giai đoạn từ khi công nghệ xuất hiện, được giới thiệu, khi lập kế hoạch hoặc chiến lược phát triển công nghệ (đánh giá tại thời điểm lựa chọn), khi tiếp nhận cũng như trong quá trính sử dụng công nghệ (đánh giá định kỳ) cho mãi tới tận khi nó bị thay thế bằng một công nghệ khác Thậm chí, ngay từ khi mới xuất hiện ý tưởng về một công nghệ, mới chuẩn bị nghiên cứu chi tiết để thiết kế ra công nghệ đó, hoặc là nhu cầu về nhập một công nghệ đang chuẩn bị đưa ra thị trường, người ta cũng phải đánh giá sơ

bộ về chúng, từ đó xem xét có nên tiếp tục chi phí cho nó hay không

Một hoạt động chuyển giao công nghệ thường được đánh giá trên 4 nội dung cơ bản (mặt hoặc đặc tính của công nghệ) sau đây:

- Năng lực hoạt động của công nghệ;

- Trình độ kỹ thuật và công nghệ;

- Hiệu quả của công nghệ;

- Tác động môi trường và các ảnh hưởng kinh tế – xã hội khác

Bốn nội dung này có liên quan mật thiết với nhau, tác động tới nhau một cách tổng hợp Chính vì vậy, bên cạnh việc đánh giá những nội dung trên một cách riêng rẽ, người ta cũng phải đánh mối quan hệ qua lại giữa các nội dung trên và tác động tổng hợp của chúng đối với công nghệ được xem xét, đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc của ngành

Tương ứng với các nội dung đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ, các chỉ tiêu đánh giá có thể tập hợp thành 3 nhóm sau đây:

1.1.5.1 Các chỉ tiêu về năng lực hoạt động của công nghệ

Chỉ tiêu năng lực hoạt động của công nghệ phản ánh khả năng hoạt động của công nghệ, là một thông số kỹ thuật (và kinh tế) của công nghệ bao gồm các chỉ tiêu cụ thể như:

- Công suất;

- Thời gian hoạt động ổn định hoặc có khả năng hoạt động ổn định, có hiệu quả của công nghệ;

- Chế độ bảo trì, bảo dưỡng;

- Các chỉ tiêu về điều kiện hoạt động của công nghệ (giới hạn về nhiệt

độ, độ ẩm, yêu cầu về môi trường làm việc…)

Trang 26

- Quy mô và phạm vi hoạt động của công nghệ, trong đó quy mô và phạm vi hoạt động về mặt không gian đóng vai trò rất quan trọng;

- Quy mô và đặc tính của những đối tượng lao động (nguyên vật liệu) được gia công, chế biến bằng công nghệ xem xét;

- Các chỉ tiêu về khoảng dao động của các chỉ số quy định năng lực làm việc của công nghệ (khoảng dao động của các thông số kỹ thuật)

Trong chuyển giao công nghệ, các chỉ tiêu, thông số này được mô tả, thông báo cùng với các mô tả khác về công nghệ đó (dưới dạng các mô tả bằng hình vẽ hoặc mô tả bằng lời) Nếu công nghệ nói trên được doanh nghiệp sử dụng tự nghiên cứu, thiết kế thì chúng cũng phải được các cán bộ nghiên cứu xác định cùng với các thông số, các mô tả khác về công nghệ đó Những chỉ tiêu này tạo thành những thông số cơ bản và không thể thiếu trong các hồ sơ về bất kỳ công nghệ nào

1.1.5.2 Các chỉ tiêu về hiệu quả của công nghệ

Các chỉ tiêu này thường được coi (một cách không chính xác) là các chỉ tiêu đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ về mặt kinh tế bao gồm:

- Tỷ suất vốn đầu tư trên một đơn vị công suất do công nghệ tạo ra;

- Lãi suất, tỷ suất lợi nhuận tính trên vốn đầu tư cho việc tiếp nhận và

sử dụng, khai thác công nghệ;

- Mức (hoặc tỷ lệ) hạ giá thành của sản phẩm nhờ việc áp dụng công nghệ Chỉ tiêu này thường được sử dụng trên cơ sở các chỉ tiêu tương ứng của những công nghệ được coi là “cơ sở ” đang được sử dụng hoặc đang là thông dụng Trong nhiều trường hợp, người ta cũng sử dụng những chỉ tiêu tương ứng của các công nghệ được coi là “chuẩn” (hoặc là công nghệ được coi là nền tảng của những công nghệ cụ thể cùng thuộc một “dòng” công nghệ)

- Hệ số huy động công suất đảm bảo hòa vốn Đây là chỉ tiêu rất cần được xem xét bởi trong nhiều trường hợp, công suất của một dây chuyền công nghệ không được khai thác một cách tối đa Với chỉ tiêu này và những

dự báo về sự biến động nhu cầu và quy mô thị trường, người khai thác, sử dụng công nghệ có căn cứ quan trọng để ra quyết định xem có nên sử dụng nó hay không và nếu sử dụng nó thì mức độ rủi ro cao hay thấp

Trang 27

- Mức tiêu hao nhiên liệu, năng lượng trong quá trình sử dụng công nghệ

để sản xuất một sản phẩm Bởi một công nghệ có thể được sử dụng để sản xuất nhiều sản phẩm cụ thể khác nhau, hoặc tính với một sản phẩm “quy chuẩn”

- Tỷ lệ tổn thất, thất thoát (hoặc tỷ lệ tận dụng) nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng trong một quá trình sản xuất (tương quan giữa lượng nguyên vật liệu bị tổn thất hoặc thất thoát, không được chuyển hóa vào sản phẩm) Một chỉ tiêu tương đương là hệ số tận dụng nguyên vật liệu, tính theo lượng nguyên vật liệu có ích có trong sản phẩm hoàn chỉnh với tổng số nguyên vật liệu được đưa vào sản xuất

1.1.5.3 Các chỉ tiêu về tác động môi trường và các ảnh hưởng kinh tế-xã hội khác

Các tác động này thường được liệt kê và phân tích có tính định tính, sau đó, chúng tiếp tục được lượng hóa thông qua những chỉ tiêu đặc trưng cho từng tác động Những tiêu thức, chỉ tiêu được sử dụng có thể là:

- Các yếu tố môi trường bị tác động bởi việc ứng dụng công nghệ và hình thức tác động của công nghệ tới môi trường Người ta cũng xác định cả những tác động gián tiếp mà việc ứng dụng công nghệ tạo ra cho môi trường hoặc cho một yếu tố cấu thành môi trường thông qua các yếu tố cấu thành môi trường khác, vì các yếu tố môi trường thường luôn tác động qua lại lẫn nhau

- Quy mô của môi trường (số lượng người hoặc sinh vật khác, diện tích đất đai, độ dày của khí quyển và lòng đất…) chịu ảnh hưởng bất lợi hoặc được lợi về mặt môi trường trong quá trình sử dụng công nghệ

- Lượng chất thải độc hại thải ra môi trường trong quá trình sử dụng công nghệ Chỉ tiêu này được phân tích qua các thông số tuyệt đối hoặc tương đối Người ta cũng sử dụng các chỉ tiêu bổ sung như mức tăng (hoặc giảm) lượng chất thải độc hại đối với môi trường…

- Mức độ và hình thức mà môi trường bị tác động (có lợi hoặc bất lợi) bởi việc sử dụng công nghệ Để đo mức độ tác động tới môi trường, người ta có thể tính toán các chỉ số phản ánh sự biến đổi các chỉ số môi trường dưới dạng tác động của việc ứng dụng công nghệ Ví dụ, khi đầu tư một dây chuyền sản xuất hóa học, người ta có thể đo lượng lưu huỳnh trong 1m3

không khí trước và sau khi đưa công nghệ vào sản xuất Trên cơ sở đó, có thể tính xem sau khi đưa công

Trang 28

nghệ mới vào sản xuất, hàm lượng lưu huỳnh trên 1m3

không khí tăng lên bao nhiêu phần trăm, vượt mức giới hạn cho phép là bao nhiêu phần trăm

- Chi phí cho việc khắc phục hậu quả của các tác động bất lợi tới môi trường hoặc tới các yếu tố cấu thành chúng Thông thường, cần phải tính toán một cách đầy đủ các chi phí cho các biện pháp khắc phục cả tác động bất lợi do công nghệ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra, nhưng trên thực tế, người ta chỉ tính toán chi phí khắc phục những tác động trực tiếp của công nghệ tới môi trường

1.2 Chuyển giao công nghệ của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.2.1 Chuyển giao công nghệ của một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Ấn Độ

Sau ngày Ấn Độ giành được độc lập, các cơ sở nghiên cứu phục vụ công nghiệp còn rất nghèo nàn, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp (CSIR) đã được thành lập năm 1942 với vài ba phòng thí nghiệm, vì vậy việc ưu tiên hàng đầu từ năm 1947 đến cuối năm 1960 là xây dựng cơ sở hạ tầng, bao gồm đội ngũ cán bộ và hệ thống rộng lớn các viện, phòng thí nghiệm quốc gia Đối với một nước khoảng 1 tỷ dân với 80% dân số sống ở vùng nông thôn và các vùng hẻo lánh như Ấn Độ thì ưu tiên số một của khoa học và công nghệ là phục vụ phát triển nông nghiệp, trước tiên là phục vụ mục tiêu tự túc về lương

thực, thể hiện rõ qua cuộc “cách mạng xanh” tiến hành từ năm 1965 Đây là

thành công điển hình của khoa học và công nghệ Ấn Độ kể cả dưới góc độ chuyển giao công nghệ (dọc và ngang), đưa khoa học vào sản xuất vào đời sống Việc này đã làm cho sản xuất lương thực của Ấn Độ tăng từ 55 triệu tấn (năm 1951) lên 167 triệu tấn (năm 1988), nghĩa là gấp 3 lần trong 37 năm Đó là kết quả tổng hợp của hàng loạt các biện pháp như đầu tư vào công nghệ sinh học, thủy lợi, điện khí hóa nông thôn, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, giao thông, cơ giới hóa nông nghiệp, cho vay tín dụng…Hiện nay Ấn Độ đang tiến hành giai

đoạn 2 của cuộc “Cách mạng xanh” còn gọi là cuộc “Cách mạng công nghệ sinh học”, ứng dụng của nó rất lớn, ví dụ như trong công nghiệp là cải tiến sản xuất

thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu sinh học, các axit hứu cơ; làm giàu quặng bằng phương pháp sinh học; xử lý chất thải; sản xuất hóocmôn…

* Các chính sách công nghiệp ảnh hưởng tới chuyển giao công nghệ

Năm 1948, Chính phủ Ấn Độ có nghị quyết về đầu tiên về chính sách công nghiệp Nghị quyết này đã chú ý hướng tới sự phát triển mạnh về công

nghiệp nặng Trong khi công nhận đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng

Trang 29

trong sự nghiệp công nghiệp hóa thì nghị quyết cũng đồng thời chỉ rõ công nghệ nhập phải được quản lý chặt chẽ, không nhập các công nghệ mà trong nước có khả năng làm được

Chính sách công nghiệp lần thứ hai (năm 1956), xác định một số ngành

công nghiệp nòng cốt mà Nhà nước trực tiếp đảm nhiệm, các chương trình chủ yếu thiết lập những ngành công nghiệp quốc doanh thông qua việc nhập khẩu có chọn lọc các công nghệ từ các nước công nghiệp hóa

Năm 1970, khoa học công nghệ trong nước đã đạt tới trình độ có thể đóng góp rất căn bản cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Luật sáng chế của Ấn Độ được ban hành nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước Năm 1973, đầu tư nước ngoài đạt 40% tổng số đầu tư trong cả nước Năm

1976, Qũy phát triển kỹ thuật được thành lập Các vùng chế xuất (Exported Production Zone - EPZ) được thiết lập nhằm khuyến khích đưa công nghệ cao

từ bên ngoài vào trong nước

Chính sách công nghiệp năm 1980 nhấn mạnh sự cần thiết tăng tính cạnh

tranh ở thị trường trong nước, tăng cường và hiện đại hóa công nghệ đã đặt nền móng cho việc tăng xuất khẩu và tăng đầu tư nước ngoài ở những khu công nghệ cao

Chính sách công nghiệp năm 1991 đã cho phép tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài lên tơí 51% trong một số ngành công nghiệp ưu tiên cao, cho phép tự

động ký các hiệp định công nghệ nhập ngoại trong các ngành công nghệ ưu tiên cao như: sắt, thép, máy phát và các thiết bị điện, máy nông nghiệp và hóa chất,…với khoản tiền trả cả gói tới 10 triệu Rupi, 5% tiền bản quyền cho sản phẩm nội địa, 8% cho xuất khẩu với tổng số tiền phải trả là 8% lượng hàng bán ra trong thời gian trên 10 năm kể từ ngày ký hiệp định, hay 7 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất Hình thức chuyển giao công nghệ là mua bán lixăng, lập liên doanh hoặc các xí nghiệp có 100% sản phẩm để xuất khẩu

Từ năm 1991, Chính phủ Ấn Độ cải cách kinh tế trong nước theo các hướng:

- Về cơ cấu kinh tế tiếp tục củng cố vai trò của nhà nước trong các

ngành kinh tế then chốt, Chính phủ đẩy mạnh khuyến khích tự do kinh doanh, cho phép mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân vào một số ngành trước

Trang 30

đây chỉ do Nhà nước quản lý, tư nhân hóa các cơ sở sản xuất thua lỗ hoặc các ngành sản xuất dựa trên công nghệ trình độ thấp

- Chấm dứt chế độ kiểm soát kinh doanh bằng cách xóa chế độ cấp giấy phép (trừ một số lĩnh vực cụ thể liên quan đến các ngành an ninh và có

tầm quan trọng chiến lược), thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các ngành và các đơn vị kinh tế

- Về tài chính, Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tài chính khắc

khổ, cố gắng giảm thâm hụt ngân sách, giảm trợ cấp (lương thực, đường, phân bón), giảm chi phí của Chính phủ và chi phí quốc phòng, tăng thuế các mặt hàng xa xỉ và thuế thu nhập của các công ty lớn, huy động thêm nguồn tiền trong nước để thúc đẩy và mở rộng sản xuất

* Các chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ của Chính phủ Ấn Độ trong thời gian gần đây:

- Mở cửa ngành công nghiệp Ấn Độ cho đầu tư nước ngoài và chấp nhận cạnh tranh Theo chính sách công nghiệp mới, cổ phần của nước ngoài

được phép tăng từ 40% lên 50% trong các ngành ưu tiên, bao gồm 31 khu vực khác nhau và các công ty có số cổ phần nước ngoài dưới 51% không cần xin giấy phép của Chính phủ Chính phủ bảo đảm quyền tự chủ thông qua các hiệp định, hợp đồng chuyển giao công nghệ với nước ngoài trong các lĩnh vực: công nghiệp luyện kim, thiết bị điện, giao thông, đóng tàu, đường sắt, chế tạo máy, công nghiệp hóa chất và phân bón, công nghệ phần mềm, máy vi tính

- Tiếp tục đẩy mạnh mở cửa kinh tế thông qua xóa bỏ một loạt thủ tục cấp giấy phép và kiểm soát, mở rộng và tự do hóa hệ thống cấp giấy phép bổ sung nhằm thúc đẩy xuất khẩu, xóa bỏ chế độ trợ cấp xuất khấu nhằm khuyến

khích cải tiến chất lượng, giảm giá thành để tăng cường xuất khẩu

- Điều chỉnh lại cơ cấu xuất nhập: trước đây chính sách xuất khẩu chỉ

khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế tạo vì có giá trị gia tăng cao, trợ cấp xuất khẩu cũng dành cho ngành này vì có đầu vào nhập khẩu cao, không khuyến khích xuất hàng tiêu dùng hoặc hàng sơ chế Chính sách thương mại mới khuyến khích cả việc xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng như: thuốc lá, chè, cà phê, đay, bông,…Theo đó, khuyến khích tối đa cho các mặt hàng xuất

Trang 31

khẩu có đầu vào nhập khẩu thấp, quy định những mặt hàng nhập khẩu phải gắn với xuất khẩu

- Về tài chính, Chính phủ cố gắng cải thiện cán cân thanh toán và hạn chế

thâm hụt thương mại, tranh thủ các nguồn viện trợ nước ngoài quan trọng như của IMF, WB, ADB, huy động nguồn ngoại tệ của Ấn kiều và thậm chí kể cả tiền “đen” (không có nguồn gốc hợp pháp) Để khuyến khích các nhà đầu tư, Ấn

Độ tuyên bố nới lỏng luật kiểm soát ngoại hối (FERA) cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển vốn ngoại tệ, lợi nhuận, tiền thưởng ra khỏi Ấn Độ

- Về khoa học và công nghệ, Ấn Độ tiếp tục tranh thủ nguồn tài trợ từ bên

ngoài để thực hiện các dự án nhằm hiện đại hóa kỹ thuật trong một số lĩnh vực

và các chương trình hợp tác khoa học và công nghệ chung với trên 40 nước trên thế giới Ấn Độ nhận được hàng năm khoảng 60 tỷ rupi viện trợ nước ngoài (trong đó 18% không hoàn lại, 82% vay) Sau khi Liên Xô sụp đổ, Ấn Độ tăng cường hợp tác và cử cán bộ khoa học sang Mỹ, Cộng đồng Châu Âu, Đức và các nước phát triển khác học tập, trao đổi Ấn Độ đẩy mạnh việc xuất khẩu công nghệ ra nước ngoài: chú trọng việc mở rộng các lĩnh vực hợp tác trong khu vực công nghệ cao Ấn Độ coi trọng phát triển hợp tác Nam – Nam; tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và mở rộng các hình thức hợp tác hai bên và nhiều bên cùng có lợi trên mọi cấp: Nhà nước trung ương, Bang, Bộ ngành và cơ

sở trực tiếp

- Về nhập khẩu công nghệ qua nghiên cứu và phát triển, Chính phủ Ấn

Độ yêu cầu các nhà nhập khẩu công nghệ phải qua nghiên cứu và phát triển để thích nghi, thử nghiệm và nghiên cứu phát triển cho phù hợp với Ấn Độ Chi phí cho bản quyền công nghệ nhập khẩu ở Ấn Độ mức chung là 8% tiền bán hàng trong 10 năm từ khi ký hợp đồng hoặc 7 năm từ khi được đưa vào sử dụng (kinh nghiệm các nước khác chi phí nhập khẩu công nghệ chiếm 2% đến 4% lợi nhuận toàn bộ) Các nhà công nghiệp Ấn Độ có yêu cầu nhập khẩu công nghệ qua nghiên cứu phát triển phải trả 20 triệu rupi (tương đương 650.000 USD) để cho các cơ quan nghiên cứu và phát triển tiếp nhận, thích nghi, thử nghiệm và chi phí các hoạt động của nghiên cưú và phát triển Việc nhập khẩu được miễn thuế đối với các bản thiết kế, bản vẽ và hiện nay kể cả các tư liệu sản xuất có liên quan

1.2.1.2 Trung Quốc

Trang 32

Bản dự thảo kế hoạch 5 năm lần thứ IX về phát triển kế hoạch kinh tế –

xã hội và những mục tiêu dài hạn cho đến năm 2010 được kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VIII (năm 1980) của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua

đã vạch ra đường lối phát triển có tính chiến lược của Trung Quốc Nền khoa học và công nghệ của Trung Quốc sẽ có nhiệm vụ trước mắt rất nặng nề trong việc góp phần đưa đất nước đạt được những mục tiêu chủ yếu này Đạt được những thành công như hiện nay, Trung Quốc đã phải ban hành tổng thể kế hoạch khoa học và công nghệ

Cuối những năm 1980, Trung Quốc bắt đầu một thời kỳ mới, dựa vào khoa học và công nghệ để thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trong thời kỳ đầu, Trung Quốc gặp phải những vướng mắc: làm thế nào để theo kịp sự thay đổi của công nghệ mới và tiến hành thực hiện công nghệ nào? Trả lời câu hỏi này, Trung Quốc đã tiến hành các chương trình nhìn trước về công nghệ nhằm đưa ra các quyết định cho chính sách phát triển khoa học và công nghệ cấp quốc gia Cụ thể như: Chương trình nghiên cứu chính sách công nghệ quốc gia (tháng 1 năm 1983), Chương trình nghiên cứu và phát triển công nghệ cao (năm 1986), Chương trình ưu tiên nghiên cứu cơ bản quốc gia(năm 1990), Đề cương phát triển khoa học và công nghệ quốc gia trung và dài hạn (tháng 3 năm 1992), Chương trình lựa chọn dự án công nghệ then chốt quốc gia (năm 1994),…

Các chương trình này đóng vai trò tư vấn quan trọng trong việc ra quyết sách khoa học và công nghệ ở tầm quốc gia, góp phần quan trọng trong việc lựa chọn chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Từ đó thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng lực công nghệ quốc gia Trong các chương trình trên thì chương trình “Chuyển giao công nghệ cho địa bàn nông nghiệp, nông thôn” được coi như là một thành công lớn, góp phần giải quyết vấn đề an ninh lương thực, nâng cao nhận thức và cách thức quản lý sản xuất cho nông dân, hiện đại hóa khu vực nông thôn

Qua việc thực hiện một số chương trình ứng dụng khoa học và công

nghệ vào địa bàn nông thôn như: chương trình “đốm lửa”, chương trình “xóa đói giảm nghèo bằng khoa học và công nghệ”, chương trình “xây dựng các khu trình diễn ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp” cho thấy, Trung

Trang 33

Quốc rất coi trọng mặt trận nông nghiệp, nông thôn và nhấn mạnh chủ trương đưa khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nông thôn Cụ thể hóa chủ trương này, Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đã đề xuất

và chỉ đạo thực hiện một số chương trình trọng điểm về ứng dụng khoa học

và công nghệ vào địa bàn nông thôn, miền núi Mục đích để hướng tới là:

- Xây dựng mô hình trình diễn (các điểm sáng) về ứng dụng khoa học

và công nghệ tại một số địa bàn thí điểm để tạo hình mẫu phổ biến, nhân rộng cho các vùng nông thôn khác học theo

- Nâng cao năng lực tiếp thu khoa học và công nghệ cho địa bàn nông thôn với sự hỗ trợ, chi viện của các cơ quan khoa học và công nghệ, các trường đại học của Trung ương và các thành phố lớn nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách về công nghệ giữa thành thị và nông thôn

Ứng dụng mỗi loại chương trình này, Trung Quốc có những cơ chế hỗ trợ

và phương thức chỉ đạo khác nhau Điều này đã giúp cho việc nâng cao hiệu quả ứng dụng các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và tăng cường tiếp thu khoa học và công nghệ của các địa bàn nông thôn với các trình độ phát triển khác nhau

Trong tổ chức, chỉ đạo, Trung Quốc đã tiến hành khá thận trọng, kiên trì, vừa làm, vừa tổng kết, rút kinh nghiệm trước khi phổ biến nhân rộng Trung Quốc giải quyết tương đối thành công trong phân cấp, phân công và phối hợp chỉ đạo thực hiện các chương trình ứng dụng khoa học và công nghệ vào địa bàn nông thôn Đây chính là kinh nnghiệm cho các chương trình khác

Trước hết, về phân cấp, trong chỉ đạo thực hiện chương trình “đốm lửa”

và chương trình “xóa đói giảm nghèo bằng khoa học và công nghệ”, Trung Quốc

đều chia thành 3 cấp (trung ương, tỉnh, huyện) Chẳng hạn, đối với chương trình

“đốm lửa”, Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ xem xét hỗ trợ những dự án vượt quá

khả năng giải quyết của một tỉnh Cũng tương tự như vậy, Sở khoa học và công nghệ chỉ xem xét hỗ trợ những dự án vượt quá khả năng của cấp huyện Với cách làm này vừa tạo điều kiện để cấp Trung ương tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo đối với những dự án phức tạp, có ý nghĩa quan trọng liên tỉnh, đồng thời nâng cao trách nhiệm và quyền chủ động, sáng tạo của cấp tỉnh, cấp huyện

Hai là, về phân công giữa các cơ quan quản lý của Nhà nước cùng cấp

Tuy các dự án trình diễn ứng dụng khoa học và công nghệ do hệ thống quản

Trang 34

lý khoa học và công nghệ trực tiếp chỉ đạo, nhưng Trung Quốc vẫn xác định chính quyền địa phương phải là người chịu trách nhiệm trước trung ương; và các cơ quan quản lý chức năng của chính quyền địa phương (kế hoạch, tài chính, ngân hàng,…) đều có trách nhiệm liên đới hỗ trợ đảm bảo việc thực hiện các dự án này tại địa phương

Chính nhờ việc quy định rõ ràng trên mà việc huy động các nguồn lực thuộc ngân sách địa phương và vốn tín dụng ngân hàng tương đối thuận lợi Tương tự như vậy, việc gắn kết các dự án trình diễn ứng dụng khoa học và công nghệ với các dự án kinh tế – xã hội đã được lồng ghép ngay từ đầu và việc triển khai nhân rộng các mô hình trình diễn ở giai đoạn sau cũng thuận lợi hơn

Ba là, việc phối hợp chỉ đạo giữa Trung ương và địa phương cũng được thể chế hóa tương đối rõ ràng Chẳng hạn, chương trình “xóa đói giảm nghèo bằng khoa học và công nghệ ”, đã quy định: tổ trưởng tổ chỉ đạo của Bộ Khoa

học và Công nghệ, và chuyên gia công nghệ chính được cử xuống biệt phái tại địa phương chính thức tham gia trong cơ cấu lãnh đạo của chính quyền địa phương (thường giữ chức phó) để có đủ quyền lực điều phối cả nguồn lực trung ương và địa phương cho việc thực hiện các dự án do trung ương trực tiếp hỗ trợ Đồng thời, cũng xác định rõ chế độ trách nhiệm của các bên tham gia chỉ đạo

- Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm toàn diện về sự thành, bại của các dự án được triển khai tại địa bàn

- Tổ trưởng tổ chỉ đạo do Bộ Khoa học và công nghệ cử xuống địa bàn chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả của các dự án được duyệt, về chất lượng của các cơ quan khoa học và chuyên gia công nghệ được chọn để chủ trì các dự án

- Các cơ quan khoa học và các chuyên gia công nghệ chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ nảy sinh trong quá trình triển khai dự án, kể cả khâu nhân rộng sau này

Bốn là, coi trọng nguyên tắc “cạnh tranh” trong việc tiếp nhận các

nguồn tài trợ của trung ương với các địa phương

Điều này cũng áp dụng ngay cả đối với các chương trình “xóa đói giảm nghèo bằng khoa học và công nghệ” Mặc dù Bộ khoa học và công nghệ đã chọn

một số huyện khó khăn làm địa bàn thí điểm, nhưng khi xét chọn các dự án cụ thể, Bộ chỉ xem xét và tài trợ những dự án có chất lượng tốt, có luận cứ đầy đủ

Trang 35

theo tôn chỉ của chương trình, chứ không hỗ trợ theo kiểu “bình quân” Điều này

đã đặt các địa phương, các cơ quan hỗ trợ khoa học và công nghệ phải chú ý ngay từ đầu tới việc xây dựng, thẩm định chất lượng của các dự án ứng dụng khoa học và công nghệ trước khi trình lên bộ khoa học và công nghệ

Năm là, đối với các hộ nông dân tham gia dự án quyền lợi được hưởng

là được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, được hướng dẫn kỹ thuật miễn phí Nhưng khi họ muốn tham gia dự án đều phải ký hợp đồng cam kết trách nhiệm và được vay vốn tín dụng ưu đãi với chế độ trả dần để mua các vật tư

kỹ thuật (cây, con giống, phân bón,…) chứ Nhà nước không bao cấp hoàn toàn Đây cũng là một cơ chế để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các hộ nông dân và tạo thuận lợi cho khâu “nhân rộng” ở giai đoạn sau

Sáu là, về mặt tổ chức chỉ đạo, tương xứng với chủ trương coi trọng

việc chuyển giao công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn nông thôn và ý thức được những khó khăn, thách thức của nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài này; cùng với việc khởi xướng chương

trình “đốm lửa”, chương trình “xóa đói giảm nghèo bằng khoa học và công nghệ”, Bộ khoa học và công nghệ Trung Quốc đã từng bước hình thành được

một hệ thống tổ chức từ trung ương tới địa phương để chỉ đạo các chương trình này như: văn phòng chương trình đốm lửa, trung tâm phát triển công nghệ nông thôn, công ty đốm lửa, tổ chỉ đạo chương trình xóa đói giảm nghèo bằng khoa học và công nghệ do một Thứ trưởng trực tiếp phụ trách,… Cũng tương tự như vậy, ở cấp tỉnh và huyện, tuy tên gọi có khác nhau, nhưng cũng

có các tổ chức chuyên trách với chức năng tương tự như ở trung ương

Hàng năm, Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đều tổ chức các hội nghị tổng kết và tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ của các Sở khoa học và công nghệ các tỉnh về quản lý các dự án trình diễn ứng dụng khoa học và công nghệ tại địa bàn nông thôn Ngoài ra, Bộ đã chỉ đạo xây dựng một mạng lưới các trung tâm bồi dưỡng về quản lý dự án và công nghệ đốm lửa tại các vùng khác nhau trên toàn đất nước Trung Quốc (cuối năm 2000, đã có 40 trung tâm thuộc Trung ương và gần 5.000 cơ sở do các tỉnh tự lập ra, trong 15 năm đã bồi dưỡng được gần 60 triệu người về công nghệ đốm lửa và quản lý các dự án đốm lửa)

1.2.1.3 Malaixia

Trang 36

Sau 20 năm (1971 - 1990) thực hiện chính sách kinh tế mới đến nay, Malaixia đã đạt được những thành tựu đáng kể Năm 1991, Malaixia bắt đầu một chương trình phát triển toàn diện đất nước 30 năm (1991- 2020) gọi là

“Tầm nhìn Malaixia 2020” với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp phát

triển Bình quân GDP/người năm 1995 đạt 4.022 USD, dự kiến sẽ đạt 7.800 USD vào năm 2020, tăng gấp 3,5 lần so với năm 1990 Cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực đã tác động mạnh đến nền kinh tế, tuy nhiên Malaixia đã không chấp nhận các điều kiện cho vay của Qũy Tiền tệ quốc tế (IMF) mà quyết tâm tự lực vươn lên để thoát khỏi khủng hoảng Gần đây Malaixia đang chuyển mạnh sang hướng hợp tác kinh tế với cộng đồng Châu Âu

Malaixia là một nước có nền kinh tế hỗn hợp, do đó vai trò định hướng của Chính phủ là rất quan trọng Về chiến lược và kế hoạch phát triển đất nước, Malaixia thực hiện một kế hoạch dài hạn với mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ quốc gia nhằm nâng cao năng suất lao động phục vụ công nghiệp hóa đất nước

Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, Chính phủ Malaixia vẫn không cắt giảm đầu tư cho khoa học và công nghệ Điều đó thể hiện đúng những cam kết của Chính phủ coi khoa học và công nghệ là động lực quan trọng trong phát triển quốc gia Malaixia đã đặt trọng tâm vào một số loại hình công nghệ coi là chủ chốt để phát triển Mục tiêu phát triển công nghệ của Malaixia là học hỏi, tạo công nghệ và làm chủ công nghệ

* Về tổ chức, quản lý khoa học và công nghệ

Ở Malaixia, quản lý khoa học và công nghệ cấp Liên bang là Bộ khoa học, công nghệ và môi trường và cấp Bang là Sở khoa học, công nghệ và môi trường Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ ở các Bang khá chủ động

và tương đối độc lập riêng rẽ Cấp Liên bang có một cơ quan chính sách khoa học và công nghệ chỉ đạo, cùng hội đồng chính sách khoa học và công nghệ cấp Bang thực hiện những nhiệm vụ cấp Liên bang đề ra bằng nguồn kinh phí của Bang

Hội đồng khoa học và công nghệ quốc gia của Malaixia có nhiệm vụ hoạch định, giám sát, đánh giá chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, đứng đầu là phó Thủ tướng Liên bang phụ trách về khoa học và công nghệ Hội đồng khoa học và công nghệ quốc gia tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Khoa

Trang 37

học, công nghệ và môi trường về hoạch định chính sách khoa học và công nghệ, điều phối các hoạt động nghiên cứu và phát triển Hội đồng xem xét những khuyến nghị đề ra chương trình hoạt động xây dựng kế hoạch phát triển công nghệ trong công nghiệp Trong hội đồng quốc gia có hai hội đồng nhỏ:

- Hội đồng khoa học và công nghệ;

- Hội đồng theo dõi giám sát, điều phối các chương trình ưu tiên quốc gia, thành viên gồm đại diện của Chính phủ và khối doanh nghiệp

Chính phủ Malaixia rất coi trọng khoa học và công nghệ, trong đó

đánh giá cao vai trò của tư nhân trong quá trình phát triển quốc gia và đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động của tư nhân Malaixia là một nước nhập khẩu công nghệ khá nhiều và đã tạo ra một hành lang công nghệ đa phương tiện nhằm hỗ trợ cho phát triển công nghệ Hành lang này cũng đã khuyến khích

sự gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh nâng cao nhận thức xã hội về khoa học và công nghệ

Ở Malaixia, Chính phủ định hướng chỉ đạo cho các cơ quan nghiên cứu

và phát triển hoạt động như một công ty Mục đích là để cơ quan này chủ động và thuận hơn trong hoạt động Chính phủ có chính sách thông thoáng tạo điều kiện cho các cơ quan nghiên cứu liên kết chặt chẽ hơn với các cơ sở công nghiệp, các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất dịch vụ Trong các hoạt động hợp tác giữa các viện nghiên cứu và phát triển, trường đại học với các tổ chức công nghiệp đều có ghi nhớ cam kết của hai bên, sự hợp tác làm tăng cường thương mại hóa những sản phẩm khoa học và công nghệ

Đối với các trường đại học, Chính phủ Malaixia cũng đề ra chủ trương phải gắn những kết quả nghiên cứu với thị trường, tiến tới chủ động kinh phí cho nghiên cứu khoa học Chính phủ cũng có những chính sách tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; tăng đầu tư cho mạo hiểm công nghệ; tăng khuyến khích năng lực công nghệ địa phương; và khuyến khích liên kết giữa các trường đại học với các khu vực sản xuất

Tuy nhiên, ở Malaixia còn có một số vấn đề tồn tại trong nghiên cứu và phát triển: xuất hiện nhiều cơ quan bị trùng lặp chức năng Chẳng hạn, Bộ Nông nghiệp có một cơ quan nghiên cứu về nông nghiệp; ngoài ra Bộ Thủy sản, ngành công nghiệp thô, Bộ Phát triển nông thôn cũng có cơ quan nghiên

Trang 38

cứu về nông nghiệp Từ đó không có sự phối hợp nghiên cứu của những cơ quan khác nhau, dẫn đến có sự trùng lặp trong nghiên cứu giữa các Bộ Có quá nhiều cơ quan nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực công nghiệp (do chủ trương công nghiệp hóa của Malaixia), có nhiều kết quả nghiên cứu không đưa ra thương mại hóa được

* Về cơ chế cấp phát tài chính cho nghiên cứu

Về cơ chế cấp phát tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, Malaixia đề ra 4 cơ chế ưu tiên như sau:

- Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu thuộc các lĩnh vực ưu tiên;

- Tăng cường nghiên cứu và phát triển công nghiệp/ công nghệ;

- Tăng cường tài trợ cho nghiên cứu những công nghệ đa phương tiện;

- Tăng cường tài trợ cho việc nhân rộng những mô hình thành công; Trong đó các nguồn tài trợ là từ ngân sách nhà nước và cả kinh phí của các cơ sở công nghiệp tư nhân

Quá trình xét duyệt các dự án, đề tài nghiên cứu: các dự án, đề tài được các viện nghiên cứu xét trước, sau đó chuyển lên bộ phận xem xét đánh giá thuộc Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường Sau đó sẽ được chuyển tới bộ phận chiến lược nhằm xem xét những nghiên cứu đó có thuộc mục tiêu chiến lược hay không Cuối cùng là hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ quốc gia xét duyệt (phó Thủ tướng phụ trách khoa học và công nghệ của Chính phủ làm chủ tịch hội đồng)

Để nâng cao hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, trước đây khi xét tài trợ cho các dự án nghiên cứu có các hội đồng để xét duyệt, đánh giá các dự án, bao gồm các hội đồng kỹ thuật và các hội đồng chính sách Thành viên của hội đồng này bao gồm các nhà khoa học đầu ngành, đại diện cho khối quản lý, khối doanh nghiệp Các chủ doanh nghiệp được mời vào trong các hội đồng đánh giá dự án để đánh giá về hiệu quả kinh tế và mức độ thương mại của các dự án Các nhà khoa học đánh giá theo cách của họ theo những kiến thức đã được quốc gia và quốc tế công nhận Các nhà quản lý đánh giá theo sự đóng góp đối với xã hội, những mặt thể chế chính sách, sự đóng góp phát triển kinh tế Các nhà doanh nghiệp đánh giá sự phù hợp của các dự án đối với các doanh nghiệp, khả năng áp dụng và triển khai

Trang 39

Các chương trình tài trợ khác chủ yếu hướng vào tài trợ cho phát triển công nghiệp, với mục đích là:

- Tăng cường tạo ra những sản phẩm mới;

- Tăng cường các mối liên kết giữa công nghiệp và đại học;

- Tài trợ cho các đơn vị tăng cường mối quan hệ với quốc tế

Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường có nhiệm vụ quản lý phần qũy này Điều kiện để các chương trình này xin tài trợ là: chứng minh được có mối quan hệ/liên kết với đại học; thuộc các hướng ưu tiên của quốc gia; và các kết quả nghiên cứu đó là thiết thực cho đất nước Những đề nghị đó phải

đệ trình cho một ban thư ký của Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường, rồi trình lên Ủy ban chỉ đạo để được thông qua

Chương trình hỗ trợ nhân rộng những mô hình thành công: Chính phủ Malaixia dành 50 triệu RYM đầu tư cho chương trình này Cơ quan quản lý bao gồm Thư ký của hội đồng quốc gia về công nghệ thông tin và Ban điều hành Công ty Vi điện tử quốc gia

Các nguồn tài chính cho nghiên cứu và phát triển: trước đây các nguồn tài chính cho nghiên cứu và phát triển chủ yếu do Nhà nước cấp Ngày nay, ngoài kinh phí do Nhà nước cấp còn có các qũy khác, cơ chế cấp phát theo chương trình gọi là Qũy tài trợ cho nghiên cứu và phát triển, phát triển công nghệ Năm 2000 đầu tư cho nghiên cứu phát triển xấp xỉ bằng 1% GNP, dự kiến năm 2020 khoảng 2% GNP Malaixia khuyến khích các nguồn tài trợ cả

từ khu vực nhà nước, tư nhân và cộng đồng các doanh nghiệp

* Về liên kết giữa các hoạt động nghiên cứu với công nghiệp và sản xuất

Mục tiêu của Malaixia là trở thành nước công nghiệp phát triển Với

quan điểm: Nhà nước, khu vực tư nhân và công cộng nghiên cứu phải đi cùng nhịp, Malaixia đã có chính sách phối hợp giữa các trường đại học, viện

nghiên cứu với công nghiệp; sản phẩm nghiên cứu từ các trường đại học và viện nghiên cứu phải phục vụ sản xuất

Mối liên kết giữa nghiên cứu và công nghiệp được thể hiện rõ ở các viện nghiên cứu và các trường đại học Một số trường đại học sử dụng các kết quả nghiên cứu của sinh viên và các nhà khoa học một cách tích cực vào hoạt động phát triển công nghệ Chẳng hạn, như đại học PUTRA Malaixia Nhiều

Trang 40

kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cùng với sinh viên đã được thương mại hóa trên thị trường, các hoạt động nghiên cứu này được phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp bên ngoài Các hoạt động này bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và cơ khí chế tạo máy

Hoạt động nghiên cứu của các viện và trường đại học vừa là nhiệm vụ bắt buộc, vừa được Nhà nước khuyến khích để các hoạt động nghiên cứu liên kết với công nghiệp và gắn với các hoạt động sản xuất Sinh viên sau đại học được hưởng chính sách khuyến khích của Chính phủ, mỗi sinh viên được tài trợ một khoản kinh phí 1600 RYM cho nghiên cứu khoa học nhằm thu hút họ tham gia tích cực hơn vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển

1.2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Qua phân tích một số đặc điểm nổi trội trong chính sách chuyển giao công nghệ ở một số quốc gia nêu trên, dù sự tương đồng có thể là ít, nhiều, song đối với những nước đang phát triển, đi sau như Việt Nam, để có sự phát triển kinh tế, đón đầu về mặt công nghệ trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập như ngày nay thì những bài học rút ra từ kinh nghiệm ở các quốc gia nêu trên là rất quan trọng Chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm về một

số vấn đề sau:

1.2.2.1 Về phía Nhà nước

+ Tăng cường cải tiến và xây dựng mới hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế

kỹ thuật, tạo sự đồng bộ và phát triển cho tất cả các vùng, đặc biệt là các khu chế xuất, khu công nghiệp

+ Xây dựng khung pháp lý để hình thành và phát triển thị trường công nghệ phù hợp với điều kiện nước ta và thông lệ quốc tế, từ đó sẽ đẩy nhanh mức độ thị trường hóa các hoạt động khoa học – công nghệ và ứng dụng thành tựu của nó

+ Thiết lập Hội đồng chính sách về chuyển giao công nghệ trong đó có các nhà khoa học đầu ngành, các nhà đại diện cho khối quản lý và khối các doanh nghiệp sản xuất Từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội và mức độ thương mại của các dự án

Trong hoạt động chuyển giao công nghệ cần phải chú ý:

- Việc lựa chọn dự án cần phải bám sát với nhu cầu thực tế của địa

phương để xác định những dự án phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và chiến

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3- Nguyễn Đăng Dậu, Nguyễn Xuân Tài: Quản lý công nghệ, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công nghệ
Nhà XB: Nxb. Thống kê
4- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5- TS. Đỗ Đức Định: Một số vấn đề chiến lược công nghiệp hoá và lý thuyết phát triển, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chiến lược công nghiệp hoá và lý thuyết phát triển
Nhà XB: Nxb. Thế giới
6- TS. Nguyễn Mạnh Hùng: Quy hoạch, chiến lược phát triển ngành, chương trình ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và định hướng 2020, và hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện,Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch, chiến lược phát triển ngành, chương trình ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và định hướng 2020, và hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện
Nhà XB: Nxb. Thống kê
7- Vũ Quế Hương (Biên dịch): Quản lý đổi mới và phát triển sản phẩm mới, Nxb. Khoa học – Kỹ thuật, Hà nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đổi mới và phát triển sản phẩm mới
Nhà XB: Nxb. Khoa học – Kỹ thuật
8- PGS.TS. Nguyễn Thị Hường (chủ biên): Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, Tập I, II, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2002
9- Luật Dân sự – Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dân sự – Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
10- Luật Khoa học – Công nghệ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học – Công nghệ
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
11- E.Wayne Nafziger : Kinh tế học của các nước đang phát triển, Nxb Thống kê, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học của các nước đang phát triển
Nhà XB: Nxb Thống kê
12- Nghị định của Chính phủ số 45/1998/NĐ- CP – Quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ số 45/1998/NĐ- CP
13- Niên giám thống kê năm 2000, 2001, 2002, 2003, Nxb. Thống kê, Hà Nội, năm 2001, 2002, 2003, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2000, 2001, 2002, 2003
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2001
14- Hoàng Đình Phu: Lịch sử kỹ thuật và cách mạng công nghệ đương đại, Nxb. Khoa học – Kỹ thuật, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kỹ thuật và cách mạng công nghệ đương đại
Tác giả: Hoàng Đình Phu
Nhà XB: Nxb. Khoa học – Kỹ thuật
Năm: 1997
17- Bùi Tất Thắng (chủ biên ): Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá ở Việt Nam,Nxb. Khoa học - Xã hội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Tất Thắng
Nhà XB: Nxb. Khoa học - Xã hội
Năm: 1997
18- Tập thể tác giả: Dự báo thế kỷ 21, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo thế kỷ 21
Nhà XB: Nxb. Thống kê
19- GS.TS. Trần Văn Thọ: Công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại Châu Á - Thái Bình Dương, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại Châu Á - Thái Bình Dương
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
20- GS.TS. Nguyễn Văn Thường (chủ biên): Tăng trưởng kinh tế Việt Nam – Những rào cản cần phải vượt qua, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam – Những rào cản cần phải vượt qua
Nhà XB: Nxb. Lý luận Chính trị
21- PGS.TS. Trần Văn Tùng (chủ biên): Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á,Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á
Nhà XB: Nxb. Thế giới
22- PGS.TS. Trần Văn Tùng (chủ biên): Cạnh tranh kinh tế, Nxb. Thế giới, Hà Nội - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh kinh tế
Nhà XB: Nxb. Thế giới
23- Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, Ban Nghiên cứu dự báo, Chiến lược và Quản lý khoa học: Phác thảo chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
24- Trường Nghiệp vụ quản lý: “Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường”, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường”
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức đào tạo  Tốt nghiệp  Đang đào tạo  Tuyển mới - Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình th ức đào tạo Tốt nghiệp Đang đào tạo Tuyển mới (Trang 50)
Bảng 2.4: Đào tạo đại học và cao đẳng theo hệ đào tạo năm 2003 - Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Bảng 2.4 Đào tạo đại học và cao đẳng theo hệ đào tạo năm 2003 (Trang 50)
Bảng 2.9: Kết quả tổng hợp Kim ngạch xuất – nhập khẩu - Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9 Kết quả tổng hợp Kim ngạch xuất – nhập khẩu (Trang 63)
Bảng  2.11:  Tỷ  lệ  đóng  góp  của  các  nhân  tố  đầu  vào  đối  với  tăng - Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
ng 2.11: Tỷ lệ đóng góp của các nhân tố đầu vào đối với tăng (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w