1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường vai trò của Kế hoạch kinh doanh tại Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari sau cổ phần hóa

59 343 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 527 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường thì tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi. Trong thời gian đầu, các doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung đã loại bỏ công tác kế hoạch hóa, phủ nhận hoàn toàn vai trò của kế hoạch hóa trong nền kinh tế và trong từng doanh nghiệp. Họ coi kế hoạch hóa là sản phẩm của cơ chế cũ và nó không còn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường, họ coi thị trường là yếu tố quyết định còn kế hoạch thì không có vai trò gì.Nhưng trong thực tế của những năm qua và kinh nghiệm của các doanh nghiệp lớn trên thế giới đã cho thấy rằng, dù ở trong nền kinh tế thị trường phát triển thì các doanh nghiệp vẫn phải có chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Doanh nghiệp nào có chiến lược và kế hoạch hợp lý thì doanh nghiệp đó hoạt động càng hiệu quả và ngày càng phát triển. Kế hoạch chiến lược đóng vai trò như một kim chỉ nam, hướng doanh nghiệp tới các mục tiêu nhiệm vụ cần đạt được trong tương lai. Do vậy, trong nền kinh tế thị trường thì kế hoạch hóa trong doanh nghiệp vẫn có những vai trò rất quan trọng, đặc biệt là đối với một doannh nghiệp sau cổ phần hóa.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạchhóa tập trung sang nền kinh tế thị trường thì tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi Trong thời gian đầu, các doanhnghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung đã loại bỏ công tác kế hoạch hóa, phủnhận hoàn toàn vai trò của kế hoạch hóa trong nền kinh tế và trong từng doanhnghiệp Họ coi kế hoạch hóa là sản phẩm của cơ chế cũ và nó không còn phùhợp với cơ chế kinh tế thị trường, họ coi thị trường là yếu tố quyết định còn kếhoạch thì không có vai trò gì

Nhưng trong thực tế của những năm qua và kinh nghiệm của các doanhnghiệp lớn trên thế giới đã cho thấy rằng, dù ở trong nền kinh tế thị trường phát triển thìcác doanh nghiệp vẫn phải có chiến lược và kế hoạch kinh doanh Doanh nghiệp nào cóchiến lược và kế hoạch hợp lý thì doanh nghiệp đó hoạt động càng hiệu quả và ngàycàng phát triển Kế hoạch chiến lược đóng vai trò như một kim chỉ nam, hướng doanhnghiệp tới các mục tiêu nhiệm vụ cần đạt được trong tương lai Do vậy, trong nền kinh tếthị trường thì kế hoạch hóa trong doanh nghiệp vẫn có những vai trò rất quan trọng,đặc biệt là đối với một doannh nghiệp sau cổ phần hóa

Nhận thức được điều đó và qua quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần chếtạo máy điện Việt Nam – Hunggari, tìm hiểu thực trạng công tác lập và thực hiện

kế hoạch hiện nay của công ty mà em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tăng cườngvai trò của Kế hoạch kinh doanh tại Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam –Hunggari sau cổ phần hóa” để mong làm rõ vai trò của kế hoạch hóa trong doanhnghiệp sau khi tiến hành cổ phần hóa

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng hình, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp cổ phần hóa ở Việt Nam Chương II: Đánh giá vai trò của kế hoạch kinh doanh tại Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari

Chương III: Một số giải pháp tăng cường vai trò của kế hoạch kinh doanh tại Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari

Trang 2

chị phòng Kinh doanh Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam - Hunggari và

đặc biệt là thầy giáo Th.S Phạm Thanh Hưng - giảng viên khoa Kế hoạch và

phát triển đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực tập và nghiên cứu nhưng dohạn chế về kinh nghiệm cũng như kiến thức thực tế vì vậy chuyên đề của em khôngthể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo từ cácthầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2011 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Minh Ngọc

Trang 3

CHƯƠNG I

KẾ HOẠCH KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP

CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM

I CỔ PHẦN HÓA CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

1 Mục tiêu và ý nghĩa

Cho đến nay, vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội làkhông thể phủ nhận Kinh tế thị trường càng phát triển thì sự cạnh tranh càng khốcliệt và bất bình đẳng về mặt xã hội ngày càng tăng Để giảm bớt và kìm hãm nhữnghạn chế ấy; đồng thời thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước sử dụngmột công cụ hữu hiệu là bộ phận kinh tế Nhà nước mà trung tâm là các doanhnghiệp Nhà nước Nhưng việc lạm dụng quá mức sự can thiệp của khu vực kinh tếNhà nước sẽ kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Từ đó đặt ra vấn

đề là phải làm thế nào để vừa phát triển kinh tế, vừa phát triển xã hội đồng thời vẫngiữ vững vai trò quản lý của Nhà nước

Một hiện tượng kinh tế nổi bật trên toàn thế giới trong những năm 1980 là sựchuyển đổi sở hữu Nhà nước Đến nay, đã có hàng trăm nước phát triển trên thếgiới, cho dù có tư tưởng chính trị khác nhau, đều xây dựng và thực hiện Cổ phầnhoá một cách tích cực Vì thế mà Cổ phần hoá được coi như là một giải pháp hữuhiệu để khắc phục sự yếu kém trong kinh doanh của bộ phận doanh nghiệp Nhànước

Xét về mặt hình thức, Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc Nhà nướcbán một phần hay toàn bộ giá trị tài sản của mình cho các cá nhân hay tổ chức kinh

tế trong hoặc ngoài nước; hoặc bán trực tiếp cho cán bộ, công nhân của chính doanhnghiệp Nhà nước thông qua đấu thầu công khai hay thông qua thị trường chứngkhoán để hình thành nên các Công ty TNHH hay Công ty Cổ phần

Như vậy, Cổ phần hoá chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu,chuyển hình thức kinh doanh từ một chủ sở hữu là Nhà nước thành công ty Cổ phầnvới nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tếthị trường và đáp ứng được nhu cầu của kinh doanh hiện đại

Trang 4

Từ quan niệm trên, kết hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, có thể đưa ra kháiniệm Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp mà chủ sởhữu là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh nghiệp

đa sở hữu); chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhànước sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanhnghiệp

Từ Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoá VII(6/1992), tiếp theo đó là quyết định số 202/CT (6/1992) của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), rồi tới các Nghị định số 28/CP (7/5/1996),25/CP (23/7/1997), Nghị định số 44/CP (29/6/1998), Nghị định số 64/2002/NĐ-CP(19/06/2002) của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổphần Cổ phần hoá luôn được Đảng và Nhà nước xác định là việc chuyển các doanhnghiệp Nhà nước thành các Công ty cổ phần nhằm thực hiện các mục tiêu:

- Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp

- Huy động vốn của toàn xã hội

- Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong doanh nghiệp

- Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp

Như vậy có thể thấy, so với các nước đã và đang tiến hành Cổ phần hoá trênthế giới, thì ở nước ta, chủ trương Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước lại xuất phát từđường lối kinh tế và đặc điểm kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay Chúng ta đang

bố trí lại cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ chế quản lý cho phù hợp với nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Đó

là đặc điểm lớn nhất chi phối, quyết định mục đích, nội dung và phương thức Cổ phầnhoá doanh nghiệp Nhà nước Vì vậy, về thực chất Cổ phần hoá ở nước ta là nhằm sắpxếp lại doanh nghiệp Nhà nước cho hợp lý và hiệu quả, còn việc chuyển đổi sở hữu củaNhà nước thành sở hữu của các cổ đông trong công ty cổ phần chỉ là một trong nhữngphương tiện quan trọng để thực hiện mục đích trên

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sự tồn tại hàng loạt các doanh nghiệpNhà nước hoạt động kém hiệu quả đã đem lại gánh nặng lớn cho Ngân sách Nhànước và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, do vậy quá trình Cổ phần hoá doanhnghiệp Nhà nước theo xu hướng chung đều nhằm vào những mục tiêu sau đây:

Trang 5

- Tạo điều kiện điều kiện để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả

- Giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước

- Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế

- Tạo khả năng thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ mới

- Thúc đẩy phát triển hoàn thiện thị trường vốn

Tuy nhiên, do đặc điểm và điều kiện thực tế của từng nước khác nhau, và tuỳthuộc vào từng giai đoạn cụ thể mà Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước cũng cónhững mục tiêu khác nhau Theo quyết định QĐ 202/CT ngày 8/6/1992 thì việc tiếnhành Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm vào ba mục tiêu chính sau:

- Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu của các cổ đông nhằm nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Huy động được một khốilượng vốn lớn trong và ngoài nước cho sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu pháttriển kinh tế – xã hội

- Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong doanhnghiệp

- Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp

Sau một thời gian tiến hành thí điểm Cổ phần hoá, Chính phủ đã có sự nghiêncứu và sửa đổi nội dung mục tiêu Cổ phần hoá cho phù hợp với điều kiện kinh tếđất nước và xu thế biến đổi chung của thị trường Theo Nghị định số 44/NĐ-CP về

Cổ phần ngày 29/6/1998 thì mục tiêu Cổ phần hoá được rút gọn xuống còn hai mụctiêu nhưng nội dung chính vẫn được giữ nguyên, cụ thể như sau:

- Huy động vốn của toàn xã hội bao gồm các cá nhân, các tổ chức kinh tế, các

tổ chức xã hội trong và ngoài nước nhằm đầu tư, đổi mới công nghệ, tạo thêm công

ăn việc làm trong dân chúng, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thayđổi cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, và thay đổi phương thức quản lý trong doanhnghiệp

- Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và nhữngngười góp vốn được thực sự làm chủ; thay đổi phương thức quản lý, tạo động lựcthúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; tăng tài sản cho Nhà nước, nâng caothu nhập cho người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước

Trang 6

Hai mục tiêu trên được đưa ra sau một thời gian tiến hành thử nghiệm, đượcđúc rút từ kinh nghiệm thực tế nên mang tính xác thực cao, đồng thời với việc thựchiện hai mục tiêu trên đã thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu khác như:

- Giảm bớt được gánh nặng cho ngân sách Nhà nước vì giảm bớt đựơc sốlượng doanh nghiệp Nhà nước

- Việc đa dạng hoá quyền sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước sẽ hình thànhđược sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp Nhà nước với các thành phần kinh

tế khác, do vậy đã tạo ra sức mạnh và động lực thúc đẩy các doanh nghiệp ViệtNam tham gia vào thị trường thế giới một cách bạo dạn, chủ động và tích cực hơn.Đây chính là mục tiêu chiến lược dài hạn của mỗi doanh nghiệp nói riêng và củanền kinh tế – xã hội nói chung

- Việc huy động vốn của công ty Cổ phần sẽ là sợi dây liên kết chặt chẽ giữanhững con người, những doanh nghiệp có quyền lợi chung thông qua sự đồng sởhữu các Cổ phần trong một doanh nghiệp, như vậy sẽ mang lại một sức mạnh tậpthể lớn hơn

2 Quá trình thực hiện

2.1 Giai đoạn thí điểm (1992 – 1995)

Chủ trương Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã được Chính phủ nêu ratrong quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 ở điều 22: “Bộ Tài chính nghiên cứu

và cho tổ chức làm thử việc mua bán Cổ phần ở một số xí nghiệp và báo cáo kết quảlên Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) vào cuối năm 1988” Tuy nhiên, điềukiện cụ thể lúc bấy giờ vẫn còn là chế độ bao cấp đối với các doanh nghiệp Nhànước nên việc thực hiện quyết định không thành công

Đến năm 1990, Chính phủ ra quyết định 143/HĐBT trong đó có nội dung

“Nghiên cứu và làm thử việc chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty Cổ phần”.Lúc đó lại chưa có luật công ty và có sự thiếu thống nhất về quan điểm nên quyếtđịnh này cũng không triển khai được

Phải đến năm 1992, vấn đề Cổ phần hoá mới được chú ý một cách đầy đủ và

rõ ràng bằng quyết định 202/HĐBT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 202/CT về thíđiểm chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần Sau đó, ngày

Trang 7

4/3/1993 Thủ tướng Chính phủ ban hành tiếp Chỉ thị số 84/TTg về việc xúc tiếnthực hiện thí điểm Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và các giải pháp đa dạnghoá hình thức sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước.

Quyết định số 202/CT đã chọn 7 doanh nghiệp nhà nuớc làm thí điểm đồngthời giao nhiệm vụ cho mỗi Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc TWchọn từ 1

đến 2 doanh nghiệp để tổ chức thí điểm chuyển thành công ty cổ phần

Sau 4 năm triển khai thực hiện Quyết định số 202/CT và Chỉ thị số 84/TTg(1992-1996) cả nước chỉ Cổ phần hoá được 5 doanh nghiệp bao gồm 3 doanhnghiệp Trung ương và 2 doanh nghiệp địa phương Đó là các doanh nghiệp:

Công ty Đại lý Liên hiệp vận chuyển thuộc Bộ GTVT - thực hiện Cổ phần hoávào ngày 1/7/1993

Công ty Cơ điện lạnh thuộc UBND Tp Hồ Chí Minh - thực hiện Cổ phần hoávào ngày 1/10/1993

Xí nghiệp Giày Hiệp An thuộc Bộ Công nghiệp - thực hiện Cổ phần hoá vàongày 1/10/1994

Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu thuộc UBND tỉnh Long An - thực hiện Cổphần hoá vào ngày 1/7/1995

Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc thuộc Bộ Nông nghiệp & phát triển nôngthôn - thực hiện Cổ phần hoá vào ngày 1/7/1995

2.2 Giai đoạn mở rộng (5/1996 - 6/1998)

Trên cơ sở đánh giá kết quả triển khai thí điểm cổ phần hoá, ngày 7/5/1996

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP về chuyển một số doanh nghiệp Nhà

nước thành công ty cổ phần Nghị định này đã xác định rõ mục tiêu, đối tượng thựchiện cổ phần hoá, quy định cụ thể nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ

ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp chuyển thànhcông ty cổ phần Nhờ đó tốc độ Cổ phần hoá đã tăng lên rõ rệt

Kể từ khi Nghị định 28/CP được ban hành đến hết tháng 5/1998 đã có 25doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành công ty cổ phần Như vậy nếu tính gộp từnăm 1992 đến tháng 5/1998 cả nước đã có 30 doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần

Trang 8

hoá với số vốn điều lệ ban đầu là 281 tỷ đồng (bình quân 9,6 tỷ đồng/công ty) vàgần 6000 lao động Không chỉ tăng lên về số lượng, diện cổ phần hóa cũng đã mởrộng hơn, đã có 3 Bộ và 9 Tỉnh, Thành phố có doanh nghiệp cổ phần hóa Trong sốcác doanh nghiệp đã cổ phần hóa, có 12 doanh nghiệp đã hoạt động từ một năm trởlên theo Luật công ty Những doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá gặp khó khăn,như xí nghiệp Mộc Hà Nội, xí nghiệp Đóng tàu thuyền Bình Định, xí nghiệp GiàyHiệp An…, mặc dù không được Nhà nước hỗ trợ vốn, nhưng đã cố gắng khắc phụckhó khăn và phát triển sản xuất - kinh doanh liên tục hàng năm.

Để hỗ trợ cho công tác Cổ phần hoá, trong thời gian này, các cấp các ngành đãtriển khai việc củng cố tổ chức, bổ sung thành viên vào Ban chỉ đạo Cổ phần hoá ởđịa phương và thành lập các ban chỉ đạo Cổ phần hoá Chính phủ, TW Đảng, Tổngliên đoàn lao động Việt Nam

2.3 Giai đoạn đẩy mạnh Cổ phần hoá (từ 29 /6 /1998 đến nay)

Trong giai đoạn này, nhờ những chuyển biến thuận lợi về cơ sở pháp lý mànổi bật là sự ra đời của Nghị định 44/CP ngày 29/6/1998, Nghị định 64/2002/NĐ-

CP ngày 19/6/2002 và việc thành lập Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp TW, con sốcác doanh nghiệp Cổ phần hoá đã tăng nhanh so với các thời kỳ trước Sau 3 nămthực hiện Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước theo Nghị định số 44/NĐ-CP và 64/NĐ-CP từ tháng 6/1998 đến hết tháng 6/2003 cả nước đã Cổ phần hoá 1.899 doanhnghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện Cổ phần hoá lên 1.929doanh nghiệp (chiếm 45,13% trong số 4.274 doanh nghiệp Nhà nước trong diệnđược đổi mới theo đề án tổng thể sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước - Tổng công tyNhà nước)

Trong số những doanh nghiệp đã Cổ phần hoá, những doanh nghiệp thuộc lĩnhvực Công nghiệp và Xây dựng chiếm khoảng 44,2%; Dịch vụ thương mại chiếm39,2%; Giao thông vận tải chiếm 9,5%; Nông nghiệp chiếm 4,1% và thuỷ sản chiếm2% Hầu hết các doanh nghiệp đã cổ phần hoá đều tương đối nhỏ, những công ty cótổng số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng chiếm khoảng 21%, trong khi các doanh nghiệp cóvốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng chiếm đến hơn 45% Vốn trung bình của các doanh nghiệp

đã Cổ phần hoá chỉ vào khoảng 5,1 tỷ đồng Đa số các doanh nghiệp thực hiện Cổphần hoá theo hình thức thứ hai nghĩa là bán một phần giá trị vốn của Nhà nướcnắm giữ trong doanh nghiệp

Trang 9

Tính tới thời điểm 31/6/2003, trong số các địa phương thực hiện Cổ phần hoá,

Hà Nội là thành phố có số doanh nghiệp Cổ phần hoá nhiều nhất, gần 700 doanhnghiệp trong tổng số 1.929 doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố thực hiện Cổphần hoá, tiếp theo là TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định và Thanh Hoá

Các doanh nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần đều hoạt động cóhiệu quả cao hơn về nhiều mặt, kể cả những doanh nghiệp mới Cổ phần hoá Một sốdoanh nghiệp trước Cổ phần hoá gặp nhiều khó khăn thì sau Cổ phần hoá các doanhnghiệp này đã có những tiến bộ rõ rệt, bảo đảm việc làm, tăng thu nhập cho ngườilao động

Như vậy, trên thực tế, Nghị định 44/NĐ - CP và Nghị định 64/NĐ - CP đượcban hành đã tạo ra một hành lang pháp lý khá thông thoáng, khuyến khích cả doanhnghiệp và người lao động tham gia Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước

Tuy nhiên, tiến trình Cổ phần hoá trong thời gian qua còn chậm so với yêu cầusắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước Sáu tháng cuối năm 1998, kế hoạch đặt ra là Cổphần hoá 150 doanh nghiệp, thực hiện chỉ là 100 doanh nghiệp được Cổ phần hoá(đạt 66,6%) Năm 1999, kế hoạch đặt ra là Cổ phần hoá 450 doanh nghiệp, nhưngchỉ thực hiện được 250 doanh nghiệp (đạt 55,5%)

Riêng chỉ có thời gian từ năm 2001 đến tháng 6/2003 là quá trình Cổ phần hoádiễn ra nhanh chóng và hiệu quả, thực hiện Cổ phần hoá trên 1000 doanh nghiệp,đưa số doanh nghiệp được Cổ phần hóa lên tới 1.929 doanh nghiệp

Để thực hiện nhanh và có hiệu quả công tác Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhànước phải giải quyết nhiều vấn đề, từ nhận thức tư tưởng, cơ chế chính sách đến tổchức thực hiện, từ doanh nghiệp đến các cơ quan quản lý Nhà nước

3 Kết quả tính đến thời điểm hiện tại

Trên thực tế, quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước được triển khai dướinhiều hình thức, mà chủ yếu là đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước,trong đó Cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dung quan trọng Chương trìnhsắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước được khởi động từ đầu những năm 1990 đếnnay đã làm được nhiều việc, trong đó ấn tượng nhất là đưavsố lượng doanh nghiệpNhà nước từ hơn 12 nghìn (1992) giảm xuống còn gần 2.200 (9-2006); trong đó cóhơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355 doanh nghiệp quốc

Trang 10

phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, số còn lại là cácnông, lâm trường quốc doanh với tổng số vốn nhà nước gần 260 nghìn tỷ đồng Mộtphần trong số này nằm trong 105 tập đoàn và tổng công ty (trong đó 7 tập đoàn; 83tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập đoànCông nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam).

Đóng góp vào mức giảm số lượng gần 10 nghìn doanh nghiệp nhà nước từnăm 1992 đến nay, hình thức Cổ phần hóa chỉ chiếm 1/4 (3.060 doanh nghiệp), còn6.740 doanh nghiệp (3/4 số doanh nghiệp) giảm đi qua các hình thức chuyển đổi, sátnhập và một phần không đáng kể bị giải thể

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhìnchung các doanh nghiệp sau Cổ phần hóa đều nâng cao được hiệu quả sản xuất,kinh doanh với các mức độ khác nhau Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địaphương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp Cổ phần hóa đã hoạt động trên

1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%,lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76% Đặc biệt, có tới trên 90% số doanhnghiệp sau Cổ phần hóa hoạt động kinh doanh có lãi, nộp Ngân sách bình quân tăng24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bìnhquân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11%

Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại phiên họpthứ 43 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 21-9-2006) nhận định:

“Qua hơn 15 năm triển khai, chủ trương Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

đã đạt được những hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, tạo sự rõ ràng vềquyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ

cơ chế phân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhuận theo tỷ lệgóp vốn, giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chínhquyền, các cơ quan quản lý nhà nước; tạo cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệmnhằm thúc đẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất để ngườilao động xác lập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn bó máu thịt với doanh nghiệp Kếtquả nổi bật của cổ phần hoá là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nướcđược nâng lên đáng kể Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ độngđổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu Cổ phần hoá cũng

đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ

Trang 11

hội việc làm cho người lao động Dưới góc độ phân công lao động trong xã hội, Cổphần hoá đã thật sự giải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựadẫm, thụ động chuyển sang chủ động, tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thànhphần với thái độ đầy đủ hơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho xã hội,cho Nhà nước và cho người lao động”.

Và cũng theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp,sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng vẫntiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt Khu vực doanh nghiệpnhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu Ngân sách nhà nước

Thực tiễn đó đã đủ để khẳng định, về cơ bản Cổ phần hóa là một hướng đổimới doanh nghiệp phù hợp với tiến trình đổi mới kinh tế nói chung Nhưng, mộtnghịch lý đã từng tồn tại ngay từ khi công cuộc Cổ phần hóa được khởi động chođến nay là “Tiến độ Cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam còn chậm, chưa đạt yêucầu” như nhan đề của một bài viết đăng trên website của Đảng (ngày 21-9-2006).Bản báo cáo nêu rõ những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượng doanhnghiệp nhà nước được Cổ phần hóa tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khaicòn chậm Số doanh nghiệp được Cổ phần hóa tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm12% tổng số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; nếu trừ đi phần vốn nhà nướccòn giữ lại gần 50% trong các doanh nghiệp Cổ phần hóa, thì thực chất tỷ lệ trên chỉchiếm khoảng 6% So với mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX thì cònchậm, nhất là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tàichính, ngân hàng Tiến độ cổ phần hóa không đồng đều giữa các bộ, ngành, địaphương; một số bộ, ngành chưa hoàn thành theo đề án đã được phê duyệt

Như vậy, tuy số lượng doanh nghiệp có thể nhiều, nhưng xét về chỉ tiêu vốn

đã được Cổ phần hóa thì gần như không đáng kể, thậm chí chưa xứng với mộtchương trình lớn ở tầm quốc gia, bởi vì Cổ phần hóa dường như ít ảnh hưởng tớinguyên tắc thị trường của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn bộ cơ chếvận hành của nền kinh tế nói chung Điều này cũng có nghĩa là, mục tiêu chính củasắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước là góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi

cơ chế của nền kinh tế, làm cho nguyên tắc thị trường thay thế nguyên tắc kế hoạchhóa tập trung, vẫn chưa đạt được như mong đợi

Trang 12

Chính vì vậy mà tại Hội nghị về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giaiđoạn 2006-2010 được tổ chức ngày 7-10-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳngđịnh: “Nhiệm vụ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp trong 5 năm tới trọng tâm là Cổphần hóa Mục tiêu đến năm 2010, chúng ta sẽ cơ bản Cổ phần hóa xong doanhnghiệp nhà nước” Phương án được lựa chọn để tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mớidoanh nghiệp nhà nước từ nay đến 2010 là đẩy mạnh sắp xếp, Cổ phần hóa các tậpđoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước Theo đó, từ nay đến hết năm 2010 sẽ Cổ phầnhóa khoảng 1.500 doanh nghiệp (riêng các doanh nghiệp thành viên của tổng công

ty nhà nước phải hoàn thành trong năm 2008), trong đó, năm 2007 phải Cổ phầnhóa 550 doanh nghiệp (có khoảng 20 tổng công ty), số còn lại sẽ thực hiện trong cácnăm 2008-2009, một số công ty và số ít doanh nghiệp chưa Cổ phần hóa được thựchiện trong năm 2010 Theo kết quả này, đến cuối năm 2010, cả nước sẽ chỉ còn 554doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty quy môlớn; 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, sản xuất, cungứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu; 200 nông, lâm trường; 150 doanh nghiệp thànhviên các tập đoàn, tổng công ty nhà nước

Có thể nói rằng, đây là một trong những nhiệm vụ rất khó khăn trong nhữngnăm sắp tới Bởi vì như thực tiễn nhiều năm qua đã cho thấy, không chỉ khối lượngcông việc phải tiến hành rất lớn, mà còn có thể phải đối mặt với không ít trở lực.Trong 4 năm 2007-2010 sẽ phải Cổ phần hóa 1.500 doanh nghiệp (bình quân mỗinăm cổ phần hóa 375 doanh nghiệp), riêng năm 2007 đặt kế hoạch Cổ phần hóa 550doanh nghiệp Chỉ tiêu này tuy không cao hơn nhiều so với kế hoạch của một sốnăm trước, nhưng so với kinh nghiệm thực hiện nhiều năm thì rất cao Như trên đãnêu, trong khoảng 15 năm (1992-2006), cả nước Cổ phần hóa được 3.060 doanhnghiệp, tức là bình quân mỗi năm Cổ phần hóa được 204 doanh nghiệp Tất nhiên,với quyết tâm cao và kinh nghiệm đã tích lũy được, hoàn toàn có cơ sở để hoànthành mục tiêu này, dĩ nhiên là còn cần phải có những đổi mới mạnh mẽ trongphương thức tiến hành Cổ phần hóa

Thật vậy, với cách làm như từ trước đến nay, diện mạo của tình hình Cổ phầnhóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là: “Quy mô doanh nghiệp được sắpxếp hoặc Cổ phần hóa trong thời gian qua chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trong tổng số doanh nghiệp được Cổ phần hóa có trên 2.600 đơn vị có quy mô dưới

Trang 13

10 tỉ đồng Tuy việc Cổ phần hóa các doanh nghiệp quy mô trên 10 tỉ đồng đã tănglên trong các năm 2004-2005, số doanh nghiệp dưới 10 tỉ vẫn chiếm 80% tổng sốđược Cổ phần hóa Đáng chú ý, trong số các đơn vị đã Cổ phần hóa có tới gần1.200 đơn vị nhà nước tiếp tục giữ trên 50% vốn điều lệ, tỷ lệ này tương đươngkhoảng 33% nhưng hầu hết đây là những doanh nghiệp có vốn lớn.

Nhiều doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm 100% vốn nhưng đãtránh Cổ phần hóa bằng cách chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con hoặccông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Số lượng doanh nghiệp tham gia cungcấp dịch vụ công ích còn lớn, nhưng không ít doanh nghiệp có số thu từ dịch vụcông ích dưới 20%

Hiệu quả của quá trình sắp xếp, Cổ phần hóa vẫn chưa được như mong đợi.Tuy Chính phủ đã hỗ trợ, loại trừ tài sản và công nợ không tính vào giá trị doanhnghiệp Cổ phần hóa trên 2.500 tỉ đồng; xóa nợ thuế và các khoản phải nộp Nhànước trên 310 tỉ đồng; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trên 1.000 tỉ đồng; chi phícho cải cách doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại để hỗ trợ doanhnghiệp sắp xếp và xử lý nợ và lỗ là 2.962 tỉ đồng; hỗ trợ lao động dôi dư 6.000 tỉđồng; chi xử lý nợ các ngân hàng thương mại 8.317 tỉ đồng Tình trạng này chothấy, Cổ phần hóa chưa đạt được kết quả tương xứng với sự kỳ vọng cũng như hỗtrợ của Nhà nước

Một khía cạnh rất quan trọng khác của tình hình là bộ máy quản lý và phươngthức hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần hóa Công chúng vẫn thấy mộttình hình rất phổ biến là những “Công ty cổ phần nhà nước” Bởi vì, “Sau khi cổphần hóa, khoảng 81,5% giám đốc, 78% chức danh phó giám đốc và kế toán trưởngkhông có sự thay đổi Điều này cho thấy trên thực tế là nhiều doanh nghiệp sau cổphần hóa vẫn hoạt động như trước cả về tổ chức, tư duy, công nghệ, quản lý và triết

lý kinh doanh vẫn mang dáng dấp của doanh nghiệp nhà nước Nếu có thay đổi chỉ

là giám đốc doanh nghiệp nhà nước cũ trở thành lãnh đạo mới của công ty cổ phần,chưa có doanh nghiệp nào sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành”

Rõ ràng, để tăng tốc tiến trình cổ phần hóa trong những năm tới, cần phải xemxét lại nhiều vấn đề liên quan, trong đó đặc biệt là các chính sách thực thi cổ phầnhóa đã và đang được áp dụng

Trang 14

II KẾ HOẠCH KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM

1 Khái niệm kế hoạch trong doanh nghiệp

Trong tất cả các doanh nghiệp, nhà quản lý luôn đặt ra cho doanh nghiệp mìnhnhững mục tiêu, những định hướng trong tương lai cho doanh nghiệp Những mụctiêu, cái đích đó được thể hiện trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp Tuynhiên, chiến lược là một tầm nhìn xa, nó nói lên viễn cảnh mà doanh nghiệp muốnđạt được; vì vậy, phải cụ thể hóa chiến lược phát triển doanh nghiệp thành các kếhoạch trong ngắn hạn và trung hạn Nhưng do kế hoạch hóa là một công cụ quản lýtrong doanh nghiệp nên nó có vai trò tích cực và tiêu cực nhất định nếu không được

sử dụng một cách linh hoạt Nó đóng vai trò tích cực khi giúp cho các hoạt động củadoanh nghiệp được vận hành trơn tru, tránh được những sai lầm nhưng nếu quácứng nhắc theo kế hoạch thì nó sẽ kìm hãm sự sáng tạo, linh hoạt trong hoạt độngcủa doanh nghiệp để đối phó với những biến đổi ngoài kế hoạch

Vậy hiểu theo cách chung nhất thì kế hoạch hóa là một phương thức quản lýtheo mục tiêu, nó là hoạt động của con người trên cở sở nhận thức và vận dụng cácquy luật tự nhiên và xã hội, đặc biệt là các quy luật kinh tế để tổ chức quản lý cácđơn vị kinh tế kĩ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hộitheo những mục tiêu thống nhất

Do đó, kế hoạch có thể bao trùm ở những quy mô và phạm vi khác nhau Đó cóthể là kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung trên phạm vi cả nước, bao trùm lên tất cả cácngành kinh tế Đó cũng có thể là kế hoạch hóa cho từng ngành kinh tế riêng lẻ, hay cóthể là kế hoạch hóa vùng, địa phương trên phạm vi một vùng lãnh thổ nhất định, và ởcấp độ nhỏ nhất nó là kế hoạch hóa trong doanh nghiệp Vậy kế hoạch hóa trong doanhnghiệp hay kế hoạch hóa hoạt động sản xuất doanh nghiệp là phương thức quản lý củadoanh nghiệp theo mục tiêu, nó bao gồm các hành vi can thiệp của chủ thể doanh nghiệptới các hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

2 Chức năng của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp

Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp là công cụ quản lý theo mục tiêu, có vai tròquan trọng trong công tác quản lý vi mô trong doanh nghiệp, được thể hiện qua cácchức năng sau đây:

Trang 15

2.1 Chức năng ra quyết định

Kế hoạch hóa cho phép xây dựng quy trình ra quyết định và phối hợp cácquyết định Do trong doanh nghiệp có nhiều bộ phận, đơn vị chức năng khác nhau;mỗi bộ phận, đơn vị chức năng này lại có những vai trò khác nhau nên rất dễ dẫnđến tình trạng không thống nhất với nhau trong quá trình quyết định các hoạt độngcủa doanh nghiệp Kế hoạch hóa sẽ giúp cho quá trình ra quyết định của các bộphận tuân theo một quy trình thống nhất, tránh tình trạng xung đột giữa các đơn vị,

bộ phận Nhưng khi đã ra được quyết định rồi thì việc phối hợp các quyết định đólại với nhau cũng không hề đơn giản vì vẫn có sự khác biệt giữa các quyết định củacác bộ phận chức năng Do vậy cần có công tác kế hoạch hóa để phối hợp các quyếtđịnh đó sao cho các hoạt động của doanh nghiệp được vận hành suôn sẻ Đây có thể

là một trong những điểm mạnh của hệ thống kế hoạch hóa trong doanh nghiệp

2.2 Chức năng giao tiếp

Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo và quản

lý của doanh nghiệp có thể giao tiếp được với nhau; cho phép lãnh đạo các bộ phận

có thể phối hợp, trao đổi, xử lý các thông tin và những vấn đề trong doanh nghiệp.Khi có một quy trình kế hoạch thống nhất sẽ góp phần cung cấp, trao đổi thông tingiữa các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp với nhau; giúp các lãnh đạo củacác bộ phận khác nhau có thể nắm bắt được những thông tin và các hoạt động củacác bộ phận khác Từ đó mà có được những phương án hoạt động cho bộ phận mìnhsao cho phù hợp với các phòng ban bộ phận khác để đảm bảo thực hiện đúng theo

kế hoạch các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp

Bản kế hoạch là một tài liệu chứa đựng các chiến lược phát triển của doanhnghiệp trong tương lai, trong đó bao gồm kế hoạch hành động của các bộ phận chứcnăng như kế hoạch sản xuất và dự trữ, kế hoạch Marketing, kế hoạch nhân sự, kếhoạch tài chính, kế hoạch nghiên cứu triển khai và kế hoạch tổng thể của doanhnghiệp Vì vậy, kế hoạch được coi như một kênh thông tin từ ban lãnh đạo xuốngcác phòng ban chức năng cũng như tới từng nhân viên trong doanh nghiệp nhằmhuy động nguồn lực giúp thực hiện các mục tiêu đề ra Đồng thời cũng giúp phảnhồi những thông tin từ dưới lên tới ban lãnh đạo về quá trình thực hiện kế hoạch, từ

đó mà ban lãnh đạo có thể kiểm tra, đánh giá công tác tổ chức thực hiện; nếu thấynhững sai lệch sẽ có phương án điều chỉnh Kế hoạch không chỉ đóng vai trò là

Trang 16

kênh thông tin dọc mà nó còn là kênh thông tin ngang giữa các phòng ban chứcnăng Việc trao đổi thông tin giữa các phòng ban là rất quan trọng vì các kế hoạchchức năng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, nó sẽ giúp cho các bộ phận nắmđược tiến độ của các bộ phận khác; từ đó có những điều chỉnh để kế hoạch bộ phậncũng như kế hoạch tổng thể đi đúng tiến độ.

2.3 Chức năng quyền lực

Khi một bản kế hoạch được xây dựng hoàn chỉnh, phù hợp với những điềukiện trong và ngoài doanh nghiệp thì bản kế hoạch đó được coi như là một bảntuyên bố của ban lãnh đạo doanh nghiệp tới các bộ phận và các nhân viên trongdoanh nghiệp về chiến lược phát triển của doanh nghiệp với những mục tiêu màdoanh nghiệp cần đạt được trong tương lai Với những mục tiêu, nhiệm vụ được đặt

ra trong bản kế hoạch thì ban lãnh đạo doanh nghiệp đã khẳng định quyền lực lãnhđạo của họ trong doanh nghiệp cũng như với các nhân viên Nhờ có kế hoạch màcác hoạt động trong doanh nghiệp được quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý; từ đó sẽgiúp cho mọi người đều có thể tham gia đóng góp ý kiến cho bản kế hoạch

3 Nguyên tắc kế hoạch hóa trong doanh nghiệp

Khi thực hiện bất cứ một việc gì, thông thường đều có những nguyên tắc nhấtđịnh Việc xây dựng kế hoạch trong công tác kế hoạch hóa donh nghiệp cũng cónhững nguyên tắc riêng; nhờ những nguyên tắc này mà bản kế hoạch được xâydựng một cách hợp lý, sát với thực tế hơn và giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra.Những nguyên tắc ấy bao gồm:

3.1 Nguyên tắc thống nhất

Do doanh nghiệp được cấu thành từ nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận lại

có hoạt động chức năng khác nhau nên trong công tác quản lý doanh nghiệp cần có sựthống nhất để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp được thống nhất Trong doanhnghiệp có các mối quan hệ dọc và mối quan hệ ngang Mối quan hệ dọc thể hiệnquyền lực lãnh đạo của người chủ doanh nghiệp với các nhân viên, là mối quan hệ từtrên xuống giữa ban lãnh đạo doanh nghiệp và các phòng ban chức năng cũng như cácnhân viên trong doanh nghiệp Mối quan hệ ngang là mối quan hệ giữa các phòng banchức năng với nhau; nó thể hiện quan hệ tác nghiệp, trao đổi thông tin với nhau giữacác bộ phận trong doanh nghiệp, nhờ đó mà các bộ phận trong doanh nghiệp có thểnắm bắt hoạt động của nhau, có thể giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình hoạt động

Trang 17

Trong doanh nghiệp, mỗi đơn vị chức năng có các kế hoạch của riêng mình do

có sự phân định rất rõ ràng về chức năng giữa các bộ phận Nhưng khi các bộ phậntiến hành xây dựng kế hoạch đều phải căn cứ vào chiến lược phát triển của doanhnghiệp nhằm thực hiện những mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Vì vậy, kếhoach tổng thể của doanh nghiệp không thể chỉ là sự lắp ghép đơn thuần của các bộphận mà nó còn phải là một hệ thống các kế hoạch có liên quan chặt chẽ với nhau,thể hiện sự thống nhất từ trên xuống và giữa các kế hoạch bộ phận

3.2 Nguyên tắc tham gia

Nguyên tắc này có mối quan hệ với nguyên tắc thống nhất, nó cho phép mọithành viên trong doanh nghiệp đều có thể tham gia đóng góp ý kiến vào quá trìnhxây dựng kế hoạch Nhờ đó bản kế hoạch không chỉ là ý kiến chủ quan của riêngban lãnh đạo mà sẽ thể hiện đầy đủ ý chí của mọi thành viên trong doanh nghiệp.Nguyên tắc này nếu được thực hiện một cách đầy đủ sẽ đem lại những lợi ích sau:

- Các thành viên trong doanh nghiệp sẽ có được những hiểu biết sâu sắc hơn

về doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp thôngqua việc trao đổi thông tin cho nhau Nhờ đó mà bản kế hoạch sẽ nhận được đầy đủthông tin từ mọi phía, phản ánh chính xác tình hình bên trong và bên ngoài doanhnghiệp

- Khi các thành viên trong doanh nghiệp tham gia vào công tác kế hoạch háothì bản kế hoạch sẽ không còn là của riêng ban lãnh đạo doanh nghiệp nữa mà đó sẽ

là sản phẩm của mọi thành viên trong doanh nghiệp Qua đó, các thành viên sẽ cảmthấy có trách nhiệm với bản kế hoạch hơn và cố gắng thực hiện một cách tốt nhấtbổn phận trách nhiệm của mình trong bản kế hoạch Từ đó sẽ giúp bản kế hoạchđược thực hiện có hiệu quả hơn

- Cho phép phát huy được tính chủ động sáng tạo của mọi người khi tham giavào công tác kế hoạch hóa, tạo cho họ có động lực để lao động có hiệu quả hơn

Để có thể thu hút được sự tham gia của mọi người vào việc xây dựng và thựchiện kế hoạch của doanh nghiệp, ban lãnh đạo của doanh nghiệp cần có nhữngchính sách, mô hình khuyến khích, làm cho họ thấy được lợi ích khi tham gia vàocông tác kế hoạch hóa

Trang 18

3.3 Nguyên tắc linh hoạt

Nền kinh tế thị trường luôn biến động từng ngày từng giờ nên công tác kếhoạch hóa không thể cứng nhắc mà đòi hỏi phải luôn linh hoạt, chủ động để có thểđối phó được với những thay đổi bất ngờ của thị trường Muốn giảm thiểu đượcnhững rủi ro do thay đổi bất ngờ của thị trường thì kế hoạch phải được xây dựngmột cách linh hoạt, mềm dẻo Nguyên tắc linh hoạt được thể hiện thông qua các yếu

tố sau:

- Kế hoạch được xây dựng phải có nhiều phương án Mỗi phương án là mộtkịch bản mô phỏng tương ứng với từng điều kiện thị trường và cách huy độngnguồn lực cụ thể Việc xây dựng những kế hoạch phụ, kế hoạch dự phòng và kếhoạch bổ sung bên cạnh kế hoạch chính cũng là khá quan trọng, để có thể thay đổi

kế hoạch hành động trong những tình huống bất khả kháng

- Các kế hoạch cần phải được xem xét một cách thường xuyên liên tục Do kếhoạch là đặt ra các mục tiêu cho tương lai, mà tương lại xa vời, khó nắm bắt nênnhà lãnh đạo doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra để phát hiện nhữngthay đổi trong quá trình thực hiện, tìm ra những nguyên nhân của những phát sinh

đó Từ đó có những điều chỉnh và bước đi phù hợp để giải quyết những vấn đề phátsinh, đảm bảo cho kế hoạch đi đúng hướng

Nhờ có tính linh hoạt mà các nhà xây dựng và thực hiện kế hoạch không cảmthấy kế hoạch là sự cứng nhắc, mang tính ràng buộc mà trái lại, họ là người chủđộng trong công tác xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch; là chủ thể kế hoạch,chi phối kế hoạch chứ không phải bị kế hoạch chi phối

4 Nội dung kế hoạch

Theo góc độ nội dung, tính chất của kế hoạch thì kế hoạch trong doanh nghiệpbao gồm kế hoạch chiến lược và kế hoạch chức năng (kế hoạch tác nghiệp)

4.1 Kế hoạch chiến lược

Thường được áp dụng với những doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn và nhiềulao động Công tác quản lý doanh nghiệp trở lên càng phức tạp và khó khăn nếu quy

mô doanh nghiệp càng lớn Đồng thời, với sự thay đổi của khoa học công nghệ ngàycàng nhanh khiến cho tính chất cạnh tranh của thị trường ngày càng trở nên khốc liệt,doanh nghiệp rất khó trong việc xác định những mục tiêu trong tương lai

Trang 19

Kế hoạch chiến lược cho phép doanh nghiệp cải thiện và củng cố vị thế cạnhtranh trên thị trường bằng các mục tiêu, định hướng cho doanh nghiệp và biện pháp

để thực hiện những mục tiêu ấy Việc xây dựng kế hoạch chiến lược thường đượcxuất phát từ khả năng thực tế của doanh nghiệp, thể hiện những phương án ứng phóvới những điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

4.2 Kế hoạch chức năng (kế hoạch tác nghiệp)

Là công cụ để chuyển các định hướng mục tiêu của kế hoạch chiến lược thànhcác chương trình cụ thể cho từng bộ phận trong doanh nghiệp, việc chia nhỏ rathành các chương trình sẽ giúp cho mục tiêu của doanh nghiệp được thực hiện dễdàng hơn với sự phối hợp của các bộ phận chức năng Kế hoạch tác nghiệp đượcxây dựng cho từng bộ phận chức năng của doanh nghiệp như kế hoạch Marketing,

kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính…

Kế hoạch chiến lược chủ yếu là sản phẩm của các nhà lãnh đạo doanh nghiệpcòn kế hoạch chiến thuật là sự tham gia đầy đủ của mọi thành viên trong doanhnghiệp Nếu như kế hoạch chiến lược tập trung vào xác định các mục tiêu dài hạn,những định hướng của doanh nghiệp trong tương lai thì kế hoạch tác nghiệp lại đivào cụ thể từng bộ phận, lĩnh vực của doanh nghiệp

5 Quy trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp

Quy trình lập kế hoạch trong doanh nghiệp bao gồm các bước tuần tự, nối tiếpnhau để xác định các mục tiêu trong tương lai, dự kiến các nguồn lực, phương tiệncần thiết và cách thức triển khai các hoạt động để đạt được mục tiêu PDCA (Plan,

Do, Check, Act) là một trong những quy trình được áp dụng rộng rãi trong cácdoanh nghiệp tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay Theo đó,quy trình soạn lập kế hoạch được chia thành bốn bước:

* Plan - soạn lập kế hoạch

Đây là bước đầu tiên và cũng là bước quan trọng nhất trong quy trình lập kếhoạch Bước này bao gồm việc tiến hành điều tra, nghiên cứu thị trường, đánh giánhu cầu thị trường trong tương lai; phân tích điều kiện bên trong và bên ngoàidoanh nghiệp để xác định những điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách thức Qua

đó giúp xác định các mục tiêu, các nhiệm vụ chiến lược cần đạt được phù hợp vớidoanh nghiệp; xác định ngân sách và những giải pháp, phương tiện cụ thể để thực

Trang 20

hiện các mục tiêu đề ra Do điều kiện thị trường đầy biến động, phức tạp hiện nay

mà việc dự báo nhu cầu của thị trường trở lên rất khó khăn, nó làm cho các mục tiêuđặt ra trở nên gặp nhiều rủi ro và bất chắc hơn Chính vì vậy, trong công tác soạnlập kế hoạch không thể chỉ đặt ra một phương án hành động mà phải có nhiềuphương án được thiết lập, mỗi phương án sẽ tương ứng với từng điều kiện thịtrường nhất định cùng với cách thức huy động nguồn lực, tổ chức triển khai phùhợp sao cho đạt được mục tiêu cuối cùng

Hình 1: Các bước soạn lập kế hoạch

(Nguồn: Giáo trình Kế hoạch kinh doanh)

Bước một: Phân tích môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để xác

Kếhoạchtácnghiệp

và ngânsách

dự án

Đánh giá

và hiệuchỉnhcác phacủa kếhoạch

Trang 21

Bước hai: Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và cho các đơn

vị cấp dưới

Sau khi đã có những phân tích sâu sắc và toàn diện về những điểm mạnh,điểm yếu, cơ hội và thách thức mà thị trường đem lại thì doanh nghiệp sẽ xây dựngđược cho mình những nhiệm vụ, mục tiêu chung cho toàn doanh nghiệp Từ đóphân cấp các nhiệm vụ, mục tiêu xuống các đơn vị cấp dưới Các mục tiêu này sẽxác định kết quả cần đạt được, những việc cần phải làm và những việc cần ưu tiên

Nó được thể hiện bằng một hệ thống các chiến lược, chính sách, các thủ tục, cácquỹ và các chương trình

Bước ba: Lập kế hoạch chiến lược

Sau khi phân tích môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để thiết lậpcác nhiệm vụ, mục tiêu; bằng những phương pháp phân tích chiến lược, doanhnghiệp sẽ điều chỉnh các nhiệm vụ, mục tiêu để từ đó đưa ra các phương án kếhoạch Lập kế hoạch chiến lược ở đây chính là việc vẽ ra một hình ảnh mà doanhnghiệp mong muốn có được trong tương lai và những khả năng khai thác nguồn lực

để đạt được mục tiêu để ra Lập kế hoạch chiến lược chính là việc xác định nhữngmục tiêu dài hạn cho doanh nghiệp, nó tuân theo các bước sau đây:

- Xác định các phương án kế hoạch chiến lược: Doanh nghiệp sẽ đánh giá vàlựa chọn những phương án hợp lý nhất, khả thi nhất sau đó tìm ra phương án triểnvọng nhất trên cơ sở phân tích các phương án kế hoạch khác nhau

- Đánh giá các phương án lựa chọn: Với những phương án khả thi nhất đã lựachọn được cần phải tiến hành đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của từngphương án trên cơ sở định lượng các mục tiêu đề ra như lợi nhuận thu được, số vốn

bỏ ra hay thời gian thu hồi vốn

- Lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược: Đây là khâu quyết định choviệc ra đời bản kế hoạch chiến lược Có rất nhiều yếu tố tác động tới việc lực chọnphương án cho kế hoạch chiến lược; trong đó quan trọng nhất là xác định ưu tiêncủa doanh nghiệp trong giai đoạn tới Việc lựa chọn phương án cho kế hoạch chiếnlược cũng cần phải có những phương án khác dự phòng cho phương án chính, nhằmtránh những rủi ro bất ngờ trong quá trình thực hiện kế hoạch

Trang 22

Bước bốn: Xác định các chương trình dự án

Các chương trình dự án chính là các phân hệ của kế hoạch chiến lược Trongkhi các chương trình thường là các khâu, các mặt quan trọng trong doanh nghiệpnhư chương trình hoàn thiện công nghệ… thì các dự án lại quan tâm đến một mặthoạt động cụ thể như dựa án điều tra thăm dò thị trường… Các chương trình thường

có mối quan hệ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình thực hiện Dù làchương trình ở cấp độ lớn hay nhỏ thì cũng bao gồm các nội dung như xác định cácmục tiêu, nhiệm vụ; các bước tiến hành; các nguồn lực cần sử dụng và các yếu tốcần thiết để tiến hành chương trình Còn các dự án thì được xác định chi tiết hơn,bao gồm các thông số về kỹ thuật, tài chính, tiến độ thực hiện, tổ chức huy động và

sử dụng nguồn lực

Bước năm: Soạn lập hệ thống các kế hoạch chức năng (kế hoạch tác nghiệp)

và ngân sách

Do trong doanh nghiệp có nhiều bộ phận chức năng khác nhau nên sau khi đã

có được kế hoạch chung cho toàn bộ doanh nghiệp với những mục tiêu và nhiệm vụ

cụ thể cho toàn doanh nghiệp rồi thì cần phải xây dựng một hệ thống các kế hoạchchức năng cho từng bộ phận để có thể thực hiện kế hoạch chung đó Cụ thể hóa kếhoạch chiến lược thành các kế hoạch bộ phận sẽ tạo điều kiện điều hành thực hiện

kế hoạch chiến lược một cách dễ dàng Hệ thống các kế hoạch tác nghiệp bao gồm:

Kế hoạch sản xuất và dự trữ, kế hoạch nhân sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch nghiêncứu và triển khai, kế hoạch Marketing…

Sau khi đã có được các kế hoạch tác nghiệp rồi thì phải lượng hóa chúng thànhtiền tệ như các dự toán về mua sắm các yếu tố sản xuất, phục vụ bán hàng, nhu cầuvốn… Đó được gọi là soạn lập ngân sách Đây là một khâu rất quan trọng vì chỉ cólập được ngân sách hợp lý và chính xác thì mới có thể huy động nguồn lực hiệuquả, tránh lãng phí Bên cạnh việc lập ngân sách chung cho toàn doanh nghiệp thìcác bộ phận chức năng cũng cần phải lập ngân sách cho riêng mình để đảm bảo tínhchủ động cho trong việc huy động nguồn lực của từng bộ phận

Việc lập các kế hoạch chức năng và ngân sách có mối quan hệ rất mật thiết vớinhau, để đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả giữa các chức năng trong doanh nghiệpthì quá trình xây dựng cần có sự thống nhất

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, yếu tố quyết định đến việc thành lập kế

Trang 23

hoạch chiến lược cho doanh nghiệp cũng như các kế hoạch chức năng khác là việcnắm bắt được nhu cầu của thị trường Do vậy, kế hoạch Marketing có một vai tròhết sức quan trọng, nó đứng ở vị trí trung tâm trong các kế hoạch chức năng, chiphối các kế hoạch chức năng khác; còn ngân sách sẽ là cầu nối kết hợp các kế hoạchchức năng với nhau.

Bước sáu: Đánh giá, hiệu chỉnh các pha của kế hoạch

Đây có thể coi là khâu thẩm định cuối cùng trước khi cho ra một bản kế hoạchhoàn chỉnh Theo đó, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cùng các chuyên gia tư vấn sẽkiểm tra lại các nhiệm vụ, mục tiêu, các kế hoạch chức năng, ngân sách và cácchính sách, giải pháp… Việc chia kế hoạch thành các pha theo tổ chức thực hiện sẽgiúp phê duyệt kế hoạch được hiệu quả hơn và giao tới các bộ phận thực hiện

* Do - tổ chức thực hiện kế hoạch

Là sự cụ thể hóa các mục tiêu từ ý tưởng, lý thuyết trên giấy tờ thành nhữnghành động cụ thể của doanh nghiệp và những kết quả đạt được trong thực tế Trongbước này, doanh nghiệp phải xác định cho mình cách thức huy động các nguồn lựcnhư thế nào, sử dụng các nguồn lực đó ra sao cho có hiệu quả cao nhất Đây cũng là

sự triển khai các biện pháp, phương tiện và các chính sách hợp lý để thực hiện cácmục tiêu đề ra Do mỗi bộ phận trong doanh nghiệp đều có kế hoạch cho riêngmình, nếu không được tổ chức, triển khai hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng kế hoạch củacác bộ phận sẽ triệt tiêu, kìm hãm lẫn nhau khiến cho kế hoạch tổng thể của doanhnghiệp bị ảnh hưởng nên cần phải tổ chức thực hiện hợp lý, có sự phối hợp giữa các

bộ phận trong doanh nghiệp để cứ khi nào có sự thay đổi kế hoạch của một bộ phận

sẽ được thông báo tới các bộ phận khác, đảm bảo không cản trở kế hoạch của bộphận khác, từ đó thực hiện tốt kế hoạch chung của doanh nghiệp nhằm đạt đượcmục tiêu đề ra

* Check - tổ chức công tác kiểm tra, theo dõi và giám sát

Trong bước này tiến hành công tác kiểm tra, theo dõi quá trình triển khai tổchức thực hiện kế hoạch nhằm phát hiện ra những thay đổi bất ngờ, tìm ra nguyênnhân của những phát sinh đó; xem nguyên nhân này đến từ thị trường hay bên trongdoanh nghiệp, đến từ phía các nhà lãnh đạo, quản lý hay là những phát sinh đột xuấttrong quá trình triển khai kế hoạch Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, điều kiện

Trang 24

nhưng sau này nó có thể sẽ không còn phù hợp nữa Do vậy việc theo dõi, đánh giánày phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để đảm bảo các mục tiêu đề ra đượcthực hiện, các hoạt động được đi theo đúng hướng Bước này còn giúp hiện ranhững trục trặc trong khâu tổ chức phối hợp thực hiện giữa các bộ phận.

* Act - điều chỉnh thực hiện kế hoạch

Từ những phân tích về các hiện tượng phát sinh không phù hợp với nhữngmục tiêu của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện kế hoạch có thể lựa chọn cácbước đi phù hợp để điều chỉnh kế hoạch Các điều chỉnh này có thể là:

- Thay đổi nội dung, hình thức tổ chức: Không thay đổi những mục tiêu đặt ra

mà từ những phân tích về sự phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện kếhoạch, thấy có những điều không hợp lý thì tiến hành thay đổi các khâu trong quátrình quản lý, để từ đó thay đổi cách thức quản lý, thực hiện nhằm đạt được mụctiêu đề ra

- Thay đổi một số mục tiêu bộ phận trong hệ thống mục tiêu ban đầu: Chỉ ápdụng khi không thể thay đổi tổ chức quản lý hay chi phí thay đổi quản lý là quá lớn,không bảo đảm hiệu quả kinh tế

- Quyết định chuyển hướng sản xuất kinh doanh trong những điều kiện bất khảkháng: Những hướng chuyển đổi này thường được nằm trong những phương án màdoanh nghiệp đã xác định trong khâu soạn lập kế hoạch

Quy trình kế hoạch là một quá trình yêu cầu có sự linh hoạt, mềm dẻo cao, đókhông thể là sự tuần tự từng bước mà phải là sự đan xen, hỗ trợ lẫn nhau giữa cácbước

6 Vai trò của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp

Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp có vai trò quan trọng, giúp cho các hoạtđộng của doanh nghiệp diễn ra một cách tuần tự, hợp lý và chặt chẽ Nhưng trongnhững cơ chế kinh tế khác nhau thì nó thể hiện những vai trò khác nhau

6.1 Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là dựa trên chế độcông hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sự thống trị của nhà nước chuyênchính vô sản Theo đó, kế hoạch hóa là mệnh lệnh trực tiếp phát ra từ trung ương tới

Trang 25

các thành phần trong nền kinh tế, vì vậy mà không có sự khác biệt rõ rệt giữa kếhoạch của nền kinh tế và kế hoạch doanh nghiệp Sự giao nhận từ trung ương tớicác đơn vị sản xuất là hình thức giao dịch chủ yếu Các doanh nghiệp không được

tự chủ trong việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai Những câuhỏi đó đều do Nhà nước quyết định và giao xuống, từ nguyên liệu đầu vào với sốlượng bao nhiêu, sản xuất bao nhiêu và phân phối như thế nào Vì vậy, các chỉ tiêu

kế hoạch trong doanh nghiệp cũng chính là các chỉ tiêu pháp lệnh toàn diện Các kếhoạch tiến độ, kế hoạch điều độ sản xuất đều do cơ quan trung ương quyết định vàchi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy, tạo ra tiết kiệm và tíchlũy lớn, thực hiện các cân đối trong nền kinh tế nhờ đó tạo ra tăng trưởng nhanh,hướng các nguồn lực vào những mục tiêu ưu tiên là vai trò lớn nhất của kế hoạchhóa trong thời kì này

Tuy vậy, cơ chế kế hoạch hóa tập trung cũng tồn tại những hạn chế sau:

- Hiệu quả sản xuất thấp do kế hoạch đã hạn chế tính năng động, sáng tạotrong sản xuất, không gắn trách nhiệm sản xuất với người lao động

- Do kế hoạch mang tính mệnh lệnh, các quy luật kinh tế và cạnh tranh trongthị trường bị triệt tiêu nên nền kinh tế không có động lực phát triển, các doanhnghiệp không có khả năng cạnh tranh

- Do việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuấtkhông được tiến hành và sự thiếu sáng tạo trong sản xuất đã hạn chế sự tiến bộ củakhoa học công nghệ Cũng do không áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nêncông nghệ sản xuất trở lên lạc hậu dẫn đến năng suất thấp hiệu quả kinh tế khôngcao

6.2 Trong nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường với những biến đổi không ngừng diễn ra một cách liêntục và mạnh mẽ Trong môi trường cạnh tranh rất gay gắt, với sự tiến bộ của khoahọc công nghệ làm cho công nghệ sản xuất trở lên nhanh chóng bị lạc hậu, do đó

mà công tác quản lý doanh nghiệp trở lên khó khăn phức tạp, các doanh nghiệp luônphải đương đầu với nhưng rủi ro của thị trường, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiếnlược và kế hoạch để xác định những định hướng và mục tiêu cho tương lai Do đóvai trò của công tác kế hoạch trong doanh nghiệp là không thể phủ nhận

Trang 26

- Hướng sự chú ý của doanh nghiệp vào việc tổ chức triển khai các hoạt động

để thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Do doanh nghiệp hoạt động trongmột thị trường rất linh hoạt, luôn biến đổi nên cần có công tác kế hoạch để có thể dựbáo được những cơ hội hay thách thức mà thị trường đem lại, từ đó xác định xemdoanh nghiệp nên sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, sản xuấtcho ai và khi nào thì sản xuất Mặc dù thị trường luôn biến đổi, khó nắm bắt và dựbáo; những thay đổi bất ngờ của thị trường có thể làm phá sản những kế hoạch đượcchuẩn bị công phu, chu đáo nhưng điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp khôngxây dựng kế hoạch Nếu không xây dựng kế hoạch thì có nghĩa là doanh nghiệpđang để cho mình bị thả nổi và bị thị trường chi phối, điều đó sẽ làm cho doanhnghiệp gặp nhiều rủi ro, không tự chủ được trong các hoạt động mà luôn phải bịđộng với những biến đổi của thị trường

- Công tác kế hoạch hóa là việc ứng phó với những thay đổi của thị trường Vìthị trường trong tương lai thường không chắc chắn, khó nắm bắt, tương lai càng xathì kết quả dự báo càng kém tin cậy Vì vậy, lập kế hoạch là cách tốt nhất để đạtđược mục tiêu, tiến hành phân công, bố trí phối hợp giữa các bộ phận để cùng ứngphó với những thách thức từ phía thị trường Mặt khác, do thị trường luôn biến đổicho nên trong quá trình thực hiện kế hoạch không thể thiếu được khâu kiểm tra,giám sát, đánh giá để phát hiện ra những phát sinh bất ngờ, tìm ra nguyên nhân củanhững phát sinh đó và có những phương án ứng phó

- Kế hoạch hóa với khả năng tác nghiệp trong doanh nghiệp Kế hoạch doanhnghiệp đặt ra mục tiêu tối thiểu hóa thời gian và chi phí nhằm hoạt động có hiệu quả

và phù hợp nhất Kế hoạch hóa sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được những hoạtđộng nhỏ lẻ, manh mún Các bộ phận trong doanh nghiệp ngoài việc thực hiện chứcnăng của mình còn phải quan tâm đến mục tiêu chung của doanh nghiệp, đảm bảomục tiêu chung được thực hiện theo đúng kế hoạch Muốn vậy thì giữa các kế hoạch

bộ phận phải có sự tương tác với nhau, hỗ trợ cho nhau Với sự phân công lao độngtrong sản xuất ngày càng trở lên chi tiết, nếu không có một cơ chế phối hợp giữacác bộ phận sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất trong sản xuất, làm chậm tiến

độ sản xuất gây lãng phí nguồn lực

Trang 27

III VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH KINH DOANH ĐỐI VỚI MỘT DOANH NGHIỆP SAU CỔ PHẦN HÓA

1 Kế hoạch kinh doanh góp phần tái cấu trúc doanh nghiệp sau Cổ phần hóa

Tái cấu trúc doanh nghiệp là việc thiết lập trạng thái cân bằng trong nội bộdoanh nghiệp nhằm duy trì sự ổn định; tạo cơ sở cho doanh nghiệp phát triển trongnhững điều kiện, hoàn cảnh thay đổi hoặc đổi mới một số mặt, một số lĩnh vực củanhằm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước sau Cổ phần hóa đều hoạt động hiệu quảhơn Nhưng vẫn có một số ít các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả là do chỉloay hoay tổ chức lại bộ máy quản lý mà không thay đổi sâu sắc và triệt để toàn bộ

cơ chế quản lý và phương thức kinh doanh, dẫn đến việc Cổ phần hóa chỉ là hìnhthức Thực tế, Cổ phần hóa là việc thay đổi hình thức sở hữu vì vậy, Cổ phần hóacác doanh nghiệp nhà nước thất bại khi trong quá trình thực hiện, việc tái cấu trúckhông thành công Các doanh nghiệp nhà nước muốn Cổ phần hóa thành công cầnphải thực hiện toàn diện và triệt để các nội dung:

- Tái cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: rà soát và phân công chức trách nhiệm

vụ, quyền hành của các bộ phận, các cấp quản lý

- Tái cơ cấu hệ thống quản trị: ban hành các cơ chế, chính sách nhằm rà soát

và thay đổi quy trình công việc, quy chế, quy định một cách hợp lý

- Tái cơ cấu hệ thống mục tiêu: lựa chọn và xây dựng mục tiêu chiến lược, kếhoạch kinh doanh, chủng loại sản phẩm hàng hóa

- Tái cơ cấu nguồn lực: bao gồm nhân lực và vật lực; cơ cấu danh mục tài sản,

cơ cấu tài chính phù hợp với chiến lược kinh doanh trong giai đoạn mới

Như vậy, khi có Cổ phần hóa tất yếu phải có tái cấu trúc, mà kế hoạch kinhdoanh là một bộ phận của tái cấu trúc doanh nghiệp Điều đó cho thấy vai trò của kếhoạch kinh doanh là rất quan trọng khi doanh nghiệp chuyển đổi hình thức sở hữuthành công ty cổ phần nhằm đạt hiệu quả trong hoạt động kinh doanh

2 Kế hoạch kinh doanh cho phép doanh nghiệp thích ứng nhanh chóng với sự biến đổi của thị trường

Ở nước ta, các doanh nghiệp tiến hành Cổ phần hóa chủ yếu đã được tổ chức

và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà Nước Trong mô hình đó, doanh

Trang 28

nghiệp chỉ có việc thực hiện đầy đủ các mục tiêu đã được trên giao xuống Khichuyển sang cơ chế thị trường tất yếu trong doanh nghiệp sẽ tồn tại những mâuthuẫn giữa sự thay đổi nhanh chóng của thị trường với những biến đổi chậm của cơchế làm việc cũ vốn đã tồn tại rất lâu trong doanh nghiệp Do đó đòi hỏi phải giảiquyết mâu thuẫn này thông qua đổi mới tư duy và phương pháp kế hoạch hóa doanhnghiệp cho phù hợp với tình hình mới Kế hoạch kinh doanh mới này phải là kếhoạch kinh doanh của bản thân doanh nghiệp, là kế hoạch kinh doanh trong nềnkinh tế thị trường Với vai trò của mình trong kinh tế thị trường, kế hoạch kinhdoanh sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh chóng với thị trường bằng việc nhậnbiết các cơ hội và thách thức.

Nếu coi thị trường là “sân chơi” mới của các doanh nghiệp nhà nước sau Cổphần hóa thì vai trò của kế hoạch kinh doanh với tư cách là công cụ quản lý hoạtđộng doanh nghiệp là rất quan trọng Bởi khi tham gia vào kinh tế thị trường, cácdoanh nghiệp sẽ bị chi phối bởi rất nhiều quy luật với sự tác động đa chiều, phongphú và phức tạp Nếu các doanh nghiệp không hiểu “luật chơi” thì tất yếu sẽ phải

mò mẫm và không hiệu quả Muốn hoạt động của mình có hiệu quả cao, các doanhnghiệp cần có một kế hoạch hành động phù hợp: cái gì nên làm trước, cái gì nênlàm sau và làm như thế nào

3 Tạo điều kiện quản lý có hiệu quả các nguồn lực

Thực tế cho thấy hiệu quả kinh doanh của một số doanh nghiệp nhà nước sau

Cổ phần hóa không được cải thiện nhiều do ít có thay đổi về cơ cấu và cơ chế quản

lý, năng lực điều hành Vẫn có tới 10% doanh nghiệp nhà nước Việt Nam sau Cổphần hóa tiếp tục làm ăn thua lỗ Trong các lý thuyết quản lý, quản trị, kế hoạchkinh doanh được coi là công cụ để doanh nghiệp từng bước vươn tới thành công Vìvậy, để doanh nghiệp nhà nước có thể đứng vững trên thị trường và hoạt động cóhiệu quả sau khi tiến hành cổ phần hóa, cần thiết phải có một kế hoạch kinh doanhphù hợp với thị trường Vai trò của kế hoạch kinh doanh được thể hiện trong hoạtđộng quản lý các nguồn lực như: quản lý thông tin, quản lý tài chính Doanhnghiệp sẽ tính toán trước các khoản chi phí, nguồn vốn phải có, từ đó có chính sáchhuy động vốn, chính sách về sản phẩm, giá cả, thị trường hợp lý… Qua kế hoạchkinh doanh, ban lãnh đạo của các công ty cổ phần có thể rà soát lại tất cả các hoạtđộng của doanh nghiệp, tìm ra cơ hội và thách thức, điểm mạnh và điểm yếu củadoanh nghiệp để có các kế hoạch hợp lý Đồng thời phát hiện, tiến hành cắt giảm

Trang 29

các hoạt động, các bộ phận không cần thiết hoặc phối hợp các nội dung có thể trongtiến trình thực hiện các mục tiêu để giảm thiểu thời gian và chi phí, tăng hiệu quảquản lý các nguồn lực

Bên cạnh đó, khi đi vào triển khai các kế hoạch, nếu có những biến động xảy

ra thì qua việc kiểm soát, điều chỉnh kế hoạch dựa trên các kế hoạch đã được lập sẵn

là cơ sở cho phép doanh nghiệp vững vàng hơn trong môi trường kinh doanh, làmchủ được tình thế, tránh lệch hướng chiến lược, rơi vào trạng thái mất cân bằng, vàứng phó kịp thời với thị trường

4 Tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư mở rộng quy mô

Cùng với việc có được doanh thu và lợi nhuận cao thì mở rộng quy mô luôn làmục tiêu của mọi doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tích lũyđược một khối lượng vố nhất định Để có thể thu hút được các nhà đầu tư, các tổchức tín dụng và cho vay, doanh nghiệp cần phải có một chiến lược phát triển rõràng, một kế hoạch kinh doanh cụ thể Soạn lập kế hoạch kinh doanh để thu hút vốnđầu tư rất quan trọng nhưng để thực hiện tốt kế hoạch ấy và mang lại lợi nhuận chochủ đầu tư thì còn cần tới các hoạt động khác của công tác kế hoạch hóa Doanhnghiệp chỉ có thể thành công khi có được các mục tiêu cụ thể, sử dụng các nguồnlực thế nào cho hợp lý và trong khoảng thời gian xác định là bao lâu được thể hiệntrong các kế hoạc đã lập sẵn

Ngày đăng: 18/03/2015, 05:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình chiến lược kinh doanh – GS. PTS: Vũ Thị Ngọc Phùng; Th.s Phan Thị Nhiệm Khác
2. Giáo trình kế hoạch kinh doanh – Th.s Bùi Đức Tuân 3. Giáo trình quản trị chiến lược – PGS. TS. Lê Văn Tâm Khác
4. Luận văn tốt nghiệp: Sinh viên Nguyễn Thị Thu Hằng khoa Kế hoạch phát triển Khác
5. Kế hoạch chiến lược Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari Khác
6. Kế hoạch sản xuất Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari Khác
7. www.vihem.com.vn 8. www.vietbao.com.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các bước soạn lập kế hoạch - Tăng cường vai trò của Kế hoạch kinh doanh tại Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari sau cổ phần hóa
Hình 1 Các bước soạn lập kế hoạch (Trang 20)
Hình 2: Qui trình lập kế hoạch sản xuất - Tăng cường vai trò của Kế hoạch kinh doanh tại Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari sau cổ phần hóa
Hình 2 Qui trình lập kế hoạch sản xuất (Trang 32)
Hình 3: Qui trình lập kế hoạch mới - Tăng cường vai trò của Kế hoạch kinh doanh tại Công ty Cổ phần chế tạo máy điện Việt Nam – Hunggari sau cổ phần hóa
Hình 3 Qui trình lập kế hoạch mới (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w