Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD, tôinhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tậpcủa học sinh, bước đầu đã giảm bớt đư
Trang 1Năm học 2011- 2012 Bộ giáo dục - đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp dạy họcnhằm nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong các nhà trường phổ thông Một
trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào là dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên
thế giới áp dụng Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD, tôinhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tậpcủa học sinh, bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi gợi trong học sinhtình yêu đối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới vềmôn học Ngữ văn
Với việc áp dụng BĐTD trong giảng dạy, từng bước giáo viên sẽ giúp học sinh tựmình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học Bắt đầu bằng những kiến thức tổngquát nhất - trọng tâm bài học - trung tâm bản đồ, giáo viên giúp học sinh phát hiệnnhững kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học, những ý nhỏ trong từng ý lớn cứnhư vậy đến khi giờ học kết thúc cũng là lúc kiến thức tổng quát của bài học được trìnhbày một cách sáng tạo, sinh động trên bản đồ Không những cung cấp cho học sinh kiếnthức tổng thể, BĐTD còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề, từ
đó đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởngtrong bài tức tìm ra mạch lôgic của bài học Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản
đồ có thể tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học Đồng thờihọc sinh cũng có thể khẳng định được toàn bộ dung lượng kiến thức của bài, xác định ýchính, ý phụ và lên kế hoạch học tập hiệu quả
Sử dụng BĐTD (dưới dạng sơ đồ) trong dạy học các môn khoa học tự nhiên và một
số môn khoa học xã hội ( như Địa lí, Lịch sử) đã trở thành quen thuộc Đối với môn
Trang 2phẩm văn học nói chung, văn xuôi tự sự nói riêng còn rất ít, thậm chí chưa có, vì thếnên mạnh dạn đổi mới, mạnh dạn đa dạng hoá phương pháp trong một giờ lên lớp làđiều nên làm, cần phải làm.
Mỗi lần đọc Vợ nhặt tôi lại cảm thấy tâm đắc với câu nói của Banzăc “Nhà văn chân chính là thư ký trung thành của thời đại” Đúng thế, viết Vợ nhặt, Kim Lân đã ghi
lại chân thực không khí ngột ngạt của nạn đói lịch sử năm 1945 mà nhân dân ta phảitrải qua trong nỗi kinh hoàng, rùng rợn Nhưng đâu phải ghi lại một cách dửng dưng,khách quan, Kim Lân đã viết về bối cảnh đó với tất cả tâm hồn rộn rạo bao nỗi ưu tư
Viết Vợ nhặt, ông đã thể hiện thật tự nhiên tình cảm của mình với người dân đất Việt
trước cảnh lầm than, cơ cực Bằng tình yêu và niềm tin của mình, Kim Lân muốn khẳngđịnh: Dẫu phải đối diện với nạn đói, với khổ đau, người dân không những càng thươngyêu nhau mà còn cùng nhau cất cao bài ca hy vọng tràn đầy niềm lạc quan yêu
sống:“Nơi ngưỡng cửa khốn khổ đó, họ sẽ chứng tỏ số phận và tính cách của mình, đồng thời ở nơi đó họ sẽ bắt đầu một niềm tin mới, một niềm hạnh phúc mới, dù là rất mong manh” (Kim Lân, Tác giả nói về tác phẩm).
Tất cả chúng ta đều nhận thấy, Vợ nhặt có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu
sắc Cùng với vẻ đẹp của tư tưởng, tác phẩm còn hấp dẫn bạn đọc bởi nghệ thuật viết
truyện tài hoa của nghệ sĩ Với sự kết hợp hài hòa của giá tri tư tưởng và nghệ thuật, Vợ nhặt xứng đáng là một tác phẩm xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam Chính vì thế suốt hơn nửa thế kỉ qua Vợ nhặt không chỉ là đối tượng nghiên cứu của giới văn học
nghệ thuật mà còn là đối tượng để giảng dạy trong nhà trường THPT Thời lượng dànhcho bài đọc- hiểu "Vợ nhặt" là hai tiết, trong khi nội dung cần truyền đạt tới học sinh lại
vô cùng phong phú và cần thiết Vì vậy, vấn đề "dạy như thế nào" để vừa đảm bảo thờigian vừa làm chủ được kiến thức bài học là một thử thách đối với người dạy
Đó là lí do tôi lựa chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh tiếp cận truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân bằng bản đồ tư duy" làm mục đích tìm hiểu để có dịp
trao đổi cùng đồng nghiệp cách hướng dẫn học sinh tiếp cận truyện ngắn trên theo cảmnhận chủ quan của mình
Trang 3tự logic giữa chúng.
2 Vận dụng BĐTD trong tiếp cận truyện ngắn Vợ nhặt
Vận dụng BĐTD trong tiếp cận truyện ngắn "Vợ nhặt" nghĩa là chúng ta phải
chuyển hoá những thông tin liên quan trong bài học lên các mô hình, các hình ảnh, các
nhánh của bản đồ và ngược lại Bài học sử dụng BĐTD với mục đích:
- Một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm kiếm kiến thức của học sinh:
Với những ưu điểm của mình, BĐTD trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quátrình tìm tòi kiến thức của học sinh Bước quan trọng nhất là giáo viên giúp học sinhphát hiện, tìm kiếm được trung tâm bản đồ - trọng tâm bài học Sau đó, theo nguyên líBĐTD là ý nọ gợi ý kia dần dần giúp học sinh khám phá kiến thức bài học Bằng trítưởng tượng cùng sự tập hợp kiến thức từ các nguồn, học sinh phải biết cách phân tíchtìm ra những từ khóa, hình ảnh chính xác nhất Khi các nhánh lớn được xây dựng giáoviên cũng nên hướng dẫn học sinh sắp xếp theo thứ tự quan trọng bằng cách đánh số ởđầu mỗi nhánh Điều đó giúp học sinh dễ dàng ôn tập sau này Cứ làm việc theo cách
đó học sinh sẽ biết cách tự mình vận động, tìm tòi khám phá, lĩnh hội tri thức một cách
có hiệu quả
- Một công cụ để củng cố, khái quát bài học của học sinh:
Trang 4nhớ kiến thức thường ít hơn dung lượng bài Sử dụng BĐTD giúp các em khắc phụcđược hạn chế đó Sau mỗi giờ học, khi cần củng cố kiến thức học sinh chỉ cần nhìn vàoBĐTD có thể tái hiện được cơ bản toàn bộ kiến thức bài học Đến khi ôn thi học sinhkhông phải mất một lượng lớn thời gian để đọc lại kiến thức như cách học truyền thống
mà chỉ cần quan sát lại sơ đồ tổng thể vẫn có thể tái hiện nội dung bài học một cách cụthể, chi tiết Như thế, học sinh vừa nâng cao được kết quả học tập vừa tiết kiệm đượcthời gian
- Một công cụ để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức tổng hợp về bài học:
Từ hai mục đích trên, như một hệ quả tất yếu BĐTD sẽ giúp học sinh chiếm lĩnhđược kiến thức tổng hợp về bài học
Phương pháp này không những giúp học sinh biết cách học, biết cách ghi kiến thứcvào bộ não; biết nhận thức, nắm bắt vấn đề rành mạch, sâu sắc, lôgic từ luận đề đếnluận điểm, đến luận cứ mà còn rèn luyện kĩ năng tư duy tổng hợp, khái quát vấn đề chohọc sinh Thể hiện bài học dưới dạng BĐTD sẽ phát huy tối đa khả năng vận dụng côngnghệ thông tin trong dạy học và khả năng sáng tạo của mỗi người
3 Công việc chuẩn bị
a Giáo viên
Để vận dụng BĐTD vào bài học, giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài học, chuyển hoáđược các ý chính mang tính trọng tâm lên một bản đồ sao cho logic khoa học Nếu giáoviên không sử dụng máy chiếu phục vụ cho tiết dạy thì sử dụng bảng phụ và vẽ cácBĐTD lên bảng phụ đó Nếu giáo viên sử dụng máy chiếu phục vụ cho tiết dạy thì bàihọc sẽ tiến hành thuận tiện và đơn giản hơn rất nhiều Trên BĐTD được trình chiếu,những thông tin chính không thể hiện đầy đủ mà để trống, hoặc phát bảng phụ cho họcsinh và yêu cầu học sinh tự hình dung rồi liên kết các tri thức để vẽ bản đồ (Bài viết nàyđược soạn thảo cho tiết dạy sử dụng máy chiếu, áp dụng công nghệ thông tin)
b Học sinh
Nghiên cứu sách giáo khoa Soạn kĩ các câu hỏi hướng dẫn học bài vào vở bài tập.Suy nghĩ, thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi của giáo viên
Trang 5II CƠ SỞ THỰC TIỄN: Vận dụng BĐTD vào hướng dẫn học sinh tiếp cận truyện
ngắn "Vợ nhặt":
1 Dung lượng kiến thức cần nắm của bài học:
a Xét ở mục tiêu cần đạt: Giúp HS:
- Về kiến thức: + Hiểu được tình cảnh sống thê thảm của người nông dân trong nạn
đói 1945 và niềm tin vào tương lai, sự yêu thương đùm bọc giữa những con ngườinghèo khổ khi cận kề cái chết
+ Thấy được một số nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm
- Về kĩ năng: Củng cố, nâng cao các kĩ năng tóm tắt tác phẩm và phân tích nhân vật
trong truyện ngắn hiện đại
- Giáo dục: Sự cảm thông, đồng cảm với những con người nghèo khổ, có khát vọng
vươn lên trong mọi hoàn cảnh
b Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức bài học khi sử dụng BĐTD:
Một bài đọc - hiểu tác phẩm trên lớp thường được chia thành ba phần lớn: I Tiểudẫn; II; Đọc- Hiểu văn bản, III Tổng kết và củng cố bài học Trong mỗi phần lớn sẽchia thành các phần nhỏ nhằm mục đích định hướng cho học sinh nắm bắt được toàn bộgiá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của văn bản, đồng thời hướng tới rèn luyện kĩnăng, phương pháp tiếp cận tác phẩm cho học sinh Dựa vào tiến trình lên lớp như trên,bài học này trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản sẽ sử dụng các BĐTDnhư sau:
Trang 6I TIỂU DẪN
Sau khi đặt câu hỏi để học sinh nắm được hai đơn vị kiến thức trong phần tiểu dẫn(tác giả và tác phẩm), giáo viên trình chiếu chân dung nhà văn Kim Lân và hình ảnh tác
phẩm Vợ nhặt (qua BĐTD có các nhánh trung tâm), yêu cầu học sinh theo dõi sách giáo
khoa và chuẩn bị trả lời bằng cách hoàn thiện nội dung bản đồ
Học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và đi đến kết luận:
Giáo viên diễn giải nội dung trên BĐTD để học sinh nắm được kiến thức phần Tiểu dẫn
BĐTD 01
Trang 7II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1 Đọc - hiểu khái quát
Trang 8b Bố cục
Giáo viên cho học sinh phát biểu về cách phân chia bố cục của mình và định hướngnội dung trọng tâm bài học: Tiếp cận văn bản qua phân tích ý nghĩa nhan đề, tình huốngtruyện và khát vọng, tình yêu thương của người dân nghèo qua các nhân vật: Tràng,Thị, bà cụ Tứ theo định hướng sau:
Học sinh dựa vào những nội dung trọng tâm trên để tìm hiểu
BĐTD 03
Trang 92 Đọc - hiểu chi tiết
Trang 10Nhan đề Vợ nhặt tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc Đây không
phải là cảnh lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của
người Việt, mà là “nhặt được vợ”.
Chỉ riêng hai chữ “Vợ nhặt” cũng đã nói lên khá nhiều về cảnh ngộ, số phận của
Tràng và cả của người đàn bà xa lạ Đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ Cái giá củacon người chưa bao giờ lại rẻ rúng đến như vậy
Nhưng vợ lại là sự trân trọng Người vợ có vị trí trung tâm xây dựng tổ ấm Gia đìnhTràng từ khi có vợ nhặt, mọi người trở nên gắn bó quây quần, chăm lo thu vén cho tổ
Các nhóm thảo luận trong 5 phút, cử đại diện trình bày Giáo viên nhận xét, kết luận
Sau đó yêu cầu học sinh nhận xét về tình huống truyện:
Lưu ý: Quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh được tiến hành đồng thời với
việc trình chiếu lần lượt các nhánh của BĐTD Kết thúc hoạt động cũng là lúc toàn bộ kiến thức cơ bản trược thể hiện trên BĐTD:
Trang 11BĐTD tham khảo:
Trang 12Sau khi hoàn thành các đơn vị kiến thức cơ bản, giáo viên có thể yêu cầu học sinh
“đọc” bản đồ bằng lời văn của mình:
Tràng là nhân vật có ngoại hình xấu Gia cảnh đáng ái ngại, nguy cơ ế vợ đã rõ Đãvậy lại gặp năm đói, cái chết luôn đeo bám Trong lúc không một ai nghĩ đến chuyệnlấy vợ thì anh Tràng đột nhiên có vợ Trong hoàn cảnh này “nhặt” vợ là thêm mộtmiệng ăn, đẩy mình đến gần hơn với bờ vực của cái chết Vì thế việc Tràng có vợ làmột nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt Qua tình huống truyện, nhàvăn không chỉ tạo dựng được chân dung các nhân vật, mà quan trọng hơn, thái độ củanhà văn được thể hiện thật tự nhiên và sâu sắc
Kim Lân đã đã xây dựng được một tình huống truyện “độc nhất vô nhị” Qua tình
huống đó giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm được thể hiện rõ nét.
c Khát vọng sống và tình yêu thương của những người lao động nghèo trong nạn đói
Giáo viên gợi dẫn:
Từ tình huống truyện éo le của cuộc hôn nhân kì lạ, nhà văn muốn khẳng định:cuộc sống dù nghèo đói, tăm tối đến đâu, những người lao động vẫn gắng gượng vuisống, gắn bó với nhau bằng tình thương yêu, bằng lòng bao dung, nhân hậu, để cùnggìn giữ niềm vui sống, niềm khát khao mái ấm gia đình, hướng tới một ngày mai tươi
sáng Kim Lân có nói “Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ Đói Nó vừa cay đắng, vừa đớn đau, đồng thời một mặt nào đó nó lại lóe lên những tia sáng về đạo đức, danh dự” Điều đó được thể hiên rõ nét
qua các nhân vật: Tràng, Thị và bà cụ Tứ:
* Nhân vật Tràng
Giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh trả lời theo các nhánh bản đồ đã được phác thảotrên máy chiếu: - Nhóm 1: Tìm các biểu hiện của nhánh “lai lịch, ngoại hình”
- Nhóm 2, 3: Tìm các biểu hiện của nhánh “tính cách”
- Nhóm 4: Tìm các biểu hiện của nhánh “số phận”
Giáo viên theo dõi quá trình hoạt động của học sinh, đồng thời phát vấn gợi mở đểhọc sinh có thể tìm ra các nhánh bộ phận của bản đồ (luận cứ) và đánh giá khái quát vềnhân vật
Các nhóm thảo luận trong 3 phút và cử đại diện trả lời (các nhóm khác có thể nhậnxét) Giáo viên nhận xét và kết luận:
Trang 13BĐTD tham khảo
Trang 14Từ bản đồ trên học sinh có thể dễ dàng đánh giá khái quát về dụng ý nghệ thuật củanhà văn khi xây dựng nhân vật Tràng:
- Miêu tả tâm trạng nhân vật Tràng xoay quanh tình huống nhặt vợ hết sức đặc biệt.Cũng từ đó, hình tượng nhân vật Tràng có vai trò lớn trong việc thể hiện tư tưởng chủ
đề của tác phẩm: “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết mà luôn nghĩ đến sự sống” - Qua Tràng và câu chuyện nhặt vợ của anh, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của những người dân lao động nghèo: đó là vẻ đẹp tình người và niềm tin tưởng vào tương lai.
- Qua nhân vật Tràng, Kim Lân đã bộc lộ khả năng miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo và
ngòi bút nhân đạo sâu sắc
* Nhân vật Thị
Giáo viên giới thiệu: Nhân vật được xây dựng bên cạnh Tràng là Thị Hiện lên trongtác phẩm, người phụ nữ được Tràng nhặt về làm vợ có cảnh ngộ nghèo đói, bất hạnhnhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt
Sau khi chuyển ý, giáo viên yêu cầu học sinh làm việc độc lập Tìm, liệt kê nhữngchi tiết, sự việc liên quan đến nhân vật Thị Phân tích hoàn cảnh xuất thân, ngoại hình,tính cách, tâm hồn và đánh giá tổng quát về nhân vật Giáo viên phát vấn và cho họcsinh trả lời, bổ sung rồi nhận xét và trình chiếu sơ đồ cho học sinh quan sát và kết luận:
Trang 15BĐTD tham khảo
BĐTD 07
Trang 16Sau khi quan sát bản đồ, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đánh giá quá trình
“trở lại là chính mình” của người đàn bà đáng thương và tội nghiệp:
Người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không người thân đã thật sự đổi đờibằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái bao dung của Tràng và người mẹ chồng đángkính
Lưu ý: Đặc biệt chú ý đến diễn biến tâm trạng của nhân vật, bởi qua tâm trạng,
tấm lòng nhân hậu và tình yêu thương con vô bờ của bà mẹ được bộc lộ sâu sắc
Dưới sự dẫn dắt, gợi mở của giáo viên, học sinh độc lập suy nghĩ trả lời các câu hỏi:(theo nội dung phân tích) Giáo viên nhận xét và chốt lại nội dung cơ bản qua bản đồ đểhọc sinh tham khảo:
Trang 17BĐTD tham khảo:
Trang 18Từ tình huống đặc biệt (vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo) đã làm nổi bậttâm trạng của các nhân vật trong truyện, trong đó có tâm trạng bà cụ Tứ - một người mẹnghèo, thương con, vui buồn với những gì diễn ra trong cuộc đời con
Sau khi phân tích xong ba nhân vật, giáo viên đặt câu hỏi đánh giá về hình ảnhngười dân lao động nghèo trong nạn đói 1945
Học sinh độc lập suy nghĩ và trả lời (Các học sinh khác nhận xét)
Giáo viên trình chiếu BĐTD tham khảo:
Giáo viên diễn giải BĐTD:
Ba nhân vật có niềm khao khát sống và hạnh phúc, niềm tin và hi vọng vào tươnglai tươi sáng ở thời điểm mà ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh Qua các
nhân vật, nhà văn muốn thể hiện tư tưởng: “dù kề bên cái đói, cái chết, người ta vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng tới ánh sáng, vẫn tin váo sự sống và vẫn hi vọng váo tương lai”.
III TỔNG KẾT
Giáo viên hướng dẫn học sinh tổng kết bài học trên hai phương diện: Giá trị nộidung và giá trị nghệ thuật Giáo viên chia lớp thành hai nhóm, phát cho mỗi nhóm haibảng phụ và thực hiện việc tổng kết văn bản Học sinh thảo luận trong 3 phút, cử đại
BĐTD 09