Đối với bộ môn vật lý ở trường phổ thông việc đổi mới phương pháp dạy học được xác định theo chiến lược là thông qua hoạt động nhận thức tích cực tự học của học sinh trong việc giải quyế
Trang 1Cải tiến và sử dụng một số thí nghiệm để dạy học về hiện tượng dính ướt, không dính
ướt, hiện tượng mao dẫn theo hướng phát triển tính tích cực, tự chủ của học sinh
(sách vật lý 10 bộ nâng cao)
Trang 2Mục lục
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Hoạt động học tập và hoạt động dạy trong quá trình dạy học
1.2 Tình huống học tập, các yêu cầu của việc tổ chức tình huống học tập
1.3 Việc định hướng hành động học tập của học sinh
1.3.1 Định hướng tái tạo
1.3.2 Định hướng tìm tòi
1.3.3 Định hướng khái quát chường trình hoá
1.4 Thí nghiệm trong dạy học vật lý
1.4.1 Thí nghiệm vật lý và vai trò của thí nghiệm vật lý trong dạy học
1.4.2 Các loại thí nghiệm được sử dụng trong dạy học vật lý
Chương 2: Các thí nghiệm và việc sử dụng trong dạy học kiến thức về sự dính ướt, không dính ướt và mao dẫn
2.1 Sự dính ướt, không dính ướt
2.2 Hiện tượng mao dẫn
2.3 Các thí nghiệm có thể sử dụng trong quá trình dạy học bài: “Hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hiện tượng mao dẫn”
2.3.1 Các thí nghiệm về hiện tượng dính ướt và không dính ướt
2.3.1.1 Giọt nước trên tấm thuỷ và trên nến
2.3.1.2 Mô hình về sự làm giàu quặng bằng quá trình tuyển nổi
2.3.2 Các thí nghiệm về hiện tượng mao dẫn
Trang 32.3.2.1 Sự dâng lên của nước trong các ống thuỷ tinh có đường kính khác nhau khi nhúng vào nước 2.3.2.2 Hiện tượng mao dẫn giữa hai ống thuỷ tinh hình nêm 2.4 Tình hình dạy - học phần “chất lỏng” và bài “Hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hiện tượng mao dẫn” hiện nay 2.5 Soạn thảo tiến trình dạy học “Hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hiện tượng mao dẫn” 2.5.1 Phân tích tình huống học tập giải quyết vấn đề 2.5.2 Tiến trình dạy học bài: “Hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hiện tượng mao dẫn” Phần kết luận Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn dề tài
Thế giới đã bước vào thế kỷ XXI thế kỷ của khoa học và công nghệ
Đứng trước yêu cầu cũng như xu hướng tất yếu đòi hỏi cua thời đại Đảng và nhà nước ta đã sớm nhận biết được muốn đưa dất nước tiến lên cùng thời đại thoát khỏi đói nghèo, xây dựng vững mạnh chủ nghĩa xã hội thì một trong những nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu đó là phát triển giáo dục nhằm:
“nâng cao dân trí, đào tạo nhân lưc bồi dưỡng nhân tài phục vụ CNH,HĐH
đất nước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì mục tiêu dân giàu
nước mạnh, x/ hội công bằng dân chủ và văn minh”
Thực hiện mục tiêu đó Đảng và nhà nước đã đề ra chủ chương đúng đắn
và phù hợp cho sự phát triển nền giáo dục Cụ thể nước ta đã và đang tiến hành xây dựng triển khai chương trình đổi mới giáo dục một cách toàn diện cho mọi cấp học, bậc học Đối với bộ môn vật lý ở trường phổ thông việc đổi mới phương pháp dạy học được xác định theo chiến lược là thông qua hoạt động nhận thức tích cực tự học của học sinh trong việc giải quyết các vấn đề học tập, học sinh xây dựng kiến thức và các phương pháp hoạt động thực tiễn cho bản thân và với môn vật lý, phương pháp thực nghiệm là phương pháp đặc thù rất cần đươc học sinh rèn luyện và trau dồi
Qua nghiên cứu nội dung của chương trình vật lý lơp 10 sách nâng cao phần kiến thức về chất lỏng là phần có nhiều điều kiện để thực hiện theo chiến lược dạy học mới, nhưng qua tìm hiểu thực tế chúng tôI nhận thấy việc dạy
hoc các kiến thức ở bài: “Hiện tượng dính ứơt và không dính ướt.Hiên tượng mao dẫn’’, vẫn tiến hành theo kiểu cũ do khó khăn chủ yếu ở khâu thiết bị thí
nghiệm
Với những lý do trên, với mong muốn góp một phần nhỏ vào công cuộc
đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông chúng tôi đã lựa chọn
Trang 5đề tài : “Cải tiến và sử dụng một số thí nghiệm để dạy học về hiện tượng
dính ướt, không dính ướt, hiện tượng mao dẫn theo hướng phát triển tính tích cực, tự chủ của học sinh (sách vật lý 10 bộ nâng cao)”làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn, cải tiến một số thiết bị thí nghiệm về hiện tượng dính ướt, không dính, hiện tượng mao dẫn để sử dụng chúng vào việc tổ choc hoạt động dạy học phần kiến thức này nhằm phát huy tính tích cực, tự chiếm lĩnh kiến thức ở học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra chúng tôi xác định đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lý luận dạy học về phát huy tính tích cực, tự chiếm lĩnh kiến thức ở học sinh
- Xác định mức độ nội dung và lôgic trình bày các kiến thức bài : “Hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hiện tượng mao dẫn”
- Xác định các thí nghiệm có thể sử dụng trong quá trình dạy học và tiến hành trong phòng thí nghiệm
- Soạn thảo tiến trình dạy học bài :”Hiện tượng dính ướt và không dính
ướt Hiện tượng mao dẫn”
4 Đối tượng nghiên cứu
- Các kiến thức về dính ướt, không dính ướt và mao dẫn, các thí nghiệm tương ứng có thể được sử dụng trong dạy học phần kiến thức này ở trương thpt
- Hoạt động dạy và hoạt động học của giáo viên và học sinh về hiện tượng dính ướt, không dính ướt và mao dẫn
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học để từ đó thấy được vai trò của
học sinh, giáo viên trong toàn bộ quá trình dạy học
- Tiến hành nghiên cứu tài liệu ở bậc đại học và phổ thông liên quan đến
chất lỏng
- Điều tra tình hình dạy học bài : “Hiện tượng dính ướt và không dính
ướt Hiện tượng mao dẫn” ở các trường phổ thông
- Thử nghiệm các thí nghiệm đã cải tiến có thể sử dụng trong tiến trình
dạy học bài: “Hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hiện tượng mao dẫn”
- Đề xuất việc tổ chức hoạt động dạy học
Trang 7
Nội Dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Hoạt động học tập và hoạt động dạy trong quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình rất phức tạp, gồm nhiều yếu tố vận động
và tương tác lẫn nhau Về cơ bản, quá trình dạy học gồm 3 cực, mỗi cực là một thành tố của quá trình dạy học, cụ thể là : thầy, trò, tư liệu hoạt động dạy học (trong đó chứa đựng kiến thức mà nhân loại đã đúc rút và được các nhà sư phạm sắp xếp, xây dựng) Sơ đồ đó đựoc gọi là tam giác sư phạm :
Hình 1.1 Quá trình dạy học bao gồm 2 loại hoạt động : hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh
Theo quan điểm dạy học hiện nay : Học là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, tự lực bao gồm các hành động của chủ thể thích ứng với tình huống; qua đó, chủ thể chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội - lịch sử biến thành năng lực thể chất và tinh thần của cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân kiến thức chính là kết quả của sự thích ứng của học sinh thể hiện ở những đáp ứng mới, chúng là bằng chứng của sự học
Hoạt động dạy của giáo viên là dạy hành động (hành động chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức) Do đó trong dạy học, giáo viên cần tổ choc các tình huống học tập, định hướng hành động thích ứng của học sinh để qua đó học
Tư liệu hoạt động dạy học Thầy
Trang 8sinh chiếm lĩnh được kiến thức đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình
Theo quan điểm về sự học và sự dạy như trên thì sự tương tác giữa các yếu tố của quá trình dạy học được mô tả thông qua sơ đồ sau :
- Hành động của học sinh với tư liệu hoạt động dạy là sự thích ứng của học sinh với tình huống học tập, qua đó sẽ là hành động chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân mình và sự tương tác đó của học sinh với tư liệu đem lại cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên đối với học sinh
Giáo viên
Học sinh
Tư liệu hoạt động dạy học
(môi trường)
Trang 9- Tương tác trực tiếp giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên là sự trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân và từng cá nhân với tập thể, học sinh tranh thủ hỗ trợ từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức
Như vậy vai trò quan trọng của giáo viên trong việc tổ chức tình huống
và định hướng hành động học tập của học sinh là yếu tố quyết định các hành
động khác và quyết định đến hiệu quả của quá trình dạy học
1.2 Tình huống học tập, các yêu cầu của việc tổ chức tình huống học tập
Tình huống học tập là những tình huống trong đó học sinh ý thức được vấn đề học tập tương ứng với các nhiệm vụ học tập mà học sinh cần thực hiện, học sinh không thể thực hiện nhiệm vụ (giải quyết vấn đề) bằng những kiến thức và cách thức hành động đã biết mà đòi hỏi ở họ sự cố gắng nhất định để vượt qua những khó khăn về mặt nhận thức và chiếm lĩnh được kiến thức mới
Học sinh chỉ ở vào tình huống học tập khi họ ý thức được vấn đề học tập, họ có nhu cầu giải quyết vấn đề và tự thấy mình có khả năng giải quyết vấn đề đó Vấn đề học tập chứa đựng những điều đã biết và những điều chưa biết Điều đã biết có trong nhiệm vụ học tập và kinh nghiệm đã có của học sinh Đây là những điểm tựa để học sinh có thể vượt qua những khó khăn về mặt nhận thức khi giải quyết vấn đề nhằm tìm ra cái chưa biết
Trong dạy học, vai trò của người giáo viên chính là thể hiện ở việc tạo
ra các tình huống học tập ở học sinh, muốn vậy người giáo viên giao cho học sinh những nhiệm vụ học tập diễn đạt dưới dạng các câu hỏi, những nhiệm vụ sao cho để thực hiện nhiệm vụ đó học sinh phải có sự cố gắng, tích cực, tự lực vượt qua khó khăn Việc tổ chức một tình huống học tập bao gồm các công việc :
- Thứ nhất : Giáo viên có dụng ý tìm cách cho học sinh giải quyết một vấn đề tương ứng với việc chiếm lĩnh kiến thức khoa học cần dạy, muốn vậy
Trang 10giáo viên cần nhận định, phân tích các câu hỏi đặt ra, các khó khăn trở lực mà học sinh phải vượt qua khi giải đáp câu hỏi đó.Việc làm này dựa trên những thông tin đã được làm rõ trong các nghiên cứu về kiến thức khoa học cần dạy, những yêu cầu của việc nắm nội dung kiến thức, về trình độ hiện có của học sinh, các quan niệm của học sinh về kiến thức cần chiếm lĩnh Những điều này
đảm bảo được sự ăn khớp giữa sự chỉ đạo học tập và các hành động học tập của học sinh
- Thứ hai : Giáo viên soạn thảo một nhiệm vụ học tập (có tiềm ẩn vấn
đề) giao cho học sinh, sao cho học sinh sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ đó Muốn làm được điều này thì khi “giao nhiệm vụ” cho học sinh giáo viên phải cho học sinh thấy được những điều kiện cần thiết của việc thực hiện nhiệm vụ sao cho học sinh sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ đó và tin tưởng là mình có khả năng thực hiện nhiệm vụ đó Làm được điều này bảo đảm được sự ăn khớp giữa người học và tình huống học tập
Để soạn thảo được một nhiệm vụ như vậy cần có 2 yếu tố cơ bản : + Tiền đề hay tư liệu; đó là những thiết bị, sự kiện, thông tin,…cần cung cấp cho học sinh hoặc gợi ra cho học sinh
+ Các câu hỏi đề ra cho học sinh Cần chú ý là nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao cho học sinh được xác định khi giáo viên đã có sự suy nghĩ sâu sắc trên cơ sở phân tích cấu trúc của kiến thức dạy, trình độ hiện có của học sinh để chiếm lĩnh kiến thức đó
1.3.Việc định hướng hành động học tập của học sinh
Việc định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh trong một tình huống học tập đòi hỏi xác định được rõ :
- Vấn đề cần được giải quyết
- Dạng hành động chiếm lĩnh kiến thức thích hợp đòi hỏi ở học sinh
- Lời giải đáp mong muốn
- Kiểu định hướng hành động học tập mà giáo viên dự định
Trang 11Khi nghiên cứu về sự định hướng hành động học tập trong dạy học có
Đây là kiểu định hướng trong đó giáo viên hướng học sinh vào việc huy
động kiến thức, cách thức hành động mà học sinh đã nắm được từ trước hoặc
đã được người dạy chỉ ra một cách tường minh để học sinh có thể thực hiện
được nhiệm vụ mà họ đảm nhận Khi đó học sinh chỉ cần tái tạo lại những hành động đã được người dạy chỉ rõ hoặc những hành động trong các tình huống đã quen thuộc với học sinh
Kiểu định hướng tái tạo này sẽ đảm bảo được yêu cầu rèn luyện kỹ năng cho học sinh, củng cố kiến thức đã biết, thực hiện các cách thức hoạt động đã biết tạo cơ sở cần thiết cho học sinh tiếp cận dần đến sự đinh hướng khái quát chương trình hoá và đinh hướng tìm tòi
đảm nhận Nghĩa là đòi hỏi ở học sinh tự xác định hành động thích hợp trong tình huống không phải là đã quen thuộc đối vớ họ
Kiểu định hướng này không những phát triển tính tích cực, tự lực chiếm lĩnh kiến thức của học sinh mà còn rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của sự nghiệp giáo dục
Trang 121.3.3 Định hướng khái quát chương trình hoá
Đây là kiểu định hướng trong đó người dạy cũng gợi ý như kiểu định hướng tìm tòi, nhưng giúp học sinh ý thức được đường lối khái quát của việc tìm tòi thực hiện nhiệm vụ Sự định hướng được chương trình hoá theo các bước dự định hợp lý
Người dạy thực hiện từng bước việc hướng dẫn học sinh giải quyết một nhiệm vụ mà họ đảm nhận Trình tự của kiểu định hướng này như sau:
- Sự định hướng ban đầu đòi hỏi học sinh phải tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề đã đặt ra (chính là kiểu định hướng tìm tòi)
- Nếu học sinh không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sự phát triển ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hoá, chi tiết hóa theo một bước) để thu hẹp phạm vi, mức độ phải tìm tòi giải quyết vấn đề cho phù hợp với sức của học sinh
- Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo, tuỳ vào từng vấn đề và đối tượng học sinh, trước hết giáo viên phải sử dụng kiểu định hướng Angorit (hướng dẫn trình tự các hành động, thao tác hợp lý) để sau đó học sinh giải quyết vấn đề
đã đặt ra
- Cuối cùng nếu học sinh không đáp ứng được thì giáo viên mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác cụ thể riêng biệt của trình tự hành động
Với kiểu định hướng khái quát chương trình hoá, học sinh vẫn lắm được
đường lối khái quát của việc giải quyết vấn đề học tập (trong kiểu định hướng tìm tòi thì học sinh tự xác định đường lối này) nhờ sự “chương trình hoá” các vấn đề học tập được thu hẹp dần sao cho phù hợp với trình độ học sinh
Theo cách nói của lý thuyết gồm phát triển gần nhất, giáo viên tìm cách thu hẹp “khoảng trống” của vùng phát triển gần nhất sao cho với một sự cố gắng
Trang 13cao nhất học sinh thực hiện được “bước nhảy” nhận thức và họ chiếm lĩnh
được kiến thức ở mức độ cao hơn
Qua tất cả những lập luận trên chúng tôi thấy rằng: Với mỗi hành động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh, giáo viên trước hết nên dùng kiểu định hướng tìm tòi Điều này là tốt nhất nhằm phát triển tư duy của học sinh Tuy nhiên, nếu học sinh không đáp ứng được thì ta chuyển dần sang kiểu định hướng khái quát chương trình hoá với mức độ yêu cầu giảm dần Cuối cùng nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì ta mới chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo
1.4 Thí nghiệm trong dạy học vật lý
1.4.1 Thí nghiệm vật lý và vai trò trong dạy học
+ Thí nghiệm vật lý là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác
động ta có thể thu nhận được tri thức mới
+ Trong phạm vi trường học, bộ môn vật lý được nghiên cứu chủ yếu vào hầu hết bằng phương pháp thực nghiệm Do đó trong giảng dạy vật lý, việc thiết kế và tiến hành thí nghiệm nhất là khi hướng dẫn học sinh bước đàu nghiên cứu tiếp cận với vật lý là tất yếu và rất cần thiết
+ Thí nghiệm vật lý có các vai trò nổi bật sau:
• Thí nghiệm vật lý tạo ra hiện thực khách quan, tác động vào cảm giác, tri giác của người học nên nó thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình nhận thức
• Thí nghiệm vật lý được tiến hành đòi hỏi phải có mục đích, có phương pháp và đảm bảo độ chính xác cao, nên rèn luyện được phẩm chất người học, người làm khoa học Đặc biệt do được quan sát, được trực tiếp tham gia vào các thí nghiệm nên học sinh được rèn luyện, giáo dục kỹ
Trang 14thuật tổng hợp, làm quen với các thiết bị máy móc phục vụ cho hoạt
động thực tiễn sau này của học sinh
• Thí nghiệm vật lý không những gợi ra vấn đề cần nghiên cứu mà còn giúp giải quyết vấn đề, kiểm nghiệm vấn đề, ôn tập – tổng kết
1.4.2 Các loại thí nghiệm đ−ợc sử dụng trong dạy học vật lý ,
Căn cứ vào mục đích dạy học và học tập thì ở phổ thông thí nghiệm vật
lý đ−ợc phân loại theo sơ đồ :
Hình 1.3 1.4.2.1 Thí nghiệm biểu diễn vật lý
+ Thí nghiệm biểu diễn về vật lý là thí nghiệm mà giáo viên thực hiện trên lớp hoặc trong một số điều kiện khác chủ yếu là để hình thành cho học sinh những biểu t−ợng ban đầu về hiện t−ợng, quá trình và quy luật vật lý xảy
ra trong thế giới tự nhiên
+Thí nghiệm biểu diễn về vật lý do giáo viên thực hiện giữ vị trí hàng
đầu trong hệ thống thí nghiệm vật lý phổ thông Nếu thí nghiệm đ−ợc tiến
Thí nghiệm vật lí
Thí nghiệm thực tập Thí nghiệm biểu diễn
TN NCHT
TN Củng cố
TH vật lý
TN trực diện
NC khảo sát
TN minh hoạ
Trang 15hành hợp lý sẽ tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu dễ dàng tài liệu nghiên cứu
và các hiện tượng ở dạng tự nhiên hoặc gần như thế
+ Phương pháp và kỹ thuật tiến hành thí nghiệm biểu diễn :
* Lựa chọn dụng cụ :
• Có kích thước đủ lớn sao cho toàn lớp có thể quan sát được
• Có cấu tạo đơn giản thể hiện rõ được nguyên tắc khoa học của hiện tượng cần nghiên cứu
• Có màu sắc thích hợp và hình dáng đẹp lôi cuốn được sự chú ý của học sinh
• Có độ chính xác đủ cao để đảm bảo tính khoa học cuả thí nghiệm
* Thủ thuật thí nghiệm
• Sắp xếp dụng cụ thí nghiệm : Không bày la liệt trên bàn biểu diễn thí nghiệm những dụng cụ chưa cần thiết Bố trí các bộ phận khác nhau của thiết bị ở những độ cao khác nhau Các bộ phận chính đặt cao các
bộ phận phụ
• Dùng vật chỉ thị :
Vật chỉ thị là những vật làm nổi bật các bộ phận chính trong thiết bị và diễn biến của hiện tượng chính cần quan sát
• Dùng đèn chiếu khuếch đại :
Sử dụng khi không có cách nào khác để cho học sinh theo dõi trực tiếp diễn biến của hiện tượng
* Phương pháp tiến hành thí nghiệm biêủ diễn dạng nghiên cứu khảo sát
- Buớc 1 : Đặt vấn đề làm thí nghiệm, nêu rõ mục đích và phương hướng tiến hành thí nghiệm
- Bước 2 : Chuẩn bị thí nghiệm
Vạch kế hoạch tiến hành thí nghiệm
Trang 16Lựa chọn dụng cụ, thiết bị và nêu ra cách bố trí thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm và giải thích nguyên tắc hoạt động của các thiết bị
+ Tác dụng của thí nghiệm thực tập:
- Giúp học sinh nắm vững sâu sắc và có ý thức các nội dung về vật lý
- Trực tiếp rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ sảo sử dụng những dụng
cụ đo lường cơ bản và thói quen của một người lao động nói chung
- Giúp học sinh làm quen với phương pháp cơ bản của khoa học vật lý
Trang 17Chương 2: Các thí nghiệm và việc sử dụng trong
dạy học kiến thức về sự dính ướt không dính ướt và mao dẫn 2.1 Sự dính ướt và không dính ướt
Phần này trình bày các nội dung sau :
* Nêu đinh nghĩa hiện tượng dính ướt và không dính ướt:
Khi chất lỏng tiếp xúc với chất rắn, nếu chất lỏng làm ướt chất rắn ta có hiện tượng dính ướt ; nếu chất lỏng không làm ướt chất rắn ta có hiện tượng không dính ướt
Ta hãy xét một phân tử chất lỏng A nằm ở mặt chất lỏng tiếp xúc với thành bình Khi đó phân tử A sẽ chịu tác dụng của lực hút của các phân tử chất rắn và lực hút của các phân tử chất lỏng
Lực hút của các phân tử chất rắn đối
với phân tử A kí hiệu là f rl
, còn lực hút của phân tử chất lỏng đối với phân tử A kí hiệu là f ll
Nếu phân tử A bị các phân tử chất rắn tác dụng
Trang 18* øng dông cña hiÖn t−îng dÝnh −ít vµ kh«ng dÝnh −ít :
Gi¶i thÝch vÒ hiÖn t−îng mÆt chÊt láng gÇn thµnh b×nh cã d¹ng cong Nªu mét øng dông quan träng trong kü thuËt: Sù tuyÓn næi
Trang 19Việc đi sâu vào giải thích cơ chế của các hiện tượng tại biên nơi tiếp giáp của ba môi trường rắn- lỏng- khí là rất phức tạp, không được trình bày trong chương trình phổ thông
2.2 Hiện tượng mao dẫn
*Đưa ra khái niệm về hiện tượng mao dẫn:
Sự dâng lên hoặc hạ xuống của mực chất lỏng trong các ống có tiết diện nhỏ so với mực chất lỏng bên ngoài Trong đó chất lỏng sẽ dâng lên nếu xảy ra hiện tượng dính ướt và hạ xuống nếu xảy ra hiện tượng không dính ướt *Giải thích hiên tượng mao dẫn :
Giả sử ta xét trường hợp dính ướt: Nhúng ống mao dẫn thuỷ tinh vào nước Vì có sự dính ướt nên bề mặt của nước trong ống mao dẫn bị lõm xuống
do hiện tượng căng bề mặt, mặt lõm của khối lỏng trong ống có xu hướng trở thành phẳng để có diện tích bề mặt nhỏ nhất, nên nó đã tác dụng lên phần nước bên dưới một áp suất phụ P′ hướng lên trên
áp suất phụ P′(Hình vẽ ) áp suất phụ mà bề lõm tác dụng lên cột nước được
F
C F
F
C F